Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Lịch sử loài ngƣời đã chứng minh thuế có vai trò vô cùng quan trọngđối với đời sống xã hội và sựphát triển kinhtếcủa một quốc gia. Thuế chính là công cụhiệu quả và chủyếu để tạo lập nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc,cũng nhƣđiều tiết nền kinh tế, góp phần bảo đảm công bằng xã hội. Trong hệ thống thuế của mỗi quốc gia, thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là loại thuế trực thu phổbiến và cơ bản trong các nền kinh tế thị trƣờng. Hiện nay, hơn 180 nƣớc trên thế giới đã áp dụng thuế TNCN, tỷ trọng thuế TNCN chiếm khoảng 13-40% tổng số thu ngân sách tùy theo quan điểm đánh thuếcủatừng nƣớc. Chẳng hạnnhƣởMỹ,Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức là 30-40%; các nƣớc trong khối ASEAN nhƣ Thái Lan, Malaysia,

Phillippines…chiếm khoảng 13-14%. Chính sách thuế thu nhập cá nhân là chính sách thuế có nội dung phức tạp nhất trong hệ thống thuế và vấn đề quản lý thuế thu nhập cá nhân đƣợc coi là vấn đề thời sự ở mọi quốc gia. Bởi lẽ, nó không chỉ gắn với những thay đổi của chính sách thuế mà còn gắn với môi trƣờng chính trị, kinh

tế, xã hội mà Luật thuế đƣợc triển khai thực hiện.

Chính vì vậy, pháp luật về thuế TNCN và quản lý thuế TNCN luôn đƣợc đặc biệt chú trọng ởViệt Nam. Từnăm 1990 là thời điểmbắt đầu công cuộc cải cách toàn diện hệthống chính sách thuế Việt Nam. Trong đó, chính sách thuế TNCN trong giai đoạn này đƣợc điều chỉnh bởi các Luật thuế thu nhập doanh nghiệp để thu thuế của các hộ cho thuê nhà, phƣơng tiện vận tải, cá nhân hành nghề độc lập; Luật thuế Chuyển quyền sử dụng đất đối với cá nhân có thu nhập từ hoạt động chuyển quyềnsửdụngđấtvà Pháp lệnh thuế thu nhậpđốivớingƣờicó thu nhập cao. Thực tế này tác động không nhỏ đến công tác quản lý thuế TNCN bởi cán bộ thuếphải nắm rấtvững các quiđịnhcủa các Luật và Pháp lệnh trênvềcách thức thu thuế TNCN. Luật Quản lý thuế năm 2006 ra đời đánh dấu sự hoàn thiện bƣớc đầu trong công tác quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNCN nói riêng. Tuy nhiên, Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 đƣợc ban hành vàcó hiệu lực thi hành từ 1/1/2009 đƣợc xây dựng trên cơ sở Pháp lệnh số35/2001/PL-UBTVQH10 (ngày 19/5/2001) về thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao. Qua gần 10 năm thực hiện, Luật đãđƣợc sửa đổi, bổ sungmột số điều vào năm 2012 và 2014 nhằm tiếptụchoàn thiện pháp luậtvềThuế thu nhập cánhân với mục đích đảm bảo phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc,đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cƣ trong xã hội, đảm bảođộngviênmộtcáchhợplý thu nhậpcủadân cƣ, khuyến khíchmọicánhân ra sức lao động, sản xuất kinh doanh, gia tăng thu nhập làm giàu chính đáng. Luật Quản lý thuế với vai trò đảm bảo thực thi có hiệu quả các chính sách thuế nói chung và chính sách thuế TNCN nói riêng cũng đƣợc sửa đổi, bổ sung vào những năm 2012, 2014, 2016.

Tuy có nhiều tiến bộ, song qua quá trình thực hiện, Luật thuế TNCNđã bộc lộ những bất cập: cơ quan thuế không có khả năng kiểm soát tốt thu nhập chịu thuếcủa đối tƣợng nộp thuế thu nhập cá nhân, nhiều qui định không đảmbảo sựbìnhđẳng về nghĩa vụ thuế TNCN, qui định khởi điểm chịu thuế chƣa phù hợp với điều

kiện kinh tế- xã hội của đất nƣớc…dẫn đến có nhiều trƣờng hợp tránh thuế, trốn thuế xảy ra. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó từ nội dung pháp luật quản lý thuế nói chung, quản lý thuế TNCN nói riêng. Những hạn chế, bất cập từ Luật Quản lý thuế TNCN nhƣ việc ban hành chính sách còn chồng chéo, tổ chức thực hiện chính sách thuế chƣa hiệu quả, bộmáy quản lý cồng kềnh và kiểm soát thực hiện chính sách, tuyên truyền chính sách thuế thu nhập cá nhân đến các cánhân, tổchức trong xã hội là chƣa đạt hiệu quảcao, công tác quản lý thuế TNCN còn tình trạng vừa khó thực hiện, khó quản lý, khó kiểm tra, giám sát, chƣa thực sựphù hợp với các chuẩn mực quản lý thuế quốc tế. Do đó, cần xây dựng một hệthống pháp luật quản lý thuế TNCN hiệu quả, công bằng, minh bạch và hiệu lực điều chỉnh cao trên thực tế.Nhận thức đƣợc vấn đềnày, ngày 17/05/2011, Thủ

tƣớng Chính phủban hành quyết định số732/QĐ-TTg vềphê duyệt chƣơng trình cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 đã thể hiện quan điểm: việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật thuế nói chung và pháp luật quản lý thuế nói riêng luôn làmối quan tâm hàng đầu của Đảngvà Nhà nƣớc.Hoàn thiện pháp luật thuế, pháp luật quản lý thuế TNCN đƣợc thực hiện thƣờng xuyên và liên tục để đảm bảo tính phù hợp và khảthi của lĩnh vực pháp luật này đáp ứngyêu cầu hội nhập kinh tếquốc tế. Trên cơ sở đánh giá một cách toàn diện, khách quan về thực trạng thi hành pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam, từ đó xác định phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam, tôi lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay” làm nội dung nghiên cứu cho Luận án tiến sĩ.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn đối với hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong mối tƣơng quan so sánh với pháp luật của các quốc gia trên thế giới về thuế TNCN và quản lý thuế TNCN, từđó kiến nghị những giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các quyđịnh pháp luật Việt Nam về quản lý thuế thu nhập cá nhân.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt đƣợc mục đích trên, đề tài sẽ tập trung vào các nhiệm vụ cơ bản sau đây:

– Thứ nhất, hệ thống hóa, xây dựng và luận giải một số vấn đề lý luận cơ bản vềquản lý thuế TNCN và hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế TNCN.

– Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật quản lý thuế TNCN ở Việt Namdƣới góc độđƣợc hoàn thiện liên tục từkhi có Luật Quản lý thuếđƣợc ban hành, có hiệu lực từ 01.07.2007 đến nay.

– Thứ ba, xây dựng và luận giải các tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện của pháp luật quản lý thuế TNCN của Việt Nam.

– Thứ tƣ, đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam .

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

– Nghiên cứu tổng quát các lý thuyết về quản lý thuế TNCN, những quy định của pháp luật vềquản lý thuế TNCN củaViệt Namđặt trong mối tƣơng quan so sánh với qui định pháp luật này của một sốquốc gia trên thếgiới cùng tình hình thực hiện pháp luật về quản lý thuế TNCN ở Việt Nam.

– Luận án đồng thời nghiên cứu một số lĩnh vực pháp luật khác mà ở đó cá nhân có nguồn thu thuộc đối tƣợng chịu thuế TNCN nhƣ pháp luật vềchuyển

nhƣợng bất động sản, pháp luật về chuyển nhƣợng chứng khoán… nhƣng trọng tâm là đi sâu vào nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế TNCN.

3.2. Về phạm vi nghiên cứu.

Luận án đi sâu vào nghiên cứu bộphận pháp luật quản lý thuế thu nhập cánhân ở Việt Nam hiện nay, cụ thể:

– Về nội dung: Luận án nghiên cứu hệ thống pháp luật quản lý thuế TNCN ởViệt Nam và thực trạng thi hành các quy định này trên thực tế, cùng quá trình hoàn thiện các qui định pháp luật trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó, khái niệm pháp luật quản lý thuế và pháp luật quản lý thuế TNCN đƣợc giới hạn.

-Vềkhông gian: Luận án nghiên cứu hệthống pháp luật vềquản lý thuếTNCN ở Việt Nam đặt trong mối tƣơng quan so sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về thuế TNCN và quản lý thuế TNCN.

– Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu các quiđịnhtừ khi Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 đƣợc ban hành và có hiệu lực ngày 01/07/2007 đến nay.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Luận án đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành kinh tế – luật – quản lý hành chính và tâm lý. Theo đó, phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để

nghiên cứu các vấn đề khái niệm, đặc điểm quản lý thuế TNCN, các yếu tố chi phối đến hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân; Khái niệm, đặc điểm pháp luật thuế TNCN, thực trạng pháp luật quản lý thuế TNCN; Biện pháp quản lý thuếvà những nhân tốảnh hƣởng đến pháp luật thuế TNCN. Phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành đã cung cấp kết quả nghiên cứu khoa học và toàn diện về sự hoàn thiện của pháp luật quản lý thuế TNCN ở Việt Nam hiện nay.

Luận án đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luận biện chứng duy vật vàduyvậtlịch sửvềnhànƣớc và pháp luật. Theo đó, Luận ánkếthợp, sửdụng các

phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể là: phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, phƣơng pháp so sánh, thống kê để giải quyết nội dung khoa học của đề tài.

Phƣơng pháp phân tích, thống kê đƣợc sửdụng trong chƣơng 1 đểlàm rõtình hình nghiên cứu vềhoàn thiện quản lý thuế TNCN trong nƣớc có liên hệvới

nƣớc ngoài. Những vấn đềđã đƣợc nghiên cứu đầyđủ, sâu sắcđƣợc tác giảtiếp thu; những vấn đề đƣợc nghiên cứu nhƣng chƣa sâu hay những vấn đề còn bỏ ngỏ, tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu.

Phƣơng pháp phân tích, so sánh đƣợc sử dụng nhiều trong chƣơng 2 để làm rõnhững khái niệm, phạm trù mà Luận án sử dụng từ đó rút ra kết luận khoa học làm cơ sởcho việc đánh giá thực trạng thi hành pháp luật quản lý thuế TNCN và xácđịnh phƣơng hƣớng, giải pháp cho việc tiếp tục hoàn thiện những qui định này ở Việt Nam.

Phƣơng pháp phân tích, thống kê: nghiên cứu thực tiễn thi hành luật quản lý thuế TNCN gắn với các số liệu đƣợc thống kê, thu thập về thuế TNCN đƣợc động viên vào ngân sách nhà nƣớc. Trên cơ sở đó, phân tích tính toàn diện, thống nhất, phù hợp, hiệu quả, công khai, minh bạch và bình đẳng trong các quy định của pháp luật quản lý thuế TNCN gắn với Luật thuế TNCN. Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng chủyếutrong chƣơng 3 của Luận án đểlàm rõ thực trạng thi hành qua quá trình hoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCN Việt Nam.

Phƣơng pháp so sánh: Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam và các quy định của pháp luật nƣớc ngoài về thuế TNCN, quản lý thuế TNCN, qua đóhọc hỏi kinh nghiệm và rút ra những bài học để tiếp tục hoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCN phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia mình, trên cơ sở đónâng cao hiệu quả quản lý thuế TNCN ở Việt Nam.

Phƣơng pháp tổng hợp đƣợc sử dụng ở cuối chƣơng 2, chƣơng 3 và một sốmục chƣơng 4 của Luận án nhằm rút rakếtluận và đềxuất các nhóm giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế TNCN ở Việt Nam hiện nay.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận về quản lý thuế TNCN, pháp luật quản lý thuế TNCN và các tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện của pháp luật quản lý thuế TNCN ởViệt Nam hiện nay.Cụthể, Luận án đã phân tích, luận giải và đƣa ra định nghĩa quản lý thuế TNCN, pháp luật quản lý thuếTNCN và bộ tiêu chí gồm: tính toàn diện; tính đồng bộ, thống nhất; tính phù hợp, khảthi; tính ổnđinh; tính công khai, minh bạch, bìnhđẳng và tính đơn giản, dễhiểu, dễtiếp cận làm căn cứđánh giásựhoàn thiện của pháp luật quản lý thuếTNCN ở Việt Nam hiện nay.

Luận án đã làm rõ các yếu tố chi phối đến nội dung pháp luật quản lý thuế TNCNở Việt Nam. Đó là : Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực tài chính ngân hàng; đặc thùcủa phƣơng thức thanh toán trong nền kinh tế và các chính sách kinh tế của nhà nƣớc; pháp luật về nội dung của sắc thuế TNCN và môi trƣờng pháp lý nói chung; cơ chế quản lý thuế đƣợc nhà nƣớc lựa chọn áp dụng; phƣơng pháp quản lý đƣợc Nhà nƣớc lựa chọn và ý thức pháp luật, trách nhiệm của ngƣời nộp thuế (NNT); trình độ quản lý của cơ quan thuế cùngbộmáy, qui trình quản lý thuế, điềukiệnvậtchất,kỹthuật cùngkhảnăng kiểm soát thu nhập của cơ quan thuế.

Luận án đƣa ra kết luận khoa học về thực trạng pháp luật quản lý thuế TNCN gắn với quá trình hoàn thiện các qui định nàytừkhi Luật Quản lý thuếđƣợc ban hành, có hiệu lực ngày 01/07/2017 cho đến nay, luận giải về nguyên nhân của thực trạng cùng với những đánh giá về sự hoàn thiện của pháp luật quản lý thuế TNCNđểlàm căn cứcho việc xây dựng giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật quản lýthuế TNCN của Việt Nam.

Luận án đã đƣa ra một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật quản lý thuếTNCN dựa trên các căn cứ khoa học và thực tiễn. Đó là hoàn thiện pháp luật về xác định nghĩa vụ thuế TNCN, pháp luật về tổ chức thi hành nghĩa vụ thuế TNCN cùng các giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật quản lý thuế TNCN

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án đã nghiên cứu có tính hệ thống và toàn diện về hoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCNởViệt Nam hiện nay. Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần bổ sung và phát triển lý luận về hoàn thiện pháp luật thuế nói chung và pháp luật quản lý thuế TNCN nói riêng.

Luận án là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy khoa học pháp lý góp phần cho việc hoạch định chính sách, phục vụ cho hoạt động thực tiễn trong các cơ quan thi hành pháp luật và các đối tƣợng thực hiện nghĩa vụ thuế TNCN.

7. Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mởđầu, kết luận, tài liệu tham khảo, Luận án đƣợc kết cấu 4

chƣơng, có kết luận cho từng chƣơng, cụ thể:

Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đềliên quanđến đềtài nghiên cứu

Chƣơng 2. Những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân và các tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân.

Chƣơng 3. Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay.

Chƣơng 4. Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam.

Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay
Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. 1.1.1. Tình hình nghiên cứu về quản lý thuế thu nhập cá nhân

1.1.2. Tình hình nghiên cứu về pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân

1.1.3. Vấn đề hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân

18

1.2. Đánh giá tổng quan nghiên cứu đề tài

Nhìn chung, các vấn đề về thuế TNCN, quản lý thuế TNCN, pháp luật quản lý thuế TNCN đã đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều góc độ, khía cạnh với mức độ sâu sắc khác nhau.

1.2.1. Đối với nhóm vấn đề lý luận về thuế TNCN và quản lý thuế TNCN:

Các công trình trênđãnghiêncứuđƣợcthực trạng quản lý nhànƣớcđốivới thuế TNCNởViệt Nam.Cụthểgồm(i) thực trạngtổchức bộmáy quản lý thuếTNCN; (ii) thực trạng công tác quản lý thu thuế TNCN; (iii) thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế TNCN. Trên cơ sở đó, các tác giả đã đánh giá những kết quả đạt đƣợc cũng nhƣ nhữnghạn chếvà nguyên nhân của các hạn chế. Các nội dung nghiên cứu này đã đƣợc các tác giả Nguyễn Hoàng, Lý Phƣơng Duyên, Trần Thị Tuyết và Nguyễn Thị Thu Thủy phân tích trong luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ của mình. Các công trình nghiên cứu đã đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với thuế TNCN. Đó là các nhóm giải pháp về hoàn thiện chính sách thuế TNCN và nhóm giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện quản lý thuế TNCN (trong luận văn thạc sĩ kinhtếcủa tác giảTrầnThịTuyết, NguyễnThịThu Thủy). Riêng tácgiảNguyễn Hoàng đƣa thêm giải pháp về thanh tra, kiểm tra thuế TNCN [30, tr 14.15].

Bên cạnh đó, một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý thuế TNCN chƣa

đƣợc nghiên cứu đầy đủ nhƣ:

Thứ nhất, các công trình chƣa phân tíchđồngbộ hệ thống quản lý thuế TNCN gồmcác yếu tốcấu thành: cơ chếquản lý thuế TNCN; mô hình tổchức bộmáy, nghiệp vụ quản lý thuế TNCN và biện pháp quản lý thuế TNCN.

Thứ hai, thực trạng hoạt động quản lý thuế TNCN đều đƣợc nghiên cứu nhƣng các tác giả mới chỉ đánh giá đến hết năm 2012. Từ đó đến nay, với những thay đổi của tình hình kinh tế – xã hội cũng nhƣ yêu cầu của hội nhập đòi hỏi các chính sách pháp luật thuế TNCN cần đƣợc thay đổi cho phù hợp và hoàn thiện, những nội dung này cần tiếp tục nghiên cứu.

1.2.2. Các nghiên cứu về pháp luật quản lý thuế TNCN và hoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCN

Nhóm công trình này đƣa ra khái niệm, vai trò, các bộ phận cấu thành của quan hệ pháp luật quản lý thuế TNCN với đầy đủ quyền và nghĩa vụ chủ chủ thể tham gia quanhệpháp luật này.Nộidung pháp luật quản lý thuế TNCNđãđƣợccác công

19

trình của các tác giả Trần Trung Nhân, Vũ Văn Cƣơng, Tạ Minh Hảo, Trần Thị Thu

Huyền…đề cập đầy đủ[14],[39],[61].

Tuy nhiên, phần lớn các công trình này đã phân tích và đánh giá đƣợc thực trạng pháp luật và thực trạng thi hành pháp luậtvềquản lý thuế TNCNởViệt Namđƣợc luận giải và đánh giá ở những năm 2006 (luận án của tác giả Trần Trung Nhân), năm 2010 (luận án của tác giả Vũ Văn Cƣơng), năm 2011 (luận văn thạc sĩ của tác giả TạMinh Hảo), năm 2015 (luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Thu Huyền). Những luận giải và đánh giá này sẽ đƣợc tiếp thu và sử dụng làm cơ sở NCS tiếp tục nghiên cứu sâu, đầy đủ và cập nhật hơn trong luận án này.

Tuy nhiên, các qui định của pháp luật quản lý thuế nói chung, pháp luật quản lý thuế TNCN nói riêng đã có sự sửa đổi, bổ sung mới phù hợp với điều kiện kinhtế xãhộivà xuhƣớngcảicách thuế hiệnđạicủaViệt Nam. Hiện nay, pháp luậtvềthuếTNCN, pháp luật quản lý thuế đãđƣợc sửa đổi,bổ sung vào các năm 2014, 2016 nên vấn đề mới về quản lý thuế TNCN cần tiếp tục nghiên cứu và luận giải sâu sắc.

1.2.3. Những vấn đề được luận án tiếp tục nghiên cứu

Từ những đánh giá trên, với đề tài “Hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế TNCN ởViệt Nam hiện nay” Luận án tiếp tục nghiên cứu, làm rõ và sâu sắc hơn những vấn đề sau:

Thứ nhất, Luận án sẽ tập trung làm rõ và sâu sắc hơn các khái niệm: quản lýthuế, pháp luật quản lý thuế và pháp luật quản lý thuế TNCN; đồng thời Luận án sẽphân tích các yếu tốchi phối đến pháp luật quản lý thuế TNCN trong mối tƣơng quan với nội dung tƣơng ứng của pháp luật thuế TNCN và quản lý thuế TNCN của một số nƣớc trong khu vực và trên thế giới. Đây cũng là những yếu tố chi phối vàảnh hƣởng đến hoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCN.

Thứhai, Luận án xây dựng khái niệm và phân tíchmộtsố đặctrƣng cơ bản của hoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCN, đồng thời tập trung lựa chọn, phân tích và luận giải rõ ràng những tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện của pháp luật quản lý thuế TNCN.

Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu, luận giải quá trình hoàn thiện pháp luật quản lýthuế TNCN qua cáclầnsửađổi,bổsung Luật Quản lý thuế, Luận ánsẽđánh giátừngnộidung pháp luật quản lý thuế TNCN hiện hành cũng nhƣ đánh giá tổngthểpháp luật thuế TNCN căn cứ vào các tiêu chí giá đánh sự hoàn thiện lĩnh vực này.

Thứtư, Luận án sẽđềxuất các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCN của Việt Nam.

20

1.3. Cơ sở lý thuyết và câu hỏi nghiên cứu 1.3.1. Lý thuyết nghiên cứu

Luận án đã sử dụng cơ sở lý thuyết làm tiền đề nghiên cứu của mình:

Thứ nhất, lý thuyết về thuế:

– Lý thuyết thuế – trao đổi: Lý thuyết thuế trao đổi hay còn gọi là thuế – bảo hiểm hay thuế -đốixứng. Lý thuyết này cho rằng thuế là cái giá màngƣờinộp thuế phải trả để đổi lấy sự an toàn và các dịchvụ màNhà nƣớc đem lại cho họ [9, tr328-329]. Từ thế kỷ XIX đến nay, trào lƣu tƣ tƣởng tự do đã phát triển lý thuyết thuế – trao đổi trở thành một trong những tƣ tƣởng chủ đạo trong việc tổ chức hệthống thuế.

– Lý thuyết thuế – đoàn kết: Lý thuyết này phát triển vào cuối thếkỷXIX. Theo đó, lý thuyết này cho rằng cần phải tính đến khả năng đóng góp của ngƣời nộp thuế và thiết lập tính lũy tiến của thuế [9, tr 335].

Thứ hai, lý thuyết về quản lý thuế:

– Lý thuyết quản lý thuế truyền thống: theo đó, Nhà nƣớc sử dụng biện pháp

hành chính – kinh tế để quản lý thuế thu nhập cá nhân.

– Lý thuyết quản lý thuế hiện đại hay còn gọi là quản lý rủi ro tuân thủ: theo lý thuyết này, Nhà nƣớc thực hiện quản lý thuế nhắm vào mục tiêu tăng số thu thuế theo qui định của pháp luật nhƣng vẫn đảm bảo sự tin cậy của cộng đồng [117, tr10].

Thứ ba, lý thuyết về hoàn thiện pháp luật:

Các nhà nghiên cứu và các nhà khoa học pháp lý đã đƣa ra những tiêu chínhằm đánh giá sự hoàn thiện pháp luật [33, tr50-51], [104]. Trên cơ sở đặc điểm và vai trò của thuế TNCN, Luận án đã lựa chọn, phân tích, luận giải và xây dựng các tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCN ở Việt Nam. .

1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Luận án đƣợc triển khai với những câu hỏi và giảthuyết nghiên cứu cụthể

nhƣ sau:

(i) Về khía cạnh lý luận:

– Câu hỏinghiên cứu: quản lý thuế TNCN có khác vớiquản lý các sắc thuếkhác không và hệ thống quản lý thuế TNCN có những yếu tố cơ bản nào?

21

Giả thuyết nghiên cứu là: hiện nay những yếu tố cơ bản của hệ thống quản lýTNCN chƣa đƣợc hiểu một cáchđầyđủvà nhất quán. Kết quảnghiên cứu (dựkiến): Đƣa ra cách hiểu đầy đủ, rõ ràng về vấn đề này.

– Câu hỏi nghiên cứu: pháp luật quản lý thuế TNCN là gì? Pháp luật quản lý thuế TNCN có nội dung cụthểlà gì? Pháp luật thuế TNCN chịu sựtác động của những nhân tố nào? Những tiêu chí nào đƣợc sử dụng để đánh giá sự hoàn thiện của pháp luật quản lý thuế TNCN?

Giả thuyết nghiên cứu: hiện nay khái niệm, nội dung, những nhântố ảnh hƣởng đếnpháp luật quản lý thuế TNCN và các tiêu chí đánh giásựhoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCN chƣađƣợc nghiêncứuđầyđủ.Kết quảnghiên cứu(dựkiến): khẳng định đầy đủ khái niệm, nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật quản lý thuếTNCN, các tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện của pháp luật quản lý thuế TNCN.

(ii) Về khía cạnh pháp luật thực định:

– Câu hỏi nghiên cứu: thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ởViệt Nam hiện nay? Để đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân cần dựa trên những tiêu chí nào?

Giả thuyết nghiên cứu: Pháp luật quản lý thuế TNCN ở Việt Nam đã có nhiều qui định phù hợp với thực tiễn qua từng thời kỳ. Tuy nhiên còn nhiều qui định của pháp luật thuế TNCN chƣa hoàn thiện. Kết quả nghiên cứu (dự định): chỉ rađầy đủcác quiđịnhchƣa đáp ứng đƣợc nhóm các tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện của pháp luật quản lý thuế TNCN.

(iii) Đề xuất, kiến nghị

– Câu hỏi nghiên cứu: những định hƣớng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCN ở Việt Nam?

Giả thuyết nghiên cứu: Hiện nay, nhiều qui định pháp luật thuế TNCN và pháp luật quản lý thuế TNCN chƣa phù hợp với nhóm tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện của hệthống pháp luật này. Kết quảnghiên cứu (dựkiến): đƣa ra đƣợc quan điểm,

phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCN, qui định pháp luật trong lĩnh vực khác sao cho đồng bộvới pháp luật quản lý thuế TNCN. Bên cạnh đó, các biện pháp giám sát và bảo đảm thực thi có hiệu quả các qui định này cùng đƣợc đƣa ra.

Hƣớng tiếp cận của luận án:

22

– Trên cơ sởtập hợp, hệthống các công trình nghiên cứu pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân và hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cánhânởViệt Nam đã đƣợc công bố, nghiên cứu sinhsẽvàkếthừa những nội dung có giá trị khoa học của các nhà nghiên cứu trƣớc; đồng thời phân tích, luận giải vấn đềlý luận vềquản lý thuế TNCN; đánh giá sựhoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCN qua các lần sửa đổi, bổ sung; đồng thời

đƣa ra quan điểm của mình về các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu đã đềra trong Luận án này.

– Bên cạnh đó, nghiên cứu sinh căn cứ vào thực tiễn thi hành pháp luật quản lýthuế TNCN gắn với thực hiện nghĩa vụ thuế TNCN của NNT cùng những phản hồi về mặt tích cực và hạn chế của pháp luật quản lý thuế TNCN của các chủthểtham gia quan hệpháp luật này, tác giảkiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCN.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1.

Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân luônlà vấn đề thời sự của mỗi quốc gia, vấn đềnày càng đƣợc chú trọng hơn trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng. Bên cạnh đó, Việt Nam đã và đang thực hiện cam kếtquốctếvềcắtgiảm thuế quan dẫn đến nguồn thu thuế gián thu sụt giảm mạnh, vì vậynguồn thu từthuế TNCN ngày càng chiếmtỷtrọng cao trong

tổng thu NSNN và có sự tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế – xã hội của

nƣớc ta. Do đó cho đến nay ở Việt Nam, những vấn đề về pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhânđã đƣợcnghiên cứu ởcác khía cạnhvớimức độsâu sắc khác nhau

nhƣng kết quảnghiên cứu chủyếutập trung trong một sốcông trình nghiên cứu

nhƣ: đềtài nghiên cứukhoa học cấp trƣờng, luận văn thạc sĩ và các bài báo. Tuy nhiên, vấn đề hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân chƣa đƣợc nghiên cứu đầy đủ, sâu sắc ở cấp độ luận án tiến sĩ. Với cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCN đƣợc các công trình khoa học nghiên cứu, phân tích, đánh giá và kiến nghị hoàn thiện là tiền đềquan trọng đểtác giảkếthừa. Những vấn đề còn bỏ ngỏ tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu và kiến nghị hoàn thiện ởcác chƣơng tiếp theo của luận án.

23

CHƢƠNG 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP

CÁ NHÂN VÀ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ SỰ HOÀN THIỆN

PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

2.1. Những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân 2.1.1. Lý luận về quản lý thuế thu nhập cá nhân

2.1.1.1. Khái niệm quản lý thuế thu nhập cá nhân

Thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh trên thu nhập của các cá nhân trong từng thời kỳ. Kểtừkhi đƣợc áp dụnglầnđầu tiên năm 1799 tại nƣớc Anh, thuếTNCN đã có những bƣớc phát triển vững chắc và trở thành sắc thuế quan trọng, giữvịtrí trung tâm trong hệthống thuế tại nhiều quốc gia trên thếgiới với hơn 180 quốc gia áp dụng loại thuế này. Tại nhiều nƣớc phát triển, thuế TNCN là sắc thuế cótỷ trọng thu lớn nhất, là công cụ hữu hiệu để điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân

cƣ có thu nhập khác nhau. Chính vì vậy, thuế TNCN luôn đƣợc suy tôn là “vua của các loại thuế” hay cònđƣợc mệnhdanh là “sắc thuế tốt nhất”,là loại thuế có tính công bằng nhất. Đặt trong mối tƣơng quan với các loại thuế gián thu, thuế TNCN cónhững đặc điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, thuế TNCN là thuế trực thu và dễ gây phản ứng cho NNT. Đối tƣợng nộpthuế TNCN đồngthời làđốitƣợngchịu thuế, hơnnữaphạm viđiều chỉnh của pháp luật thuế TNCN rất rộng, họ trực tiếp phải thực hiện nghĩa vụ thuế nên sức ảnh

hƣởng của thuế TNCN đối với nền kinh tế và đối với tháiđộ của dâncƣ là rất lớn. Chính vì vậy, mỗi khi Chính phủ có những thay đổi trong chính sách thuế TNCN nhƣđiềuchỉnh thuế suất hay thayđổi phạmvi các đối tƣợng nộp thuế, miễn thuế, giảm

thuế… đều gây ra những phản ứng tức thì, mạnh mẽ trong dân chúng – những ngƣời bị khấu trừ một phần lợi ích vật chất trên chính kết quả lao động của mình.

Thứ hai, thuế TNCN là loại thuế có tính lũy tiến cao. Theo đó, thuế TNCN là loại thuế đƣợc áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần, có nghĩa là ứng với mỗi bậc thuế(haymỗimứcthu nhập) làmộtmứcthuế suất tƣơng ứng, thuế suất tăngdầntheo

từng bậc thuế, số thuế phải nộp là tổng số thuế tính cho từng bậc. Nhƣ vậy, với nhiều bậc thuế suất tƣơng ứng với các mức thu nhập, thu nhập càng cao thì phải chịu mức

24

thuế đóng góp cao hơn. Điều này góp phần đảm bảo tính công bằng trong phân phối thu nhập xã hội. Biểu thuế luỹ tiến đƣợc xây dựng căn cứ vào nguyên tắc đánh thuếdựa vào khả năng nộp thuế của các cá nhân khác nhau. Khoảng cách giữa các bậc thuế sẽ quyết định tính chất luỹ tiến mạnh hay yếu của biểu thuế. Khoảng cách này mà càng lớn thì mức độ luỹ tiến của biểu thuế càng cao và ngƣợc lại.

Thứ ba, thuế TNCN là một loại thuế phức tạp và mang đặc điểm trung lập đối với cơ cấu kinh tế.Do tính chất phân tán (nhiều loại thu nhập chịu thuế) và biến động cao (không ổn định, thƣờng xuyên thay đổi) của đối tƣợng chịu thuế nên công tác quản lý thu thuế rất khó khăn. Chính vì vậy, chi phí hành thu của thuế TNCN rất cao. Ngoài ra, nó tác động trực tiếp đến thu nhập của NNT nên nó không có tácđộng trực tiếp đối với một số ngành kinh tế cụ thể nào cả. Thuế TNCN không thểhiện ƣu đãi đối với ngành nghề trong hệ thống ngành kinh tế quốc dân.

Thứ tư, thuế thu nhập cá nhân là công cụ điều tiết thu nhập dân cư đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội. Sự điều tiết này thể hiện ở việc Nhà nƣớc qui định mức thu nhập chịu thuế của ngƣời dân, căn cứ vào đó, bất cứ ngƣời dân nào khi có mức thu nhập ít nhất bằng với mức khởi điểmnàyđều phải thực hiện nghĩa vụthuếTNCN. Bên cạnh đó, những cá nhân có thu nhập cao hơn phải nộp thuế nhiều hơn,

nhƣ vậy thuế TNCN đã đảm bảo đƣợc sự công bằng theo chiều dọc.

Với vai trò quan trọng không thể thay thế của thuế TNCN nên bất cứNhà

nƣớc nào cũng luôn đặt ra các phƣơng thức quản lý thuế TNCN sao cho có hiệu quả nhất nhằmđạt đƣợc mục tiêu nhà nƣớc đặt ra trong việc phát huy vai trò của thuế TNCN. Vậy quản lý thuế TNCN là gì?

Trƣớc hết, hoạt động “quản lý”xuất hiện từ khi có hoạt động chung của con

ngƣời. Bất kỳ nơi nào có hoạt động chung trong cộngđồngđều phải có hoạt động quản lý.

Dƣới góc độ ngôn ngữhọc, theo từđiển Hán Việt, “Quản lý là việc trông nom, sắp đặt công việc trong một tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu nhấtđịnh”[49].

Dƣới gócđộkhoahọcpháp lý, theo thuật ngữ pháp lý Việt Nam thì “Quản lýlà điều khiển, chỉđạo một hệthống hay một quá trình, căn cứvào quy luật, định

25

luật hay nguyên tắc tương ứng đểcho hệthống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý và nhằm đạt được những mục đích đã định trước” [24].

Nhìn chung, dƣới gócđộnào thì khái niệm vềquản lý đều có điểmchung:

quản lý là hoạt động của con ngƣời nhằm thực hiện những mục tiêu đã định trƣớc, thông qua lập kếhoạch, tổchức, lãnh đạo, phối hợp, kiểm soát và thúc đẩyhoạt động của những con ngƣời trong tổ chức đó. Hoạt động quản lý luôn có sự tham gia và tác động qua lạigiữa chủ thểquản lý vàđối tƣợng chịu sựquản lý nhằmđạt

đƣợc cácmục tiêu do chủ thể quản lý đề ra. Trong bất kỳ tổ chức nào, ngoài yêu cầu một „‟khuôn khổ nhất định„‟ để các chủ thể trong tổ chức tuân thủ theo hƣớng đi chung của tổ chức, còn yêu cầu các biện pháp quản lý các chủ thể đó có thực hiệnđúng, đủcác „‟khuôn khổ nhất định‟‟ hay không. Nhƣ vậy, quản lý là một yêu cầu chung cho mọi hoạt động của các tổ chức, đặc biệt là đối với các hoạt động của một

tổ chức tối cao nhƣ Nhà nƣớc thì sự quản lý càng trở nên cần thiết và quan trọng, trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực thuế.

Quản lý thuế trƣớc hết và quan trọng nhất thuộc trách nhiệm của Nhà nƣớc, nên ngƣời ta thƣờng quan niệm quản lý thuế là quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực thuế. Tuy nhiên,để hoạt động quản lý thuế đạt hiệu quả, nhất địnhphải có sự tham gia của các tổchức, cá nhân trong xã hội đểhỗtrợcho công tác quản lý thuế của nhà nƣớc trong một chừng mực nhất định nhằm phát huy tối đa vai trò của thuế.

Qua quá trình nghiên cứu, khái niệm quản lý thuếđƣợc hiểu theo hai nghĩa

dƣới đây:

Theo nghĩa rộng: Quản lý thuế là “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế, làquá trình xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế, ban hành các luật thuế, tổchức quản lý,điềuhành, thanh tra, giám sát việc thực hiện các luật thuế, thanh tra, kiểm tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật về thuế”[6, 25].

Nội dung hoạt động quản lý thuế theo nghĩa rộng gồm: (i) ban hành và hƣớng dẫn thực hiện các văn bản QPPL thuế; (ii) Xây dựng chính sách,kế hoạch, chiến

lƣợc phát triển hệ thống thuế; (iii) Thanh tra, kiểm tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật về thuế; (iv) Tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại, tố cáo về thuế; (v) Áp dụng các biện pháp phòng chống trốn lậu thuế, chiếm đoạt tiền thuế của nhà nƣớc, thực hiện

cƣỡng chế thuế; (vi) Ký kết hoặc tham gia điều ƣớc quốc tế về thuế; (vii) Tổ chức

26

và quản lý công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo, xây dựngđộingũ cán bộ quản lý

và nghiệp vụ thuế…

Hoạt động quản lý thuế khá đặc thù, tham gia hoạt động này có Nhà nƣớc vàbản thân NNT với những vai trò, quyền hạn và nghĩa vụ, trách nhiệm khác nhau trong quan hệ quản lý thuế.

Theo nghĩa hẹp, quản lý thuế là quá trình tác động của cơ quan quản lý thuếđến NNT nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật thuế.

Tổng cục thuế Latvia cho rằng: “Quản lý thuế là một hệthống những quátrình có quan hệchặt chẽvới nhau nhằm mục tiêu đảm bảo thu thuế đúng, đủvà công bằng trên cơ sở quy định của pháp luật thuế, bao gồm các hoạt động thu nhận hồ sơ khai thuế, tính toán số thuế phải nộp, đôn đốc thu nộp thuế và cung ứng dịch vụ tư vấn cho NNT”[16, tr18].

“Quản lý thuế là tổ chức, điều khiển hoạt động thu thuế của một quốc gia đểthực hiện các chính sách thuế nhằm đạt được các mục tiêu đã định” [21, tr 16].

Các khái niệm trên nêu rõ nộidung hoạt động quản lý thuế, đó là cách thức NNT thực hiện các thủtục hành chính thuếđểchuyển giao nguồn tài chính của mình vàoquỹNSNN, các chếtài xửlý trong trƣờng hợp NNT không chấp hành nghĩa vụthuế; trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan, tổchức, cá nhân trong quá trình chấp hành pháp luật thuế… Hoạt động quản lý thuế TNCN có vai trò đảm bảo cho chính sách thuế TNCN đƣợc thực thi nghiêm chỉnh trong thực tiễn đời sống kinh tế – xã hội. Các mục tiêu dự kiến thƣờng đƣợc đặt ra khi xây dựng chính sách

nhƣng những mục tiêu đạt đƣợc trong thực tế lại phụ thuộc phần lớn vào việc thực hiện chính sách đó nhƣ thế nào, hay nói cách khác, phụ thuộc vào hiệu quả quản lý. Nếu có một chính sách thuế tốt nhƣng cán bộ quản lý không hiểu hoặc hiểu sai lệch các nội dung; hoặc quy trình quản lý không phù hợp thì cũng không đạt đƣợc các mục tiêu mà các chính sách thuế đã đặt ra. Vì vậy, công tác quản lý phải đáp ứng

đƣợc những yêu cầu của chính sách thuế và đƣợc điều chỉnh, thay đổi một cách phùhợp. Các chuyên gia chính sách thuế trong các nƣớcđang phát triển cho rằng: “Chính sách thay đổi mà không có sự thay đổi về quản lý tức là chẳng có sự thay đổi gì cả”. Các nhà kinh tếcủaNgân hàngThếgiới (World Bank) cũng có quan điểm: “Những thay đổi trong chính sách thuế cần phải tương ứng với năng lực quản lý”[21].

27

Nội dung quản lý thuế theo nghĩa hẹp gồm: (i) Xây dựng thể chế quản lý thuế đểtạo cơ sở cho công tác quản lý thuế, trong đó xác định rõ chủ thể quản lý, đối tƣợng chịu sự quản lý; (ii) Xác định các quyền, nghĩa vụ cho ĐTNT, quyền hạn, trách nhiệm của cơquan quản lý, cán bộ công chức ngành thuế; trách nhiệm của các cơ quan nhà nƣớc, các tổ chức, cá nhân trong quản lý thuế; (iii) Xác định các thủ tục và nội dung quản lý hành chính thuế nhƣ: đăng ký thuế, cấp MST; kê khai thuế, nộp thuế; quyết toán thuế; miễn,

giảm thuế; hoàn thuế; xử phạt vi phạm thuế; cƣỡng chế thuế; khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế…; (iv) Xây dựng cơ chế quản lý thuế, quy trình nghiệp vụ quản lý thuế để áp dụng tại cơ quan quản lý thuế các cấp; (v) Tổ chức bộ máy quản lý thuế, đội ngũ cán bộ, công chức thuế để thực hiện các nhiệm vụ quản lý thuế bằng các biện pháp quản lý hành chính thích hợp với diễn biến khách quan của quá trình sản xuất kinh doanh ở cơ sở và điều kiện quản lý kinh tế trong từng giai đoạn.

Dựa trên phạm vi và mục đích nghiên cứu của Luận án, tác giảđƣa ra khái niệm quản lý thuế nhƣ sau: “Quản lý thuế là quá trình tác động của cơ quan quản lý thuếtừtrung ương tới địa phương đến người nộp thuế nhằm đảm bảo sựtuân thủ pháp luật thuế, phát huy vai trò của thuế”.

Nhƣ vậy, cũng nhƣ các quan hệ quản lý thuế nói chung, chủ thể tham gia quan hệ quản lý thuế TNCNgồm chủthể quản lý và chủ thể chịusựquản lý. Khái niệm vềquản lý thuế TNCN cũng không nằmngoài khái niệm chung vềquản lý thuế, đồng thời mục tiêu và đối tƣợng quản lý của quản lý thuế TNCN là một bộ phận của quản lý thuế nói chung. Trên cơ sở đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của Luận án, tác giả đƣa ra khái niệm quản lý thuế TNCN nhƣ sau: “Quản lýthuế TNCN là quá trình tác động của cơ quan quản lý thuếtừtrung ương tới địa phươngđến người nộp thuế TNCN nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật thuế TNCN, phát huy vai tròcủa thuế TNCN”.

Quản lý thuế TNCN có những đặc điểm cơ bản nổi bật sau:

– Thứ nhất, quản lý thuế TNCN là hoạt động nhạy cảm và khó tạo rasự đồng thuận, hợp tác giữa người thu thuế và người nộp thuế. Thuế TNCN có tính lũy tiến cao, thu nhập càng cao thì số thuế phải nộp cho NSNN càng lớn và thu nhập tính thuếTNCNđƣợctạothành từrấtnhiều nguồn thu nhập khác nhaucủaNNT. Hơn nữa, không phải NNT nào cũng muốn công khai con số thu nhập tính thuế của mình với xã

28

hộinênđiều nàyđã làm cho công tác quản lý thuế TNCNtrởnên nhạy cảm. Bên cạnh đó, với đặc điểm làthuế trực thu, nên ngƣời nộp thuế TNCN cũng đồng thời là

ngƣời chịu thuế, họ luôn hiểu đƣợc số thuế mình phải chuyển giao cho Nhà nƣớc và họ thƣờng không sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ thuế nghiêm chỉnh. Để giải quyết vấn đề này, nhà nƣớc đã sử dụng phƣơng pháp mệnh lệnh bắt buộc NNT thực hiện nghĩa vụ. Điều này đã gây nên các phản ứng khác nhau cho NNT, đôi khi là những phản ứng hết sức căng thẳng và phức tạp, thiếu sự thiện chí, hợp tác, bởi lẽ: “Mặc dù ýthức được sự cần thiết và tính tất yếu của thuế nhưng thuế chưa bao giờ được người dân cảm nhận như một thực tế dễ chịu. Vì vậy, những người có trách nhiệm quản lýthuế thường phải đối mặt với những mối quan hệ khó điều chỉnh, thậm chí đôi khi còn nảy sinh xung đột. Công tác quản lý thuế về lâu dài vẫn còn là những nhiệm vụhành chính khó khăn và ít có khả năng gây được thiện cảm với người dân”[9].

Tuy nhiên, quản lý thuế TNCN đang phát triển theo xu hƣớng mềm dẻo hơn, chú trọng động viên ýthức tựgiác của NNT nhiều hơn,đồng thời nhà nƣớcmởrộng biện pháp quản lý mang tính phục vụ, dịch vụ và xã hội hóa.Đặc điểm này đòi hỏi công tác quản lý thuế TNCN phải rất kiên trì sửdụng kết hợpnhiều phƣơng pháp, biện pháp, công cụ, phƣơng tiện khác nhau nhằm đạt hiệu quả trong quản lý.

– Thứ hai, về đối tượng chịu sự quản lý thuế TNCN, gồmchủ thể có nghĩa vụnộp thuế và chủ thể khác (tham gia khấu trừ tại nguồn, các tổ chức tín dụng, đại lýthuế, đơn vị đƣợc ủy nhiệm thu). Các nƣớc trên thế giới trong đó có Việt namđều dùng tiêu chí cƣ trú và không cƣ trú của cá nhân NNT đểxác định các khoản thu nhập chịu thuế, cách tính thuế và phƣơng thức nộp của họ. Trongthực tế, đối tƣợng này rất đông về số lƣợng, thuộc nhiều tầng lớp, giai cấp với trình độ nhận thức và ý thức pháp luật rất khác nhau. Đặc biệt, trong điều kiện các nƣớc thiết lập mối quan hệtrên nhiềumặtkhác nhaucủađờisống tạo ra sựluân chuyển thƣờng xuyên vềlao động và di dân giữa các nƣớclàm cho tính phức tạp của đối tƣợng nộp thuếTNCN ngày càng tăngđặt ra yêu cầuhoạtđộng quản lý thuế TNCN của cơ quan thuế phải đƣợc chú trọng đầu tƣ, nâng cấp nhiều mặt mới đem lại hiệu quả cao.

-Thứba,bộmáy quản lý thuế TNCNđượctổchức mang tínhđặcthù, trách nhiệm quản lý thuế TNCNtrƣớchếtvàchủyếuthuộcvềNhà nƣớc. Do tính chất phứctạpcủa đối tƣợngnộpthuế và thu nhập chịu thuế, nên cơ quan quản lý thuế

29

TNCNđƣợctổchức phứctạphơn.ỞViệt Nam, Nhànƣớctrao quyền hạn, trách nhiệm quản lý thuế TNCN choBộTài chính(Vụchính sách thuế), Tổngcụcthuế(Vụ quản lý thuế TNCN), Cục thuế (Phòng quản lý thuế TNCN), Chi cục thuế (Đội quản lý thuế TNCN) và trongmột số trƣờnghợp là Hội đồng tƣ vấn thuế xã, phƣờng.

Đặc điểmnày cho thấysựkhác biệt của quản lý thuế TNCN so vớiquản lýcủa Nhà nƣớc đối với các loại thuế khác. Yếu tố quyết định sự khác biệt này là do quản lý thuế TNCN nhằm kiểm soát nhiều khoản thu nhập thuộc diện chịu thuế sao cho không bỏ sót nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc. Hơn nữa, các quy định về việc khấu trừ chi phí- nhƣ các quy định giảm trừ cho ngƣời phụ thuộc, chi phí tạo ra thu nhập…và quy định về việc xác định đối tƣợng cƣ trú hay không cƣ trú trong các luật thuế ở hầu hết các nƣớc đã đặt cho cơ quan thuế một áp lực ngày càng lớn, đòi hỏi trình độ quản lý ngày càng cao và bao quát.

– Thứ tư, về mục tiêu của quản lý thuế TNCN: quản lý thuế TNCN thực chất là nhằmđạt đƣợc các mục tiêu cơ bản sau: (i) Bảo đảmsựcông bằng, bình đẳng giữa các chủthểnộp thuế TNCN; (ii) Tăng cƣờng sựtuân thủthuế TNCN của NNT, tối thiểu hoá chi phí quản lý thuế TNCN của Nhà nƣớc và chi phí tuân thủcủa NNT; (iii) Tập trung huy động đầy đủ và kịp thời các khoản thu cho NSNN từthuế TNCN. Trong các mục tiêu nói trên, tăng cƣờng sựtuân thủthuế TNCN làmục tiêu cơ bản nhất để đạt đƣợc các mục tiêu còn lại trong quản lý thuế TNCN.

Để xác định hiệu quả của QLT TNCN, ngƣời ta không dùng thƣớc đo doanh thu thuế mà tiêu chí thƣờng dùngđƣợcgọilà“Khoảngcách tuân thủ”. Theo đó, quản lý thuế TNCN không chỉ tăng cƣờng biện pháp bắt tất cả các ĐTNT tiềm năng đăng ký thuế mà còn chú trọng đến việc nâng cao số lƣợng NNT kê khai thuế và nộp thuế. Thực hiện đƣợc nhƣ vậy “khoảng cách tuân thủ”đƣợc giữ ở mức độ thấp thì tính công bằng của chính sách thuế và hiệu quả quản lý thuế và của nền kinh tế đƣợc đảmbảo[21,8].Đặcđiểmnàyđòihỏi quản lý thuế TNCN cần phảilấyNNT làm trung tâm, coi NNT là khách hàng mà cơ quan quản lý thuế TNCN cần phải phục vụ, tạo ra điều kiện thuận lợi nhất cho NNT thực hiện tốt các quyền, nghĩa vụ thuế.

2.1.1.2. Các yếu tố cơ bản trong hệ thống quản lý thuế TNCN

Khi nghiên cứu quản lý thuế nói chung, quản lý thuế TNCN nói riêng, các nhà nghiên cứu thƣờng xem xét bốn (04) trụ cột sau: cơ chế quản lý thuế, bộ máy quản lý thuế, nghiệp vụ quản lý thuế và biện pháp quản lý thuế.

30

Thứ nhất, cơchếquản lý thuế là cách thức mà nhànƣớc –chủthể quản lýthuế lựa chọn để tácđộng đếnhành vi tính thuế, nộp thuế của NNT. Nghiên cứu vàhọc tập kinh nghiệm của các nƣớc trên thế giới, trong hoạt động quản lý thuế nói chung, có hai cơ chế hành thu đƣợc nhà nƣớc ta đã và đang áp dụng là cơ chế thông báo thuế và cơ chế tự tính thuế.

Một là, cơ chế thông báo thuế: theo cơ chế này, NNT có nghĩa vụ kê khai tài liệu, dữ liệu có liên quan đến việc xác định căn cứ tính thuế nhƣng không có nghĩa vụ xác định số thuế mình phải nộp do đâylà phần việc cơ quan thuế thực hiện và thông báo cho NNT. NNT thực hiện nộp thuế theo số lƣợng và thời gian ghi trong thông báo thuế. Đâylà cách thức quản lý thuế mang nặng tính áp đặt, sửdụng quyền lực nhà nƣớc đối với NNT và tiến độ thu thuế chậm.

Hai là, cơ chế tự tính thuế: trong cơ chế này, NNT tự khai, tự tính số thuế phải nộp theo qui định của pháp luật và chủ động nộp thuế cho Nhà nƣớc theo số thuế mà mình đã tính toán theo thời hạnđƣợc qui địnhtrong pháp luật thuế TNCN. Đây là cơchế “tự kê khai, tự nộpthuế”.Cơ chế này đƣợc áp dụng khi nhữngđiềukiện cần thiết cho việc áp dụng có thể đạt đƣợc hiệu quả cao. Đó là: (i) hệ thống pháp luật thật sựminh bạch, NNT cóthểtiếpcậndễ dàngđể tìmhiểu các quiđịnh của luậtthuế nói chung và luật thuế TNCN nói riêng; (ii) trình độ dân trí cao, sự hiểu biết và tuânthủpháp luật của ngƣời dân tốt, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thuế có hiệu quảcao; (iii) các cơ quan quản lý hành chính nhà nƣớc có năng lực quản lý cao vàphối hợptốt vớicơ quan thuế trong công tác quản lý ĐTNT; (iv) công tác thanh tra, kiểm tra thuế đƣợcthực hiện có hiệuquảnhằm loạibỏhành vi trốnlậuthuế của NNT; (v) các chếtài đủnghiêm khắc áp dụng đối với NNT vi phạm nhằm trừng trị các hành vi vi phạm pháp luật thuế TNCN trong việc kê khai, nộp thuế.

Thứ hai, bộ máy quản lý thuế: Bộ máy quản lý thuế bao gồm hệ thống các cơquan hành chính từ trung ƣơng đến địa phƣơng có quan hệ hữu cơ với nhau trên cơsở chức năng, nhiệm vụ đƣợc nhànƣớc qui định để tổchức thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật thuế TNCN vàđiềuhành toànbộ quá trình điều tiết thu nhập của dân cƣ vào NSNN thông qua thuế TNCN. Bộ máy quản lý thuế TNCN đƣợc tổchức phù hợp với tổ chức bộ máy nhà nƣớc, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội của đất nƣớc trong mỗi giai đoạn lịchsử và hoạt động của bộmáy phảiđảm

31

bảo tính hiệu quả. Trong các mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế đã và đang tồn tại trên thế giới, Việt Nam lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy theo chức năng. Theo mô hình này, ngoài những bộ phận quản lý nội bộ nhƣ:tổ chức, nhân sự, tài

chính…thì các bộ phận quản lý còn lại đƣợcbố trí thành phòng/ đội quản lý theo chức năng quản lý của cơ quan thuế. Riêng đối với quản lý thuế TNCN, mô hình tổ chức bộ máy theo sắc thuế gồm: vụ thuế TNCN thuộc Tổng cục thuế, phòng quản lýthuế TNCN thuộc cục thuế; đội quản lý thuế TNCN thuộc chi cục thuế và Hội đồng

tƣ vấn thuế xã, phƣờngcó sựtham gia của cán bộ thuế. Thực tế, mô hình tổ chức bộ máy hỗn hợp cũng đƣợc áp dụng trong quản lý thuế TNCN. Mô hình hỗn hợp này vừa có yếu tố của mô hình tổ chức theo sắc thuế, vừa có yếu tố của mô hình tổ chức theo đối tƣợng và chức năng. Trong mô hình hỗn hợp này, có các phòng/đội theo chức năng nhƣ phòng/ đội thanh tra, kiểm tra, phòng/đội quản lý nợ và cƣỡng chếnợ thuế lại vừa có phòng/ đội quản lý thuế theo sắc thuế đó là phòng/ đội quản lý thuế TNCN, có thể cócả bộ phận quản lý theo đối tƣợng, nhƣ phòng/ độidoanh nghiệp lớn.. Mô hình nàyđƣợc tổ chức tốt sẽ phát huyđƣợc ƣu điểmcủa các mô hình quản lý thuế trên.

Bộ máy quản lý thuế sẽ tổ chức thực hiện chính sách thuế TNCN. Đây là chủthểđƣa chính sách thuế TNCN thành các hoạt động trên thực tế của bộ máy quản lýthuế nhằm thực hiện đƣợc mục tiêu nhà nƣớc đặt ra góp phần thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội gắnvớiviệc phân phối lại thu nhập,đảm bảo ổn định vàcông bằng xã hội.

Thứ ba, Nghiệpvụ quản lý thuế TNCN. Công tác tổchức thực hiện chính sách thuế TNCN đƣợc thực hiện theo một qui trình đã xây dựng đƣợc qui định trong văn bảncủa cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Nộidung qui trình quản lý thuếTNCN phù hợp với cơ chế quản lý thuế đã đƣợc nhà nƣớc lựa chọn hiện nay là cơchế tựkhai, tựnộp, bao gồmnhững công việc, thao tác nghiệp vụ phải thực hiện của Vụ/phòng/đội quản lý thuế TNCN trong mối tƣơng tác với các hoạt động của NNT và các tổ chức, cá nhân khác liên quan trong quản lý thuế TNCN. Bên cạnh đó, trách nhiệm của từng bộ phận quản lý thuế TNCN và mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận trong các cơ quan quản lý thuế cũng cần đƣợc thực hiện đầy đủ. Nghiệp vụ thuế TNCN do bộ máy quản lý thuế tổ chức thực hiện nhằm tác động, điều khiển

32

và kiểm soát quá trình và kết quả thực hiện nghĩa vụ thuế TNCN của NNTđể đạt

đƣợc mục tiêu của quản lý thuế TNCN.

Thứ tư, biện pháp quản lý thuế đƣợc hiểu là mô hình quản lý thuế: đây làsựkhái quát hóa các phƣơng thức quản lý của cơ quan thuế với NNT. Mô hình quản lý thuế đƣợcxây dựng dựa trên những triết lý quản lý khác nhau. Trên thế giới, mô hình quản lý thuếphổbiến đƣợc áp dụng là mô hình tuân thủ và tâm lý hành vi phổ biến.

Một là, mô hình tuân thủ: Mô hình quản lý thuế này đƣợc xây dựng trên cơsở đánh giá ýthức tuân thủ của NNT.Dựavào mức độ tuânthủkhác nhau của NNT, cơ quan thuế áp dụng phƣơng pháp quản lý khác nhau nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Năm 1986, hai tác giả đã sáng tạo ra mô hình này là Grabosky và Braithwaite.Đến năm 1990, mô hình đƣợc cơ quan thuế Australia áp dụng [16, tr27]. Theo môhình này, toàn bộ NNT đƣợc chia làm 04 nhóm tƣơng ứng với mức độ tuân thủpháp luật củahọ,cụ thể gồm: (i) Nhóm NNT“sẵn sàngtuân thủ” thì cơ quan thuế“tạo điều kiện thuận lợi nhất” đểNNT tuân thủ; (ii) nhóm NNT “cố gắng tuân thủ

nhƣng không phải lúc nào cũng thành công” thì cơ quan thuế sẽ “hỗ trợ” để NNT tuân thủ; (iii) nhóm NNT “không muốn tuân thủ nhƣng sẽ tuân thủ nếu cơ quan thuếquan tâm” thì cơ quan thuế sẽ “ngăn chặn thông quan các biện pháp phát hiện vi phạm” để NNT tuân thủ; (iv) nhóm NNT “quyết tâm không tuân thủ” thì cơ quan thuế sẽ “áp dụng toàn bộ quyền lực theo pháp luật” để buộc NNT tuân thủ. Điểm đặc biệt của mô hình này là tâp trung nghiên cứu hành vi tuân thủ của NNT trên cơ sở đóđềxuất nguyên tắc, phƣơng pháp và biện phápxửlý phù hợp nhằm tạo áplựcđể giảm số NNT không tuân thủ (Xem mô hình trong phụ lục).

Hai là, mô hình tâm lý hành vi phổ biến: mô hình nàyđƣợc sáng tạo bởi Valarie Braithwaite và John Braithwaite vào năm 1985. Các tác giả cho rằng, tâm lýhành vi hành vi phổ biến của con ngƣời là khi hiểu đƣợc lợi ích của hành động vàhậu quả có thể nhận đƣợc khi không thực hiện hành động nào đó thì con ngƣời sẽlựa chọn hành vi là hành động. Từ đó, hoat động quản lý thuếcần bắt đầu từthuyết phục để NNT hiểu đƣợc nghĩavụ củamình mà tựgiác tuân thủ, nếu không thực hiện thì Nhà nƣớc sẽ áp dụng đến trừng phạt. Theo mô hình này, một tháp hành vi quản lý của cơ quan thuế đối với NNT nhƣ sau (Xem mô hình trong phụ lục).

Trong thực tiễn quản lý thuế của các nƣớc trên thế giới trong đó có Việt Nam, mô hình này vẫn đƣợc áp dụng kết hợp với mô hình tuân thủ nhằm tác động có hiệu

33

quả vào tâm lý và hành vi của NNT hƣớng họ tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thuế nói chung và thuế TNCN của mình đầy đủ theo qui định của pháp luật, làmđƣợc nhƣ vậyđồng nghĩa với hoạt động quản lý thuế củanhà nƣớc đạt hiệuquả cao .

Nhƣ vậy, quản lý thuế TNCN có mục tiêu quan trọng là nâng cao tính tuân thủ củaNNT trong thực hiện nghĩavụthuế, góp phầnbảođảmthực thi pháp luật thuế TNCN có hiệu quả, nghĩa làphải đảmbảo để NNT thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế TNCN cho nhànƣớc.Nhƣ vậy, NNTsẽ đƣợc tácđộng để hiểu đƣợc nghĩa vụ thuế, hiểuđƣợc cáchtính toán số thuế phải nộp, thấyđƣợchậuquả củaviệc không tuân thủ. Hơn nữa, NNTđƣợctạonhững điều kiện thuận lợinhất để bản thân thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế TNCN, kiểm soát tuân thủ và cƣỡngchếtuân thủ.

2.1.2. Lý luận về pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân 2.1.2.1. Khái niệm pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân

Trên thế giới, hệ thống pháp luật thuế ở các quốc gia đƣợc thiết kế có cấu trúc không giống nhau. Có những nƣớc quyđịnhtất cảcác sắc thuế trong một bộluật chung về thuế, gọi là Bộ luật thuế vụ. Trong bộ luật này, nhà làm luật vừa quy định về nội dung cụ thể của các sắc thuế trong một hệ thống thuế, vừa quy định về trình

tự, thủ tục hành thu và cơ chế quản lý thuế cũng nhƣxử lývi phạm, giải quyết các tranh chấp vềthuế. Ngƣợc lại, có những nƣớc lựa chọn giải pháp thiết kếmỗi sắc thuế đƣợc ban hành bằng một đạo luật riêng, độc lập với nhau nhƣng vẫn đảm bảo tính tƣơng thích với nhau và đồng thời tách bạch các quy định về quản lý thuế bằng một đạo luật riêng biệt. Cách này đang là một xu hƣớng chung của nhiều nƣớc. Giải pháp này đƣợc đánh giá là thích hợp hơn trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu, vì nó cho phép nhà làm luật có thểsửa đổi,bổsung và điều chỉnh các quyđịnh trong các đạo luật thuế một cách dễ dàng hơn so với việc đƣa ra tất cả các quy định về thuế trong một Bộ luật chung về thuế.

Theo TS. Nguyễn Văn Tuyến: “Xét về cấu trúc tổng quát, hệ thống pháp luật thuếnói chung của các nước đều được cấu thành bởi hai bộ phận chính, bao gồm:

– Các quy định về nội dung của các sắc thuế trong hệ thống thuế;

– Các quy định về hình thức tổ chức và đảm bảo thực hiện (quy trình hành thu) hệthống thuế. Các quy định này thường được quan niệm như là những quy định về hình thức của pháp luật thuế, bởi nó có nhiệm vụ xác định trình tự, thủ tục hành thu thuế và

34

quản lý thuế cũng như xử lý vi phạm và giải quyết các tranh chấp về thuế. Hiểu theo nghĩa rộng nhất, tất cả các quy định liên quan đến hoạt động này đều có thể gói gọn trong một thuật ngữ là “pháp luật quản lý thuế” và tuỳ thuộc vào quan điểm của từng nước mà chúng có thể được quy định chung trong Bộ luật thuế hay các đạo luật thuế, hoặc được tách bạch riêng rẽ thành một đạo luật về quản lý thuế”.

Theo TS. Nguyễn Thị Thƣơng Huyền: “Xét về lý thuyết, pháp luật thuế bao gồm:

pháp luật vật chất, hay còn gọi là pháp luật nội dung và pháp luật thủ tục, hay còn gọi làpháp luật hình thức; Trong đó, pháp luật nội dung ghi nhận, phản ánh chính sách thuế, còn pháp luật thủ tục quy định các vấn đề về quản lý thuế [38].

Thống nhất với các quan điểm trên, tác giả cho rằng: Pháp luật quản lý thuế làmột bộ phận quan trọng trong pháp luật thuế của các quốc gia, là công cụ chủ yếu

đƣợc Nhànƣớc sử dụng để thực hiện công tác quản lý thuế. Pháp luật quản lý thuếcó phạm vi điều chỉnh các quan hệxã hội phát sinh trong hoạt động quản lý thuếcủa Nhànƣớc,hay nói cách khác là các quan hệ phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế.

Các quan hệmà pháp luật quản lý thuế điềuchỉnh khá đa dạng. Nếu căn cứvào chủ thể tham gia thì pháp luật quản lý thuế điều chỉnh các nhóm quan hệ sau:

– Quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế với NNT phát sinh trong quá trình quản lý thu, nộp các loại thuế, đâylà nhóm quan hệchủđạo, chiếmtỷlệlớn trong các quan hệ mà pháp luật quản lý thuế điều chỉnh.

– Quan hệgiữa cơ quan quản lý thuế với cơ quan, tổchức, cá nhân có liên quan đến quản lý thuế. Nhóm quan hệ này liên quan đến việc cung cấp thông tin vềNNT và phối hợp với cơ quan quản lý thuế trong việc tuyên truyền, hỗ trợ và trong

cƣỡng chế thi hành các quyết định hành chính thuế.

– Quan hệ phát sinh trong nội bộ cơ quan quản lý thuế , nhóm quan hệ này liên quanđến việc tổchứcbộmáy quản lý thuế và phân định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền giữa các cơ quan, bộ phận trong hệ thống cơ quan quản lý thuế.

– Quan hệ giữa NNT với chủ thế khác có liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của NNT. Chẳng hạn: quan hệ hợp đồng giữa NNT với tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế; Quan hệ giữa NNT với TCTD trong việc bảo lãnh số tiền thuế hoặc thực hiện dịch vụ thanh toán tiền thuế cho NNT.

35

Căn cứvào nội dung hoạt động quản lý thuế, pháp luật quản lý thuế điều chỉnh các quan hệvềđăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, ấn định thuế; hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, xoá nợtiền thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cƣỡng chếthi hành quyết định hành chính thuế; xửlý VPPL vềthuế; giải

quyết khiếu nại, tố cáo về thuế….

Tựu chung lại, pháp luật quản lý thuế đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Pháp luật quản lý thuế làmộtbộphậncủahệthống pháp luật thuế, baogồmtấtcảcác QPPLđiều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức thu nộp thuế giữa Nhà nước với người nộp thuế”.

Thuế TNCN làmộtsắcthuếđặcbiệt quan trọng tronghệthống thuế Việt Nam. Cách xây dựng pháp luật thuế hiện hànhcủaViệt Nam là ban hành Luật thuế TNCN riêng và Luật quản lý thuế riêng, theo đó: thuế TNCN đƣợc quy định trong Luật thuế TNCN năm 2007 (đã trải qua 2 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 2012 và 2014), Luật này tập trung vào quy định về ĐTNT, thu nhập chịu thuế, thu

nhập miễn thuế, thuế suất, căn cứ tính thuế, biểu thuế… đối với các nhóm thu nhập cụ thể để xác định nghĩa vụ thuế TNCN của NNT. Còn các quy định về quản lý thuếTNCN đƣợc thực hiện theo Luật quản lý thuế năm 2006 (đã trả qua 3 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 2012, 2014 và 2016) với nội dung quy định về trình tự, thủ tục thực hiện công tác quản lý thuế TNCN: quy định về thủ tục đăng ký thuế; cấp MST; thủ tục về kê khai thuế; nộp thuế; thủ tục về quyết toán thuế; thủ tục hoàn thuế, thủ

tục miễn, giảm thuế; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm…. Ngoài ra, các văn bản

pháp luật khác cũng có những quy định liên quan đến công tác quản lý thuế TNCN

nhƣ: các văn bảnpháp luật vềkếtoán, hoá đơn, chứng từ, xửphạt vi phạm hành

chính, khiếu nại, tố cáo…

Từkhái niệm “quảnlý thuế TNCN”đƣợc tác giảxây dựng trong phần 1.1.2 của Luận án và khái niệm “Pháp luật quản lý thuế”đƣợc phân tích ởphần trên, nghiên cứu sinh đƣa ra khái niệm pháp luật quản lý thuế TNCN nhƣ sau: “Pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân là tổng hợp các quy phạm pháp luậtđiềuchỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức thu nộp thuế thu nhập cá nhân giữa Nhà nước với người nộp thuế”.

Đặc điểm của pháp luật quản lý thuế TNCN đƣợc thể hiện ở những khía cạnh sau:

36

-Thứnhất, pháp luật quản lý thuế TNCN là một công cụhữu hiệu và quan trọng trong việc quản lý các hoạt động thu, nộp thuế TNCN. Trong pháp luật quản lý thuế TNCN, các trình tự, thủtục hành chính thuếđƣợc quyđịnhđầyđủ,thống nhất và minh bạch góp phần hạn chếnhững tiêu cực của hoạt động quản lý thuếTNCN. Pháp luật quản lý thuế TNCN đƣa ra các giới hạn hành lang, thiết lập các hàng rào pháp lý để các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật quản lý thuế TNCN có đƣợc sự“tự do trong khuônkhổ”và nếu vƣợt ra ngoài các “khuôn khổ” đó thì

đƣơng nhiên họ sẽ phải chịu các chế tài nghiêm khắc.

– Thứ hai, pháp luật quản lý thuế TNCN quy định rõ ràng, cụ thể các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thuế nhƣ: quy định rõ ràng trách nhiệm của CQT trong việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu và thông tin về NNT công tác kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở của NNT, kiểm tra hồ sơ thuế tại trụ sở của cơ quan quản lý thuế, , xây dựngđầy đủ quitrình để NNT thực hiện quyền và nghĩa vụ thuế

TNCN, …. cũng nhƣ quy định rõ quyền và nghĩa vụ của NNT nhƣ: quyền yêu cầu

CQT hƣớng dẫn, giải thích vềchính sách thuế, thủtục hành chính thuế, yêu cầu CQT thực hiện việc miễn thuế, hoàn thuế, bồi thƣờng thiệt hại vềthuế theo quyđịnh của pháp luật để đảm bảo lợi ích hợp pháp của mình; Điều này thể hiện vai tròquan trọng của pháp luật quản lý thuế TNCN, đảmbảoý thức tuân thủpháp luật của tất cả các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật quản lý thuế TNCN.

– Thứ ba, pháp luật quản lý thuế TNCN có vai trò to lớn trong việc nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nƣớc, tổ chức, cá nhân có liên quan đến công tác quản lý thuế TNCN. Luật quyđịnhcác chủthểnày tham gia vào công tác quản lý thuếthông qua hoạt động tuyên truyền, phổbiến, giáo dục pháp luật thuế và giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế. Bên cạnh đó, Luật còn quy định cụ thể trách nhiệm của một số cơ quan, tổ chức trong việc tham gia công tác quản lý thuế TNCN nhƣ: trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý thuế, quyđịnh của các cơ quan, tổchức phải có trách nhiệm hợp tác với cơ quan quản lý thuế trong việc cƣỡng chế thu

thuế, trách nhiệm khấu trừ thuế tại nguồn….

2.1.2.2. Nội dung pháp luật quản lý thuế TNCN

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÍ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *