Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy học môn chỉ huy và dàn dựng hát tập thể tại trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng
1. Lý do chọn đề tài
Âm nhạc là môn học có vai trò quan trọng trong việc định hướng và phát triển tư duy thẩm mỹ cho các em học sinh bậc phổ thông. Học Âm nhạc, không những giúp tinh thần thư giãn mà còn giáo dục đạo đức và hình thành nhân cách cho các em.
Người giáo viên âm nhạc phổ thông hiện nay, ngoài việc giảng dạy còn có vai trò quan trọng trong việc chỉ huy, dàn dựng hát đồng ca, hợp xướng tại các chương trình văn nghệ ngoại khóa trong nhà trường. Chính vì lý do đó, chúng tôi nhận thấy rằng, Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể là môn học quan trọng và rất cần thiết đối với các giáo viên âm nhạc tương lai. Môn học không những trang bị cho sinh viên kỹ năng thực hành các động tác chỉ huy cơ bản và dàn dựng hát đồng ca, hợp xướng, mà còn cung cấp những kiến thức về thể hiện sắc thái biểu cảm trong từng động tác chỉ huy.
Chất lượng và hiệu quả của môn học Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể phụ thuộc rất nhiều vào sự quan tâm, đầu tư của cấp quản lý về cơ sở vật chất, điều kiện trang thiết bị; tinh thần tự học, tự rèn luyện của sinh viên, và đặc biệt là trình độ, kỹ năng giảng dạy lý thuyết lẫn thực hành của đội ngũ giảng viên. Tuy nhiên, tại trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng, chúng tôi nhận thấy việc dạy và học môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể vẫn chưa được quan tâm, đầu tư một cách đúng mức với vai trò quan trọng của môn học. Cụ thể là: điều kiện cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ môn học còn hạn chế; việc giảng dạy học phần này chủ yếu dựa trên những giờ học lý thuyết và thực hành tại lớp với số tiết khiêm tốn, trong khi đa số sinh viên vẫn chưa có ý thức tự học. Bên cạnh đó giảng viên vẫn chưa quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu nâng cao trình độ, đổi mới phương pháp giảng dạy môn học. Đối với học phần này, nếu người giảng viên không có sự sáng tạo linh hoạt trong các giờ dạy sẽ gây cho sinh viên cảm giác nhàm chán, mệt mỏi dẫn đến việc sinh viên sẽ mất hứng thú với môn học.
Chính vì lý do đó, chúng tôi chọn Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy học môn chỉ huy và dàn dựng hát tập thể tại trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng làm tên cho luận văn và đó cũng là hướng nghiên cứu chính của chúng tôi.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Phương pháp chỉ huy và dàn dựng hát hợp xướng, đây là vấn đề được nhiều người quan tâm, do vậy cũng đồng nghĩa với việc đã có một số công trình liên quan ở những khía cạnh khác nhau, chẳng hạn:
Nâng cao chất lượng dạy môn Chỉ huy – dàn dựng hợp xướng cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm Âm nhạc trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, Đề tài nghiên cứu khoa học của Lê Quốc Vương, Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW, 2014.
Công trình nghiên cứu trên đã đánh giá thực trạng giảng dạy môn học Chi huy và dàn dựng hát tập thể cho sinh viên ngành Cao đẳng Sư phạm Âm nhạc tại trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn học, cụ thể:
Thứ nhất, đề tài đã đưa ra phương pháp học tập theo nhóm và sử dụng phương tiện trực quan. Nghiên cứu cách dạy và học theo hướng tích cực, chủ động để đảm bảo đạt được yêu cầu chuyên môn là học theo cả hai hình thức tập thể lớp và nhóm.
Thứ hai, đưa công nghệ, kỹ thuật vào chương trình dạy học.
Thứ ba, phân tích việc phân chia tầm cữ giọng của hợp xướng.
Thứ tư, đề xuất về việc trang bị những kiến thức về phối bè và chuyển soạn ca khúc.
Giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn Chỉ huy – dàn dựng hát tập thể cho sinh viên cao đẳng sư phạm âm nhạc trường Đại học Quảng Bình, Luận văn Cao học của Nguyễn Quỳnh Lê tại Học viên Âm nhạc quốc gia Việt Nam, 2013.
Với đối tượng nghiên cứu chính là giảng viên, sinh viên ngành Cao đẳng Sư phạm Âm nhạc tại trường Đại học Quảng Bình. Luận văn trên đã đánh giá thực trạng giảng dạy môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể cho sinh viên ngành Cao đẳng Âm nhạc tại khoa Âm nhac – Mỹ thuật trường đại học Quảng bình, cụ thể: về đội ngũ giảng viên; điều kiện, phương tiện giảng dạy; chương trình, giáo trình, giáo án; phương pháp giảng dạy.
Qua đó, luận văn đã đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn học này, cụ thể:
Thứ nhất: nâng cao chất lượng trình độ của giảng viên và khả năng giao tiếp sư phạm.
Thứ hai: tăng cường đầu tư cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy.
Thứ ba: về chương trình, giáo trình, giáo án với một số đề xuất như chương trình nên giảm bớt số lượng giờ học trên lớp, tăng cường đưa sinh viên đi kiến tập, tham gia các chương trình văn nghệ ngoài lớp học; cần phải có sự khuyến khích về việc soạn giáo trình, giáo án, đồng thời quản lý, kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ về nội dung…
Thứ tư: Đổi mới phương pháp giảng dạy.
Đối với các giờ học lý thuyết, sử dụng phương pháp giảng dạy kết hợp cả hai phía, giữa người dạy và người học. Giảng viên đưa ra những câu hỏi để sinh viên tự kiểm tra bằng cách phát phiếu câu hỏi KWL (Know, Want, Learn).
Đối với các giờ dạy thực hành, chú trọng vào việc giảng viên không nên hướng dẫn sinh viên làm theo một cách bị động, mà nên nhắc lại những nội dung đã được học ở lý thuyết, giúp sinh viên định hướng, điều khiển hành động cho đúng trong bài thực hành.
Luận văn đã đưa ra phương pháp giảng dạy đối với các giờ học seminar (trao đổi, học hỏi kinh nghiệm về việc ứng dụng thể hiện tác phẩm) đối với môn học.
Thứ năm: Tăng cường các hoạt động ngoại khóa bổ trợ học tập như hoạt động biểu diễn văn nghệ; hoạt động nghe nói chuyện, thưởng thức âm nhạc.
Thứ sáu: Cải tiến nội dung, hình thức thi, kiểm tra và đánh giá sinh viên. Kiểm tra công việc học tập cá nhân, nhóm của sinh viên ở nhà bằng cách sử dụng phiếu KWL. Đánh giá thường xuyên bằng cách kiểm tra miệng, thực hành trước, trong, hay cuối giờ học…
Đến nay, tại trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng chưa có tài liệu nào nghiên cứu liên quan đến giải pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể cho sinh viên ngành Cao đẳng Sư phạm Âm nhạc.
Dẫu vậy, công trình của các tác giả nêu ở trên vẫn là những những nguồn tư liệu quý báu, là cơ sở tầng nền chúng tôi dựa vào đó để thực hiện luận văn này.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng dạy và học môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể tại trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn học này.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là phương pháp chỉ huy và dàn dựng hát tập thể. Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng đối tượng tham chiếu là sinh viên ngành Cao đẳng Sư phạm Âm nhạc – Đại học Sư phạm Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này chỉ thực hiện ở học kỳ 1, năm học thứ 3 cho sinh viên cao đẳng sư phạm âm nhạc trong không gian trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng. Những sinh viên khác, trường khác không nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn thực hiện các phương pháp nghiên cứu chính:
Phương pháp phân tích tài liệu: Tổng quan các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, phân tích, tập hợp, xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu
Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu hỏi để điều tra nhằm mục đích tìm hiểu nhận thức của sinh viên về vấn đề tự học, mức độ, hình thức tự học của sinh viên…
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn sau khi hoàn thành, hi vọng sẽ đưa ra được những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể tại trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng.
Luận văn có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo cho giảng viên trong khoa, xa hơn là cho những đồng nghiệp ở các trường khác có sự tương đồng với trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu (4 tr), kết luận (2 tr), phụ lục (8 tr), tài liệu tham khảo (2 tr), luận văn có bố cục 2 chương:
Chương 1: Thực trạng dạy học môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể tại trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng
Chương 2: Giải pháp cụ thể cho việc dạy học môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể
THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN CHỈ HUY VÀ DÀN DỰNG HÁT TẬP THỂ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG
1.1. Khái quát về trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng
Năm 1975, ngay sau khi đất nước hòa bình thống nhất, trên mảnh đất Quảng Nam – Đà Nẵng đã có những đơn vị đào tạo nghề sư phạm khác nhau như: Trường Trung học Sư phạm tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, Trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, Cơ sở Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Đà Nẵng… đây chính là cái nôi đào tạo đầu tiên những lực lượng nòng cốt của sự nghiệp giáo dục trên địa bàn mảnh đất miền Trung và Tây Nguyên.
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Sau ngày thành lập đơn vị tiền thân đầu tiên năm 1975, nhà trường đã trải qua các giai đoạn lịch sử quan trọng trong quá trình phát triển.
Ngày 4 tháng 4 năm 1994, theo Nghị định 32/CP của Thủ tướng Chính phủ, Đại học Đà Nẵng được thành lập. Đại học Sư Phạm là một trong số 07 trường thành viên của Đại học Đà Nẵng được thành lập trên cơ sở tổ chức lại các đơn vị thuộc Trường Cao Đẳng Sư Phạm Quảng Nam – Đà Nẵng. Cơ sở Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Đà Nẵng, các bộ môn Cơ bản và Ngoại ngữ trực thuộc trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng. Bắt đầu từ thời điểm này, trường đón nhận những thách thức mới mẻ hơn với những sứ mệnh và mục tiêu mới.
Trường hiện có 4 phòng chức năng (phòng Công tác sinh viên, phòng Hành chính Tổng hợp, phòng Khoa học – Sau đại học – Hợp tác Quốc tế, Phòng Đào tạo); 2 tổ trực thuộc (tổ Tài vụ, tổ Khảo thí – Đảm bảo chất lượng & Xây dựng dự án); 11 khoa chuyên ngành (khoa Toán, khoa Tin học, khoa Vật lý, khoa Hóa, khoa Ngữ văn, khoa Lịch sử, khoa Địa lý, khoa Giáo dục Chính trị, khoa Tâm lý – Giáo dục, khoa Giáo dục Tiểu học & Mầm non); và 1 trường Mầm non Thực hành sư phạm.
1.1.3. Cơ sở vật chất
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng có hệ thống cơ sở vật chất hiện đại, thường xuyên được đầu tư và nâng cấp, với diện tích khuôn viên nhà trường là 46.647 m2 và tổng diện tích hội trường, giảng đường, phòng học các loại là 11.028 m2. Hiện nay hầu hết các phòng học đều được trang bị máy chiếu (projector), các giảng đường lớn đều được trang bị hệ thống âm thanh, micro hỗ trợ việc giảng dạy cho giảng viên.
1.1.4. Nhiệm vụ chuyên môn và các ngành đào tạo
Các loại hình và phương thức đào tạo của trường hiện nay khá phong phú và da dạng. Không chỉ đào tạo các hệ chính quy tập trung, nhà trường còn đào tạo hệ vừa học vừa làm, nâng chuẩn. Ngoài các chuyên ngành sư phạm, nhà trường còn triển khai đào tạo các chuyên ngành cử nhân khoa học thuộc các lĩnh vực khoa học giáo dục, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn.
Hiện nay, trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đang đào tạo các ngành học sau: bậc Đại học và Cao đẳng hệ chính quy gồm có 11 chuyên ngành thuộc khối sư phạm; bậc sau Đại học đào tạo Thạc sĩ gồm 6 ngành: Hóa hữu cơ, Quản lý giáo dục, Phương pháp toán sơ cấp, Văn học Việt Nam, Ngôn ngữ học, Sinh thái học; và đào tạo Tiến sĩ gồm 1 chuyên ngành Hóa hữu cơ.
1.1.5. Kết quả đào tạo và hợp tác quốc tế
1.1.5.1. Kết quả đào tạo
Trường đã đào tạo được 19.249 Cử nhân sư phạm và Cử nhân khoa học, 21.883 sinh viên ở trình độ Cao đẳng sư phạm, 23.674 giáo viên tiểu học, chuẩn hóa 18.000 giáo viên các cấp, 5.000 cán bộ quản lý giáo dục, 1.178 Thạc sĩ.
Các giảng viên đã thực hiện 934 đề tài nghiên cứu khoa học, trong đó có 705 đề tài cấp trường/Đại học Đà Nẵng, 226 đề tài cấp tỉnh/thành phố và cấp Bộ, 3 đề tài cấp Bộ trọng điểm.
1.1.5.2. Hợp tác quốc tế:
Trường đã và đang có quan hệ hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học với nhiều cơ sở giáo dục và đào tạo trong cả nước, cũng như đặt quan hệ hợp tác với các trường, học viện thuộc các nước Đông Âu, Cộng hòa Liên bang Nga, Pháp, Đức, Bỉ, Hoa Kỳ, Anh, Hà Lan, Úc, Canada, Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và các nước thuộc khối Asean.
1.1.6. Định hướng phát triển
Trường Đại học Sư phạm không ngừng nâng cao chất lượng trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học để hội nhập với trình độ giáo dục đại học ở khu vực và trên thế giới. Trong giai đoạn 2010 – 2020, mục tiêu Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng là phấn đấu trở thành cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học có uy tín, có quy mô lớn và chất lượng hàng đầu ở miền Trung được các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục có uy tín thừa nhận.
1.1.7. Đặc điểm tổ bộ môn âm nhạc
1.1.7.1 Sự hình thành và phát triển của tổ bộ môn
Tổ bộ môn Âm nhạc trước đây trực thuộc khoa Tâm lý – Giáo dục trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng. Năm 2002 theo quyết định số 1165/QĐ-TCCB ngày 18 tháng 09 năm 2002 của Giám đốc Đại học Đà Nẵng, khoa Giáo dục Chính trị được thành lập, tổ bộ môn Âm nhạc được điều động sang khoa Giáo dục Chính trị. Từ đó, tổ bộ môn Âm nhạc trực thuộc khoa Giáo dục Chính trị.
Hiện nay, đội ngũ giảng viên âm nhạc cơ hữu của tổ bộ môn Âm nhạc, Khoa Giáo dục chính trị, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng tổng cộng có 07 giảng viên; trong đó có 03 thạc sĩ, 02 giảng viên đang học cao học và 02 cử nhân; với các chuyên ngành như: thanh nhạc, lý luận & phương pháp giảng dạy âm nhạc, lý luận âm nhạc, sáng tác.
Với số lượng giảng viên trên, có thể nói nhân lực của tổ bộ môn Âm nhạc là rất mỏng, hầu hết các giảng viên phải đảm nhận giảng dạy cùng một lúc nhiều môn học. Nhóm phụ trách học phần Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể gồm 03 giảng viên, trong đó có hai giảng viên cơ hữu và một giảng viên thỉnh giảng. Giảng viên nhóm học phần này đồng thời được giao phụ trách thêm nhiều học phần khác trong chương trình giảng dạy, dẫn đến việc cùng một lúc, giảng viên phải tìm hiểu, nghiên cứu nhiều môn học.
Đa số sinh viên của tổ bộ môn Âm nhạc hiện nay xuất thân từ vùng nông thôn thuộc các tỉnh miền Trung như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi… Rất ít sinh viên sống tại thành phố Đà Nẵng. Phần lớn sinh viên sống xa gia đình và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, phương tiện hỗ trợ học tập không đầy đủ.
1.2. Thực trạng dạy và học môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể
Phương pháp tiếp cận
Để kết quả nghiên cứu được khách quan, chúng tôi đã sử dụng phương pháp điều tra xã hội học thông qua phiếu điều tra để khảo sát đánh giá sinh viên về thực trạng dạy và học môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể.
Đối tượng khảo cứu
Tiến hành nghiên cứu lấy mẫu trên 50 phiếu đánh giá của sinh viên ngành Cao đẳng Sư phạm Âm nhạc. Sau một thời gian thu thập, xử lý phiếu điều tra, tỷ lệ trả lời khảo sát đạt 100% (50/50 phiếu). Thời gian điều tra từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2013. Kết quả sẽ được phân tích và trình bày cụ thể ở những mục sau.
Chỉ huy – dàn dựng hát tập thể là môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo chuyên ngành Cao đẳng sư phạm âm nhạc tại trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng. Trọng tâm của môn học là thực hành kỹ năng chỉ huy và dàn dựng hát tập thể, nên có vai trò rất quan trọng và cần thiết đối với sinh viên ngành Cao đẳng Sư phạm Âm nhạc. Ngành nghề chính của sinh viên sau khi ra trường chủ yếu là giáo viên dạy nhạc ở các cấp tiểu học, trung học cơ sở, giáo viên dạy năng khiếu ở các nhà văn hóa thiếu nhi, trung tâm văn hóa…
Bên cạnh đó, chỉ huy và dàn dựng hát tập thể còn có vai trò hỗ trợ cho giáo viên âm nhạc ở bậc phổ thông trong các giờ sinh hoạt âm nhạc ngoại khóa, hoạt động đoàn – đội, và trong các buổi văn nghệ…

Môn học Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể được đưa vào chương trình đào tạo, nhằm giúp sinh viên nắm vững các nhiệm vụ của người chỉ huy, hiểu được tinh thần cũng như những yêu cầu của tác phẩm. Cụ thể, sau khi học xong môn học này, sinh viên sẽ có như sau:
Về mặt kiến thức: sinh viên nắm được những nội dung cơ bản như những điều kiện cần thiết của người chỉ huy, một vài sơ đồ sắp xếp đội hình và dàn nhạc, các biểu đồ hướng dẫn cách đánh nhịp, khởi tấu và chấm dứt, một số kỹ thuật đặc biệt, sử dụng tay trái.
Về mặt kỹ năng: sinh viên có thể thực hiện được kỹ thuật chỉ huy (biểu diễn sơ đồ và các loại nhịp cơ bản: nhịp 2 phách, nhịp 3 phách, nhịp 4 phách, nhịp 6 phách, động tác lấy đà…). Thực hành chỉ huy vào tác phẩm nhỏ, tương đối đơn giản; thành thạo phương pháp dàn dựng. Thực hành các nhiệm vụ của người chỉ huy (chọn bài, phân bè, chỉ huy tập từng bè, ghép bè với nhau…).
Về mặt thái độ: sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của môn học, vai trò của môn học đối với các học phần chuyên ngành sau, có thái độ đúng đắn, nghiêm túc khi học cũng như có khả năng trao dồi, ứng dụng kỹ năng cho công việc sau này.
Chương trình giảng dạy môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể được tổ bộ môn phân giảng dạy vào học kỳ 5 (kỳ 1 năm học thứ 3). Trước khi học môn này, sinh viên phải được học một số môn tiên quyết của chuyên ngành như nhạc lý, ký xướng âm, phân tích tác phẩm âm nhạc nhằm có những kiến thức nền tảng về nhạc lý và khả năng phân tích, cảm thụ tác phẩm âm nhạc. Môn học Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể lại là môn tiên quyết quan trọng cho hai môn Phương pháp dàn dựng chương trình tổng hợp và Phương pháp giảng dạy âm nhạc.
Môn học Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể có 2 tín chỉ, gồm 45 tiết với nội dung gồm 4 chương:
Chương 1: Một số vấn đề về hợp xướng.
Chương 2: Kỹ thuật cơ bản về chỉ huy.
Chương 3: Một số công việc của người chỉ huy.
Chương 4: Ứng dụng thể hiện tác phẩm.
Giáo trình dùng để giảng dạy chính được giảng viên sử dụng là: Chỉ huy dàn dựng hát tập thể (giáo trình cao đẳng sư phạm) của tác giả Đoàn Phi, Nxb Đại học sư phạm (2005). Giáo trình trên, luôn có sẵn ở thư viện với số lượng lớn để phục vụ mục đích học tập của sinh viên. Vì vậy việc tiếp cận giáo trình chính của sinh viên rất thuận tiện.
Tài liệu tham khảo gồm có: Lê Thế hào (2003), Giáo trình Chỉ huy dàn dựng tác phẩm âm nhạc, Trường CĐSP Nhạc Họa TW, Hà Nội; Minh Cầm (1990), Giáo trình Chỉ huy dàn dựng hợp xướng, Nxb Văn hóa, Hà Nội. Tuy nhiên trên thực tế các tài liệu này không có trên thư viện trường, các nhà sách tại Đà Nẵng cũng không có bán, sinh viên muốn có tài liệu tham khảo thì phải đặt mua ở Hà Nội.
1.2.5. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ học tập và giảng dạy
Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho việc học tập, giảng dạy có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy cho môn học Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể nói riêng và các môn thực hành âm nhạc khác nói chung.
Học phần Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể được bố trí giảng dạy tại phòng dạy các môn lý thuyết âm nhạc (diện tích 35m2). Diện tích phòng học khá nhỏ nên không đáp ứng được không gian cho sinh viên tổ chức thực hành dàn dựng hát tập thể.
1.2.6. Quá trình dạy học môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể
1.2.6.1. Phương pháp giảng dạy của giảng viên
Đối với môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể, nội dung giảng dạy vừa mang tính lý thuyết vừa mang tính thực hành.
Thực tế, trong suốt quá trình giảng dạy học phần Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể, ở phần lý thuyết giảng viên sử dụng phương pháp giảng dạy chính là thuyết trình, và ở phần thực hành phương pháp giảng dạy chính là thực hành – luyện tập. Ngoài phương pháp giảng dạy chính, trong quá trình dạy học giảng viên có vận dụng nhiều phương pháp đan xen nhau.Tuy nhiên, bên cạnh ưu điểm trên, còn tồn tại một vài nhược điểm dẫn đến chất lượng giảng dạy học tập chưa được như mong muốn. Cụ thể là:
Thứ nhất, giảng viên sử dụng phương pháp thuyết trình để truyền tải kiến thức lý thuyết cho sinh viên, các em chỉ việc nghe giảng và ghi chép.
Thứ hai, giảng viên còn chưa linh hoạt khi sử dụng các phương pháp trong giảng dạy theo tình huống hoặc tâm lý sinh viên, điều đó dẫn đến chưa tạo được sự tương tác giữa người dạy và người học.
Thứ ba, giảng viên sử dụng phương pháp trực quan bằng cách thực hiện trực tiếp các động tác mẫu. Tuy nhiên, số lượng sinh viên khá đông nên giảng viên chưa bao quát được lớp và hướng dẫn cụ thể đến từng sinh viên.
Thứ tư, trong quá trình giảng dạy, giảng viên chú trọng nhiều vào việc hướng dẫn kỹ thuật chỉ huy các đường nét cơ bản, chưa hướng dẫn cho sinh viên thể hiện sắc thái tình cảm khi thể hiện tác phẩm.
1.2.6.2. Tình hình học tập của sinh viên
Hiện nay Đại học Sư phạm Đà Nẵng đang đào tạo theo học chế tín chỉ, lấy sinh viên làm trung tâm. Điều này đòi hỏi sinh viên cần chủ động trong việc học tập và lĩnh hội tri thức. Đặc biệt đối với môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể, sinh viên phải đóng vai trò là người quan trọng nhất, có thể đứng trước đám đông, điều khiển đội hình linh hoạt và khéo léo. Chúng tôi đã thực hiện khảo sát tình hình tự học của sinh viên thông qua câu hỏi: Anh (chị) dành bao nhiêu thời gian cho việc học ở nhà/ 1 tiết học ở trường đối với môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể?
Kết quả thu được như sau: có 14% sinh viên dành hơn 2h và 24% sinh viên dành khoảng 2h cho việc tự học. Có 56% sinh viên cho biết, thời gian tự học ở nhà của các em thường chưa đến 2h, và 6% sinh viên hoàn toàn không xem bài cũng như luyện tập sau khi rời lớp.
Đây là môn học yêu cầu cao về mặt tự học, tự thực hành, thời lượng trên lớp ít, nếu sinh viên không tự giác nghiên cứu, trao dồi kiến thức, kỹ năng thì rất khó để tiếp thu những tiết học tiếp theo và khó thành thục về mặt kỹ năng như chuẩn đầu ra của môn học.
Tiểu kết chương 1
Trong chương này, chúng tôi đã khái quát về trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng. Tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển; cơ cấu tổ chức, cơ sở vật chất; chương trình, các ngành đào tạo; hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học, cũng như những định hướng phát triển trong thời gian tới của nhà trường.
Ngoài ra, chúng tôi đã khảo sát và đánh giá đặc điểm của tổ bộ môn Âm nhạc, tình hình giảng dạy môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể cụ thể như sau:
Giảng viên còn sử dụng các phương pháp dạy học thiên về truyền thống, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy còn hạn chế, chưa kết hợp được nhiều phương pháp để tăng tính hiệu quả.
Thời lượng chương trình quá ít, gồm 2 tín chỉ (1 tín chỉ lý thuyết và 1 tín chỉ thực hành) không thể đáp ứng được nội dung của môn học. Với 1 tín chỉ thực hành, giảng viên chỉ có thể hướng dẫn thực hành theo từng nhóm hoặc tập thể chứ không có điều kiện hướng dẫn từng em, trong khi số lượng sinh viên của một lớp khá đông
Tài liệu tham khảo của học phần rất ít và khó tiếp cận nên việc tự nghiên cứu thêm của sinh viên bị hạn chế.
Phương pháp giảng dạy của giảng viên vẫn còn một số nhược điểm như: chưa linh hoạt theo tình huống hoặc tâm lý sinh viên, chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình, chưa hướng dẫn cho sinh viên thể hiện sắc thái tình cảm…
Việc kiểm tra và đánh giá kết quả học phần được tổ chức theo nhóm nên không thể sát sao được khả năng cũng như đóng góp của từng em. Vì thế khó phát hiện ra những sinh viên có kĩ năng và trình độ còn thấp để có thể đưa ra giải pháp khắc phục. Những thực trạng nêu trên chính là cơ sở để tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể ở chương 2.
Chương 2
GIẢI PHÁP CỤ THỂ CHO VIỆC DẠY HỌC MÔN CHỈ HUY VÀ DÀN DỰNG HÁT TẬP THỂ
2.1. Những yêu cầu trong đào tạo tín chỉ
Đổi mới phương pháp dạy học trong đào tạo tín chỉ bao gồm: đổi mới nội dung, giáo trình, cách tiến hành các phương pháp dạy và học, đổi mới các phương tiện, hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các phương pháp truyền thống.
Phương thức đào tạo tín chỉ đang trở thành xu thế tất yếu trong giáo dục đại học ở nước ta hiên nay. Phương thức này có nhiều ưu điểm nổi bật như sau:
Thứ nhất, vấn đề tự học, tự nghiên cứu của sinh viên rất được coi trọng và thời gian người học tự học, tự nghiên cứu được tính vào nội dung, thời lượng của chương trình.
Thứ hai, có tính mềm dẻo và độ linh hoạt cao khi sinh viên có thể chủ động lựa chọn học các học phần khác nhau, dựa theo những quy định chung về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức.
Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng cùng các trường thành viên trong Đại học Đà Nẵng bắt đầu chuyển sang phương thức đào tạo tín chỉ từ năm học 2006 – 2007.
2.1.2. Một số yêu cầu cơ bản về phương pháp giảng dạy trong đào tạo tín chỉ
Sử dụng phương pháp đào tạo tín chỉ đồng nghĩa với việc người dạy phải đổi mới phương pháp dạy, đồng thời thay đổi phương pháp của người học.
Đối với việc dạy và học ở đại học, cần lưu ý và chú trọng những tiêu chí sau:
Thứ nhất, ưu tiên việc dạy cách học để tạo thói quen, niềm say mê và khả năng tự học của sinh viên.
Thứ hai, lấy người học làm trung tâm, phát huy tính chủ động của người học.
Thứ ba, áp dụng công nghệ thông tin, truyền thông và những thiết bị, phương tiện giảng dạy hiện đại vào việc thu thập và xử lý kiến thức.
2.2. Một số giải pháp đối với giảng viên
2.2.1. Bồi dưỡng năng lực chuyên môn
Để nâng cao năng lực giảng dạy môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể, mỗi giảng viên giảng dạy trong nhóm học phần môn học cần không ngừng học tập, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức chuyên môn của môn học. Mỗi giảng viên phải luôn tìm tòi, sáng tạo và trao đổi lẫn nhau về phương pháp dạy học tích cực cùng những sáng kiến kinh nghiệm của bản thân. Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể là môn học kết hợp nhiều kiến thức âm nhạc cùng những kỹ năng, kỹ xảo khác nhau như khả năng phân tích tác phẩm âm nhạc, xướng âm, đàn, hát…
2.2.2. Tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học
Hoạt động nghiên cứu khoa học rất cần thiết và là yêu cầu bắt buộc đối với giảng viên. Người dạy phải đồng thời là một nhà nghiên cứu, là một người có kiến thức chuyên sâu về ngành nghề và môn học mà mình đảm nhận. Thông qua nghiên cứu khoa học, người dạy sẽ tạo ra cơ hội cho mình tự học, tự đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu của đào tạo. Nếu chỉ giảng dạy mà không chú trọng nghiên cứu khoa học, thì kiến thức của người dạy sẽ mau lạc hậu, nghèo nàn, nhàm chán do không được cập nhật, không được thường xuyên bổ sung cái mới.
2.2.3. Xây dựng đề cương chi tiết môn học
Đề cương môn học trong dạy học theo tín chỉ tạo điều kiện cho giảng viên, sinh viên tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc triển khai kế hoạch dạy và học của mình. Đề cương môn học có vai trò định hướng cho hoạt động dạy học theo tín chỉ. Trong đề cương môn học, phải thể hiện đầy đủ các nội dung sau:
Thứ nhất, thông tin về giảng viên
Thứ hai, mục tiêu chung của môn học
Thứ ba, mục tiêu chi tiết của môn học
Thứ tư, giáo trình chính và tài liệu tham khảo
Thứ năm, mục tiêu chi tiết cho từng nội dung
Thứ sáu, hình thức tổ chức dạy học và nội dung dạy học cho từng tuần cụ thể trong một học kỳ.
Thứ bảy, thông tin về các hình thức và tiêu chí kiểm tra, đánh giá, để sinh viên có thể tham gia vào quá trình đánh giá.
Như vậy, có thể coi đề cương môn học là văn bản thể hiện toàn bộ mục tiêu, kế hoạch giảng dạy và học tập, thông qua đó chương trình dạy và học được tiến hành theo đúng lộ trình, giúp sinh viên nâng cao tính tự học, tự nghiên cứu để đạt kết quả tốt nhất.
2.2.4. Đổi mới một số phương pháp giảng dạy môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể
2.2.4.1. Phương pháp giảng dạy tích cực
Theo khảo sát của chúng tôi, giảng viên khi giảng dạy phần lý thuyết của môn học vẫn còn sử dụng phương pháp thuyết trình – lấy giảng viên làm trung tâm. Với hình thức giảng dạy này, trong giờ giảng, giảng viên cố gắng truyền thụ hết kiến thức của mình cho sinh viên. Đây là phương pháp thuyết giảng một chiều, sinh viên chỉ biết lắng nghe, ghi chép, thụ động và ít suy nghĩ, đã hạn chế hiệu quả của việc dạy học và không còn phù hợp với đào tạo theo tín chỉ.
Vì vậy, để nâng cao chất lượng giảng dạy, đặc biệt là các giờ học lý thuyết của môn học, giảng viên cần đổi mới phương pháp thuyết trình – lấy giảng viên làm trung tâm sang phương pháp giảng dạy tích cực – lấy sinh viên làm trung tâm. Với hình thức giảng dạy này, giảng viên coi trọng việc dạy cho sinh viên phương pháp học, tức là giảng viên đóng vai trò là người hướng dẫn cho sinh viên phương pháp tự học, tự nghiên cứu, nâng cao tính chủ động và sáng tạo của sinh viên.
2.2.4.2. Phương pháp thực hành – luyện tập
Môn học Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể, quan trọng nhất là phần thực hành, sinh viên cần thực hành, luyện tập thường xuyên, theo đúng phương pháp dưới sự hướng dẫn của giảng viên mới hình thành được kỹ năng chỉ huy và dàn dựng.
Phương pháp luyện tập kỹ thuật cơ bản về chỉ huy:
Khi đi vào hướng dẫn cách đánh một số nhịp cơ bản, để đạt được hiệu quả cao, giảng viên cần hướng dẫn sinh viên luyện tập từng bước một, từ đơn giản đến phức tạp để sinh viên dần hình thành kỹ năng, kỹ xảo một cách thành thục. Các bước thực hiện như sau:
Thứ nhất, minh họa và giải thích cụ thể hướng đi của các phách bằng sơ đồ đơn giản để sinh viên nắm được hướng chuyển động của cánh tay khi đánh phách.
Thứ hai, hướng dẫn tập từng tay đánh nhịp theo đường nét cơ bản với tốc độ chậm sau đó tăng nhanh dần lên.

Thứ ba, hướng dẫn ghép hai tay với nhau. Sau khi đã tập thành thạo từng tay riêng biệt, giảng viên hướng dẫn sinh viên phối hợp hai tay với nhau.
Việc thể hiện đúng sắc thái, tinh thần của tác phẩm là một yêu cầu quan trọng, cho thấy sự tinh tế, biểu cảm của người chỉ huy.
Phương pháp dàn dựng tác phẩm hợp xướng:
Dàn dựng tác phẩm hợp xướng là công việc rất công phu, mất nhiều thời gian và công sức, đòi hỏi tinh thần tập thể cao, hợp tác của nhiều người dưới sự chỉ đạo của người chỉ huy, dàn dựng. Vì vậy, người chỉ huy, dàn dựng cần thực hiện theo đúng phương pháp và trình tự để công tác luyện tập đạt kết quả cao.
Thứ nhất, việc cần làm đầu tiên của người dàn dựng là lựa chọn tác phẩm có chất lượng, nội dung trong sáng.
Thứ hai, nghiên cứu nội dung, đặc điểm âm nhạc của tác phẩm.
Thứ ba, tuyển chọn diễn viên.
Thứ tư, lên kế hoạch, thống nhất về thời gian, địa điểm, thành lập tổ nhạc đệm, trang thiết bị âm thanh… để phục vụ tốt cho quá trình luyện tập sau này.
Thứ năm, tiến hành luyện tập
Thứ sáu, chuẩn bị biểu diễn
2.2.4.3. Phương pháp học tập theo nhóm
Học tập theo nhóm chính là một phương pháp giúp cho giảng viên có thể tập trung điểm mạnh của các sinh viên, đồng thời giúp sinh viên có thể tự bổ sung hoàn thiện cho nhau những điểm yếu.
Để phương pháp làm việc theo nhóm phát huy hiệu quả với môn học, giảng viên cần thực hiện các bước sau:
Thứ nhất là giao nhiệm vụ
Thứ hai là phân chia nhóm
Thứ ba là làm việc trong nhóm
Thứ tư là nhận xét và thảo luận
Thứ năm là kết luận của giảng viên
2.2.4.4. Phương pháp kiểm tra – đánh giá
Trong hoạt động giáo dục, nhất là giáo đại học, công tác kiểm tra – đánh giá là một khâu rất quan trọng, điều này giúp cho giảng viên có thể đánh giá được việc dạy của mình đã đạt được những mục tiêu đã đề ra hay không. Thông qua đó, giảng viên đánh giá được sự tiến bộ của người học và giúp cho sinh viên có thể tự đánh giá được lượng kiến thức của mình đã tiếp thu được trong quá trình học như thế nào, để kịp thời ôn tập, bổ sung nhằm đạt kết quả học tập cao nhất.
Công tác kiểm tra – đánh giá dựa trên ba mục tiêu: kiến thức, kỹ năng và thái độ. Việc kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện trong suốt quá trình học của môn chứ không đợi đến khi kết thúc chương học hoặc môn học mới tiến hành.
2.2.5. Hướng dẫn sinh viên tự học
Năng lực tự học được thể hiện qua việc chủ thể tự xác định đúng đắn động cơ học tập, có khả năng tự quản lý việc học của mình, có thái độ tích cực trong các hoạt động để có thể tự làm việc.
Để sinh viên có ý thức tự học và hướng dẫn được sinh viên những phương pháp tổ chức tự học có hiệu quả, không phải là vấn đề đơn giản. Muốn làm tốt điều này, ngoài việc am hiểu động cơ, thói quen học tập của sinh viên, giảng viên cần phải tìm ra phương pháp hợp lý nhất, tối ưu nhất để áp dụng cho từng lớp, từng đối tượng sinh viên khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện và giai đoạn đào tạo. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, xây dựng đông cơ học tập cho sinh viên.
Thứ hai, xây dựng kế hoạch học tập.
Thứ ba, hướng dẫn sinh viên tự mình nắm vững nội dung tri thức..
Thứ tư, tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập.
Tóm lại, sinh viên cần phải xác định rõ mục đích, động cơ, nhu cầu học tập, lựa chọn cho mình một thời gian biểu phù hợp để có thể tìm tòi, tự rèn luyện kỹ năng trong học tập.
2.2.6. Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn học
Để nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn học này, giảng viên cần tích cực học tập nâng cao trình độ tin học, tìm hiểu và sử dụng các phần mềm thiết kế bài giảng và trình chiếu như powerpoin, mindmap… vào việc thiết kế bài giảng điện tử phù hợp với nội dung môn học.
Những phần mềm chép nhạc thông dụng hiện nay như Encore, Finale, Sibelius… không những giúp giảng viên trình bày bản nhạc một cách chính xác, đẹp mắt, phục vụ cho việc soạn giáo án, giáo trình, đề cương giảng dạy, thiết kế bài giảng điện tử, mà còn có ưu điểm trong việc giúp sinh viên xướng âm tốt trong quá trình tập hát hợp xướng.
Hiện nay, mạng xã hội, đặc biệt là facebook đang có sức mạnh lan tỏa rất lớn đối với sinh viên. Giảng viên có thể thông qua mạng lưới này để kiểm soát và tương tác với sinh viên trong quá trình giảng dạy. Giảng viên có thể lập tài khoản nhóm trên mạng xã hội (group), thông qua đó kết nối các nhóm học tập, cập nhật tình hình làm việc của các nhóm trong quá trình thực hiện bài tập nhóm.
2.3.1. Tăng cường cơ sở vật chất
Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể là môn học có tính chất thực hành nhiều hơn lý thuyết, vì vậy việc tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học là điều kiện quan trọng và cần thiết để nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn.
Phòng Đào tạo cần trang bị phòng học có diện tích lớn hơn để sinh viên có thể thực hành, luyện tập, dàn dựng, sắp xếp đội hình một cách thuận tiện. Phòng học cần xây dựng hệ thống cách âm để không ảnh hưởng đến các phòng học khác.
Việc tiếp cận của sinh viên với các tài liệu tham khảo là rất khó khăn. Vì vậy, tổ bộ môn Âm nhạc cần nghiên cứu, tìm kiếm thêm nhiều tài liệu nhằm bổ sung vào thư viện trường, đảm bảo cho sinh viên tìm kiếm, học tập một cách thuận tiện hơn.
2.3.2. Tăng cường hoạt động ngoại khóa
Với môn học có tính chất thực hành nhiều như Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể thì hoạt động ngoại khóa tạo điều kiện cho sinh viên có nhiều cơ hội được thực hành dàn dựng, chỉ huy, tổ chức biểu diễn. Điều nay giúp các em tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm và bản lĩnh hơn, dẫn đến việc học tập môn học của sinh viên đạt kết quả tốt hơn.
Căn cứ vào tình hình thực tế của môn học, giảng viên có thể tổ chức nhiều hình thức hoạt động ngoại khóa khác nhau như: tổ chức những buổi trao đổi, thảo luận, tổ chức hoạt động biểu diễn văn nghệ, tham gia vào các hội thi, hội diễn văn nghệ.
2.4.1. Tiến trình thực nghiệm
Để triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng và phương pháp giảng dạy, chúng tôi đã biên soạn đề cương chi tiết học phần Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể và thiết kế một số giáo án mẫu để áp dụng dạy thực nghiệm tại trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, thời gian thực nghiệm vào tháng 11 năm 2014.
2.4.2. Kết quả thực nghiệm
Qua quá trình áp dụng một số giải pháp trên đối với học phần Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể, kết quả đạt được như sau:
Thứ nhất, sinh viên đã hoàn toàn chủ động trong việc lập kế hoạch học tập.
Thứ hai, trong giờ học lý thuyết, sinh viên không đã chủ động tham gia đặt câu hỏi, trao đổi với giảng viên.
Thứ ba, sinh viên đã có tinh thần tự học, tự nghiên cứu và luyện tập thêm ở nhà.
Thứ tư, việc luyện tập đúng phương pháp đã giúp cho sinh viên rút ngắn được thời gian thực hành các động tác chỉ huy cơ bản một cách chính xác.
Thứ năm, trong quá trình kiểm tra đánh giá, ngoài việc thực hành tốt các động tác một cách chính xác, dứt khoát, các em đã bước đầu thể hiện được sắc thái cảm xúc trong từng động tác chỉ huy.
Thứ sáu, phương pháp học tập theo nhóm đã giúp cho sinh viên học tập môn học một cách tích cực hơn, đặc biệt là ở phần dàn dựng.
Tiểu kết chương 2
Căn cứ vào thực trạng dạy học môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể tại trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng. Trong chương 2, chúng tôi đã đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn học. Cụ thể như sau:
Bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ giảng viên: đây là giải pháp hết sức cần thiết bởi lẽ năng lực chuyên môn của giảng viên là một trong những điều kiện tiên quyết ảnh hưởng đến chất lượng học tập của sinh viên.
Tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học: thông qua nghiên cứu khoa học, người dạy sẽ tạo ra cơ hội cho mình bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Xây dựng đề cương chi tiết môn học: các giảng viên cần phải nghiên cứu và xây dựng đề cương chi tiết một cách khoa học, đúng tiến độ, đáp ứng được yêu cầu về vai trò của đề cương chi tiết trong đào tạo học chế tín chỉ.
Đổi mới phương pháp giảng dạy: để sinh viên có thể tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả, người giảng viên phải biết cách sử dụng các phương tiện truyền tải phù hợp. Sử dụng linh hoạt các phương pháp đào tạo theo học chế tín chỉ.
Hướng dẫn sinh viên tự học: để làm được điều này, ngoài việc am hiểu động cơ, thói quen học tập của sinh viên, giảng viên cần phải tìm ra phương pháp tối ưu nhất để áp dụng cho từng lớp, từng đối tượng sinh viên khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện và giai đoạn đào tạo.
Ứng dụng công nghệ thông tin và giảng dạy: bên cạnh việc nghiên cứu giáo trình, giảng viên cần năng động trong việc sử dụng thành thạo các phần mềm phục vụ cho việc giảng dạy, tìm kiếm thông tin.
Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng hiện không ngừng nâng cao chất lượng trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học để hội nhập với trình độ giáo dục đại học ở khu vực và trên thế giới. Với việc tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy học theo hướng chuẩn hóa, hiện đại, thiết thực, hiệu quả; đầu tư xây dựng giáo trình và bài giảng; cụ thể hóa các quy định của Bộ Giáo dục & Đào tạo và của Đại học Đà Nẵng thành những quy định mang tính pháp quy của trường để đưa mọi hoạt động dạy và học, thi, kiểm tra và đánh giá kết quả của người học vào nền nếp theo đúng quy chế đào tạo tín chỉ, nhằm cung cấp cho người học một môi trường giáo dục dân chủ, công khai, minh bạch, thân thiện và có tính chuyên môn cao.
Tổ bộ môn Âm nhạc trực thuộc Khoa Giáo dục Chính trị, trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, với nhiệm vụ trọng tâm là đào tạo sinh viên chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc bậc Cao Đẳng hệ chính quy. Hiện nay, đội ngũ giảng viên âm nhạc cơ hữu của tổ bộ môn Âm nhạc gồm có 07 giảng viên, trong đó có 03 thạc sĩ. Với số lượng giảng viên trên, nhân lực của tổ âm nhạc có thể nói là rất mỏng, hầu hết các giảng viên phải đảm nhận giảng dạy cùng một lúc nhiều môn học. Đối với học phần Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể, giảng viên không có thời gian nhiều để quan tâm, nghiên cứu, đổi mới và nâng cao phương pháp giảng dạy đối với môn học này.
Đại học Sư phạm Đà Nẵng đang đào tạo theo học chế tín chỉ, lấy sinh viên làm trung tâm. Điều này đòi hỏi sinh viên cần chủ động trong việc học tập và lĩnh hội tri thức. Trong khi đó, đa số sinh viên ngành Cao đẳng Sư phạm Âm nhạc tại trường hiện nay xuất thân từ vùng nông thôn thuộc các tỉnh miền Trung như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi… Rất ít sinh viên sống tại thành phố Đà Nẵng. Phần lớn sinh viên sống xa gia đình và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, phương tiện hỗ trợ học tập không đầy đủ, vì vậy không đáp ứng được việc tự học, luyện tập tại nhà của các em
Thực tế, việc giảng dạy học phần Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể tại tổ bộ môn Âm nhạc trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng còn một số điểm còn tồn tại:
Thứ nhất, thời lượng chương trình quá ít, gồm 2 tín chỉ (1 tín chỉ lý thuyết và 1 tín chỉ thực hành) không thể đáp ứng được nội dung của môn học. Với 1 tín chỉ thực hành, giảng viên chỉ có thể hướng dẫn thực hành theo từng nhóm hoặc tập thể chứ không có điều kiện hướng dẫn từng em, trong khi số lượng sinh viên của một lớp khá đông. Điều này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy của giảng viên cũng như kết quả học tập của sinh viên.
Thứ hai, tài liệu tham khảo của học phần rất ít và khó tiếp cận nên việc tự nghiên cứu thêm của sinh viên bị hạn chế.
Thứ ba, phương pháp giảng dạy của giảng viên vẫn còn một số nhược điểm như: chưa linh hoạt theo tình huống hoặc tâm lý sinh viên, chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình, chưa hướng dẫn cho sinh viên thể hiện sắc thái tình cảm…
Thứ tư, việc kiểm tra và đánh giá kết quả học phần được tổ chức theo nhóm nên không thể sát sao được khả năng cũng như đóng góp của từng em. Vì thế khó phát hiện ra những sinh viên có kĩ năng và trình độ còn thấp để có thể đưa ra giải pháp khắc phục.
Trên cơ sở khảo sát thực trạng về tình hình dạy học môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể tại trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, chúng tôi đã đưa ra những giải pháp cụ thể phù hợp nhất với môi trường nghiên cứu để nâng cao chất lượng dạy học môn học như sau:
Bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ giảng viên: đây là giải pháp hết sức cần thiết bởi lẽ năng lực chuyên môn của giảng viên là một trong những điều kiện tiên quyết ảnh hưởng đến chất lượng học tập của sinh viên. Năng lực chuyên môn ở đây không chỉ mang nghĩa hẹp chỉ là kiến thức chuyên ngành mà còn kể đến năng lực sư phạm, năng lực tin học và năng lực ngoại ngữ.
Tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học: thông qua nghiên cứu khoa học, người dạy sẽ tạo ra cơ hội cho mình bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp vụ; rèn luyện tư duy logic; phát triển khả năng phân tích và lý luận; từng bước nâng cao chất lượng đào tạo học phần mình đảm nhận
Xây dựng đề cương chi tiết môn học: các giảng viên cần phải nghiên cứu và xây dựng đề cương chi tiết một cách khoa học, đúng tiến độ, đáp ứng được yêu cầu về vai trò của đề cương chi tiết trong đào tạo học chế tín chỉ.
Đổi mới phương pháp giảng dạy: để sinh viên có thể tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả, người giảng viên phải biết cách sử dụng các phương tiện truyền tải phù hợp. Chính vì thế, bên cạnh việc nâng cao và bồi dưỡng năng lực chuyên môn, người giảng viên cũng cần phải biết cách đổi mới các phương pháp giảng dạy của mình. Cụ thể là sử dụng linh hoạt các phương pháp đào tạo theo học chế tín chỉ như: phương pháp giảng dạy tích cực, phương pháp làm việc nhóm, phương pháp kiểm tra – đánh giá, phương pháp thực hành – luyện tập, phù hợp với nội dung giờ học và theo từng tình huống.
Hướng dẫn sinh viên tự học: để làm được điều này, ngoài việc am hiểu động cơ, thói quen học tập của sinh viên, giảng viên cần phải tìm ra phương pháp tối ưu nhất để áp dụng cho từng lớp, từng đối tượng sinh viên khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện và giai đoạn đào tạo. Giảng viên có thể giúp sinh viên xác định động cơ học tập, xây dựng kế hoạch học tập, hướng dẫn sinh viên cách lĩnh hội tri thức tại lớp, rèn luyện thêm ở nhà và tự nhìn nhận đánh giá kết quả học tập của mình.
Ứng dụng công nghệ thông tin và giảng dạy: bên cạnh việc nghiên cứu giáo trình, giảng viên cần năng động trong việc sử dụng thành thạo các phần mềm phục vụ cho việc giảng dạy, tìm kiếm thông tin đồng thời hướng dẫn cho sinh viên, giúp các em có thể học tập và chiếm lĩnh tri thức thông qua mạng Internet.
Cùng với sự vận động, phát triển không ngừng của trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, giảng viên tổ Bộ môn Âm nhạc nói chung và giảng viên phụ trách học phần môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể nói riêng phải luôn học tập, nghiên cứu, nâng cao phương pháp giảng dạy để theo sự phát triển chung của nhà trường.
Mặc dù cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong nhận được những lời góp ý từ các quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn và có ý nghĩa thực tiễn cao hơn, với mong muốn được đóng góp phần nào vào việc nâng cao phương pháp giảng dạy học môn Chỉ huy và dàn dựng hát tập thể tại trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\LUAN VAN (Truong Quang Minh Duc)


