Nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk
Trong 10 năm qua, Chính phủ Việt nam đã thực hiện cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng cụ thể gồm 2 giai đoạn. Giai đoạn 1: Chính phủ đã ban hành Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 về phê duyệt đề án “cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2017”. Giai đoạn 2: Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/07/2007 về phê duyệt đề án “cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020”, từ đó đã ổn định được thị trường tài chính, hoạt động của các ngân hàng thương mại.
Nằm trong hệ thống các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam là ngân hàng cuối cùng 100% vốn của Nhà nước đã chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để thực hiện cổ phân hóa theo đề án giai đoạn 2 của chính phủ. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã hoàn thành tốt vai trò là một trong những NHTM Nhà nước đóng vai trò chủ lực về quy mô thị phần, khả năng điều tiết thị trường, giữ vai trò chủ đạo trong lĩnh vực tín dụng, nông nghiệp nông thôn Việt Nam.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk là chi nhánh loại II trực thuộc quản lý của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông Thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk, hoạt động kinh doanh trên địa bàn TP Buôn Ma Thuột. Đối tượng khách hàng cá nhân của chi nhánh chiếm lên đến 95% trong hoạt động cấp tín dụng.
Với mong muốn hiểu rõ về chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk, từ đó đề xuất các giải pháp hỗ trợ Chi nhánh để nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân, tăng năng lực cạnh trạnh, mở rộng thị phần hoạt động tín dụng trong đó có hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân, góp phần nâng cao hiệu quả tài chính cho chi nhánh, tác giả chọn đề tài “Nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk” làm luận văn để cương chi chi tiết đề án thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh.
Tổng quan nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài nhằm đạt được các mục tiêu sau đây:
Một là: Hệ thống hóa những lý luận cơ bản liên quan đến chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân trong hệ thống NHTM;
Hai là: phân tích thực trạng chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk giai đoạn 2021-2023;
Ba là; Đánh giá một cách khái quát về những thành công và hạn chế của hoạt động chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng;
Bốn là: đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: thực trạng chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk.
Phạm vi nghiên cứu:
+ Về mặt nội dung: thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk;
+ Về không gian: chỉ tập trung nghiên cứu chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân, chất lượng tín dụng trong luận văn này được giới hạn và đề cập đến vấn đề chất lượng cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk
+ Về thời gian: Luận văn sử dụng dữ liệu để phân tích trong giai đoạn từ năm 2021-2023.
Để thực hiện các mục tiêu và nội dung nghiên cứu đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu sau đây:
– Phương pháp tổng hợp: nhằm kế thừa những lý luận cơ bản về nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại các Ngân hàng thương mại, từ đó hình thành cơ sở lý thuyết cho đề tài luận văn.
– Phương pháp thống kê mô tả: Nghiên cứu sự biến đổi số lượng có mối quan hệ mật thiết ở thời gian và địa điểm cụ thể. Phương pháp này sử dụng các chỉ tiêu như số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân và dãy số biến động thoe thời gian để nghiên cứu tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, quy mô hoạt động, thực trạng hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk.
– Phương pháp so sánh, phân tích dữ liệu và suy luận trên cơ sở số liệu thực tế đã thu thập và tổng hợp được và các chỉ tiêu căn cứ để đánh giá chất lượng các khoản vay.
Để có những kết luận chính xác hơn cần phải dựa vào một hệ thống các chỉ tiêu định lượng cụ thể bao gồm các chỉ tiêu lên quan đến hoạt động cho vay của ngân hàng như: chỉ tiêu về doanh số cho vay, doanh số thu nợ, dư nợ, các chỉ tiêu đánh giá tình trạng nợ quá hạn, chỉ tiêu đánh giá nợ xấu… Thực tế, nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân là một vấn đề có liên quan đến rất nhiều các chủ thể: ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế. Do đó, để nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân mang lại hiệu quả cao thì cần phải có sự kết hợp linh hoạt các phương pháp trên.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TỔNG QUAN TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân
Tín dụng là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng còn bên kia là các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng. Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả hai bên cùng có lợi.
Theo khoản 14 điều 4 luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng số 17/2017/QH14 ngày 20/11/2017 thì “Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2006 của Thống đốc NHNN về việc Quy định hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi”.
Khách hàng cá nhân: là cá nhân có quốc tịch Việt Nam, cá nhân có quốc tịch nước ngoài cư trú tại Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật (trong giao dịch dân sự pháp luật cho phép người dưới 18 tuổi tham giam) bao gồm: Cá nhân vay vốn sử dụng vào mục đích của cá nhân đó, vay vốn sử dụng vào mục đích chung trong Hộ gia đình, Chủ doanh nghiệp tư nhân vay vốn sử dụng cho hoạt động của Doanh nghiệp tư nhân, vay vốn sử dụng vào mục đích chung với cá nhân khác (các thành viên Hộ kinh doanh, có đăng ký kinh doanh, tổ hợp tác và các tổ chức khác không có tư cách pháp nhân)
Từ nhiều tài liệu, quan điểm khác nhau khi đề cập đến chất lượng tín dụng cá nhân. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả và trên cơ sở các khái niệm nêu trên và trong phạm vi của luận văn này, khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân là hình thức cấp tín dụng (cho vay) mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng (đối tượng khách hàng là cá nhân) một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Đặc điểm tín dụng khách hàng cá nhân
. Đối tượng cấp tín dụng
Là các cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu vay vốn sử dụng cho các mục đích tiêu dùng hay phục vụ sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ. Đặc điểm này thể hiện sự khác biệt rõ nhất giữa cho vay khách hàng cá nhân và cho vay khách hàng pháp nhân bởi đối tượng của cho vay khách hàng pháp nhân là các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân như công ty, tập đoàn, định chế tài chính … Căn cứ các đặc điểm này, Ngân hàng sẽ thiết lập những quy trình, quy định cụ thể nhằm quản lý tốt hơn hoạt động cấp tín dụng của đơn vị mình.
. Quy mô khoản vay nhỏ, số lượng các khoản vay lớn
Cho vay khách hàng cá nhân thường phục vụ ba mục đích chủ yếu sau:
Thứ nhất là cá nhân vay vốn để đáp ứng nhu cầu phục vụ đời sống, tiêu dùng cá nhân hoặc dùng vào mục đích chung cho hộ gia đình hàng ngày. Khoản vay này phục vụ trực tiếp cho nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống như mua nhà đất, mua sắm vật dụng gia đình, xây dựng/sửa chữa nhà, phương tiện đi lại, vay du học,…
Thứ hai là cá nhân vay với mục đích để bổ sung vốn cho hoạt động buôn bán, kinh doanh sản xuất của Hộ kinh doanh, có đăng ký kinh doanh, tổ hợp tác và các tổ chức khác không có tư cách pháp nhân.
Thứ ba là Chủ doanh nghiệp tư nhân vay vốn sử dụng cho hoạt động của Doanh nghiệp tư nhân.
Số tiền cho vay các mục đích trên được giới hạn bởi các điều kiện từ ngân hàng đó là tính hợp pháp, hợp lý của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, số lượng các khoản tín dụng khách hàng cá nhân là rất lớn là do hai nguyên nhân:
– Số lượng khách hàng cá nhân rất lớn do đối tượng của loại hình cho vay này là tất cả các thành phần cá nhân trong xã hội từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp.
– Nhu cầu tín dụng phong phú và đa dạng của khách hàng cá nhân. Và khi chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí được nâng cao, cá nhân càng có nhu cầu vay ngân hàng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng đời sống.
. Thời hạn cho vay
Tùy thuộc vào mục đích vay và giá trị vay vốn mà xác định thời hạn của khoản vay cá nhân: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Đặc điểm này không thể hiện rõ sự khác biệt giữa hai loại hình tín dụng khách hàng cá nhân và khách hàng pháp nhân. Tuy nhiên, trên thực tế các khoản vay trung, dài hạn của khách hàng cá nhân thường chiếm tỷ lệ thấp hơn so với khách hàng pháp nhân nhưng thời hạn vay vốn trung dài hạn của khách hàng cá nhân thường dài hơn.
. Lãi suất cho vay
Tùy thuộc vào chính sách khách hàng của từng ngân hàng. Nhìn chung, nếu xét đến tính hiệu quả kinh tế của các khoản vay thì lợi ích mang lại từ các khoản vay cá nhân thường thấp hơn so với khách hàng pháp nhân và khả năng xảy ra rủi ro của đối tượng khách hàng cá nhân thường cao hơn so với khách hàng tổ chức kinh tế bởi khách hàng tổ chức mang tư cách pháp nhân còn khách hàng cá nhân mang tư cách thể nhân, vì vậy, ngân hàng áp dụng mức lãi suất cao hơn với đối tượng khách hàng cá nhân.
. Hồ sơ xét duyệt cho vay
Hồ sơ của đối tượng khách hàng cá nhân thường đơn giản và có tính đảm bảo về mặt pháp lý thấp hơn so với đối tượng khách hàng pháp nhân. Nguyên nhân là do đối tượng khách hàng pháp nhân có điều lệ riêng, quy chế hoạt động riêng, cơ cấu tổ chức chặt chẽ và hoạt động dưới sự giám sát của pháp luật (luật doanh nghiệp, luật thuế …) trong khi đối tượng khách hàng cá nhân ít chịu sự giám sát hơn (chỉ chịu sự chi phối của luật dân sự
. Tín dụng khách hàng cá nhân chi phí hoạt động lớn
Do đặc điểm của khách hàng cá nhân là số lượng nhiều và phân tán rộng nên để duy trì và phát triển tín dụng cá nhân sẽ tốn kém nhiều chi phí hoạt động như:
– Mở rộng hệ thống mạng lưới, quảng cáo, tiếp thị tạo thuận lợi trong việc tiếp cận đối tượng khách hàng cá nhân ở từng địa bàn, khu vực…
– Phát triển nhân sự đầy đủ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định đến quyết định cho vay, giải ngân và thu nợ.
– Các chi phí liên quan như: chi phí quản lý, văn phòng phẩm, điện, nước, điện thoại, công tác hỗ trợ chi phí nhân viên,…
Vai trò của tín dụng khách hàng cá nhân
Phục vụ cho nhu cầu cá nhân thiết yếu của đời sống như mua nhà, mua phương tiện đi lại, học tập, du lịch hay chi tiêu cấp bách như ốm đau, bệnh tật, ma chay, cưới hỏi…. của các cá nhân trong xã hội góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
Ngoài ra, tín dụng cá nhân còn là kênh các NHTM tài trợ vốn kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ gia đình đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, giúp họ có điều kiện để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh trong ngành. Với điều kiện cấp tín dụng đơn giản hơn đối với khách hàng pháp nhân, tín dụng khách hàng cá nhân phù hợp với hình thức kinh doanh nhỏ lẻ, phù hợp với đặc tính và tâp quán kinh doanh của đối tượng này.
Tín dụng khách hàng cá nhân giúp khách hàng đáp ứng kịp thời nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh, giúp cho cá nhân đáp ứng những nhu cầu chi tiêu cá nhân. Từ đó có thể nâng cao được đời sống của cá nhân. Với thời gian trả góp dài hơn, mức trả góp nhỏ, phù hợp với thu nhập của cá nhân từ đó giúp khách hàng cá nhân có thể trả nợ vay được tốt hơn.
– Hoạt động tín dụng đối với khách hàng cá nhân giúp cho Ngân hàng có thể mở rộng tăng trưởng tín dụng, tăng nhanh số lượng khách hàng và tăng dư nợ.
– Do số lượng khách hàng cá nhân rất lớn nên Ngân hàng phải thường xuyên sửa đổi, bổ sung quy trình ngày càng phù hợp và hoàn thiện nhằm để phục vụ cho khách hàng cá nhân. Làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ của các NHTM, thu hút thêm được nhiều khách hàng cá nhân bởi các hình thức của sản phẩm, dịch vụ, tạo ra một thương hiệu, hình ảnh tốt về biểu tượng và uy tín của ngân hàng.
– Tín dụng khách hàng cá nhân còn giúp cho Ngân hàng phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh, tăng nhanh thị phần và sử dụng vốn một cách linh hoạt hơn.
– Tín dụng khách hàng cá nhân làm gia tăng khả năng sinh lợi của các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, ngân hàng tăng cường bán chéo được các sản phẩm khác như thanh toán, thẻ, thu hút tiền gửi, các dịch vụ ngân hàng điện tử ….Từ đó cải thiện được tình hình tài chính của ngân hàng, tạo thế mạnh cho ngân hàng trong quá trình cạnh tranh.
– Củng cố mối quan hệ xã hội của ngân hàng. Điều đó cũng có ý nghĩa là tạo được môi trường thuận lợi nhất cho hoạt động ngân hàng
– Các khoản tín dụng khách hàng cá nhân mà đặc biệt là tín dụng tiêu dùng đóng vai trò rất quan trọng trong việc kích cầu nền kinh tế, kích thích sản xuất tạo công ăn việc làm cho người dân, cải thiện đời sống sinh hoạt và giảm những tệ nạn xã hội.
– Trước đây việc những cá nhân cần vốn phải đi vay nóng chịu lãi suất cao gây ra vấn nạn tín dụng đen. Hoạt động tín dụng khách cá nhân đã giải quyết được đa phần vấn đề đó.
– Tín dụng khách hàng cá nhân đóng góp lớn cho sự lưu thông các nguồn vốn trong xã hội, điều chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ hiệu quả thấp đến hiệu quả cao để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình. Nó tạo điều kiện cho ngân hàng làm tốt chức năng trung gian tín dụng trong nền kinh tế quốc dân là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, tín dụng khách hàng cá nhân góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế.
– Tạo điều kiện áp dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động ngân hàng theo xu hướng của thế giới để nhanh chóng nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân thúc đẩy sản xuất ở trong nước và hội nhập với hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia.
– Là một trong những công cụ để thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội bảo phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng trong cả nước
– Vay có tài sản đảm bảo và không có tài sản đảm bảo với mục đích tiêu dùng khách hàng cá nhân sẽ giúp cá nhân, hộ gia đình giải quyết nhanh chóng vấn đề tài chính liên quan đến việc như: mua sắm, vật dụng gia đình, học tập, du lịch, khám bệnh và các mục đích tiêu dùng sinh hoạt khác không bị pháp luật cấm. Đối với khoản vay không có tài sản đảm bảo, có nguồn trả nợ từ tiền lương, tiền công hàng tháng thì mức vay thường tối đa 36 tháng lương, thời gian vay tối đa 60 tháng.
– Vay cầm cố sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá, vàng, ngoại tệ: Là sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng cá nhân có nhu cầu vay tiền bù đắp sự thiếu hụt tài chính tạm thời trong các khoản chi tiêu sinh hoạt gia đình hoặc bổ sung vốn hoạt động sản xuất kinh doanh. Các khoản vay này được đảm bảo bằng các tài sản là sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá…
– Sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân cá nhân sản xuất, kinh doanh giúp khách hàng bổ sung kịp thời nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của gia đình hoặc cá nhân. Phương thức cho vay của sản phẩm này cho vay theo hạn mức tín dụng, đối với lĩnh vực kinh doanh, cho vay từng lần đối với lĩnh vực sản suất.
– Thấu chi tài khoản: Cho vay thấu chi là việc NHTM cho khách hàng cá nhân chi vượt quá số tiền trên tài khoản thanh toán của khách hàng cá nhân. NHTM sẽ cấp cho khách hàng cá nhân một hạn mức thấu chi với hạn mức thấu chi này khách hàng có thể dùng tiền trong hạn mức này để chi trả, thanh toán ngay cả khi tài khoản khách hàng không có số dư.
– Cho vay du học (tài trợ tài chính, chứng minh tài chính)
– Thẻ ghi nợ nội địa: Thanh toán tại các đơn vị chấp nhận thẻ, rút tiền mặt từ tài khoản khách hàng cá nhân, kiểm tra số dư tài khoản, in sao kê giao dịch gần nhất, chuyển khoản trong hệ thống ngân hàng, thanh toán hóa đơn dịch vụ.
– Thẻ ghi nợ quốc tế: Thanh toán tại các đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ và rút tiền tại máy ATM trên toàn cầu có biểu tượng của các tổ chức thẻ quốc tế. Thanh toán qua mạng Internet. Khách hàng cá nhân sử dụng tiền trực tiếp từ tài khoản thanh toán, chủ động hơn trong chi tiêu.
– Thẻ tín dụng quốc tế: Dịch vụ thanh toán thẻ đa năng, thanh toán hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền tại các điểm bán hàng hoặc ATM có biểu tượng chấp nhận thẻ Visa/Mastercard tại các quốc gia trên toàn thế giới. Thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ qua Internet.
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG KHÁCH CÁ NHÂN
Quan niệm về chất lượng tín dụng cá nhân
Chất lượng tín dụng là một phạm trù phản ánh mức độ rủi ro trong bảng tổng hợp cho vay của một tổ chức tín dụng. Để phản ánh về chất lượng tín dụng, có rất nhiều chỉ tiêu nhưng nói chung người ta thường quan tâm đến: Doanh số cho vay, doanh số thu nợ, dư nợ, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ,
Trong thực tế, xuất phát từ bản chất của tín dụng là mối quan hệ giữa người vay và người cho vay, liên quan đến nhiều chủ thể kinh tế và có vai trò cực kỳ to lớn trong nền kinh tế nên chất lượng tín dụng được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau:
– Đối với nền kinh tế: Tín dụng có chất lượng nghĩa là phải huy động được tối đa lượng tiền tệ tạm thời nhàn rỗi và thực hiện cho vay đầu tư phát triển nền kinh tế theo định hướng của Nhà nước một cách có hiệu quả nhất. Tức là việc đầu tư tín dụng sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động, tạo ra các sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, giá thành hạ. Đồng thời, thông qua đó sẽ góp phần thực hiện các nhiệm vụ kinh tế vĩ mô của Nhà nước như: hợp lý hoá cơ cấu nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, cải thiện cuộc sống người dân, củng cố quan hệ kinh tế đối ngoại quốc gia, đặc biệt là góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước.
– Đối với khách hàng vay vốn: Chất lượng tín dụng chính là chất lượng sản phẩm tín dụng do ngân hàng cung cấp. Chất lượng tín dụng cao đồng nghĩa với với việc vốn vay được cung ứng đủ về số lượng, đúng thời hạn và lãi suất hợp lý với thời gian xét duyệt nhanh chóng, thái độ tận tình, chu đáo. Từ đó, tạo điều kiện cho khách hàng hoạt động kinh doanh có hiệu quả, có nguồn thu nhập ổn định để trả nợ vay ngân hàng, giúp khách hàng và ngân hàng phát triển hoạt động kinh doanh của mình.
– Đối với ngân hàng: Nguyên tắc cơ bản nhất đối với hoạt động tín dụng ngân hàng đó là vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn. Nên nói đến chất lượng tín dụng là nói đến khoản tín dụng được bảo đảm an toàn, sử dụng đúng mục đích, phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng, hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng với chi phí nghiệp vụ thấp, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường, làm lành mạnh các quan hệ kinh tế, phục vụ tăng trưởng và phát triển.
Từ nhiều tài liệu, quan điểm khác nhau khi đề cập đến chất lượng tín dụng cá nhân. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả và từ các quan điểm trên và trong luận văn này chất lượng tín khách hàng cá nhân được tác giả tiếp cận dưới gốc độ là ngân hàng thương mại và đưa ra khái niệm chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân như sau: Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân là mức độ ngân hàng đạt được mục tiêu quy mô về khách hàng cá nhân, mức độ thỏa mãn của các khoản cấp tín dụng cho các cá nhân, hộ gia đình sao cho các khoản cấp tín dụng này được sử dụng đúng mục đích và hoàn trả nợ gốc và nợ lãi đúng hạn. Bên cạnh đó chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động tín dụng của NHTM, thể hiện năng lực quản lý hoạt động tín dụng, đảm bảo an toàn vốn và khã năng sinh lời đối với mảng cho vay khách hàng cá nhân.
Quản lý hoạt động tín dụng và Quy trình quản lý hoạt động tín dụng.
Quản lý hoạt động tín dụng
Quản lý hoạt động tín dụng của bất kỳ NHTM nào trước tiên cũng phải hướng tới sự tồn tại và phát triển bền vững, an toàn, nâng cao năng lực cạnh tranh của chính NHTM đó. Bởi vậy, ba mục tiêu cơ bản bao trùm trong quản lý hoạt động tín dụng mà NHTM phải đạt được là:
– Một là phát triển hoạt động tín dụng về cả chiều sâu và chiều rộng
– Hai là an toàn đầu tư tín dụng
– Ba là lợi nhuận tăng trưởng bền vững
Ba mục tiêu trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thực hiện tốt hai mục tiêu đầu là sơ sở để hoàn thành mục tiêu thứ 3. Mục tiêu thứ 3 định hướng cho hai mục tiêu đầu.
Quy trình quản lý hoạt động tín dụng:
Quy trình quản lý tín dụng bao gồm các hành động, phương pháp và những công đoạn để biến những tập hợp đầu vào (nguồn vốn, tài sản, thông tin,..) thành những đầu ra mong muốn (sản phẩm, dịch vụ…).
Quy trình quản lý bao gồm: hoạch định chính sách, chế độ, quy định cho vay, thu lợi nhuận; cơ cấu tổ chức thực hiện; phân tích nhận định tình hình và đưa ra quyết định và thực hiện tốt quy trình quản lý rủi ro.
– Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là hệ thống các chủ trương, định hướng quy định chi phối hoạt động tín dụng do Hội đồng quản trị của NHTM đưa ra. Đó là tổng thể các quy định của ngân hàng về hoạt động tín dụng nhằm đưa ra định hướng và hướng dẫn hoạt động của cán bộ ngân hàng trong việc cấp tín dụng như: quy mô, lãi suất, kỳ hạn, đảm bảo, phạm vi, các khoản tín dụng có vấn đề và các nôi dung khác.
Chính sách tín dụng là bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống quản trị, điều hành hoạt động tín dụng của mỗi ngân hàng được thể hiện bằng các định hướng, tư tưởng chỉ đạo, các quy chế, quy trình cấp tín dụng, quản lý khoản tín dụng, danh mục tín dụng, phân cấp thẩm quyền…
– Quy định về cho vay vốn
Đây chính là cụ thể hóa của chính sách tín dụng, bao gồm: Thể thức cho vay, Giới hạn kỳ hạn nợ, Tiêu chuẩn giá cả để tính toán cho vay, Tiêu chuẩn tài sản thế chấp, Tiêu chuẩn pháo lý và điều kiện tài chính khách hàng cần có, Mức cho vay, Thẩm quyền và thủ tục thanh lý, thu hồi nợ.
Tùy theo tình hình thực tế của mỗi ngân hàng mà quy định này có mức độ khác nhau. Các quy định này phải được thể hiện bằng văn bản và được dùng như một phương tiện nhằm kiểm tra sự tuân thủ những mục tiêu quản lý.
– Cơ cấu tổ chức thực hiện
Để thực hiện mục tieu đề ra, cần có một cơ cấu tổ chức hoạt động có hiệu quả. Điều đó được thể hiện ở sự phân công trách nhiệm rõ ràng trong cơ cấu lãnh đạo ở các cấp quản lý, đối với cán bộ nhân viên cũng như sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữ các cấp lãnh đạo và các bộ phận trong quán trình quản lý tín dụng
– Phân tích nhận định tình hình
Khả năng này phụ thuộc vào năng lực, kinh nghiệm và sự vô tư trong phân tích những thông tin hiện có liên quan đến việc sử dụng vốn vay như các thông tin về khách hàng xin vay vốn, tình hình kinh tế chính trị trong và ngoài nước…trong đó, quan trọng nhất là đánh giá tình hình kinh doanh của khách hàng. Điều quan trọng nhất trong tiến trình đánh giá là dựa vào những giá trị đích thực của các dữ kiện, không phải là định lượng chủ quan về khả năng trả nợ hay dựa trên tài sản đảm bảo của khách hàng. Qua phân tích, phải thấy được tư chất, vốn và năng lực kinh doanh của người vay.
Để hiểu rõ hơn hiện trạng và xu hướng phát triển của khách hàng thông qua hồ sơ vay vốn hay các nguồn thông tin khác, cần phân tích sâu hơn về tình hình tài chính, khả năng thanh toán…Đây chính là quá trình định lượng rủi ro tín dụng trước khi đi đến quyết định cho vay hay không cho vay, cho vay như thế nào…
– Quyết định tín dụng
Thể hiện quyết định của các cấp lãnh đạo về biện pháp xử lý đối với các khoản cho vay, thu nợ cũng như xử lý các khoản nợ xấu, nợ quá hạn. Quyết định chính xác sẽ có ý nghĩa lớn trong việc giảm thiểu rủi ro mất vốn do không thu hồi được nợ, đảm bảo an toàn trong kinh doanh
– Quản lý rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng có thể xảy ra khi một khách hàng không đáp ứng được nghĩa vị trả nợ theo những điều khoản đã thỏa thuân. Đây là rủi ro chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong thực tế, rủi ro tín dụng do nhiều nguyên nhân và biểu hiện dưới các dạng khách nhau, nhưng nhìn chung dưới 2 dạng chính: Do khách hàng không trả được nợ; Do ngân hàng không thực hiện đúng các giới hạn an toàn trong hoạt động tín dụng.
Quản lý rủi ro tín dụng được thực hiên trên cơ sở chính sách, thể lệ cho vay và chế độ thông tin quản lý theo các tiêu chuẩn quản lý tín dụng. Căn cứ vào quá trình chu chuyển vốn tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng gồm có bốn giai đoạn:
+ Giai đoạn 1 – Tính toán xác định rủi ro: Đây được coi là bước đầu tiên trong quá trình quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng. Rủi ro được tính toán xác định trên hai góc độ. Thứ nhất, về phía ngân hàng: rủi ro tín dụng sẽ được phản ánh rõ nét qua quy mô tín dụng, cơ cấu tín dụng, nợ quá hạn, nợ xấu và dự phòng rủi ro. Thứ hai, về phía khách hàng: Khi khách hàng có những dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro, ngân hàng cần nhận biết được khả năng xảy ra rủi ro để ứng phó kịp thời.
Các nội dung chủ yếu trong giai đoạn nhận biết rủi ro gồm có: Thứ nhất, phân tích danh mục tín dụng của ngân hàng: để nhận biết những nguy cơ rủi ro phát sinh từ quy mô tín dụng, cơ cấu tín dụng, ngành nghề, loại tiền… Thứ hai, phân tích đánh giá khách hàng: nhằm phát hiện những nguy cơ rủi ro trong từng khách hàng và từng khoản nợ cụ thể. Phân tích đánh giá khách hàng là cả một quá trình từ khi tiếp xúc với khách hàng, tiếp nhận các thông tin từ phía khách hàng, tiến hành phân tích, thẩm định khách hàng trước, trong và sau khi cho vay
+ Giai đoạn 2 – Lượng hóa rủi ro: Các ngân hàng có thể đo lường rủi ro khoản vay thông qua các mô hình cho điểm tín dụng, mô hình điểm số Z , và mô hình xếp hạng tín dụng nội bộ theo Basel II. Nếu các mô hình cho điểm tín dụng đánh giá rủi ro của khách hàng trên cơ sở cho điểm doanh nghiệp đó, xem doanh nghiệp đang ở các mức rủi ro nào thì theo Basel II có thể tính được tổn thất dự kiến . Như vậy, nếu mỗi món vay được xem là một phép thử và có số liệu đầy đủ, chúng ta có thể xác định một cách tương đối chính xác xác suất rủi ro của từng loại tài sản của ngân hàng trong từng thời kì, từng loại hình tín dụng, từng lĩnh vực đầu tư.
Còn đối với rủi ro tín dụng tổng thể, ngân hàng có thể đo lường qua việc tính toán các chỉ tiêu như quy mô dư nợ, cơ cấu dư nợ, tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu, hệ số rủi ro tín dụng, dự phòng rủi ro… Đặc biệt, hai chỉ tiêu: tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu sẽ phản ánh rõ nét rủi ro của ngân hàng.
+ Giai đoạn 3 – Quản lý rủi ro: Sau khi nhận biết và hình thành các chỉ tiêu đo lường, rủi ro cần phải được theo dõi thường xuyên. Nội dung cơ bản của quản lý rủi ro được thể hiện như sau:
Thứ nhất, xây dựng chiến lược quản lý rủi ro: Ngân hàng cần xác định tầm nhìn, mục tiêu, sứ mệnh của ngân hàng để từ đó đưa ra chiến lược quản lý rủi ro phù hợp.
Thứ hai, xây dựng chính sách quản lý rủi ro: Chính sách quản lý rủi ro tín dụng là cơ sở để hình thành nên quy trình tín dụng với những hướng dẫn nghiệp vụ chi tiết, các bước cụ thể trong quá trình cấp tín dụng. Chính sách quản lý rủi ro tín dụng cũng quy định giới hạn cho vay đối với khách hàng, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro.
Thứ ba, quản lý danh mục cho vay và phân tán rủi ro: Ngân hàng phải thường xuyên phân tích và theo dõi danh mục tín dụng để có những biện pháp xử lý kịp thời khi có rủi ro xảy ra. Để hoạt động quản lý rủi ro tín dụng có hiệu quả, các ngân hàng cần xây dựng một hệ thống thông tin tín dụng tập trung gồm các báo cáo định kì và đặc biệt.
Báo cáo định kì có thể bao gồm các báo cáo liên quan đến các nội dung sau: Nhóm khách hàng có dư nợ tín dụng lớn nhất, các khoản dư nợ lớn nhất; Phân tích danh mục tín dụng …Ngoài ra, ngân hàng cũng phải thực hiện việc phân tán rủi ro bằng việc thực hiện cấp tín dụng cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, đối tượng khách hàng và loại tiền…nhằm tránh những tổn thất cho ngân hàng thương mại
+ Giai đoạn 4 – Kiểm soát và xử lý rủi ro
Kiểm soát rủi ro: nhằm mục tiêu phòng chống và kiểm soát các rủi ro có thể phát sinh trong hoạt động ngân hàng, đảm bảo toàn bộ các bộ phận và cá nhân trong ngân hàng tuân thủ các quy định của pháp luật, thực hiện các chiến lược, chính sách đảm bảo mục tiêu an toàn và hiệu quả trong hoạt động ngân hàng. Kiểm soát rủi ro tín dụng bao gồm kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay. Kiểm soát trước khi cho vay bao gồm: kiểm soát quá trình thiết lập chính sách, thủ tục, quy trình cho vay; kiểm tra quá trình lập hồ sơ vay vốn và thẩm định, kiểm tra tờ trình cho vay và các hồ sơ liên quan. Kiểm soát trong khi cho vay: kiểm soát một lần nữa hợp đồng tín dụng; kiểm tra quá trình giải ngân, điều tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng có đúng mục đích xin vay hay không, giám sát thường xuyên khoản vay…Kiểm soát sau khi cho vay: kiểm soát việc đôn đốc thu hồi nợ, kiểm soát tín dụng nội bộ độc lập, đánh giá lại chính sách tín dụng.
Xử lý rủi ro: Khi một khoản vay bị xếp xuống nhóm nợ xấu thì ngân hàng sẽ chuyển sang bộ phận xử lý nợ xấu giải quyết. Bộ phận này sẽ thực hiện rà soát khoản vay, lập phương án gặp gỡ khách hàng để tìm hướng khắc phục thông qua các hình thức như: gia hạn nợ, chứng khoán hoá các khoản nợ. Nếu khách hàng chấp thuận thực thi phương án khắc phục thì khoản nợ đó sẽ được chuyển sang hình thức theo dõi nợ bình thường, còn không sẽ chuyển sang bộ phận xử lý nợ xấu. Hiện nay, đang tồn tại hai loại hình xử lý nợ: Một là, hình thức xử lý khai thác: bao gồm cho vay thêm, bổ sung tài sản bảo đảm, chuyển nợ quá hạn, thực hiện khoanh nợ xoá nợ, chỉ định đại diện tham gia quản lý doanh nghiệp. Hai là, hình thức xử lý thanh lý : bao gồm xử lý nợ tồn đọng (bao gồm nợ tồn đọng có tài sản bảo đảm, và không tài sản bảo đảm), thanh lý doanh nghiệp, khởi kiện, bán nợ, sử dụng dự phòng rủi ro và sự trợ giúp của Chính phủ.
Các chỉ tiêu đo lường chất lượng tín dụng cá nhân
– Doanh số cho vay khách hàng cá nhân (DSCV KHCN): Doanh số cho vay khách hàng cá nhân là tổng số tiền mà Ngân hàng cho khách hàng cá nhân vay trong một thời gian nhất định. Doanh số cho vay phản ánh lượng vốn mà Ngân hàng đã giải ngân cho khách hàng cá nhân. Con số này thể hiện xu hướng hoạt động cho vay đang thu hẹp hay mở rộng quy mô. Tuy nhiên việc doanh số cho vay tăng không phải lúc nào cũng là tốt và ngược lại doanh số cho vay thu hẹp không phải lúc nào cũng xấu, vấn đề này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tiềm lực của Ngân hàng, điều kiện của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định.
– Doanh số thu nợ khách hàng cá nhân (DSTN KHCN): Doanh số thu nợ khách hàng cá nhân là tổng số tiền được khách hàng cá nhân hoàn trả trong một thời kỳ nhất định hay là tổng số tiền phát sinh bên có của tài khoản cho vay trong một thời kỳ nhất định.
Đây là chỉ tiêu thể hiện năng lực làm việc của cán bộ tín dụng thông qua việc thu hồi nợ. Ngoài ra nó còn thể hiện chất lượng thẩm định xét duyệt của cán bộ tín dụng, đồng thời thể hiện khả năng về chuyên môn nghiệp vụ của họ.
– Dư nợ khách hàng cá nhân (DN KHCN): Dư nợ cho vay khách hàng cá nhân là chỉ tiêu phản ánh tại một thời điểm xác định nào đó ngân hàng hiện còn cho vay bao nhiêu, và đây cũng là khoản mà ngân hàng cần phải thu về. được tính theo thời điểm, tức là số dư cuối kỳ tính toán. Đây là tổng số tiền cho vay đối với khách hàng khách hàng cá nhân còn phải thu hồi tại một thời điểm.
– Tỷ lệ nợ quá hạn KHCN = Nợ quá hạn KHCN/Tổng dư nợ KHCN x 100%
Tỷ lệ nợ quá hạn khách hàng cá nhân là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn của khách hàng cá nhân và tổng dư nợ khách hàng cá nhân của NHTM ở một thời điểm nhất định thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm. Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân của một NHTM. Tỷ lệ nợ quá hạn khách hàng cá nhân thấp biểu hiện chất lượng hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng có độ an toàn cao tức là mức độ rủi ro thấp. Tuy vậy, trên thực tế để đánh giá chính xác hơn chất lượng hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân của một ngân hàng thì người ta chia tỷ lệ nợ quá hạn thành hai loại: tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi và tỷ lệ nợ quá hạn không có khả năng thu hồi. Ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn cao nhưng trong đó bao nhiêu phần trăm là nợ có khả năng thu hồi và bao nhiêu phần trăm là nợ không có khả năng thu hồi, khi đó ta mới có thể đánh giá chính xác được chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng.
– Nợ xấu KHCN và tỷ lệ nợ xấu KHCN trên tổng dư nợ KHCN.
Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc trích lập và phân loại nợ theo 5 nhóm nợ như sau:
+ Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn)
+ Nhóm 2 (Nợ cần chú ý)
+ Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn)
+ Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ)
+ Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)
Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với 5 nhóm nợ như sau:
Nhóm 1: 0%
Nhóm 2: 5%
Nhóm 3: 20%
Nhóm 4: 50%
Nhóm 5: 100%
Ý nghĩa
Như vậy, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro được hiểu là những biện pháp mà các Ngân hàng áp dụng để phòng ngừa rủi ro tín dụng có thể xảy ra do khách hàng bao gồm cả khách hàng cá nhân không thực hiện nghĩa vụ thanh toán như đã cam kết.
– Là những chỉ tiêu mang tính tương đối, rất khó xác định thường được dùng để đánh giá chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân một cách khái quát. Các chỉ tiêu định tính thường bao gồm:
Thứ nhất, đó là việc đảm bảo thực hiện đúng các nguyên tắc cho vay nhằm nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân cho ngân hàng và thực hiện tốt các chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ.
+ Nguyên tắc hoàn trả nợ vay
+ Nguyên tắc sử dụng vốn vay đúng mục đích
+ Nguyên tắc tài sản đảm bảo
Khi nói đến chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng cần phải xem xét đến việc tuân thủ nghiêm ba nguyên tắc trên. Trên thực tế cho thấy khi ngân hàng coi nhẹ một trong các nguyên tắc trên sẽ dẫn đến tình trạng khách hàng mất khả năng thanh toán, phá sản, ảnh hưởng đến chất lượng các khoản tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng.
Thứ hai, đó là quy trình, thủ tục cho vay vốn đối với khách hàng cá nhân. Đây là khâu tiếp xúc đầu tiên của khách hàng cá nhân với ngân hàng, thủ tục đơn giản, nhanh gọn, không gây phiền hà cùng với thái độ phục vụ chuyên nghiệp, chu đáo tận tình của nhân viên ngân hàng sẽ tạo cho khách hàng tâm lý thoải mái, tạo niềm tin và hình ảnh tốt đẹp của ngân hàng trong mỗi khách hàng. Phục vụ tốt nhất, nhưng cán bộ ngân hàng cũng phải luôn tuân thủ quy chế, quy trình cho vay đối với khách hàng cá nhân nhằm đưa ra những quyết định hợp lý nhất, vừa phục vụ tốt khách hàng, vừa đảm an toàn tín dụng.
Thứ ba là uy tín của ngân hàng đối với khách hàng, sự hài lòng của khách hàng đối với các sản phẩm tín dụng áp dụng cho khách hàng cá nhân mà ngân hàng cung cấp về số tiền vay, lãi suất, phí, thời gian phục vụ, khả năng giải ngân vốn bất cứ khi nào khách hàng cá nhân có nhu cầu vay vốn…
Thứ tư, là trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng, khả năng dự báo xu hướng tín dụng đối với đối tượng khách hàng cá nhân, cũng như sự trung thực, chuyên nghiệp, nhanh nhẹn trong quá trình xử lý hồ sơ tín dụng. Ngoài ra, khả năng ứng dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại trong quá trình cung cấp tín dụng nhằm rút ngắn thời gian phục vụ nhưng vẫn đảm bảo thu thập, lưu trữ đầy đủ thông tin để giúp ngân hàng có thể khai thác, phát hiện và ngăn ngừa rủi ro.
Thứ năm, là cơ sở vật chất, công nghệ hiện đại cũng như việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động ngân hàng. Đối với các tổ chức tín dụng, công nghệ thông tin là công cụ hiệu quả trong quản lý kinh doanh, đảm bảo an toàn. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng là yếu tố sống còn của các ngân hàng.
Trong thời đại CNTT như hiện nay, không thể còn khái niệm Quản lý chất lượng tín dụng mà không có sự gắn kết với CNTT, CNTT chỉ có thể hữu hiệu trong Quản lý chất lượng tín dụng của ngân hàng nếu Bộ phận CNTT hiểu rõ định hướng, chính sách Quản lý chất lượng tín dụng của ngân hàng.
Đặc biệt đối với khối khách hàng cá nhân, bởi vì số lượng khách hàng cực lớn, các khoản vay nhỏ lẻ, sản phẩm đa dạng. Cho nên việc xây dựng các giải pháp CNTT nhằm hỗ trợ đắc lực cho việc quản lý chất lượng tín dụng cá nhân là hết sức quan trọng. Các chỉ tiêu định tính rất khó xác định và chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của cán bộ tín dụng và người quản lý cũng như các mối quan hệ của họ với khách hàng vì vậy trên thực tế khi nói đến chất lượng tín dụng thường người ta chú ý nhiều đến các chỉ tiêu mang tính định lượng.
Trong chương 1 tác giả đã trình bày một số nét chính cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng.
Có thể thấy, toàn bộ bức tranh tổng quan về chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân của các ngân hàng, nguyên nhân và cách thức các ngân hàng lựa chọn để nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân được trình bày rõ. Thông qua đó làm nổi bật vai trò và tính cấp thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân trong bối cảnh hiện nay của các ngân hàng Việt Nam. Cơ sở lý luận trình bày tại chương 1 là nền tảng cho việc đánh giá, nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk trong giai đoạn hiện nay và tương lai.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH TP BUÔN MA THUỘT BẮC ĐẮK LẮK
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH TP BUÔN MA THUỘT BẮC ĐẮK LẮK
Sơ lược về Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk
Tên giao dịch: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk.
Trụ sở chính: 40-42 Quang Trung, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Cùng với sự hình thành và phát triển của toàn hệ thống, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk hình thành phát triển qua từng giai đoạn. Được thành lập từ năm 2017 thuộc quản lý của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk. Sau 7 năm thành lập đến nay hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk phát triển và tăng trưởng bền vững, nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay của đều tăng liên tục, các khoản tín dụng cung cấp cho khách khách hàng cá nhân chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực về thương mại, dịch vụ, tiêu dùng đời sống….. từ đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội tại TP Buôn Ma Thuột.
Mô hình tổ chức đối với các phòng, ban thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk cụ thể như sau:
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM PHỤ TRÁCH KẾ TOÁN
PHÒNG KẾ TOÁN NGÂN QUỸ
THỦ QUỸ
BỘ PHẬN HẬU KIỂM
GIAO DỊCH VIÊN
PHÓ GIÁM ĐỐC PHỤ TRÁCH TÍN DỤNG
PHÒNG KẾ HOẠCH KINH DOANH
BỘ PHẬN QUAN HỆ KHÁCH HÀNG, THẨM ĐỊNH
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk
Hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk, thực hiện một số lĩnh vực, nghiệp vụ kinh doanh theo quy định của pháp luật, NHNN và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, cụ thể như sau:
+ Huy động vốn: Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức huy động vốn khác.
+ Cấp tín dụng trong phạm vi phân cấp phán quyết và phê duyệt của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk theo quy định.
+ Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng và cung ứng các phương tiện thanh toán, dịch vụ thanh toán trong nước, quốc tế.
+ Tham gia hệ thống thanh toán nội bộ, thanh toán song phương, thanh toán liên ngân hàng, thanh toán quốc tế và các hệ thống thanh toán khác.
+ Thực hiện dịch vụ quản lý thu chi tiền mặt, tư vấn ngân hàng, tài chính.
+ Cung ứng dịch vụ ngoại hối cho khách hàng trong và ngoài nước.
+ Ủy thác, nhận uỷ thác, đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lý tài sản.
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do cấp có thẩm quyền Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam giao.
+ Nghiên cứu thị trường (phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, môi trường cạnh tranh…), hoạch định chiến lược, kế hoạch và tổ chức triển khai các nội dung hoạt động kinh doanh phù hợp với môi trường, định hướng phát triển kinh tế – xã hội địa phương theo quy định và nhận khoán tài chính với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam hoặc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk.
+ Thực hiện công tác quản trị, điều hành nội bộ trong phạm vi chi nhánh theo phân cấp, ủy quyền (phân công, theo dõi, nhận xét đánh giá người lao động, thực hiện chế độ tiền lương, bảo hiểm, thi đua, khen thưởng, đào tạo…theo quy chế của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam).
+ Tiếp thị, truyền thông, quảng bá thương hiệu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.
+ Thực hiện chế độ hạch toán kế toán, đảm bảo an toàn kho quỹ và quy trình về giao nhận, vận chuyển, thu chi tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá, ấn chỉ quan trọng.
+ Tổ chức công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ theo quy định.
+ Duy trì, nâng cao mối quan hệ với các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan tại địa phương theo yêu cầu quản lý và kinh doanh.
+ Quản lý khai thác tài sản được giao đảm bảo an toàn, hiệu quả.
+ Tổ chức công tác hành chính, văn thư, thống kê, báo cáo theo quy định.
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do cấp có thẩm quyền Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam giao.
+ Phòng Khách hàng: Gồm các chuyên đề tín dụng, kế hoạch, nguồn vốn, phòng ngừa và xử lý rủi ro, sản phẩm dịch vụ, thẻ, tiếp thị truyền thông, kiểm tra kiểm soát, kiểm toán nội bộ.
+ Phòng Kế toán và Ngân quỹ: Gồm các chuyên đề tài chính, kế toán, tiền tệ, kho quỹ, quản lý tài sản, thanh toán, công nghệ thông tin, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, tổ chức, lapo động, tiền lương, mạng lưới, thi đua, khen thưởng, xây dựng cơ bản, văn thư lưu trữ.
+ Giám đốc: Là người đứng đầu chi nhánh; chịu trách nhiệm trước Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, trước pháp luật trong tổ chức, quản lý, điều hành và quyết định hoạt động kinh doanh của đơn vị theo đúng nhiệm vụ và các quy định về quản trị nội bộ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.
+ Phó giám đốc: Được giám đốc phân công phụ trách một hoặc một số lĩnh vực chuyên môn cụ thể. Khi thực hiện nhiệm vụ được phân công, Phó giám đốc được quyền nhân danh Giám đốc (ký thay) để xử lý công việc và chịu trách nhiệm như Giám đốc về quyết định của mình, được Giám đốc ủy quyền (trong trường hợp Giám đốc đi vắng) bằng văn bản thay mặt Giám đốc điều hành đơn vị phù hợp với các quy định hiện hành của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, chịu trách nhiệm trước Giám đốc và pháp luật về các quyết định của mình và phải báo cáo lại với Giám đốc những công việc đã được giải quyết trong thời gian nhận ủy quyền.
+ Trưởng phòng: Là người đứng đầu phòng nghiệp vụ, có nhiệm tổ chức quản lý, điều hành phòng thực hiện các nhiệm vụ do Giám đốc quy định phù hợp với pháp luật và quy định nội bộ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.
+ Phó Trưởng phòng: Là người được Trưởng phòng phân công phụ trách một hoặc một số lĩnh vực chuyên môn cụ thể. Khi thực hiện nhiệm vụ được phân công, Phó Trưởng phòng được quyền nhân danh Trưởng phòng (ký thay) để xử lý công việc và chịu trách nhiệm như Trưởng phòng về các quyết định của mình. Khi Trưởng phòng đi vắng và ủy quyền cho Phó Trưởng phòng bằng văn bản thay mặt Trưởng phòng điều hành Phòng nghiệp vụ phù hợp với các quy định hiện hành của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng và pháp luật về các quyết định của mình và phải báo cáo lại Trưởng phòng những công việc đã giải quyết trong thời gian nhận uỷ quyền.
Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk

Nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk Nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk LắkNâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk LắkNâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh TP Buôn Ma Thuột Bắc Đắk Lắk

