Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Kiên Giang
Trải qua hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, kinh tế mở rộng và phát triển, an ninh chính trị được giữ vững, ổn định xã hội, cuộc sống của người dân ngày càng được nâng lên. Để đạt được những thành tựu trên, Chính phủ đã triển khai đồng bộ các giải pháp, chương trình, kế hoạch trong đó chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo đóng vai trò quan trọng trong chiến lược của Quốc gia.
Tháng 10 năm 2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về chính sách tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác; quyết định thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng phục vụ người nghèo sau khi tách khỏi Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn để thực hiện chính sách tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Hoạt động của NHCSXH được mở rộng khắp trên cả nước đến tận ấp (khu phố) thông qua các Tổ Tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) để thực hiện các chương trình cho vay ưu đãi dưới sự giám sát của chính quyền địa phương các cấp và các tổ chức chính trị – xã hội (gọi tắt là Hội đoàn thể) nhận ủy thác quản lý.
Từ tháng 3 năm 2003 Chi nhánh NHCSXH tỉnh Kiên Giang được thành lập và đi vào hoạt động. Khi mới thành lập, NHCSXH tỉnh nhận bàn giao 03 chương trình cho vay hộ nghèo, cho vay giải quyết việc làm và cho vay học sinh sinh viên từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, Ngân hàng Công Thương tỉnh và Kho bạc Nhà nước tỉnh với tổng nguồn vốn chưa đến 100 tỷ đồng.
Đến nay đã cho vay 14 chương trình, nguồn vốn cho vay đạt 2.695 tỷ đồng, tăng 29 lần so thời điểm mới thành lập, tăng trưởng bình quân hàng năm là 20%. Nguồn vốn cho vay của NHCSXH tỉnh thời gian qua đã góp phần giúp cho hàng chục ngàn hộ thoát nghèo; thu hút lao động và tạo việc làm cho hàng trăm ngàn lao động nhàn rổi; xây dựng hàng trăm ngàn công trình nước sạch và vệ sinh môi trường; xây dựng hàng chục ngàn nhà ở cho hộ nghèo; hỗ trợ vốn chi phí học tập cho học sinh, sinh viên học tại các trường đào tạo trong cả nước; cho vay chính sách đặc thù đối với chục ngàn hộ đồng bào dân tộc thiểu số được vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh nhỏ và dịch vụ.
Bên cạnh những kết quả đạt được trong việc triển khai thực hiện các chương trình tín dụng chính sách tại từng địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả về mặt kinh tế – xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới thì những năm gần đây, hoạt động tín dụng chính sách ở nhiều nơi trong tỉnh còn nhiều hạn chế nhất là chất lượng tín dụng, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHCSXH tỉnh. Một bộ phận người vay thiếu ý chí tự lực vươn lên, còn tư tưởng trông chờ ỷ lại chính sách ưu đãi của Nhà nước; một số nơi, hoạt động tín dụng chưa được sự quan tâm đúng mức, phối hợp chưa đồng bộ giữa NHCSXH với chính quyền và các tổ chức liên quan trong việc triển khai thực hiện chính sách tín dụng tại địa phương. Những nguyên nhân trên, đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng chính sách của NHCSXH tỉnh Kiên Giang.
Hiện nay Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Kiên Giang có tỷ lệ nợ xấu cao hơn mức bình quân chung cả nước và trong khu vực Tây Nam Bộ. Chất lượng tín dụng thấp đồng nghĩa với hiệu quả tín dụng chính sách không cao là vấn đề mà các cấp chính quyền địa phương, các Sở, Ban ngành liên quan phải bận tâm, đặc biệt đối với Ban lãnh đạo của NHCSXH tỉnh.
Nhằm phát huy hiệu quả nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước, đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng chính sách trong thời gian tới, với những yêu cầu trên nên tôi chọn đề tài “Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Kiên Giang” nhằm nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp trong hoạt động tín dụng chính sách góp phần nâng cao hiệu quả đồng vốn của Nhà nước vì mục tiêu giảm nghèo phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương.
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tín dụng và chất lượng tín dụng của ngân hàng chính sách. Phân tích, đánh giá các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tín dụng chính sách; đề xuất các quan điểm và giải pháp để nâng cao chất lượng tín dụng, phát huy tính hiệu quả của các chương trình cho vay đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác tại địa phương trong thời gian tới, góp phần nâng cao hoạt động của NHCSXH tỉnh Kiên Giang.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Kiên Giang trong việc tổ chức thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn tỉnh theo Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ và chính sách hỗ trợ vốn của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang thông qua các chương trình cho vay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động của NHCSXH mang tính chất đặc thù thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau như: đầu tư cho chính sách phát triển, chính sách giảm nghèo, chính sách giáo dục đào tạo, giải quyết việc làm, ổn định xã hội của Quốc gia; tuy nhiên đề tài chỉ tập trung phân tích đánh giá chất lượng, hiệu quả các chương trình cho vay mà NHCSXH thực hiện trên địa bàn tỉnh Kiên Giang từ năm 2003 đến năm 2017.
4.1. Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm:
Nghiên cứu tài liệu, các chủ trương chính sách, cơ chế liên quan đến hoạt động tín dụng chính sách, chiến lược phát triển của hệ thống NHCSXH và định hướng mục tiêu giảm nghèo bền vững của tỉnh Kiên Giang đến năm 2020. Tham khảo các thông tin, tài liệu, văn bản hướng dẫn, cơ chế hoạt động và nghiệp vụ của ngành NHCSXH, các chuyên đề có nội dung liên quan đến tín dụng chính sách để nghiên cứu đề tài này.
Khảo sát kết quả thực hiện của các chính sách tín dụng của các đơn vị trực thuộc tại địa phương để hệ thống kết quả hoạt động chung toàn Chi nhánh NHCSXH Tỉnh.
4.2. Phương pháp thống kê, phương pháp mô tả – khái quát, phương pháp diễn giải – quy nạp
Phương pháp thống kê chủ yếu là thống kê mô tả và thống kê so sánh. Phương pháp thống kê mô tả được thực hiện thông qua việc sử dụng số bình quân, số tối đa và tối thiểu. Phương pháp thống kê so sánh gồm cả so sánh số tuyệt đối và so sánh số tương đối (tỷ lệ) để đánh giá động thái phát triển của hiện tượng theo thời gian. Việc so sánh được tiến hành theo nguyên tắc đồng nhất về thời gian hoặc đối tượng so sánh. Để đảm bảo nguyên tắc đồng nhất về thời gian, thống kê số liệu hoạt động cho vay, thu nợ, thu lãi, các chỉ số phản ảnh chất lượng, hiệu quả từ việc thực hiện các chương trình tín dụng của NHCSXH tỉnh từ năm 2003-2017.
4.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp đối chiếu – so sánh:
Thông qua các số liệu thu thập, tiến hành phân tích nghiên cứu bằng việc sử dụng các phương pháp thống kê, chỉnh lý và thu thập những số liệu cần thiết. Sau đó so sánh, phân tích đánh giá mối quan hệ qua lại của hiện tượng nghiên cứu giữa các tiêu chí.
Phân tích các yếu tố tác động đến chất lượng, hiệu quả tín dụng chính sách từ môi trường bên ngoài về điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội, các chính sách khác của Nhà nước; vai trò triển khai tổ chức thực hiện của các cấp, ngành liên quan và công tác quản lý điều hành của NHCSXH.
5. Những nghiên cứu liên quan đến đề tài
6. Những đóng góp của luận văn
Luận văn làm rõ những vấn đề về chính sách xóa đói giảm nghèo của Chính phủ, việc triển khai tổ chức thực hiện tại địa phương; phân tích các chỉ tiêu về chất lượng, hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác thông qua các chỉ số nợ xấu, tính toán hiệu quả đồng vốn; đánh giá những mặt được, đặc biệt những tồn tại, hạn chế và tìm ra những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của NHCSXH tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2003-2017. Từ đó, nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp, kiến nghị đối với cấp có thẩm quyền liên quan nhằm góp phần nâng cao chất lượng tín dụng chính sách tại địa phương trong thời gian tới.
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận, được kết cấu gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về tín dụng và chất lượng tín dụng trong hoạt động của ngân hàng.
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Kiên Giang.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Kiên Giang.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG VÀ
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
1.1. Những vấn đề cơ bản về chính sách, tín dụng
1.1.1. Khái niệm về chính sách
Theo Đoàn Thị Thu Hà và Nguyễn Thị Ngọc Huyền (1995). Giáo trình Chính sách kinh tế – xã hội, tái bản, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
Chính sách là một thuật ngữ biểu hiện phương thức hành động được một chủ thể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại. Theo Từ điển tiếng Việt thì “chính sách” là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”. Đối với một Nhà nước thì chính sách xác định được những chỉ dẫn chung cho quá trình thực hiện quyết định.
1.1.1.2. Chính sách kinh tế xã hội
– Theo nghĩa rộng, chính sách kinh tế xã hội là tổng thể các quan điểm tư tưởng phát triển, những mục tiêu tổng quát và những phương thức cơ bản để thực hiện mục tiêu phát triển của đất nước. Do vậy chính sách theo quan niệm trên là đường lối phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
+ Quan điểm phát triển của đất nước ta hiện nay thực hiện cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng.
+ Mục tiêu tổng quát của đất nước ta đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp hoá có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ xã hội phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất; đất nước không còn hộ nghèo và đời sống vật chất tinh thần người dân được nâng cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh.
– Theo nghĩa hẹp, chính sách kinh tế xã hội là tổng thể các quan điểm, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế – xã hội nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng tổng thể của đất nước.
+ Chính sách kinh tế – xã hội là hành động can thiệp của Nhà nước nhằm giải quyết một số vấn đề chính sách chín muồi, đó là những vấn đề lớn có tầm ảnh hưởng rộng, mang tính bức xúc trong đời sống xã hội như chính sách xoá đói giảm nghèo, chính sách việc làm cho người lao động, chính sách an sinh xã hội…
+ Chính sách kinh tế xã hội giải quyết những mục tiêu bộ phận, có thể mang tính dài hạn, trung hạn, ngắn hạn hướng vào việc thực hiện mục tiêu chung phát triển đất nước. Đối với chính sách xoá đói giảm nghèo được thực hiện tốt thì nó là một động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
+ Chính sách kinh tế xã hội không chỉ thể hiện kế hoạch của Nhà nước phát triển đất nước, tạo công bằng xã hội mà còn bao gồm các chương trình thực hiện kế hoạch trên.
+ Chính sách kinh tế – xã hội được Nhà nước đề ra nhằm phục vụ cho lợi ích chung của nhiều người hoặc của xã hội. Thước đo là lợi ích mang tính xã hội mà chính sách đó đem lại.
Đối với chính sách xoá đói, giảm nghèo, Nhà nước giao cho NHCSXH thực hiện các chính sách tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Phát biểu của Thủ tướng Phan Văn Khải tại Lễ khai trương hoạt động của NHCSXH được tổ chức tại Hà Nội, ngày 11 tháng 3 năm 2003: “Ngân hàng Chính sách xã hội có nhiệm vụ thực hiện chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ Người nghèo. Đây là một bước cải cách quan trọng nhằm tách tín dụng chính sách xã hội ra khỏi tín dụng thương mại và nâng cao hiệu quả thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước Việt Nam”.
1.1.1.3. Lĩnh vực tác động của chính sách kinh tế – xã hội
Chính sách kinh tế điều tiết các mối quan hệ kinh tế nhằm tạo ra các động lực phát triển kinh tế; đối với chính sách xã hội thì điều tiết các mối quan hệ xã hội làm cho xã hội phát triển theo hướng công bằng và văn minh. Các chính sách xã hội cơ bản như: chính sách lao động, việc làm, chính sách xoá đói giảm nghèo, chính sách vệ sinh môi trường, chính sách bảo đảm an sinh xã hội, chính sách bảo vệ sức khoẻ toàn dân…
– Chính sách vĩ mô: tác động lên tổng thể nền kinh tế xã hội, có ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia và lợi ích của nhân dân, của toàn xã hội.
– Chính sách trung mô: Là chính sách có quy mô tác động lên bộ phận hay phân hệ của xã hội như: Chính sách phát triển vùng, cơ cấu thành phần kinh tế…
– Chính sách vi mô: Chính sách tác động lên chủ thể kinh tế – xã hội gồm các đơn vị cơ sở hay một nhóm người riêng biệt trong xã hội như: Chính sách xoá đói giảm nghèo, chính sách việc làm…
1.1.1.4. Vai trò của chính sách xã hội
Là một trong những công cụ quản lý quan trọng của Nhà nước, chính sách xã hội thể hiện một vai trò to lớn thông qua các chức năng:
– Chức năng định hướng: Chính sách kinh tế – xã hội định hướng cho việc huy động và phân bổ các nguồn lực của xã hội nhằm giải quyết các vấn đề chính sách kịp thời và hiệu quả. Ở nước ta chính sách xã hội là việc cụ thể hóa đường lối và chủ trương của Đảng trong đời sống xã hội.
– Chức năng điều tiết: Chính sách của Nhà nước được ban hành nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống kinh tế xã hội, điều tiết sự mất cân đối, những hành vi không phù hợp để tạo sự hợp lý cho hoạt động xã hội theo mục tiêu đề ra. Nhà nước sẽ thực hiện các chính sách để điều tiết trạng thái và phương hướng phát triển kinh tế – xã hội như chính sách cho hộ nghèo vay vốn với lãi suất thấp để cải thiện đời sống, thu hẹp dần khoảng cách giàu nghèo, giảm chênh lệch mức thu nhập giữa nộng thôn và thành thị, hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi trong dân cư; chính sách tín dụng đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn nhằm tạo điều kiện cho con em của các hộ gia đình nghèo, cận nghèo, khó khăn về tài chính được tiếp cận ngưỡng cửa đại học, học nghề để có cơ hội về việc làm, cung ứng lao động trí thức như con em các gia đình khác…
– Chức năng tạo tiền đề cho sự phát triển: Nhà nước tạo tiền đề cho sự phát triển xã hội bằng các chính sách hỗ trợ trực tiếp hay gián tiếp về vốn, nhất là các dịch vụ công cộng, hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ từng bước ổn định và phát triển. Nhà nước có chính sách xoá đói giảm nghèo thông qua cấp tín dụng vay ưu đãi cho đối tượng người nghèo, đồng thời hướng dẫn cách làm ăn để giúp cho hộ nghèo thoát khỏi đói nghèo, Nhà nước đầu tư vào một số lĩnh vực nhằm thu hút lao động xã hội giải quyết các vấn đề thất nghiệp, từ đó tạo ra tiền đề phát triển cho nền kinh tế đất nước.
– Chức năng khuyến khích sự phát triển: Khác với các công cụ quản lý khác, phần lớn chính sách của Nhà nước có vai trò tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế xã hội, mỗi chính sách đều hướng vào giải quyết một vấn đề nổi cộm trong xã hội, khi vấn đề được giải quyết tạo động lực cho sự phát triển, tuy nhiên lại nảy sinh nhu cầu phát triển mới. Như đối với chính sách xoá đói giảm nghèo, thông qua Ngân hàng hộ nghèo được cấp tín dụng ưu đãi, từ đó họ có cơ hội làm ăn vươn lên thoát nghèo, tuy nhiên vấn đề khác lại nảy sinh đó là khi thoát nghèo các hộ này vẫn cần được đầu tư vốn để sản xuất kinh doanh tránh nguy cơ tái nghèo, do vậy nhu cầu vay mới nảy sinh và phát triển.
1.1.2. Tín dụng, tín dụng chính sách
Tín dụng là quan hệ vay (mượn) dựa trên cơ sở tin tưởng và tín nhiệm giữa bên cho vay và bên đi vay; theo đó bên cho vay cung cấp một lượng vốn tiền tệ hoặc tài sản cho bên đi vay sử dụng có thời hạn. Khi đến hạn, bên đi vay có nghĩa vụ hoàn trả vốn (tài sản) ban đầu và lãi suất. Hay nói cách khác: “Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận.
Tín dụng chính sách là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác; các khoản cho vay theo chỉ định không vì mục đích lợi nhuận của ngân hàng để hỗ trợ các chính sách kinh tế, chính trị hoặc một lĩnh vực ưu tiên cụ thể trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, tín dụng chính sách là một công cụ của Chính phủ nhằm thực hiện Chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo, ổ định xã hội; tạo tiền đề cho việc xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước.
1.1.2.3. Đặc trưng của tín dụng chính sách
Cho vay là hoạt động nghiệp vụ chính đem lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng. Hoạt động này được thực hiện trên cơ sở chênh lệch giữa lãi suất đầu vào và lãi suất đầu ra. Với phương thức hoạt động “đi vay để cho vay”, các NHTM phải tìm mọi cách để huy động vốn và cho vay với khả năng tối đa, phải thực hiện chính sách lãi suất thực dương để tự bù đắp chi phí, có lợi nhuận và bảo toàn vốn. Nếu như đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM là khả năng sinh lợi, tương ứng với lợi ích kinh tế được lượng hoá cụ thể ở một lượng giá trị tiền tệ nhất định thì với tín dụng chính sách, hiệu quả hoạt động đồng nghĩa với việc đạt được những kết quả mà bao hàm trong đó cả lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội qua việc thực thi các chính sách tín dụng.
Hiệu quả của tín dụng chính sách mang lại đối với Ngân hàng là người nghèo và các đối tượng chính sách khác có được việc làm và tạo thu nhập ổn định, đáp ứng được nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống, cải thiện và nâng cao dần mức sống, tạo tiền đề cho tích luỹ và đầu tư trong tương lai và thoát nghèo bền vững.
1.1.3. Sự hình thành mô hình tín dụng chính sách
Phát triển kinh tế xã hội là mục tiêu chiến lược hàng đầu của mọi quốc gia. Sự phát triển không phải theo thời điểm mà đòi hỏi phải đảm bảo sự bền vững lâu dài vì nếu mang tính thời điểm thì đó chỉ là sự tăng trưởng hay mới chỉ là bước khởi đầu của sự phát triển, do đó sẽ không duy trì được sự bền vững lâu dài, kết cấu xã hội bị phá vỡ và kéo theo là sự tụt hậu. Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững thì tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với công bằng xã hội và xóa bỏ sự phân hoá giàu nghèo.
Xoá đói giảm nghèo không những là một trong những chính sách xã hội cơ bản được Đảng và Nhà nước quan tâm và là một bộ phận quan trọng trong mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước; một trong những chính sách mà Nhà nước dùng để phát triển và duy trì ổn định xã hội. Thực hiện chủ trương của Đảng, trong nhiều năm qua, Chính phủ đã triển khai thực hiện nhiều chính sách và phương thức quản lý khác nhau về tín dụng ưu đãi đối với người nghèo như giao cho NHTM Nhà nước cho vay ưu đãi về lãi suất đối với các tổ chức kinh tế và dân cư thuộc vùng núi cao, hải đảo, vùng đồng bào Khơme sống tập trung giai đoạn (1986-2002); thành lập Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo (1993-1994).
Để hộ nghèo tránh nguy cơ rủi ro và chịu lãi suất cao khi sử dụng dịch vụ tài chính phi chính thức, Chính phủ đã quyết định thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo (1995-2002) một bộ phận của Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NHNo&PTNT) thực hiện tín dụng cho vay người nghèo. Đây là kênh tín dụng chính sách riêng để hỗ trợ tài chính cho hộ nghèo có vốn sản xuất, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, từng bước thay đổi tín dụng đối với hộ nghèo làm quen dần với dịch vụ tài chính tín dụng của ngân hàng với nguyên tắc “vay – trả”.
Nhằm tách tín dụng chính sách ra khỏi NHTM; ngày 4/10/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2002/NĐCP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, cùng ngày Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội; NHCSXH trở thành một công cụ đắc lực của Nhà nước trong việc thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội thông qua hình thức tín dụng chính sách.
1.1.4. Vai trò của tín dụng chính sách
Thực tiễn của nhiều nước trên thế giới khi thực hiện công cuộc xoá đói giảm nghèo, cung cấp vốn tín dụng chính sách luôn đóng một vai trò quan trọng, cần thiết trong việc giúp đỡ về tài chính cho người nghèo khi thiếu vốn để sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, vươn lên thoát nghèo, giải quyết về tình trạng thiếu công bằng xã hội. Trong các nguồn tài chính cấp cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác thì nguồn vốn tín dụng luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng nguồn vốn và mang tính thương mại hơn, phù hợp hơn với cơ chế kinh tế thị trường, phát huy hiệu quả hơn so với các nguồn vốn khác trong công tác xoá đói giảm nghèo.
Tại Việt Nam, tín dụng chính sách đầu tư cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác ở nhiều lĩnh vực khác nhau, từ phục vụ mục đích sản xuất, kinh doanh; trình độ học vấn đến mục đích tiêu dùng nhằm cải thiện, nâng cao điều kiện sống; vì mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã hội. Phát triển kinh tế đi đôi với xóa đói, giảm nghèo là chủ trương nhất quán của Đảng trong quá trình đổi mới và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; để thực hiện mục tiêu này, tín dụng chính sách đảm nhiệm các vai trò trọng yếu sau:
1.1.4.1. Là đầu mối để huy động các nguồn lực tài chính thực hiện chính sách của quốc gia đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác
Luật Tổ chức tín dụng, năm 2010 quy định: “Chính phủ thành lập ngân hàng chính sách hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội của Nhà nước”. Quá trình đi từ Quỹ cho vay ưu đãi người nghèo đến Ngân hàng phục vụ người nghèo và Ngân hàng Chính sách xã hội ngày nay để tập trung các nguồn vốn có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước, vốn tài trợ vào một đầu mối; tách tín dụng ưu đãi ra khỏi hệ thống tín dụng thương mại cho phù hợp với tiến trình đổi mới và hộ nhập quốc tế của đất nước và tập trung nguồn lực của cộng đồng quốc tế giải quyết vấn đề nghèo đói vì mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội an sinh.
Tín dụng chính sách là nơi huy động các nguồn vốn phục vụ cho chương trình xoá đói giảm nghèo, là địa chỉ đến của mối quan tâm đóng góp từ các tổ chức, cá nhân, cộng đồng đối với người nghèo thông qua việc góp vốn với lãi suất ưu đãi. Hoạt động huy động vốn không chỉ dừng lại ở các tổ chức đầu tư lớn mà còn được triển khai rộng rãi trong cá nhân, cộng đồng dân cư và chính đối tượng được đầu tư cũng tham gia tiết kiệm, thể hiện tinh thần trách nhiệm đối với sự nghiệp xoá đói giảm nghèo; phát huy nội lực bản thân, nội lực từng vùng và khu vực cùng chung mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Có thể số lượng huy động vốn từ người nghèo không nhiều, song qua đó cũng hình thành dần ý thức tích luỹ, tạo thói quen tiết kiệm, kinh tế; đồng thời được tiếp cận với việc sử dụng các dịch vụ tài chính như chuyển tiền, nhận tiền, gửi tiền như các tầng lớp dân cư trong xã hội.
1.1.4.2. Cung cấp vốn tín dụng chính sách góp phần giảm dần chênh lệch mức thu nhập giữa nông thôn và thành thị, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo.
Tín dụng chính sách góp phần cải thiện thị trường tài chính khu vực nông thôn, đặc biệt là những vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số có điều kiện sống khó khăn; hạn chế được nạn vay nặng lãi, tình trạng bán lúa non, gán nợ, cầm cố ruộng đất… ở nông thôn. Các hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác là những người rất dễ bị tổn thương trước các biến cố về kinh tế và xã hội, với nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng, họ có vốn để đầu tư cho sản xuất kinh doanh, giải quyết các áp lực về tài chính, tạo công bằng trong quá trình lao động sản xuất; đồng thời được hỗ trợ nguồn lực để chống chọi với những khó khăn trong cuộc sống nhất là khi bị rủi ro bất khả kháng trong quá trình sử dụng vốn; họ được tiếp tục đầu tư bù đắp cho những khoản bị rủi ro, không gián đoạn về quy trình sản xuất hoặc áp lực về thời hạn thu hồi vốn khi chưa thoát nghèo; tạo cơ hội cạnh tranh công bằng về cung ứng sản phẩm cho thị trường, ổn định thu nhập.
Hoạt động tín dụng chính sách được đánh giá và nhìn nhận ở tầm vĩ mô là góp phần đạt được kết quả và mục tiêu của hệ thống chính sách xã hội trong quá trình phát triển của quốc gia. Hỗ trợ người nghèo trong việc cải thiện và nâng cao dần mức sống là con đường trực tiếp và hữu hiệu trong việc thu hẹp khoảng cách giàu – nghèo, tạo sự phát triển đồng đều và ổn định trong cấu trúc kinh tế xã hội. Mục tiêu tối cao của hệ thống chính sách xã hội trong nền kinh tế là xóa bỏ khoảng cách giàu nghèo, hướng tới một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và còn là điều kiện quan trọng để tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững.
1.1.4.3. Vốn tín dụng chính sách góp phần tạo nhiều cơ hội cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
Đối với các đối tượng chính sách xã hội như người nghèo, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài, người có nhu cầu việc làm và tạo ra việc làm mới… thì tín dụng chính sách là một cơ hội rất lớn cho các đối tượng chính sách tiếp cận với tín dụng cho vay ưu đãi của Nhà nước, từ đó có vốn làm ăn, có chi phí để trang trải học tập, có cơ hội để được ra nước ngoài làm việc để tạo ra thu nhập. Tuy nhiên người vay vẫn phải trả lãi và hoàn trả gốc khi đến hạn, do vậy buộc người vay cũng phải sử dụng vốn tính toán sao cho có hiệu quả để vừa tạo ra thu nhập cải thiện đời sống vừa trả được nợ cho ngân hàng.
1.1.4.4. Góp phần trực tiếp vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, thực hiện việc phân công lại lao động xã hội.
Trong nông nghiệp vấn đề quan trọng hiện nay để đi lên một nền sản xuất hàng hoá lớn đòi hỏi phải áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất; việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và đưa các loại giống mới có năng suất cao vào áp dụng trong thực tiễn sản xuất và phải được thực hiện trên diện rộng. Để làm được điều này đòi hỏi phải đầu tư một lượng vốn lớn, thực hiện được khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư….những người nghèo phải được đầu tư vốn họ mới có khả năng thực hiện. Như vậy, thông qua công tác tín dụng đầu tư cho người nghèo đã trực tiếp góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn thông qua áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo ra các ngành nghề dịch vụ mới trong nông nghiệp.
Ngoài việc tự khai thác sức lao động sẳn có để tham gia sản xuất, phát triển nghề ở nông thôn; bên cạnh đó chính sách đầu tư vốn cho các cơ sở sản xuất kinh doanh nhằm thu hút lao động và giải quyết việc làm đối với lao động tại nông thôn, lao động tại thành thị thuộc hộ nghèo và các đối tượng chính sách đã hạn chế phần nào tình trạng thất nghiệp trong xã hội.
1.1.5. Sự cần thiết phải thực hiện tín dụng chính sách; việc ra đời NHCSXH
1.1.5.1. Sự cần thiết phải thực hiện tín dụng chính sách
Trong giai đoạn thương mại hoá toàn cầu là xu hướng phát triển của kinh tế thế giới, trong kinh tế thương mại qui luật cạnh tranh đã thúc đẩy nhanh hơn quá trình phát triển không đều, càng làm sâu sắc thêm sự phân hoá giữa các tầng lớp dân cư trong một quốc gia. Qua kinh nghiệm của một số nước cho thấy, khi kinh tế càng phát triển nhanh bao nhiêu, năng suất lao động càng cao bao nhiêu nếu không giải quyết các vấn đề xã hội như: công bằng trong phân phối, chống tình trạng bóc lột thì tình trạng đói nghèo của một bộ phận dân cư lại càng bức xúc và dễ có nguy cơ dẫn đến xung đột. Khoảng cách về mức thu nhập của người nghèo so với người giàu ngày càng có xu hướng dãn rộng ra đang là vấn đề có tính toàn cầu. Chính vì thế, công cuộc xoá đói giảm nghèo đối với mọi quốc gia luôn đóng một vai trò cần thiết và quan trọng trong suốt quá trình xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội.
Trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội dài hạn, công tác xoá đói giảm nghèo là một chương trình mục tiêu của quốc gia; Nhà nước đã xây dựng các giải pháp, thiết lập các quỹ hỗ trợ xã hội để giúp đỡ, bảo vệ người nghèo; đồng thời trong chính sách tăng trưởng kinh tế không loại người nghèo ra khỏi những nguồn lực và lợi ích kinh tế.
Tín dụng chính sách là giải pháp tổng hợp các điều kiện cần và đủ cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay tín chấp với lãi suất ưu đãi phục vụ cho việc đầu tư sản xuất, kinh doanh; chi phí đào tạo đội ngũ lao động trí thức; thu hút, giải quyết việc làm cho lao động nhàn rỗi tại nông thôn, lao động thất nghiệp tại thành thị; các hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng, giải quyết một số nhu cầu thiết yếu trong đời sống sinh hoạt…
Tín dụng chính sách là “cần câu” giúp người nghèo và đối tượng chính sách khác có điều kiện để “câu cá”; tạo cơ hội cải thiện đời sống với mức thu nhập đảm bảo cho nhu cầu thiết yếu. Thực hiện tín dụng chính sách nhằm đáp ứng nhu cầu về dịch vụ tài chính cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác trong thời kỳ hội nhập; thúc đẩy năng lực và khả năng hội nhập, giảm nguy cơ rủi ro về kinh tế và mức độ tổn thương của họ trong xã hội; giúp cho họ tự vươn lên khẳng định vị thế trong xã hội từ năng lực bản thân, góp phần phát triển kinh tế, ổn định chính trị, an sinh xã hội hoàn thành mục tiêu của quốc gia.
Cùng với tiến trình vận động của nền sản xuất hàng hoá, tín dụng Ngân hàng cũng ngày càng phát triển và hoàn thiện, vai trò của tín dụng Ngân hàng trở nên quan trọng và trở thành một kênh dẫn vốn không thể thiếu trong nền kinh tế. Các NHTM khi cho vay luôn đặt ra mục tiêu là phải đảm bảo an toàn vốn và khả năng sinh lời của nguồn vốn đó. An toàn tín dụng là điều kiện để Ngân hàng làm tốt vai trò trung tâm thanh toán, trung tâm tín dụng trong nền kinh tế quốc dân: là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, tín dụng góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế. Ngoài ra, an toàn tín dụng góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ và tăng trưởng kinh tế.
Như vậy, hai nhóm mục tiêu của Ngân hàng trong hoạt động kinh doanh và trong việc thực thi chính sách xã hội của Nhà nước khó có thể đạt được một cách tối ưu. Việc theo đuổi nhóm mục tiêu này sẽ tạo ra những nhân tố hạn chế việc đạt tới nhóm mục tiêu còn lại. Để đảm bảo cho việc thực hiện tốt các chức năng, vai trò thiết yếu của NHTM trong nền kinh tế với kết quả và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của NHTM cũng như việc thực thi chính sách xã hội; đạt được mục tiêu kết hợp giữa công bằng xã hội với tăng trưởng kinh tế, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, cần thiết phải lập một kênh phân phối tài chính riêng biệt là việc tách bạch hoạt động cho vay theo chính sách của Nhà nước với hoạt động cho vay thương mại của ngân hàng.
Hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm đến chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách. Nhà nước tổ chức huy động các nguồn lực tài chính để cho vay các đối tượng này nhằm tạo việc làm, cải thiện đời sống, hạn chế tình trạng đói nghèo; cùng với các ưu đãi về cơ chế cho vay, lãi suất cho vay, điều kiện cho vay… Tuỳ theo quan điểm của mỗi quốc gia để đưa ra những cơ chế chính sách khác nhau, trong đó vấn đề lựa chọn mô hình quản lý như thế nào để đạt hiệu quả.
Ở những nước không thành lập Ngân hàng chuyên trách để cho vay các đối tượng chính sách mà do nhiều tổ chức thực hiện, nguồn lực tài chính bị phân tán, chồng chéo, giảm phát huy tác dụng. Tại nước ta, qua nhiều giai đoạn thành lập các tổ chức cung cấp tài chính vi mô chính thức cho người nghèo, đến nay mở rộng về đối tượng chính sách thì lĩnh vực đầu tư tín dụng được chuyên môn hoá để đạt mục tiêu xã hội, NHCSXH ra đời chuyên trách cho vay hộ nghèo và đối tượng chính sách.
1.1.6. Hoạt động chủ yếu của NHCSXH
Theo Nghị định 78/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác quy định chức năng hoạt động chủ yếu của NHCSXH như sau:
1.1.6.1. Huy động vốn: Tổ chức huy động vốn trong và ngoài nước có trả lãi của các tổ chức tầng lớp dân cư, bao gồm tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn; huy động tiền gửi tiết kiệm của người nghèo thông qua Tổ Tiết kiệm và vay vốn. Phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác, vay các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, vay tiết kiệm bưu điện.
1.1.6.2. Tiếp nhận, quản lý, sử dụng và bảo tồn nguồn vốn của Chính phủ dành cho chương trình tín dụng xoá đói giảm nghèo và các chương trình khác.
1.1.6.3. Tiếp nhận nguồn vốn tài trợ uỷ thác cho vay ưu đãi của chính quyền địa phương; nhận các nguồn đóng góp tự nguyện không có lãi hoặc không hoàn trả gốc của các cá nhân, tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính tín dụng và các tổ chức chính trị xã hội, các hiệp hội, các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước để cho vay các chương trình dự án của chủ đầu tư.
1.1.6.4. Thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: Mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho tất cả các khách hàng trong và ngoài nước; NHCSXH có hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống liên ngân hàng trong nước; thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, dịch vụ chuyển tiền kiều hối.
1.1.6.5. Thực hiện các Chương trình, dự án cho vay: Hiện nay, NHCSXH đang thực hiện 19 Chương trình cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn với mục đích chủ yếu là đầu tư sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm, giáo dục và đào tạo, phục vụ cá nhân và cộng đồng; đồng thời cho vay đối với 6 Dự án: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (KFW); dự án phát triển ngành lâm nghiệp (WB); dự án IFAD và dự án RIDP tại Tuyên Quang; dự án Rừng ngập mặn miền Nam Việt Nam; dự án thí điểm mô hình cung cấp dịch vụ tài chính vi mô, tạo việc làm cho những người sống chung và chịu ảnh hưởng bởi HIV/AIDS và người sau cai nghiện ma tuý; dự án mở rộng tiếp cận tài chính cho người khuyết tật (Nippon).
1.1.7. Mô hình hệ thống tổ chức bộ máy của NHCSXH
– Hội sở chính đặt tại Hà Nội có trách nhiệm chỉ đạo toàn bộ hoạt động của cả hệ thống NHCSXH gồm: Ban Tổng giám đốc, các Ban chuyên môn nghiệp vụ, Sở giao dịch, Trung tâm Đào tạo, Trung tâm Công nghệ thông tin.
– Chi nhánh NHCSXH các tỉnh, thành phố được đặt tại trung tâm hành chính của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương điều hành hoạt động tại Hội sở tỉnh và các Phòng giao dịch cấp huyện.
– Phòng giao dịch NHCSXH huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc Chi nhánh cấp tỉnh.
– Điểm giao dịch tại xã: Phòng giao dịch NHCSXH cấp huyện đặt điểm giao dịch xã tại trụ sở Uỷ ban nhân dân các xã, phường, thị trấn để giao dịch định kỳ hàng tháng nhằm tiết giảm chi phí cho người dân đến giao dịch với Ngân hàng, đồng thời có sự tham gia giám sát của chính quyền địa phương đối với hoạt động tín dụng chính sách.
1.1.7.2. Theo chức năng nhiệm vụ
Hệ thống tổ chức bộ máy của NHCSXH gồm Hội đồng quản trị ở Trung ương và Ban đại diện Hội đồng quản trị cấp tỉnh, thành phố, quận, huyện.
– Hội đồng quản trị có chức năng quản trị các hoạt động của NHCSXH, phê duyệt chiến lược phát triển dài hạn, kế hoạch hoạt động hàng năm, ban hành các văn bản về chủ trương, chính sách, quy định, quy chế tổ chức và hoạt động của NHCSXH các cấp, nghị quyết các kỳ họp HĐQT thường kỳ và đột xuất…Ngoài chức năng nhiệm vụ như trên, tuỳ theo chức năng nhiệm vụ của mỗi Bộ, ngành, từng thành viên kiêm nhiệm HĐQT còn trực tiếp chỉ đạo hệ thống Bộ, ngành mình tham gia quản lý, giám sát, hỗ trợ các hoạt động của NHCSXH, tham gia chuyển tải vốn đến hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác tại địa phương.
– Ban đại diện Hội đồng quản trị cấp tỉnh, thành phố, quận, huyện có chức năng giám sát việc thực thi các Nghị quyết, Văn bản chỉ đạo của HĐQT tại các địa phương. Chỉ đạo việc gắn tín dụng chính sách với kế hoạch xoá đói giảm nghèo và dự án phát triển kinh tế xã hội tại địa phương để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ưu đãi.
– Mô hình tổ chức bộ máy quản lý điều hành của NHCSXH được coi là mô hình đặc thù với những ưu điểm như phát huy được sức mạnh tổng hợp, khai thác tiềm năng to lớn về trí tuệ, sức của, sức người của toàn xã hội phục vụ cho sự nghiệp xóa đói giảm nghèo; thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và cộng đồng xã hội Việt Nam đối với người nghèo và các đối tượng chính sách. Tổ chức bộ máy quản lý, điều hành có sự tham gia đầy đủ của các Bộ, ngành chức năng và hệ thống chính quyền từ Trung ương đến cơ sở ấp, khu phố cùng với phương thức cho vay uỷ thác từng phần qua các tổ chức chính trị – xã hội đã hình thành kênh dẫn vốn tin cậy chuyên trách với cơ chế xã hội hoá tín dụng chính sách, ngăn chặn ngay từ đầu tệ tham nhũng, cửa quyền của bên cho vay và bên sử dụng vốn vay.
– Đối tượng thụ hưởng được cấp vốn kịp thời ngay tại nơi cư trú, đúng chế độ chính sách, đúng pháp luật dưới sự tham gia của hàng ngàn cán bộ, hội viên các tổ chức Hội đoàn thể, cán bộ chính quyền, cán bộ xoá đói giảm nghèo các cấp đã giảm được nhiều lao động trong biên chế bộ máy tác nghiệp cho NHCSXH.
1.1.8. Phương thức quản lý vốn tín dụng chính sách
Quản lý vốn tín dụng chính sách của NHCSXH thực hiện theo 2 phương thức cho vay trực tiếp và ủy thác cho vay.
1.1.8.1. NHCSXH trực tiếp cho vay đối với các món của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh có tài sản đảm bảo; tuy nhiên đối với phương thức cho vay trực tiếp này số lượng không đáng kể, chiếm đến 1% trên tổng số vốn cho vay của NHCSXH.
1.1.8.2. NHCSXH thực hiện cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được ủy thác từng phần qua các Hội đoàn thể quản lý gồm: Hội nông dân, Hội Liên Hiệp phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên; dưới các Hội là các Tổ Tiết kiệm và vay vốn trực thuộc.
– Thông qua phương thức ủy thác của NHCSXH, các Hội đoàn thể được tập huấn nghiệp vụ tín dụng và kinh nghiệm quản lý tài chính tín dụng; Hội đoàn thể đã phát huy tích cực vai trò chính trị – xã hội thông qua khâu bình xét cho vay theo đối tượng thụ hưởng, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho người dân trong sản xuất, tuyên truyền vận động thực thi các chính sách của Nhà nước; đồng thời thông qua hoạt động ủy thác đã tạo điều kiện phát triển hội viên, mặt khác đã tạo điều kiện cho hoạt động của các tổ chức Hội đoàn thể phát triển ngày càng lớn mạnh.
– Các Tổ TK&VV là cánh tay nối dài của NHCSXH trong việc chuyển tải vốn tín dụng đến đối tượng thụ hưởng, các Tổ được Ủy ban nhân dân cấp xã chấp thuận thành lập theo địa bàn dân cư dưới sự quản lý của các Hội đoàn thể và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tương trợ, giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống, cam kết sử dụng đúng mục đích, trả nợ, trả lãi đúng hạn.
1.2. Tiêu chí phản ánh chất lượng, hiệu quả tín dụng chính sách
1.2.1. Chất lượng tín dụng chính sách
Chất lượng tín dụng là tiêu chí quan trọng trong hoạt động của Ngân hàng, nó là con số phản ảnh hiệu quả hoạt động tín dụng. Chất lượng tín dụng phản ánh lợi ích từ nguồn vốn mang lại cho khách hàng và Ngân hàng về mặt kinh tế; riêng đối với tín dụng chính sách nó là con số thể hiện tính hiệu quả không chỉ về mặt kinh tế mà còn thể hiện tính hiệu quả về mặt chính trị – xã hội. Chất lượng tín dụng mang tính định lượng và biến động theo chiều dọc phản ảnh hiệu quả tín dụng trong khoảng thời gian nhất định. Theo Quyết định số 976/QĐ-TTg củaThủ tướng Chính phủ ngày 01/7/2015 về ban hành Quy chế phân loại nợ tại Ngân hàng Chính sách xã hội, các tiêu chí cơ bản đánh giá chất lượng tín dụng trong hệ thống ngân hàng như sau:
1.2.1.1. Phân loại nợ theo trạng thái
– Nhóm 1: Nợ trong hạn là các khoản nợ đang trong thời gian cho vay, các khoản nợ đã được gia hạn nợ hoặc điều chỉnh kỳ hạn trả nợ theo quy định.
– Nhóm 2: Nợ nợ quá hạn là các khoản nợ đã quá hạn trả nợ theo quy định bao gồm: Các khoản nợ đến hạn trả nợ nhưng không đủ điều kiện gia hạn nợ đã chuyển sang nợ quá hạn; các khoản chưa đến kỳ trả nợ nhưng người vay sử dụng sai mục đích đã chuyển sang nợ quá hạn.
Căn cứ vào thời gian quá hạn, nợ quá hạn được phân thành: Các khoản nợ qúa hạn đến 90 ngày, các khoản nợ qúa hạn từ 91 ngày đến 180 ngày, các khoản nợ quà hạn từ 181 ngày đến 360 ngày, các khoản nợ qúa hạn trên 360 ngày.
Việc đo lường chất lượng tín dụng thì chỉ tiêu nợ quá hạn là con số phản ánh cụ thể và chính xác nhất được tính trên cơ sở tỷ lệ nợ quá hạn so với tổng số vốn cho vay đang lưu hành, tỷ lệ này cao hoặc thấp thể hiện được chất lượng tín dụng trong từng giai đoạn hoạt động của Ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn được tính như sau:
| Tỷ lệ nợ quá hạn = | Số tiền nợ quá hạn thuộc nhóm 2 | x 100% |
| Tổng dư nợ từ nhóm 1 đến 3 |
– Nhóm 3: Nợ khoanh là các khoản chưa phải trả nợ gốc và không phải trả lãi trong thời gian được khoanh nợ theo Quyết định cấp có thẳm quyền ( như Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chính quyền địa phương và các Tổ chức khác. Khoản nợ này cũng phản ánh chất lượng tín dụng của Ngân hàng vì nó thuộc tình trạng không còn lưu hành trong mục đích đầu tư và không sinh lãi, có khả năng mất vốn khi hết hạn khoanh nợ nhưng vẫn không thu hồi được.
| Tỷ lệ nợ khoanh= | Số tiền nợ khoanh thuộc nhóm 3 | x 100% |
| Tổng dư nợ từ nhóm 1 đến 3 |
Như vậy nợ xấu: Bao gồm nợ quá hạn và nợ khoanh chiếm trong tổng số nợ cho vay:
| Tỷ lệ nợ xấu = | Số tiền nợ thuộc các nhóm 2 đến 3 | x 100% |
| Tổng dư nợ từ nhóm 1 đến 3 |
Mức dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng là 0,75%/tổng dư nợ.
– Lãi tồn đọng: Là các khoản lãi không thu được theo định kỳ thỏa thuận từ món vay; lãi tồn đọng chủ yếu thuộc các nhóm nợ xấu và kể cả nợ trong hạn, số lãi này phát sinh tăng, giảm tỷ lệ thuận với nợ xấu. Số lãi tồn càng lớn ảnh hưởng đến chỉ tiêu tài chính của đơn vị, thu nhập không đủ chi phí, dẫn đến các mặt hoạt động yếu kém.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\DOAN CONG THIET


