Các tội đánh bạc theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đà Nẵng là một thành phố thuộc trung ương từ năm 1997, nằm trong vùng Nam Trung Bộ, là trung tâm kinh tế, tài chính, chính trị, văn hoá, du lịch, xã hội, giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế chuyên sâu của khu vực miền Trung – Tây Nguyên và cả nước. Đà Nẵng đồng thời cũng là một trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương ở Việt Nam, đô thị loại 1 trung tâm cấp quốc gia, cùng với Hải Phòng và Cần Thơ. Đà Nẵng nằm ở vị trí trung độ của Việt Nam, có vị trí trọng yếu cả về kinh tế – xã hội và quốc phòng – an ninh; là đầu mối giao thông quan trọng về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không; Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên – Huế, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông. Đà Nẵng hiện nay có tám quận, huyện với tổng diện tích 1285,4 km², dân số 1.029.000 người
Sự phát triển của các khu du lịch, đô thị mới, các trường đại học và trung học chuyên nghiệp, các bệnh viện lớn ngày càng nhiều trên địa bàn thành phố kéo theo một lượng không nhỏ người về làm việc, học tập và sinh sống dẫn đến tình hình an ninh trật tự diễn biến phức tạp. Sự hoạt động của nhà ga tàu hỏa và các tuyến xe khách liên tỉnh chạy ngày đêm kéo theo nhiều tệ nạn xã hội. Mặt khác trên địa bàn thành phố đã và đang hình thành nhiều khu đô thị, mở rộng nhiều con đường giao thông, người dân bị thu hồi đất nông nghiệp, đất thổ cư, được nhận khoản tiền đền bù, nhưng chưa được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bố trí có công ăn việc làm ổn định cuộc sống. Sự quản lý nhân khẩu về tạm trú, tạm vắng, việc tổ chức chơi sổ số của cơ quan nhà nước ở địa phương chưa chặt chẽ. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tình hình tội phạm gia tăng trên toàn thành phố, nhất là tội phạm đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc.
Các tội phạm về cờ bạc được tồn tại dưới nhiều hình thức với quy mô lớn nhỏ khác nhau, tài sản lả phương tiện thanh toán việc được thua có giá trị ngày càng lớn, các hình thức đánh bạc và những thủ đoạn mà chủ thể sử dụng ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc là hành vi nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, chính trị, văn hóa, trật tự an toàn xã hội bởi phần lớn các đối tượng tham gia là những người nằm trong độ tuổi lao động nên làm thất thoát thời gian lao động, sức lao động, đồng thời người đánh bạc còn sử dụng tiền bạc để tham gia, nhưng không mang lại lợi nhuận mà làm thất thoát của cải vật chất dẫn đến mất nhà, mất cửa, gia đình ly tán… An ninh trật tự theo đó cũng phức tạp, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống sinh hoạt bình thường của người dân. Thêm vào đó là những sai phạm trong xử lý của các cơ quan tiến hành tố tụng, sự bất cập trong các quy định pháp luật về tội phạm này… là những nguyên nhân khiến tệ nạn cờ bạc ngày càng nhức nhối, thách thức chính quyền, làm mất niềm tin của nhân dân. Các loại tội phạm này còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác như xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của con người, tự do tài sản của công dân; tha hóa nhân cách một bộ phận dân cư.
Trong những năm gần đây, Đà Nẵng có sự chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn tồn tại nhiều vấn đề tiêu cực, như sự phân hóa giàu nghèo, vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động vẫn còn nan giải, các chính sách xã hội còn nhiều bất cập, tệ nạn xã hội và tình hình tội phạm vẫn phức tạp và nghiêm trọng, đặc biệt là tệ nạn cờ bạc, gây ảnh hưởng rất lớn tới đời sống kinh tế người dân, xói mòn lối sống tuân thủ pháp luật và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự trên địa bàn thành phố. Từ thực trạng trên, việc nghiên cứu sâu những quy định của pháp luật hình sự hiện hành về các tội cờ bạc trên cơ sở thực tế của tình hình các tội các tội phạm về cờ bạc ở địa bàn thành phố Đà Nẵng là rất cần thiết; đòi hỏi phải nghiên cứu những vấn đề lý luận về đấu tranh phòng, chống các tội phạm về cờ bạc và thực trạng đấu tranh phòng, chống trên địa bàn của địa phương, để từ đó đề xuất các biệc pháp đấu tranh phòng, chống vừa bằng biện pháp nghiệp vụ vừa bằng các quy định của Luật hình sự sao cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Nên tôi chọn đề tài “Các tội đánh bạc theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài tiến hành nhằm nghiên cứu tình hình tội phạm; những quy định hiện hành về các tội cờ bạc trên cơ sở thực tế định tội danh và quyết định hình phạt đối với các tội phạm này ở thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2013-2017. Từ đó đề xuất các biện pháp (vừa nghiệp vụ, vừa là quy phạm) nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống và xử lý tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và cả nước nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và pháp luật về các tội phạm về cờ bạc theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Luận văn nghiên cứu quá trình định tội danh các tội đánh bạc từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng (năm 2013 – 2017);
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về hình phạt đối với các tội đánh bạc từ thực tiễn quyết định hình phạt tại thành phố Đà Nẵng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở thực tiễn pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm cờ bạc trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn từ 2013-2017, luận văn xác định và luận giải sự phù hợp hoặc chưa phù hợp giữa quy định của pháp luật hình sự và thực tế thực hiện hành vi của người phạm tội. Qua đó, tăng tính nghiêm khắc của hình phạt đủ sức răn đe, giáo dục trong công tác ngăn chặn và đẩy lùi tội phạm. Góp phần cho thấy việc đấu tranh phòng chống tội phạm không chỉ là trách nhiệm của riêng ai mà là trách nhiệm của toàn xã hội. Cần có sự thống nhất trong chỉ đạo của Đảng, chính quyền; sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành chức năng với toàn dân nhằm tạo sức mạnh đẩy lùi tội phạm này ra khỏi đời sốn xã hội góp phần làm ổn định an ninh trật tự.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, đề tài được thực hiện trong phạm vi chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự;
Về địa bàn, đề tài được thực hiện trong phạm vi thành phố Đà Nẵng
Về thời gian, đề tài nghiên cứu số liệu thực tế trong giai đoạn từ năm 2013 đến 2017, gồm số liệu thống kê của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
Về tội danh, đề tài nghiên cứu các tội phạm về cờ bạc được quy định tại Điều 248 và Điều 249 BLHS 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VII, IX, X và các Nghị quyết số 8-NQ/TW ngày 2/1/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ chính trị.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thông kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn là một công trình nghiên cứu có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các cơ sở lý luận và pháp luật của các tội đánh bạc theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng; Nghiên cứu quá trình định tội danh các tội đánh bạc từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng (năm 2013 – 2017); Nghiên cứu dưới góc độ hình sự và tố tụng hình sự. Quy định tại Điều 248; Điều 249 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999.
6.1. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận, nghiên cứu, học tập. Những đề xuất, kiến nghị của luận văn góp phần cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự Việt Nam liên quan đến các tội phạm về cờ bạc, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về các tội phạm về cờ bạc theo pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 2. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về các tội phạm về cờ bạc ở thành phố Đà Nẵng
Chương 3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với các tội phạm về cờ bạc
NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÁC TỘI PHẠM VỀ CỜ BẠC THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985
Sau khi cách mạng tháng 8/1945 thành công, mặc dù nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập nhưng Chính phủ mới được thành lập đã nhận thức rõ sự nguy hiểm của các hành vi cờ bạc đối với xã hội và sự phát triển bền vững của chính quyền mới. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã ra Sắc lệnh giữ lại những đạo luật có từ thời phong kiến và thực dân mà không trái với các mối quan hệ của xã hội mới. Trong đó, các quy định hình sự liên quan đến cờ bạc vẫn được giữ lại các giá trị tích cực từ luật pháp phong kiến. Đây cũng là những tiền đề quan trọng trong các pháp luật hình sự thực định về tội phạm cờ bạc sau này.Có thể liệt kê các quy định về các tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc ở nước ta được các văn bản pháp luật ghi nhận, ban hành từ năm 1948 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ nhất luật hình sự 1985 bao gồm:
– Sắc lệnh số 168/SL ngày 14-4-1948.
– Sắc lệnh số 03/SL-76 ngày 15-3-1976.
– Thông tư 301/VHH-HS ngày 14/2/1957 về vấn đề bài trừ nạn cờ bạc.
– Thông tư 2098/VHH-HS ngày 31/5/1957 về việc bài trừ tệ nạn cờ bạc và giải quyết một phần vướng mắc của Sắc lệnh 168/SL. [40, tr.22]
Sắc lệnh số 168/SL ngày 14/4/1948 là văn bản pháp luật hình sự đầu tiên được nhà nước ta quy định về tội cờ bạc. Sắc lệnh này thể hiện đường lối xử lí cứng rắn, thái độ nghiêm khắc của nhà nước ta đối với loại tội phạm này, đặc biệt đối với những đối tượng đánh bạc.
– Tại Điều 1 của Sắc lệnh 168/SL quy định về hành vi đánh bạc như sau: Hành vi đánh bạc bao gồm “Tất cả các trò chơi cờ bạc dù có tính chất may rủi hay là có dùng trí khôn để tính nước mà được thua bằng tiền đều coi là tội đánh bạc “ hoặc những cuộc đánh đố nhau vì tiền, những cuộc xổ số vì tiền hay bằng đồ mà không có nhà chức trách có thẩm quyền cho phép trước thì đều được coi là hành vi đánh cờ bạc không cứ ở nơi nào.
– Tại Điều 2 Sắc lệnh 168/SL cũng quy định hành vi tổ chức đánh bạc với nội dung là tổ chức một cuộc đánh bài, đánh bạc, một trò chơi đã được nêu tại điều 1 của Sắc lệnh mà không phụ thuộc vào địa điểm thực hiện hành vi.
– Sắc lệnh chưa được quy định về hành vi gá bạc nhưng quy định đối với những người mà cho mượn tiền mượn địa điểm để tổ chức đánh bạc không cần biết có thu lợi hay không đều bị xử lý như người tổ chức đánh bạc.
– Sắc lệnh 168/SL cũng quy định:“Những người giúp, người khác tổ chức những cuộc chơi nói trên, những người quản lý người làm cái, lấy hồ, những người làm công khác giúp việc trực tiếp vào cuộc chơi đều bị coi là tòng phạm của người tổ chức đánh bạc và bị phạt tù từ 2 – 5 năm tù và phạt bằng tiền từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng.” Bên cạnh việc xác định phạm vi những đối tượng bị xử lý về hình sự Sắc lệnh 168/SL cũng quy định chế tài xử lý nghiêm khắc được áp dụng đối với người phạm tội đánh bạc:
– Điều 2 của Sắc lệnh 168/SL quy định hình phạt đối với người phạm tội đánh bạc là tù từ 1 năm đến 3 năm và phạt bạc (phạt tiền) từ 5.000 đến 50.000 đồng.
– Ngoài hình phạt chính, điều luật còn quy định hình phạt bổ sung có thể áp dụng đối với người phạm tội là bị quản thúc từ 1 năm đến 5 năm. Văn bản cũng quy định các dụng cụ dùng vào việc đánh bạc, tiền nong bắt được trên bàn hay trên chiếu bạc đều bị tịch thu.
– Tại Điều 4 của Sắc lệnh có ghi rằng: Dù rằng Tòa án có xét xử tình trạng nên giảm, cũng bắt buộc hình phạt tối thiểu về tù và tiền nói trong Điều 2 và Điều 3 trên đây. Tòa án phải phạt vừa tù và tiền mà không cho bị can hưởng án treo. Nếu có trường hợp tái phạm, các hình phạt sẽ tăng gấp đôi. Đây là Điều luật thể hiện thái độ rất nghiêm khắc của nhà nước trong việc xử lý những người thực hiện hành vi cờ bạc [7].
Sắc lệnh mặc dù chưa phân biệt rõ các hình vi cờ bạc nhưng trong quy định đã có phân hóa để xử lý đối với những đối tượng tổ chức đánh bạc và những người đánh bạc này thể hiện đường lối xử lí cứng rắn, thái độ nghiêm khắc của nhà nước ta đối với loại tội phạm này, đặc biệt đối với những đối tượng đánh bạc.
Sau khi ra ban hành và áp dụng một thời gian, Sắc lệnh 168/SL là cơ sở pháp lý quan trọng phục vụ cho việc phòng chống các tội cờ bạc nói chung và tội đánh bạc nói riêng. Tuy nhiên sau gần 10 năm thực hiện đã xuất hiện những vướng mắc khi thực trạng xã hội bấy giờ, miền Bắc đã bắt đầu tiến hành công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, các điều kiện về kinh tế, văn hoá, xã hội này sinh nhiều đòi hỏi mới. Trước tình hình đó, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư 301/VHH-HS ngày 14/2/1957 và Thông tư 2098/VHH-HS ngày 31/5/1957 về việc bài trừ tệ nạn cờ bạc và giải quyết một phần vướng mắc của Sắc lệnh 168/SL.
Thông tư 301/VHH-HS thể hiện quan điểm xử lý tội cờ bạc là “lấy giáo dục làm chính” và cũng hướng dẫn cho các cơ quan tư pháp đường lối giải quyết vụ án là không nhất thiết phải bắt được quả tang đánh bạc mới có thể truy tố được; Có thể chứng minh bằng bằng bất kỳ hình thức nào để chứng minh là bị can đã đánh bạc, nhưng phải thận trọng trong trường hợp này. Có bằng chứng rõ ràng thì mới truy tố, không nên suy luận hoặc chỉ dựa vào lời khai của một vài nhân chứng (Phần B mục I). Thông tư quy định thu hẹp về đối tượng bị xử lý về tội cờ bạc, bao gồm các đối tượng tham gia vào tổ chức, chứa gá bạc và người đánh bạc là các đối tượng có kèm theo các đặc điểm về nhân thân thì mới xem xét để truy tố như:
Bọn tổ chức, bọn chứa gá, bọn xóc cái, bọn hồ lỳ, bọn canh gác chuyên sống về nghề cờ bạc.
Bọn con bạc chuyên sống bằng nghề cờ bạc hoặc đã được cảnh cáo rồi mà vẫn tiếp tục chơi, coi thường pháp luật. [40, tr.23]
Thông tư 301/VHH-HS cũng quy định đường lối phân hóa trong chính sách hình phạt đối với các đối tượng phạm tội. Cụ thể là: “đối với những bọn trên thì xử phạt mức tối thiểu, trường phạt phạm tội nặng mới phạt trên mức tối thiểu”. So với đường lối xử phạt của Sắc lệnh 168/SL, đường lối xử lý trong thông tư này đã giảm nhẹ đáng kể đối với những đối tượng tham gia cờ bạc.
Trong khi đó, Thông tư 2098/VHH-HS ngày 31/5/1957 nêu ra cách vận dụng Sắc lệnh 168/SL và xác định những nội dung chính sau:
– Về mức hình phạt: Đối với những trường hợp phạm tội nhẹ mà nếu phạt bị can ở mức tối thiểu là 1 năm tù thì nặng quá nhưng nếu chỉ cảnh cáo ở phòng công tố thì nhẹ quá. Thông tư này cũng nêu đường lối xử lý là phải cân nhắc kĩ giữa truy tố và không truy tố. Nếu thấy truy tố là cần thiết để làm hậu thuẫn cho việc giáo dục thì cứ đưa ra truy tố đề nghị với Tòa án xử phạt mức tối thiểu. Nếu xét thấy không cần thiết phải truy tố thì cảnh cáo ở phòng công tố rồi tha cho bị can. Mức phạt tiền vẫn giữ nguyên theo quy định của Sắc lệnh 168/SL.
– Về vấn đề thu tang vật: Thông tư số 2098 ngày 31/5/1957 khẳng định rõ thêm quy định của Sắc lệnh 168/SL: Chỉ tịch thu số tiền trên bàn hoặc trên chiếu bạc mà không tịch thu tiền trong túi các con bạc, để tránh tình trạng lạm dụng tịch thu cả tiền không phải để dùng để đánh bạc hoặc được bạc, cũng không tịch thu đồ vật do tiền được bạc mua được.
– Về vấn đề quản thúc: Thông tư nêu tinh thần mới là đối với các đối tượng phạm tội cờ bạc thì không cần thiết xử phạt thêm quản thúc.
Sau đó TANDTC đã có Bản tổng kết số 9/NCLP ngày 08/01/1968 hướng dẫn đường lối xét xử các tội cờ bạc trong đó đã quy định hành vi nào xử lý bằng chế tài hình sự, hành vi nào không cần thiết phải xử lý bằng chế tài hình sự và đã đưa ra khái niệm về các hành vi cờ bạc “Hành vi đánh bạc là hành vi có được thua bằng tiền mặt hay không dùng tiền mặt nhưng thanh toán với nhau bằng tiền, tuy nhiên phải có động cơ mục đích sát phạt nhau” [44]. Theo đó đối với hành vi đánh bạc phải có động cơ mục đích sát phạt nhau, có được thua đáng kể hay tương đối đáng kể thì mới cần thiết phải xử lý về hình sự vì khi đó tính chất hành vi bóc lột lẫn nhau trái với chế độ XHCN, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đánh bạc mới thể hiện rõ nét.
Có thể nhận thấy rằng điểm tiến bộ quan trọng trong đường lối xét xử của bản tổng kết số 9/NCPL là chính sách phân hóa rõ rệt các đối tượng bị xử lý hình sự theo tinh thần:
Mức độ xử lý nặng nhẹ căn cứ vào tính chất của hành vi và nhân thân bị cáo; hành vi tổ chức, chứa gá cờ bạc nguy hiểm hơn hành vi đánh bạc, những đám bạc to nguy hiểm hơn những đám bạc ít sát phạt nhau. Những người chuyên sống hay gần như chuyên sống về nghề cờ bạc nguy hiểm hơn những người cờ bạc máu mê, những người cờ bạc máu mê nguy hiểm hơn những con bạc cơ hội; những phần tử xấu cần xử lý nghiêm khắc hơn những người thuộc thành phần nhân dân lao động…
Tại văn bản này lần đầu tiên quy định hình thức xử phạt tù và cho hưởng án treo được quy định đối với những người phạm tội cờ bạc thuộc những trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng.
Về hình phạt này vẫn dựa trên tinh thần của Sắc lệnh 168/SL, tuy nhiên có hướng dẫn xử lý đối với hình phạt tiền, xử phạt quản chế và xử lý tang vật.
Vấn đề phạt tiền: Bản tổng kết số 9/NCPL xác định phạt tiền có thể là hình phạt chính hoặc phụ, tuy nhiên hình phạt này chỉ nên áp dụng với tư cách là hình phạt chính trong những trường hợp cá biệt như tội phạm nhẹ, hoàn cảnh bản thân hoặc gia đình đáng chiếu cố đặc biệt (tuổi già, bệnh tật, v.v….).

Bản tổng kết cũng đưa ra quan điểm đó là Tòa án phải xử phạt tiền nặng đối với những đối tượng cờ bạc chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, những tên cờ bạc gian lận, những người tổ chức, thu hồ, những tên cờ bạc sát phạt nhau lớn. Tuy nhiên, mức tiền phạt phải tùy thuộc vào tính chất, hành vi của đối tượng, đồng thời cần xét đến khả năng kinh tế hiện tại của từng bị cáo để bản án có thể thi hành được và việc phạt tiền không ảnh hưởng đến sinh hoạt của gia đình họ.
Cơ sở pháp lý của hình phạt tiền có Điều 2 Sắc lệnh 168-SL ngày 14/04/1948 cho phép xử phạt đến 50đ đối với con bạc, đến 100đ đối với người tổ chức, chứa gá như chỉ thị 1183 của TAND tối cao hướng dẫn; lại có Điều 4 của Sắc lệnh ấy cho phạt bạc gấp đôi trong trường hợp tái phạm.
Ngoài Sắc lệnh số 168- SL và sau sắc lệnh này còn có Nghị định số 32 ngày 06/04/1952 của Bộ tư pháp quy định tại điều 7. Riêng tội đánh bạc, tiền phạt ấn định ở Điều 2 Sắc lệnh 168 – SL bằng giá 200 kg gạo đến 1000 kg gạo đối với người tổ chức, và bằng 100kg gạo đến 500kg gạo đối với con bạc. Theo giá gạo Nhà nước quy định hiện nay (40đ/tạ) người tổ chức có thể bị phạt tới 400đ và con bạc có thể bị phạt đến 200đ. Nếu tái phạm vận dụng thêm Điều 4 Sắc lệnh 168 – SL, người tổ chức có thể bị phạt đến 800đ và con bạc có thể bị phạt đến 400đ.
Về hình thức xử phạt quản chế, bản tổng kết nêu ra đường lối chung đó là “Không xử phạt quản chế đối với nhân dân lao động và nói chung chỉ xử phạt hình thức quản chế đối với những người có nhân thân xấu, chỉ vì máu mê hay cơ hội mà phạm tội cờ bạc.” Đồng thời cần phải xử phạt quản chế đối với các đối tượng địa chủ cường hào có tội nhẹ, bọn đã làm gián điệp, tham gia các đảng phái nói chung, bọn đã làm tay sai cho địch tội nhẹ mà nay chưa thực sự hối cải.
Về vấn đề xử lý tang vật, bản tổng kết tiếp tục khẳng định nguyên tắc tịch thu những phương tiện thường xuyên dùng để đánh bạc, tịch thu toàn bộ tiền dùng để phạm pháp và tiền do phạm pháp mà có.
Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ngày 15-3-1976, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ra Sắc luật số 03/SL-76. Tại Điều 9 của Sắc luật này có quy định về tội xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng và sức khỏe của nhân dân với nội dung như sau: “Cờ bạc, tổ chức ổ mãi dâm, buôn bán, tàng trữ ma túy và các chất độc khác thì bị phạt tù, từ ba tháng đến năm năm. Trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến mười lăm năm. Trong mọi trường hợp có thể bị phạt tiền đến 1.000 đồng Ngân hàng“.[13, Điều 9]. Ngoài ra, tại Điều 11 về hình phạt phụ, người phạm tội có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; Trường hợp phạm tội có tính chuyên nghiệp còn có thể bị phạt quản chế hoặc cấm lưu trú ở một số địa phương từ một năm đến năm năm tù sau khi chấp hành xong hình phạt.
Quá trình thực hiện sắc luật, theo tinh thần của Chỉ thị 54/TATC ngày 6/7/1977 thì mức hình phạt của Sắc luật 03/SL-76 là quá cao, không phù hợp với tình hình tội phạm này ở miền Bắc, do đó chỉ được áp dụng tại Miền Nam, còn miền Bắc vẫn áp dụng đường lối xét xử theo hướng dẫn tại Bản tổng kết số 09-NCPL.
Như vậy có thể thấy, giai đoạn này nhà nước ta đã có những văn bản pháp luật điều chỉnh hình sự về các tội cờ bạc. Đây là những căn cứ quan trọng cho lần pháp điển hoá đầu tiên luật hình sự Việt Nam. Mặc dù còn những hạn chế nhất định, nhưng phải khẳng định rằng Sắc lệnh 168/SL, Sắc luật 03-SL/76 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành là những cơ sở pháp lý quan trọng để đấu tranh phòng chống tội phạm cờ bạc, thực hiện những nhiệm vụ xây dựng cải tại xã hội của Nhà nước ta trong giai đoạn lịch sử này. Đây cũng là cơ sở để xây dựng những quy định của pháp luật hình sự nước ta về tội phạm cờ bạc nói chung và tội đánh bạc nói riêng về sau.
1.1.2. Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 cho đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
Sau lần pháp điển hoá luật hình sự đầu tiên, BLHS năm 1985 ra đời và có hiệu lực từ 1/1/1986. Sự kiện này tạo một dấu mốc quan trọng trong kỹ thuật lập pháp hình sự ở nước ta. BLHS năm 1985 trở thành Đạo luật hình sự đầu tiên của nước ta quy định tất cả các vấn đề về tội phạm và hình phạt. Sự ra đời của Bộ luật này đã thay thế cho tất cả các văn bản pháp luật được áp dụng từ 1945 đến trước khi Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 có hiệu lực. Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 quy định các dấu hiệu cấu thành tội phạm đối với tội phạm về cờ bạc gồm tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc.
Các tội về cờ bạc quy định duy nhất tại Điều 200 Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 cùng với các quy định trong phần chung và Điều 218 (quy định về hình phạt bổ sung) của Bộ luật là cơ sở pháp lý cho việc xử lý các tội phạm về cờ bạc trong giai đoạn này.
Tại khoản 1 Điều 200 BLHS năm 1985 quy định về tội đánh bạc: “Người nào đánh bạc dưới bất kì hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm“. Ngoài ra tại khoản 2 và khoản 3 BLHS năm 1985 quy định các hình phạt bổ sung đối với các tội phạm này bao gồm: : “Có thể bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm” và ” bị phạt tiền từ hai triệu đồng đến năm triệu đồng và có thể bị tịch thu một phần tài sản“. [30, Điều 200]. Mặc dù được quy định tại cùng một điều luật nhưng các khung hình phạt khác nhau là căn cứ để phân biệt giữa tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc và gá bạc trong Bộ luật Hình sự năm 1985. Đây chính là một điểm tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp của BLHS năm 1985 so với các văn bản pháp luật thời kì trước.
Về tội đánh bạc khoản 1 điều 200 xác định bản chất của hành vi này là: “đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật”. Hình phạt được áp dụng đối với tội đánh bạc là phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Ngoài ra hình phạt phụ là hình phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 1 năm đến 5 năm. Hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt phụ là từ hai triệu đồng đến năm triệu đồng. Người phạm tội còn có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Điều 200 BLHS năm 1985 cho thấy rõ sự kế thừa và phát triển các quy định của pháp luật hình sự giai đoạn trước về tội đánh bạc. Đó là vẫn quy định hình thức xử lý nghiêm khắc hơn đối với những đối tượng tham gia đánh bạc.
Thời kỳ này nhà nước ta vẫn kế thừa quan điểm nhận thức về tính nguy hiểm cho xã hội của các hành vi cờ bạc. Đồng thời xác định các hành vi cờ bạc bao gồm: đánh bạc, tổ chức đánh bạc và gá bạc. Mặt khác cũng nhận thấy rằng quy định về các tội cờ bạc trong BLHS năm 1985 thể hiện bước phát triển quan trọng trong kỹ thuật lập pháp hình sự. Cùng với Phần chung của BLHS trong đó bao gồm những quy định chung về tội phạm và hình phạt, Điều 200 BLHS quy định một cách ngắn gọn khoa học về các hành vi phạm tội (hành vi đánh bạc, hành vi tổ chức đánh bạc, hành vi gá bạc) mà không cần liệt kê dài dòng về từng dạng hành vi cụ thể cũng như không cần đưa vào điều luật hành vi của những người đồng phạm khác. Việc đổi mới này làm cho quy định về các tội cờ bạc nói chung và tội đánh bạc nói riêng trở nên ngắn gọn dễ hiểu và khoa học.
Tuy nhiên, quy định của Điều 200 BLHS năm 1985 cũng còn những hạn chế nhất định, là phát sinh những vướng mắc trong quá tình áp dụng pháp luật hình sự về đấu tranh phòng chống đối với các đối tượng đánh bạc nói riêng và các đối tượng tội phạm về cờ bạc nói chung.
Hạn chế đầu tiên có thể nhận thấy rằng: Các tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc cùng được quy định trong một điều luật, các dấu hiệu cấu thành tội đánh bạc gần như không có điểm chung với các dấu hiệu cấu thành tội tổ chức đánh bạc và gá bạc. Vì vậy tuy đã được sắp xếp ở hai khung khác nhau, nhưng rõ ràng cách quy định này là chưa có tính khoa học.
Hạn chế thứ hai còn tồn tại: Quy định về cả ba tội đều không chỉ rõ ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm đối với các hành vi cờ bạc. Cách quy định này dẫn đến những quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề phạm vi xử lý hình sự đối với các tội phạm về cờ bạc. Mặc dù quy định tại Điều 200 cần phải dựa trên tinh thần và đặt trong mối tương quan pháp lý của khoản 3 Điều 8 BLHS năm 1985 ” những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”. Nhưng những người áp dụng pháp luật lại có những quan điểm nhận thức khác nhau về ranh giới giữa tính nguy hiểm đáng kể và nguy hiểm không đáng kể đối với các hành vi cờ bạc.
Trong khi đó các văn bản hướng dẫn áp dụng luật hình sự trong suốt thời kỳ BLHS năm 1985 có hiệu lực cũng không đề cập tới vấn đề này. Đối với những tội hoàn toàn có thể tỏ ra sự phân định rõ ràng trong luật giữa những trường hợp là tội phạm với những trường hợp không phải là tội phạm như các tội phạm cờ bạc thì việc quy định chung chung như nói ở trên là một hạn chế.
Bên cạnh đó cách quy định tình tiết định khung tăng nặng tại đoạn 2 khoản 2 Điều 200 “phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm”. Việc điều luật quy định như thế này dẫn tới hai cách hiểu khác nhau, tình tiết định khung tăng nặng này được áp dụng cho cả ba tội hay chỉ được áp dụng cho tội tổ chức đánh bạc và gá bạc.
Với những hạn chế trong cơ cấu tại Điều 200 đã không đủ rõ ràng để tạo ra một cách hiểu thống nhất. Điều luật tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau dẫn tới các ảnh hưởng mang tính tiêu cực trong quá trình áp dụng pháp luật.
Ngoài ra, còn có thể thấy chế tài được quy định cho các tội cờ bạc (bao gồm hình phạt chính được quy định tại Điều 200 và hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 3 Điều 218) còn tương đối nhẹ, chưa đủ răn đe, phòng ngừa những hành vi thực hiện loại tội phạm này. Ngược lại việc quy định hình phạt bổ sung quản chế hoặc cấm cư trú đối với những người phạm tội cờ bạc là không phù hợp, thiếu ý nghĩa thực tế và tính khả thi. Mặt khác chỉ riêng tình tiết phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung tăng nặng thì chưa đủ bao quát hết những trường hợp phạm tội mà mức độ nguy hiểm cao hơn đáng kể so với những trường hợp khác.
Tóm lại, với sự ra đời của BLHS năm 1985, những quy định của luật hình sự về tội phạm cờ bạc đã thể hiện những tiến bộ quan trọng so với giai đoạn trước. Những tiến bộ đó góp phần quan trọng vào hoạt động đấu tranh phòng chống các tội phạm này trong suốt thời kỳ gần 15 năm kể từ khi BLHS năm 1985 có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, quy định về các tội cờ bạc trong thời kỳ này vẫn chưa hoàn thiện. Cách quy định quá khái quát, gọn nhẹ và chưa thể hiện hết những nội dung cần thiết đã tạo ra những vướng mắc trong quá trình áp dụng.
1.2.1. Những dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về cờ bạc
Sự ra đời của BLHS năm 1999 đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong kỹ thuật lập pháp hình sự ở nước ta góp phần đáng kể vào việc khắc phục những khiếm khuyết trong quy định về các tội cờ bạc của BLHS năm 1985. Theo đó nhà làm luật đã tách riêng quy định về tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thành hai điều luật, tội đánh bạc được quy định tại điều 248 BLHS và tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc được quy định tại Điều 249 BLHS năm 1999. Bên cạnh đó các nhà làm luật đã đưa ra dấu hiệu định tội vào cấu thành tội phạm, xây dựng thêm các tình tiết định khung tăng nặng và hoàn thiện thêm các chính sách hình phạt cho phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn.

* Khách thể của tội phạm:
Khách thể của tội phạm nói chung là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm, nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên (hoặc có thể gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định . Theo pháp luật hình sự Việt Nam thì khách thể của tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc là trật tự công cộng.
Theo từ điển thuật ngữ lý luận Nhà nước và Pháp luật thì “trật tự công cộng” được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Nghĩa hẹp thì “trật tự công cộng” là trật tự được thiết lập những nơi phục vụ lợi ích chung như đường phố, công viên, bệnh viện, nhà hát…theo nghĩa rộng thì “trật tự công cộng” là một cách diễn đạt về trật tự xã hội nói chung. Theo đó, việc tuân thủ các quy phạm pháp luật, quy phạm đạo đức, phong tục tập quán, quy tắc tôn giáo tạo nên một trật tự chung phục vụ lợi ích công cộng. Hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc đã tác động làm cản trở những hoạt động trên, theo đó chủ thể tác động đã không chọn xử sự đúng đắn mà lại chọn thực hiện hành vi đánh bạc và hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, phủ định chủ quan đối với những đòi hỏi của xã hội. Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc có thể được thực hiện ở bất cứ đâu, địa điểm nào như: Trên đường phố, nhà riêng, công sở, nhà hàng, khách sạn hay thậm chí là ngoài đồng ruộng, trên xe ô tô, tàu lửa… làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc duy trì sự ổn định, tính có kỉ luật, tính có tổ chức trong trật tự công cộng. Các hành vi về cờ bạc với tính chất chung là sát phạt về kinh tế giữa nhiều người hoặc tổ chức cho nhiều người sát phạt nhau về kinh tế là những hành vi tác động tiêu cực đến nếp sống văn minh, ủy hoại nhân cách người phạm tội gây ra những thiệt hại về vật chất, tinh thần cho nhiều gia đình, cơ quan, tổ chức…và tạo ra một môi trường xấu, lôi kéo người khác tham gia vào loại tội phạm này và nhiều loại tội phạm khác, kìm hãm sự phát triển kinh tế, xã hội.
Tóm lại, Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc là những hành vi mang tính tiêu cực trong xã hội trái với quy định của pháp luật hiện hành, những hành vi đó là xâm phạm trật tự công cộng, an toàn xã hội cần phải được ngăn chặn và xử lí nghiêm minh.
* Mặt khách quan của tội phạm:
Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm các biểu hiện của tội phạm diễn ra trong thế giới khách quan, các biểu hiện đó là: Hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Các dấu hiệu khách quan gắn liền với hành vi phạm tội, như: Công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm và hoàn cảnh phạm tội. Mặt khách quan của tội phạm có ý nghĩa quan trọng đối với việc định tội danh, từ những biểu hiện khách quan đặc biệt là hành vi nguy hiểm cho xã hội người ta xác định được có tội phạm xảy ra hay không. Hành vi nguy hiểm cho xã hội là xử sự cụ thể của con người được thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức nhất định, gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi nguy hiểm cho xã hội phải là hoạt động cụ thể được chủ thể nhận thức và điều khiển, có nội dung trái với yêu cầu và đòi hỏi của PLHS.
Hành vi phạm tội của tội đánh bạc được hiểu là hành vi tham gia trò chơi, được tổ chức bất hợp pháp và sự được thua kèm theo việc được hoặc mất một số tài sản nhất định. Khái niệm tổng quát về hành vi đánh bạc mà điều luật đưa ra cho thấy dạng biểu hiện cụ thể của hành vi đánh bạc rất phong phú, đa dạng., nhưng dù tồn tại dười hình thức nào thì đều có đặc điểm chung là việc thắng thua mang tính khách quan. Điều này giúp cho việc xác định những loại trò chơi được tổ chức một cách hợp pháp không thuộc phạm vi khái niệm đánh bạc. Có thể nói, người phạm các tội đánh bạc có thể lựa chọn bất cứ hoạt động nào hay hiện tượng nào trong cuộc sống với ý thức biến nó thành trò chơi có dùng tài sản làm phương tiện thanh toán cho việc được thua để chúng thỏa mãn hành vi trong mặt khách quan của tội phạm này (trừ hành vi của người đua xe trái phép đồng thời tham gia cá cược vì hành vi này đã được quy định tại Điều 207 BLHS).
Kết quả của trò chơi đó phụ thuộc hoàn toàn vào hoạt động của chủ thể như đánh xóc đĩa, ba cây… Có thể phụ thuộc vào những đối tượng nhất định do họ điều khiển, quản lý hoặc lựa chọn như trọi gà, đua chó, đua ngựa. Việc phân tích đó cũng cho kết quả thắng thua có thể phụ thuộc vào khả năng của chủ thể và sự may rủi. Nhưng rõ ràng, hành vi phạm các tội đánh bạc dù tồn tại dưới hình thức nào đều có điểm chung là việc thắng thua mang tính khách quan. Đặc điểm chung này chính là cơ sở để phân biệt giữa những hành vi đánh bạc với những hành vi về hình thức có biểu hiện giống hành vi đánh bạc (sự thỏa thuận chơi được thua giữa các chủ thể) nhưng kết quả thắng thua lại không mang tính khách quan mà hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của một người nào đó.
Trường hợp một người hoặc một nhóm người có thể điều chỉnh được kết quả thắng thua theo ý muốn thì hành vi của các bên thực chất không còn là một dạng trò chơi nữa. Trong trường hợp này hành vi của các chủ thể không có sự gian dối vẫn được xác định là hành vi đánh bạc nhưng hành vi của chủ thể dùng sự gian dối để điều chỉnh kết quả phải được xác định là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Hành vi khách quan của tội Tổ chức đánh bạc là hành vi rủ rê, lôi kéo tụ tập người khác tham gia đánh bạc trái phép. Như vậy chủ thể của hành vi tổ chức đánh bạc giữ vai trò chủ động cao đối với việc hành vi đánh bạc được thực hiện, trên thực tế những người thực hiện hành vi này dưới các hình thức xây dựng, thiết lập các sòng bạc, tụ điểm đánh bạc có sự quản lí chặt chẽ, bố trí lực lượng canh gác, duy trì trật tự cho hoạt động đánh bạc. Nhiều đối tượng còn làm các thủ tục kinh doanh ngành nghề hợp pháp để tạo v bọc để che dấu nhưng thực chất bên trong là các sòng bạc chuyên nghiệp, hoạt động phục vụ các con bạc thâu đêm suốt sáng. Để đảm bảo bí mật các đối tượng tổ chức thường đề ra những quy định rất chặt chẽ như kiểm soát việc đi lại hay không cho người lạ vào địa điểm đánh bạc và dùng các tín hiệu báo động khi xuất hiện người lạ… khi bị phát hiện chúng tìm cách xóa bỏ, tiêu hủy các công cụ, phương tiện tổ chức đánh bạc nhằm chối tội hay dùng thủ đoạn lấy tiền để mua chuộc các lực lượng chức năng khi thực hiện nhiệm vụ điều tra, bắt giữ. Hành vi Gá bạc là hành vi cho sử dụng đia điểm làm nơi thực hiện việc đánh bạc để thu lợi, hành vi cho sử dụng địa điểm ở đây có thể hiểu là hành vi cho thuê, cho mượn địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của người gá bạc. Trên thực tế rất dễ có sự nhầm lẫn giữa các hành vi tổ chức đánh bạc với hành vi gá bạc, bởi do hành vi tổ chức đánh bạc thường bao gồm cả hành vi bố trí địa điểm giống với hành vi gá bạc, tuy nhiên hành vi bố trí địa điểm chỉ là một trong nhiều hành vi khác của người phạm tội như cung cấp công cụ đánh bạc hay tụ tập các đối tượng để đánh bạc…trong khi hành vi gá bạc chỉ chủ yếu bao gồm hành vi cho sử dụng địa điểm để thực hiện việc đánh bạc để thu lợi. Như vậy, hành vi tổ chức đánh bạc thể hiện tính chủ động cao hơn so với hành vi cho sử dụng địa điểm để thực hiện việc đánh bạc.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 248 BLHS năm 1999 thì phương tiện thanh toán cho việc được thua phải là tiến hoặc hiện vật. Tuy nhiên cả về mặt lý luận lẫn trong thực tiễn, phương tiện cho việc thanh toán được thua của tội đánh bạc được xác định gồm tiền Việt Nam, ngoại tệ, các giấy tờ có giá trị thanh toán khác hoặc đồ vật, các quyền về tài sản được dùng đánh bạc. Khi xác định giá trị tài sản dùng để đánh bạc cần lưu ý:
a) Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định giá trị tài sản để truy cứu TNHS đối với từng người đánh bạc là tổng số tài sản mà những người tham gia đánh bạc dùng để đánh bạc;
b) Trường hợp một người đánh bạc với nhiều người (như trường hợp chơi số đề) thì người đánh bạc với nhiều người phải chịu TNHS về tổng số tài sản mà họ và những người đánh bạc khác dùng để đánh bạc; từng người tham gia đánh bạc với người này thì phải chịu TNHS về số tài sản mà bản thân họ dùng để đánh bạc.
Ngoài ra điều luật còn quy định những điều kiện (dấu hiệu) mà chỉ khi thỏa mãn ít nhất một trong các điều kiện đó hành vi đánh bạc mới có thể được coi là hành vi phạm tội. Các điều kiện này bao gồm:
– Tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc có giá trị lớn, có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn.
Đây là việc có dấu hiệu quan trọng trong việc phân định ranh giới giữa tội phạm và vi phạm hành chính. Xuất phát từ khái niệm tội phạm ở phần chung BLHS, nhà làm luật đã xác định rõ trong điều luật chỉ những hành vi đánh bạc có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội mới bị coi là tội phạm. Trong những trường hợp đó có những trường hợp tài sản dùng để đánh bạc có giá trị lớn. Tuy nhiên, điều luật không chỉ ra chính xác mức tài sản được coi là giá trị lớn. theo Nghị quyết số 02/2003/NQ- HĐTP ngày 17/04/2003, thì việc xác định tiền hoặc hiện vật “có giá trị lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn” trong tội đánh bạc được thực hiện như sau:
a. Tiền hoặc hiện vật có giá trị từ một triệu đồng đến dưới mười triệu đồng là có giá trị lớn;
b. Tiền hoặc hiện vật có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới một trăm triệu đồng là có giá trị rất lớn;
c. Tiền hoặc hiện vật có giá trị từ một trăm triệu đồng trở lên là có giá trị đặc biệt lớn”.
– Đã bị kết án về một trong các tội được quy định Điều 248 hoặc 249 BLHS chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
Tình tiết này có nghĩa là trước đó người phạm tội đã phạm ít nhất một trong các tội quy định Điều 248 hoặc Điều 249 BLHS, đã bị kết án về tội đó chưa được xóa án tích theo quy định của pháp luật nay lại thực hiện hành vi đánh bạc.
Qua nghiên cứu Điều 248, Điều 249 nhận thấy: Tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc được xây dựng dưới dạng cấu thành tội phạm hình thức, điều đó có nghĩa dấu hiệu hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc trong việc xác định thời điểm tội phạm hoàn thành. Mặc dù hành vi đánh bạc và hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc có thể gây ra các hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội dẫn đến các tội phạm khác nhau nhưng nhà làm luật không qui định hậu quả là yếu tố định tội hoặc yếu tố khung hình phạt. Bởi vì hậu quả mà hành vi đánh bạc và hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc gây ra hầu hết đã cấu thành tội phạm độc lập, do đó nếu các hành vi này mà dẫn đến những hành vi phạm tội khác nhau thì người phạm tội còn bị truy cứu TNHS về những tội phạm tương ứng.
* Mặt chủ quan của tội phạm:
Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do họ thực hiện và đối với hậu quả do hành vi ấy gây ra cho xã hội. Mặt chủ quan của tội phạm gồm các nội dung như: Lỗi, động cơ và mục đích phạm tội. Với tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, người phạm tội không chỉ cố ý thực hiện hành vi phạm tội mà còn có động cơ sát phạt nhau, mục đích vụ lợi. Do đó các yếu tố thuộc mặt chủ quan của tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc bao gồm lỗi, động cơ, mục đích phạm tội và đều giữ vai trò chủ đạo trong việc phản ánh mặt chủ quan của tội phạm.
+ Lỗi của người phạm tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc.: Lỗi là thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và đối với hậu quả của hành vi ấy gây ra được thể hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc vô ý.
Trong tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc người thực hiện hành vi với l i cố ý trực tiếp, tức là người phạm tội nhận thức r hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị luật hình sự cấm, nhận thức được tính chất xâm phạm tới trật tự công cộng nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó
+ Động cơ của người phạm tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc: Là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội cố ý. Đối với tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, thì động cơ người phạm tội là nhằm sát phạt nhau để thu lợi ích về vật chất thông qua hành vi đánh bạc hay tổ chức đánh bạc hoặc dùng địa điểm do mình quản lý, sử dụng cho người khác đánh bạc. Với tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc tuy động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc, nhưng đối với hành vi Gá bạc thì động cơ thu lợi là dấu hiệu bắt buộc. Người phạm tội gá bạc gắn liền với việc cho người đánh bạc sử dụng địa điểm của mình với mong muốn để thu lợi. Trên thực tế thì việc thu lợi này thường được thể hiện qua việc thu tiền thuê địa điểm của những người đánh bạc, bên cạnh đó việc thu lợi còn được thông qua hoạt động như: Bán đồ ăn, cho vay tiền lấy lãi suất cao, dịch vụ cầm đồ… Những trường hợp có hành vi cho người khác sử dụng địa điểm để đánh bạc nhưng không thỏa mãn động cơ vụ lợi thì không bị xử lý về tội gá bạc. Trong thực tế có những trường hợp do chủ nhà nể nang, quen biết… nên cho người khác sử dụng địa điểm của nhà mình để đánh bạc thì không bị xử lý về hình sự. Tuy nhiên cũng phải xem xét rằng những trường hợp cho sử dụng địa điểm nhiều lần để thực hiện hành vi đánh bạc thì mặc dù không nhằm thu lợi vẫn có thể bị xử lý hình sự với vai trò là hành vi giúp sức cho hành vi đánh bạc, khi thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành của tội phạm này.
+ Mục đích của tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc: Là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện tội phạm. Chủ thể trong tội đánh bạc khi thực hiện hành vi đánh bạc đều hướng đến mục đích tư lợi, để thu những giá trị về vật chất nhất định, còn chủ thể của tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thì thực hiện hành vi chủ mưu, rủ rê, lôi kéo, tụ tập hay dùng địa điểm do mình quản lý cho người khác sử dụng để đánh bạc để hướng đến kết quả là xác lập hành vi đánh bạc. Những mục đích này cũng mang tính quyết định đối với tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Như vậy, qua phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội Đánh bạc và tội Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, xét trong bốn yếu tố cấu thành của tội phạm ta thấy được tội Đánh bạc, tội Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc là các loại tội phạm xâm phạm trực tiếp tới trật tự cộng đồng do người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định thông qua các hành vi đánh bạc, hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép
* Chủ thể của tội phạm: Là người thực hiện hành vi được quy định tại Điều 248, 249 BLHS có năng lực TNHS, đạt độ tuổi chịu TNHS theo quy định của pháp luật hình sự.
Chủ thể của tội đánh bạc được xác định có năng lực TNHS tại thời điểm họ thực hiện hành vi phạm tội. Tại thời điểm đó họ phải nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội mà hành vi của họ gây ra, đồng thời có khả năng điều khiển hành vi theo hướng phù hợp với pháp luật. Những trường hợp không thỏa mãn điều kiện này thì không có năng lực chịu TNHS.
Ngoài dấu hiệu về năng lực TNHS, chủ thể của tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc còn đòi hỏi phải thỏa mãn các dấu hiệu độ tuổi chịu TNHS. Theo Điều 12 BLHS năm 1999 quy định: “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm. 2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.
Đối với tội đánh bạc: Khoản 1 Điều 248 BLHS quy định mức hình phạt tù tối đa là ba năm tội ít nghiêm trọng và khoản 2 quy định mức hình phạt tối đa là bảy năm tù tội nghiêm trọng . Như vậy, căn cứ vào quy định tại Điều 12 BLHS thì tuổi chịu TNHS đối với tội đánh bạc là từ 16 tuổi trở lên. Đối với tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc: Khoản 1 Điều 249 BLHS quy định mức hình phạt cao nhất là năm năm tù tội nghiêm trọng và khoản 2 quy định mức hình phạt cao nhất là mười năm tù tội rất nghiêm trọng . Như vậy, căn cứ vào những quy định tại Điều 12 BLHS thì độ tuổi chịu TNHS đối với loại tội phạm này có sự khác biệt ở các khung khác nhau, đối với khoản 1 tuổi chịu TNHS đối với tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc là từ đủ 16 tuổi trở lên, đối với khoản 2 thì tuổi chịu TNHS là từ đủ 14 tuổi trở lên. Như vậy, ở tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thì độ tuổi chịu TNHS đã được nhà làm luật quy định khác biệt ở các khung khác nhau thể hiện tính phân hóa TNHS cao.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 7\HINH SU\LE THIEN HA


