Mô tả mô hình bệnh tật tại khoa Cấp cứu – Hồi sức tích cực – Chống độc Bệnh viện Đa khoa huyện Bảo Yên – Lào Cai năm 2021- 2023
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mô hình bệnh tật của mỗi đất nước, khu vực trong cộng đồng luôn mang tính đặc thù, phụ thuộc vào nhiều yếu tố kinh tế, xã hội, tập quán… Ở mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia mô hình bệnh tật là phản ánh tình trạng sức khỏe cũng như tình hình kinh tế, xã hội ở quốc gia hay cộng đồng đó. Việc xác định mô hình bệnh tật là hết sức cần thiết vì mô hình bệnh tật là một trong những cơ sở khoa học hết sức quan trọng để các nhà hoạch định chính sách y tế nói chung và các nhà quản lý bệnh viện nói riêng có cơ sở xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển cho phù hợp. Nó là một trong những cơ sở để xác định các vấn đề sức khỏe ưu tiên của cộng đồng, do vậy, nghiên cứu mô hình bệnh tật của tổng thể cộng đồng hay bệnh viện, hay một khoa phòng là hết sức cần thiết. (1)
Tổ chức y tế thế giới WHO cũng thường xuyên xây dựng các thống kê về mô hình bệnh tật của các châu lục, các khu vực, các nước trên thế giới. Đây là cơ sở để Tổ chức y tế thế giới xây dựng một kế hoạch đầu tư hợp lý, cũng như kêu gọi chính phủ các quốc gia trên thế giới điều chỉnh một số chính sách về hỗ trợ nhằm cải thiện sức khỏe cho nhân dân trong khu vực hay trong các nước. (2)
Thực tế trong đại dịch Covid-19 đang diễn ra đã cho chúng ta thấy rõ điều đó, với 143.445.675 trường hợp nhiễm, trong đó có tới 3.051.736 người chết, theo báo cáo của tổ chức y tế thế giới (WHO) tháng 4/2021 làm ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt trong đời sống con người, đến tất cả các nền kinh tế trên thế giới.(3)
Theo dữ liệu gánh nặng bệnh tật toàn cầu (Global Burden of Disease- GBD) năm 2004, thế giới có khoảng 58,8 triệu người chết do tất cả các nguyên nhân. Trong đó, nguyên nhân tử vong do các bệnh lây nhiễm, thai sản và dinh dưỡng (nhóm I) chiếm (30%), do các bệnh không lây (nhóm II) chiếm 60% và 10% còn lại do chấn thương (nhóm III)12. Các dữ liệu GBD mới đây cho thấy trong 30 năm qua (1990-2019) sức khỏe toàn cầu đã có sự cải thiện. Năm 2017, dữ liệu trên 195 quốc gia chỉ ra tỷ lệ tử vong do các nguyên nhân nhóm I giảm còn 19,49%, nhóm III giảm còn 7,85 %, nhưng các bệnh nhóm II tăng lên tới 72,67%13. (4)
Tại Việt Nam, mô hình bệnh tật đã có nhiều thay đổi. Trong khi bệnh lây nhiễm đang có xu hướng giảm thì bệnh không lây nhiễm đang gia tăng nhanh chóng. Việt Nam phải đối mặt với mô hình bệnh tật kép bệnh lây nhiễm và bệnh không lây nhiễm. Trong đó bệnh không lây nhiễm chiếm khoảng 70% gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam và là nguyên nhân gây ra 77% tổng số tử vong toàn quốc. Đây là một thách thức lớn cho ngành y tế Việt Nam. Nhờ những đổi mới về kinh tế xã hội, các chính sách về y tế của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm của toàn xã hội, các chỉ số sức khoẻ, tuổi thọ bình quân được cải thiện, đạt 73,4 tuổi năm 2016.(5)
Trong giai đoạn hiện nay, mô hình bệnh tật có nhiều thay đổi, song song với các bệnh truyền nhiễm mới nổi, tái nổi còn có nhiều bệnh không truyền nhiễm, các tình trạng sức khỏe khẩn cấp, thiên tai, thảm họa… đang là mối đe dọa sức khỏe trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Đồng thời, nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân vì đó cũng tăng lên đáng kể. Thực tế này đòi hỏi mỗi một chuyên ngành cần nỗ lực hơn nữa trong việc phát triển chuyên môn kỹ thuật, hội nhập trong nước và quốc tế. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu về khám chữa bệnh của nhân dân ngày càng cao, vấn đề chăm sóc sức khỏe cũng có nhiều thay đổi. Với trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, việc tiếp cận dễ dàng với các thông tin về bệnh tật, về phương pháp chẩn đoán, điều trị mới, giao thông thuận lợi, người dân luôn mong muốn, hỏi được chẩn đoán, điều trị bằng các kỹ thuật tốt hơn, được chăm sóc vào thời điểm thuận lợi hơn, thái độ phục vụ ân cần, chu đáo, bệnh phòng đầy đủ tiện nghi hơn, phương thức quản lý và chi trả viện phí giản tiện hơn, sẵn sàng từ chối những dịch vụ y tế mà hiệu quả không rõ ràng, lựa chọn các sơ sở khám, chữa bệnh mà bản thân cho là tốt hơn. Các cơ sở khám, chữa bệnh đã và đang nỗ lực để có thể từng bước đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của người bệnh và cộng đồng, việc xác định mô hình bệnh tật là cấp thiết để đưa ra những chính sách phù hợp.
Mô hình bệnh tật của từng vùng, từng miền, từng bệnh viện từng khoa phòng cũng có những đặc điểm khác biệt so với mô hình chung của cả nước.Bộ phận Hồi sức cấp cứu được thành lập từ năm 2012 với 06 gường kế hoạch, thực kê 8 giường bệnh và là bộ phận nằm trong khoa Ngoại-Tổng hợp thực hiện khám chữa bệnh liên quan đến bệnh cấp cứu hồi và các bệnh ngộ độc. Ngày 27/12/2022 Khoa được tách từ khoa Ngoại- Tổng hợp thành 01 khoa riêng với tên gọi Khoa Cấp cứu – Hồi sức tích cực – chống độc và chính thức hoạt động từ tháng 1 năm 2023. Là một trong 17 khoa phòng thực hiện tiếp nhận cấp cứu những người bệnh nặng, khám và điều trị chăm sóc tích cực những người bệnh có chức năng sống bị đe dọa, cấp cứu điều trị các bệnh ngộ độc và sẵn sang tiếp nhận người bệnh nặng ở các khoa phòng khác đưa đến. Khoa được trạng bị các phương tiện, dụng cụ như máy thở, máy sốc điện tại giường, máy điện tim, bộ đặt nội khí quản, máy hút dịch, hút khí, máy tạo oxy, máy truyền dịch, bơm tiêm điện, máy siêu âm, máy monitor ning phục vụ cho công tác khám điều trị và thực hiện các kỹ thuật cấp cứu tại khoa như: Đặt nội khí quản, Cấp cứu ngừng tuần hoàn, sốc điện, đặt catherter tĩnh mạch trung tâm, chọc hút dịch, khí màng phổi, chọc tháo dịch ổ bụng…đúng quy định quy trình kỹ thuật.
Là khoa mới thành lập và cũng có nhiều ca cấp cứu vào khám và điều trị với nhiều mặt bệnh đa dạng đầy đủ các chuyên khoa: Như CPOD, Hen phế quản ác tính, Đột quỵ não, nhồi máu cơ tim, Suy hô hấp, viêm phổi, phù phổi, Xơ gan, Viêm tụy… cho đến nay chưa có báo cáo thống kê nào về mô hình bệnh tật tại khoa Cấp cứu Hồi sức tích cực- Chống Độc. Việc nghiên cứu mô hình bệnh tật bệnh nhân điều trị nội trú có thể giúp cho khoa cũng như Bệnh viện đa khoa huyện Bảo Yên có kế hoạch phù hợp, đáp ứng tốt hơn nhu cầu dịch vụ chăm sóc sức khỏe người dân địa phương. Từ mô hình bệnh tật ta có thể xác định được các bệnh tật phổ biến nhất giúp cho việc định hướng lâu dài về điều trị cũng như kế hoạch đào tạo nhân vật lực, và phòng chống bệnh tật trong từng thời điểm cụ thể. xây dựng lên kế hoạch chăm sóc sức khỏe cho người dân trong huyện nhà và các địa phương lân cận một cách toàn diện, đầu tư cho công tác chữa và phòng bệnh có chiều sâu và trọng điểm, từng bước hạ thấp tối đa tần suất mắc bệnh cho cộng đồng, nâng cao sức khỏe nhân dân.
Từ đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Mô tả mô hình bệnh tật tại khoa Cấp cứu – Hồi sức tích cực – Chống độc Bệnh viện Đa khoa huyện Bảo Yên – Lào Cai năm 2021- 2023” với mục tiêu sau:

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mô tả mô hình bệnh tật tại khoa Cấp Cứu -Hồi Sức Tích Cực -Chống Độc Bệnh viện Đa khoa huyện Bảo Yên từ năm 2021-2023
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại Cương
1.1.1 Các khái niệm
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Mô hình: là vật cùng hình dạng nhưng làm thu nhỏ, mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật khác để trình bày, nghiên cứu; là hình thức diễn đạt hết sức gọn theo một ngôn ngữ nào đó các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng, để nghiên cứu đối tượng ấy.
Bệnh ở con người: là trạng thái cơ thể hoặc bộ phận cơ thể hoạt động không bình thường.
Tật ở con người: là trạng thái bất thường, nói chung là không chữa được của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh mà có hoặc do tai nạn gây nên.
Cộng đồng: là toàn thể những người cùng sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội, có những đặc trưng về tên gọi, ngôn ngữ, văn hóa … giống nhau.
Mô hình bệnh tật (nghiên cứu ở đây là ở con người): là dạng thu nhỏ các đặc trưng chủ yếu về tỷ lệ các lọai hình bệnh và tật của con người.
Cơ cấu bệnh tật: là cách sắp xếp các đặc trưng chủ yếu về tỷ lệ các loại hình bệnh và tật của con người trong một cộng đồng.
1.1.2 Phân nhóm bệnh trong nghiên cứu phân tích mô hình bệnh tật
a. Phân loại bệnh tật theo ICD – 10
Cách phân loại được WHO khuyến khích sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới hiện nay. Việt Nam đã áp dụng hệ thống phân loại này trên toàn quốc.
Đặc điểm nổi bật của ICD là phân loại theo từng chương bệnh, trong mỗi chương lại chia ra từng nhóm bệnh. Từ mỗi nhóm bệnh chia nhỏ thành tên bệnh và cuối cùng là các bệnh chi tiết theo nguyên nhân hay tính chất đặc thù của bệnh. Như vậy một bệnh theo ICD được mã hóa bởi 3 ký tự chính và ký tự thứ 4 mã hóa tên bệnh chi tiết.
Chương bệnh: ICD-10 gồm 21 chương bệnh chính. Các chương được quy định bởi 1 hoặc nhiều chữ cái, sắp xếp từ A-Z, được phân loại theo tác nhân gây bệnh, nguyên nhân ngoại sinh, bệnh theo hệ cơ quan, ung bướu, triệu chứng hay rối loạn bất thường .v.v.
Nhóm bệnh: Mỗi chương bệnh được chia thành nhiều nhóm bệnh (nhóm mã 2 chữ số). Một số chương bệnh ví dụ Ung bướu (Chương 2), thì các nhóm bệnh tiếp tục được phân loại thành các Nhóm phụ. Nguyên tắc mã hoá: Các mã bệnh trong các nhóm bệnh phải phù hợp với chẩn đoán bệnh: Nhóm B00-B95 là tác nhân gây bệnh không được sử dụng làm mã bệnh chính.
Loại bệnh: Mỗi Nhóm bệnh được chia thành nhiều Loại bệnh (gồm các mã bệnh có 3 chữ số).
Tên bệnh: Mỗi loại bệnh tuỳ theo đặc thù có thể phân loại thành các tên bệnh cụ thể.
Mã bệnh: là Tên bệnh được thể hiện bằng các ký tự chữ và số. Phần lớn mã bệnh chứa 4 ký tự, một số mã bệnh chỉ bao gồm 3 ký tự, hoặc một số mã bệnh có mã thứ 5 theo vị trí giải phẫu. Một mã bệnh có thể chứa nhiều tên bệnh, hoặc một bệnh có thể chứa nhiều mã bệnh.
Mã bao gồm : Là các mã bệnh chi tiết hơn được phân loại vào trong cùng 1 mã bệnh nhằm diễn giải hoặc phân loại cụ thể hơn. Nguyên tắc tra cứu: khi tra cứu được mã bệnh, phải kiểm tra tại Quyển 1 (website kcb.vn).
Mã loại trừ: Là các bệnh có cùng đặc điểm phân loại với Mã bệnh nhưng không được phân loại trong mã bệnh đó. Nguyên tắc tra cứu: khi 3 tra cứu được mã bệnh, phải kiểm tra tại Quyển 1 (website kcb.vn) xem bệnh cần tìm có nằm trong danh sách các bệnh loại trừ khỏi mã đó. Nếu tên bệnh cần tìm không nằm trong danh sách mã Loại trừ thì được phép sử dụng Mã bệnh đã tìm được. Trường hợp tên bệnh nằm trong danh sách loại trừ, thì không sử dụng mã tìm được mà sử dụng mã tương ứng tên bệnh trong danh sách mã Loại trừ.
Thuật ngữ “Không phân loại nơi khác”: Là các bệnh có tên chuyên môn, nguyên nhân hoăc bệnh học xác định nhưng chưa được phân loại trong bảng phân loại ICD-10.
Thuật ngữ “Không đặc hiệu khác”: Là các bệnh đã xác định được Loại bệnh, nhưng không có đủ dữ kiện để chẩn đoán và phân loại chi tiết hơn.
Mã bệnh (*) và (†): là một hệ thống mã kép, gồm các Mã bệnh kèm thêm ký tự dấu sao (*) và ký tự kiếm (†) để mô tả một tình trạng bệnh gồm nguyên nhân hoặc bệnh sinh (†) và biểu hiện hiện tại của bệnh (*).
Toàn bộ danh mục được xếp thành 21 chương bệnh, ký hiệu từ I đến XXI theo các nhóm bệnh :
Chương I : Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng
Chương II : Khối U ( Bướu Tân Sinh )
CHương III : Bệnh máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn miễn dịch
Chương IV : Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa
Chương V : Rối loạn tâm thần và hành vi
Chương VI : Bệnh của hệ thần kinh
Chương VII : Bệnh mắt và phần phụ
Chương VIII : Bệnh tai và xương chũm
Chương IX : Bệnh của hệ tuần hoàn
Chương X : Bệnh hệ hô hấp
Chương XI : Bệnh hệ tiêu hóa
Chương XII : Bệnh da và mô dưới da
Chương XIII : Bệnh cơ xương khớp và mô liên kết
Chương XIV : Bệnh hệ tiết niệu và sinh dục
Chương XV : Chửa, đẻ và sau đẻ
Chương XVI : Một số bệnh xuất phát trong thời kỳ sơ sinh
Chương XVII : Dị tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường nhiễm sắc thể
Chương XVIII : Triệu chứng, dấu hiệu và những phát hiện lâm sàng, cận lâm sàng bất thường không phân loại ở nơi khác.
Chương XIX : Chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân bên ngoài.
Chương XX : Nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong
Chương XXI : Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và tiếp xúc dịch vụ y tế.
Với điều kiện cụ thể của Việt Nam và một số nước đang phát triển, WHO chỉ yêu cầu mã hóa 3 ký tự (đến tên nhóm bệnh), các chuyên khoa sâu có thể vận dụng hệ thống mã hóa 4 ký tự để phân loại chi tiết đến từng bệnh, phù hợp từng chuyên khoa. Trong đó, có một số bệnh quan trọng được mã chi tiết đến tên bệnh.
Hệ thống phân loại này giúp chúng ta thống nhất tên nhóm bệnh đến tên bệnh một cách nhất quán trên toàn thế giới. Nó giúp các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà quản lý có cái nhìn bao quát, toàn diện và cụ thể về mô hình bệnh tật để từ đó đưa ra các chiến lược, chính sách, giải pháp thích hợp, đánh giá hiệu quả của các chương trình chăm sóc sức khỏe đó và đang được triển khai. Nó giúp các bác sĩ lâm sàng có được các định nghĩa đầy đủ về từng bệnh khi chẩn đoán. (6)
Phân loại theo ICD giúp người quản lý dễ dàng cũng như so sánh, đánh giá mô hình bệnh tật giữa các quốc gia, các vùng miền, các bệnh viện.
Đây là cách phân loại khá chi tiết, đòi hỏi người làm công tác thống kê phải có trình độ nhất định để tránh nhầm lẫn cũng như đòi hỏi các bác sĩ lâm sàng cần có chẩn đoán chính xác, chi tiết. Điều này có thể khắc phục bằng việc nâng cao trình độ cho bác sĩ lâm sàng và đào tạo, tập huấn cho những nhân viên làm công tác thống kê, kế hoạch, đặc biệt là những người tham gia trực tiếp tại các bộ phận theo dõi mã hóa bệnh.
Bảng 1: Các bệnh thường gặp tại khoa Cấp cứu- Hồi sức tích cực – Chống độc.
| Nhóm bệnh | Tên bệnh | Mã ICD |
| Bệnh lý hô hấp | Suy hô hấp, Đợt cấp COPD, hen suyễn, viêm phổi, tràn dịch, khí màng phổi. | J96, j44, j45, j18, j92 |
| Bệnh tim mạch | THA, Cơn đau thắt ngực, Nhồi máu cơ tim, suy tim, loạn nhịp tim | I10, I20, I21, I50, I49 |
| Bệnh lý tiêu hóa | Viêm tụy, viêm loét dạ dày tá tràng, Xơ gan, | K81, k92, k70, k74 |
| Bệnh lý thần kinh | Đột quỵ, di chứng đột quỵ, Đau đầu, Rối loạn tiền đình, Sốt CRNN | I64, I69, H81, R51 |
| Bệnh lý nội tiết | ĐTĐ tuy 2, hôn mê do hạ đường huyết, tăng đường huyết, bệnh lý tuyến giáp | E11, R40 |
| Chấn thương | Đa chấn thương, Chấn thương sọ não, Chấn thương ngực, bụng | S06, T00 |
| Rắn cắn | Rắn hổ cắn | X20 |
| Các tai nạn ngộ độc | Ngộ độc thuốc trừ sâu, thuốc diệt chuột, hóa chất bảo vệ thực vật diệt cỏ cháy | T |
| Khác | Rối loạn điện giải, Sốc, Ung thư gan, Ung thư phổi, phản vệ, suy thận cấp, bệnh truyền nhiễm, hậu phẫu | C 25, C22, C34, T78, N17, C32, Z98… |
b. Phân loại theo xu hướng bệnh tật
Theo cách này, các bệnh tật được chia thành 3 nhóm chính 3
– Nhóm I: Bệnh lây nhiễm – bệnh liên quan đến dinh dưỡng – thai sản.
– Nhóm II: Bệnh không lây nhiễm.
– Nhóm III: Tai nạn – ngộ độc – chấn thương.
Nhóm I gồm các bệnh phổ biến của các vùng, quốc gia nghèo, nền kinh tế xã hội và y tế kém phát triển. Nhóm II gồm các bệnh phổ biến ở các vùng, quốc gia không nghèo hoặc kinh tế, xã hội, y tế phát triển. Nhóm III là bệnh thường gặp ở cả các vùng, quốc gia giàu và nghèo.
Cách phân loại này cho ta cách nhìn bao quát, tổng thể mô hình bệnh tật ở mỗi vùng địa lý, nhất là khi xác định xu hướng phát triển của bệnh tật. Nhìn vào mô hình bệnh tật này chúng ta sơ bộ đánh giá được sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi vùng.
c. Phân loại theo tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất của 10 bệnh, nhóm bệnh
Đặc điểm của cách phân loại này là đưa ra tên các bệnh hoặc nhóm bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất. Cách phân loại này đưa ra thứ tự của các bệnh thường gặp cũng như mức độ nguy hiểm của một số bệnh dựa trên tỷ lệ mắc bệnh và tử vong, từ đó có những chính sách đầu tư thích hợp nhằm can thiệp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong của các bệnh đó..
Đây là cách phân loại đơn giản, dễ thực hiện, dễ áp dụng ở nơi quản lý cơ sở dữ liệu bằng máy tính.
1.2. Mô hình cơ cấu bệnh tật trên thế giới và trong nước
1.2.1. Mô hình bệnh tật trên thế giới
Mô hình bệnh tật luôn được các nước trên thế giới quan tâm từ rất sớm và có kế hoạch xây dựng hệ thống phân tích định kỳ cho riêng mình Để chuẩn hóa dữ liệu của các nước khác nhau, WHO đã đề xuất mã hóa bệnh tật theo phân loại quốc tế (International Classification of Disease – ICD), qua đó một nguồn dữ liệu khổng lồ về mô hình bệnh tật đã hình thành.
Các dữ liệu về gánh nặng bệnh tật toàn cầu (GBD) cập nhật hàng năm cho thấy gánh nặng bệnh tật (đánh giá qua chỉ số DALY) có xu hướng cải thiện, tuy nhiên cơ cấu bệnh tật thay đổi, trong đó các bệnh không lây nhiễm gia tăng rõ rệt. Năm 1990, số liệu cho thấy một phần ba nguyên nhân gây tử vong là do nhóm I (bệnh lây nhiễm, thai sản và dinh dưỡng), một phần mười là do chấn thương (nhóm III), còn lại hơn một nửa là do các bệnh không lây (nhóm II). Thống kê năm 2004 ước tính khoảng 58,8 triệu người tử vong trên thế giới. Hơn một nửa trong số đó là người già trên 60 tuổi và gần một phần năm số ca tử vong xảy ra ở trẻ dưới 5 tuổi. Nguyên nhân gây tử vong theo nhóm bệnh năm 2004 có tỉ lệ tương tự như năm 1990 với 30% nhóm I, 60% nhóm II và 10% nhóm III . Tuy nhiên, đến năm 2017, dữ liệu GBD trên 195 quốc gia cho thấy nguyên nhân gây tử vong do các bệnh lây nhiễm, thai sản và dinh dưỡng giảm chỉ còn 19,49%, chấn thương cũng giảm xuống 7,85%, trong khi các bệnh không lây tăng lên tới 72,67% .
Khi phân tích sâu từng bệnh tật, trong năm 2016 có khoảng 56,9 triệu ca tử vong trên toàn thế giới, trong đó có hơn một nửa (54%) là do 10 nguyên nhân hàng đầu . Đứng vị trí đầu bảng trong 15 năm qua (2000-2016) vẫn là bệnh tim thiếu máu cục bộ và đột quỵ, với 15,2 triệu ca tử vong trong năm 2016. Tiếp đó, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đã cướp đi 3,0 triệu mạng sống, trong khi ung thư phổi (cùng với ung thư khí quản và phế quản) gây ra 1,7 triệu ca tử vong. Bệnh tiểu đường đã giết chết 1,6 triệu người, tăng từ mức dưới 1 triệu vào năm 2000. Tử vong do mất trí nhớ tăng gấp đôi từ năm 2000 đến năm 2016, khiến nó trở thành nguyên nhân hàng đầu thứ 5 gây tử vong toàn cầu năm 2016 so với vị trí thứ 4 năm 2000.
Nhiễm trùng đường hô hấp dưới vẫn là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất, gây ra 3,0 triệu ca tử vong trên toàn thế giới trong năm 2016. Tỷ lệ tử vong do bệnh tiêu chảy giảm gần 1,0 triệu trong giai đoạn 2000-2016, nhưng vẫn gây ra 1,4 triệu ca tử vong trong năm 2016. Tương tự, số ca tử vong do bệnh lao giảm trong cùng thời gian, nhưng vẫn nằm trong số 10 nguyên nhân hàng đầu với số người chết là 1,3 triệu. HIV/AIDS không còn nằm trong số 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu thế giới, đã giết chết 1,0 triệu người vào năm 2016 so với 1,5 triệu vào năm 2000.
Chấn thương đã cướp đi 4,9 triệu sinh mạng trong năm 2016. Hơn một phần tư (29%) số ca tử vong này là do chấn thương giao thông đường bộ, khoảng 3/4 (74%) trong số đó là đàn ông và con trai. (7)
Khi so sánh theo các điều kiện kinh tế, vùng miền khác nhau, báo cáo của WHO năm 2016 cũng nhận thấy có hơn một nửa số ca tử vong là ở các quốc gia có thu nhập thấp. Nguyên nhân tử vong chủ yếu ở các quốc gia này thuộc nhóm các bệnh truyền nhiễm, thiếu hụt dinh dưỡng và bệnh lý thai sản. Ngược lại, ở các nước thu nhập cao, nhóm bệnh này chỉ gặp dưới 7%, trong khi 88% nguyên nhân tử vong do các bệnh không truyền nhiễm gây ra. Ngoài ra, chấn thương giao thông đường bộ cũng nằm trong số 10 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở các nước thu nhập thấp, trung bình.
1.2.2 Mô hình bệnh tật ở nước ta trong những năm gần đây
a. Cơ cấu bệnh tật trên cả nước
Có sự thay đổi rõ rệt về cơ cấu bệnh từ năm 1976 đến năm 2018. Theo số liệu về cơ cấu số lượt khám chữa bệnh tại cơ sở y tế nhà nước trong Niên thống kê y tế năm 2018, xu hướng tỷ trọng các bệnh không lây nhiễm gia tăng liên tục ở mức cao. Nếu tỷ trọng này năm 1976 là 42,65% đến 1986 chỉ là 39,00% thì năm 1996 tăng lên 50,02%, năm 2006 là 62,40%, năm 2016 là 69,11%, năm 2018 chiếm tỷ lệ cao nhất 71.42%. Ngược lại với xu hướng này là sự giảm đi nhanh chóng của tỷ trọng số lượt khám chữa bệnh đối với người mắc bệnh truyền nhiễm. Tỷ trọng số lượt khám chữa bệnh liên quan đến tai nạn, chấn thương, ngộ độc có xu hướng chững lại. Như vậy, gánh nặng bệnh tật chuyển dịch mạnh sang các bệnh không lây nhiễm (8)
Biểu đồ 1.1. Xu hướng cơ cấu bệnh tật theo 3 nhóm bệnh tật từ 1976-2018
Trong năm 2018, nhóm bệnh không lây nhiễm vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất với 71,42% tăng lên so với năm 2016 là 69,11%. Tỷ lệ mắc các bệnh lây nhiễm là 18,58% giảm so với tỷ lệ 20,79% của năm 2016. Trong 5 năm qua, cơ cấu bệnh tật vẫn diễn biến theo xu hướng bệnh không lây chiếm 2/3 tổng nguyên nhân bệnh tật, bệnh dịch lây chiếm tỷ lệ trên dưới một phần tư còn lại là bệnh cho tai nạn, ngộ độc, chấn thương (9).
Và một số nghiên cứu tại các bệnh viện trong nước cho thấy:
Mô hình bệnh tật ở khoa cấp cứu HSTC CĐ đến khám và điều trị tại các bệnh viện cũng khác nhau.
Nghiên cứu của Vũ Đình Hùng, Hoàng Bùi Hải, Kiều Thị Hoa về : Mô hình bệnh tật tại Khoa cấp cứu HSTC Đại học Y HN năm 2019 cho thấy: mô hình bệnh tật và phân bố thời gian của bệnh nhân được khám và điều trị tại khoa Cấp cứu Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2019. Trong số 22.385 bệnh nhân được cấp cứu năm 2019 có 50,98% là nữ, 56,4% ở nhóm tuổi lao động (từ 18 đến 50 tuổi). Ba nhóm bệnh thường gặp nhất là tiêu hóa: 34,69%; nhiễm khuẩn: 12,76% và chấn thương: 11,84%. Cơ cấu bệnh tật tại Khoa Cấp cứu cho thấy tỷ lệ bệnh truyền nhiễm còn cao, tiếp đến là bệnh không lây nhiễm và chấn thương. Cơ cấu bệnh tật cho thấy tính chất đa dạng của bệnh cấp cứu. Phân bố các nhóm bệnh khá cân bằng, trong đó nhóm bệnh truyền nhiễm, bệnh không lây nhiễm và bệnh chấn thương là bệnh phổ biến nhất.(10).
Nghiên cứu của CN Đỗ Thanh Thúy: Khảo sát mô hình bệnh tật tại khoa Cấp cứu chống độc BVĐK Trung Tâm Tiền Giang năm 2017: cho thấy : Có 10.052 bệnh nhân nhập viện điều trị nội trú tại khoa Hồi sức tích cực – chống độc bệnh viện Đa khoa trung tâm Tiền Giang từ ngày 01/01/ 2015 đến ngày 31/12/ 2017. Về đặc điểm chung: số bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa trong quý IV là cao nhất 2.760 (chiếm 27,46%); bệnh nhân nam 51,16% cao hơn bệnh nhân nữ 48,84%; bệnh nhân ở nhóm tuổi trên 60 chiếm tỉ lệ cao nhất (66,37%). Về mô hình bệnh: bệnh viêm phổi chiếm tỉ lệ cao nhất (27,66%) và thấp nhất là suy thận (1,32%). Vậy mô hình bệnh tật khoa Hồi sức tích cực – chống độc bệnh viện Đa khoa trung tâm Tiền Giang tương tự mô hình bệnh tật tại các nước đang phát triển: bệnh đường hô hấp, nhiễm trùng chiếm tỉ lệ cao. (11).
Nghiên cứu:Văn Hải Hoàng , Thị Thu Hiền Lê , Đức Định Vũ mô hình bệnh tật tại khoa cấp cứu BV ĐK Quốc tế VINMEC Phú Quốc năm 2019 Nghiên cứu mô tả ca bệnh hồi cứu.Cho kết quả : Lượng BN có xu hướng tăng cao vào giai đoạn từ tháng 9 đến tháng 3 sang năm. Tỷ lệ nam/ nữ: 52,3% so với 47,7%. BN trẻ em chiếm 30,2%. Người lớn 69,8%). BN là khách du lịch: 62.45% trong đó số BN người nước ngoài chiếm 38.5%. Nhóm bệnh lý chính: Rối loạn tiêu hóa (62,2%); Chấn thương các loại (20,02%); Sốt virus (11,75%) và bệnh lý hô hấp (8,34%). Số BN nặng cần HSCC chiếm 10.5%. Một số yếu tố ảnh hưởng đến mô hình bệnh tật BN vào cấp cứu tại BVĐK QT VMPQ: (i). Khách du lịch trong và ngoài nước; (ii). Thói quen, tập quán sinh hoạt đi lại của dân địa phương và của khách du lịch; (iii). Môi trường tại PQ với đặc thù là khí hậu biển, chia hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt.(12).
Nghiên cứu của Trương Thị Mai Hồng tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2007 – 2011 cho thấy: Mặt bệnh nổi bật vào khoa cấp cứu là hô hấp (19%-24%), ngoại (18%-19%), tiêu hoá, sơ sinh tuỳ theo từng năm, sau đó đến các bệnh nhiễm trùng(13.)
Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu đầy đủ về mô hình bệnh tật tại Bệnh viện ĐK huyện Bảo Yên để hỗ trợ cho công tác quản lý, đề ra kế hoạch khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với thực tiễn từ đó góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân. Một câu hỏi đặt ra là mô hình bệnh tật của người bệnh điều trị tại tại khoa cấp cứu HSTC CĐ Bệnh viện đa khoa huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai hiện nay như thế nào? Các yếu các điểm liên quan đến việc thu dung bệnh nhân. Đó là lý do bắt đầu nghiên cứu cửa nhóm chúng tôi.
1.2.3. Mô hình bệnh cấp cứu – Hồi sức tích cực- Chống độc.
Mô hình bệnh tật là một khái niệm đã trở nên quen thuộc, nhất là đối với các nhà dịch tễ học. Mô hình bệnh tật cho thấy sức khỏe của con người chịu ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố như: địa lý, dân số, trình độ văn hóa, tâm lý, tập quán kinh tế xã hội và dịch vụ y tế v.v… Do vậy, mô hình bệnh tật cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: thời gian, địa điểm, loại hình bệnh viện, chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện, chất lượng chăm sóc, trình độ của nhân viên. Mô hình bệnh ở các bệnh viện là các số liệu thống kê về số lượng bệnh nhân vào khám chữa bệnh, tỷ lệ phần trăm các nhóm bệnh và các bệnh phổ biến nhất, về tình hình mắc bệnh, về những yếu tố ảnh hưởng đến mô hình bệnh tật như tuổi, giới, nghề nghiệp, nơi cư trú.
Sử dụng mô hình bệnh tật để đưa ra những dự án mới, những khuyến cáo nhằm cải thiện những tình trạng còn chưa tốt trong hiện tại và đưa ra những giải pháp để khắc phục, để đạt được kết quả như mong muốn trong tương lai.
Mô hình bệnh tật khoa cấp cứu – HSTC – CĐ được phân loại theo quốc tế ICD – 10 xếp bệnh cấp cứu HSTC CĐ theo các mã thuộc nhiều chương nhiều bệnh khác nhau.
a. Khái niệm về cấp cứu (14)
– Cấp cứu thường được dùng để chỉ các tình trạng bệnh nội/ ngoại cần được đánh giá và điều trị ngay.
Các tình trạng cấp cứu có thể là:
+ Nguy kịch (khẩn cấp) (critical): bệnh nhân có bệnh lý, tổn thương, rối loạn đe dọa tính mạng, nguy cơ tử vong nhanh chóng nếu không được can thiệp cấp cứu ngay.
+ Cấp cứu (emergency): bệnh nhân có bệnh lý, tổn thương, rối loạn có thể tiến triển nặng lên nếu không được can thiệp điều trị nhanh chóng
– Công tác thực hành cấp cứu có nhiệm vụ đánh giá, xử trí và điều trị cho các bệnh nhân có bệnh lý/tổn thương/rối loạn cấp cứu8.
b. Hồi sức tích cực (ICU) (15)
ICU (Intensive Care Unit), hay còn gọi chăm sóc đặc biệt, là khu vực điều trị cho các bệnh nhân nặng, có đội ngũ bác sĩ, y tá chuyên khoa theo dõi thường xuyên từng bệnh nhân.
ICU hay còn gọi là đơn vị chăm sóc tích cực những bệnh nhân nặng đang trong tình trạng nguy kịch và cần được theo dõi, chăm sóc chuyên sâu, đặc biệt cần phải được hỗ trợ hô hấp rất phức tạp hồi sức tích cực trực suốt 24 giờ đồng hồ trong ngày để kịp thời xử trí những vấn đề nguy hiểm trong quá trình bệnh nhân điều trị tại khoa hồi sức tích cực9.
Một số tình trạng bệnh lý mà nằm điều trị cần HSTC có thể xử trí, điều trị và đưa bệnh nhân vượt qua khỏi cơn nguy kịch đe dọa tính mạng có thể kể đến như sau:
Bệnh nhân suy đa tạng, sốc nhiễm khuẩn, điện giật, rối loạn điện giải, ngạt nước, đa chấn thương hoặc bị rắn cắn.
Bệnh nhân gặp phải tình trạng ngộ độc thuốc hoặc ngộ độc một số hóa chất như thuốc trừ sâu, Paraquat,… thì sẽ được tiến hành chống độc.
Bệnh nhân có tình trạng sốc tim, bệnh lý nhồi máu cơ tim, suy tim mức độ nặng, phù phổi cấp, rối loạn nhịp tim, tăng huyết áp thể ác tính
Bệnh nhân bị viêm phổi mức độ nặng, hen phế quản ác tính, các đợt cấp của bệnh lý COPD, xẹp phổi. tràn dịch tràn khí màng phổi
Bệnh nhân bị xuất huyết tiêu hóa nặng, tình trạng hôn mê gan, xơ gan mất bù, viêm tụy cấp, tiêu chảy dẫn đến mất nước, cổ chướng
Bệnh nhân suy thận cấp .
Bệnh nhân mắc phải một số bệnh lý liên quan đến thần kinh như Đột quỵ não xuất huyết não, nhồi máu não, động kinh, di chứng Đột quỵ
Bệnh nhân gặp phải tình trạng hôn mê do bệnh lý đái tháo đường gây ra, cơn bão giáp4,
c. Các bệnh ngộ độc10:
Ngộ độc là tiếp xúc với một chất có độc tính. Các triệu chứng khác nhau, nhưng các triệu chứng thông thường có thể gợi ý nhóm chất độc cụ thể. Chẩn đoán chủ yếu là lâm sàng, nhưng đối với một số trường hợp ngộ độc, xét nghiệm máu và nước tiểu có thể giúp ích.
Hầu hết các trường hợp ngộ độc có liên quan đến liều sử dụng. Liều dùng được xác định bằng nồng độ theo thời gian. Ngộ độc có thể là kết quả của sự phơi nhiễm với một lượng quá mức chất mà bình thường không gây độc. Một số trường hợp ngộ độc là do phơi nhiễm với các chất có khả năng gây độc ở mọi liều. Ngộ độc được phân biệt với phản ứng quá mẫn và phản ứng lạ thường, không dự đoán được và không liên quan đến liều dùng, và do không dung nạp thuốc, đó là phản ứng độc đối với liều thường không gây độc của một chất.
Ngộ độc thường đưa vào theo đường tiêu hóa, nhưng có thể là do tiêm, hít hoặc tiếp xúc với bề mặt cơ thể (ví dụ da, mắt, niêm mạc). Nhiều chất phi thực phẩm thường được ăn vào thường không độc hại tuy nhiên, hầu hết mọi chất đều có thể gây độc nếu tiêu thụ quá nhiều
Liên quan đến ngộ độc thường hay xích mích mâu thuẫn trong xã hội, hay vô tình trẻ em, hay quá liều thuốc. Chống độc là những biện pháp nhằm hạn chế độc tố vào cơ thể. Các bệnh lý ngộ độc thường gặp như: Ngộ độc paraquat, glucofosinate, ngộ độc thuốc bảo vệ thực vật, ngộ độc thuốc diệt chuột, quá liều thuốc ngủ. Độc vật cắn Rắn cắn, ong đốt.
1.3 Một số phương pháp nghiên cứu mô hình bệnh tật
1.3.1. Nghiên cứu mô hình bệnh tật tại cộng đồng
Các kỹ thuật thu thập thông tin được áp dụng phổ biến là: phỏng vấn (phỏng vấn chủ hộ, phỏng vấn cá nhân), khám lâm sàng cho các hộ gia đình, sử dụng số liệu sẵn có các sổ khám bệnh tại trạm y tế 13:
– Thu thập thông tin bằng phỏng vấn: được áp dụng khá rộng rãi.
Người ta thường sử dụng bộ câu hỏi để phỏng vấn toàn bộ các thành viên trong gia đình hoặc một người đại diện gia đình về tình hình bệnh tật của cả gia đình đó. Kết quả nghiên cứu phụ thuộc nhiều vào việc xây dựng phiếu điều tra theo mục đích nghiên cứu, thời gian tiếp xúc của điều tra viên với người tham gia nghiên cứu và trình độ nhận thức, văn hóa, kinh tế, xã hội của đối tượng được điều tra.
Phỏng vấn trực tiếp từng người trong hộ gia đình tốt hơn là phỏng vấn gián tiếp một người đại diện cho cả gia đình. Nhược điểm của phương pháp này là không xác định được chính xác bệnh, mà chỉ cho thông tin về tần suất ốm, số người dân bị ốm phải đi khám, chữa tại bệnh viện trong một năm hoặc sáu tháng trước điều tra cũng chỉ là hồi cứu qua lời kể lại của người ốm hoặc người nhà, chẩn đoán bệnh mà người đó kể lại có thể chính xác hoặc không chính xác vì không phải bệnh nào cũng được bệnh viện nói cho biết.- Thu thập thông tin về MHBT bằng khám lâm sàng:
Điều tra viên tiến hành khám lâm sàng toàn diện hoặc khám sàng lọc (tuỳ thuộc yêu cầu nghiên cứu và kinh phí thực hiện), để phát hiện các bệnh hiện mắc. Phương pháp này tốn nhiều chi phí và thời gian. Kết quả phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của các điều tra viên do không có các xét nghiệm cận lâm sàng hỗ trợ. Kết quả điều tra bằng khám lâm sàng thường cho tỷ lệ mắc bệnh cao hơn phỏng vấn vì nhiều trường hợp người ta không biết bệnh của mình, hoặc biết nhưng là bệnh mà họ cho là “thông thường” (như bệnh răng miệng, viêm họng, một số bệnh da, mắt, bệnh tâm thần …).
– Dựa trên số liệu từ sổ sách có tại TYT xã:
Có thể thu thập thông tin dựa trên sổ khám chữa bệnh (A1) của trạm Y tế xã. Những số liệu này thường không đầy đủ và thiếu chính xác do thường chỉ ghi lại triệu chứng mà thiếu chẩn đoán bệnh chính xác.
1.3.2. Nghiên cứu mô hình bệnh tật trong bệnh viện
Nghiên cứu mô hình bệnh tật trong bệnh viện chủ yếu dựa vào hồ sơ lưu trữ tại các bệnh viện theo mẫu bệnh án được thống nhất trong các bệnh viện của ngành y tế. Bệnh tật đã được ghi trong mỗi bệnh án và được mã hóa theo phân loại quốc tế ICD-10). Chẩn đoán bệnh do các bác sĩ điều trị trong bệnh viện thực hiện, do vậy mức độ chính xác phụ thuộc vào trình độ bác sĩ của từng bệnh viện cụ thể và tùy thuộc vào các tuyến, hạng bệnh viện khác nhau 14.
Mô hình bệnh tật được nghiên cứu trong các bệnh viện không phản ánh được toàn bộ tình hình sức khỏe, bệnh tật của nhân dân một địa dư cụ thể do bệnh viện hạn hẹp về cơ sở vật chất, trình độ năng lực của cán bộ, nên chỉ tiếp nhận được một phần nhỏ người bệnh trong cộng đồng đến khám và điều trị tại khoa phòng trong bệnh viện.
1.4 Thông tin về đặc điểm nghiên cứu
1.4.1. Huyện Bảo Yên
Bản đồ hành chính huyện bảo yên
Huyện Bảo Yên là huyện cửa ngõ phía đông nam của tỉnh Lào Cai, cách thành phố Lào Cai 75 km, cách Hà Nội 263 km. Có diện tích tự nhiên 818 km2. Dân số 85.564 người (Số liệu tính đến 01/4/2019 ). Địa hình phức tạp nằm giữa hai con sông lớn Sông Hồng và Sông Chảy. Cư trú tại 16 xã và 1 thị trấn; chia thành 3 khu vực: Các xã ven sông Hồng gồm Bảo Hà, Kim Sơn, Cam Cọn. Các xã ven sông Chảy gồm Điện Quan, Thượng Hà, Minh Tân, Tân Dương, Yên Sơn, thị trấn Phố Ràng, Lương sơn, Phúc Khánh, Việt Tiến; Các xã vùng thượng huyện gồm Tân Tiến, Nghĩa Đô, Vĩnh Yên, Xuân Hòa. Huyện Bảo yên nằm trọn trong vùng khí hậu miền Bắc có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Theo tổng điều tra dân số và nhà ở, tính đến thời điểm 01/4/2009, toàn huyện có 15 dân tộc cùng sinh sống; Các dân tộc sống trên địa bàn đều có một đặc trưng văn hoá riêng, song trong quá trình lao động, sản xuất và chống ngoại xâm, các dân tộc trong huyện đã hình thành nên tình đoàn kết keo sơn, gắn bó, tạo ra sự thống nhất trong đặc trưng văn hoá của cộng đồng các dân tộc Bảo Yên. Dân tộc Kinh chiếm 32,56 %., Tày chiếm 31,93 %, Dao chiếm 22,16 %, Mông chiếm 8,61 %. Còn lại các dân tộc khác như: Phù lá, Nùng, Giáy, Thái, Mường…
1.4.2 Bệnh viện huyện Bảo Yên
Bệnh viện Đa khoa huyện Bảo Yên được thành lập theo Quyết định số 3812/QĐ-UBND ngày 28/12/2006 của UBND tỉnh Lào Cai. Là Bệnh viện đa khoa hạng II, với 195 giường bệnh Được xếp hạng tại Quyết định số 3801/QĐ-UBND ngày 23/11/2018 của UBND tỉnh Lào Cai. Cơ cấu tổ chức: Gồm 17 khoa bao gồm (BGĐ; 03 Phòng chức năng: TCHC-TCKT; KHTH; Điều dưỡng – CTXH; 09 Khoa Lâm sàng: Khám bệnh, CC-HSTC-CĐ, Nội tổng hợp, Nhi khoa, Phụ Sản, Ngoại tổng hợp, Truyền nhiễm, YHCT-PHCN, Liên chuyên khoa; 03 khoa Cận lâm sàng: CĐHA-TDCN-XN, Dược – VTYT và KSNK; 02 PKĐKKVV Bảo Hà và Nghĩa Đô). Ngoài ra đơn vị được phân công phụ trách 01 Cơ sở điều trị 3/1 tại Bệnh viện (Methadone + HIV/AIDS + Lao). Gồm 158 Viên chức.
Báo cáo Kết quả khám bệnh, chữa bệnh năm 2022 cho thấy:
– Tổng số khám bệnh (lượt): 67.470/49.590 đạt 136,05 % kế hoạch
– Điều trị nội trú: 13.574/13.388 đạt 101,38 % kế hoạch
– Ngày điều trị trung bình 01 BN: 5,38
– Công suất SDGB đạt 103,95% kế hoạch
Bệnh viện đáp ứng cơ bản công tác khám bệnh, chữa bệnh phục vụ nhu cầu cho chăm sóc bảo vệ sức khỏe của người dân trên địa bàn huyện và các vùng lân cận ngoài ra thực hiện một số nhiệm vụ chính trị khác.
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Các hồ sơ bệnh án của người bệnh được vào khám và điều trị tại khoa CC- HSTC- CĐ BVĐK huyện Bảo Yên trong thời gian từ 01/01/2021 đến 31/12/2023.
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn:
– Hồ sơ bệnh án với đầy đủ các thông tin sau: tên, tuổi, giới, địa chỉ, thời gian nhập viện, ra viện, chẩn đoán, mã bệnh theo ICD-10.
– Tuổi: tất cả các lứa tuổi.
– Giới: không phân biệt nam, nữ.
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:
Các hồ sơ bệnh án không được lưu trữ trong phần mềm, không có chẩn đoán bệnh theo mã ICD.
– Các Hồ sơ bệnh án của người bệnh có thời điểm nhập viện không thuộc khoảng thời gian lựa chọn nghiên cứu.
– Các hồ sơ bệnh án có thông tin không đầy đủ.
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu dựa trên hồ sơ bệnh án.
2.2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
– Thời gian: từ 01/01/2021 đến 31/12/2023
– Địa điểm: BVĐK huyện Bảo Yên
2.2.3. Cỡ mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu thu thập tất cả các Hồ sơ bệnh án của người bệnh nhập viện tại BVĐK huyện Bảo Yên trong thời gian từ từ 01/01/2021 đến 31/12/2023 và thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa chọn, loại trừ của nghiên cứu.
2.2.4. Phương tiện nghiên cứu
– Hồ sơ bệnh án nội trú.
– Bệnh án nghiên cứu thiết kế theo mẫu (Phụ lục).
2.2.5. Cách thức tiến hành
– Bệnh án nội trú (bệnh án điện tử VIETTEL HIS ) được kiểm tra kỹ lưỡng các thông tin. Chẩn đoán bệnh tật được sử dụng là chẩn đoán cuối cùng, có phân loại theo mã bệnh quốc tế ICD-10.
– Thu thập số liệu từ hồ sơ bệnh án theo mẫu bệnh án nghiên cứu.
2.2.6. Biến số, chỉ số trong nghiên cứu
F:\TÀI LIỆU NĂM 2023/ Du. Sửa Biên Bản ĐỀ CƯƠNG BS Xưởng.Du.03.11
Mô tả mô hình bệnh tật tại khoa Cấp cứu – Hồi sức tích cực – Chống độc Bệnh viện Đa khoa huyện Bảo Yên – Lào Cai năm 2021- 2023


