Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự thì thủ tục xét xử sơ thẩm là trung tâm; Hội đồng xét xử nhân danh Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra bản án, quyết định giải quyết vụ án.VKS có nhiệm vụ, quyền hạn kháng nghị phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Thực tiễn nhiều năm qua trên toàn quốc cũng như tỉnh Quảng Ngãi cho thấy kết quả xét kháng nghị không ít trường hợp khi điều tra lại dẫn đến thay đổi tội danh khởi tố, khởi tố bổ sung tội, khởi tố thêm người phạm tội, truy cứu chuyển khung tăng nặng, bổ sung chứng cứ quan trọng của vụ án; sửa án cơ thẩm không cho bị cáo hưởng án treo …Cũng có những trường hợp kháng nghị thiếu căn cứ nên không được chấp nhận. Vì thế, tôi chọn đề tài “Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu: Nhằm đánh giá hiệu quả kháng nghị phúc thẩm, nêu ra những kết quả, vướng mắc, hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất giải pháp.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Nhiệm vụ đặt ra phải nghiên cứu hệ thống các quy định của pháp luật về kháng nghị, việc áp dụng pháp luật trong kháng nghị phúc thẩm, hồ sơ vụ án và kết quả xét kháng nghị… để đánh giá hiệu quả hoạt động này.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Là các quy định của pháp luật về kháng nghị phúc thẩm gắn với thực tiễn áp dụng.

4.2. Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng đối với hoạt động kháng nghị thông qua kết quả xét xử phúc thẩm trên địa bàn tỉnh nhà trong thời gian từ 2007 đến 2017.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Đề tài sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, quan điểm của Đảng cùng tư tưởng Hồ Chí Minh về vận dụng lý luận Mác xít vào thực tiễn cách mạng nước ta để thực hiện mục tiêu Độc lập dân tộc gắn liền Chủ nghĩa xã hội.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Ứng dụng phương pháp luận vào phương pháp nghiên cứu bằng việc nhận thức và áp dụng có tính hệ thống các quy định của pháp luật, nghiên cứu những yếu tố vật chất phản ảnh hoạt động kháng nghị và xét xử phúc thẩm.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận văn cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn về kháng nghị phúc thẩm; cung cấp thông tin ứng dụng trong hoạt động tố tụng hình sự, xây dựng pháp luật, tích lũy tri thức, phục vụ quản lý hành chính–tư pháp, ngăn chặn vi phạm trong hoạt động tư pháp, phục vụ nghiên cứu, giảng dạy, học tập.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn còn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong xây dựng pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự về hoạt động chứng minh của các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có hoạt động kháng nghị phúc thẩm và xét xử phúc thẩm, góp phần tích lũy tri thức, kinh nghiệm trong hoạt động tố tụng, phục vụ hoạt động quản lý hành chính – tư pháp, ngăn chặn vi phạm trong hoạt động tư pháp và phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập.

7. Cơ cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm ba chương; mỗi chương đều được kết luận và có kết luận chung; kết cấu như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kháng nghị phúc thẩm và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ngãi

Chương 3: Nhu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả kháng nghị phúc thẩm tại tỉnh Quảng Ngãi

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm, nội dung, đặc điểm, ý nghĩa của kháng nghị phúc thẩm:

Tác giả đưa ra khái niệm: Kháng nghị phúc thẩm, là một văn bản tố tụng do người có thẩm quyền của VKS ban hành can thiệp vào một phần hoặc toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm giải quyết vụ án hoặc các quyết định khác của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật khi cho rằng có vi phạm, sai lầm nghiêm trọng đã gây ra hoặc sẽ gây ra hậu quả pháp lý, làm cho những phần của bản án, quyết định đó không được đưa ra thi hành. Kháng nghị phúc thẩm làm phát sinh một quan hệ pháp luật tố tụng hình sự có thể dẫn đến sự thay đổi hoặc chấm dứt hiệu lực pháp luật của một phần hay toàn bộ bản án, quyết định bị kháng nghị thông qua thủ tục xét xử phúc thẩm, ra bản án hoặc quyết định phúc thẩm và thực hiện phán quyết của Tòa án cấp phúc thẩm theo quy định pháp luật. Nội dung kháng nghị phúc thẩm, là phạm vi kháng nghị và hướng kháng nghị. Đặc điểm kháng nghị phúc thẩm, gồm: Mang tính nghĩa vụ, tính ý chí, tính quyền lực Nhà nước. Được tuân theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền chặt chẽ theo pháp luật. Mang tính khách quan.Mang tính cá biệt trong áp dụng pháp luật.Chỉ ra vi phạm, sai lầm của bản án, quyết định bị kháng nghị.Mang tính linh hoạt và sáng tạo của chủ thể. Làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng hình sự xét kháng nghị. Phụ thuộc vào kết quả giải quyết của tập thể xét kháng nghị. Ý nghĩa của kháng nghị phúc thẩm. Về ý của kháng nghị bao gồm ý nghĩa chính trị, ý nghĩa pháp lý và y nghĩa xã hội.

1.2. Cơ sở việc quy định kháng nghị phúc thẩm

Hoạt động tố tụng có thể nói đó là con đường đi đến chân lý. Xuất phát từ quan điểm tôn trọng chân lý trong tố tụng, yêu cầu đảm bảo pháp chế, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc công bằng, bảo đảm chế độ 2 cấp xét xử, hạn chế lạm quyền, tiêu cực,… là những cơ sở chủ yếu để pháp luật nước ta quy định về kháng nghị phúc thẩm.

1.3. Sơ lược lịch sử kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam

Luận văn đề cập quy định của Hiến pháp và pháp luật từ năm 1959 đến nay.

Kết luận Chương 1

Nội dung Chương 1 làm cơ sở để đi sâu nghiên cứu các quy định của pháp luật và hoạt động kháng nghị phúc thẩm trong thời gian nghiên cứu, từ đó mới có thể giải quyết yêu cầu của các Chương tiếp theo.

Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

CHƯƠNG 2

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNGTẠI TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1. Quy định của Bộ luật tố tụng hình 2015 về kháng nghị phúc thẩm

Luận văn làm rõ chủ thể kháng nghị và những quy định bất cập, mâu thuẫn nhau của BLTTHS 2015 về vấn đề này, làm rõ phạm vi kháng nghị, thời hạn kháng nghị, hậu quả kháng nghị. Đặc biệt làm rõ việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị, vì:

Nếu VKS cùng cấp ra kháng nghị, khi còn trong thời hạn kháng nghị của cấp mình là 15 ngày hoặc VKS cấp trên trực tiếp ra kháng nghị, khi còn trong thời hạn kháng nghị của cấp mình là 30 ngày kể từ ngày tuyên án, thì khi đó VKS mới có thể thay đổi, bổ sung kháng nghị theo hướng làm xấu đi tình trạng của bị cáo nhằm bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo và nâng cao trách nhiệm của VKS. Do đó, khi hết thời hạn kháng nghị thì VKS chỉ có thể thay đổi, bổ sung kháng nghị theo hướng có lợi cho bị cáo.

Nếu VKS cùng cấp hoặc VKS cấp trên trực tiếp đã ra kháng nghị theo hướng bất lợi cho một hoặc một số bị cáo, thì trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vẫn có quyền ra quyết định bổ sung kháng nghị theo hướng có lợi hoặc thay đổi kháng nghị từ bất lợi sang có lợi cho một hoặc một số bị cáo đó kể cả khi đã hết thời hạn kháng nghị.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên VKS đã kháng nghị hoặc tham gia phiên tòa phúc thẩm do VKS cấp dưới kháng nghị cũng có thể rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị hoặc bổ sung kháng nghị theo hướng có lợi cho một hoặc một số bị cáo đó hoặc thay đổi kháng nghị từ hướng bất lợi sang hướng có lợi cho họ, nhưng việc rút, bổ sung, thay đổi kháng nghị phải được công bố trước khi HĐXXPTnghị án.

Việc rút, thay đổi, bổ sung kháng nghị trước khi xét xử phúc thẩm chỉ có thể do người ban hành kháng nghị (Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng) hoặc Viện trưởng (nếu Phó Viện trưởng kháng nghị) có thẩm quyền, thực hiện; còn việc rút kháng nghị, bổ sung, thay đổi kháng nghị tại phiên tòa xét xử phúc thẩm sẽ do Kiểm sát viên thực hiện (do diễn biến phiên tòa đặt ra hoặc có sự chỉ đạo của Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng VKS có thẩm quyền chỉ đạo).VKS ra quyết định kháng nghị hoặc VKS cấp trên trực tiếp có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị bất cứ giai đoạn nào kể từ khi ban hành kháng nghị đến trước khi Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án.

Khoản 3 Điều 342 quy định trường hợp VKS sát rút một phần kháng nghị tại phiên tòa mà xét thấy không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị khác thì HĐXX phúc thẩm nhận định về việc rút một phần kháng nghị và quyết định đình chỉ xét xử phần kháng nghị đó trong bản án phúc thẩm. Quy định này cần chú ý rằng: một bản án, quyết định sơ thẩm có thể bị VKS cùng cấp kháng nghị một phần hoặc toàn bộ, và cũng bị VKS cấp trên trực tiếp kháng nghị một phần hoặc toàn bộ; do vậy, nếu tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên rút một phần kháng nghị đó của VKS cấp mình và của VKS cấp dưới (chẳng hạn do 2 kháng nghị trùng về nội dung), thì Tòa án cấp phúc thẩm mới đình chỉ phần kháng nghị đó trong bản án phúc thẩm; trường hợp 2 kháng nghị có xung đột về một nội dung kháng nghị (như: VKS cấp sơ thẩm kháng nghị giảm hình phạt tù, nhưng VKS cấp trên trực tiếp kháng nghị tăng hình phạt tù đối với bị cáo), nếu KSV rút phần kháng nghị này của cấp huyện, thì HĐXXPT vẫn phải xét phần kháng nghị của VKS cấp tỉnh.

Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị đúng luật định đều xảy ra hậu quả pháp lý vì HĐXXPT phải xét đến khi xét xử phúc thẩm, hoặc đình chỉ xét xử phúc thẩm trong giai đoạn chuẩn bị xét xử khi người có thẩm quyền của VKS rút toàn bộ kháng nghị hoặc tại phiên tòa do KSV rút toàn bộ kháng nghị (Điều 348 BLTTHS). Nếu KSV rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị không đúng pháp luật, thì HĐXXPT vẫn phải đình chỉ phần rút kháng nghị hoặc đình chỉ việc xét xử phúc thẩm và có văn bản kiến nghị lên cấp giám đốc thẩm xem xét để khắc phục sai lầm, vi phạm của bản án sơ thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm và kiến nghị VKS cùng cấp xem xét việc rút kháng nghị đó.

2.2. Căn cứ kháng nghị phúc thẩm

Căn cứ để kháng nghị phúc thẩm ngoài việc chỉ ra sai lầm, vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm khi áp dụng pháp luật, còn phải xét đến cả việc kháng nghị yêu cầu HĐXXPT hoặc Hội đồng phúc thẩm áp dụng cụ thể quy định nào của pháp luật để giải quyết trên cơ sở tính chất của xét xử phúc thẩm và thẩm quyền của cấp phúc thẩm theo quy định của BLTTHS và có liên quan mật thiết đến các quy định cụ thể của BLHS và văn bản hạ tầng pháp lý hướng dẫn. Tuy nhiên trong thực tiễn việc kháng nghị và chấp nhận kháng nghị còn nhằm đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử, tổng kết hoạt động kháng nghị. Chẳng hạn, khác với BLTTHS 2015, BLTTHS 2003 không quy định VKS kháng nghị theo hướng không áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo nhưng thực tiễn đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm thì nhiều năm qua Tòa án cấp phúc thẩm trong toàn quốc chấp nhận nhiều trường hợp kháng nghị theo hướng này.

2.3. Thực tiễn kháng nghị phúc thẩm tại tỉnh Quảng Ngãi

Tất cả các kháng nghị ban hành đều đảm bảo đúng quy định tại Điều 36, Điều 232 BLTTHS 2003 về chủ thể kháng nghị. Tổng số kháng nghị các VKS ban hành là 94 (gồm: kháng nghị 93 bản án với 154 bị cáo, chiếm tỷ lệ 1,8% về vụ và 2,31% về số bị cáo đã xét xử sơ thẩm; kháng nghị 1 quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Thẩm phán). Về thời hạn kháng nghị, trong số 94 kháng nghị thì 93 kháng nghị đúng thời hạn; 1 kháng nghị quá thời hạn. Luận văn nghiên cứu kỹ các căn cứ kháng nghị, các trường hợp rút, bổ sung, thay đổi kháng nghị và kết quả xét kháng nghị đối với rất nhiều kháng nghị. Ở nội dung này có nêu ra một số vướng mắc nhưng BLHS và BLTTHS 2015 chưa giải quyết được; nêu ra LTCVKSND quy định về nguyên tắc tập trung thống nhất trong ngành và quy định này có tạo ra sự bất cập, chẳng hạn:

Viện trưởng VKS cấp dưới đề nghị VKS cấp trên trực tiếp rằng sẽ ban hành kháng nghị phúc thẩm, nhưng VKS cấp trên cho rằng không cần thiết phải kháng nghị, hoặc VKS cấp trên yêu cầu Viện trưởng VKS cấp dưới phải kháng nghị hoặc phải rút kháng nghị đã ban hành vì không có căn cứ hoặc vì lý do nào đó; Nếu kháng nghị của VKS cấp huyện và kháng nghị của VKS tỉnh đối với toàn bộ hoặc đối với cùng một phần trong bản án, nhưng lại xung đột nhau về hướng yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết (giả sử: huyện kháng nghị hủy án sơ thẩm để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm, tỉnh thì kháng nghị hủy án sơ thẩm để điều tra lại; hoặc huyện kháng nghị theo hướng sửa án sơ thẩm tăng hình phạt tù đối với bị cáo B, tỉnh kháng nghị theo hướng sửa án sơ thẩm giảm hình phạt tù cho bị cáo B…), thì VKS huyện chỉ có thể rút kháng nghị, dù về nguyên tắc nếu không rút thì Tòa án phúc thẩm phải xét cả 2 kháng nghị; Nếu VKS huyện kháng nghị theo hướng sửa án sơ thẩm chuyển tội danh nặng hơn (từ tội A sang tội B) và tăng hình phạt tù đối với bị cáo C; còn VKS tỉnh thì chỉ kháng nghị chuyển đổi tội danh nặng hơn (cũng từ tội A sang tội B) đối với bị cáo C mà thôi, về nguyên tắc Tòa án phúc thẩm phải xét cả 2, nhưng thực tế thì VKS huyện phải rút phần kháng nghị tăng hình phạt tù hoặc VKStỉnh rút phần kháng nghị này của VKS huyện trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm; Nếu VKS huyện kháng nghị phần bồi thường, án phí, về xử lý vật chứng hoặc một trong các vấn đề này, và VKS tỉnh cũng kháng nghị như vậy nhưng lại xung đột nhau, thì VKS huyện sẽ rút hoặc VKS tỉnh cũng sẽ rút kháng nghị của VKS cấp huyện.

Điều 238 BLTTHS 2003 quy định trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, VKS có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị (được hiểu là VKS ra kháng nghị hoặc VKS cấp trên trực tiếp). Điều 342 BLTTHS 2015 bổ sung quy định về việc VKS ra quyết định kháng nghị hoặc VKS cấp trên trực tiếp có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị, rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị. Chúng tôi chưa thấy có trường hợp nào VKS cấp huyện bổ sung hoặc thay đổi hoặc rút kháng nghị của mình tại phiên tòa xét xử phúc thẩm; cũng chưa thấy có trường hợp nào VKS tỉnh kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cùng cấp, mà sau đó đã bổ sung hoặc rút kháng nghị của mình tại phiên tòa phúc thẩm, mà chỉ có thể thay đổi hướng kháng nghị. Có thể nói hiện tượng này có liên quan đến nguyên tắc tập trung thống nhất trong ngành Kiểm sát; quy định của pháp luật tố tụng hình sự về nhiệm vụ, quyền hạn của những người tiến hành tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm, thẩm quyền bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị phúc thẩm và quy định của LTCVKSND rằng, Kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng và chỉ tuân theo pháp luật (trong khi Viện trường không tham gia phiên tòa, và nếu từ quan điểm nhận thức mà Viện trưởng chỉ đạo không đúng pháp luật, thì thực tế KSV có khi khó có thể lấy sự lựa chọn pháp luật để quyết định rút, bổ sung, thay đổi kháng nghị); kháng nghị không có căn cứ nhưng không rút, không chỉ đạo KSV rút tại phiên tòa mà để thay đổi tại phiên tòa cho phù hợp phán quyết của HĐXXPT dù vụ án có kháng cáo theo hướng trái ngược quan điểm kháng nghị hay không.

Từ thực tế bổ sung, thay đổi hoặc rút kháng nghị tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, có thể nói rằng, do các VKS cấp huyện, VKS cấp tỉnh sau khi ban hành kháng nghị phúc thẩm đối với bản án hoặc quyết định của TAND cấp sơ thẩm cùng cấp, nhận được kháng nghị này và hồ sơ vụ án, nếu VKS cấp trên trực tiếp thấy cần phải bổ sung, thay đổi hoặc rút kháng nghị thì VKS cấp trên đó đã thực hiện; mặt khác, tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, thì Kiểm sát viên VKS đã ban hành kháng nghị đó lại không được tham gia phiên tòa xét xử phúc thẩm, mà chỉ có Kiểm sát viên VKS cấp trên trực tiếp có thẩm quyền tham gia phiên tòa phúc thẩm mà thôi; trong khi việc bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị cũng là quyền của người ra kháng nghị chứ không phải chỉ là quyền của VKS cấp trên trực tiếp và còn phải phụ thuộc vào diễn biến phiên tòa phúc thẩm, phụ thuộc yêu cầu của pháp luật nữa. Đây là một bất cập làm ảnh hưởng đến hiệu quả kháng nghị vì KSV của VKS ban hành kháng nghị lại không được tham gia phiên tòa xét xử phúc thẩm để bảo vệ kháng nghị hoặc phải thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị khi diễn biến phiên tòa phúc thẩm đặt ra; hơn nữa, còn để tránh những trường hợp dù VKS cấp trên không rút, không bổ sung hoặc thay đổi kháng nghị trước khi và tại phiên tòa xét xử, nhưng lại chỉ đạo Kiểm sát viên giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm đề nghị với HĐXXPT khác hoàn toàn quan điểm kháng nghị của VKS cấp dưới; trong khi người kháng cáo lại có quyền tham gia phiên tòa, thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo.

Luận văn cũng chỉ ra nhiều hạn chế và nguyên nhân, như; về kỹ năng xây dựng kháng nghị , về rút kháng nghị tại phiên tòa. Ngoài ra còn nghiên cứu trường hợp truy tố sai khung hình phạt, kháng nghị chưa rõ ràng; Kháng nghị bảo vệ quan điểm truy tố không có tính thuyết phục; Thay đổi kháng nghị tại phiên tòa không do tình tiết mới và nghiên cứu kết quả xét xử phúc thẩm do kháng cáo; kháng nghị giám đốc thẩm,bình luận về một số bản án sơ thẩm để chỉ ra nguyên nhân chủ quan của hạn chế.

Kết Luận Chương 2

Chúng tôi đã nghiên cứu tất cả các hồ sơ tài liệu có liên quan đến kháng nghị, việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị cùng tất cả các hồ sơ vụ án và bản án phúc thẩm xét kháng nghị, nghiên cứu những trường hợp cơ quan có thẩm quyền có văn bản trả lời không chấp nhận báo cáo đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với những bản án phúc thẩm không chấp nhận kháng nghị; kết hợp nghiên cứu những vấn đề về hình sự và tố tụng hình sự có liên quan đến hoạt động truy tố, xét xử sơ thẩm, kháng nghị phúc thẩm… làm cơ sở giải quyết yêu cầu của Chương này và Chương 3.

Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

CHƯƠNG 3

YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI

Luận văn đã xác định yêu cầu tuân thủ Hiến định bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nâng cao vị trí, vai trò, tầm quan trọng công tác xét xử; Yêu cầu cải cách tư pháp, chống làm oan, sai, bỏ lọt tội phạm; Tăng cường hiệu quả hoạt động tố tụng hình sự và kiểm sát xét xử; Tăng cường cơ chế phối hợp, kiểm soát lẫn nhau, bảo đảm địa vị pháp lý của người bào chữa, từ đó đã đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kháng nghị phúc thẩm, gồm:

3.1. Giải pháp về pháp luật

3.1.1. Luật tổ chức VKSND 2014, BLTTHS 2015 về kháng nghị phúc thẩm

– Các Luật này không quy định trách nhiệm của VKS 3 cấp và những người có trách nhiệm của các cơ quan này phải có nghĩa vụ phát hiện kịp thời và phải báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền của các VKS có thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm những trường hợp đủ căn cứ kháng nghị để ràng buộc trách nhiệm nghĩa vụ pháp lý, tránh việc phát hiện khi hết thời hạn kháng nghị hoặc thờ ơ, buông lỏng. Chúng tôi cho rằng đây là một bất cập về kỹ thuật lập pháp cũng như đáp ứng mục đích, yêu cầu của hoạt động tố tụng nói chung, xét xử, kiểm sát xét xử nói riêng. Cũng không quy định trách nhiệm của người có thẩm quyền tham mưu kháng nghị, người có thẩm quyền kháng nghị kể cả kháng nghị phúc thẩm mà không tham mưu, không kháng nghị đối với những trường hợp đủ căn cứ kháng nghị để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể, nhất là những trường hợp sai tội danh, sai khung hình phạt, kháng nghị để minh oan. Khoản 1 Điều 5 LTCVKSND 2014 quy định VKS có thẩm quyền phải kháng nghị (trong đó có thủ tục phúc thẩm) đối với bản án, quyết định của Tòa án. Khoản 5 Điều 19 quy định, khi kiểm sát xét xử vụ án hình sự, VKS có nhiệm vụ quyền hạn kháng nghị (theo các thủ tục) bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng. Thấy rằng, các quy định trên đây không thống nhất về nghĩa vụ, nhiệm vụ quyền hạn kháng nghị. Về căn cứ kháng nghị kể cả theo thủ tục phúc thẩm, tại điểm k khoản 2 Điều 3 của LTCVKSND 2014 quy định VKS kháng nghị khi phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội.Chúng tôi cho rằng quy định trên không tương đồng với các quy định của BLTTHS 2015 về thủ tục phúc thẩm. Vậy cần sửa đổi bổ sung theo hướng: Quy định trong 2 Luật này về nghĩa vụ phát hiện kịp thời vi phạm sai lầm của bản án, quyết định sơ thẩm giải quyết vụ án, nghĩa vụ báo cáo đề nghị kháng nghị, nghĩa vụ kháng nghị; quy định trong BLTTHS 2015 về những căn cứ để kháng nghị phúc thẩm phù hợp với thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm khi xét kháng nghị để ràng buộc nghĩa vụ của các chủ thể có trách nhiệm, có thẩm quyền tham mưu kháng nghị, kháng nghị hoặc không kháng nghị. Ngoài ra, cần bổ sung vào khoản 2 Điều 336 BLTTHS 2015 về một trong những nội dung chính của kháng nghị của VKS là phải có nội dung vụ án (theo quan điểm của VKS).

3.1.2. Về thủ tục phúc thẩm, chúng tôi đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định sau đây của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (phần chữ in nghiêng):

– Điều 342 bao gồm cả quy định về thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm. Tuy nhiên, thủ tục phiên tòa phúc thẩm lại được quy định tại Điều 354, cho nên việc quy định thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị tại Điều 342 là chưa phù hợp. Cần chuyển quy định từ Điều 342 sang Điều 354, đồng thời quy định thêm trình tự xem xét việc chấp nhận hay không và hậu quả của việc chấp nhận. Chẳng hạn việc xem xét, giải quyết phải được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án. HĐXX có thể không chấp nhận việc bổ sung, thay đổi kháng nghị nói riêng, nếu vi phạm Điều 342. Nếu việc bổ sung kháng nghị dẫn đến việc thay đổi phạm vi xét xử phúc thẩm vì liên quan đến những NTGTT khác chưa được triệu tập, thì cần phải hoãn phiên tòa để triệu tập thêm người có liên quan đến kháng nghị. Cụ thể, trong trường hợp rút kháng nghị tại phiên tòa thì việc rút đó phải được ghi vào biên bản. Nếu rút toàn bộ kháng nghị thì việc XXPT phải được đình chỉ, nếu rút một phần hoặc còn có kháng nghị khác thì TACPT xét xử phần kháng nghị còn lại và cả những phần đã rút theo hướng giảm nhẹ về hình sự cho bị cáo theo quy định tại Điều 345 về phạm vi xét xử phúc thẩm và sửa án sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo theo quy định tại đoạn cuối khoản 2 khoản 2 và khoản 3 Điều 357 về sửa bản án sơ thẩm. Thực tiễn xét xử, trường hợp rút kháng nghị không có căn cứ thì việc khắc phục sai lầm của Toà án sơ thẩm chỉ có thể được thực hiện theo thủ tục giám đốc thẩm. Do vậy cần phải quy định, nếu trước khi xét xử phúc thẩm hoặc tại phiên tòa mà VKS hoặc KSV rút kháng nghị không có căn cứ thì HĐXX tạm đình chỉ vụ án và có văn bản kiến nghị lên VKS cấp trên trực tiếp của VKS đã rút kháng nghị hoặc Viện trưởng VKS đã cử KSV tham gia phiên tòa và cơ quan, cá nhân này có trách nhiệm xem xét giải quyết kiến nghị trong một thời hạn nhất định, nếu VKS cấp trên trực tiếp hoặc Viện trưởng VKS cử KSV đó không ra quyết định hủy bỏ quyết định rút kháng nghị, thì Thẩm phán chủ tọa hoặc HĐXX phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

– Khoản 3 Điều 346 có quy định về ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, nhưng lại không quy định cụ thể về các nội dung trong quyết định này. Để VKS có thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình; bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa có thể thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ tố tụng tại phiên tòa, theo chúng tôi, cần phải thông báo cho những chủ thể này đầy đủ những nội dung tương tự như nội dung quyết định đưa vụ án ra xét xử ở cấp sơ thẩm.

– Bổ sung 1 khoản vào Điều 351 quy định tư cách người tham gia tố tụng ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, như sau …3. Tư cách tham gia tố tụng của NTGTT ở giai đoạn xét xử phúc thẩm được xác định như sau: a) Những NTGTT có kháng cáo thì tư cách tham gia tố tụng của họ được xác định như ở cấp sơ thẩm. b) Đối với bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị thì xác định họ là người bị kết án, có quyền lợi và nghĩa vụ như NCQL và NVLQ đến vụ án. c) Những NTGTT khác thì tư cách TGTT của họ được xác định như ở giai đoạn xét xử sơ thẩm.

– Điều 354 tại khoản 1 quy định thủ tục bắt đầu phiên tòa và thủ tục tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm được tiến hành như phiên tòa sơ thẩm (Điều 307). Điều 354 không có gì thay đổi so với Điều 247 BLTTHS 2003 vì không quy định từng hoạt động được diễn ra tại phiên tòa phúc thẩm nên khi áp dụng Điều 307 vào phiên tòa phúc thẩm sẽ nhiều điều không hợp lý. Bởi vì, cơ sở cho việc tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm là kháng nghị, cho nên chủ thể kháng nghị phải là người trình bày ý kiến của mình bắt đầu quá trình tranh luận tại phiên tòa. Nếu nhiều chủ thể kháng nghị thì trình tự phát biểu do HĐXX xem xét và quyết định, trong trường hợp đó cần theo nguyên tắc VKS trình bày trước. Lẽ ra Điều 354 cần quy định là:1. Phiên tòa phúc thẩm được tiến hành như sau:a) Chủ tọa khai mạc phiên tòa và tiến hành các thủ tục bắt đầu phiên tòa. Trong trường hợp NTGTT chưa được thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 338 BLTTHS; thông báo về việc đưa vụ án ra xét xử trong thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 346 BLTTHS và nếu họ yêu cầu thì HĐXX phải hoãn phiên tòa.b) Nếu có bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa thì HĐXX xem xét và quyết định tại phòng nghị án, trường hợp cần thiết HĐXX quyết định hoãn phiên tòa để triệu tập thêm những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị. Nếu rút một phần kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa thì HĐXX xét xử phần còn lại; nếu rút toàn bộ các kháng cáo, kháng nghị thì việc XXPT phải được đình chỉ. c) Sau khi kết thúc xét hỏi tại phiên tòa, người đã kháng cáo hoặc kháng nghị có quyền phát biểu đầu tiên. Nếu có nhiều kháng cáo, kháng nghị thì trình tự phát biểu do HĐXX xem xét và quyết định. 2. Các quy định khác về thủ tục phiên tòa sơ thẩm do Bộ luật này quy định được áp dụng đối với phiên tòa phúc thẩm nếu không trái với quy định tại khoản 1 Điều này.

Và để phân định rõ các chức năng của tố tụng, đồng thời là điều kiện để nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, Điều 307 cần sửa lại thành: 1.Tại phiên tòa, tất cả các chứng cứ buộc tội và gỡ tội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, những tình tiết thuộc về nhân thân và những chứng cứ chứng minh bị cáo không có tội phải được làm sáng tỏ theo trình tự xét hỏi hợp lý. 2.Khi bắt đầu giai đoạn xét hỏi, chủ tọa phiên tòa nêu mục đích, yêu cầu của việc xét hỏi theo quy định của pháp luật, sau đó KSV, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự tiến hành xét hỏi. Bị cáo, người bị hại và những NTGTT có quyền đặt ra các câu hỏi về những tình tiết có liên quan đến mình nếu được chủ tọa cho phép. Sau khi các bên hỏi xong, nếu thấy có tình tiết nào chưa rõ hoặc có mâu thuẫn thì chủ tọa và các thành viên HĐXX tiến hành xét hỏi.3. Khi xét hỏi, HĐXX, các bên tham gia xét hỏi và những người tham gia xét hỏi đều có quyền xem xét những vật chứng của vụ án và những tài liệu, đồ vật không liên quan đến vụ án.

– Về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm

+ Điều 355 quy định thẩm quyền của HĐXXPT đối với bản án sơ thẩm tại các điểm a,b,c,d,đ khoản 1 Điều 355 được cụ thể hóa tại Điều 356; 357; 358; 359 và 360. Chúng tôi thấy rằng, xuất phát từ phạm vi kháng nghị, hướng kháng nghị, căn cứ kháng nghị và thẩm quyền của cấp phúc thẩm sẽ làm phát sinh xét xử phúc thẩm xét kháng nghị hoặc xét cả ngoài phạm vi kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm giải quyết vụ án và bản án phúc thẩm cũng có thể là đối tượng bị kháng nghị. Vì thế, nếu quy định như trên thì trong thực tiễn sẽ tiếp tục gặp nhiều khó khăn vướng mắc khi áp dụng, chẳng hạn:

Nếu kháng nghị chỉ một phần bản án sơ thẩm, nhưng HĐXXPT không chấp nhận kháng nghị và cũng không xét đến các phần khác của bản án sơ thẩm, thì việc quy định tại điểm a khoản 1 Điều 355 “Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm” (được cụ thể hóa tại Điều 356) là chưa khái quát được các phạm vi và hướng kháng nghị, phạm vi xét xử phúc thẩm (Điều 345) và thẩm quyền cấp phúc thẩm trong thực tế xét xử. Chẳng hạn: M phạm 2 tội bị kết án 1 tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo khoản 3 Điều 175 BLHS 2015; 01 tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 3 Điều 173. Người có thẩm quyền kháng nghị với phạm vi chỉ về hình phạt của tội Trộm cắp tài sản và kháng nghị theo hướng sửa phần hình phạt tù của bản án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt tù. Nhưng hành vi M bị kết án theo khoản 3 Điều 175 lẽ ra phải được định tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 3 Điều 174 BLHS, mà chưa được kháng nghị về thay đổi tội danh và Hội đồng xét xử phúc thẩm không thể xét đến. Do vậy, nếu Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm là không ổn vì chỉ xét phần bản án bị kháng nghị mà thôi.

Đối với trường hợp cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm; Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại; Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án; Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm cũng có nhiều bất cập, thiếu sót, chẳng hạn:

+ Nếu bị cáo phạm tội đơn lẻ và chỉ phạm một tội hoặc phạm nhiều tội, mà kháng nghị phúc thẩm đối với toàn bộ bản án thì HĐXXPT áp dụng các quy định nêu trên không có gì khó khăn, nhưng nếu chỉ kháng nghị một phần của bản án đối với một tội hoặc đối với nhiều tội (chẳng hạn kháng nghị về hình phạt hoặc về bồi thường dân sự hoặc về án phí hoặc xử lý vật chứng hoặc về hình phạt và về áp dụng khung hình phạt…;

+ Nếu vụ án có đồng phạm chỉ phạm một tội hoặc nhiều tội mà kháng nghị đối với toàn bộ bản án, thì HĐXXPT áp dụng các quy định nêu trên sẽ thuận lợi; nhưng nếu chỉ kháng nghị một phần của bản án đối với một tội đối với 1 bị cáo hoặc đối với nhiều tội đối với một số bị cáo hoặc kháng nghị về bồi thường dân sự, án phí, về hình phạt, khung hình phạt,…thì áp dụng rất khó khăn (vì có thể chấp nhận phần kháng nghị này nhưng không chấp nhận phần kháng nghị khác đối với 1 bị cáo hoặc đối với nhiều bị cáo, hoặc Hội đồng xét xử phúc thẩm xét đến ngoài phạm vi kháng nghị…);

+ Nếu HĐXXPT hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án, thì cũng phải nêu lý do căn cứ pháp luật (như: áp dụng nguyên tắc hồi tố có lợi hoặc do có 1 trong những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Điều 157 BLTTHS 2015).

+ Đã quy định HĐXXPT đình chỉ việc xét xử phúc thẩm (điểm d khoản 1 Điều 355) thì lẽ ra điểm này phải bổ sung quy định căn cứ pháp luật đình chỉ (như do rút toàn bộ kháng nghị; rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị) hoặc phải quy định viện dẫn Điều 348 BLTTHS về căn cứ đình chỉ xét xử phúc thẩm vào điểm này. Điều 348 không quy định đình chỉ vụ án khi bị cáo chết trong giai đoạn thụ lý giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

+ Điều 355 không quy định HĐXXPT đình chỉ vụ án (chẳng hạn như bị cáo chết tại phiên tòa hoặc sau khi có văn bản đưa ra xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm).

Do đó, chúng tôi đề nghị sửa đổi, bổ sung các Điều 355, 358, 359 như sau:

+ Điều 355: Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm

1. Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền: a)…;b) Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm; c) Hủy một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan có thẩm quyền để điều tra lại hoặc xét xử lại; d) Hủy và đình chỉ một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm khi có căn cứ quy định của BLHS, BLTTHS; đ) Đình chỉ xét xử phúc thẩm khi có căn cứ quy định tại Điều 348 của Bộ luật này; e) Đình chỉ vụ án, khi có căn cứ quy định của BLHS, BLTTHS hoặc bị cáo chết mà việc kháng cáo, kháng nghị không liên quan đến họ (đề nghị bổ sung mới).

+ Điều 356: Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm: Hội đồng xét xử phúc thẩm (thay cụm từ Tòa án cấp phúc thẩm để thống nhất với các điều luật liên quan) không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm khi xét thấy phần nhận định và các quyết định của bản án sơ thẩm có căn cứ và đúng pháp luật.

+ Điều 358: Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại

1. Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy một phần hoặc toàn bộ (vì không thể hủy những phần của bản án sơ thẩm đã xét xử đúng pháp luật không bị kháng cáo, kháng nghị) bản án sơ thẩm để điều tra lại trong các trường hợp (đã được quy định tại các điểm a;b;c khoản 1 Điều này). 2. Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm để xét xử ở cấp sơ thẩm với thành phần Hội đồng xét xử mới trong các trường hợp: (quy định tại các điểm a;b;c;d;đ khoản 2 Điều này. Tại điểm đ khoản 2 Điều 358 quy định “đ. Bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp HĐXXPT sửa án theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này”.

Điểm đ khoản 2 Điều này là quy định mới về Tòa án cấp phúc thẩm được quyền hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại, chứ không phải y án rồi kiến nghị cấp giám đốc thẩm nữa. Chúng tôi cho rằng, việc Tòa án cấp phúc thẩm có thẩm quyền này sẽ sớm khắc phục vi phạm sai lầm của bản án sơ thẩm, nhưng nếu bản án sơ thẩm chỉ bị kháng cáo, kháng nghị một phần hoặc toàn bộ nhưng việc kháng cáo, kháng nghị này không làm xấu đi tình trạng của bị cáo, mà cấp phúc thẩm lại hủy án theo hướng xét xử lại làm xấu đi tình trạng của bị cáo, thì liệu có bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo tại phiên tòa không, có ràng buộc trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng không, có vi phạm chế độ 2 cấp xét xử không và liệu bản án phúc thẩm có “xé rào, lấn sân” của cấp giám đốc thẩm hay không khi hủy các phần của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc khác phạm vi và hướng kháng cáo, kháng nghị. Theo chúng tôi, nên bổ sung điểm đ khoản 2 Điều 358 thành: Bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này nếu có kháng cáo,kháng nghị.

Về hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại: Lẽ ra khoản 2 Điều 358 cần quy định như sau: Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với thành phần Hội đồng xét xử mới trong các trường hợp:…;c) Người được Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không có tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội, bao gồm: VKS truy tố bị cáo một hành vi về một tội nhưng Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội; VKS truy tố nhiều tội, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ tuyên bị cáo phạm một hoặc một số tội; VKS truy tố về nhiều hành vi phạm tội về nhiều hành vi khác nhau trong cùng một điều luật (tội liên hoàn), Tòa án cấp sơ thẩm chỉ kết án bị cáo về một hoặc một số hành vi phạm tội về một hoặc một số tội; VKS truy tố bị cáo về nhiều hành vi phạm tội khác nhau cùng về một tội danh nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không kết án bị cáo tất cả các hành vi VKS đã truy tố mà chỉ kết án một hoặc một số hành vi đã truy tố.

+ Điều 359: Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án: 1. Khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 hoặc (thay từ và bằng từ hoặc mới đúng) khoản 2 Điều 157 (những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự) của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên bị cáo không có tội, hủy bản án sơ thẩm kết tội bị cáo và đình chỉ vụ án đối với bị cáo đó (để dễ áp dụng trong vụ án có đồng phạm phạm một tội hoặc nhiều tội hoặc đối với bị cáo bị xét xử nhiều tội…v…v….).

– Về thẩm quyền của Hội đồng phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm: Điểm a khoản 1 Điều 361chỉ quy định việc kháng nghị và xét kháng nghị đối với một phần hoặc các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, vậy nếu phần nhận định trong quyết định sơ thẩm mà mâu thuẫn với phần quyết định của quyết định sơ thẩm khi xét theo quy trình của hoạt động áp dụng pháp luật, thì sao; Điểm c khoản 1 Điều này cũng chỉ có thể được hiểu rằng Tòa án cấp phúc thẩm hủy quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm, vậy trường hợp kháng nghị phúc thẩm đối với quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện, quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện theo khoản 11 Điều 368 BLTTHS 2015 mà chúng tôi đã trình bày trong luận văn mà bị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy do có kháng nghị, thì sao. Vậy cần phải sửa đổi bổ sung Điều 361 thành: 1. Hội đồng phúc thẩm có quyền: a) Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm khi xét thấy các nội dung của quyết định này có căn cứ và đúng pháp luật (bỏ cụm từ “của Tòa án cấp sơ thẩm” ); b)…………c) Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án, hồ sơ vụ việc cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án hoặc giải quyết lại vụ việc.

3.2.Giải pháp khác

Luận văn đã nêu ra giải pháp đối với VKSNDTC, VKSNDCC tại Đà Nẵng và VKSND 2 cấp trong tỉnh, trong đó điều quan trọng nhất vẫn là phát huy vai trò của con người trong việc bố trí sắp xếp, đề bạt cán bộ.

Kết luận Chương 3

Để góp phần thiết thực trong thực hiện chiến lược Cải cách tư pháp của Đảng hiện thực hóa trong Hiến pháp và pháp luật; trên cơ sở các nội dung nghiên cứu tại các Chương 1 và 2 của Luận văn; để nâng cao hiệu quả kháng nghị phúc thẩm, cũng như để thực hiện đúng quy định của BLHS 2015, BLTTHS 2015 và LTCTAND năm 2014, LTCVKSND năm 2014, chúng tôi xin nêu ra một số nhu cầu về công tác kháng nghị phúc thẩm, từ đó xin đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kháng nghị phúc thẩm tại tỉnh Quảng Ngãi.

KẾT LUẬN

BLTTHS 2015 quy định bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm nhằm hướng đến chân lý, trình độ văn minh của tố tụng hình sự. Chương 1 Luận văn đã giải quyết về mặt lý luận về kháng nghị phúc thẩm. Chương 2 đã làm rõ các quy định của pháp luật về kháng nghị phúc thẩm và phản ảnh hiệu quả hoạt động kháng nghị phúc thẩm tại tỉnh Quảng Ngãi trong mười năm qua trên cơ sở chỉ ra kết quả và vướng mắc, hạn chế và nguyên nhân của hoạt động này. Để từ lý luận và thực tiễn, Chương 3 xác định nhu cầu và đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kháng nghị phúc thẩm tại tỉnh Quảng Ngãi. Dù còn nhiều hạn chế, song hy vọng Luận văn có thể được người quan tâm đến ứng dụng trong giảng dạy, học tập, xây dựng và áp dụng pháp luật, góp phần nâng cao tri thức khoa học pháp lý và tạo môi trường tố tụng hình sự ngày càng hoàn thiện hơn.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 7\HINH SU\NGO QUANG VU\NGO QUANG VU 2

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *