Kiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay

Kiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay

Kiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Từsựtích tụkinh tếtrong quá trình cạnh tranh,từnhững điều kiện tựnhiên của thị trường như yêu cầu về quy mô hiệu quả tối thiểu, sự tồn tại của các rào cản gia nhập thị trường, sự dị biệt của sản phẩm, sự bảo hộ của quyền lực nhà nước… đãlàm hình thành các doanh nghiệp có vịtrí thống lĩnh thịtrường. Những doanh nghiệp này nắmgiữquyềnlựcthịtrường và thường có khuynh hướng khai thác quyền lực đó bằng cách tác động mạnh mẽ đến các yếu tố của thị trường (về giá cả,

sản lượng,chất lượng…)đểtận thu lợi ích từ khách hàng, người tiêu dùng và triệt tiêu khả năng cạnh tranh của đối thủ nhằm duy trì vị thế của mình. Hậu quả là, làm giảmđộng lựcphát triển củanềnkinh tế(các doanh nghiệp thống lĩnh vẫn cóthểthu được lợi nhuận tối đa mà không cần cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ, nâng

cao chấtlượngsảnphẩm…),xâmhạiđếnlợiíchcủangườitiêu dùng (quyền lựa chọn của người tiêu dùng bị hạn chế, do đó phải mua hàng chất lượng kém hơn với

giáđắthơn do doanh nghiệp thống lĩnh ápđặt….),làm méo mó, giảm tính cạnh tranh củathịtrường (các doanh nghiệp đốithủbịchèn ép phải rút khỏithịtrường hoặc không thể gia nhập thị trường). Về mặt lý thuyết, cơ chế tự điều chỉnh của thịtrường có khả năng làm cho vị thế thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp suy yếu dần và cuối cùng bịtriệt tiêu. Nhưng chính những hành vilạmdụng củadoanh nghiệp thống lĩnh thịtrường dường như làm vô hiệu hóa cơchếtựđiều chỉnh của thị trường bằng việc tạo ra những rào cản mở rộng kinh doanh hay rào cản gia nhập thị trường của đối thủ cạnhtranh, khiến cho doanh nghiệp thống lĩnh né tránh được sứcép cạnh tranhtừcácđốithủcó thểlàm lung lay vịthếthống lĩnh củanó hoặc

lạm dụng quyền lực mạnh trên thị trường của mình để bóc lột khách hàng, gây thiệt hại cho khách hàng. Khi đó, sự can thiệp của Nhànước đối với thị trường ở mức độnhấtđịnh là cần thiết đểđảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng giữa các chủ thểkinh doanh, là cơ sở quan trọng cho sự vận hành năng động, hiệu quả của nền kinh thị trường. Sự can thiệp của nhà nước đối với thị trường được thực hiện thông qua nhiều công cụkhác nhau, trongđó,pháp luật cạnh tranh đượccoi là côngcụquan trọng và hiệu quả nhất.

Luật cạnh tranh đầu tiên củaViệt Nam rađờinăm 2004 vớicác quy định vềkiểm soát hành vilạmdụng vịtrí thống lĩnh thịtrường kháđầy đủ,cụthểvà chi tiết. Tuy nhiên, sau hơn 10 năm thực thi, các quy định này đã bộc lộ nhiều hạn chế. Việc áp dụng các quy định vềlạmdụng VTTLTTđểxácđịnh doanh nghiệp cóVTTLTT, nhận diện vàxửlý hành vilạmdụng vịtrí thống lĩnh thịtrường cònrất khó khăn, phức tạp. Giai đoạn từ 2006 đến 2017 Cục quản lý cạnh tranh (CQLCT), cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam về quản lý cạnh tranh, mới chỉ thụlý điều tra được 8 vụ việc về hạn chế cạnh tranh (HCCT), trong đó có 4 vụ việc liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Để khắc phục những bất cập của luật cạnh tranh 2004, đồng thời, đáp ứng đòi hỏi về hoàn thiện các thể chế kinh tếthịtrường, nhất là trongbốicảnhhộinhập kinh tếtoàn cầuvớisựtham gia sâu rộng của Việt Nam vào các sân chơi chung của khu vực và thế giới như: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộxuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp địnhthương mạitự do Việt Nam – EU (EVFTA)… , Luật cạnh tranh 2018 đã được ban hành với nhiều sửa đổi tích cực liên quan đến kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT. Đến nay, Luật cạnh tranh 2018 đã có hiệu lực song nhiều nội dung vẫn chưa được hướng dẫn. Vìvậy, trong bối cảnh giao thời này, việc nghiên cứu, đánh giá các quy định của Luật cạnh tranh 2004 và nhận thứcvềnộidungcủaLuật cạnh tranh 2018 và tìm cách đưa nó vào cuộc sống là hết sức cần thiết.

Bởi vậy, tácgiảđãlựa chọn đềtài:“Kiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu với hy vọng rằng kết quảnghiên cứu đềtài sẽcóýnghĩa đángkểcho cải cách môi trường cạnh tranh ở Việt Nam.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quyđịnh vàthực tiễn thực thi pháp luật vềkiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thịtrường, luận án hướng đến mục đích xây dựng các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường tại Việt Nam.

Đểđạt được các mục đích nghiên cứu cơbảnnhư trên, nhiệm vụcụthểcủa luận án gồm:

– Nghiên cứu làm sáng tỏnhững vấn đềlý luận vềpháp luật kiểm soát hành vi

lạm dụng VTTLTT như phân tích và làm rõ các khái niệm thống lĩnh thị trường, lạm dụng VTTLTT; mục tiêu kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường của pháp luật cạnh tranh; các học thuyết về kiểm soát hành vi lạm dụng củadoanh nghiệp có vịtrí thống lĩnh thịtrường;nộidungđiều chỉnh pháp luật cạnh tranh đối với hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường.

– Tìm hiểu kinh nghiệm của cáchệthống pháp luật khác (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản) trong việc kiểm soát hành vi lạm dụng củadoanh nghiệp có vịtrí thống lĩnh thị trường để rútra những bài học cho Việt Nam.

– Phân tích, đánh giá thực trạng điều chỉnh pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT của Việt Nam.

– Phân tích, đánh giá thực trạng và tìm hiểu nguyên nhân cho việc thực thi chưa hiệu quảcác quy định của luật cạnh tranh Việt Nam hiện nay vềchống lạm dụng VTTLTT.

-Từthực tiễn của Việt Nam và một sốhệthống pháp luậtđược lựa chọn đểnghiên cứu đề xuất định hướng và các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

– Hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về cạnh tranh;

– Các quy định pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT của Việt Nam.

– Thực tiễn áp dụng pháp luật về về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT của Việt Nam. Các báo cáo, tổng kết tình hình thực thi pháp luật về về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT của Việt Nam.

– Kinh nghiệm củaEU, Hoa Kỳ, Nhật Bản vềkiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT.

– Các quan điểm khoa học đã được các tác giả cá nhân và các tổ chức công bốtrong các nghiên cứu vềcạnh tranh nói chung và hành vi lạm dụng VTTLTT nói riêng cả trong và ngoài nước.

Luận án chỉtậptrung nghiên cứupháp luật vềkiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT, như vậy sẽkhông baogồmcác hành vi lạm dụng quy địnhriêng cho doanh nghiệp độc quyền như cách phân chia của Luật Cạnh tranh Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Phạm vivềkhông gian:Đềtài tậptrung nghiên cứu những vấn đềlý luận, thực trạng quy định và thực tiễn thực thi pháp luật vềkiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT tại Việt Nam; những vấn đềlý luận và quy địnhpháp luật vềkiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT tại Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản cũngđược nghiên cứu để đềxuất bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

– Phạm vi thời gian:Đềtài nghiên cứu pháp luật vềkiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT trong khoảng thời gian từ năm 2004 đến thời điểm hiện tại.

– Phạm vi về văn bản quy phạm pháp luật: Nghiên cứu các quy định về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT trong Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành, bao gồm Luật cạnh tranh 2004, Luật cạnh tranh 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

4. Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu, tác giả sẽ sử dụng kết hợp nhiều phương

pháp nghiên cứu khoa học pháp lý như phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp lịch sử,phương pháp thống kê…trong đó phương pháp nghiên cứu được sử

dụng chủ yếu là phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp so sánh.Cụ thể:

Phương pháp phân tích–tổng hợp: Việc phân tích trước hếtđược thực hiện vớicác quy định luật thực định đểphân tích, giải thích vàhệthống hóa các quyđịnh cụthểcủa cáchệthống pháp luậtđượcnghiên cứu.Mụcđích củaviệc phân

tích – tổng hợp các quy định pháp luật là cung cấp một cái nhìn toàn diện,đầy đủ vềcác quy định liên quan đến kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT của các hệ thống pháp luật có liên quan đồng thời đưa ra đánh giá việc thực thi các quy địnhđó.Các nguồn được sử dụngđể phân tích bao gồm văn bản pháp luật, án lệ, các học thuyết. Phương pháp phân tích cũng được sửdụngđối với cácvụviệc thực tiễn, án lệtừquá trình thực thi pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT ở Việt Nam vàmột sốhệthống pháp luậtđiển hình trên ThếGiới. Việc phân tích các tình huống nhằm tìm hiểu và đánh giá việc áp dụng các quy định liên quan trên thực tiễn, tìm ra những điểmchưađầy đủ,những điểmcòn bất hợplý trong các quy ðịnhcủapháp luật. Ðồng thời việc sử dụng case study sẽ bổ trợ cho những lý lẽ, luận giải và kiến nghị mà nghiên cứu đưa ra.

Phương pháp so sánh: Phương pháp nàyđượcdùng đểxácđịnh những điểm giống nhau và khác nhaucủacác quy địnhtrong cáchệthống pháp luậtđược nghiên cứu liên quan đến chống hành vi lạm dụng VTTLTT. Việc so sánh,đối chiếu nhằm chỉra những điểmtươngđồng,khác biệt giữa pháp luật Việt Nam vàpháp luật một số nước về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT. Trên cơ sử so sánh, giải thích và đánh giá, luận án sẽ chỉ ra những giải pháp pháp lý phù hợp cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT.

5. Những điểm mới của luận án

Trên cơsởtiếp thu vàkếthừa kếtquảnghiên cứu ởcác công trình khoa học của các tác giả đi trước,luận án “Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnhthịtrường theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay” có những điểm mới nhưsau:

Thứnhất, Luận án đãhệthống,bổsung và làm sâu sắc những vấn đềlýluận vềkiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thịtrường. Luận án xây dựng và làm rõ nộihàm khái niệm kiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thị trường và pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

5

trường. Luận án cũng đã phân tích và làm rõ khái niệm, mục tiêu, các quan điểm tiếp cận vềkiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnhthịtrường và cấu trúc pháp luật vềkiểm soát các hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thịtrường theo pháp luật cạnh tranh.

Thứhai, Luận án đãphân tích kháđầy đủ, chi tiết và có hệthống thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụngvịtrí thống lĩnh thịtrường ởViệt Nam hiện nay. Bằng phương pháp so sánh, luận ánđã chỉra những điểm tươngđồng,mức độhội nhập giữa các quyđịnh của Luật cạnh tranh Việt Nam với Luật mẫu về cạnh tranh của UNCTAD và một sốhệ thống pháp luật điển hình về cạnh tranh như Hoa Kỳ, EU.

Thứba, Luận án đã phân tích những yêu cầu hoàn thiện pháp luật vềkiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nhằm vừa đảm bảo quyền tự do kinh doanh củadoanh nghiệp vừa đảm bảo mục tiêucủapháp luật cạnh tranh. Trên cơsởđó,Luận án đãđềxuất những giải pháp mang tính khoa học nhằm hoàn thiện pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thịtrường ởViệt Nam trong thời gian tới.

6. Kết cấu của Luận án

Ngoài Mục lục,Mởđầu,Phần tổng quan tình hình nghiên cứu, Kết luận vàDanh mục tài liệu tham khảo, Luận án được kết cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật kiểm soát hành vilạm dụng vịtrí thống lĩnh thị trường.

Chương 2: Thực trạng pháp luật vềkiểm soát hành vi lạm dụngvịtrí thống lĩnh thị trường và thực tiễn thi hành tại Việt Nam.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật cạnh tranh vềkiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường ở Việt Nam.

PHẦN TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

1. Tổng quan các công trình nghiêncứuliên quanđếnkiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường

2. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

Từ việc nghiên cứu các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án có thể rút ra một số kết luận sau đây:

Mộtlà,vềmục tiêu của luật cạnh tranh nói chung và chếđịnh lạm dụng VTTLTT nói riêng. Xác địnhmụctiêu thực sự, các côngcụcủa luật và chính sách cạnh tranh là gì không chỉ có vai trò quyết định đến sự khác biệt trong pháp luật cạnh tranh của cácnướcmà còn xácđịnh phạm vi những hành vibịcoi là lạm dụng cần phải được điều chỉnh. Trong nhiều nghiên cứu vềlạm dụng vịtríthống lĩnh của nước ngoài, vấn đề về mục tiêu, công cụ của luật cạnh tranh luôn được đặt ra đầu tiên. Ở Việt Nam những phân tích về mục tiêu thực sự của luật cạnh tranh nói chung haychếđịnh lạm dụng VTTLTT nói riêng đặttrong việc phân tích, đối chiếu với các hành vi cụ thể được luật điều chỉnh chưa được quan tâm nghiên cứu đầy đủ. Dường như chỉ với các quy định của pháp luật liên quan, sự thiếu vắng của chính sách ngành trong các ngành kinh tế tập trung chưa có đủcơ sở để định hình rõ nét cho một chính sách cạnh tranh thống nhất ở Việt Nam.

Hai là,vềkhái niệm và tiêu chí xácđịnh doanh nghiệp có vịtrí thống lĩnh thị trường. Các hệ thống pháp luật nước ngoài sử dụng các thuật ngữ khác nhau như thống lĩnh thị trường (dominance) hay độc quyền (monopoly)nhưng đều đểchỉ hiện tượng một hay một nhóm doanh nghiệp có vị thế đặc biệt trên thị trường với khả năng đưa ra quyết định và hành động một cách độc lập với các đối thủ vàcác chủ thể khác của thịtrường. Luật cạnh tranh Việt Nam có sựphân biệt giữa doanh nghiệp có VTTLTT và doanh nghiệp độc quyền. Luật cạnh tranh không xây dựng định nghĩa VTTLTT mà chỉ đưa ra các tiêu chí, chủ yếu dựa trên mức thịphần của doanh nghiệp đểxácđịnh doanh nghiệp có VTTLTT hay không. Các công trình nghiên cứu trong nước chưa chú ý đến việc nghiên cứu xây dựng khái niệm doanh nghiệp có VTTLTTđểlàm nền tảng lý thuyết cho việc phân tích hành vi của doanh nghiệp. Trong khi các quốc gia sử dụng các tiêu chí khác nhau đểxácđịnh vịtrí thống lĩnh (dominant position),độc quyền hay có sức mạnh thịtrường đáng kểnhư: thịphần (market share), rào cản gia nhập thịtrường (barriers to entry), quy mô của đối thủ (size of competitors), năng lực tài chínhcủadoanh nghiệp (financial power of enterprise) thì luật cạnh tranh Việt Nam 2004 lại coi thịphần gần như là tiêu chí duy nhất đểxácđịnh vịtrí thống lĩnh củadoanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp. Luật cạnh tranh 2018 tuy có những thay đổi nhất địnhsong thịphần với ngưỡng cốđịnh vẫn làmộttiêu chíquan trọng đểcóthểđưaragiảđịnhkhông thểbácbỏvềVTTLTTcủadoanh nghiệp. Vì thế, các công trình nghiên cứu trongnướccũng mới chỉtập trung phân tích cách xácđịnh thịphần trên thịtrường liên quancủadoanh nghiệp. Cách tiếp cận của Việt Nam mang tính cứng nhắc, thiếu chính xác, không đủ đểphản ánh chính xác vị thế và khả năng tác động đến thị trường của doanh nghiệp, do đó,việc nghiêncứuáp dụng các tiêu chí khác (bên cạnh tiêu chíthịphần) trong việc xác định vị trí thống lĩnh doanh nghiệp là cần thiết.

Ba là,vềkhái niệm hành vi lạm dụng VTTLTT. Không có một khái niệm thống nhất về hành vi lạm dụng VTTLTT giữa các hệ thống pháp luật. Phần lớn pháp luật cácnước đều liệt kê các hành vibịcoi là lạm dụng VTTLTT. Những hành vi được liệt kê như vậy là khác nhau giữa cáchệthống pháp luật nhưng nhìn chung đều mang tính mô tả, minh họa cho suy đoán của nhà làm luật vàthường khôngđủkhảnăng bao quát hết những hành vi lạm dụng mà doanh nghiệp có thể thực hiện trên thực tế. Việc liệt kê thường bị coi là sẽ dẫn tới khảnăng bỏsót hành vi có cùng bản chất vớicác hành viđược liệt kê. Một sốcác nghiên cứu nước ngoài đã cố gắng dựa trên các hành vi được liệt kê trong luật đểtiếp cận bản chất củahành vi nhằm xây dựng mộtkhái niệm có thểbao quát được tất cả các hành vi lạm dụng. Luật cạnh tranh 2004 cũng lựa chọn cách thức liệt kê và mô tả hành vi cụ thể bị coi là lạm dụng thay vì xây dựng một khái niệm mang tính bao quát và đi vào bản chất củahành vi. Các công trình nghiên cứu trong nước hiện cũng bỏ ngỏ vấn đề này.

Bốn là về nhận diện hành vi lạm dụng VTTLTT. Ở nhiều hệ thống pháp luật, trong đó có Việt Nam, việc nhận diện hành vi lạm dụng VTTLTT mang tính hình thức. Vấn đề phân tích để xây dựng các đặc điểm nhận dạng phản ánh được bản chất củahành vi là hết sức cần thiết. Mặc dù vậy, các nghiên cứu trong nước hiện nay cũng chưa dành sựquan tâm thích đáng cho vấn đềnày.Cảtrên bình diện trong và ngoàinước đều chưa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu nhằm phân tích và đề xuất các tiêu chí để nhận diện hành vi lạm dụng VTTLTT. Các hệ thống pháp luật hiện nay chủ yếu liệt kê hành vi và việc xác định các tiêu chí bám vào bản chất để nhận diện hành vi là cần thiết để tránh việc bỏ sót hành vi lạm dụng mang tính phản cạnh tranh

Năm là về nguyên tắc xử lý hành vi lạm dụng VTTLTT. Trong suốt một thời gian dài, cáchệthống pháp luật đều có xuhướngmặc nhiên coi hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vịtrí thống lĩnh/ độc quyền thịtrường là vi phạm pháp luật (per se illegal) và bị cấm. Việc kết luận một doanh nghiệp cóVTTLTT thực hiện các hành vi lạm dụngchỉdựa trên những phân tích mang tính hình thức (a form– based analysis), tức là chỉcần xácđịnh là doanh nghiệp đã thực hiện hành vi được mô tả, liệt kê trong luật là đủ để kết luận (per se rule). Xu hướnghiện nay cácnước đã nhận thấy tầm quan trọng của việc xem xét cách tiếp cận dựa trên tính hiệu quả(effects-based approach) và dựa trên khía cạnh kinh tế (economic approach) trong việc thực thi các quy định vềxác định hành vi lạm dụng VTTLTT. Để thực hiện có hiệu quả chính sách cạnh tranh của mình, từ năm 2005 Ủy ban châu Âu đã ban hành một loạt các hướng dẫn mới (Discussion Paper) mang tính cải cách về việc thực thi các quy định về

lạm dụng VTTLTT. Đặc biệt là việc ban hành sách Xanh 2005 (Green Paper 2005) và sách Trắng 2008 (White Paper) cho thấy sự đổi mới mạnh mẽ trong tưduy, chính sách cạnh tranh EU,đặc biệt làquy định về lạm dụng VTTLTT. Cho đến nay việc xử lý hành vi lạm dụng VTTLTT theo luật cạnh tranh vẫn dựa trên cách tiếp cận mang tính hình thức và áp dụng nguyên tắc cấm mặc nhiên.Từgócđộnghiên cứu cũng chưa có công trình nào phân tích khảnăng vận dụng cách tiếp cận mới dựa trên tính hiệu quả(effects-based approach) và dựa trên khía cạnh kinh tế (economic approach) trong việc thực thi các quy định về xácđịnh hành vi lạm dụng VTTLTT của Việt Nam.

Có thểkết luận là, các công trình nghiên cứu trong nước mới dừng lại ởviệc phân tích, luận giải và nhận diện hành vi lạm dụng VTTLTT hoặc tiếp cận đơn lẻ từng hành vi cụ thể mà chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện và có hệthống các vấn đềlý luận và thực tiễn vềkiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT ở Việt Nam, để trên cơ sởđó chỉra cơ sở khoa học của việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về kiểm soát hành vi

lạm dụng của doanh nghiệp có VTTLTT ở Việt Nam hiện nay nhất là trong bối cảnh Luật cạnh tranh 2018 vừa mớicó hiệu lực, nhiều quy định chưađược hướng dẫn cụ thể.

Từnhững đánh giá trên, cóthểkhẳng định,luận án là công trình nghiên cứu về vấn đề này một cách toàn diện về mặt lý luận và thực tiễn pháp lý ở nước ta hiện nay ở cấp độ luận án tiến sỹ luật học.

3. Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu

Trên cơ sở tình hình nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu của đề tài, Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu và làm rõ một cách có hệ thống các vấn đề sau đây:

– Nghiên cứu và hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng của chính sách vàpháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT: Khái niệm doanh nghiệp có VTTLTT; các tiêu chí đểxácđịnhVTTLTTcủadoanh nghiệp; khái niệm hành vi lạm dụng VTTLTT, phân loại hành vi lạm dụng VTTLTTcủadoanh nghiệp; mụctiêu chính sách và pháp luật vềlạm dụng VTTLTT; nguyên tắc xửlý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp.

– Nghiên cứu những vấn đềlý luận vềkhái niệm vànộidung pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT. Xác định cụ thể nội hàm và hệ thống quy phạm pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT, như:

+ Nghiên cứu thực trạng pháp luật về xác định doanh nghiệp có VTTLTT.

+ Nghiên cứu thực trạng pháp luật vềnhận diện hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có VTTLTT.

+ Nghiên cứu thực trạng pháp luật vềcơchếkiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có VTTLTT.

– Đánh giá tính hợp lý và bất hợp lýcủapháp luật hiện hành vềkiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT vàsựcần thiết phải có những quy định điều chỉnh phù hợp nhằm vừa đảm bảo quyền tựdo kinh doanh của doanh nghiệp vừa đảm bảo mục tiêu của pháp luật cạnh tranh.

-Đưarahệthống quan điểmhoàn thiện và giải phápcụthểđểhoàn thiện pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT.

4. Cơ sở lý thuyết và câu hỏi nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý thuyết

Sựhình thành của pháp luật vềkiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT dựa trên cơ sở lý thuyết, quan điểm về cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh vừa là quy luật của kinh tế thị trường, vừa là động lực cho sự phát triển kinhtếxã hội, đảm bảo các nguồn lực trong xã hội được phân bổ một cách hiệu quả, lợi ích của người tiêu dùng được bảo vệ. Từ những vai trò quan trọng đó, cần phải bảo vệvà thúc đẩy sự cạnh tranh tự do, công bằng và lành mạnh trên thị trường.

Về khía cạnh kinh tế học thì quan điểm về thúc đẩy tự do cạnh tranh được bắt nguồn từ học thuyết bàn tay vô hình của nhà kinh tế học Adam Smith (1723- 1790).Ông cho rằng, hệ thống cạnh tranh tự do tự nó đã sản sinh ra những quyền lực cần thiết để điều tiết và phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu, công quyền không cần phải can thiệp quá sâu vào đời sống thị trường. Tuy nhiên, Adam Smith cũng không loại bỏ vai trò của công quyền trong việc đảm bảo trật tự thị trường. Tuy nhiên, lịch sử phát triển của kinh tế thị trường đã chứng minh, khả năng điều tiết của bàn tay vôhình với thị trường chỉ phát huy tác dụng khi thị trường chỉ tồn tại các quan hệ cạnh tranh lành mạnh và công bằng. Trong trường hợp ngược lại, thị trường cần phải có thêm bàn tay hữu hình của một thếlực đủmạnh đểngăn chặn, trừng phạt những hành vi xâm phạm trật tự cạnh tranh, tính công bằng của thị trường. Nhànước với tư cách làchủthểchính trịnắmquyền lực lớn nhất trong xãhộiphải can thiệp đểđiều tiết đảm bảo sựcạnh tranh bình đẳng,lành mạnh của các chủthểkinh doanh trên thị trường.

Quan điểm, lý thuyết về thị trường cạnh tranh cần có sự điều tiết của nhànước được các nhà kinh tế học và luật học phát triển từ thế kỷ XIX khi mà sự phát triển của nền kinhtếtưbảnsang giaiđoạn độcquyền tư bản với sựxuất hiện của các doanh nghiệp thống lĩnh,độcquyền thịtrường kéo theo những hành vi lạm dụng quyền lực thị trường gây tác động cản trở tự do cạnh tranh, lành mạnh và công bằng kéo theo những cuộc khủng hoảng kinh tế- xãhộinghiêm trọng. Nhànước bằng các công cụ, trong đó, pháp luật được coi là công cụ quan trọng nhất, phải đối trọng vớiquyền lựckinh tếcủacác doanh nghiệp thống lĩnh thịtrường, thực hiện việc kiểm soát nhằm phát hiện và ngăn chặn những hành vi lạm dụng VTTLTT của những doanh nghiệp này để duy trì trật tự thị trường, hạn chế những khuyết tật của tự do cạnh tranh.

Nền tảng lý luận cơbảncho sựhình thành pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTTởViệt Nam là quan điểm của Đảng và NhànướcViệt Nam vềhoàn thiện thểchếkinhtếthịtrường trong điều kiện hội nhập kinhtếquốc tế, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết phải đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh,

bình đẳng, minh bạch. Đặc biệt, gần đây tại Nghị quyết số 05 – NQ/TƯ ngày 01 tháng 11 năm 2016 của Hội nghịlần thứtư, Ban chấp hành TW khóa XII, Nghị quyết số 24/2016/QH14 ngày 08 tháng 11 đều nhấn mạnh nhiệm vụ về cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020, trong đó,đặt ra nhiệm vụ xây dựng ‘Đề ántổng thể vềchính sách cạnh tranh quốc gia’.

Kiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay
Kiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay

4.2. Câu hỏi và giả thiết nghiên cứu đặt ra khi nghiên cứu luận án

Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn và các tài liệu có liên quan đến đề tài trong và ngoài nước, cùng với sự tham vấn các chuyên gia, thu thập thông tin từ các cơ

quan quản lý cạnh tranh… Luận án được triển khai với các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu như sau :

Câu hỏi nghiên cứu :

– Thếnào là hành vi lạm dụng VTTLTT ?Thếnào là kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT? Kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT có đặcđiểm vàmục đích gì?

– Cấu trúc, nội dung cơ bản của pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT như thế nào ?

– Kinh nghiệm của các nước về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT bằng pháp luật cạnh tranh như thế nào ?

– Thực trạng các quy định pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT tại Việt Nam hiện nay như thế nào ?

– Với những tồn tại, bất cập được nêu ra, cần phải có những phương hướng và giải pháp gì để hoàn thiện pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT

Giả thuyết nghiên cứu là :

– Việc xây dựng nền tảng cơsởlý luận và hoàn thiện cơchếkiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT cóýnghĩa quan trọng với việc xác lập, duy trì môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh tại Việt Nam.

– Các quy định của pháp luật Việt Namvềkiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT vẫn còn những điểm chưa thực sựphù hợp, còn tồn tại những khoảng trống pháp lý.

– Việc hoàn thiện các quy định pháp luật vềvềkiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTTởViệt Nam là một trong những yêu cầu của quá trình hoàn thiện thểchếkinh tếthịtrường với một chính sách cạnh tranh đảm bảo được quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp vừa đảm bảo mục tiêu của luật cạnh tranh, phù hợp với điều kiện kinh tế,xã hội của Việt Nam và thông lệ quốc tếtrong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

23

KẾT LUẬN PHẦN TỔNG QUAN

1. Lý luận và pháp luật về kiểm soát hành vi LDVTTLTT là một vấn đề được quan tâm nghiên cứu cảtrong và ngoàinước.Các nghiên cứu đitrướccóýnghĩa nhất định cho việc đặt nền móng cho các nghiên cứu tiếp theo, trong đó có Luận án này. Tuy nhiên, chưa có mộtnghiên cứu nào nghiên cứu mộtcách có hệthống,đánh giá một cách tổng thể các quyđịnh của Luật Cạnh tranh Việt Nam vềLDVTTLTT trên cơsởso sánh với Luật mẫu củaUNCTAD và một sốnướcđiển hình vềLuật Cạnh tranh, nhất là trong bối cảnh Luật cạnh tranh 2018 vừacó hiệu lực thi hành, nhiều quy định chưa được hướng dẫn cụ thể.

2. Qua việc đánh giá tình hình nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước, nghiên cứu sinh cho rằng việc thực hiện nghiên cứu pháp luật về LDVTTLTT ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay là hết sức cần thiết. Nội dung nghiên cứu của luận án làhệthống hóa và hoàn thiện những vấn đề lý luận; phân tích và đánh giá các quyđịnh củapháp luật vềkiểm soát hành vi LDVTTLTTởViệt Nam hiện nay đểtừđó đềxuất các giải pháp hoàn thiện các quy định và cơ chế thực thi pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT tại Việt Nam trong bối cảnh hộinhập kinh tếquốc tế. Kết quả nghiên cứu của Luận án hy vọngsẽcóýnghĩa đáng kểcho cải cách môi trường cạnh tranh ở Việt Nam.

24

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀLÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM

DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG

1.1. Kiếm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 1.1.1.1. Khái niệm vị trí thống lĩnh thị trường

Cạnh tranh lành mạnh và bìnhđẳngđóng vai trò trụ cột, đảm bảo sự vận hành năng động, hiệu quả của nền kinh thị trường. Việc cạnh tranh của các doanh nghiệp sẽ tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn với giá thành thấp hơn. Kết quả là, chỉcó những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, thu hút được nhiều khách hàng mới có thểtồn tạitrong khi các doanh nghiệp kém hiệu quảsẽbuộc phải rút lui khỏi thi trường. Quá trình cạnh tranh làm xuất hiện những doanh nghiệp có vai trò dẫn dắt thị trường, thay vì bị phụ thuộc, chi phối bởi các quy luật thị trường thì (các) doanh nghiệp này có thểhành động độclập, thậm chí tácđộngngượctrởlại, quyếtđịnhđến các yếu tố của thị trường. Những doanh nghiệp như vậy nắm giữ quyền lực thịtrường (market power) và được gọi là doanh nghiệp có VTTLTT. Đạt được VTTLTT là mong muốn chính đáng của các doanh nghiệp khi tham gia thị trường. Dođó,luật cạnh tranh của các nước đều không ngăn cản các doanh nghiệp đạt được VTTLTT.

Từgócđộkinh tế,VTTLTTđượchiểu là“tình trạng mà những chiến lược kinh doanh của mộtdoanh nghiệp cóthểhay có khảnăng có ảnh hưởng tiêu cựcđến phúclợixãhội”[78, tr. 539]. Khái niệm này phản ánh đặcđiểmcơ bản nhất của thống lĩnh thị trường, đó là hành vi của doanh nghiệp nắm giữ vị trí này có khảtácđộng đến thịtrường, mà tácđộng phổbiến nhất là gây thiệthạivềphúclợixãhội. Tuy nhiên, khái niệm này chưa phản ánh được mối quan hệ cơ bản giữa doanh nghiệp thống lĩnh vớicáclựclượng khác trên thịtrường, cũng như chưa xem xétđến những tácđộng khác nhau mà hành vicủadoanh nghiệp thống lĩnhthịtrường có thể gây ra cho cạnh tranh ngoài tổn thất phúc lợi nói chung.

Từ gócđộkhoa học pháp lý, không có một khái niệm thống nhất giữa các hệthống pháp luật khác nhau về thống lĩnh thị trường. Khái niệm thống lĩnh thị trường trong các hệ thống pháp luật khác nhau được quy định phụ thuộc vào mục tiêu của chính sách, pháp luật cạnh tranh của quốc gia đó và thường có xu hướng cụ thể hơn so với cách tiếp cận từ gócđộkinh tế của khái niệm này. Việc phân tích khái niệm thống lĩnh thịtrường trong mộthệthống pháp luật nhấtđịnhcóthểxácđịnhđược

25

mục tiêu của chính sách và pháp luật cạnh tranh của quốc gia đó [76, tr.7].

ỞEU, nguồn luật quan trọng điều chỉnh hoạt độngcạnh tranh, liên quan đến VTTLTT là Điều 82 Hiệp định EC (nay là điều 102 Hiệp định TFEU). Điều 102 TFEU không trực tiếp đưara khái niệm thống lĩnh thịtrường màchỉkhẳng định“cáchành vi mang tính chiến lược được thực hiện bởicác doanh nghiệp thống lĩnh thịtrường, làm loại bỏcạnh tranhmộtcách bất hợp pháp, nhằm duy trì vàcủng cố quyền lực thị trường”bị lên án. Trên thực tế, khái niệm thống lĩnh thị trường được Tòaán tư pháp châu Âu (ECJ) phát triển qua thực tiễn giải quyết các vụ việc. Trong vụviệc Hoffmann-La Roche, ECJđãnêu quan điểm vềvị trí thống lĩnh thị trường là“Vị trí của doanh nghiệp mang sức mạnh kinh tế cókhảnăng ngăn cản cạnh tranh hiệu quảđượcduy trì trên thị trường liên quan bằng cách cho phép nó hành xửđộc lập ởmột mức độđáng kểkhông phụthuộc vàođối thủ cạnh tranh, khách hàng và cuối cùng là người tiêu dùng”[46, đoạn 276].

Tại Hoa Kỳ, các quy định tương tự như quy định tại Điều 82 Hiệp định EC,điều 102 Hiệp định TFEU được nêu tại Mục 2, đạo luật Sherman [94], đạo luật cơbản đầu tiên quy định về chống độc quyền của Hoa Kỳ, thông qua năm 1890. Tuy nhiên, thay vì sử dụng thuật ngữ “lạm dụng VTTLTT”,mục 2 của đạo luật này đềcập đến khái niệm độcquyền vànỗ lực đểđộcquyền, trong đó đã chỉra một vài hướngdẫn cho việc xác định khi nào thì một doanh nghiệp bị coi là độc quyền hay nỗ lực độcquyền. Theo đó,sức mạnh độcquyền được hiểu là“doanh nghiệp cókhả năng (1) định giá cao hơn đáng kể so với mức giá cạnh tranh và (2) cố tình gây ra hành vi này trong khoảng thời gian nhất định nhằm loại bỏđối thủ cạnh tranh mới gia nhập hoặc mở rộng thị trường”. Trong vụ United States v. Grinell Corp [96], Toà án Tốicao HoaKỳcho rằng việc độcquyền bất hợppháp liên quan đến hai yếu tố: (1) sở hữu quyền lực độc quyền trên thị trường liên quan, và(2) việc mua lại hoặc duy trì quyền lựcđó mộtcách cốý, khác với ” sựtăng trưởng và phát triển như là một kết quả của sự nhạy bén trong kinh doanh, ưu thếcủa sản phẩm hoặc là do những điều kiện lịch sử mang lại”.

Luật cạnh tranh Romani quy định về VTTLTT lại chỉ nhấn mạnh yếu tố “khảnăng hành động độc lập”,theođó thống lĩnh thịtrường được định nghĩa là tình huống mà một chủ thể kinh tế có khả năng,ở một mức độ đángkể, hành độngđộc lập với các đối thủ cạnh tranh thực tế và tiềm năng của nó” [101, tr. 179]. Đối thủcạnh tranh tiềm năng được xácđịnh là cácchủthểkinh doanh cókhảnăng xâm nhập vào thịtrường liên quan với sảnphẩm đến từcác khu vực địalý khác,kểcả

26

hàng nhập khẩu. Khả năng hành động độc lập được xác định dựa trên các yếu tố của cạnh tranh như giácảtrênthịtrường,đầura, tínhđổi mới, đa dạng và chất lượng của hàng hóa, dịch vụ.

Tạichương 2, Luật mẫu vềcạnh tranh của UNCTAD (đãđược sửa đổinăm 2017) [92], vị trí thống lĩnh của quyền lực thị trường (dominant position of market power) được định nghĩa là “tình trạng mà một doanh nghiệp, tự nó hoặc cùng hànhđộng với một số doanh nghiệp khác ở vào vị trí kiểm soát thị trường liên quan của một hoặc một nhóm hàng hóa,dịch vụ cụ thể”

Pháp luật của Canađa coi doanh nghiệp thống lĩnh thị trường là doanh nghiệp nắm giữ quyền lực thị trường. Theo pháp luật Canada, “quyền lực thị trường là khảnănggiữgiá cao hơn mứcgiá cạnh tranh mà vẫn có lợinhuận trong mộtkhoảng thời gian đáng kể, thông thường là một năm”. Trong khiđó,pháp luật của Cộng hòa Pháp sửdụng đồng thời hai cách tiếp cận về quyền lực thịtrường là cách tiếp cận mang tính họcthuyết và cách tiếp cận mang tính thực tiễn. Cách tiếp cận thứnhất đãáp dụngđịnh nghĩa trừu tượngmà các ánlệđãđưara:“doanh nghiệp chiếm vịtrí thống lĩnh là doanh nghiệp có khả năng thoát khỏi cạnh tranh thực chất, không chịu ràng buộc của thị trường và đóng vai trò chủ đạo trên thị trường đó”.Thế nên, thay vì phải tuân theo quy luật của thị trường, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độcquyền cóthểtựlàm luật trênthịtrườngđó.Cách tiếp cận thực tiễnđượchình thành từtriết lý cho rằng “ngườilạm dụng không hẳn là người muốn lạm dụng, nhưng người lạm dụng chắc chắn phải làngườicó khảnăng lạm dụng”.Thếnên, người ta thừa nhận sựtồn tại của sựthống lĩnh trên một thịtrường khi trênthịtrường đó xuất hiện những hành vi mà nếu có cạnh tranh thực chất thì những hành vi đó đã không thể thực hiện được [13, tr. 233- 234]. Sự khác nhau nói trên đã đưađến những khác biệt vềcăn cứpháp lýđược sửdụng đểxácđịnh vịtrí thống lĩnh của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp trong pháp luật của các nước.

Như vậy,mặcdù có cách tiếp cận, quy địnhkhác nhau nhưng cáchệthống pháp luật đều ghi nhận về bản chất, doanh nghiệp (hay nhóm doanh nghiệp) có vị tríthống lĩnh hay độc quyền thị trường là doanh nghiệp (nhóm doanh nghiệp)nắm giữquyền lực thịtrường. Quyền lực thịtrường cho phép doanh nghiệp (nhóm doanh nghiệp) hành động độc lập, không phụthuộc vào các quy luật của thịtrường,đối thủ cạnh tranh, khách hàng, hay người tiêu dùng, nghĩa là nó có khả năng chi phối, kiểm soát thị trường.

Trong khi luật cạnh tranh các nước chỉ sử một trong hai khái niệm vị trí thống

27

lĩnh thịtrường hoặc độcquyềnđểchỉcùng mộthiện tượng pháp lý thì Luật cạnh tranh Việt Namlạicó sựphân biệt giữa vịtrí thống lĩnhthịtrường vàđộcquyền. Theo đó, thống lĩnh thị trường và độc quyền đều để chỉ doanh nghiệp có sức mạnh thị trường đáng kể mà hành vi của nó có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh. Tuy nhiên,“doanh nghiệp đượccoi là có vịtrí độcquyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh vềhàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thịtrường liên quan”[24,Điều 25] tức là độcquyền là tình trạng thịtrường hoàn toàn không có sự cạnh tranh, doanh nghiệp độc quyền khôngcó đối thủ. Trong khiđó,ởthịtrường có doanh nghiệp có VTTLTT,mặcdù doanh nghiệp có VTTLTT có sức mạnh thị trường đáng kể, có khả năng chi phối, kiểm soát thị trường nhưng vẫn tồn tại các doanh nghiệp đối thủ, vẫn có sự cạnh tranh nhất định.

Vì mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có VTTLTT nên trong phạm vi nghiên cứu của Luận án này, doanh nghiệp có VTTLTT sẽ được hiểu theo cách tiếp cận hẹphơncủapháp luật Việt Nam, tức làsẽkhông bao gồm doanh nghiệp có vị trí độc quyền.

Như vậy, có rấtnhiều cách xácđịnhVTTLTT, nhưng tựu chung lại, có hai nhóm quan điểm.Quan điểm thứnhất cho rằng thống lĩnh thịtrường làkhảnăng của doanh nghiệp (hay nhóm doanh nghiệp) duy trì tác động HCCT trên thị trường (chẳng hạn nhưkhảnăng loạibỏđối thủcạnh tranh). Quan điểm thứhai cho rằng quyền lực thị trường là khả năng của doanh nghiệp hành động một cách độc lập với các đối thủcủanó (mà biểu hiện rõ nhất làkhảnăng duy trì giácảtrên mức cạnh tranh mà vẫn thu được lợi nhuận).

Có thểrút rađịnh nghĩa chung vềVTTLTT như sau:Vịtrí thống lĩnh thịtrường là vịtrí của doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp nắmgiữsức mạnh thịtrường đáng kểcó khảnăng gây hạn chếcạnh tranh trên thịtrường liên quan và hành xử một cách độc lập với đối thủ cạnh tranh, khách hàng và người tiêu dùng.

1.1.1.2. Khái niệm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Dưới góc độ kinh tế, hành vi lạm dụng VTTLTT tồn tại một cách khách quan. Với mong muốn duy trì và củng cố quyền lực thị trường mà mình đã dày công vun đắp,các thương nhân thường sử dụng lợi thế có sẵn để làm gia tăng lợi nhuận vàởmức độ nhất định,việc khai thác lợi thế này của các thương nhân nắm quyền lực thịtrường còn có tác dụng thúcđẩy cạnh tranh phát triển. Tuy nhiên, việc sửdụng quyền lực thịtrường này phải dừng lại ởgiới hạn hợp lý.Nếuvượtqua giới hạn này, hành vi của các thương nhân nói trên sẽ trở thành hành vi lạm dụng VTTLTT,

28

ảnh hưởng nghiêm trọng đến cạnh tranh [28, tr. 66].

Từ góc độ khoa học pháp lý, định nghĩa thế nào là lạm dụng VTTLTT phụ thuộc vào mục tiêu của luật cạnh tranh mỗi nước. Chắc chắn nếu coi hiệu quả kinh tế là mục tiêu chính, thì các hành vi làm giảm phúc lợi phải được coi là lạm dụng. Hoặc cho rằng thương mại công bằng là mục tiêu chính thì hành vi khai thác lợi thế từ vị trí thống lĩnh để đặt ra điều kiện thương lượng có thể bị coi là lạm dụng [76, tr. 10].

Theo Bộquy tắc vềcạnh tranh củaLiên Hợp Quốc đượcthông qua ngày 22/04/1980 và Luật mẫu về cạnh tranh của UNCTAD [92], “hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh và vị trí độc quyền để HCCT là hành vi HCCT mà doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền sử dụng để duy trì hay tăng cường vị trí của nó trên thị trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quámức cạnh tranh”

Luật cạnh tranh EU không có định nghĩa rõ ràng về “hành vi lạm dụng VTTLTT” thay vàođó,Điều 102 TFEU liệt kê các hành vi nhất địnhbịcoi là lạm dụng VTTLTT. Tuy nhiên, những hành vi này chỉ là những dạng hành vi lạm dụngđiển hình nhất, chứ không phải là một bảng liệt kêđầy đủ. Tươngtự như khái niệm VTTLTT, khái niệm lạm dụng VTTLTT cũngđược giải thích qua thực tiễn các vụviệcđiển hình. Theo tòa án tư pháp châu Âu (ECJ), hành vicủadoanh nghiệp cóVTTLTT có bị coi là lạm dụng hay không căn cứ vào tác động của hành vi đó đối với môi trường cạnh tranh. Chẳng hạn như trong vụ Hoffmann-La Roche & Co. AG kiện Ủyban châu Âu, khái niệm lạm dụngvịtrí thống lĩnhđược xem là: hành vi của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, có tác động đến cấu trúc thị trường, làm suy giảm mức độ cạnhtranh của thị trường thông qua việc sử dụng các phương pháp khác biệt với những phương pháp cạnh tranhđược sửdụng trongđiều kiện cạnh tranh thông thường củahàng hóa, dịch vụtrên cơsởcác giao dịchcủacác thương gia, gâytrởngại cho việc duy trì mức độ cạnh tranh đang tồn tại trên thị trường hoặc sự gia tăng mức độ cạnhtranh của thị trườngđó[46, đoạn 285]. Như vậy, khái niệm lạm dụng vịtrí thống lĩnh mà ECJđưara đã bám vào bản chất và có khả năng bao quátđược các dạng hành vi lạm dụng cụ thể khác nhau. Do đó, các hành vi lạm dụngđược liệt kê trong Điều 86hiệp địnhEC (hiện tại là Điều 102 TFFEU) chỉ là những dạng hành vi lạm dụng điển hình nhất,chứkhông phải là một bảng liệt kêđầy đủ.Quanđiểm này được chỉ rõ trong các vụ việc AKZO [49, đoạn 112], [51]. Trên thực tế, việc xácđịnhmột hành vi của doanh nghiệp có VTTLTT có phải là lạm dụng hay không phải dựa trên việc đánh giá tácđộngcủa hành viđó đối với môi trường cạnh tranh. Một hành vi, dù khôngnằmtrong những trườnghợp điểnhìnhđược liệt kê tại Điều 102

29

TFEU vẫn có thểbịcoi là lạm dụngvịtrí thống lĩnhnếunó domộtdoanh nghiệp thống lĩnh thị trường thực hiện và có ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường cạnh tranh.

Luật Cạnh tranh vàngườitiêu dùng 2010 củaÚcđềcập đến hành vi đơn phương củacác doanh nghiệp cósứcmạnhthịtrường đángkể,ngưỡng này thấp hơn so với các doanh nghiệp thống lĩnh.

Cụthể,Điều 1Mục46củaCCA nghiêmcấmcác công ty cósứcmạnhthịtrường đáng kể lạm dụng sức mạnh thị trường đó trên thị trường liên quan hoặc bất kỳ thị trường nào khác với một trong các mục đích sau (có thể được xác định bằng suy luận):

(i) Loại bỏ hoặc làm tổn hại nghiêm trọng đối thủ cạnh tranh;

(ii) Ngăn chặn việc gia nhập thịtrường liên quan hoặcbấtkỳthịtrường nào khác; hoặc là

(iii) Ngăn chặn hoặc cản trởhoạtđộng cạnh tranh trênthịtrường liên quan hoặc bất kỳ thị trường nào khác.

Mục 46 (1AA) cấm các doanh nghiệp có mức thị phần đáng kể trên thị trườngđịnh giá dưới giá thành trong một khoảng thời gian liên tục.

Mục46Acấmcác doanh nghiệp có sứcmạnh thịtrường đáng kểlạmdụng quyền lực thị trường ở các thị trường xuyên Đại Tây Dương.

Như vậy, có thểquy định theo những cách khác nhau, nhưng quan điểmvềhành vilạmdụng VTTLTTvềcơ bản là tương đồng.Theo đó,hành vilạmdụng VTTLTT là hành vicủadoanh nghiệp thống lĩnh thịtrường vàđồng thời đáp ứng các điều kiện:

– Phản ánh việc thực thi quyền lực thị trường của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh

– Duy trì, củng cố quyền lực của doanh nghiệp đó, tạo ra tác hại kinh tế cho các nhà cung cấp, khách hàng hoặc đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp thống lĩnh đó, và

– Những tác hại như vậy sẽ không thể được tạo ra nếu hành viđược thực hiện bởi các doanh nghiệp không có VTTLTT.

Do đó, có thể rút ra định nghĩa chung về hành vi lạm dụng VTTLTT như sau:

Lạmdụng vịtrí thống lĩnhthịtrường là hành vicủadoanh nghiệp có vịtrí thống lĩnh thị trường, khai thác quyền lực thị trường mà nó có để duy trì, tăng cường vị trícủa doanh nghiệp trênthịtrường, gây cản trởcạnh tranh,tổnhạicho cácđốithủvà khách hàng của doanh nghiệp.

Cạnh tranh là hiện tượng riêng có của nền kinh tế thị trường khi mà các doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh và lợi nhuận là yếu tố trung tâm, là động lực thúc

30

đẩy sự phát triển của sản xuất, kinh doanh. Lạm dụng VTTLTT thực chất là hành vi cạnh tranh củacác doanh nghiệp có VTTLTT trái pháp luật,đạo đứcvà văn hóa kinh doanh,vượtqua ranh giớicủaquyền tựdo kinh doanh. Dovâỵ,cóthểnói, hành vilạmdụng VTTLTT, cũng như cạnh tranh, làmộthiện tượng đặcthù của kinh tế thị trường.

1.1.1.3. Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Dù có những khác biệt nhất định trong các quyđịnh vềhành vi lạm dụng, song pháp luật của các nước đều thống nhất rằng nhóm hành vi này có bađặc trưng sau đây:

a.Chủthểthực hiện hành vi là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vịtríthống lĩnh hoặc doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên thị trường liên quan

Đặc điểm này thể hiện tính đặc thù về chủ thể của hành vi lạm dụng VTTLTT. Cơsởđểmộtdoanh nghiệp cóthểthực hiệnđượchành vi lạm dụng chính là dựa vào VTTLTT mà nó có, do đó, nếu hành vi không được thực hiện bởi doanh nghiệp có VTTLTT thìsẽkhông bịcoi là hành vi lạm dụng VTTLTT, cho dù hành viđó được mô tả trong luật. Vì vậy, dấu hiệu đầu tiên cần phải chứng minh khi xác định có tồn tại một hành vi lạm dụng VTTLTT trên thực tế là chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp có VTTLTT.

Đương nhiên mộtdoanh nghiệp (hay nhóm doanh nghiệp)nắmgiữVTTLTT không có nghĩa là doanh nghiệp (hay nhóm doanh nghiệp)đó vi phạm luật cạnh tranh, nếu việc có được VTTLTT là hợp pháp. Vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền có thể được hình thành từ sự tích tụ trong quá trình cạnh tranh, từ những điều kiện tựnhiên của thị trường như: yêu cầu về quy mô hiệu quả tối thiểu,sự biến dị của sản phẩm, sự tồn tại của các rào cản gia nhập thị trường; hoặc sự bảo hộ của quyền lực

Nhànước….[22, tr. 12]. Vị trí thống lĩnh đem lại cho doanh nghiệp quyền lực thịtrường và khả năng chi phối các quan hệ trên thị trường,đặc biệt làthể hiện ở khảnăng kiểm soát các yếu tốcủa thịtrường (giá cả, chất lượng, sản lượng, nguồn

nguyên liệu…) đối với loại hàng hoá hoặc dịch vụ mà họ bán hoặc mua. Thực tế làcùng mộthành vi nhưngđược thực hiện bởidoanh nghiệp có VTTLTTsẽcóthểgây ra những tác động mang tính chi phối đến thị trường nhưng nếu được thực hiện bởinhững doanh nghiệp thông thường lạikhông có khảnăng đó.Bởi vậy,chỉkhi doanh nghiệp thống lĩnh thị trường tận dụng khả năng chi phối thị trường mà nó có(nhờ vào việc nắm giữ sức mạnh thị trường hay VTTLTT) để thực hiện những hành vi gây tác động tiêu cực đến cạnh tranh, cản trở cạnh tranh hiệu quả, công bằng thì

31

Luật cạnh tranh mới cần can thiệp. Lúc này, sự can thiệp của luật cạnh tranh không có nghĩa là phủ nhận sự tồn tại hợp pháp của các doanh nghiệp có VTTLTT màchỉlà chống lạinhững hành vi lạm dụng bất hợppháp củachúng bởinhững hậu quảtiêu cực mà hành vi gây ra cho sự cạnh tranh.

b. Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh đã hoặc đang thực hiện hành vi lạm dụng gây tác động tiêu cực cho sự cạnh tranh trên thị trường

Hành vi lạm dụng,vềbản chất là việc doanh nghiệp khai thác lợi thếmàquyền lực thịtrường đemlạiđểhạn chế, bóp méo cạnh tranh nhằm trục lợihoặc loại bỏđối thủcạnh tranh. Nhưđãphân tích ởtrên, những hành vi này chỉcó thểthực hiện và gây tácđộngchothịtrường khichủthểtiến hành là doanh nghiệp có VTTLTT. Tương ứng với lợi thế của doanh nghiệp thống lĩnh thị trường chính là sựyếu thếcủa đối thủ, củakhách hàng. Do đó,trong mốiquan hệvớidoanh nghiệp thống lĩnh thịtrường, cácchủthểnày hoàn toàn ởthếbịđộng,không có quyền tựdo lựa chọn mà buộc phải chấp nhận sựchi phối hay những điều kiện do doanh nghiệp có VTTLTTđưara. Do đó,các quy định vềhành vi lạm dụng thực chất chính là vạch ra giới hạn cho các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường khi cạnh tranh trên thị trường. Dưới góc độ pháp lý, các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh có nghĩa vụđặcthù là “khôngđượclàm giảm mức độcạnh tranh hiện có trên thịtrường” thông qua việc tận dụng những lợi thế mà nó có do sức mạnh thị trường đem lại.

Quan điểm vềnghĩavụđặcthùcủadoanh nghiệp có VTTLTTđược ECJthểhiện rõ ràng vụ Michelin [51] khi cho rằng:

Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường bản thân nó không phải làmột sựvi phạm màchỉcó nghĩa là, với bất kểlý do nào mà nó có được vịtríđó,doanh nghiệp có nghĩavụđặcbiệt không cho phép hành vicủamình làm giảm hay suy yếu sự cạnh tranh trên thị trường chung.

Khi doanh nghiệp thống lĩnh thực hiện những hành vi lạm dụng,tứclà vi phạm nghĩavụđặcthùcủanó thì môi trường cạnh tranh sẽkhông vận hành theo đúng quy luật hoặc bị cản trở, bị triệt tiêu nên pháp luật cần can thiệp để tái thiết lập cácđiều kiện thuận lợicho cạnh tranh hoạt động trởlại. Bằng những phương thức khác nhau, Luật cạnh tranh các nước đều cố gắng chỉ ra một ranh giới rõ ràng cho việc xác định đâu là hành vi lạm dụng. Chỉ khi nào các doanh nghiệp có VTTLTT vượt qua giới hạn đó, thực hiện những hành vi bị coi là lạm dụng và bị cấm thì mới bị xử lý.

Một số nước (trong đó có Việt Nam) liệt kê những hành vi nhất định bị coi làlạm dụng trong Luật cạnh tranh và doanh nghiệp thống lĩnh thị trường chỉ bị coi là

32

thực hiện hành vi lạm dụng VTTLTT khi thực hiện những hành viđãđược liệt kêđó.Nhiều nướccó cách tiếp cận rộng hơn khi vừa liệt kê những hành vicụthểbịcoi là lạm dụng vừa trao quyền cho CQCT trong việc xác định những hành vi khôngđược liệt kênhưng vẫn có thể bị coi là lạm dụng thông qua việc đánh giá bản chất và tác động phản cạnh tranh của hành vi. Các hành vi được pháp luật các nước coi là lạm dụng được xác định dựa trên tác động hạn chế, bóp méo cạnh tranh, khả năng giúp doanh nghiệp thống lĩnh duy trì, củng cố quyền lực thị trường, loại bỏ đối thủvà trục lợi từ khách hàng, người tiêu dùng. Do đó, pháp luật các nước thường phân chia hành vi lạm dụng thành hành vi lạm dụng mang tính loại bỏvà hành vi lạm dụng mang tính trục lợi hoặc phân chia thành hành vi lạm dụng liên quan đến giá vàhành vi lạm dụng không liên quan đến giá.

Cùng nằm trong nhóm hành vi HCCT, là hành vi gây ra tác động tiêu cực cho cạnh tranh, làm cản trở, triệt tiêu, bóp méo cạnh tranh nhưng hành vi lạm dụng VTTLTT phân biệt với các hành vi HCCT khác ở phương thức thực hiện. Nếu nhưhành vi thỏa thuận HCCTđược thực hiện bằng phương thức phối hợp hànhđộng của các doanh nghiệp thì lạm dụng vị trí thống lĩnh hay quyền lực thị trường lại làhành vi HCCT mang tính đơn phương của doanh nghiệp thống lĩnh.

c. Hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnhthịtrường là hành vi mang tính đơnphương của doanh nghiệp.

Hành vi lạm dụng củadoanh nghiệp có VTTLTT là hành vi luôn mang tínhđơn phương, không có sựthỏa thuận hay thống nhất hànhđộngvới bất cứdoanh nghiệp nào khác.Kểcảtrườnghợpnhóm doanh nghiệp thống lĩnhthịtrường thực hiện hành vi lạm dụng quyền lực thị trường thì giữa họ cũng không có sự thỏa thuận hay thống nhất hành động nào, mà bản chất vẫn là hành vi riêng rẽ, đơn phương của từng doanh nghiệp nhưng tổng hợp sức mạnhcủacác doanh nghiệp này sẽgây ra khảnăng tácđộng hạn chếcạnh tranh mà cần có sựkiểm soát. Trong trường hợp các doanh nghiệp này thực hiện hành vi trên cơsởsựthỏa thuận, thống nhất thìhành vi được thực hiện bởi nhóm doanh nghiệp như vậy phải được xác định là hành vi thỏa thuận hạn chếcạnh tranh vàbịđiều chỉnh bởiquy địnhvềkiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chứ không phải là quy định về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT.

Đặcđiểmnày giúp phân biệt hành vi lạm dụng VTTLTTvớihành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế (luôn được thực hiện bởi từ 2 doanh nghiệp trở lên).

33

d. Hậu quả của hành vi lạm dụng là làm biến dạng cấu trúc thị trường, cản trở hay thủ tiêu sự cạnh tranh trên một thị trường xácđịnh.

Lạm dụng quyền lực thịtrường luôn gắn với một thịtrườngcụthể, có ranh giới xác định. Doanh nghiệp chỉ có thể có quyền lực trên một vùng thị trường nhất định và nóchỉcóthểlạm dụng quyền lựctrong phạm vicủavùng thịtrường đó. Khiđó,tác động củahành vi HCCT nói chung và hành vi lạm dụng VTTLTT nói riêng làđến toàn thểthịtrường vớiranh giớiđược xác định chứkhông phải chỉriêng đối thủ cạnh tranh nào trong vùng thị trường đó.

Dù có những khác biệt nhất định,songmụctiêu chung của Luật cạnh tranh cácnước đều là bảo vệcạnh tranh hiệu qủatrên thịtrường. Luật cạnh tranh cấm hành vi lạm dụng VTTLTT không phải bởi vìnó được thực hiện bởi doanh nghiệp có VTTLTT hay bởi vì những hành vi ấy mang bản chất khai thác lợi thế mà doanh nghiệp thống lĩnh thị trường có mà chính là bởi những hành vi lạm dụng mà doanh nghiệp thực hiện sẽgây ra tácđộng tiêucựccho cạnh tranh. Cũng giống như các hành vi HCCT khác, lạm dụng VTTLTT có tính chất và mức độ nguy hại cao hơn so với những hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Chúng phá vỡ cấu trúcvận động củabình thường của thịtrường, cóthểmangđến nguy cơ làm biến dạng hay thủtiêu sựcạnh tranh trong nền kinhtế,hay như cách nhìn nhận của Luật cạnh tranh Việt Nam là chúng “làm giảm, làm sai lệch, làm cản trở cạnh tranh trên thị trường”.

Thực tế,việc thực hiện các hành vi lạm dụng VTTLTT có thểgây ra những hậu quảkhác nhau, tácđộng đến những đối tượng khác nhau.Đó có thểlà những thiệt hại vềlợiích mà các doanh nghiệp khác, hoặc khách hàng phải gánh chịu, quyền tự do lựa chọn của khách hàng bị hạn chế, cơ hội cạnh tranh của các đối thủ

bịtướcđoạt,….song nghiêm trọng nhất là làm suy giảm, cản trởtình trạng cạnh tranh của thịtrường. Vì vậy, pháp luật củacácnước đềubuộc cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh hành vi lạm dụng đã, đang hoặc có thể sẽ gây hậu quả ngăn cản hay HCCT đáng kể trên thị trường.

OECD cũng đưa ra khuyến nghị về việc xác định hành vi lạm dụng, trong đó họ cảnh báo rằng chỉ có thể chống lại có kết quả sự lạm dụng quyền lực thị trường, khi pháp luật và người thi hành nó xác định được “những hành vicụ thể cóthể gây hạicho cạnh tranh và đánh giáđượcnhững tácđộng toàn diện củachúng trênthịtrường có liên quan [76, tr.160].

Pháp luật một sốnướccoichỉcoi hậu quảcủahành vi lạm dụng là dấu hiệu cấu thành của hành vi nhưng không phải là điều kiện cần phải chứng minhđể xử lýhành vi. Điều này thể hiện rất rõ trong quy định của Luật cạnh tranh Việt Nam 2004

34

khi dấu hiệu hậu quả của hành vi lạm dụng được quy định rất chung chung và hầu như không đặtra yêu cầu chứng minh trên thực tế.Trong khiđó,pháp luật của nhiều nước đặtra yêu cầu chứng minh hậu quảcủahành vi lạm dụng như là dấu hiệu cấu thành, đồng thời là điều kiện xử lý doanh nghiệp thống lĩnh thị trường thực hiện hành vi lạm dụng như luật cạnh tranh của Canada, luật cạnh tranh của Pháp.

1.1.2. Khái niệm,đặcđiểmvà mụcđíchcủakiểm soát hành vilạmdụng vịtríthống lĩnh thị trường

1.1.2.1. Khái niệm kiẻm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Sự tồn tại của các chủ thể có VTTLTT trong nền kinh tế là một tất yếu khách quan. Các doanh nghiệp tham gia vào thị trường luôn mong muốn vànỗ lực để đạt được VTTLTT, chính mục tiêu nắm giữ VTTLTT mà các doanh nghiệp hướng đến là yếu tố, động lực thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển, thúcđẩy nền kinh tế phát triển. Cáchệthống pháp luật đềukhẳng định bản thân việc nắmgiữVTTLTT của doanh nghiệp không phải là sai trái. Tuy nhiên, khiởvào VTTLTT, các doanh nghiệp lạicó xu hướng thực hiện các hành vi lạm dụng VTTLTT gây ra các tácđộng tiêu cực cho thị trường, cho nền kinh tế và do đó, hành vi này trái luật, bị lênán. Hành vi lạm dụng VTTLTT là hành vi của doanh nghiệp có VTTLTT khai thác quyền lực thị trường mà nó có để gây hạn chế cạnh tranh, bóp méo thị trường, xâm hại đến lợi ích của các chủ thể kinh doanh khác và người tiêu dùng. Do đó, các hệthống pháp luật đều đặtra nhu cầu kiểm soát đối vớihành vi lạm dụng củadoanh nghiệp có VTTLTT.

Theo Từđiển tiếng Việt [21, tr. 54], kiểm soát là xem xétđểphát hiện, ngăn chặn những gì sai trái. Đây là quan niệm chung vềkiểm soát, theo đó,việc kiểm soát gồm có cácnộidung là (i) xem xét,tứclà theo dõi, kiểm tra, (ii)từviệc xem xét, kiểm tra, thực hiện hoạt động đánh giá, nhận diện, tức là phát hiện những hành vi, những việc có nguy cơ, có dấu hiệu sai trái và (ii) thực hiện việc điều chỉnh, uốn nắn, ngăn ngừa những hành vi và những việcđãđược xác địnhlà códấuhiệu sai trái. Từ điển Luật học [31, tr. 264] cũng có quan điểm tương tự, theo đó, kiểm sát làviệc “ xem xét để phát hiện, ngăn ngừa kịp thời việc làm trái với thỏa thuận, với quy định”. Như vậy,kiểm soát là hành vi pháp lý mang tính chủ động của chủ thể kiểm soát thực hiện việc theo dõi, giám sát, kiểm tra để phát hiện những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật của các chủ thể là đối tượng bị kiểm soát, từ đó có hành vi ngăn ngừa,xửlý, loại bỏnhững hành vi trái pháp luật. Kiểm soát là hoạt động cóphạm vi rộng, bao trùm cả hành vi giám sát, kiểm tra, thanh tra. Giám sát, kiểm tra, thanh trađều là những hành viđểchỉviệc theo dõi, quan sát có tính chủđộng,

35

thường xuyên của chủthểcó thẩm quyền, quađó phát hiện các vi phạm và thực hiện các biện pháp tácđộng cầnthiết đểcác hoạt động đượcđưavềđúng chuẩn mực, quỹ đạo,đảm bảo sự tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật. Trong khiđó,hoạt động kiểm soát đòi hỏi chủ thể phải thực hiện cả việc xây dựng các tiêu chí, nguyên tắc để đối chiếu, nhận diện trước khi thực hiện việc giám sát, kiểm tra. Không chỉdừng ởviệc thực hiện các biện pháp tácđộnghay đưara các khuyến nghị như giám sát, kiểm soát cònđòihỏi chủ thể phải có các biện pháp ngăn chặn, loại bỏvàxửlý các hành vi sai trái. Như vậy, có thểthấy, hoạt độngkiểm soátsẽmang lại hiệu quả cao trong quản lý hơn so với việc giám sát, kiểm tra đơn thuần.

Hoạt động kiểm soátđược thực hiện bởinhiều chủthểkhác nhau,vớinhững phương pháp, mục đích khác nhau ở cả khu vực tư và khu vực công. Có thể là hoạt động kiểm soát nội bộcủacác doanh nghiệp,tổchức hay hoạt động kiểm soát

quyền lực nhà nước, kiểm soát hoạt động của các cơ quan nhànước….

Kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT là hoạt động kiểm soát màđối tượng bịkiểm soát là các doanh nghiệp có VTTLTT với mục đích là giám sát, phát hiện vàngăn ngừa hành vilạmdụng VTTLTT. Hoạt động này cóthểđược tiến hành bởi Nhànước,bởi chính các doanh nghiệp tham gia thị trường, hay có thể là hoạt động kiểm soát nội bộ bởi chính các doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận án này, hoạt động kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT được giới hạn làhành vi kiểm soát của Nhà nước đối với đối tượng bị kiểm soát là các doanh nghiệp có VTTLTTđểxem xét, phát hiện nhằm ngăn ngừa vàxửlý các doanh nghiệp có VTTLTT thực hiện hành vi lạm dụng gây hạn chế, cản trở cạnh tranh. Với nội dung như vậy, hoạt động kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT là hoạt động củaNhànước được tiến hànhđối vớicác doanh nghiệp trênthịtrường nhằm đảm bảomôi trường tự do cạnh tranh, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và người tiêu dùng. Kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT chính là một nộidung củaviệc thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với thị trường, đối với doanh nghiệp.

Có thể hiểu, kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là hành vi củacơ quan nhànướcvà cácchủthểcó thẩm quyền thực hiện chức năng quản lýcủaNhànước,tác độngđến các doanh nghiệp thông qua các biện pháp, cách thức khác nhau đểtheo dõi, phát hiện, ngăn chặn vàxửlý các hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường nhằm bảo vệ, duy trì trật tự cạnh tranh,đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Nhànước,các chủ thể kinh doanh khác vàngười tiêu dùng.

36

Như vậy, chủ thể thực hiện quyền kiểm soát là cơ quan nhà nước có thẩm vàcác chủ thể được trao quyền (các đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng); đối tượngbịkiểm soát là các doanh nghiệp có VTTLTT;nộidung kiểm soát là việc theo dõi, giám sát, phát hiện, khiếu nạihành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thịtrường, ngăn chặn và áp dụng các biện pháp chế tài để loại bỏ, xử lý các hành vi vi phạm.

1.1.2.2. Đặc điểm của kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

– Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nhằm tạo lập, duy trìvà bảo vệmôi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng.VớiVTTLTT, doanh nghiệp luôn có xu hướng thực hiện các hành vi thao túng, chi phối thịtrường đểcủng cố và duy trì quyền lực trên thị trường của mình. Một mặt doanh nghiệp thống lĩnh thị trường sẽ tạo ra các rào cản để ngăn cản các doanh nghiệp khác gia nhập thịtrường, ngăn cản các đối thủ mở rộng và phát triển kinh doanh, hạn chế, thậm chítriệt tiêu khảnăng cạnh tranhcủacác doanh nghiệp khác.Mặtkhác, doanh nghiệp có VTTLTT sẽ tận dụng lợi thế, vị trí và quyền lực thị trường mà nó có để tăng giáthành, hạn chếthịtrường, trục lợi từkhách hàng,ngườitiêu dùng, tôi đa hóa lợi nhuận. Hành vi lạm dụng VTTLTT là sai trái, gây hậu quả tiêu cực cho môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng. Do đó, việc kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT là cần thiết với mụcđích là tạo lập, duy trì và bảo vệmôi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng. Có thể nói, hoạt động kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường chính là thể hiện vai trò điều tiết của Nhànước đối với thị trường.

– Đối tượng của kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là các doanh nghiệp có vịtrí thống lĩnh thịtrường. Nhưởtrên đãphân tích, lạm dụng VTTLTT là hành vicủadoanh nghiệp đểtácđộng đến cấu trúcthịtrường, kiểm soát các yếu tố cơ bản, phá vỡ các quy luật của thị trường, áp đặt các điều kiện giao dịch bất bình đẳng nhằm duy trì, tăng cường vị trí của doanh nghiệp trên thị trường, gây cản trởcạnh tranh, tổn hạicho cácđối thủvà khách hàngcủadoanh nghiệp. Mộtdoanh nghiệp thông thường, khôngnắmgiữsức mạnh thịtrường đáng kểkhông có khả năng thực hiện được các hành vi gây ra những tác động kể trên. Nói một cách khác, để thực hiện được các hành vi lạm dụng gây hậu quả tiêu cực cho thịtrường, doanh nghiệp phải có sức mạnh thị trường đáng kể, có khả năng dẫn dắt, chi phối thịtrường hay nói cách khác phải là doanh nghiệp có VTTLTT. Do đó,đối tượng bịkiểm soát phải là doanh nghiệp có VTTLTT. Cùng làmộthành vi nếu được thực hiện bởidoanh nghiệp có VTTLTT thì cần phải kiểm soát nhưng nếu được thực hiện bởicác doanh nghiệp khác không có VTTLTT thì không cầnphải kiểm soát.

37

– Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nằm trong giới hạn của quyền tựdo kinh doanh của doanh nghiệp. Quyền tựdo kinh doanh là một quyền Hiến định, có tính chất quan trọng, cốt lõi trong việc vận hành nền kinhtế thịtrường. Quyền tự do kinh doanh cho phép doanh nghiệp được chủ độngquyết định cách thức, lĩnh vực kinh doanh, quyết định các vấn đề liên quan đến kinh doanh đểtìm kiếm lợinhuận. Tuy nhiên,tựdo kinh doanh làmộtquyền pháp lý, do đó, không thểcó tựdo kinh doanh tuyệt đốimà phải có giới hạn đặttrong khuôn khổcủapháp luật. Bản thân doanh nghiệp có VTTLTT có quyền tựdo kinh doanh, nhưng việc thực hiện quyền tựdo kinh doanh củadoanh nghiệp thống lĩnh thịtrường không được xâm phạm quyền tự do của chủ thể khác, xâm phạm trật tự cạnh tranh, xâm phạm cáclợiích đượcNhànước bảo vệbao gồm lợiích chung của xãhội, lợi ích của người tiêu dùng. Kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT là phát hiện và ngăn cản doanh nghiệp thực hiện các hành vi lạm dụng xâm phạm đến trật tựcạnh tranh,lợiích của nền kinh tế, xã hội vàngườitiêu dùng. Bởi vậy, hoạt động kiếm soát hành vi lạm dụng VTTLTT cùng với các hình thức, cơchếkiểm soát khác đối với doanh nghiệp chính là tạo ra ranh giới của quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp,

– Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trườngdẫn đến hạn chế cácđặcquyền kinh tếcủa doanh nghiệp cóvịtrí thống lĩnhthịtrường. Bảnthân các doanh nghiệp khi thực hiện các hành vi lạm dụng VTTLTT chính là khai thác các lợi thếmà quyền lực thịtrường mang lại, thực hiện các hành vi mang tính áp đặt,

tác động đến cấu trúc thị trường, tước đoạt quyền lựa chọn của các chủ thể khác trên thị trường. Những hành vi lạm dụng mà doanh nghiệp có VTTLTT thực hiện có khảnăng gây táchạichothịtrường chính là nó được thực hiện bởidoanh nghiệp cóquyền lực thị trường. Nếu đặt trong điều kiện không có VTTLTT, những hành viđókhông thể gây tác hại cho thị trường. Có thể hiểu, việc thực hiện được các hành vi

lạm dụng VTTLTT lànhờvào những đặcquyền kinh tếmà doanh nghiệp có VTTLTT có được.Do đó,kiểm soát VTTLTT chính là ngăn cản doanh nghiệp có VTTLTT thực hiện các hành vi mang tính đặc quyền của nó gây tác hại đến trật tựcạnh tranh, xâm phạm lợi ích của xã hội, chủ thể khác và người tiêu dùng.

– Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trườngbị hạn chế nhất định về phạm vi do ràng buộc của nguyên tắc tự do kinh doanh. Như đã phân tích, quyền tự do kinh doanh là quyền quan trọng của doanh nghiệp, đảm bảo sự vận hành của nền kinh tế thị trường. Do đó, trong hoạt động kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT từphía Nhànước đối vớidoanh nghiệp,mặcdù làchủthểmang quyền

38

lực nhưng Nhà nước cũng bị hạn chế nhất định về phạm vi kiểm soát, không được can thiệp quá sâu vào quyền tựdo kinh doanh, quyền tựquyết củadoanh nghiệp trong hoạt độngkinh doanh. Chính điềunàyđòihỏihoạt độngkiểm soát hành vi

lạm dụng VTTLTT phảiđược thực hiện với nộidung, phương pháp và quy trình riêng. Việc kiểm sát hành vi lạm dụng VTTLTT phải đảm bảo vừangăn cản được các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường thực hiện các hành vi sai trái, lại vừa không được can thiệp quá sâu xâm phạm quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp. Tức làđảm bảo yêu cầu hài hòa giữa lợi ích của doanh nghiệp, lợi ích chung của nền kinh tế, lợi ích người tiêu dùng.

1.1.2.3. Mục đích của kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Nhưđãphân tíchởtrên, kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT cóthểđược tiến hành bởinhiều chủthểkhác nhau, dođó sẽcó nhữngnộidung, cách thức vàmụcđích kiểm soát khác nhau.Vớiphạm vi nghiên cứu của Luận án là tập trung vào hoạt động kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT màchủthểkiểm soát là Nhànướcthì hoạt động kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT nhằmhướngtới những mục đích sau đây:

–Thứnhất, kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT là đểbảo vệtrật tựcạnh tranh, bảo vệđộng lực của nền kinh tế. Hành vi lạm dụng VTTLTTsẽgây ra các tácđộng hạn chếcạnh tranh. Khiởvàovịtrí thống lĩnh thịtrường, các doanh nghiệp có quyền lực thịtrường sẽkhai thác sức mạnh củamình đểgiải tỏaáp lực cạnh tranh từphía cácđối thủ, tiếp tục củngcốvịthếthống lĩnhthịtrường của mình. Quy luật cạnh tranh bịbóp méo, mất khảnăng điều chỉnh thịtrường. Cạnh tranh là “linh hồn sống của thị trường”, là động lực phát triển của nền kinh tế. Lạm dụng quyền lực thịtrường sẽdẫn đến bóp méo, triệt tiêu cạnh tranh, khiến thịtrường mất dần sức sống, gây ra những tổn thất rất nghiêm trọng về lâu dài cho nền kinh tế.Hành vi lạm dụngvịtrí thống lĩnh cóthểgây ra những tácđộngkhác ảnh hưởng đến trật tự, sự ổn định của môitrường kinh doanh, kéo theo những hậu quảtiêu cực về mặt xã hội như tình trạng bất bìnhđẳngtrong kinh doanh, sự phát triển kỹthuật công nghệbịcản trở, suy giảm chất lượng đời sống,ảnhhưởng đếncông bằng xã hội. Lạm dụng quyền lực thịtrường cũng tạo ra một ảnhhưởng không tốt đến văn hóa kinh doanh. Hoặc khai thácsựnhẹdạcủangườitiêu dùng, hoặc khai thác sự lệ thuộc của họ, các doanh nghiệp lạm dụng quyền lực thị trường đã ứng xửmột cách “khôngnhân bản”[21, tr. 23]. Nó cũng cổ xúy cho kiểu kinh doanh cá lớn nuốt cá bé, một thứ ứng xử mang tính cướp đoạt hoặc áp đặt trong quan hệ giữa các doanh nghiệp. Do đó,Nhànước vớiviệc phát hiện, ngăn chặn và loại bỏhành vi

39

lạm dụng VTTLTT là để bảo vệ trật tự cạnh tranh,sự ổn định của môitrường kinh doanh, đảm bảo sự tăng trưởng của nền kinh tế.

–Thứhai, kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT là đểbảo vệphúclợixã hội, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trườngsẽgây tổn thất về phúc lợi xã hội, tước đoạt lợi ích của người tiêu dùng. Doanh nghiệp thống lĩnh lạm dụng vị trí của mìnhđể đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận sẽ dẫn tới sự phân bổ nguồn lực kém hiệu quả, phá hỏng mục tiêu tối đa hóa thặng dư xã hội. Nền kinh tếhoạt động kém hiệu quả, chất lượng sản phẩm giảm sút trong khi giáthành sản phẩm lạigia tăng. Ngườitiêu dùng mấtquyền lựa chọn khi phải chấp nhận mứcgiá cao hơn với chất lượngsảnphẩm kém hơn vàsựđối xửthiếu công bằng từ doanh nghiệp thống lĩnh thị trường. Rõ ràng xã hội sẽ phải gánh chịu những

tổn thất kinh tế nghiêm trọng do mức giá cao và sản lượng dưới mức tiềm năng gây ra. Do đó, việc kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT là để ngăn chặn doanh nghiệp thống lĩnh thực hiện những hành vi khiến cho sản xuất xã hội kém hiệu quả, gây ra những tổn thất về phúc lợi xã hội.

Nói tóm , lạm dụng quyền lực thịtrường cần phảiđượckiểm soátđểbảo vệcạnh tranh như một động lựcphát triển của nền kinh tế, bảovệphúc lợi xãhộivàbảo vệ người tiêu dùng.

1.1.3. Các công cụ kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Vớinhững tácđộng tiêu cực củahành vi lạm dụng VTTLTTđãđượcphân tích ở trên, Nhànước,với tư cách là người quản lý, điều hành nền kinhtế sẽ phải sửcác công cụ, biện pháp khác nhau để kiểm soát nhằm hạn chế, khắc phục những tiêu cựcmà hành vi lạm dụng VTTLTTcủacác doanh nghiệp mang lại. Các côngcụthường được các quốc gia sử dụng bao gồm:

Chính sách thuế

Lợi nhuận luôn là mục tiêu cao nhất của các doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp thống lĩnh thịtrường, hay cao nhất làđộcquyền thịtrườngnắmgiữsức mạnh thịtrường luôn có xu hướng lạm dụng vịtrí mà nó có đểkhống chếthịtrường, tăng giá bán nhằm thu được lợi nhuận tối đa. Bằng việc đánh thuế thật nặng vào các doanh nghiệp thống lĩnh, độc quyền thị trường để điều tiết thu nhập của các doanh nghiệp này, Nhànướcmuốn hạn chếhậu quảmà hành vi lạm dụng của các doanh nghiệp này gây ra. Tuy nhiên, biện pháp này cũng có hạn chế, khi mức thuếtăng lên thì các nhà độc quyền sẽ nâng giá bán và có xu hướng giảm sản lượng.

Kiểm soát giá cả

Kiểm soát giá là một biện pháp kiểm soát mang tính trực tiếp đối với hành vi

40

của các chủthểtham giathịtrường. Các quốc gia thường sửdụng công cụkiểm soát giá để giới hạn lợi nhuận của một ngành kinh tế nhất định, có mức độ tập trung cao.Ởnhững thịtrường có mức độtập trung cao, tồn tạinhững doanh nghiệp cóVTTLTT. Với mụctiêu cuối cùng và cao nhất làtốiđa hóalợinhuận, các doanh nghiệp có VTTLTT thường sử dụng quyền lực thị trường để áp đặt mức giá bất hợp lý. Việc kiểm soát giá cả, trong chừng mực nhất định sẽ kiềm chế lạm phát, giữ giáổn định,ngăn cản đượcviệc lạm dụng VTTLTTcủadoanh nghiệp đểthực hiện hành vi lạm dụng về giá. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm thực tế của một số nước, khi sửdụng biện pháp nàycầncân nhắc thận trọng, bởi lẽnếu áp dụng máy móc,đặt toàn bộ hoạt động của nền kinh tế dới sự kiểm soát giá cả chỉ nhằm hạn chế một số

tổ chức độc quyền sẽ dẫn đến hậu quả xấu không lường hết được.

Điều chỉnh độc quyền

Thống lĩnh hayđộcquyền thịtrường đềulà những hiện tượngtồn tạikhách quan trong nền kinh tế thị trường. Nhà nước không thể sử dụng quyền lực để ngăn cản hay loại bỏ tuyệt đối sự hình thành và tồn tại của các doanh nghiệp thống lĩnh,độc quyền thị trường nhưng Nhà nước cần thiết phải sử dụng những biện pháp phùhợp để kiểm soát nhằm ngăn chặn việc thực hiện các hành vi lạm dụng quá mức sức mạnh thịtrường củadoanh nghiệp thống lĩnh,độcquyền do những tácđộng tiêu cực mà hành vi gây ra cho thị trường, nền kinh tế và người tiêu dùng. Nhànước sửdụng một số biện pháp để để điều chỉnh,hạn chế việc lạm dụng quá mức sức mạnh thị trường của doanh nghiệp. Nhà nước quy định về công khai tất cả các yếu tố liên quanđến độcquyền, như là công khai hóa hoạt động,chi phí,lợinhuận của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, độc quyền từ đó thiết lập chế độ giám sát của Nhànước,của xã hội và người tiêu dùng [14 tr. 60]; Nhà nước cũng có thể quy định vềhoạt động sản xuất kinh doanh vàlợiích củacác doanh nghiệp có VTTLTT, quy định rõ các danh mục vàsố lượngsản phẩm được phép sản xuất và lưu thông; quy định điều kiện để khống chế đầu ra, đầu vào, tiêu chuẩn, giá cả hàng hóa, dịch vụ.

Quốc hữu hoá

Chính phủ quốc hữu hóa và nắm độc quyền sở hữu đối với các doanh nghiệp độc quyền ở một số lĩnh vực trong nền kinh tế. Về hiệu quả kinh tế, hiện nay người ta chưa khẳng định được tính hơn hẳn của biện pháp này so với các biện pháp điều tiết độc quyền khác. Song, thông thường, giải pháp quốc hữu hoáđược áp dụngđối vớicác doanh nghiệp độcquyền tựnhiên nhằm bảo đảmcung ứng các loại hàng hoávà dịch vụcông cộng cho xã hội mộtcách bình thường. Trong loại biện pháp này cũng không loại trừ khả năng mà Nhà nước thực hiện việc quốc hữu hóa (theo

41

nghĩa thông thường) với mục tiêu là để sau đó tiến hành tư nhân hóa, hoặc chia nhỏnhà độc quyền thành nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với nhau.

Ban hành pháp luật cạnh tranh

Hiện nay hầu hếtcác quốc gia cónềnkinh tếthịtrường đềuđãcó pháp luật cạnh tranh. Các biện pháp pháp lýđượcáp dụng đểchống cạnh tranh không lành mạnh và chống độc quyền thường được áp dụng bao gồm các biện pháp hành chính, biện pháp xử lý về dân sự và hình sự như tuyên bố vô hiệu các hợp đồng, thoả thuận cấu kết các cạnh tranh, tạo thếđộcquyền bất hợp pháp,bắtbuộc khai báo, công khai năng lực cạnh tranh theo quy định của pháp luật, buộc chấm dứt hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặc độc quyền bất hợp pháp và bồi thường thiệt hại đã gây ra, thu hồi giấy phép kinh doanh, buộc đình chỉ hoạt động kinh doanh, phạt tiền đối với các hành vi vi phạm pháp luật, tịch thu các khoản lợi đã hưởng bất chính thậm chí là phạt tù giam có thời hạn đối với người vi phạm.

Vớinhững yêu cầu kểtrên, cùng vớicác thuộc tính củapháp luật, ban hành pháp luật luôn được xem là công cụ hữu hiệu nhất trong tay Nhà nước để can thiệp,điều tiết cạnh tranhmộtcách có hiệu quả. Pháp luật cạnh tranhđượccoi làtrụcột của pháp luật kinh tế công; là “Hiến pháp” của kinh tế thị trường.

Để kiểm soát các hành vi lạm dụng quyền lực thị trường, Nhà nước có thể áp

dụng nhiều biện pháp khác nhau, từ sử dụng các biện pháp hành chính – kinh tế nhưchính sách thuế, quốc hữu hoá, kiểm soát giácả,điều chỉnh độcquyền… cho đến ban hành pháp luật cạnh tranh. Trong số các biện pháp Nhà nước có thể can thiệp đểkiểm soát hành vi lạm dụng quyền lực thị trường thì biện pháp ban hành pháp luật mang ýnghĩa hiệu quảnhất xuất phát từchính các thuộc tính củapháp luật. Pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng quyền lực thịtrường chỉlà một bộphậnnhỏcủa pháp luật cạnh tranh nói chung. Nó là bộ phận ra đời muộn hơn so với bộ phận pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh vì lý do phải có quá trình các doanh nghiệp mới tập trung được sức mạnh kinh tế, trên cơsởđódoanh nghiệp mới thực hiện được hành vi lạm dụng và lúc này pháp luật cần được ban hành để điều chỉnh. Các

biện pháp mang tính hành chính –kinh tếđãlý giải vì sao có những trường hợp ngoại lệ trong việc xử lý vấn đề lạm dụng quyền lực thị trường bằng biện pháp pháp luật, bởi vì dù ít nhiều thì mỗi biện pháp đều có những ưu thế nhất định mà không có biện pháp nào có thể thay thế được. Do đó, nó được lựa chọn áp dụng trong một số những trường hợp cụ thể

42

1.2. Pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

1.2.1. Khái niệm pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Như đã phân tích ở trên, việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thịtrườngcủadoanh nghiệp là cần thiết nhằm bảo vệlợiích chung củanền kinh tế,đảmbảo sựphân bổcác nguồn lựcmộtcách hiệu quả, bảo vệlợiích củangười tiêu dùng. Thị trường có cơ chế tự điều chỉnh nhưng trong bối cảnh xuất hiện các doanh nghiệp thống lĩnhthịtrường thì cơ chế tựđiều chỉnh của thị trường bịcản trở bởi sự lạm dụng quyền lực thị trường của những doanh nghiệp này, do đó, Nhànước,vớitư cách làmộtchủthểcủaquyền lựccông, bằng bàn tay hữu hỉnh cần can thiệp đúng lúc và ở mức độphù hợp đểđảm bảo sự vận hành tích cực của thịtrường.Sựcan thiệpcủanhànướcđốivớihoạtđộngcủacác doanh nghiệp cóVTTLTT chỉ khi những doanh nghiệp này thực hiện những hành vi mang tính lạm dụng, hay nói cách khác Nhànướcthực hiện việc kiểm soátđốivớihành vi lạm dụng VTTLTT của các doanh nghiệp chứ không ngăn cấm, cản trở hoạt động của các doanh nghiệp này. Pháp luật cạnh tranh chỉ xuất hiện trong cơ chế thị trường, nơi có hiện diện củatựdo kinh doanh,tựdokhếướcvàtựdo lập hội, vào đúng thời điểm mà hành vi cạnh tranh đi vượt quá biên giới của quyền tự do kinh doanh

[20, tr. 57].

Nhànướcthực hiện việc kiểm soát hành vilạmdụng vịtrí thống lĩnhthịtrường của các doanh nghiệp chính là thực hiện chức năng quản lý nhànước đối với thịtrường,nềnkinh tế.Bằng các cách thức, công cụkhác nhau, Nhànướcsẽphát hiện, nhận diện các doanh nghiệp có VTTLTT, từ đó giám sát và thực hiện các biện pháp tácđộngmộtcách trực tiếp hoặc gián tiếp đếnhành vicủacác doanh nghiệp có VTTLTT theo hướngngăn cản họthực hiện những hành vilạmdụng gây tácđộngtiêu cựccho thịtrường, xâm phạmđến lợiích chung củanền kinhtế,Nhànước vàngười tiêu dùng. Trong số các công cụ mà nhànước sử dụng đểkiểm soát hành vi lạm dụng vi trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp thì công cụ pháp luậtđược coi là hiệu quả và quan trọng nhất. Bởi chỉ có pháp luật mới quy định cụ thểtrách nhiệm, nghĩavụ,những hành vi mà doanh nghiệp có VTTLTT không được làm và có những biện pháp chế tài mang tính cưỡng chế thi hành.

Pháp luậtvềkiểm soát hành vilạmdụng VTTLTT của doanh nghiệp là tổng thểcác quy phạm pháp luật do Nhà nướcban hành nhằm phát hiện, ngăn ngừa, loại bỏ và xử lý các hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp có

43

VTTLTT gây tác động hạn chế cạnh tranh.

Pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT là một bộ phận quan trọng củapháp luật cạnh tranh. Nguồn cơbảncủapháp luậtvềkiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT chính làđạoluật cạnh tranhcủacác quốc gia. Ngoài ra, tùy thuộc vào đặcđiểmriêng củamỗihệthống pháp luật mà nguồn củapháp luậtvềkiểm soát hành vilạmdụng VTTLTT còn là các văn bản pháp luật quốc gia khác liên quan (chẳng hạn như các luật chuyên ngành), thực tiễn xét xử (án lệ), các học thuyết

pháp lý….

Nguồn cơ bản của pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT của Việt Nam là Luật cạnh tranh (Luật cạnh tranh 2004, Luật cạnh tranh 2018) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Ngoài ra, hành vilạmdụng VTTLTTcủacác doanh nghiệp ở Việt Nam cũng được điều chỉnh bởi quy định của một số luật quy địnhvềhoạtđộng kinh doanh trong các lĩnh vựcđặcthù (Luậtđiện lực, Luật viễn thông, Luật đấu thầu, Luật sở hữu trí tuệ…).

Có nhiều cơ chế kiểm soát bằng pháp luật khác nhau. Chẳng hạn pháp luật đặt ra các quy định đểnhận diện các hành vi (nhận diện chủthể, nhận diện cách thức thực hiện hành vi) vàđặtra quyđịnh ngăncấmcácchủthểkhông đượcthực hiện các hành viđó,trong trường hợp các chủ thể vẫn thực hiện các hành viđã bị cấm thìbị xử lý vàphải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định. Pháp luật cũng có thểkiểm soát theo cách thứcmềmmỏng hơn là vẫn cho phép cácchủthểđượctiến hành những hành vi nhấtđịnh,tuy nhiên, việc thực hiện hành vi phảiđặtdướisựgiám sát và tuân theo các điều kiện chặt chẽ để đảm bảo không gây ra các tác động tiêu cực. Đối với cơ chế kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT, các quốc gia thường lựachọn theo phương thứcthứnhất,tứclà pháp luật nhận diện và ngăncấmcác doanh nghiệp có VTTLTT thực hiện các hành vibịcoi làlạmdụng. Do đó,đặc trưng cơ bản của pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT là cách tiếp cận từmặt trái.Tứclà pháp luật quy định vềnhững hành vi mà doanh nghiệp cóVTTLTT bị cấm thực hiện chứ không quy định về quyền và nghĩa vụ, tức là hướng dẫn các doanh nghiệp có VTTLTT được làm gì hay phải làm gì.

1.2.2. Mục tiêu kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của pháp luật cạnh tranh

Vớivai trò làmộtbộphận không tách rờicủachính sách và pháp luật cạnh tranh, pháp luậtvềkiểm soát hành vilạmdụng vịtrí thống lĩnh/độc quyền cũng hướng đến những mục tiêu chung của chính sách và pháp luật cạnh tranh.

44

Ở Mỹ, sự ra đời của chính sách chống độc quyền (antitrust policy) là sự phảnứng trướcsựhình thành các tập đoàn tư bản lũng đoạn (Trust) làm tập trung sức mạnh kinh tế, đe dọa sự tồn tại của các doanh nghiệp nhỏ. Chính các doanh nghiệp, nông dân, hộ buôn bán nhỏ đã vận động (lobbied), yêu cầu Chính phủ Mỹ phải cóhành động bảo vệhọ,cũng như bảo vệmụctiêu tốiđa hóalợiích cho ngườitiêu dùng [37, tr 18]. Một số học giả giải thích ý định của các nhà lập pháp HoaKỳ với mục tiêu duy nhất của luật chống độc quyền là phúc lợi của người tiêu dùng,với ýnghĩa là hiệu quảkinh tế[84, tr. 16], mộtsốkháclạicho rằng nâng cao hiệuquảkinh tếkhông phải làmụctiêu duy nhất của Luật chống độcquyền, thậm chí tăng cường hiệu quảkinh tếcòn không phải làmụctiêu chủyếu củaluật chống độc quyền mà mục tiêu chính của luật chống độc quyền Hoa Kỳ là ngăn cản các doanh nghiệp đạt được vàsử dụng quyền lực hay sức mạnh thị trường (market power) đểbuộcngườitiêu dùng phảitrảgiá cao hơn cho hàng hóa và dịch vụcủahọ.Các công ty đã sử dụng quyền lực thị trường một cách không ngay thẳng để tận thu lợi nhuận từ người tiêu dùng, hành vi này cần bị loại bỏ [85, tr. 58].

TạiLiên minh Châu Âu, nhiều quanđiểmcho rằng,sựrađờicủaLuật cạnh tranh EU chủ yếu là vì mục đích chính trị. Chính sách cạnh tranh EU là một công cụđểđạt được các mục tiêu của Cộng đồng chung, cơ bản là, việc tạo ra một khu vực thịtrường chung vớimứcsống cao cho tấtcảnhững ngườidân sống trong đó.Do đó,trong chính sách cạnh tranh củaEC, hai mục tiêu ban đầu đượcđặtra là:đảm bảo hộinhập thịtrường chung và nâng cao hiệu quảkinh tế.Phân tích sâu hơn, nhiều học giả đã chỉ ra, 102 TFEU không chỉ quy định vể vấn đề kiểm soát hành vi

lạmdụng củadoanh nghiệp có VTTLTT mà nó còn hướng tớiviệc thực thi các chính sách trên mộtphạm vi rộng hơn bao gồmchính sách công nghiệp, xã hội, chính trị. Trong nhiều vụ việc, các quy định được vận dụng để bảo vệ hoặc dành ưu ái cho doanh nghiệp nhỏ vàvừa, giữ thị trường mở, bảo vệ đối thủ cạnhtranh, bảo vệngườitiêu dùng hoặc cho phép việc liên kếtdoanh nghiệp đểkhai tháclợithếcông nghệ [80, tr. 27]. Tuy nhiên, từ gócđộthực tiễn, các mục tiêu này có thể mâu thuẫn, chẳng hạn, hội nhập thị trường, đơn giản như là sự cấm phân biệt giá cả giữa các quốc gia, có thểlàm triệt tiêu hiệu quảkinh tế.Từthực tiễn giải quyết cácvụviệc, có thể thấy mục tiêu của chính sách và pháp luật cạnh tranh nói chung và mục tiêu củapháp luậtvềkiểm soát hành vilạmdụng VTTLTT nói riêng ởEU không chỉlà bảo vệquá trình cạnh tranh (chống lại các hành vi HCCT,đảmbảosựcạnh tranh công bằng) mà còn bảo vệ kết quả của cạnh tranh (chống lại các hành vi gây

45

thiệt hại cho người tiêu dùng, làm tổn thất phúc lợi xã hội) [80, tr.4]. Rõ ràngđiều 102 TFEU quy định cấmcác hành vilạmdụng mang tính trụclợi(exploitative abuses – những hành vi gây tổn thất cho cácđốitác thương mại, khách hàng của doanh nghiệp thống lĩnh, thậm chí người tiêu dùng) cũng như các hành vi lạm dụng

mang tính loại bỏ (exclusionary abuses – những hành vi lạm dụng gây thiệt hại đến vị trí cạnh tranh của các đối thủ của doanh nghiệp thống lĩnh thị trường).

Điểm qua luật cạnh tranh của một số nước khác có thể thấy mục tiêu của pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT khá đa dạng. Gắn với việc bảo vệ lợi ích công, các quốc gia đặt ra các mục tiêu: (i) Duy trì cạnh tranh, (ii) Duy trì tự do kinh tế, (iii) Hiệu quả kinh tế, (iv) Đạt được sự hội nhập thị trường, (v)Tốiđa hóa tổng phúc lợi, (vi) Tối đa hóa thặng dư tiêu dùng. Bên cạnh đó các mục tiêu khác như: xóa bỏ quyền lực kinh tế, đảm bảo sự gia nhập thị trường dễ dàng, bảo vệphúc lợi của các doanh nghiệp nhỏ cũng được đề cập.

Có thể thấy, mặc dù có nhiều điểm khác nhau giữa các quốc gia, nhưng điểm thống nhất cơ bản giữa các quốc gia về mục tiêu của pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có VTTLTT là không chỉ bảo vệ quá trình mà còn bảo vệ cả kết quả của cạnh tranh. Trong đó, theo quan điểm cá nhân tác giả, bảo vệ (quá trình) cạnh tranh nên là mục tiêu trước hết và không thể bỏ sót, cho dù mục tiêu cuối cùng của pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vilạmdụng VTTLTT là gì. Cho dù mục tiêu cuối cùng là tăng cường phúc lợi xã hội hay thặng dư tiêu dùng thì pháp luậttrướchếtvẫn phải bảo vệcạnh tranh, dù cho đó mớilàcạnh tranh tiềm năng. Luật cạnh tranh không phải là công cụ chính sách, pháp luật duy nhất để đạt được các mục tiêu mong muốn khác nhau của xã hội. Đặc thù của luật cạnh tranh chính là các quy định liên quan đến hành vi HCCT, hay là các hành vi mang tính phản cạnh tranh. Dođó,khi xácđịnh cácmụctiêu còn lạicủaluật cạnh tranh cần cân nhắc và tính đến sự liên hệ giữa mục tiêu đó với mục tiêu bảo vệcạnh tranh (chống lại các hành vi phản cạnh tranh). Chẳng hạn về mục tiêu bảo vệphúc lợi của người tiêu dùng thì công cụ pháp lý đầu tiên phải là luật bảo vệ người tiêu dùng. Luật bảo vệngườitiêu dùng cóthểtấncông bấtcứhành vi nàochỉcần nó gây thiệthạicho lợiích củangườitiêu dùng,bởivìmụctiêu củaluật bảo vệngườitiêu dùng là bảo vệngườitiêu dùng. Luật cạnh tranh phải khác luậtbảovệngười tiêu dùng. Do đó, luật cạnh tranh không thể và không nên tấn công tất cả các hành vi có hại cho người tiêu dùng, trừ khi hành vi đó có tính HCCT và gây hại cho cạnh tranh.Ngượclại, việc bảo vệquá trình cạnh tranh chỉcó ýnghĩa khi mà nó

46

dẫn đến việc đạt được những kết quả mong đợi từ cạnh tranh. Nói cách khác, (quátrình) cạnh tranh không nên được bảo vệ chỉ vì lợi ích tự thân của chính nó, bởi vìnhư vậy sẽđồng nghĩavớibảovệđốithủcạnh tranh cho những lợiích riêng của chúng. Những phân tích này lý giải vì sao bảo vệ cạnh tranh phải bao gồm cả bảo vệquá trình cạnh tranh và bảo vệ các kết quả mà cạnh tranh mang lại. Luật cạnh tranh nên nhằm vào các hành vi bóp méo, cản trở cạnh tranh và do đó, chúng gây hại cho người tiêu dùng, hay tổng phúc lợi xã hội hay bất kỳ mục tiêu cuối cùng nào được vạch ra bởi chính sách của nhànước.

Suy cho cùng, Luật cạnh tranh là công cụ đểbảo vệ vàđem lại lợi ích cho nền kinh tế,xãhộivàngườitiêu dùng, thông qua việcđảmbảo cạnh tranh trên thịtrường bằng cách ngăn cản các hành vi hạn chế, cản trở, bóp méo cạnh tranh.

Mụctiêu củaluật cạnh tranh trong việc kiểm soát các hành vicủadoanh nghiệp có VTTLTT là ngăn chặn các doanh nghiệp này thực hiện các hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường đểhạn chế, loại bỏ cạnh tranh và do đó gây tổn thất cho phúclợixã hội, thiệthạichongườitiêu dùng. Nói cách khác, việc áp dụng pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT không nhằm xoá bỏ vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp màchỉloạibỏhành vilạmdụng VTTLTT đểtrụclợihoặcđểbóp méo cạnh tranh, tiêu diệt đối thủ cạnh tranh.

1.2.3. Các cách tiếp cận về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Ngày nay, việc sử dụng các phân tích, các công cụ kinh tế trong việc áp dụng luật cạnh tranh là một khuynh hướng chung và thật khó có thể tưởng tượngđược bất cứphân tích nào vềluật cạnh tranhlạitách rờivớithực tiễn củanềnkinh tế. Xu hướng này được các nhà kinh tế học và các nhà luật học gọi là “cách tiếp cận kinh tế”(economic – based approach) hoặc “cách tiếp cận dựatrên tácđộng củahành vi”

(effects – based approach). Tuy nhiên, cách tiếp cận ban đầu trong việc áp dụng luật cạnh tranh nói chung và các quy định về lạm dụng VTTLTT nói riêng lại là formed

–based approach. Cách tiếp cậnnày dẫnđếnviệc áp dụng nguyên tắcper se rule trong các quyđịnh vềlạmdụng VTTLTT cũng như các quyđịnhvềthỏa thuận HCCT trong pháp luật các nước. Trong hơn một thập niên trở lại đây, các quyđịnh cấm tuyệt đối của luật cạnh tranh các nước đối với các hành vi nhất định của doanh nghiệp bịcoi làlạmdụng (nguyên tắcper se rule), tuy chậm chạp, nhưng đãdần dần được thay thế bằng các quy định dựa trên nguyên tắc được gọi là rule of reason.

Tiếp cận dựa trên hình thức hành vi (formed based approach) và nguyên tắc vi phạmmặcnhiên (per se rules): Theo cách tiếp cận formed based approach, việc

47

đánh giámộthành vicủadoanh nghiệp thống lĩnh liệu có phải làlạmdụng hay không chủ yếu dựa trên việc xem xét hình thức (biểu hiện) của hành vi có phù hợp vớimô tảtrong quy địnhpháp luậtvềcác hành vilạmdụng VTTLTT hay không. Khi hành vi bị xem xét có cấu thành pháp lý phù hợp với hành vi bị coi là lạm dụng đượcmôtảtrong luật thì hành viđómặcnhiên bịcoi làlạmdụng VTTLTT màkhông cần phải xem xét hành vi đó có thực sự gây ra những tác động tiêu cực hay không (per se rules).

Nguyên tắcper se ruleđượcphát triển bởicáchọcgiảthuộc trường phái Harvard, bắt nguồn từ nghiên cứu của E.S. Mason và sinh viên của ông là J.S. Bain. Nhómđãthực hiện nghiên cứu thực nghiệm về các ngành công nghiệp củaMỹvà

rút ra được mô hình “S – C – P” (Structure – Conduct – Performance), theo đó, cấu trúc thị trường (Structure) sẽ xác định hành vi của doanh nghiệp (Conduct), và hành viđó sẽ quyết định hiệu quảthị trường (Performance) [33, tr. 22]. Nguyên tắc nàyđượcxây dựng dựatrên quan điểmlàthịtrường luôn vận hành theo cách thức không hoàn hảo, do đó, luật cạnh tranh nên đặt mục tiêu là bảo vệ các doanh nghiệp nhỏ và vừa trước các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường.

Mô hình S – C – P cho rằng cấu trúc của một ngành công nghiệp cụ thể sẽ dẫn đến các dạng hành vi cụ thể của doanh nghiệp. Cách mà họ hành động sẽ dẫn đến những hậu quả kinh tế nhất định có tác động trực tiếp đến thị trường. Theo logic này, các học giả của trường phái Harvard cho rằng, các thị trường có sự tập trung cao tạo rađộng lực mạnh mẽ cho các nhà độc quyền hoặc các doanh nghiệp chiphối đểthực hiện những hành vilạmdụng như là phương thứcđểcủng cố,mởrộng quyền lực thịtrường.Điều này đương nhiên sẽdẫn đến những biểu hiện tiêu cựccủathịtrường như sự phân biệt đối xử, giảm phúc lợi xã hội, hay tạo ra rào cản gia nhập thị

trường…Do đó,cần áp dụng per se ruleđểcấm tuyệt đối các hành vi lạm dụng của doanh nghiệp thống lĩnh thịtrường bởichúng là những công cụHCCT mạnh mẽ, mà không cần thiết phải chứng minh là liệu tácđộng HCCT có thựcsựxuất hiện hay không.

Việc vận dụng nguyên tắc tiếp cận dựa trên hình thức hành vi và nguyên tắc vi phạm mặc nhiên trong việc đánh giá các hành vi lạm dụng của doanh nghiệp thống lĩnh thị trường về cơ bản sẽ tăng cường sự đảm bảo pháp lý đồng thời giảm chi phíthực thi. Tuy nhiên, việc vận dụng này chỉ có ý nghĩa khi hành viđược đềcập chỉcó tác động một chiều, nói một cách khác nó gần như là luôn luôn hoặc ngược lại, hầu như không bao giờ gây ra các tác động tiêu cực đến kết quả của cạnh tranh như

48

gây thiệt hại cho người tiêu dùng hay làm giảm phúc lợi xã hội. Thực tế, hầu hết các loại hành vi được quy định trong luật cạnh tranh về lạm dụng vị trí thống lĩnh có thểcó cả tác động chống cạnh tranh và thúc đẩy cạnh tranh và do đó không nên coi làchúng đương nhiên vi phạm. Rõ ràng, chúng ta nên thận trọng khi can thiệp vào chức năng củathịtrườngtrừkhi có bằng chứng rõ ràng rằngthịtrườngđãkhông thực hiện tốt chức năng của nó.

Tiếp cận dựa trên tácđộng củahành vi (effects based approach) và nguyên tắc lập luận hợp lý (rule of reason)

Việc vận dụng nguyên tắc per se rule trong luật cạnh tranh lần đầu tiên bị chỉtrích bởicác nhà kinh tếhọccủađạihọcChicago vào những năm 1970. Các nhàkinh tế học của Đại học Chicago, mà dẫn đầu là G. Stigler, H. Demsetz, R. Bork, R. Posner và Y. Brozen đã đề xuất học thuyết mới. Mô hình của họ về chính sách cạnh tranh dựatrên quan điểmlà“sứmệnh củapháp luật cạnh tranh làđểduy trì, tăng cường và củng cốcácthểchếkinh tếvững mạnh đểbuộc các doanh nghiệp kinh doanh phải đáp ứng người tiêu dùng” [84, tr. 90]. Mục tiêu chính của mô hìnhđượcđềxuất là phúc lợi người tiêu dùng, đạt được thông qua việc thúc đẩy hiệu quả kinh tế.Nó đượcthực hiện đầy đủkhi các nguồn lựckinh tếcủaxãhộiđượcphân bổtheo cách có thể đáp ứng nhu cầu của hầu hết người tiêu dùng. Với xuất phát điểm như vậy, các học giả thuộc trường phái Chicago đã chỉ trích cách tiếp cận trước đây vềhành vilạmdụng VTTLTT.Họđãchứng minh rằng mộtsốhành vilạmdụng nhưng vẫn có tính thúc đẩy cạnh tranh, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trên thịtrường cụ thể. Chẳng hạn như hành vi bán kèm hay bán hàng theo góithường được các doanh nghiệp sử dụng để giảm chi phí sản xuất và phân phối, cũng như cải thiện chấtlượngsản phẩm. Dođó,việckếtluậnmộthành vi nàođócủadoanh nghiệp thống lĩnh là lạm dụng và vi phạm luật cạnh tranh cần phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, dựa trên những phân tích về tác động của hành viđối với quátrình cạnh tranh và kết quả của cạnh tranh. Nguyên tắc này được gọi là “rule of reason”. Tuy nhiên, quan điểmcủatrường phái Chicagovềrule of reason không ngay lập tức nhận được sự thừa nhận rộng rãi của các nhà kinh tế. Trường phái hậu Chicago (the

post–Chicago) cho rằng, trong mọitrường hợp, các hành vilạmdụng củadoanh nghiệp thống lĩnh vẫn là công cụ để chúng củng cố, tăng cường và mở rộng quyền lực thị trường, và vẫn phải được thừa nhận là một công cụ HCCT [37, tr. 400]. Qua nhiều tranh luận, các học giả đều thừa nhận rằng, bản thân một hành vilạm dụng cụ

49

thểcủadoanh nghiệp có VTTLTT có khảnăng tạo racảtácđộng tích cựcvà tácđộng tiêu cực. Vì vậy, đánh giá cuối cùng về hành vi phải phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụthể.Sựmởrộng ảnh hưởng củanguyên tắcrule of reason đồng thời với việc thừa nhận các mục tiêu mới của luật cạnh tranh là phúc lợi người tiêu dùng vàthúcđẩy hiệu quảkinh tếcàng tăng lên.Điều này đòihỏicáchệthống pháp luật phải xem xétlạicác phương pháp và tiêu chuẩn cạnh tranh dựatrên cácmụctiêu mới này. Hai sự thay đổi này cùng nhau tạo ra cách tiếp cận mới của luật cạnh tranh

được gọi là “cách tiếp cận dựa trên tính kinh tế” (economic – based approach) hoặc

“tiếp cận dựa trên tác động hànhvi”(effects – based approach). Phân tích dựa trên hiệu quả kinh tế đòi hỏi một cuộc điều tra sâu về kinh tế trong từng trườnghợp đểđánh giá tácđộng củahành vicủacác doanh nghiệp thống lĩnh trên thịtrường cụthể. Bằng việc tập trung vào hiệu quả của hành vi hơn là hình thức của hành vi, thìcác hành vi kinh doanh đa dạng của các doanh nghiệp thống lĩnh nhằm HCCT sẽ ít có khả năng bị coi là vi phạm luật cạnh tranh hơn. Cách tiếp cận mới này cũng đảm bảo rằng một số hành vi mang tính HCCT dựa trên cách tiếp cận hình thức (formed

– based approach) sẽ được đánh giá một cách khách quan. Bởi thực tiễn kinh doanh cho thấy, các hành vi kinh doanh cóthểcó những tácđộng khác nhau trong các hoàn cảnh khác nhau: chúng có thểthúcđẩy đổimới,cảitiến sảnphẩm trong một sốtrường hợp trong khilạicó thểbóp méo cạnh tranh trong các trường hợpkhác. Do đó,phương pháp tiếp cận dựatrên tácđộng củahành vi có thểphân tích các trường hợp này vớitrọng tâm vào tácđộng thựcsựcủachúng đốivớiphúc lợi ngườitiêu dùng và tăng hiệu quảkinh tếvềtổng thể, do đó có thểcung cấp các phân tích khách quan và chính xác nhất [82, tr. 14].

1.2.4. Cấu trúc pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Pháp luật cạnh tranhvềkiểm soát hành vilạmdụng VTTLTT,độcquyền các nước tập trung vào 4 vấn đề chính: (1) nhận diện doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có VTTLTT; (2) xácđịnh hành vilạmdụng VTTLTT; (3) quy định hậu quảpháp lý mà doanh nghiệp có VTTLTT phải gánh chịu khi thực hiện hành vi

lạm dụng bị pháp luật cấm; (4) trình tự, thủ tục xử lý đối với doanh nghiệp thực hiện hành vi lạm dụng VTTLTT.

1.2.4.1. Nhận diện doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường

Như trên đãphân tích, doanh nghiệp có VTTLTT là doanh nghiệp nắmgiữsứcmạnh thịtrường đáng kểcó khảnăng gây hạn chếcạnh tranh trên thịtrường

50

liên quan và hành xử một cách độc lập với đối thủ cạnh tranh, khách hàng và người tiêu dùng. Do đó,đểnhận diện doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp có VTTLTT cần xácđịnh đượcthịtrường liên quan và xácđịnh đượcsứcmạnhthịtrường màdoanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp đó nắm giữ.

a) Thị trường liên quan

Xác định thị trường liên quan được xem là bước đầu tiên, có vai trò quan trọng, mang tính quyếtđịnhđốivớimộtvụviệc HCCT nói chung vàvụviệclạmdụng VTTLTT nói riêng. Như trênđãphân tích, cáchệthống pháp luậtđềughi nhận, doanh nghiệp bị coi là có VTTLTT phải trên một thị trường liên quan xác định.

Trong vụ Volkswagen AG, Tòa án Châu Âu cho rằng:

“Định nghĩa đúngđắn của thị trườngliên quan là điều kiện tiên quyết cần thiết cho mọi phán đoán về hành vi được cho là HCCT, vì trước khi hành vilạm dụng vịtrí thống lĩnh đượcxác nhận, cần thiết phải thiết lập sựtồn tạicủadoanh nghiệp thống lĩnh trên mộtthịtrường nhấtđịnh,mà giảđịnh rằngmộtthịtrường nhưvậyđã được xác định”. [52, đoạn 230],

Quan điểm này cũng được ghi nhận trong các phán quyết của các Tòa án Hoa Kỳliên quan đến cácvụviệcvềchống độcquyền. Trong vụWalker Process Equipments Inc, Tòa án cho rằng

“Không cóđịnhnghĩavềthịtrường liên quan, không có cách nào đểđo lường khảnăng củadoanh nghiệp bịcáo buộc làm giảm hạn chếhay phá hủy cạnh tranh” [99, đoạn 174].

Từquan điểmkinhtế,việc xácđịnh thịtrường liên quan,vềcơ bản cóthểgiúp đánh giá tácđộng cạnh tranh củacác hành vi kinh doanh cũng như các giao dịch kinh tế mà doanh nghiệp có VTTLTT thực hiện, bao gồm cả xác định các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp. Từ gócđộpháp lý, thị trường liên quan có ý nghĩa trong việc đánh giá được sức mạnh thị trường mà doanh nghiệp có được, thông qua việc tính toán mứcthịphần củadoanh nghiệp. Hiển nhiên là,thịtrường liên quanđược xác định càng hẹp thì thị phần của doanh nghiệp đang được xem xét càng cao và do đó doanh nghiệp càng dễ bị xác định là thống lĩnh thị trường, bởi thị phần làmột yếu tố rất quan trọng trong việc xác định quyền lực thị trường và tác động gây HCCT đáng kể.

Thực chất, thị trường liên quan bao gồmviệc mô tảmộtloạt các sản phẩm và không gian địalý trong đó quyền lựcthịtrường có thểđượcthực hiện. Nói cách khác, xácđịnh thịtrường liên quan là xácđịnh phạm vi các sản phẩm thay thếgầncho mộtsản phẩmcụthểvà phạm vi không gian địalý trongđóngười

51

tiêu dùng sẽ dễ dàng chuyển sang các nhà cung cấp sản phẩm thay thế khác. Nhưvậy, khái niệm thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thịtrường địa lý liên quan.

Khái niệmthịtrường sản phẩm liên quan trong luật cạnh tranh cácnướccó điểmchung làthịtrường sản phẩmđượcxác định bởikhảnăng thay thếcho nhau của hàng hóa từ quan điểm của người mua. Nói cách khác, hàng hóa mà người mua coi là thay thế được cho nhau thường được coi là nằm trong cùng một thị trường sản phẩm liên quan, ngược lại, hàng hóa mà người mua không coi là hàng thay thế được cho nhau thường là ở các thị trường sản phẩm riêng biệt.

OECD đãđịnh nghĩathịtrường liên quan là“mộtsản phẩm hoặcmộtnhóm sản phẩm và một khu vực địa lý trong đó nó được bán sao cho, với giả định, công ty tối đa hóađược lợi nhuận,là người bán duy nhất các sản phẩm đó trong khu vực đócó thể tăng giá với một lượng nhỏ nhưng đáng kể và không nhất thời trên mức phổbiến hiện tại [75, mục 125, tr. 54- 55].

Thị trường sản phẩm liên quan đều được hiểu là một phần của thị trường liên quan áp dụng cho một sản phẩm cụ thể của doanh nghiệp bằng cách xác định tất cảcác sản phẩm thaythếhợplý cho sản phẩm và bằng cách xácđịnh xem các sản phẩm thay thếnày có giới hạn khảnăng tácđộng đến giá sản phẩmcủadoanh nghiệp hay không. Luật cạnh tranh các nước quy định các cách thứccụthểđểxácđịnh thịtrường sản phẩm liên quan.Mộtsốphương pháp xácđịnh thịtrường sản phẩm liên quan được quy định trong luật cạnh tranh của nhiều nước, gồm: Phân tích khả năng thay thế về cầu của sản phẩm dẫn đến hình thành một nhóm các sản phẩm mà theo đánh giá của người tiêu dùng đó là các sản phẩm có khả năng thay thế cho nhau; Phân tích khảnăng thay thếvềcung trong trường hợp ảnh hưởngcủakhảnăng thay thế về cung tương đương với khả năng thay thế về cầu liên quan đến tính hiệu quảvà kịp thời;sửdụng phép thửSSNIP hay còn gọilà phép thửnhàđộc quyền giả định.

Trong khiđó,thị trường địa lý liên quan được xem là một thị trường bao gồm khu vực trong đó các điều kiện cung cấp hàng hóa và cung ứng dịch vụ là đồng nhất rõ ràng và có thểđượcphân biệtvớicácđiều kiện cạnh tranh phổbiến trong các khu vực địa lý lân cận. Việc xác định thị trường địa lý liên quan tương tự như xácđịnh thị trường sản phẩm liên quan. Thị trường địa lý liên quan được xác định theo quan điểm của người mua về tính thay thế hoặc khả năng thay thế của các sản phẩmđược sản xuất hoặc bán tại các địa điểm khác nhau. Cụ thể, nếu người mua mua sản

52

phẩmđượcbán ởmộtđịađiểmchuyển sang mua sản phẩmđượcbán tạimộtđịađiểm khác đểđáp ứngvới mức tăng nhỏ nhưng đáng kể và không nhất thời về giáthì hai địa điểm đó được xác định là nằm trong cùng một thị trường địa lý liên quan đốivớisản phẩmđó.Tuy nhiên,nếuhọkhông coi sản phẩmđượcbán ởmộtđịađiểm khác là sản phẩm thay thế cho một sản phẩm được bán ở địa điểm kia, thì haiđịa điểm đó nằm ở các thị trường địa lý khác nhau đối với sản phẩm đó. Luật cạnh tranh các nước xác định giới hạn của thị trường địa lý liên quan dựa trên các yếu tốnhư chi phívậnchuyển, thuế quan, các rào cản thương mạikhác vàkểcảcác quy

định hành chính (như quy định về y tế và an toàn, các loại giấy phép…).

b) Xácđịnh sức mạnhthị trường của doanh nghiệp, nhóm doạnh nghiệp

Sau khi thị trường liên quan đã được xác định thì công việc khó khăn tiếp theo chính là xácđịnh liệu mộtdoanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp có nắmgiữVTTLTT, tức là có sức mạnh thịtrường đáng kểhay không. Trong cáchệthống pháp luật khác nhau, mức thị phần cao thường được coi là dấu hiệu cần nhưng chưađủđểkết luận vềVTTLTT của mộtdoanh nghiệp.Thịphầnđượchiểu là phần thịtrường mà doanh nghiệp chiếm lĩnh. Do đó,thịphần cao giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, tăng lợi nhuận nhưng cũng đồng thời là một dấu hiệu cực kỳ quan trọng để cho thấy lợi thế cạnh tranh, khả năng tác động đến thị trường của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp nắm được thị phần cao trong thời gian dài trên thị trường, không cần nhiều chứng cứ cũng có thể giả định rằng doanh nghiệp đó có vị trí thống lĩnh. Ngược lại,vớidoanh nghiệp có thịphần thấp, CQCT cần thu thập thêm nhiều chứng cứ để có thể kết luận chắc chắn về vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp. Thay vì đưa ra mức thị phần cao cố định để khẳng định chắc chắn về sự tồn tại của doanh nghiệp thống lĩnh thị trường. Một số hệ thống pháp luật mà điển hình là EU thiết lập mức thị phần chuẩn mà cao hơn hay thấp hơn mức thị phần theo luật định sẽ cho giảđịnh về việc tồn tại hay không sức mạnh thị trường đáng kể của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, vấn đề phương pháp xác định thị phần của doanh nghiệp cũng không hoàn toàn thống nhất giữa các hệthống pháp luật.Thịphần có thểđượcđo lườngbằng doanh sốhiện tại, doanh sốtrên cảquá trình trong quákhứcủadoanh nghiệp hay thậm chí là khả năng chiếm lĩnh thị trường trong tương lai của doanh nghiệp.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Kiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay Kiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay Kiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay Kiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay Kiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay Kiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay Kiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay Kiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay Kiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay Kiểm soát hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *