Hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hợp đồng làmột chế định quan trọng, được ghi nhận từ rất sớm trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Bên cạnh các quyđịnh chung vềhợp đồng, tại các BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015đều cómục riêng quyđịnh về hợp đồng thông dụng, trong đó bao gồm HĐTCTS. Ngược dòng lịch sử, ngay từ thời kỳ phong kiến, mặc dù vấn đề tặng cho chưa được quy định trực tiếp nhưng đã manh nha xuất hiện trong các quy định pháp luật.
Cùng với sự phát triển của kinh tế, xãhội, các HĐTCTS đang có xu hướng gia tăng cả về số lượng vàchất lượng. Kéo theo đó, các tranh chấp liên quan đến HĐTCTS trên thực tế phát sinh ngày càng nhiều vàphức tạp. Việc giải quyết tốt các tranh chấp về HĐTCTS sẽ góp phần bảo đảm quyền vàlợi ích hợp pháp cho bên tặng cho, bên được tặng cho, qua đóổn định vàgóp phần thúc đẩysựphát triển của các giao dịch trong đời sống, xã hội.
Hiện nay, cơ sở pháp lý quan trọng nhất điều chỉnh HĐTCTS là BLDS năm 2015. Vềcơ bản, các quyđịnh trong BLDS năm 2015 kếthừa nguyên các quyđịnhtrong BLDS năm 2005 về HĐTCTS. Các quy định này đã tạo ra hành lang pháp lýkhá đầy đủ vàphù hợp để các chủ thể xác lập, thực hiện HĐTCTS với nhau. Tuy nhiên, pháp luật về HĐTCTS trong BLDS năm 2005 còn nhiều bất cập, hạn chế vàvẫn tiếp tục tồn tại trong BLDS năm 2015: Một là, các quy định về HĐTCTS còn sơ sài, nhiều vấn đềchưa được quyđịnh như: (i) Thời điểmphát sinh hiệu lực của HĐTC đối với các tài sản vôhình; (ii) Các căn cứ hủy bỏ hợp đồng đặc thù được áp dụng riêng HĐTCTS;
(iii) Các yếu tố pháp lý mà điều kiện tặng chocần đápứng; (iv) Bảo vệ quyền lợi cho con vàcho những người thân thích khác của người tặng cho; (v) Tặng cho tài sản đối với cá nhân chưa được sinh ra; (vi) Chưa ghi nhận phương thức giải quyết đối với HĐTCTSCĐK khi bên được tặng cho chỉ thực hiện một phần điều kiện…; Hai là, một sốquyđịnh hiện hànhvềHĐTCTS còn chưa phù hợp như: (i) Thời điểmphát sinh hiệu lực của HĐTCTS chưa thống nhất giữa độngsảnvàbất động sảnkhông phải đăng ký sở hữu. Đối với động sản không phải đăng ký sở hữu thì HĐTC có hiệu lực khi bênđượctặng cho nhận tài sản. Trong khi đó, HĐTC bất động sản không phải đăng ký có hiệu lực kể từ khi bên tặng cho chuyển giao tài sản; (ii) So với BLDS năm 2005, Điều 458 BLDS năm 2015 quyđịnh bên tặng cho và bên được tặng cho được phép thỏa thuận về thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTC động sản không phải đăng kýsở hữu. Đây là sự thay đổi căn bản nhất giữa BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 về HĐTCTS. Tuy nhiên, sự bổ sung này được đánh giá không phù hợp vàkhông mang tính khả thi; (iii) Khoản 2, khoản 3 Điều 462 BLDS năm 2015 ghi nhận chưa phù hợp vềcách thức giải quyết khi bên tặng cho hoặc bên được tặng cho không thực hiện nghĩa vụ trong HĐTCTSCĐK; (iv) Khoản 2 Điều 462 BLDS năm 2015 chưa phù hợp
khi ghi nhận bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ màbên được tặng cho đã thực hiện nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản…; Ba là, một số quy định về HĐTCTS còn chưa thống nhất, mâu thuẫn với một số luật chuyên ngành như: Quyđịnh vềthời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTCTS trong BLDS năm 2015 chưa thống nhất với quyđịnh của Luật Công chứng năm 2014; sựkhông tương thích giữa BLDS năm 2015 và Luật Nhàở năm 2014 về thời điểm phát sinh hiệu lực đối với trường hợp tặng cho nhàở.
Những hạn chế, bất cập tồn tại trong pháp luật vềHĐTCTS là nguyên nhân cơbản dẫn đến hệ quả thiếu cơ sở cho việc thực hiện, áp dụng pháp luật của các chủ thểtrong xã hội vàcủa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Điều này chứng minh bởi thực tiễn giải quyết tranh chấp về HĐTCTS còn gặp nhiều vướng mắc, khó khăn như:
một số tòa án còn xác định chưa chính xác và có sự nhầm lẫn giữa HĐTCTS với hợp đồng mượn tài sản và“di chúc sống”; đối với trường hợp người đang vi phạm nghĩa vụtrảnợ(thường vi phạm nghĩa vụtrảnợtrong hợp đồng vay tiền) màxác lập HĐTCTS thì các tòa đang giải quyết chưa thống nhất. Một số tòa tuyên bố HĐTCTS vôhiệu do giảtạo nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụvớingười thứba nhưng cũng có một số tòa công nhận hiệu lực của HĐTCTS; cùng một vụ việc hoặc những vụviệc tương tự nhau nhưng còn mâu thuẫn giữa các cấp xét xử hoặc các Hội đồng xét xử trong cùng một cấp tòa trong việc xác định các vấn đề có liên quan như thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTCTS, chủ thể thực hiện điều kiện tặng cho, hình thức ghi nhận điều kiện tặng cho, liên quan đến điều kiện không được chuyển nhượng đối với tài sản tặng cho…Ngoài ra, một nguyên nhân quan trọng khác dẫn đến thực trạng này bắt nguồn từ năng lực, trình độ chuyên môn của thẩm phán giải quyết vụ việc. Các tòa án còn chưa đánh giá chính xác nội dung, bản chất vụ việc hoặc áp dụng pháp luật còn chưa chính xác…
Trong bối cảnh khung pháp lývề HĐTCTS còn sơ sài, nhiều quy định chưa phù hợp cùng với thực trạng giải quyết tranh chấp về HĐTCTS vẫn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế nên việc tìm hiểu, nghiên cứu về loại hợp đồng này làcần thiết. Tính đến thời điểm hiện nay đã có nhiều công trình khoa học với các cấp độ khác nhau nghiên cứu vềHĐTCTS. Tuy nhiên, các công trình chủyếu tập trung tìm hiểu vềHĐTCQSDĐhoặc các công trình mới chỉnghiên cứu mộtsốkhía cạnh pháp lýcủa HĐTCTS mà chưa có bất cứ một công trình nào nghiên cứu toàn diện ở cấp độ tiến sĩ về HĐTCTS.Đặc biệt, kểtừthời điểmBLDS năm 2015 được thông qua vàcóhiệu lực, các công trình nghiên cứu về HĐTCTS còn tản mác, không mang tính hệ thống và toàn diện.
Xuất phát từ những lýdo trên, NCS khẳng định, việc nghiên cứu, tìm hiểu về đề
tài: “Hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam – Một số vấn đề lýluận vàthực tiễn”đang là một đòi hỏi cấp thiết, khách quan từ cuộc sống.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 3.1. Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của Luận án làlàm sáng tỏnhững vấn đềlýluậnvềHĐTCTS như khái niệm của hợp đồng, đặc điểm của HĐTCTS, phân loại HĐTCTS, các lýthuyết ảnh hưởng tới việc xây dựng pháp luật về HĐTCTS…Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lýluận, tại chương 2 của Luận án, NCS sẽ làm rõcác vấn đề pháp lý
liên quan đến HĐTCTS, tặng cho tài sản có điều kiện. Từ các kết quả nghiên cứu tại chương 1, chương 2, NCS thực hiện mục đích quan trọng nhất của Luận án làđưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về HĐTCTS nói chung vàtặng cho tài sản có điều kiện nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Với nhữngmục đích đã được xác địnhở trên, Luận án cónhững nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
Thứ nhất, xây dựng các khái niệm về tặng cho tài sản, HĐTCTS, tặng cho tài sản có điều kiện…Đồng thời chỉra được những điểmđặc trưng của HĐTCTS, làm cơ sở
cho việc phân biệt với các giao dịch khác như hứa thưởng, di tặng,…;
Thứ hai, Luận án nghiên cứu vàphân tích các lýthuyết chính ảnh hưởng hay cótác động với việc xây dựng các quy định về HĐTCTS. Các lýthuyết này chi phối phần lớn tới các quy định của pháp luật về HĐTCTS;
Thứ ba, Luận án phân tích cụ thể các quy định của pháp luật về HĐTCTS và tặng cho tài sản có điều kiện. Đồng thời, NCS đánh giá thực trạng pháp luật về HĐTCTS,
tặng cho tài sản có điều kiện vàmột sốHĐTCTS đặc thù như HĐTCQSDĐ, HĐTC nhàở;
Thứ tư, Luận án nghiên cứu quy định pháp luật của một số nước trên thế giới nhưPháp, Đức, Nhật Bản,…theo hướng so sánh với các quy định pháp luật của Việt Nam vềtặng cho tài sản. Thông qua đó, NCS họchỏi kinh nghiệm của các quốc gia khác trong việc quy định về HĐTCTS để từ đó rút ra các kiến nghị phùhợp trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về HĐTCTS tại Việt Nam;
Thứnăm, Luận án nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật, giải quyết các tranh
chấp vềHĐTCTS, đặcbiệt làtặng cho nhàở, QSDĐ…qua đó, rút ra các tranh chấp phổ biến, tìm kiếm nguyên nhân để giải quyết triệt để tranh chấp này;
Thứ sáu, dựa trên việc nghiên cứu các vấn đề lýluận, phân tích, bình luận các ưu nhược điểm của quy định pháp luật vàthực tiễn áp dụng pháp luật đối với HĐTCTS, NCS đưa ra các kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật vềHĐTCTS nói chung và HĐTCTSCĐK nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối với đề tài“Hợp đồng tặngcho tài sản theo pháp luật Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, đối tượng nghiên cứu được xác định như sau:
– Nghiên cứu các lýthuyết vềhợpđồngnói chung và HĐTCTS nói riêng,đặc biệt làhọc thuyếtvềhợp đồng trong hệthống pháp luật Civil law vàCommon law. Các lýthuyết này phục vụchủ yếu cho việc nghiên cứu các vấn đềlýluận vềHĐTCTS như khái niệm, đặc điểm HĐTCTS, phân loại HĐTCTS…;
– Nghiên cứu các văn bản pháp luật từ thời phong kiến, Pháp thuộc đến hiện tại
quy định về HĐTCTS. Đồng thời, nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia trên thếgiới như Pháp, Đức,Nhật Bản, Thái Lan…về HĐTCTS. Việc nghiên cứucác đối tượng này lànền tảng quan trọng giúp NCS hoàn thiện chương 2 của Luận án về thực trạng pháp luật của HĐTCTS;
– Nghiên cứu các tài liệu khoa học như: sách chuyên khảo, sách tham khảo, luận án , luận văn, công trình nghiên cứu khoa học cấp trường, cấp bộ, các bài viết tạp chí
trong và ngoài nước…liên quan đến HĐTCTS;
– Nghiên cứu các vụ việc thực tiễn được đăng tải trên các trang mạng, các bản án liên quan đến HĐTCTS đã được tòa án các cấp giải quyết trong phạm vi cả
nước…Việc nghiên cứu các đối tượng này là cơ sở quan trọng để NCS triển khai, thực hiện chương 3 của Luận án.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Luận án được xác định như sau:
–Vềmặt nội dung, đềtài vềHĐTCTS là một đềtài tài tương đối rộng, nghiên cứu toàn diện từvấn đềlýluận, quyđịnh của pháp luật vàthực tiễn liên quan đến HĐTCTS. Do đó, với đề tài Luận án này, NCS xác định phạm vi nội dung nghiên cứu như sau: (i) Luận án sẽtập trung nghiên cứu vàlàm rõmột sốvấn đềlýluận vềHĐTCTS. Trong đó, NCS xây dựng các khái niệm về tặng cho, HĐTCTS, HĐTCTSCĐK, nghiên cứu đặc điểm pháp lýcủa HĐTCTS, chỉ ra những lý thuyết ảnh hưởng tới việc xây dựng vàhoàn thiện pháp luật về HĐTCTS…; (ii) Luận án tập trung làm rõcác quyđịnhcủa BLDS hiện hành và các văn bản pháp luật cóliên quanvềHĐTCTS nói chung và HĐTCTSCĐK nói riêng; (iii) Trong phạm vi các nội dung nghiên cứu, NCS chútrọng đến việc đưa các các kiến nghị cógiátrị hoa học vàphùhợp với thực tiễn nhằm hoàn thiện khung pháp lývềHĐTCTS thông thường vàHĐTCTSCĐK.
NCS tập trung phân tích các nội dung pháp lý đặc thùcủa HĐTCTS như về hình thức của hợp đồng, thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng, tặng cho tài sản có điều kiện…Bên cạnh các quy định chung về hợp đồng tặng cho tài sản, NCS còn nghiên cứu một số nét đặc thùriêng về HĐTCTS có đối tượng là QSDĐ và nhàởđược quyđịnh trong Luật Đất đai năm 2013 và Luật Nhàởnăm 2014. Những nội dung nàyđược NCS phân tích đan xen vào mục cónội dung tương thích. Còn những quyđịnhđượcáp dụng chung cho mọi hợpđồng bao gồm cảHĐTCTS nhưđiều kiện cóhiệu lực của giao dịch dân sự; giao dịch dân sự vôhiệu; trình tự giao kết hợp đồng…thìNCS không triển khai nghiên cứu trong Luận án để tránh trùng lặp với các công trình nghiên cứu khác và đảm bảo dung lượng Luận án theo đúng quy định.
– Về mặt thời gian, trong bối cảnh BLDS năm 2015 đang có hiệu lực thi hành nên các nghiên cứucủa Luận án tập trung phân tích, tìm hiểu các quyđịnh vềHĐTCTS trong Bộluật này. Ngoài ra, khi phân tích các nội dung cụthể, Luận án cũng đềcập
đến một số quy địnhvề HĐTCTS trong các văn bản pháp luật đã hết hiệu lực của nước ta vàmột số quy định trong pháp luật của một số nước để so sánh, đối chiếu với quyđịnhtrong BLDS năm 2015.
-Vềmặt không gian, Luận án nghiên cứu các vấn đềlýluận, pháp lývàthực trạng áp dụng pháp luật về HĐTCTS theo một không gian rộng mà không chỉ bóhẹp tại Việt Nam. Các vấn đề lýluận và các quy định pháp luật về HĐTCTS được nghiên cứu cảởViệt Nam vàmột sốquốc gia khác trên thếgiới điển hình như Pháp, Đức, Scotland, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc. Đối với thực trạng áp dụng pháp luật vềHĐTCTS được NCS nghiên cứu ở nhiều tỉnh thành trong cả nước với các vụ án điển hình khác nhau. Phần lớn các vụán đượcsửdụng đểphân tích trong Luận án được giải quyết theo quyđịnh trong BLDS năm 2015. Trong sốđó chỉcómột vài vụviệc được giải quyết theo quy định của BLDS năm 2005 nhưng vẫn bảo đảm sự phùhợp vàvẫn phản ánh được thực tiễn bởi BLDS năm 2015 vẫn quy định y nguyên đối với các vấn đề đó.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận: việc nghiên cứu Luận án sẽdựatrên cơ sởphương pháp luận duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Đây được coi làkimchỉnam cho việc định hướng các phương pháp nghiên cứucụthểcủa NCS trong quá trình thực hiện Luận án.
* Phương pháp nghiên cứu cụthể: trên cơ sởphương pháp luận của chủnghĩa Mác – Lênin, trong quá trình nghiên cứu Luận án, NCSsẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
– Phương pháp phân tích và bình luận để làm rõ quy định pháp luật hiện hành vềHĐTCTS. Phương pháp này được NCS sử dụng chủ yếu trong tất cả các nội dung của Luận án. Đâylà phương pháp NCS sửdụng trong chương 1 đểphân tích các quan niệmvềtặng cho, các khái niệmvềHĐTCTS. Phương pháp nàyđược sửdụng phần lớn trong chương 2 để NCS làm rõ các quy định pháp luật vàbình luận điểm phùhợp, điểm hạn chế của pháp luật về HĐTCTS;
– Phương pháp tổng hợp nhằm khái quát hoáthực trạng pháp luật vàthực tiễn áp dụng pháp luật vềHĐTCTS; qua đóđưa ra những kiến nghị phùhợpđểhoàn thiện pháp luật về HĐTCTS. Phương pháp tổng hợp được NCS chútrọngsử dụng ở tất cảcác nội dung của Luận án;
– Phương pháp so sánh để nhằm chỉ ra những điểm tương đồng vàkhác biệt giữa quyđịnh của pháp luật Việt Nam với pháp luật của một sốnước trên thếgiới vềHĐTCTS. Đồng thời phương pháp này là công cụ hữu hiệu để NCS sử dụng phân biệt giữa HĐTCTS với một số giao dịch khác dễ gây nhầm lẫn với HĐTC. Phương pháp so sánh được NCS sử dụng chủ yếu tại chương 1 và chương 2 của Luận án;
– Phương pháp thống kênhằm đưa ra các số liệu về các bản án đã giải quyết vềHĐTCTS, qua đó NCS rút ra được các tranh chấp phổbiến đểtìm ra nguyên nhân cũng như đưa ra giải pháp hợp lý;
– Phương pháp lịch sử nhằm tìm hiểu sâu vàrõ về những quy định từ thời phong kiến đến thời kìPháp thuộc và đến hiện tại để thấy được sự phát triển của các quy định về HĐTCTS.
Ngoài ra, các phương pháp phân loại vàhệ thống hóa lýthuyết, phương pháp đặt giảthuyết nghiên cứu, phương pháp thu thậpsốliệu…cũng đượcNCS vậndụng làm cơ sở để tiến hành nghiên cứu các nội dung trong Luận án.
6. Những đóng góp mới của việc nghiên cứu đề tài
Luận án về “Hợp đồngtặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam– Một số vấn đềlý luận và thực tiễn” có những điểm mới sau đây:
Thứ nhất, Luận án đã xây dựng các khái niệm liên quan trực tiếp đến đề tài như
khái niệm về tặng cho tài sản, HĐTCTS và tặng cho tài sản cóđiều kiện,…Khái niệm tặng cho tài sản được NCS tiếp cận vàxây dựng mang tính chất bao quát nhất, thể hiện cả góc nhìn của Việt Nam và thế giới;
Thứ hai, Luận án đã tổng kết và phân tích các cơ sở cho việc xây dựng pháp luật về HĐTCTS trên thế giới nói chung vàtại Việt Nam nói riêng. Nhìn chung, pháp luật vềtặng cho tài sản được xây dựng dựa trên ba lýthuyết chính: (i) Lýthuyết vềhợp đồng; (ii) Lý thuyết về sự không cóđền bùcủa tặngcho; (iii) Lýthuyết phân chia tặng cho thành “Donatio inter vivos” và“Donatio mortis causa”. Những lýthuyết này chi phối đến nội dung các quy định về hình thức, thời điểm phát sinh hiệu lực, hủy bỏ hợp đồng…và các vấn đề khác của HĐTCTS.
Thứ ba, Luận án nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về bản chất, các đặc điểm pháp lýcủa HĐTCTS, đặc biệt trong bối cảnh các đặc điểmpháp lýcủa loại hợp đồng nàyđang còn nhiều quan điểmtrái chiều. Theo các kết luận được đưara trong Luận án, HĐTCTS là hợp đồng đơn vụ hoặc song vụ, mang tính chất thực tế và không có đền bù;
Thứ tư, Luận án đã phân tích, bình luận các quy định của pháp luật về HĐTCTS nói chung và HĐTCTSCĐK nói riêng. Từđó, NCS đánh giá khách quan những ưu, nhược điểm củacác quyđịnh cụthể. Trong quátrình phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam vềHĐTCTS, NCS có sựđối chiếu, so sánh vớicác quy định tương thích trong các văn bản pháp luật của nước ta giai đoạn trước vàvới các quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới. Thông qua việc tìm hiểu pháp luật về HĐTCTS sẽgiúp chúng ta nhìn nhận được vai trò và ý nghĩa của các quy định này;
Thứ năm, những hạn chế, bất cập của pháp luật về HĐTCTS đã được tìm ra sẽ làđiểmmấu chốt đểNCS đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện quyđịnh của pháp luật về HĐTCTS. Việc hoàn thiện quy định của pháp luật về HĐTCTS trước hết giúp
các nhàlập pháp nhìn nhận bao quát hơn, toàn diện hơn về những tồn đọng đang gặp phải với loại hợp đồng này. Đồng thời, cơ quan thực thi pháp luật sẽ không còn lúng túng, mâu thuẫn hoặc tùy nghi khi áp dụng các quy định pháp luật về HĐTCTS.
7. Ý nghĩa khoa học của Luận án
Những kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ lànền tảng kiến thức quan trọng, sâu sắc về HĐTCTS. Với một đề tài nghiên cứu toàn diện về HĐTCTS thìcác vấn đề lýluận vàpháp lýsẽđược làm sáng tỏ, cụthể: xây dựng được khái niệm vềtặng cho, HĐTCTS, HĐTCTSCĐK và đưa ra nhữngđặc điểm pháp lýcủa HĐTCTS; chỉra được các lýthuyết ảnh hưởng tới việc xây dựng pháp luật về HĐTCTS; phân tích thực trạng pháp luật đối với HĐTCTS nói chung và HĐTCTSCĐK nói riêng, chỉ ra những điểm tích cực vàhạn chế của pháp luật liên quan đến các yếu tố pháp lýcủa HĐTCTS như về chủ thể xác lập hợp đồng, hình thức hợp đồng, thời điểm phát sinh hiệu lực của
hợp đồng…Ý nghĩa khoa học quan trọng nhất của Luận án làviệc Luận án đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật vềHĐTCTS nói chung và HĐTCTSCĐK nói riêng. Đây là nội dung cóthể làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các cơ quan chức năng trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật.
Bên cạnh đó, Luận ánsẽlàtài liệu tham khảo hữu ích với đội ngũ giảng viên, sinh viên, các nhà nghiên cứu luật ở Việt Nam.
8. Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mởđầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo vàcác phụlục, nội dung của Luận án bao gồm 3 chương:
Chương 1. Lý luận về hợp đồng tặng cho tài sản.
Chương 2. Thực trạng pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản.
Chương 3. Thực tiễn áp dụng vàhoàn thiện pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản.
A. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Phần 1
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC
CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Công trình nghiên cứu khoa học trong nước
1.1. Luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp
(1) Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Hải An (2011) về “Hợp đồng tặng cho quyền sửdụng đất”. Luận án làcông trình nghiên cứu toàn diện vềvấn đềtặng cho QSDĐ, bao gồm các nội dung: lýluận về tặng cho QSDĐ; nội dung pháp luật về tặng cho QSDĐ; thực tiễn tặng cho QSDĐ nhìn nhận qua hoạt động xétxửcủa tòa án vàkiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tặng cho QSDĐ.
(2) Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Văn Hiến (2006)về“Hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất – Một số vấn đề lýluận vàthực tiễn”.Đây làcông trình nghiên cứu về HĐTCQSDĐ mà không phải là đề tài nghiên cứu về HĐTCTS nói chung; do đó, các nội dung trong luận văn đều tập trung vàxoay quanh việc tặng cho có đối tượng là “QSDĐ”.
(3) Luận văn thạc sĩ luật học của Trần Thị Minh (2012) về “Hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất – Một số vấn đề lýluận vàthực tiễn”.Về cơ bản các nội dung triển khai, luận văn của tác giả Trần Thị Minh cũng có nhiều điểm tương đồng với luận văn của tác giả Nguyễn Văn Hiến. Bên cạnh đó, luận văn của tác giả Trần Thị Minh còn cóthêm một sốnội dung khác như: Sựkhác nhau giữa HĐTCQSDĐ vàcác hợp đồng chuyển QSDĐ khác; HĐTCQSDĐ có điều kiện.
(4) Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn ThịThoa (2012)về“Hợpđồng tặng cho quyền sử dụng đất” và (5) Khóa luận tốt nghiệp của Phạm Hồng Diệp (2012) về “Tìm hiểu các quy định pháp luật về chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất”. Những công trình này mới dừng lại ở việc tìm hiểu, phân tích luật thực định mà chưa cóđược những nghiên cứu sâu sắc ở cả mặt lý luận cũng như thực tiễn của vấn đề.
1.2. Đề tài khoa học
(1) Nguyễn Văn Cường (chủ nhiệm), “Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tại Tòa án Nhân dân. Những vướng mắc và kiến nghị”, Đềtài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Tòa án Nhân dân tối cao, 2008. Đề tài đã phân tích khái quát vềcơ sởlýluận, quyđịnh pháp luật vềHĐTCTS. Thực tiễn vềHĐTCTSđược minh chứng qua các bản án đã được giải quyết tại các tòa, nhiều nhất làcác tranh chấp vềHĐTCQSDĐ và nhà ở. Đặc biệt, đềtài cũng phân tích một sốquyđịnh vềHĐTCTS theo BLDS Pháp, qua đó so sánh, tìm ra những quy định cógiátrị mà Việt Nam nên học hỏi trong quá trình xây dựng luật.
1.3. Bài tạp chí
(1)ĐỗVăn Chỉnh: “Tặng cho quyền sửdụng đấtthực tiễn vàtồn tại”, tạp chí
Tòa án Nhân dân, số3/2008, tr.23 –30. Bài viết phân tích khái quát các hành lang pháp lý của HĐTCQSDĐ, trường hợp tặng cho QSDĐ mà trên đất có tài sản.
(2) Nguyễn Hồng Nam, “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”, Tạp chíTòa án nhân dân, số 12/2014. tr.15-19. Bài viết đưa ra các vụ việc thực tiễn về HĐTCTS; từthực tiễn, tác giả dẫn chứng các quy định của pháp luật liên quan, qua đó đưa ra kiến nghị nhằm giải quyết các vướng mắc trên thực tế.
(3) LêThị Hoài Ân,“Chế địnhhợp đồng tặng cho quyền sử dụngđất vànhững
vấn đề cần hoàn thiện”, Tạp chíDân chủ vàPháp luật số 11/2011, tr.41 – 45. Bài viết này tập trung vào làm sáng tỏ khái niệm HĐTCQSDĐ; phân tích các điều kiện của chủ
thể tặng cho QSDĐ vàcủa người được tặng cho;…
(4) LêHồng Liên, “Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất vàkiến nghị sửa đổi, bổ sung”, tạp chíKiểm sát, số 22/2012, tr.
48 –51. Bài viết tập trung vào phân tích các vướng mắc cụthểtrong quátrình giải quyết các tranh chấp về HĐTCTS. Thông qua việc nhìn nhận về các bất cập, bài viết đã đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về HĐTCQSDĐ.
(5) Dương Anh Sơn, “Về bản chất pháp lýcủa hợp đồng tặng cho tài sản”, tạp
chí Nhà nước vàPháp luật, số10/2008, tr.50 –56. Bài viết tập trung phân tích đặc điểm pháp lýcủa HĐTCTS. Nội dung trong bài viết cũng đưa ra nhiều góc nhìn mới,
những quan điểm trái chiều nhau về bản chất pháp lý của loại hợp đồng này…
(6) Vũ Thị Hồng Yến, “Thời điểm phát sinh hiệu lực pháp luật của hợp đồng vay tài sản vàhợp đồng tặng cho tài sản theo quy định của BLDS năm 2005”, tạp chíLuật học, số 4/2010, tr. 40 – 48. Bài viết tập trung phân tích nội dung về thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTCTS.
(7) Lương Thị Hợp, “Một số vấn đề về điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản
và trong di chúc”, Tạp chíTòa án nhân dân, số14/2012, tr. 19 –23. Bài viết minh chứng sự bất cập của pháp luật về tặng cho tài sản có điều kiện bằng bản án cụ thể, quađó tác giả có những đề xuất hoàn thiện pháp luật đối với vấn đề này.
(8) TuấnĐạo Thanh, Phạm Thu Hằng, “Bàn vềđiềukiện trong hợp đồng tặng cho tài sản”, Tạp chíDân chủ vàPháp luật, số 9/2014, tr. 45 – 49. Bài viết phân tích và đưa ra các yếu tốcủa điều kiện trong HĐTCTS qua hoạt động công chứng; đồng thời, chỉ các các bất cập của pháp luật liên quan đến điều kiện tặng cho.
(9) Đỗ VănĐại, “Thời điểm tặngcho cóhiệu lực ở Việt Nam”, Tạp chíTòa án nhân dân, số 2/2009, tr. 9-15. Bài viết đi sâu vào nghiên cứu về vấn đề thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTCTS; chỉ ra những điểm bất cập và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTCTS. Trong bài viết, tác giả đưa ra một số vụ án để chứng minh thực trạng các tòa án chưa thống nhất trong việc xác định thời điểm có hiệu lực của HĐTC bất động sản phải đăng ký sở hữu.

1.4. Sách chuyên khảo
(1)Vũ VănMẫu(1963), “Việt Nam Dân luật lược khảo”,quyển II, Nghĩa vụ vàkhế ước, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản. Một số nội dung chung về hợp đồng được đềcập như: phân loại theo các khế ước, sự kết lập khế ước, sự vôhiệu của các khế ước,
hiệu lực của các khế ước…Đây lànhững nội dung làm nền tảng để NCS nghiên cứu cụthể về HĐTCTS.
(2) Xaca Vacaxum, Tori Aritdumi (người dịch: Nguyễn ĐứcGiao, Lưu Tiến Dũng), “Bình luận Khoa học BLDS Nhật Bản”, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, BộTư pháp, NXB Chính trị quốc gia, HàNội, năm 1995. HĐTCTS được phân tích trong Chương X của tài liệu, từtrang 541 đến trang 546 với các nội dung chính như: khái niệm tặng cho; hậu quảcủa việc tặng cho; hình thức của HĐTCTS; trách nhiệm của người tặng cho;…
(3) Nguyễn Mạnh Bách, “Luật Dân sự Việt Nam lược giải, các hợp đồng dân sựthông dụng”, NXB Chính trịquốc gia, năm 1997. Các nội dung chính vềHĐTCTS được phân tích gồm: hình thức của HĐTCTS; hiệu lực của HĐTCTS; các trường hợp hủy bỏ việc tặng cho tài sản…
(4) Nguyễn Hải An (2012), “Pháp luật vềtặng cho QSDĐởViệt Nam”, Nxb
Chính trị quốc gia – sự thật, HàNội. Công trình này là sự phát triển từ luận án tiến sĩcủa tác giảHải An, do đó, vềcơ bản nội dung cuốn sách làsựkếthừa của luận án “Pháp luật về tặng cho QSDĐ ở Việt Nam”.
2. Công trình nghiên cứu khoa học nước ngoài
(1) William Blackstone & William Draper Lewis on the Laws of England In Four Books 895 1898 [146]. Chương XXX của tài liệu phân tích về tặng cho, tác giả nhận định tặng cho làmột trong các phương thức chuyển giao tài sản của cánhân; tặng cho luôn là việc không lấy tiền;
(2) William Burge Burge’s Commentaries on Colonial and Laws Alexander Wood Renton & George Grenville eds. 189 1914 1928 [147]. Chương V của tài liệu phân tích vềHĐTC. Tác giảbài viết nhận định, tặng cho trong luật dânsựđược xem nhưmột hợp đồng, bởi vì nó được xác lập và được hoàn thiện khi được sự ưng thuận,đồngý của cả hai bên trong hợp đồng.
(3) Gift giving practice; Citation: 21 Soviet Stat. & Dec. 241 1984-1985 [150]. Tại Chương 22 của tài liệu này phân tích về HĐTCTS trong BLDS Nga.
(4) Donation of land to charity [148]. Công trình nghiên cứu vềvấn đềhủybỏ
tặng cho tài sản, gồm: (i) người được tặng cho không hoàn thành điều kiện; (ii) người được tặng cho vô ơn; (iii) người tặng cho có con.
(5) Gift promises and the edge of contract law [149] của Vice Dean vàWilliam S.Potter. Một trong các vấn đề thúvị nhất thuộc về học thuyết ranh giới liên quan đến lời hứa tặng cho. Luật hợp đồng không thừa nhận tất cả lời hứa tặng cho là một nghĩa vụ bắt buộc.
(6) Some aspects of the law of donation [162]. Tặng cho được nhìn nhận dưới góc độlàmột hợp đồng.Tặng cho làmột thỏa thuận, theo đómột ngườitựnguyện chuyển giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho người khác mà không nhận được bất kìsự hoàn lại nào từ bên được tặng cho.
(7) German Law of Contract [153]. Công trình phân tích về HĐTCTS theo quyđịnh củaBLDS Đức. Theo đó, hợp đồng này được nghiêncứutừtrang 145 đến 147 gồm các nội dung: bản chất pháp lý của tặng cho, đặc trưng của tặng cho tài sản…
(8) Promise and Donation in Louisiana and Comparative Law [154] của Martin A. Hogg. Đâylà công trình nghiên cứu nhiều vấn đềvềtặng cho tài sản; công trình nghiên cứu về tặng của một số quốc gia trên thế giới như Louisiana, Scotland và Nam Phi…
Trên cơ sởnghiên cứu các công trình khoa học liên quanđến HĐTCTS, NCS khái quát tình hình nghiên cứu chung đối với HĐTCTS trong thời gian vừa qua: (i) các bài viết tiếp cận, giải quyết một số khía cạnh khác nhau của HĐTCTS, trong số đó một lượng lớn các công trình nghiên cứutậptrung vào nhóm HĐTCQSDĐ; (ii) cho đến nay vẫn chưa chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu vàriêng biệt ở cấp độtiến sĩ về HĐTCTS; (iii) chưa có các bài viết nghiên cứu chuyên sâu về bản chất, đặc điểm, đối tượng của hợp đồng, đặc biệt về tặng cho tài sản có điều kiện.
Phần 2
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ
THUỘC PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 2.1. Về mặt lý luận
Các công trình nghiên cứu ởtrênđã nghiên cứu một sốkhía cạnh lýluận của HĐTCTS:
(1) Khái niệm HĐTCTS: Hầu hếtcác công trình nghiên cứu chưa tiếp cận khái niệm, bản chất của “tặng cho”đểrút ra khái niệm vềHĐTCTS. Toàn bộcác công trình nghiên cứu mà NCS khảo sát đều không lýgiải được nguyên nhân các quốc gia trong hệ thống pháp luật Common law không nhìn nhận tặng cho là hợp đồng;
(2) Đặc điểm của HĐTCTS: Đa phần các công trình đều khẳng định HĐTCTS làhợp đồng đơn vụ, không có đền bùvàthực tế. Tuy vậy, các công trình chưa nghiên cứu sâu về đặc điểm đối với HĐTCTSCĐK.
(3) Phân biệt HĐTCTS với một số giao dịch khác: Công trình “Phápluật về tặng cho QSDĐởViệt Nam” của tác giảHải An làmột trong sốít các công trình cónội dung này; tuy nhiên, công trình không cónội dung so sánh giữa tặng cho tài sản cóđiều kiện với hứa thưởng vàtặng cho tài sản có điều kiện thực hiện công việc vàhợp đồng dịch vụ.
(4) Phân loại HĐCTS: đa phần các công trình đều tập trung nghiên cứu cách thức phân loại HĐTCTS thành: HĐTC động sản và HĐTC bất động sản
(5) Cơ sở xây dựng pháp luật về HĐTCTS: trong các công trình khảo sát, chưa có bất cứ công trình nào nghiên cứu về nội dung này.
2.2. Thực trạng quy định của pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản 2.2.1. Hợp đồng tặng cho tài sản thông thường
(1) Đối tượng của HĐTCTS: Hầu hết các công trình chỉmới tập trung vào đối tượng tặng cho làQSDĐ và nhàở.
(2) Chủthể, quyền và nghĩa vụcủacác bên trong HĐTCTS: BLDS năm 2015 đều không có quyđịnh riêng vềvấn đềnày; do đó,hầuhết các công trình màNCS khảo sát đều chỉ nghiên cứu về nội dung này một cách khái quát.
(3) Hình thức HĐTCTS: được nghiên cứu ở nhiều công trình khác nhau. Hầu hết các công trình đều phân tích hình thức của HĐTCTS dựa trên hai nhóm tài sản: động sản và bất động sản.
(4) Thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTCTS: nội dung này được nghiên cứu ởnhiều công trình khác nhau. Giống như hình thức của HĐTCTS, hầu hết các công trình đều phân tích thời điểmphát sinh hiệu lực của HĐTCTS dựa trên hai nhóm tài sản:
động sản và bất độngsản.
(5) Về hủy bỏ hợp đồng tặng cho tài sản: Các công trình tập trung nghiên cứu vềtrường hợp bên được tặng cho không thực hiện điều kiện tặng cho. Rất ít các công
trình nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về các trường hợp hủy bỏHĐTCTS khác như người tặng cho vô ơn, người tặng cho có con…
2.2.2. Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện
(1) Nhận diện HĐTCTSCĐK: Nội dung này được phân tích trong bài viết:“Hợp
đồng tặng cho tài sản có điều kiện trong pháp luật hiện hành – Những vướng mắc vàkiến nghị”[69]. Đâylà công trình nghiên cứu duy nhất màNCS khảo sát có đưa ra khái niệm về tặng cho tài sản có điều kiện;
(2) Các yêu cầu pháp lý đối với điều kiện tặng cho: Cũng trong bài viết“Hợp
đồng tặng cho tài sản có điều kiện trong pháp luật hiện hành – Những vướng mắc vàkiến nghị”của Bùi Minh Hồng, điều kiện trong HĐTCTSđược nghiên cứu vàphân tích một cách sơ lược. Còn lại hầu hết các công trình chưa chú trọng đến nội dung này.
(3)Chủthểthực hiện điều kiện tặng cho: các công trình NCS ràsoát chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này;
(4) Trách nhiệm của chủthểtrong HĐTCTSCĐK: Đa phần các tài liệu nghiên cứu đều phân tích tập trung vào trường hợp hủy bỏ tặng cho tài sản có điều kiện trong trường hợpbên tặng cho không thực hiệnđiều kiện. Các bất cập liên quan đến trách nhiệm của các chủ thể trong tặng cho tài sản có điều kiện chưa được chútrọng phân tích.
Phần 3
HỆ THỐNG CÁC VẤN ĐỀ THUỘC
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
3.1. Những nội dung cơ bản cần giải quyết trong Luận án
Thứ nhất, nghiên cứu các vấn đề lýluận về HĐTCTS: khái niệm, đặc điểm, phân biệt HĐTCTS với một số giao dịch khác như di tặng, hứa thưởng,…;
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng pháp luật về HĐTCTS và tặng cho tài sản cóđiều kiện;
Thứba, nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật vềHĐTCTS; đưara các kiến nghị hoàn thiện HĐTCTS, tặng cho tài sản có điều kiện vàmột số HĐTC đặc thù khác.
3.2. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
3.2.1. Câu hỏi vàgiả thuyết nghiên cứu vềvấn đề lýluận của hợp đồng tặng cho tài sản
Câu 1: Trong hệ thống pháp lýtrên thế giới, tặng cho tài sản luôn được xác định là hợp đồng?
Giả thuyết nghiên cứu: sai. Đặt ra hai giả thuyết: (i) Tặng cho làhợp đồng; (ii) Tặng cho không làhợp đồng.
Câu 2: Bản chất pháp lý của HĐTCTS?
Giả thuyết nghiên cứu: HĐTCTS là hợp đồng đơn vụ hoặc song vụ (đối với tặng cho tài sản có điều kiện). HĐTCTS làhợpđồng ưng thuận hoặc hợp đồng thực tế. HĐTCTS làhợpđồngkhông cóđềnbùhoặc có đền bù (đối với tặng cho tàisảncóđiều kiện).
3.2.2. Câu hỏi vàgiả thuyết nghiên cứu về thực trạng pháp luật hợp đồng tặng cho tài sản
3.2.2.1. Đối với hợp đồng tặng cho tài sản thông thường
Câu 1: Những loại tài sản nào cóthể trở thành đối tượng của HĐTCTS? Tài sản hình thành trong tương lại có thể trở thành đối tượng của HĐTC hay không?
Giả thuyết nghiên cứu: tất cả các tài sản gồm tài sản hiện cóvàtài sản hình thành trong tương lai đều có thể trở thành đối tượng của HĐTCTS.
Câu 2: Các bên chủ thể trong HĐTCTS có thể thỏa thuận về thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTC hay không?
Giả thuyết nghiên cứu: có. Vì nguyên tắc quan trọng nhất của hợp đồng làthỏa thuận.
Câu 3: Với một số tài sản tặng cho như quyền đòi nợ, quyền sở hữu trítuệ…thìthời điểm phát sinh hiệu lực là khi nào?
Giảthuyết nghiên cứu: BLDS năm 2015 chưa quyđịnh nội dung này nên theo NCS cần áp dụng quy định chung về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng.
3.2.2.2. Đối với hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện
Câu 1: Điều kiện tặng cho cần thỏa mãn các yếu tố nào?
Giảthuyết nghiên cứu: Điềukiện tặng cho cần thỏa mãn các yếutố: không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xãhội; không làm mất đi tính chất không có đền bù của HĐTC; có thể thực hiện được.
Câu 2: Nếu điều kiện tặng cho không được thực hiện do lỗi của bên tặng cho, do chủ thể thứ ba hoặc do sự kiện bất khả kháng thì giải quyết như thế nào?
Giảthuyết nghiên cứu: có2giảthuyếtđượcđặt ra: (i) Coi nhưđiều kiện tặng cho đã được hoàn thành; (ii) điều kiện tặng cho chưa hoàn thành.
Câu 3: Trong tặng cho tài sản có điều kiện, khi bên tặng cho đòilại tài sản nhưng tài sản đã được giao dịch thì giải quyết như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu: cóhai giả thuyết được đặt ra: (i) Bên tặng cho không đòi lại tài sản được từ bên thứ ba; (ii) Bên tặng cho được đòi lại tài sản.
3.2.3. Câu hỏi vàgiảthuyết nghiên cứu nhằm hoàn thiện pháp luậtvềhợp đồng tặng cho tài sản
3.2.3.1. Đối với hợp đồng tặng cho tài sản thông thường
Câu 1: Cần bổsung quy định vềthai nhi cũng được tặng cho tài sản tương tựnhư với di tặng hoặc thừa kế hay không?
Giả thuyết nghiên cứu: nên ghi nhận, bởi tặng cho và di tặng cùng bản chất.
Câu 2: Cần thiết bổ sung quyđịnhpháp luật về bảo vệ quyền lợi cho người thân thích của người tặng cho tài sản?
Giảthuyết nghiên cứu: cầnghi nhận;điều nàythểhiện tính nhân văn của pháp luật; đồng thời, tặng cho và di tặng cùng bản chất nên cần quy định tương thích nhau.
Câu 3: Có nên bổ sung các quy định về hủy bỏ HĐTCTS?
Giả thuyết nghiên cứu: nên ghi nhận trường hợp người được tặng cho vô ơn vàtrường hợpngười được tặng cho có con là căn cứhủybỏHĐTCTS. Giảthuyết này xuất phát từ đặc trưng HĐTCTS là hợp đồng không có đền bù.
3.2.3.2. Đối với hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện
Câu 1: Có cần bổ sung thêm quy định về điều kiện tặng cho?
Giả thuyết nghiên cứu: bổ sung thêm một số yếu tố như: điều kiện tặng cho phải thực hiện được; điều kiện tặng cho không làm lợi cho bên tặng cho.
Câu 2: Cócần bổ sung quy định khi bên tặng cho đòi lại tài sản tặng cho nhưng tài sản tặng cho đã được chuyển giao cho chủ thể thứ ba?
Giả thuyết nghiên cứu: đặt ra hai giả thuyết: (i) Bên tặng cho khôngđược đòilại tài sản; (ii) Bên tặng cho có quyền yêu cầu người thứ ba hoàn trả lại tài sản.
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN
1.1. Nhận diện hợp đồng tặng cho tài sản 1.1.1. Các quan niệm về tặng cho
Tặng cho làthuật ngữthông dụng trong đờisống hằng ngày và được luật hóa trong hầu hết pháp luật của các quốc gia trên thếgiới. Do vậy, khái niệm tặng cho được nghiên cứu trong nhiều các công trình khoa học dưới các góc độ khác nhau.
Dưới góc độngôn ngữhọc, khái niệm tặng cho được giải thích trong cuốn từđiển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủbiên như sau: “Tặng cho làchuyểnhẳncho người khác dùng cái của mình màkhông lấy lại cái gì” [141, tr.562]. Cách giải thích này đã phản ánh được bản chất và điểm đặc trưng của tặng cho tài sản; đồng thời giải thích động cơ của việc tặng cho nhằm “tỏ lòng quýmến”, “khen ngợi”hay “khuyến khích”. Bởi đây cách thức giải thích trong từ điển nên xét dưới góc độ pháp lý, một sốthuật ngữdùng trong khái niệm này chưa chính xác như: kết luận tặng cho làviệc chuyển hẳn cho “người khác dùng”. Việc sử dụng thuật ngữ“dùng”khiến cho người đọc liên tưởng hoặc nhầm sang hành vi sử dụng, khai thác tài sản mà không hiểu đúng bản chất của tặng cho là chuyển quyền sở hữu tài sản cho chủ thể khác.
Ngoài ra, theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì: “tặng có nghĩa làcho, trao cho để khen ngợi khuyến khích hoặc tỏ lòng quýmến; “cho” là chuyển cái sở hữu của mình sang người khác mà không đổi lấy gìcả”. Theo cách giải thích này,
tặng cho làmột thuật ngữkép trong đó “tặng”là nói đến phương thức chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản; còn “cho”là thể hiện tính chất không có đền bù của việc trao tặng. Khái niệm nàyđã phản ánh đúng bản chất của tặng cho làchuyển giao quyền sở hữu tài sản từ bên tặng cho sang cho bên được tặng cho và đồng thời đã thểhiện được tính chất không có đền bùcủa phương thức chuyển giao này. Tuy vậy, cách lý giải của từ điển chưa thực sự hợp lý vì giải thích trùng lặp “tặng”có nghĩa là “cho”. Nếu “tặng”và“cho”làhai thuật ngữcó nghĩa hoàn toàn giống nhau thìkhôngthểdùng chung trong mộtcụmthuật ngữlà“tặng cho”màchỉcần dùng mộttừ“tặng” hoặc “cho”tài sản là đủ.
Tặng cho làmột thuật ngữ được sử dụng chung cho toàn cầu mà không riêng tại Việt Nam; bởi vậy, thuật ngữ này cũng được giải thích bởi nhiều Từ điển nổi tiếng trên thếgiới. Gốc Latin của thuật ngữnày gồm hai dạng thức danh từvà động từlà“donatio” và“donare” [164]; tương ứng với đó là hai thuật ngữ tiếng Anh là“donation” (danh từ)và“donate”(độngtừ). Trong cuốn Từđiển của Merriam- webster [164], tặng cho được giải thích như sau: (1) trao một món quà, đặc biệt lànhằm đóng góp cho công cộng hoặc làm từ thiện; (2) Một vật gì đó (như máu, bộ phận
cơ thể) mà một người trao cho một bệnh viện hoặc phòng khám để được cung cấp cho những ngườiđang cần. Còn trongBộTừđiển nổitiếngcủaOxford [165], tặng chođược định nghĩa như sau: (1) tặng cho được hiểu làmột vật gì đó được trao cho tổchức từ thiện, đặc biệt làmột khoản tiền; (2) tặng cho là hành động trao tặng một vật gì đó (nguyên gốc tiếng Anh “The action of donating something”). Ngoài ra,từđiển Cambridge cũng đưa ra định nghĩa ngắn gọn về tặng cho như sau: một khoản tiền hoặc hàng hóa được trao tặng nhằm giúp đỡ một người hay một tổ chức hoặc làhành vi trao tiền, trao hàng hóa cho người khác (nguyên gốc tiếng Anh: “act of giving them”)
[163].
Dưới góc độngôn ngữ, thuật ngữ“tặng cho”được lýgiải một cách tương đối đơn giản, dễ hiểu cho mọi đối tượng trong xãhội nói chung. Thông qua việc luận giải khái niệm tặng cho trong một số từ điển Tiếng Việt và nước ngoài, NCS rút ra một sốnhận xét cơ bản sau đây:
Thứnhất, tặng cho làcụmtừghép, trong đó: (i)“Tặng”được hiểu là phương thức định đoạt tài sản, chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản.Do vậy, đề cập đến thuật ngữ“tặng”thìkhông thể hiểu chung chung làviệc chuyển giao tài sản sang cho người khác hay chuyển cho người khác được khai thác, sửdụng tài sản. Đâycũng chính làlýdo, tặng cho được xếp vào các giao dịch chuyển quyền sở hữu tài sản bên cạnh các giao dịch mua bán, trao đổi vàvay tài sản; (ii) “Cho”làthuật ngữkhẳngđịnh vànhấn mạnh tính chất không có đền bù của việc tặng tài sản. Cho làcho không nên bên tặng không thểnhận đượccác lợi ích vật chất tương xứngtừbên đượctặng cho. Điều này tạo ra sự khác biệt đặc trưng giữa tặng cho tài sản vàmua bán tài sản.
Thứ hai, đa phần các từ điển cả ở Việt Nam vàthế giới đều đang tiếp cận thuật ngữ“tặngcho”dướigóc độ“hànhvi”(trong các từđiểnnước ngoài thìtặng cho thường được định nghĩa bắt đầu bằng từ“act of giving”), cụ thể làhành vi của người tặng cho “chuyển hẳn cho người khác” hoặc “chuyển cái sở hữu của mình sang cho người khác”. Thực chất cách giải thích các thuật ngữtrong từđiểnđều xuất phát từthực tế cuộc sống. Trong xãhội của các nước trên thế giới nói chung vàtại Việt Nam nói riêng, tặng cho thường được nhìn nhận dưới góc độ làviệc làm tốt, mang tính nhânđạo của một chủ thể nhằm hỗ trợ, giúp đỡ những người khó khăn. Bởi vậy, dưới góc độxãhội, tặng cho được nhìn nhận làmột hành vi mang tínhtựnguyện, chủđộng, hoàn toàn xuất phát từ ý chímột phía của người tặng cho tài sản. Ngay cả khi tặng chođược xuất phát từ ý tưởng, ý chícủa bênđược tặngcho nhưbên được tặngcho đưa ra đềnghị hoặc xin đượcgiúp đỡtừphía người tặng cho thì đểcóviệc tặng chođược hiện thực hóa, hành vi của người tặng cho làyếu tố quyết định. Do đó, dưới góc nhìn xã hội, tặng cho làhành vi chủ động của bên tặng cho.
Thứ ba, các từ điển của thế giới cũng như Việt Nam đều lýgiải tặng cho dựa trên khía cạnhđộngcơ của hành vi. Điều này được thể hiện rất rõ khi đa phần các từ điển
Tiếng Việt đều chútrọng đến lý do tặng cho như“tỏ lòng quýmến”, “khuyến khích” hay“động viên”. Điều này cũng được minh thị qua cách luận giải của một số từ điển thế giới như trong từ điển của Merriam-webster, từ điển Cambridge.
Lýgiảivềđộngcơ tặng cho làđiềutươngđồng hoàn toàn giữa các cách giải thích trong từ điển của Việt Nam vàtừ điển của các quốc gia trên thế giới. Bởi đây làvấn đềđược nhìn nhận chung, làm nên các yếu tốcốtlõicủatặng cho so với các phương thức chuyển quyền sở hữu tài sản khác. Việc mua bán tài sản, trao đổi tài sản hay cho vay tài sản xuất phát từ nhu cầu, từ lợi ích của đôi bên thì việc tặng cho xuất phát từ yếu tố tình cảm như sự quýmến, sự ngưỡng mộ, sự thương cảm hay việc tặng cho nhằm khuyến khích, động viên, khích lệbên được tặng cho. Do đó, các chủthểxác lập việc tặng cho thường có quan hệ thân thích hoặc có tình cảm với nhau.
Như phân tích ở trên, tặng cho được tiếp cận làhành vi của bên tặng cho do vậy, các tình cảm tích cực khiến tặng cho đượcxác lập thường xuất phát từtình cảm của bên tặng cho đối với bên được tặng cho. Như cha mẹ vì yêu thương, quan tâm nên tặng cho tài sản con cái; các nhàtài trợcảm thông, thương cảm nên tặng cho tài sản cho những người cóhoàn cảnh khó khăn; nhà trường, trường học tặng cho nhằm khích lệcác học sinh, sinh viên đạt kết quả học tập tốt…
Thứ tư, dưới góc độ ngôn ngữ học, tặng cho được tiếp cận dưới góc độ rộng, bất cứmột hành vi trao tặng một vật gì đó (cáctừđiển thếgiới đều dùng chung từ“Something”) thì đều được coi làtặng cho. Đó là lý do trong từ điển thế giới đều giải thích tặng cho bao gồm cả các trường hợp như tặng cho máu, mô, bộ phận cơ thể. Ởkhía cạnh này, thuật ngữ tặng cho được hiểu đồng nhất với thuật ngữ“hiến tặng”. Tại Việt Nam, các trường hợp liên quan đến cho máu, mô, bộ phận cơ thể đều được dùng
với thuật ngữ“hiến”, cụ thể hiến mô, hiến bộ phận cơ thể người, hiến xác sau khi chết. Điều này cũng được luật hóa trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người vàhiến, lấy xác năm 2006. Bởi Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu tặng cho theo pháp luật Việt Nam nên không giống như một số từ điển nước ngoài, NCS cósự phân biệt và không sử dụng trùng lặp giữa thuật ngữ“tặng”và“hiến”.
Qua việc tìm hiểu khái niệm tặng cho dưới góc độngôn ngữ, tất cảcác từđiển trong và ngoài nước được nghiên cứu, phân tích đều tiếp cận tặng cho làhành vi của bên tặng cho. Tặng cho là phương thức định đoạt sở hữu của bên tặng cho, chuyển hẳn tài sản cho bên được tặng cho và cho là cho không.
Dưới góc độ pháp lý, tặng cho được đánh giá là giao dịch đặc thù nhất so với các
giao dịch mua bán, trao đổi, vay tài sản…Cùng làcác giao dịch chuyển quyền sở hữu, mua bán, trao đổi vàvay tài sản được nhìn nhận thống nhất làhợp đồng, làkết quả của sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể. Ngược lại, hiện nay trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thếgiới, tặng chođược tiếp cận và quyđịnhdưới hai góc độhoàn toàn khác nhau: (1) tặng cho làhợp đồng; (2) tặng cho làhành vi đơn phương của bên
tặng cho.
Thứ nhất, tặng cho được thừa nhận là một loại hợp đồng
Các quốc gia ghi nhận tặng cho là hợp đồng như Pháp, Đức, Nhật Bản, Thái Lan,
Trung Quốc… BLDS của Pháp quy định về tặng cho tài sản tương đối chi tiết với sốlượng lớn điều luật (hơn 80 Điều). Vấn đề tặng cho được quy định tại Thiên II, Quyển thứ3 với tiêu đề“Chứng thư tặng cho và di chúc”. Điều 894 BLDS Pháp ghi nhận:
“Chứng thư tặng cho là văn bản theo đó bên tặng cho từ bỏ ngay lập tức và vĩnh viễn tài sản tặng cho cho bên được tặng vàbên được tặng cho đồng ý nhận”. Quy định nàyđã khẳngđịnhtặng cho làhợp đồng, thểhiện ýchícủa hai bên, gồm bên tặng cho “đoạn tuyệt”với tài sản của mình, bên được tặng cho “đồng ý nhận tài sản”.Bộ luật dân sự Nhật Bản xác định rõtặng cho được kí kết theo sự thể hiện ý chícủa một bên (bên tặng cho) về việc chuyển giao không lấy tiền một tài sản nhất định cho bên kia vàcósự đồng ý của bên đó (Điều 549 BLDS Nhật Bản) [138, tr. 541]. Bộ luật dân sự vàthương mại Thái Lan cũng quy định tương đồng: “Tặng cho làmột hợp đồng trong đó một người gọi là người cho, chuyển một tài sản của chính mình cho một người khác, gọi là người nhận màkhông lấy tiền và người nhận nhận tài sản đó” (Điều 521). Theo quy định này, tặng cho được thừa nhận làmột trong các phương thức định đoạt quyền sở hữu tài sản vàlà một hợp đồng thực tế vìphải cóhành vi “cho”và“nhận”tài sản diễn ra.
Khi tặng cho được quy địnhlàhợp đồngthì để xác lập luôn cần phải cósự thoảthuận, thống nhất ýchícủa cảbên tặng cho và bên đượctặng cho. Cùng làyếu tố“thoảthuận”đểhình thành hợp đồngnhưngsựthoả thuận trong tặng cho cóđiểm khác biệt so với sự thoả thuận để hình thành nên các loại hợp đồng khác. Sự khác biệt thể hiện ở chỗ: yếu tố thoả thuận trongmọi hợp đồngnhưhợp đồngmua bán tài sản,
hợp đồng trao đổi tài sản…đượckhởi nguồntừbấtcứbên nào trong hợp đồng (bên mua hoặc bên bán). Còn yếu tố thoả thuận trong tặng cho lại thường được khởi nguồn từ bên tặng cho tài sản (vì đây là hợp đồng không mang lại lợi ích cho chính bên tặng cho nên thường khi họ tự nguyện tặng cho ai đó tàisản thìhọ sẽ là bên đặt vấn đề với bên được tặngcho) nên đa phần luật của các quốc gia đều quy định điều kiện của bên được tặng cho là“đồng ýnhận tài sản”.Điều này cũng được khẳng địnhthông qua nhận định sau:
Mặc dùhợp đồng tặng cho tài sản được hình thành trên cơ sở sự thoả thuận giữa các bên. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các nội dung của hợp đồng tặng cho tài sản là do bên tặng cho đưa ra, bên được tặng cho thường không thể hiện được ý chítrong việc xácđịnhđối tượng tặng cho làgì, giátrịlớn hay nhỏ,… Vềthực chất, ýchícủabên được tặng cho chỉđược thểhiện khi các nội dung của hợp đồng tặng cho tài sản đã được bên tặng cho xác định trước. Do đó, không ít nhà nghiên cứu đã thể hiện quan điểm cho
rằng tặng cho tài sản giống với bản chất của hành vi pháp lý đơnphương hơn là hợp đồng [135, tr.672].
Thứ hai, tặng cho được tiếp cận làhành vi đơn phương của bên tặng cho
Ngoài góc tiếp cận tặng cho làhợp đồng thìhiện nay một sốquốc gia trên thếgiới lại tiếp cận tặng cho dưới góc độ là hành vi đơn phương của bên tặng cho. Trong hệthống pháp luật Anh, tặng cho tài sảnđược gọi tên là“deed of gift” cónghĩa là “hành vi tặng cho” mà không được quyđịnh là“gift of contract” hay “donation contract” (HĐTCTS). Theo đó, hành vi tặng cho được hiểu làviệc chuyển giao tài sản sang cho chủ thể khác mà không cóđền bù[169]. Tương tự, trong pháp luật Ấn Độ, tặng cho làviệc chuyển quyền sở hữu đối với động sản hay bất động sản đang tồn tại, được xác lập một cách tự nguyện và không cóđền bùbởi người tặngcho đến một chủthể khác gọi là bên được tặng cho. Ngay khi bên tặng cho đưa ra tuyên bố tặng cho màchưa cần sự trả lời đồng ý của bên được tặng cho thìbên tặng cho đã phải chịu sự ràng buộc với giao dịch tặng cho mà họ đưa ra. Sự chấp nhận của bên được tặng cho cóthểdiễn ra trong suốt cuộc đời của người tặng cho và khi người tặng cho vẫn cókhả năng thực hiện việc tặng cho. Còn nếu khi người được tặng cho chết trước khi trả lời chấp nhận thìviệc tặng cho vôhiệu [170]. Như vậy, theo pháp luật Ấn Độ chỉ cần bên tặng cho tuyên bố ý chítặng cho là đầy đủ căn cứ pháp lýđể hình thành giao dịch tặng cho mà chưa cần phải có sự chấp nhận của bên được tặng cho.
Điển hình cho cách tiếp cận tặng cho là hành vi đơn phương của bên tặng cho phải kể đến pháp luật của Scotland. Scotland là nơi có hệ thống pháp luật dễ dàng nhất để tiến hành việc tặng cho một cách hợp pháp [154]. Điều này được thể hiện qua nhiều đặc điểm: (i) không yêu cầu hình thức đặc trưng nào liên quan đến hành vi chuyển giao trong tặng cho, do vậy việc tặng cho cóthể được tiến hành bằng lời nói; (ii) hành vi chuyển giao tài sản tặng cho làmột hành vi đơn phương, không cần cósự đồng ýcủa bên được tặng cho (trái ngược với Louisiana vàpháp luật của nhiều quốc gia khác
như Nhật Bản, Đức, Thái Lan, Việt Nam…); và (iii) bất kì nghĩa vụ nào trước khi tiến hành việc tặng cho trong tương lai khôngcần phải ởdưới dạng hợp đồng,mà cóthểđược tiến hành đơn phương dưới dạng lời hứa [154].
Tóm lại, các quốc gia theo hệ thống pháp luật Common law như Anh (bao gồm
cả Scotland), Mỹ, ẤnĐộ…đều nhìn nhận tặng cho làmột “hành vi đơn phương của bên tặng cho”. Với góc tiếp cận này, giao dịch tặng cho được thiết lập hết sức đơn giản vànhanh gọn bởi chỉ cần sự tuyên bố ý chícông khai của một bên về việc tặng cho tài sản cho một chủ thể khác làgiao dịch tặng chođã được thừa nhận hiệu lực màkhông cần phải chờ đợi vào ý kiến trả lời của bên được tặng cho.
Tại Việt Nam, tặng cho tài sản được ghi nhận từ rất sớm trong hệ thống pháp luật. Ngay trong các BộDân luật Bắc kỳnăm 1931, BộDân luật Trungkỳnăm 1936 vàNam kỳ giản yếu năm 1883 đều ghi nhận về tặng cho với tiêu đề“sinh thời tặng dữ”.
“Sinh thời”được hiểu làkhi chủ thể còn sống, còn tồn tại; còn “tặngdữ” làmột thuật ngữ Hán Việt được hiểu tương đương với thuật ngữ tặng cho. Như vậy, ghép hai cụm thuật ngữ này vào thìcó thể hiểu “sinh thời tặng dữ” làviệc tặng cho tài sản khi một người còn sống. Thuật ngữ này cũng đã được lýgiải cụ thể như sau: “Tặng dữ (hay làcho) làmột giao ước do một người (gọi là tặng chủ) tự ý lấy của mình cho người khác
(gọi là thụ tặng). Ai cócủa và có đủ khả năng đem của mình cho người mình lựa được. Tặng dữ bóbuộc phải lập bằng công chứng thư khi của đem cho là một bất động sản. Việc tặng dữ đã làm thì không thể bãi bỏ được. Đã cho là cho đứt. Trường hợp bãi bỏ
tặng dữ do pháp luật quy định rất làhãn hữu: người cho sinh con sau khi cho, người thụ tặng không thi hành trách vụ, người thụ tặng bội bạc” [106, tr.381].
Trong BDLBK năm 1931, các quy định về tặng dữ được ghi nhận tại Thiên thứ II. Điều 864 Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931 quy định: “Sinh thời tặng dữ làmột khế ước do bên tặng chủ hiện thời bỏ của ra, màbên thụ tặng nhận lấy”. Ngoài ra, Điều 865 ghi nhận thêm “Tặng dữ là để làm phúc, hoặc để đền công, hoặc để thưởng tứ, hoặc đểphải làm lại việc gì”.Trong BDLTK năm 1936, Điều 951 quyđịnh:“Sinh thời
tặng dữ làmột khế ước do bên tặng chủ bỏ đứt ngay một tài sản gì để cho bên người thụhưởng nhận lấy”. Bộluật này cũng ghi nhận nguyên tắc, chỉtặng dữtài sảnmàmình hiện cómà thôi, nếu tặng dữ tài sản mà mình sẽ cóthìsự tặng dữ ấy làvôhiệu. Thời điểm về sau này, Bộ Dân luật năm 1972 cũng dành một số lượng Điều luật tươngđối lớn đểquy định về sinh thời tặng dữ. Điều 959 Bộ Dân luật năm 1972 quyđịnh:
“Sinh thời tặng dữ là một khế ước do đó người chủ tặng đem một tài sản của mình cho dứt khoát một người khác, là người thụ tặng cũng thuận nhận tài sản ấy”.Với việc sửdụng thuật ngữ“sinh thời tặng dữ”trong các Bộ Dân luật trước đây đã khẳng định rất rõthời điểm tặng dữ được thực hiện làkhi bên tặng cho phải còn sống. Điều này cho phép phân biệt rõràng với thời điểmdi tặng di sản. Qua các trích dẫn trên, rõràng truyền thống lập pháp nước ta đã thừa nhận tặng dữ làkhế ước, được xác lập trên cơsở thỏa thuận giữa bên tặng chủ (bên tặng cho) và bên thụ tặng (người được tặng cho). Kếthừa các quyđịnhvềtặng cho trong các BộDân luật trước đó, BLDS năm
1995, BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 đều ghi nhận tặng cho tài sản làhợp đồng. Cách tiếp cận tặng cho làhợp đồng đượcluật hoá trong các văn bản pháp luật cũng nhận được sự đồng tình của nhiều nhànghiên cứu pháp lý. Theo TS. Nguyễn Hải An:
“Pháp luật Việt Nam cũng như hầu hết pháp luật cácnước đều xácđịnh tặng cho tài sản làmột loại vật quyền được thực hiện thông qua giao dịch làhợp đồng, trong đó cósự thoả thuận giữa các bên, bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sởhữu cho bên được tặng cho, màkhông yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ýnhận tài sản”[47, tr.16]. Cũng tương tựvới nhận định này, TS. Nguyễn Ngọc Điện nhấn mạnh: “Để tặngcho được xác lập,lời đề nghị của người tặngcho khôngđủ, cần
phải có sự chấp nhận của người được tặng cho, vậy tặng cho là một hợp đồng”[79, tr. 160].
Như vậy, hiện nay trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới vàtại Việt Nam thìtặng cho tài sản được tiếp cận dưới góc độ làhợp đồng hoặc hành viđơn phương của bên tặng cho tài sản. Dùdù tặng cho được tiếp cận dưới góc độ nào thìkhái niệm tặng cho đều chứa đựng các đặc tính chung được thừa nhận rộng rãi sau đây:
Một là, tặng cho làmột trong các phươngthức địnhđoạt tài sản của chủ sở hữu -đây là phương thức định đoạt số phận pháp lýđối với tài sản. Trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam, tặng cho làmột trong các giao dịch chuyển quyền sở hữu đối với tài sản bên cạnh các hợp đồng thông dụng khác như mua bán, trao đổi, cho vay;
Hai là, tặng cho tài sản chỉ làm lợi cho bên được tặng cho mà không mang lại lợi ích vật chất cho bên tặng cho tài sản. Dùtặng cho được nhìn nhận làhợp đồng hay hành vi pháp lý đơn phương của bên tặng cho thìtrong tất cả các định nghĩa, các quanđiểm được trích dẫn trong và ngoài nước đều khẳng định cho làcho không; tặng cho làkhông có đền bù. Đây là điểmđặc thùcủa phương thức định đoạt tài sản bằng hình thức tặng cho so với các phương thức khác như mua bán hay trao đổi tài sản.
Ba là, khi nghiên cứu về tặng cho thìcần tìm hiểu loại giao dịch này trong mối liên hệvớidi tặng. Tặng cho vàdi tặng là hai phương thức địnhđoạt tàisảngiống nhau về bản chất nhưng giao dịch tặng cho tài sản chỉ được thực hiện giữa các chủ thểcòn sống; còn di tặng chỉ phát sinh hiệu lực khi chủ thể di tặng chết. Đặc biệt trong các cổ luật của nước ta, ngay tên gọi “sinh thời tặng dữ”đã phản ánh điểm khác biệt căn bản giữa tặng cho và di tặng.
Từ các phân tích trên, NCS rút ra định nghĩa chung nhất (định nghĩa bao quát cảgóc tiếp cận tặng cho là hợp đồng hoặc tặng cho làhành vi đơn phương của bên tặng cho) về tặng cho tài sản như sau: “Tặng cho tài sản làmột giao dịch dân sự theo đóchủthểkhi còn sống chuyển quyền sởhữu đối với tài sản của mình cho một chủthểkhác mà không yêu cầu nhận lại được bất cứ lợi ích vật chất tương xứng nào”.
Mặc dùtrên thế giới nói chung vàtại Việt Nam nói riêng, giao dịch tặng cho tài sản được tiếp cận chưa thống nhất như các giao dịch dân sự khác. Tuy vậy, dưới góc độ nghiên cứu, theo quan điểm NCS cần nhìn nhận tặng cho tài sản làmột hợp đồng mà không chỉ là hành vi đơn phương của bên tặng cho bởi một số lý do sau đây:
Một là, xét đến cùng vấn đề, khi tặng cho được tiếp cận làhợp đồng hay hành viđơn phương của bên tặng cho thì để thiết lập giao dịch tặng cho vẫn cần phải cósự thểhiện ý chí“đồng ý nhận”của bên được tặng cho. Nếu bên được tặng cho không đồng ý nhận tài sản thì giao dịch tặng cho cũng không được xác lập.
Hai là, khởi nguồn của việc tặng chohoặc để một bênđược tặng cho tài sản thìthường xuất phát từýchívàhành vi của bên tặng cho tài sản. Tuy nhiên, theo NCS
không nên đánh đồng giữa yếu tố hành vi để bắt đầu thiết lập quan hệ với điều kiện đểquan hệ được xác lập. Điều này được hiểu, khi một người yêu quýhoặc muốn giúp đỡ
người khác thìbằng hành vi của mình, họ tặng cho tài sản cho người khác – hành vi tặng cho trong trường hợp này được xác định làyếu tố khởi đầu để thiết lập giao dịch tặng cho và được xem xét làyếu tố“cần”để cho giao dịch tặng cho được hình thành. Tuy vậy, điều kiện để tặng cho được xác lập và thực hiện cần phải cóyếu tố đủ là“sựđồng ýcủa bên được tặng cho”. Ngược lại, khi tặng cho được đềxuất bởi bên được tặng cho thìcần phải cósựđồng ýcủa bên tặng cho mới hình thành được giao dịch tặng cho. Do đó, dù ý định tặng cho tài sản xuất phát từ ý chícủa bất cứ chủ thể nào cũng đều cần sự đồng ý của bên còn lại nên tặng cho được xác định là hợp đồng;
Ba là, giao dịch tặng cho là giao dịch không có đền bù. Bên tặng cho chuyển giao một lợi ích vật chất của cá nhân để làm lợi cho một chủthể khác. Do đó, theo NCS, các quy định tặng cho cần phải được xây dựng chặt chẽ, nghiêm ngặt theo hướng tạo điều kiện tối đa để bên tặng cho suy nghĩ thận trọng về việc tặng cho tài sản của mình. Nếu ghi nhận tặng cho là hành vi đơn phương của bên tặng cho thìviệc tặng chođược xác lập hết sức đơn giản, nhanh gọn bởi chỉcần sựtuyên bốýchícông khai làbên
tặng cho đã bị ràng buộc trách nhiệm. Điều này làkhông phùhợp với nguyên tắc,định hướng xây dựng pháp luật vềtặng cho. Vìtặng cho là không có đền bùnên cần quyđịnh theo hướng nghiêm ngặt về thời điểm bên tặng cho phải chịu trách nhiệm với việc tặng cho của mình. Như theo pháp luật của nước ta, tặng cho cóhiệu lực tại thời điểm chuyển giao tài sản hoặc đăng ký đối với từng loại đối tượng tặng cho.
Bốn là, một số quốc gia nhưẤn Độ thừa nhận tặngcho là hành vi đơn phương của bên tặng cho nên khi một chủ thể đưa ra tuyên bố tặng cho một người thìchủ thểđó có quyền trả lời về việc đồng ý hay không đồng ý nhận tài sản trong suốt cuộc đời của bên tặng cho. Quy định này cũng gây ra một số điểm không tích cực, không phùhợp với thực tế như sau:
(i) Bởi nhìn nhận tặng cho là hành viđơnphương của bên tặng cho nên bên tặng cho bịràng buộc trách nhiệm tặng cho ngaytừkhi tuyên bốtặng cho được đưa ra. Điều này được hiểu giao dịch tặng cho đã được xác lập vàcóhiệu lực. Tuy nhiên, đểbên tặng cho thực hiện được hành vi tặng chothìvẫn phải cần sự đồng ý của bên được tặng cho nên bên tặng cho phải chờ đợi cho đến khi nào bên được tặng cho đưa ra câu trả lời, thậm chí đến khi hết cuộc đời của bên tặng cho. Do đó, các giao dịch tặng cho sẽ bị kéo dài về mặt thời gian, thường xảy ra tranh chấp giữa bên tặng cho và bên được tặng cho. Bởi theo thời gian thì ý định tặng cho của bên tặng cho rất dễ thay đổi.
(ii) Việc nhìn nhận tặng cho là hành vi đơn phương của bên tặng cho cóthể dẫn tới hệ quả làm kìm hãm các giao dịch dân sự được xác lập với đối tượng tặng cho. Nhưđã phân tích ở trên, khi bênđược tặngcho chưa trả lời về việc đồng ý hay chấp thuận việc tặng cho thìbên tặng cho vẫn bịràng buộc trách nhiệm tặng cho xuất phát từ
tuyên bố của họ. Nếu thời gian trả lời của bên được tặngcho càng dài càng làm kìm hãm các giao dịch mua bán, trao đổi đối với tài sản mà bên tặng cho có ý định cho.
Từ các phân tích trên, NCS cho rằng, tặng cho phải được xác định là hợp đồng. Tặng cho được hình thành từsựthỏa thuận, thống nhất ýchígiữa bên tặng cho vàđược tặngcho.Các vấn đềpháp lý như hình thức của hợp đồng, thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng, chủthể của hợp đồng, hủybỏ hợp đồng…cần được xâydựng tương thích và phù hợp với HĐTCTS.
1.1.2. Khái niệm hợp đồng tặng cho tàisảnvàhợpđồngtặng cho tàisảncóđiều kiện
1.1.2.1. Khái niệm hợp đồng tặng cho tài sản
HĐTCTS làloại hợp đồng thông dụng vàphổ biến ở Việt Nam cũng như trên thếgiới; do đó, khái niệm vềHĐTCTSđã đượcluật hoátrong rất nhiều BLDS trên thếgiới cũng như được đề cập trong nhiều công trình khoa học pháp lý.
Tính đến thời điểm hiện nay chưa có bất cứ một công trình nghiên cứu nào ở cấp độtiến sỹvềHĐTCTS nói chung mà các nghiên cứu chủyếu tậptrung vềtặng cho quyền sử dụng đất. Do đó, khái niệm HĐTCTS chưa được chútrọng nghiên cứu trong các công trình khoa học mà thườngchỉđược đềcập ngắn gọn trong mộtsốbài viết, luận văn và các công trình khoa học khác nhằm làm nền tảng để nghiên cứu sâu hơn về tặng cho quyền sử dụng đất.
Trong luận văn “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụngđất – Một số vấn đề lýluận vàthực tiễn”, tác giả Trần Thị Minh định nghĩa: “Hợp đồng tặng cho tài sản làmột quan hệ tặng cho được hình thành từ sự thoả thuận giữa các bên để thoả mãn các nhu cầu về sản xuất, kinh doanh hoặc các nhu cầu về sinh hoạt hằng ngày; còn pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản làsự quy định của Nhà nước đối với các bên trong việc thoả thuận về tặng cho tài sản” [115, tr. 10]. Định nghĩa đã lýgiải HĐTCTS dưới gócđộ làmột quan hệ pháp luật dân sự và dưới góc độ làmột chế định pháp luật. Với cách tiếp cận tặng cho làmột quan hệ pháp luật, định nghĩa trênđãlàm sáng tỏ được cơ sở
hình thành HĐTCTS làthông qua sựthoả thuận. Còn với nhận định “tặng cho… đểthoả mãn các nhucầuvềsản xuất, kinh doanh hoặc các nhu cầu vềsinh hoạt hằng ngày”thìNCS lại có quan điểm khác. Bởi lẽ, mỗibên trong HĐTCTS cómụcđích khác nhau khi xác lập HĐTCTS. Mục đích của bên tặng cho hướng tớikhông phải nhằm thoả mãn các nhu cầu về sản xuất, kinh doanh hay các nhu cầu về sinh hoạt hằng ngày màmục đích là nhằm chuyển giao tài sản vàchuyển quyền sở hữu đối với tài sản của họcho bênđược tặng cho. Trên cơsởkếthừa cácđiểm hợp lý được xây dựng trong định nghĩa trên, theo quan điểm NCS khi tiếp cận tặng cho làmột quan hệ pháp luật thìcần làm sáng tỏ hơn các yếu tố đặc trưng liên quan đến chủ thể, khách thể vànội dung của quan hệ cũng như bản chất không có đền bù của loại quan hệ này.
Cũng đưa ra định nghĩa về HĐTCTS, tác giả Nguyễn Văn Hiến nhận định:“Hợp
đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận của các bên theo đúng quy định của pháp luật vềtặng cho tài sản, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình vàchuyển quyền sởhữu cho bên được tặng cho màkhông yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ýnhận”[92, tr. 96].Vềcơ bản, định nghĩa nàyđược xây dựng theo quyđịnh tại Điều 465 BLDS năm 2005 và thêm cụm từ “theo đúng quy định của pháp luật về tặng cho tài sản”. Tác giảNguyễn Văn Hiến muốn nhấn mạnhđến sựtuânthủpháp luật của bên tặng cho và bênđược tặngcho khi xác lập, thực hiện HĐTCTS. Đây làyếu tố bảo đảmcho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh và đúng đắn trên thực tế. Tuy nhiên, NCS lại tiếp cận HĐTCTS dưới một cách nhìn khác, dù bên tặng cho và bên được tặng cho không tuân thủtheo đúng quyđịnh của pháp luật thìbản chất giao dịch các bên xác lập vẫn là HĐTCTS. Như bên tặng cho và bên được tặng xác lập không đúng với hình thức của HĐTCTS hay ý chí của các bên không tự nguyện khi xác lập HĐTCTS không làm thay đổi bản chất của giao dịch là HĐTCTS. Thậm chí, trong những trường hợp này, HĐTCTS vẫn cóhiệu lực thi hànhđối với cả bên tặngcho và bên được tặng cho. Ví dụ: Trong lúc say rượu, A tặng cho B 50 triệu đồng.Sau khi tỉnh rượu, A không yêu cầu toàán tuyên bố HĐTC A đã xác lập với B làvôhiệu. Do vậy,hợp đồng
tặng cho này vẫn cóhiệu lực mặc dùkhông thoả mãn đầy đủ các điều kiện cóhiệu lực theo quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015 hay trường hợp cha mẹ tặng cho nhà đất cho con cái, hợp đồng đã đượclậpvăn bản nhưng chưa công chứng, chứng thực nhưng nếu các bên hoặc một trong hai bên đã thực hiện được tối thiểu 2/3 nghĩa vụ thìHĐTCTS được công nhận (Điều 129 BLDS năm 2015).
Ngoài ra, HĐTCTS còn được định nghĩa “là sự thể hiện ý chí, sự tự nguyện, tựdo thỏa thuận trong khuôn khổ quyđịnhpháp luật của các bên, theo đó bên tặng cho chuyển giao quyền sở hữu hoặc chuyển quyền sử dụng tài sản của mình theo quy định của pháp luật cho bênđược tặng cho màkhông yêucầuđềnbù, còn bênđược tặng cho đồng ý nhận” [69, tr.12]. Cũng giống nhưđịnhnghĩa ở trên,địnhnghĩa này khẳng
định hợp đồng tặng cho tài sản phải theo quy định của pháp luật – Đây làvấn đề màNCS có góc nhìn khác và đã được trình bày ở trên. Bên cạnh đó, đây là định nghĩa duy nhất ghinhận “bên tặng cho chuyển giao quyền sở hữu hoặc chuyển quyền sử dụng tài sản của mình…cho bênđược tặng cho”.Nội dung này gây ra rất nhiều băn khoăn cho NCS. Theo các thuật ngữ được dùng trong định nghĩa trên, tặng cho là“chuyển giao quyền sở hữu”hoặc “chuyển quyền sử dụng”đối với tài sản. Tuy vậy, HĐTCTS luôn làhợp đồng chuyển giao quyền sở hữu tài sản đối với mọi loại tài sản nói chung gồm vật, tiền, giấy tờ cógiávàquyền tài sản mà không phải làchuyển giao quyền sử dụng tài sản. Trường hợp tặng cho quyền tài sản như quyền sửdụng đất thìmục đích của hợp đồng chính làchuyển quyền sở hữu đối với QSDĐ từ bên tặng cho sang cho bênđược tặng cho.
Ngoài các công trình nghiên cứu trong nước, khái niệm HĐTCTS cũng được
nghiên cứu phổ biến trong các công trình khoa học nước ngoài. Tác giả O.N. Sadikov cho rằng, trong HĐTCTS, một bên (bên cho tài sản) chuyển tài sản mà không cần sựđền đáp của mộtbên khác. Tặng cho làhợpđồng bởi việc tặng cho không chỉxuất phát từ mong muốn của bên tặng cho mà còn phải cósự chấp thuận của bên nhận món quà. Giống như hợp đồng mua bán, HĐTCTS là phương tiện để chuyển giao quyền sởhữu tài sản. HĐTCTS làhợp đồng ràng buộc một bên vàkhông tạora nghĩa vụcho bên nhận quàtặng. Tặng cho làmột hợp đồng thực sựtại thời điểm chuyển giao đối tượng của hợp đồng[158]. Còn tác giả William Blackstone & William Draper Lewis nhận định: “HĐTCTS là một trong các phương thức chuyển giao tài sản của cánhân;
tặng cho luôn làviệc không lấy tiền và được phân định thành tặng cho bất động sản vàtặng chođộng sản”[146]. Trong một định nghĩa ngắn gọn, các tác giả đã nêu được những yếu tố cơ bản của HĐTCTS: (i) Mục đích của HĐTC làchuyển quyền sở hữu
tài sản; (ii) HĐTC làhợp đồng không có đền bù– đây là một trong các điểm đặc trưng của hợp đồng này; (iii) Đối tượng của HĐTC bao gồm bất động sản và động sản.
Nhưvậy, địnhnghĩa HĐTCTS đã được nghiên cứu trong nhiều công trình khoa học khác nhau với các phương thức định nghĩa riêng biệt nhưng tựu chung lại các định nghĩa trên đều thống nhất các yếu tố sau đây: (i) HĐTCTS là sự thỏa thuận giữa bên
tặng cho và bên được tặng cho – đây là cơ sở cho việc hình thành hợp đồng nói chung và HĐTCTS nói riêng; (ii) HĐTCTS là luôn được xác định làhợp đồng không có đền bù. Bên tặng cho không nhận được lợi ích từ bên được tặng cho tài sản.
Ngoài các tài liệu nghiên cứu, trong một sốBLDS trên thếgiới vàViệt Nam cũng đưa ra khái niệmvềHĐTCTS. Theo quyđịnh của BLDS Cộng hoàPháp: “Chứng thư tặng cho là văn bản theo đó bên tặng cho từ bỏ ngay lập tức và vĩnh viễn tài sản tặng cho cho bên được tặng cho và bên được tặng cho đồng ý nhận” [10, Điều 894]. Việc tặng cho tại Pháp luôn phải thểhiện dưới hình thức văn bản nên trong BLDS Pháp sử dụng thuật ngữ“chứngthư”làhoàn toàn phùhợp. Mặc dùkhông sửdụng thuật ngữ“hợp đồng”nhưng trong BLDS Pháp, tặng cho vẫn được thừa nhận làmột loại hợp đồng dân sự bởi lẽ ngay Điều 894 đã thể hiện rất rõý chícủa bên được tặng cho phải đồng ý nhận.
Đối chiếu khái niệm tặng cho tài sản giữa BLDS Pháp và BLDS năm 2015 của Việt Nam cóthểthấy hai khái niệmđược ghi nhận tương đối đồng nhất, đều chứa đựng các yếu tố như: (1) tặng cho và phương thức định đoạt tài sản; (2) việc tặng cho tài sản được xác lập phải cósựđồng ýnhậncủa bênđược tặng cho. Điểmkhác biệt trong cách thức quy định khái niệm giữa BLDS Pháp và BLDS năm 2015 là (1) BLDS Pháp ghi nhận cả hình thức của việc tặng cho ngay trong khái niệm còn trong BLDS năm 2015, hình thức của HĐTCTS được quy định tại điều luật riêng; (2) khái niệm tại Điều 457 BLDS năm 2015 xác định rõyếu tố không đền bùcủa HĐTCTS còn trong BLDS Pháp, khái niệm tại Điều 894 không quyđịnh yếu tốkhông có đền bùcủa
chứng thư tặng cho màtính chất này được ghi nhận riêng tại Điều 893: “Mỗi người chỉcóthể định đoạt tài sản của mình mà không yêu cầu đền bùbằng cách lập chứng thư tặng cho hoặc di chúc”.
Theo quyđịnh của BLDS Cộng hoà Liên bang Đức (BGB), một sựđịnh đoạt qua đó một người nàođó làm giàu cho người khác từtài sản riêng của mình làmột việc tặng cho nếu cả hai bên thống nhất với nhau rằngviệc định đoạt đó làcho không
[8, Điều 516]. Cũng tương tự như trong BLDS Pháp và BLDS của nước ta, BLDS Đức cũng thừa nhận tặng cho làhợp đồng khiphải cóyếu tố“thống nhất với nhau”.Đồng thời, BLDS Đức cũng khẳng định rất rõ ràng “việc cho là cho không”.
Đểđưa ra được khái niệmđầyđủ, hoàn thiện vềHĐTCTS, trước hết, cần phải nghiên cứu bản chất của hợp đồng. Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 385 BLDS năm 2015). Tặng cho làmột trong các loại hợp đồng nên phải theo lýthuyết về sự hình thành hợp đồng; cụ thể, HĐTCTS làsự thoả thuận, thống nhất ý chícủa bên tặng cho và bênđược tặng cho tài sản. Nếu thiếu đi yếu tố“thoả thuận”thìkhông thể hình thành được HĐTCTS. Điều này cũng thểhiện rất rõ trong định nghĩa vềHĐTCTSđượcghi nhận tại Điều
457 BLDS năm 2015: “Hợp đồng tặng cho là sự thoả thuận giữa các bên…” vàngay trong địnhnghĩa cũngđã đưa ra điều kiệnvềýchícủa bên được tặng cho “đồngýnhận tài sản”. So sánh về cơ sở hình thành giao dịch tặng cho giữa Việt Nam vàcác quốc gia tiếp cận tặng cho làmột hành viđơnphương của bên tặng cho (như Anh bao
gồm cả hệ thống pháp luật của Scotland, Mỹ, Ấn Độ, …) cho thấy, cơ sở hình thành giao dịch tặng cho của những quốc gia này đơn giản hơn rất nhiều so với Việt Nam bởi chỉ cần sự tuyên bố ý chímột cách công khai của bên tặng cho là đã xác lập được giao dịch tặng cho mà không cần phải có sự đồng ý của bên được tặng cho tài sản.
Thời điểm xác lập HĐTCTS cũng là một trong những yếu tố quan trọng để phân định đâu là HĐTCTS và trường hợp nào cũng là cho tài sản nhưng không được xác định làhợp đồngmà được xác định là di tặng. Theo như một phân tích:
Trước hết “di”trong Từ đển tiếng Việt được hiểu ở các khía cạnh sau:
–“Di”biểu hiện sự chuyển động ra khỏi vị trí nhất định thông qua sự tácđộng nào đó lên một vật để lại dấu vết nhất định.
–“Di”biểu hiện sự chuyển động ra khỏi vị trí nhất định thông qua sự tácđộng nào đó lên một vật để lại dấu vết nhất định.
–“Di”với nghĩa khác là sự truyền lại, lưu lại, để lại cho đời sau, thế hệ sau, người “di”sau, như“di bản”, “di cảo”…[97, tr.9 -10].
Đặt thuật ngữ“di”kèm theotừ“tặng”thìdi tặngđược hiểu làviệc tặngtài sản của người đời trước,của người đãchết cho những người còn sống. Như vậy, di tặng không thể làhợp đồng bởi việc di tặng chỉ phát sinh hiệu lực khi bên di tặng đã chết. Ngượclại, tặng cho làviệc khi mộtngườicòn sống chuyển giao quyền sởhữu mà
không có đền bù đối với tài sản của mình cho người khác. Do đó, tặng cho là hợp đồng, làkết quả của sự thỏa thuận giữa bên tặng cho và bên được tặng cho. Bởi, tặng cho vàdi tặng cùng là“tặng”tài sản nên tính chất không có đền bùcủa hai giao dịch này làgiống nhau. Tuy vậy, giữa tặng cho và di tặng lại có sự khác biệt căn bản liên quan đến yếu tố thời điểm giao dịch được xác lập và phát sinh hiệu lực.
Qua việc bình luận các khái niệm trên về HĐTCTS trong các công trình khoa học vàmộtsốBộluật Dân sựtrênthếgiới, NCS nhậnđịnhcần đưa ra định nghĩavềHĐTCTS chứa đựng các nộidung sau đây: (i)Vềcơ sởhình thành: HĐTCTSđược hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa bên tặng cho và bên được tặng cho tài sản; (ii)vềtính chất trao đổi ngang giá, đền bùtương đương: HĐTCTS luôn mang tính chất không đền bù. Đây là đặc trưng cơ bản nhất của HĐTCTS và điểm đặc trưng này được nhấn mạnh trong tất cả các nghiên cứu trong và ngoài nước; (iii) Về thời điểm xác lập,
tặng cho phải được xác lập khi người tặng cho còn sống. Còn cho sau khi chết được xác định làdi tặng; (iv)Về đối tượng của hợp đồng: đối tượng của HĐTCchính làtài sản. Với các trường hợp cho hay hiến tặng một vật chất nàođó(hiến máu, bộ phận cơ
thể người…) mà không phải làtài sản thì không được thừa nhận làHĐTC nên cơ chếđiều chỉnh, giải quyết tranh chấp cho những quan hệ này cũng khác với HĐTCTS.
Trên cơ sởkếthừa các định nghĩa vềHĐTCTS đã được các nhàkhoa học xây dựng trước đó và cùng với sựphân tích, bình luận ởtrên, NCS đưa ra định nghĩa vềHĐTCTS như sau:
“Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa bên tặng cho và bên được tặng cho, theo đó khi còn sống, bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho màkhông yêu cầu đền bù; còn bên được tặng cho nhận chuyển giao tài sản. Hợp đồng tặng cho có thể kèm điều kiện tặng cho hoặc không”.
Soi chiếu theo các yếu tố cần được sử dụng khi xây dựng định nghĩa về HĐTCTS thì định nghĩa HĐTCTS được quy định tại Điều 457 BLDS năm 2015 đã phản ánh vàthể hiện được các nội dung cơ bản trên của loại hợp đồng này: “Hợp đồng tặng cho tài sản làsựthoả thuận giữa các bên, theo đóbên tặng cho giao tài sản củamình vàchuyển quyền sở hữu cho bênđược tặngcho màkhông yêu cầu đền bù, bênđược tặng cho đồng ý nhận”. So sánh giữa định nghĩa NCS xây dựng và định nghĩa về HĐTCTS được quyđịnh trong BLDS năm 2015 thì NCS đã lượcbỏcụm “bên được tặng chođồng ý nhận”. Bởi lẽ, theo như phân tích ở trên, hợp đồng tặng cho cóthể được hình thành từ sự đề xuất của bên tặng cho hoặc của chính bên được tặng cho. Trường hợp bên tặng chođưara đềxuất tặng cho thìcần cósựđồng ýcủabên đượctặng cho. Ngược lại,nếu bên được tặngcho đề nghị một chủ thể tặng tài sản cho họ thìcần sựđồng ý của người đó.Nếu vậy, địnhnghĩa đang được ghi nhận trong BLDS năm 2015đang chỉ hướng tới trường hợp bên tặng cho đưa ra đề nghị tặng cho và bên được tặng cho đồng ýnhậnmà chưa bao quát được tình huống bênđượctặng chođềxuất bên
tặng cho tặng tài sản cho mình.
1.1.2.2. Khái niệm hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện
HĐTCTSCĐK (thuật ngữ được dùng tương đương với “tặng cho tài sản có điều kiện”được quy định tại Điều 462 BLDS năm 2015) là trường hợp bên được tặng cho muốn được nhận tài sản tặng cho thìphải thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụtrước hoặc sau khi tặng cho.Điều kiện tặng cho không đượcvi phạmđiều cấmcủa luật, không trái đạo đức xãhội.
Dưới gócđộnghiên cứu, NCS làm rõsựkhác biệt giữa HĐTCTSCĐK và giao dịch dân sự có điều kiện, hợp đồng có điều kiện.
Thứ nhất, HĐTCTSCĐK không cùng bản chất với giao dịch dân sự có điều kiện Giao dịch dân sự có điều kiện được hiểu làviệc phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch
phụ thuộc vào sự kiện điều kiện xảy ra theo sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể trong giao dịch. Qua đó được hiểu, “điều kiện”trong giao dịch có điềukiện lànhững sựkiện pháp lýdo chính các bên thỏa thuận mà khi điều kiện xảy ra thìlàm ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu lực của giao dịch theo một trong hai chiều hướng: (i) Làm phát sinh hiệu lực của giao dịch hoặc (ii) làm hủy bỏ hiệu lực của giao dịch.
Nếu chiếu quyđịnh vềgiao dịch cóđiềukiện vào HĐTCTSCĐK thìrõràng,
tặng cho tài sản có điều kiện khác về bản chất với giao dịch dân sự có điều kiện bởi hai lý do sau đây:
Một là, điều kiện trong giao dịch có điều kiện phải lànhững sự kiện qua đó làm phát sinh hoặc chấm dứt hiệu lực của giao dịch dân sự; còn điều kiện trong tặng cho tài sản có điều kiện không được coi là căn cứ để làm phát sinh hay chấm dứt hợp đồng
tặng cho. Trong khi đó, điều kiện tặng cho không phải lànhững sự kiện làm phát sinh hoặc chấm dứt hiệu lực của HĐTCTS mà thực chất đâylà những nghĩa vụmàbênđược tặng cho thực hiện để được nhận tài sản tặng cho.
Hai là, những sự kiện nằm trong điều kiện của giao dịch có điều kiện phải mang tính chất khách quan, việc phát sinh điều kiện không phụ thuộc vào ý chíchủ quan của con người. Trong khi đó, điều kiện của tặng cho làmột hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự do bên đượctặng cho thực hiện. Tức làngườiđược tặng chosẽlà người thực hiện, tác động để điều kiện do bên tặng cho đưa ra được thực hiện trên thực tế.
Sựkhác biệt giữa điều kiện trong giao dịch dân sựcó điều kiện và điều kiện trong HĐTC cũng được khẳng định qua nhận định sau: “Chúng ta thấy rằng tặng cho tài sảncó điều kiện làmột dạng giao dịch dân sự,nhưng những điều kiệnđược nói đến trong quy định về tặng cho tài sản có điều kiện tại Điều 470 BLDS đã bị thu hẹp rất nhiều, chỉ còn là điều kiện thực hiện nghĩa vụ” [101, tr.156].
Từcác phân tích vàdẫn chứng trên, NCS khẳng địnhHĐTCTSCĐK không cócùng bản chất với giao dịch dân sự có điều kiện.
Thứ hai, HĐTCTSCĐK không phải là hợp đồng có điều kiện.
Đối chiếu, so sánh quyđịnh vềHĐTCTSCĐK và hợp đồng có điều kiện đang được quyđịnhtrong BLDS năm 2015 thì có thểnhận thấy hai giao dịch này cũng không cùng bản chất. Bởi lẽ: (i)điều kiện trong HĐTCTSCĐK là nghĩa vụmàbênđược tặngcho phải thực hiện trước hoặc sau khiđược tặngcho tài sản; (ii) điều kiện trong hợp đồng có điều kiện lại là điều kiện để làm cơ sở cho việc thực hiện, thay đổi hoặc chấm dứt hợp đồng (khoản 6 Điều 402 BLDS năm 2015).
Từcác phân tích trên NCS khẳng định, HĐTCTSCĐK đang được ghi nhận không cùng bản chất với giao dịch dân sự có điều kiện vàhợp đồng có điều kiện. Dođó, khái niệm về HĐTCTSCĐK không được xây dựng trên nền tảng khái niệm về giao dịch dân sự cóđiều kiện vàhợp đồng có điều kiện.
Khái niệm về HĐTCTSCĐK ít được chútrọng nghiên cứu trong các công trình, tài liệu luật học. Trong tất cả các công trình khoa học mà NCS đã nghiên cứu vàkhảo sát chỉ códuy nhất bài viết: “Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện trong pháp luật hiện hành. Những vướng mắc vàkiến nghị” [101] của tác giảBùi Minh Hồng xây dựng khái niệm HĐTCTSCĐK, cụthể: “Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện làhợp đồng mà trong đó bên tặng cho và bên được tặng cho thỏa thuận về những điều kiện của việc tặng cho tài sản (có sự kiện hoặc thực hiện nghĩa vụ dân sự), theo đó các bên thực hiện, chấm dứt quyền và nghĩa vụ hoặc hủy bỏ hợp đồng” [101, tr.159]. Theo định nghĩa này, tác giảBùi Minh Hồng đã tiếp cận khái niệm HĐTCTSCĐK là một giao dịch dân sự có điều kiện, điều kiện trong hợp đồng là điều kiện để làm phát sinh hoặc hủy bỏ việc tặng cho mà không phải là điều kiện mà bên được tặng cho phải thực
hiện để được nhận tài sản tặng cho. Như đã phân tích ở trên, dưới góc độ tiếp cận khác, NCS đãkhẳng định điều kiện trong HĐTCTSCĐK không có cùng bản chấtvớiđiều kiện củagiao dịch dânsựcó điều kiện. Do đó, khái niệm HĐTCTSCĐK đượcNCS tìm hiểu vàxây dựng được tiếp cận không dựa trên nền tảng các yếu tố của giao dịch dân sự có điều kiện nói chung.
HĐTCTSCĐK được quy định từ rất sớm trong hệ thống pháp luật nước ta, ngay từ Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931 vàBộ Dân luật Trung kỳ năm 1936 đã ghi nhận vềtặng dữ có điều kiện như sau: “Người tặng chủ cóthể dự định rằnghễ người thụ tặng
không thi hành các điều kiện, hoặc các nghĩa vụ đã định trong giấy tặng dữ, thì người tặng chủ vẫn được thưa tại tòa án để bãi sựtặng dữtrước đi. Nhưng muốn thi hành quyền ấy phải nói phân minh trong chứng thư tặng dữ mới được” [4, Điều 871]. Đến BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 cũng đều không đưa ra định nghĩa về tặng cho tài sản có điều kiện màchỉ quy định: “Bên tặngcho cóthể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụtrước hoặc sau khi tặng cho.Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không tráiđạo đức xãhội”
[3, Điều 462].
Không chỉ trong hệ thống pháp luật Việt Nam, hệ thống pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới cũng ghi nhận về tặng cho tài sản có điều kiện. Như, Điều 190 Luật Hợp đồng Nhân dân Trung hoa quy định: “Người tặng cho cóthểkèm thêm nghĩa vụ. Nếu tặng cho kèm thêm nghĩavụ,thì ngườiđược tặng cho cầnthực hiện nghĩa vụtheo thỏa thuận”; Điều 525 BLDS Đức quyđịnh:“1. Người nào thực hiện tặng cho theo một điều kiện cóthểyêu cầu thực hiện điều kiện này nếu người đó đã thực hiện phần mình; 2. Nếu việc thực hiện điều kiện làvìlợi ích công cộng thìsau người tặng cho chết, cơ quan có thẩm quyền cũng có thể yêu cầu thực hiện điều kiện đó”; Điều 522 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan: “Việc tặng cho cóthể thực hiện được bằng cáchđồng ýmiễn cho người nhận việc thi hành một nghĩa vụ, hoặc bằng cách thi hành một nghĩavụmà ngườinhận cóbổn phận phải thi hành”. Theo quy định của Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan, việc tặng cho được phân loại thành: tặng cho không kèm điều kiện vàtặng cho kèm điều kiện…Cũng giống như Việt Nam, trong văn bản pháp luật quy định về tặng cho có điều kiện của các quốc gia kểtrên đều không đưa ra định nghĩa về HĐTCTSCĐK mà chỉ quy định tặng cho tài sản có điềukiệndưới góc độquyền yêucầucủa bên tặng cho vàmột sốyếu tốmàđiều kiện tặng cho cần thỏa mãn.Từcác quyđịnh đã đượctrích dẫn vàphân tích ởtrên, HĐTCTSCĐK đều được các quốc gia ghi nhận với các yếu tố chung sau đây:
Một là, cơ sở hình thành điều kiện tặng cho: điều kiện tặng cho làmột nội dung trong HĐTCTS; do đó, về nguyên tắc, cơ sở hình thành điều kiện tặng cho phải theo
cơ sở hình thành của HĐTCTS – làdựa trên sự thỏa thuận giữa bên tặng cho vàbênđược tặng cho. Thực tếsựthỏa thuận này thường được biểu hiện bằng sựchủđộng đưa ra điều kiện của bên tặng cho và bên được tặng cho chấp thuận với điều kiện đó. Do đó, khoản 1 Điều 462 BLDS năm 2015 quy định “Bên tặng cho có thể yêu cầu bênđược tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụtrước hoặc sau khi tặng cho…”; hoặc Điều 190 Luật Hợp đồng Nhân dân Trung hoa quy định: “Người tặng chocóthể
kèm thêm nghĩa vụ…” – rõràng cách thức quy định này đã ghi nhận sự chủ động của bên tặng cho trong việc đưa ra điều kiện vànội dung của điều kiện. Còn bên được tặng cho thể hiện ý chí của mình thông qua việc chấp thuận thực hiện điều kiện hoặc không.
Hai là, quy định trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới, trong đóbao gồm cả Việt Nam, điều kiện tặng cho cần phải đáp ứng một số yêu cầu cụ thể:
(i)Điều kiện tặng cho không đượcvi phạm điều cấmcủa pháp luật và trái đạo đức xãhội. Đây là yếu tố được thừa nhận rộngrãi khi quy định về HĐTCTSCĐK nhưtrong BLDS Pháp, BLDS năm 2015…
(ii)Điều kiện tặng cho không được làm mất đi tính chất không có đền bùcủa
HĐTCTS. Yếu tố này được thể hiện cụ thể trong BLDS Pháp, Đức….Tuy nhiên, trong
BLDS năm 2015 củanước ta lại chưa thể hiện rõràng yếu tố này. Theo NCS, HĐTCTSCĐK làmộtloại HĐTCTS; do đó, HĐTCTSCĐK cũng phải làhợp đồng
không có đền bù. Điều này đồng nghĩa, bên tặng cho không được phép đặt ra điều kiện tặng cho mang lại lợi ích vật chất tương đương cho họ.
Thông qua việc tìm hiểu HĐTCTS dưới góc độ nghiên cứu và dưới góc độ pháp lý, NCS xây dựng khái niệm HĐTCTSCĐK như sau:
“Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện làhợp đồng tặng cho tài sản, theo đóbên tặng cho cóthểyêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụtrước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xãhội và không được làm thay đổi tính chất không có đền bùcủa hợp đồng tặng cho tài sản”.
Tặng cho tài sản cóđiều kiện làmột vấn đề tương đối phức tạp,dễ gây nhầm lẫn trong quátrình nghiên cứu bởi sự trùng lặp về mặt thuật ngữ nhưng không trùng lặp vềbản chất giữa tặng cho tài sản có điều kiện và giao dịch dân sự có điều kiện. Bên cạnh quyđịnhriêng vềtặng cho tài sản cóđiều kiện được quyđịnh riêng tại Điều 462 BLDS năm 2015 thì HĐTCTS cũng giống như tất cả các hợp đồng khác tồn tại “hợp đồng tặng cho tài sảnlàmột giao dịch dân sựcó điều kiện”. HĐTCTS là một giao dịch dân sự có điều kiện là trường hợp bên tặng cho và bên được tặng cho thỏa thuận về điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ HĐTCTS mà không phải là điều kiện tặng cho do bên được tặng cho thực hiện để được nhận tài sản.
1.2. Đặc điểm pháp lýcủa hợp đồng tặng cho tài sản 1.2.1. Tính đơn vụ và song vụ
Trong khoa học pháp lý, dựa trên mối quan hệ về nghĩa vụ giữa các bên chủ thểmà hợp đồng được phân thành hợp đồng song vụ vàhợp đồng đơn vụ. Hợp đồng song vụ làhợp đồngmà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau; còn hợp đồngđơn vụ làhợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ.
Theo quan điểm pháp lýtruyền thống của nước tatừtrước tới nay, HĐTCTSđược xác định làhợpđồng đơn vụ. Tuy nhiên, mộtsốcông trình nghiên cứu nước ngoài lại lập luận HĐTCTS cóthể làhợp đồng song vụ như trong bài viết “Donation of land to charity” [148], tác giả bài viết này nhận định rằng: “Với HĐTCTS mànội dung có quy định nghĩa vụ cho bên được tặng cho thì đây là hợp đồng cả hai bên đều có nghĩa vụđối với nhau (hợp đồng song vụ)”. Theo đó, tác giảcủa bài viết khẳng định tính chất song vụđối với trường hợp tặng cho tài sản có điềukiện. Theo quanđiểm NCS, để xácđịnhHĐTCTS làhợp đồng đơn vụ hay song vụ cần căn cứ vào loại hợp đồng tặng cho theo từng trường hợp sau đây:
Thứ nhất, HĐTCTS là hợp đồng đơn vụ
HĐTCTS không có điều kiện được xác định là hợp đồng đơn vụ. Trong hợp đồng này chỉ tồn tại nghĩa vụ của bên tặng cho đối với bên được tặng cho như bên tặng cho có nghĩa vụchuyển giao tài sản tặng cho kểtừthời điểmHĐTCTS có hiệu lực, bên tặng cho phải thông báo cho bên được tặng cho biết về các khuyết tật của tài sản tặng
cho…Ngược lại, việc “nhận tài sản tặng cho” không thể xác định là nghĩa vụ của bênđược tặng cho bởi một số lý do sau đây:
Một là, việc nhận hay không nhận tài sản tặng cho phụ thuộc vào ý chícủa bênđược tặng cho tài sản. Bên tặng cho hoặc bất cứ chủ thể thứ ba khác không thể ép buộc bên được tặng cho phải nhận tài sản. Như vậy, việc nhận tài sản tặng cho mang tính chất hoàn toàn khác với tính chất của nghĩa vụ vì nghĩa vụ làxử sự bắt buộc của một chủ thể phải thực hiện hành vi nhất định theo yêu cầu của bên cóquyền hoặc theo quyđịnh của pháp luật;
Hai là, trong quan hệ nghĩa vụ, quyền của bên này tươngứng vớinghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Bởi vậy, nếu xácđịnhviệc nhận tài sản tặng cho là nghĩa vụ của bên được tặng cho thì sẽ gây ra sự vôlýbởi tương ứng với nghĩa vụ chuyển giao tài sản tặng cho của bên tặng cho phải làquyền nhận tài sản tặng cho của bên được tặng cho mà không thể đồng thời tồn tại nghĩa vụ nhận tài sản của bên được tặng cho.
Ba là, xét theo truyền thống lịch sử lập pháp vàlýluận về HĐTCTS, đây là hợp
đồng thực tế. Do đó, gắn với việc giao –nhận tài sản tặng cho thì HĐTCTS có hiệu lực, thậm chí với tài sản phải đăng ký sở hữu, nếu giao nhận tài sản tặng cho xong màcác bên chưa thực hiện thủ tục đăng ký thì hợp đồng chưa phát sinh hiệu lực. Theo lý
thuyết về tính thực tế của HĐTCTS, tại thời điểm giao – nhận hoặc thậm chísau thời
điểm giao – nhận HĐTCTS mới cóhiệu lực nên việc nhận tài sản không thể xác định là nghĩa vụ của bên được tặng cho bởi tại thời điểm ngay khi bên được tặng cho nhận tài sản thìhợp đồng mới phát sinh hiệu lực.
Tóm lại, các HĐTCTS thông thường làhợp đồng đơn vụ bởi bên được tặng cho không phải thực hiện bất cứ nghĩa vụ nào với bên tặng cho. Ngược lại, bên tặng cho cónghĩa vụ thông báo về khuyết tật tài sản tặng cho cho bênđược tặngcho và các nghĩa vụ khác theo cam kết với bên được tặng cho.
Thứ hai, HĐTCTS là hợp đồng song vụ nếu tặng cho kèm điều kiện
Khác với HĐTCTS thông thường, HĐTCTSCĐK là loại HĐTC mà bên được tặng cho phải thực hiện một hoặc nhiều điều kiện tặng cho vào thời điểm trước hoặc sau khi nhận tài sản. Chính bởi yếu tố “thực hiện điều kiện tặng cho” mà hiện nay còn
tồn tại các quan điểm trái ngược liên quan đến tính chất đơn vụ, song vụ của loại hợp đồng này.
Khi nghiên cứu về tính đơn vụ hoặc song vụ của HĐTCTSCĐK, quan điểm của một nhànhàkhoa học cho rằng: “so với các hợp đồng thông dụng, điều kiện mà các bên thỏa thuận phải có ý nghĩa đối với việc thực hiện hợp đồng. Còn những điều kiện “thực hiện nghĩa vụ” trong hợp đồng tặng cho không cóhiệu lực ràng buộc với các bên. Do đó, không thểcoi làhợp đồng tặng cho có điều kiện làhợp đồng song vụ, trong đó hai bên cùng có nghĩa vụ được, vìquyền của bên này không tươngứngvới nghĩa vụcủa bên kia” [47, tr.22]. Theo lậpluận này, cácđiềukiện tặng cho không
mang tính chất ràng buộc với bên tặng cho và bên được tặng cho. Do đó, bên được tặng cho không có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện điều kiện tặng cho. Từ đó, tác giảbài viết khẳng định, HĐTCTS nói chung và HĐTCTSCĐK nói riêng luôn được xác định là hợp đồng đơn vụ.
Trên cơ sởnghiên cứu, tìm hiểu các quan điểmkhác nhau vềtính chất đơn vụhoặc song vụ của HĐTCTSCĐK mà NCS có cách tiếp cận vàlý giải khác với khẳngđịnh HĐTCTSCĐK là hợp đồng đơn vụ. Đối với HĐTCTSCĐK, bên tặng cho cóthểyêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều điều kiện trước hoặc sau khi tặng cho. Như vậy, xét dưới góc độ quan hệ quyền và nghĩa vụ, bên tặng cho cóquyền yêu cầu bên được tặng cho thực hiện điều kiện đã thỏa thuận. Tương ứng với quyền của bên tặng cho, bên được tặng cho phải thực hiện điều kiện tặng cho. Do đó, việc thực hiện điều kiện tặng cho được xác định là nghĩa vụcủa bên được tặng cho. Điều này cũng được minh chứng qua quyđịnhtạikhoản 1Điều462 BLDS năm 2015:“Bên
tặng cho cóthể yêu cầu bênđược tặngcho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho”.
Khi việc thực hiện điều kiện tặng cho đượcxác định là nghĩa vụcủa bên được tặng cho thì việc không thực hiện điều kiện tặng cho khiến cho chủ thể này phải chịu các trách nhiệm pháp lý do hành vi vi phạm nghĩa vụ của họ gây ra như phải trả lại tài sản tặng cho nếu đã nhận vàphải bồi thường thiệt hại cho bên tặng cho (nếu có). Nếu không coi việc thực hiện điều kiện tặng cho là nghĩa vụ của bên được tặng cho tài sản thìsẽ không có cơ sở pháp lý để giải quyết trường hợp bên tặng cho đã chuyển giao tài sản nhưng bên được tặng cho không thực hiện điều kiện. Vì khi đó,việc không thực hiện điều kiện tặng cho không được xác định làhành vi vi phạm nghĩa vụ nên không thể áp dụng các trách nhiệm pháp lý đối với bên được tặng cho tài sản. Điều này hoàn toàn không hợp lý vàgây ra sự bất bình đẳng về quyền giữa bên tặng cho và bênđược tặng cho tài sản.
Ngoài ra, xét theo khía cạnh quan hệ nghĩa vụ, quyền của chủ thể này tương ứng với nghĩa vụcủa phía bên kia. Theo đó, nếubên tặng cho và bên được tặng cho đãthỏa thuận vàthống nhất về điều kiện tặng cho thìbên tặng cho cóquyền yêu cầu bênđược tặngcho phải thực hiện nghĩa vụ và tương ứng với quyền này là nghĩa vụ thực hiện điều kiện của bên tặng cho. Sẽ không hợp lýnếu bên tặng cho đã chuyển giao tài sản tặng cho nhưng lại khôngđược quyền yêu cầu bên được tặngcho phải thực hiện điều kiện tặng cho.
1.2.2. Tính thực tế
Giống như tính chất đơn vụcủa HĐTCTS, đa phần các công trình nghiên cứu đều thống nhất cao HĐTCTSlàhợp đồngthực tế. Điều này được thể hiện quamột sốcông trình khoa học điển hình sau đây:
Trong giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, tập II của trường Đại học Luật HàNội
cóphân tích: “Hợp đồng tặng cho tài sản làhợp đồng thực tế. Đặc điểm thực tế của hợp đồngđược thể hiện khi bên được tặng cho nhận tài sản thì khi đó quyền của các bên mới phát sinh. Do đó, mọi thỏa thuận chưa có hiệu lực khi chưa giao tài sản”
[109, tr.161].
Giáo trình Luật Dân sự của Học viện Tư pháp cũng nhận định: “Hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng thực tế” [102, tr. 339]. Tài liệu này cũng phân tích thêm:
Vìhợp đồng tặng cho tài sảnlàhợp đồng thực tế, cho nên đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản chỉ cóthể làcác vật cóthực đang tồn tại hiện hữu, chứ khôngthể làvật sẽ cótrong tương lai (bởi vìvật sẽ có trong tương lai thì chưa chuyển giao được, hợp đồng chưa phát sinh hiệu lực). Cũng chính
bởi yếutốthực tếcho nên nếu như hai bênđã thỏa thuận tặng cho nhau nhưng sau đó bên tặng cho từ chối không giao tài sản tặng cho thì bên được tặng cho cũng không thểkiện yêu cầu đòi bàn giao như đúng thỏa thuận (bởi lẽ thỏa thuận chưa phát sinh hiệu lực [102, tr. 339].
Các kết luận về tính chất thực tế của HĐTCTS trong giáo trình Luật Dân sự của trường Đại học Luật HàNội vàHọc viện Tư Phápđều xuất phát từĐiều 458,Điều 459 BLDS năm 2015. Ngoài ra, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam của trườngĐại học Kiểm sát còn đưa ra khẳng định chắc chắn vàtriệt để: “…hợp đồngtặng cho tài sản luôn là hợp đồng thực tế…” [103, tr.304].
Khác với pháp luật Việt Nam, pháp luật của một sốquốc gia nhưĐức, Nga lại thừa nhận HĐTCTS cóthểlàhợp đồng ưng thuận hoặc hợpđồngthực tếtùy từng trường hợp [102, tr. 339]. Cụ thể khoản 1 Điều 516 BLDS Đức (BGB) quy định: “Một sự định đoạt qua đó một người nào đó làm giàu cho người khác từ tài sản riêng của mình làmột việc tặng cho nếu cả hai bên thống nhất với nhau rằng việc định đoạt đólà cho không”. TươngtựvớiBLDS Đức,Bộluật Dân sựNhật Bản cũng thừa nhận, HĐTC có hiệu lực từkhi “tuyên bố”màkhông cầnxác định bên được tặng cho đãnhận tài sản hay chưa.Điều này có nghĩa là, HĐTC theo quyđịnhcủa BLDS Nhật Bản cũng là hợp đồng ưng thuận [47, tr. 37]. Từ quy định này có thể khẳngđịnh,khác với pháp luật Việt Nam, trong BLDS Đức, Nhật Bản không ghi nhận yếu tố phải cósựchuyển giao tài sản để thiết lập hiệu lực của HĐTCTS. Đây cũng là quan điểm được thừa nhận bởi TS. Nguyễn Hải An: “Tặng cho tài sản cóthể làhợp đồng thực tế, có
thể làhợp đồng ưng thuận…Tính chất thực tế ở đây không là thuộc tính của tặng cho tài sản làbất động sản, màtặng cho bất động sản lạilàhợp đồng cótính chất ưng thuận”[47, tr.19].
Để khẳng định tính chất ưng thuận hay thực tế của HĐTCTS cần phải tìm hiểu vềthời điểmphát sinh hiệu của hợp đồng. Trong cuốn sách “Việt Nam dân luật lược khảo”, tác giả Vũ Văn Mẫu căn cứ vào thời điểm phát sinh hiệu lực của các khế ước mà phân các khế ước thành ba loại:
(i) Các khếước hiệp ý(hợp đồng ưng thuận): “Các khếước hiệp ýdo sựưng thuận của các người kết ước lập thành làloại khế ước chính yếu. Cũng như dân luật của Pháp, Dân luật Việt Nam công nhận nguyên tắc hiệp ý (principe du cosensualisme) vàcoi sự ưng thuận là căn bản. Như vậy khế ước cóthể được kết lập một khi ý chícủa đôi bên đã gặp gỡ nhau và thỏa thuận”;
(ii) Các khếước trọng thể: khếước trọng thểđược hiểu là“khếước phải do chưởng khế hay một công lại cóthẩm quyền soạn thảo, hoặc bắt buộc phải ghi một sốđiều khoản nhất định,mục đích để bảo vệ các đươngsự trong trường hợp kýkết các khế ước quan trọng và lưu ý họ đặc biệt tới một số điều khoản thiết yếu. Các khế ước cần phải do chưởngkhếsoạn thảo làkhếước giáthúhay hônkhế(le contrat de mariage) quy định chế độ hôn sản của hai vợ chồng, khế ước tặng dữ bất động sản (la donation d’immeubles)”. Khế ước trọng hình thức làloại hợp đồng được giao kết long trọng và coi trọng hình thức [67, tr.157];
(iii) Các khế ước giao vật (hợp đồng thực tế): Khế ước giaovật được hiểu là“sựkết lập các khế ước này phải tùy thuộc thiết yếu vào sự nạp đồ vật (la tradition). Nếu yếu tố này chưa thực hiện, chưa có khế ước giao vật” [112, tr.62]. Soi chiếu thời điểm cóhiệu lực của HĐTCTS theo cách thức phân loại của tác giả Vũ Văn Mẫu thìcóthểthấy: một là, đối với khế ước tặng cho động sản thì đây là khế ước giao vật; hai là, đối với khế ước tặng cho bất động sản thì đây là khế ước trọng thể. Điều này cũng được tác giả Vũ Văn Mẫu khẳng định trong cuốn sách “Việt Nam Dân luật lược khảo”.
Từ cách thức phân loại trên, tác giả Vũ Văn Mẫu khẳng định với khế ước tặng dữbất động sản (tặng dữđất, tặng dữnơi trú ngụ…) thì HĐTCTS được xác định làhợp đồng trọng thức. Vấn đề này cũng được các luật gia Pháp ghi nhận tại Điều 931: “Sự
tặng dữ như một khế ước trọng thức phải làm trước viên chưởngkhế”. Lýdo các quốc gia trên thế giới nói chung vàViệt Nam nói riêng đều coi trọng hình thức của HĐTC tài sản, đặc biệt làhình thức của HĐTC tài sản phải đăng ký sở hữu vìtính chất không có đền bùcủa loại hợp đồng này cũng như giá trị và ý nghĩa của các loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu đối với đời sống của mỗi con người.
Khác với cách tiếp cận trong quá khứ, ngày nay việc phân loại hợp đồng dựa vào thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng chỉ gồm hai loại làhợp đồng ưng thuận vàhợp đồng thực tế. Về bản chất, hợp đồng ưng thuận chính làkhế ước hiệp ý; còn hợp đồng thực tế chính là khế ước giao vật. Chính bởi vậy, HĐTCTSchỉ được thừa nhận làhợp đồng ưng thuận (khế ước hiệp ý) hoặc hợp đồng thực tế (khế ước giao vật). Điều này cũng gây ra nhiều tranh luận khi nghiên cứu vềđặc điểmưng thuận hay thực tếcủa HĐTCTS.
Theo quan điểm NCS, HĐTCTS cần được xác định vàcần phải quyđịnh thời điểmphát sinh hiệu lực theo tính chất thực tế. Khác với các hợp đồng mua bán, trao đổi tài sản, HĐTCTS là hợp đồng không có đền bù. Hợp đồng này chủ được xác lập
dựa trên mối quan hệ tình cảm, sự tương trợ, giúp đỡ giữa bên tặng cho và bên được tặng cho. Do đó, thời điểmphát sinh hiệu lực của HĐTCTS cầnphải được xác định theo một sựkiện thực tếcóthật làkhi bên tặng cho đã chuyển giao tài sản cho bênđược tặng cho. Sẽkhông hợp lýkhi bắt buộc bên tặng cho phải chuyển giao tài sản cho bên được tặng cho khi bên tặng cho và bên được tặng cho mới chỉ dừng lại ở việc thỏa thuận, giao kết HĐTCTS. Điều này được hiểu, không thể bắt ép bên tặng cho phải tặng cho tài sản khi họ không còn tình cảm với bên được tặng cho hoặc bên được tặng cho không cầnphải cósựgiúpđỡ,tương trợtừphía bên tặng cho. Nếu thừa nhận HĐTCTS làhợp đồngưng thuận thìsẽ tạo ra những tình huống vôlý, không phùhợp đạo đức, lối ứng xử truyền thống của dân ta.
Trong các quy định về thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTCTS được ghi nhận trong BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005 đều thể hiện rõnét tính chất khôngcó đền bùcủa loại hợp đồng này. Theo đó, đối với tài sản không phải đăng ký sở hữu thìthời
điểm phát sinh hiệu lực của HĐTC là khi có sự kiện giao – nhận tài sản được tiến hành giữa bên tặng cho vàbên được tặngcho; đối với tài sản phải đăng ký sở hữu thì thời điểm phát sinh hiệu lực còn được ghi nhận chặt chẽ hơn bởi không chỉ cósự kiện giao
– nhận tài sản tặng cho mà còn cần thêm thủ tục đăng ký sở hữu đối với đối tượng tặng cho.
Tính thực tế của HĐTCTS đặt rađịnh hướngvàyêu cầu đối với các nhàlập pháp khi xây dựng, hoàn thiện quy định về thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTCTS. Vềnguyên tắc, quyđịnh vềthời điểmphát sinh hiệu lực của mọi loại HĐTCTS dù đối tượng tặng cho là động sản hay bất động sản, tài sản phải đăng ký sở hữu hay không phải đăng ký sở hữu đều phải phản ánh được tính chất này. Do vậy, nếu quy định của luật làm sai lệch tính thực tế của HĐTCTS thì quy định này không phản ánh đúng đặc tính vốn có của loại hợp đồng này và tính khả thi khi áp dụng trên thực tiễn thấp.
1.2.3. Tính không có đền bù
Trong nhóm hợp đồngchuyển giao quyền sởhữu, hợp đồng mua bán vàhợp đồng trao đổi tài sản luôn làhợp đồng có đền bù; hợp đồng vay cóthể làhợp đồng cóđền bùhoặc không có đền bùtùy thuộc vào việc cho vay có lãi hay cho vay không lãi. Còn riêng đối với HĐTCTS, trong quyđịnh của pháp luật cũng như theo quan điểm của hầu hết những nhànghiên cứu thìhợp đồng này là hợp đồng không có đền bù, cóthể kể đến như:
Trong bài viết:“Những vấn đềlýluận chung vềtặng cho tài sản”, tác giảNguyễn Văn Hiến khẳng định: “Hợp đồng tặng cho tài sản là một hợp đồng thực tế; hợp đồngtặng cho tài sản làhợp đồng khôngcó đền bù”[92, tr.96]. Trong giáo trình Luật Dân sự của Học viện Tư Pháp cũng có nhận định tương tự: “Hợp đồng tặng cho tài sản luôn làhợp đồng không có đền bù. Tính chất không có đền bù là đặc tính quan trọng nhất thể hiện bản chất của hợp đồng tặng cho tài sản. Nếu như việc tặng cho ẩn
chứa trong đó bất kỳmột nghĩa vụnào đó mang ý nghĩa vật chất mà bên được tặng cho sẽ phải thực hiện vìlợi ích của bên tặng cho thìhợp đồng đó không được coi làhợp đồng tặng cho. Ví dụ: A tặng cho B chiếc xe đạp với điều kiện B phải sửa chữa nhàcho A”[102, tr. 339]. Hay trong giáo trình Luật Dân sựViệt Nam, tậpII của trường Đại học Luật Hà Nội cũng phân tích: “Hợp đồng tặng cho tài sản làhợp đồng không cóđền bù. Đặc điểm nàyđược thể hiện ở việc một bên chuyển giao tài sản vàquyền sở hữu tài sản cho bênđược tặngcho, còn bên được tặng cho không có nghĩa vụ trả lại cho bên tặng cho bất kì lợi íchnào”[109, tr.161]. Như vậy, tính chất không có đền bùcủa HĐTCTS được thừa nhận rộng rãi và đạt được sự nhất trícao của hầu hết các nhà khoa học trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, hiện nay một số học giả còn băn khoăn khi áp dụng tính chất này đối với tặng cho tài sản cóđiều kiện. Đối với tặng cho tài sản có điều kiện, để được nhận tài sản thìbên tặng cho phải thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ theo sự thỏa thuận với bên tặng cho. Chính vìlýdo này nên một vấn đề được đặt ra lànghĩa vụ mà bên được tặng cho phải thực hiện cóthể mang lại lợi ích vật chất cho bên tặng cho hay không? BLDS hiện hành không quy định cụ thể về tính lợi ích của điều kiện tặng cho nên cóhai giả thuyết được đặt ra:
(i) HĐTCTS luôn làhợp đồng không có đền bù vì đây là điểm đặc trưng của loại hợp đồng này; do đó, điều kiện tặng cho không thể mang lại lợi ích về vật chất cho bên
tặng cho;
(ii) Vì BLDS năm 2015 quy định không rõràng nên các bên được quyền tự thỏa thuận về điều kiện tặng cho, trừ những điều kiện vi phạm điều cấm pháp luật, trái đạo đức xãhội. Do đó, bên tặng cho và bên được tặng cho cóthểthỏa thuậnđiều kiện mang lại lợi ích vật chất cho bên tặng cho. Trong trường hợp này, tặng cho tài sản cóđiều kiện là hợp đồng có đền bù.
Theo NCS, ngay trongđịnh nghĩa về HĐTCTS (Điều 457 BLDS năm 2015)đãkhẳng định rất rõvề tính chất khôngcó đền bùcủa HĐTC. Đây là định nghĩa chung được áp dụng cho cảHĐTCTS thông thường và HĐTCTSCĐK nên tặng cho tài sản dù có hay không có điều kiện cũng đều phải bảo đảmyếu tốnày. Bên cạnh đó, tính chất không có đền bù của HĐTCTS còn được thừa nhận vàkhẳng định trong tất cả các công trình khoa học mà NCS đã khảo sát vàtrích dẫn trong Luận án. Do vậy, nếu điều kiện mà bên được tặng cho phải thực hiện làm mất đi tính chất không có đền bùcủa HĐTCTS thì bản chất của giao dịch sẽ thay đổi mà không còn là HĐTCTS. Ví dụ: A tặng cho B căn nhà với điều kiện B trả giúp A số tiền nợ là3 tỷ đồng. Từ lập luận này NCS khẳng định, HĐTCTSCĐK hoặc không có điều kiện luôn được xác định làhợp đồng không có đền bù.
Thừa nhận tính chất không có đền bùlàyếutốcốt lõi, đặc trưng của HĐTCTS nhưng theo NCS, cần phải nghiên cứu kỹlưỡng vàhiểu đúng vềtính chất không có
đền bùcủa hợp đồng nói chung và HĐTCTS nói riêng. Hợp đồngkhông có đền bùtương ứng với thuật ngữcổlà“khếước vôthường”đượcđịnh nghĩa “là loại hợp đồng mà trong đó mỗi bên chủ thể sau khi đã thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng” [109, tr. 103].
Liên quan đến tính chất này còn tồn tại những quan điểmtrái chiều nhau. Cóquan điểm cho rằng: “Chỉ những công việc không mang đến những giátrị vật chất cho người tặng cho mới không mang tính đền bù.Đối với những công việc mà bên được tặng cho tàisảnthực hiện cótính chất làm tăng giátrịtài sản cho người tặng cho hoặc thanh toán những khoản nợcủa họ, dùgiátrị mang lại nhỏhơn giátrị tài sản tặng cho, đều thể hiện một sự đền bù, và vìvậy, nókhông thể được chấp nhận là điều kiện của hợp đồng tặng cho” [47, tr.23]. Ngược lại, NCS cho rằng, khi xét về tính chất có đền bù hoặc không có đền bù thìngoài việc xem xétđến yếu tố“có đi, có lại về lợi ích vật chất”, chúng ta cần xem xét đến yếutố“tương xứng vềlợi ích vật chất”màbên tặng cho và bên được tặng cho nhận được.Cũng đồng tình vàchia sẽvới quanđiểm trên, nếu điều kiện tặng cho mang lại lợi ích vật chất một cách tương xứng hay tương đương với giátrị tài sản tặng cho thìlúc này cần xác định lại loại giao dịch này làmua bán hoặc trao đổi. Tuy nhiên, điều kiện tặng cho vẫn được thừa nhận nếu điều kiện tặng chochỉmang lại một lợi ích gián tiếp, không đáng kể so với giátrị tài sản tặng cho. Vídụ: Cha mẹ tặng cho con cái nhà đất với điều kiện con cái chăm sóc, hiếu thảo bố mẹ khi bố mẹ giàyếu; Bác tặng cho cháu toàn bộ 2000 mét vuông đất và 3 tỷđồng với điều kiện người cháu phải chăm lo việc hương hỏa cho gia đình người bác khi người bác định cư ởnước ngoài…Xét đến cùng,đểthực hiện các điềukiện nhưchăm sóc, nuôi dưỡng, hương hỏa…thì người được tặng cho phải bỏ ra một khoản chi phínhất định và người được thụhưởng các lợi ích này chính là bên được tặng cho. Nhưng xét vềtương quan giá trị, các lợi ích màbên tặng cho nhận được làrất nhỏ, không đáng kể vàkhông mang tính chất đền bù tươngđươngso với giátrị tài sản tặng cho mà bên được tặng cho nhận được. Do đó, nếu bác bỏcác điềukiện này vànhận định các điều kiện này làm thay đổi tính chất không có đền bùcủa HĐTCTS là hoàn toàn không phùhợp. Hơn thế nữa, tất cả các HĐTCTS kèm điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, hương hỏa…được xác lập trên thực tế hiện nay màphát sinh tranh chấp và đãđược giải quyết tại tòa án thìtất cả các tòa đều mặc nhiên thừa nhận các điều kiện này và xác định đây là HĐTCTSCĐK. Sẽ không hợp đạo đức và thiếu tính thuyết phục nếu không thừa nhận các điều kiện chính đáng như được chăm sóc, được nuôi dưỡng, được chăm lo hương hỏa sau khi chết của người tặng cho tài sản.
1.3. Phân loại hợp đồng tặng cho tài sản
HĐTCTS làmột trong các hợp đồng thông dụng, được giao kết nhiều trên thực tế; do vậy, các loại HĐTCTS cũng đa dạng, phong phú. Xét dưới mỗi tiêu chíkhác nhau, HĐTCTS được phân thành các loại tương ứng.
1.3.1. Căn cứ vào điều kiện tặng cho tài sản
Bên tặng cho có thể tặng cho tài sản của mình cho người khác mà không yêu cầu người đó phải thực hiện bất cứ một điều kiện nào hoặc họ cóthể đặt ra điều kiện đối với bên được tặng cho. Dựa trên căn cứnày màHĐTCTSđược phân loại thành (i) HĐTCTS thông thường và(ii) HĐTCTSCĐK.
1.3.1.1. Hợp đồng tặng cho tài sản thông thường
HĐTCTS thông thường là trường hợp bênđược tặng cho nhận tài sản tặng cho màkhông phải thực hiện bất cứmột nghĩa vụnào. HĐTCTS thông thường được áp dụng phổ biến với trường hợp làm từ thiện, tặng cho giữa các thành viên trong gia đình hay bạn bè.
Đối với HĐTCTS thông thường, bên được tặng cho không phải thực hiện bất cứnghĩa vụnào trướchoặc sau khi nhận tài sản tặng cho. Ví dụ: Cha mẹtặng cho con trai, con gái nhà đất mà không đặt ra bất cứ điều kiện nào về chăm sóc, nuôi dưỡng; các thành viên trong gia đình, bạn bètặng quàcho nhau nhân ngày sinh nhật vàkhông đặt ra bất cứ điều kiện gì cho người nhận quà…
Trong sốsáu Điều luật quyđịnh vềHĐTCTS trong BLDS năm 2015, có nămĐiều luật quy định chung về HĐTCTS, được áp dụng cho cả HĐTCTS thông thường và tặng cho tài sản có điều kiện.
1.3.1.2. Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện
HĐTCTSCĐK là trường hợp bênđượctặng cho muốnđượcnhận tài sản tặng cho thìphải thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Ví dụ: Cha mẹ tặng cho con trai, con gái nhà đất với điều kiện con trai, con gái phải chăm sóc, nuôi dưỡng bố mẹ.
Việc phân định HĐTCTS thành HĐTCTS không cóđiều kiện vàtặng cho tài sản có điều kiện mang một số ý nghĩa pháp lý cơ bản sau đây:
(i) Xác định nghĩa vụ của bên được tặng cho: trường hợp tặng cho tài sản thông thường, bên tặng cho chuyển giao tài sản vàchuyển quyền sở hữu đối với tài sản của mình cho người khác một cách vô điều kiện. Còn với trường hợp tặng cho tài sản cóđiều kiện, bên được tặng cho phải thực hiện điều kiện đã cam kết với bên tặng chođểđược nhận tài sản.
(ii) Xác định quyền đòi lại tài sản của bên tặng cho tài sản: Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thìbên tặng cho cóquyền đòi lại tài sản vàyêu cầu bồi thường thiệt hại. Căn cứ đòi lại tài sản tặng cho này chỉ áp dụng được với tặng cho tài sản có điều kiện mà không thể áp dụng được với HĐTCTS không có điều kiện.
(iii) Xác định trách nhiệm bồi thường của bên tặng cho tài sản đối với bên được tặng cho tài sản. Đối với tặng cho tài sản có điều kiện, bên đượctặng cho cótrách
nhiệm phải hoàn trả lại tài sản cho bên tặng cho vàbồi thường thiệt hại (nếu có) cho bên tặng cho tài sản nếu điều kiện tặng cho không được thực hiện.
1.3.2. Căn cứ vào đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản
Tiêu chí đối tượng hợp đồng là tiêu chí chính trong phân loại hợp đồng nói chung vàphân loại HĐTCTS nói riêng. HĐTCTS có đối tượng làtài sản; do đó, dựa trên mỗi tiêu chíphân loại tài sản khác nhau thì cũng có tương ứngcác cách thức phân loại khác nhau đối với HĐTCTS.
1.3.2.1. Hợp đồng tặng cho động sản vàhợp đồng tặng cho bất động sản
Pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phân tài sản thành động sản vàbất động sản. Đây cũng là cách thức phân loại tài sản được ghi nhận trong pháp luật dân sự Việt Nam từ rất sớm. Theo quyđịnh tại Điều 107 BLDS năm 2015, bất động sản bao gồm: Đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn
liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng. Còn động sản lànhững tài sản không phải làbất động sản. Tương thích với cách thức phân loại tài sản này, HĐTCTS bao gồm:
HĐTC bất động sản vàHĐTCđộng sản
* HĐTCbấtđộngsảnlàHĐTCTS có đối tượng làbất độngsản, bao gồm các trường hợp sau đây:
– HĐTC quyền sử dụng đất;
– HĐTC nhà ở, các công trình xây dựng khác gắn liền với đất;
– HĐTC các tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng khác.
Trên thực tế, HĐTC bất động sản phổ biến nhất gồm HĐTCQSDĐ và HĐTC nhàở. Đa số các vụ việc tranh chấp HĐTCTS đều liên quan đến hai đối tượng này. Mặc dùtheo cách thức phân nhóm bất động sản thìHĐTC bất động sản bao gồm cả HĐTC các tài sản khác gắn liền với đất đai và HĐTC các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng khác. Tuy vậy, theo NCS không thểtồn tại loại HĐTC bất động sảnnày trên thực tế. Việc tặng cho QSDĐcóthểkèm với tài sản trênđấthoặc không nhưng nếu bên tặng cho chỉ tặng cho tài sản trênđất (Ví dụ: tặng cho cây cảnh) mà không tặng cho QSDĐ thìthực chất đây là trường hợp tặng cho động sản (phải đánh cây ra khỏi đất thìmới thực hiện được việc tặng cho) màkhông phải làtặng cho bất động sản. Tương tự như với trường hợp bên tặng cho chỉ tặng cho tài sản gắn liền với nhà (có thể
tặng cho cửa sổ, bộ cửa chính…) mà không tặng cho nhà, thực chất đây là HĐTCđộng sản vìviệc tặng cho chỉ thực hiện được khi phải tháo dỡ tài sản đó ra khỏi căn nhà vậy nên lúc tháo khỏi căn nhà, những tài sản này được xác định là động sản.
* HĐTC động sản: là các trường hợp tặng cho tài sản không phải là bất động sản
như tặng cho ô tô, xe máy, tiền, vàng…Việc phân loại HĐTC thành HĐTCbất động sảnvàHĐTCđộngsảncó ýnghĩa quan trọng trong việc xác địnhmột sốnộidung pháp lý liên quan đến hai loại hợp đồng này, cụ thể:
(i) Xác định hình thức của HĐTCTS: theo nguyên tắcchung, nếuluật quyđịnh hình thức bắt buộc của hợp đồngthìcác bên giao kết hợp đồng phải tuân theo hình thức này. Còn trường hợp luật không quy định hình thức bắt buộc của hợp đồng, các bên có quyền giao kết hợp đồng bằng hình thức hành vi, lời nói hoặc văn bản.
Trong toàn bộ các quy định về HĐTCTS trong BLDS năm 2015 thì không có bất cứ Điều luật nào quy định bắt buộc về hình thức của HĐTC động sản. Tuy nhiên, hình thức của HĐTC độngsản phải đăng ký sởhữu được thểhiện gián tiếp thông qua khoản 2 Điều 458 BLDS năm 2015. Cụ thể, Điều luật này ghi nhận: “Đối với động sản màluật có quy định đăng kýquyền sở hữu thìhợp đồng tặng cho cóhiệu lực kể từ thời điểm đăngký”. Mà đểthực hiện được thủtục đăng ký, một trong những giấytờcần phải cóđólà “Giấy bán, cho, tặng xe của cánhân phải cócông chứng theo quy định của pháp luật về công chứng,chứng thực”. Điều này được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 10 Thông tư 15/2014/TT-BCA: “Giấy bán, cho, tặng xe của cánhân phải cócông chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường,thịtrấn đối với chữkýcủa ngườibán, cho, tặng xe theo quyđịnh củapháp luật vềchứngthực”.Thông tư 15/2014/TT-BCA quyđịnhgiấy tặng cho xe phải được công chứng, chứng thực nhằm đảm bảo tính xác thực của HĐTCTS; qua đó, các cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền mới đủ cơsở để thực hiện thủ tục đăng kýxe. Như vậy, mặc dù BLDS năm 2015 không quy định trực tiếp nhưng khi các bên chủ thể xác lập HĐTC động sản phải đăng ký sở hữu như ô tô, xe máy thì cần phải lập hợp đồng thành vănbản để bênđược tặngcho cóthể thực hiện được thủ tục đăng kýtheo quyđịnh của pháp luật. Còn đối với trường hợptặng cho động sản không phải đăng ký sở hữu như điện thoại, laptop, xe đạp… các bên cóthể lập hợp đồng dưới hình thức lời nói, văn bản hoặc hành vi.
Còn HĐTC bất động sảnphảiđược lập thành văn bản cócông chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sởhữu theo quyđịnh của luật (khoản 1 Điều 459 BLDS năm 2015). Vídụ: Ông Nguyễn Văn A tặng cho con một căn nhà. Trong trường hợp này, HĐTCTS giữa ông A và con ông phải được lập thành văn bản cócông chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký vìnhà làbất động sản phải đăng ký quyền sở hữu. Lý do BLDS năm 2015 quy định hình thức xác lập HĐTC bất độngsảnchặt chẽhơn so với hình thức xác lập HĐTCđộng sảnbởi lẽ: mộtlà, thông thườngbấtđộng sảnnhư nhà, QSDĐ lànhững tài sản cógiátrịlớnvàcóýnghĩa quan trọng đối với cuộc sống của người tặng cho; do vậy, việc tặng cho bất động
sản phải được lập thành văn bản –hình thức rõràng, minh thịnhấtđểhạn chếthấp nhất các tranh chấp phát sinh hoặc trong trường hợp cótranh chấp thìviệc giải quyết tranh chấp cũng rõ ràng, chính xác; hai là, các bất động sản như QSDĐ, nhà ở đều lànhững tài sản chịu sự quản lýchặt chẽ của Nhà nước thông qua việc cấp giấy chứng nhận, đăng ký các biến động, thay đổi đối với đất đai; do vậy, việc tặng cho QSDĐ cần
phải thực hiện thủtục công chứng, chứng thực hoặc đăng kýđểqua đó các cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền nắm được các thông tin thay đổi; ba là, việc luật hóa thủ tục bắt buộc công chứng, chứng thực hoặc đăng kýđốivớimộtsốHĐTCbấtđộngsản như QSDĐ, nhàởnhằm hạn chếthấp nhất các rủi ro pháp lýcho các bên tham gia
giao dịch mua bán, trao đổi, thế chấp…nhà đất (tránh cho họ mua phải bất động sản đã được tặng cho).
(ii) Xác định thời điểm cóhiệu lực của HĐTCTS: theo nguyên tắc chung, HĐTCđộng sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp cóthỏa thuận khác. Đốivới động sản màluật có quyđịnh đăng ký quyền sởhữu, HĐTCTS cóhiệu lực kểtừthời điểmđăng ký (Điều 458 BLDS năm 2015). Còn HĐTCbất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăngký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu, HĐTCTS cóhiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản (Điều 459 BLDS năm 2015).
(iii) Xác định Tòa án cóthẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến HĐTCTS: theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, nếu đốitượngtranh chấp làbất độngsảnthìchỉ tòa án nơi cóbấtđộng sảncóthẩm quyền giải quyết. Như vậy, với các tranh chấp HĐTC bất động sản, tòa án nơi có bất động sản làtòa án cóthẩm quyền giải quyết tranh chấp. Quy định này hoàn toàn phùhợp bởi trong quá trình giải quyết tranh chấp, tòa án cần xác minh, thu thập chứng cứcũng như cần sự cung cấp văn bản, giấy tờ của cơ quan quản lý hành chính nơi có bất động sản vì vậy quy định này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tòa án và các đương sự.
Còn đối với các tranh chấp HĐTCđộng sản, tòa án cóthẩm quyền giải quyết tranh chấp làtòa án nơi bị đơn cư trú (đối với bị đơn là cá nhân) hoặc là nơi bị đơn có trụ sở (đối với bị đơn là pháp nhân) (điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sựnăm 2015). Theo đó nếu bên tặng cho kiện bên được tặng cho, tòa án nơi bên được tặng cho cư trú có thẩm quyền giải quyết tranh chấp; còn trường hợp bên được tặng
cho kiện bên tặng cho, tòa án nơi bên tặng cho cư trú có thẩm quyền giải quyết vụ việc.
(iv) Xác định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản tặng cho
Điều 161 BLDS năm 2015 quy định về thời điểm xác lập quyền sở hữu theo ba căn cứsau: (i) Thời điểmxác lập quyền sởhữu thực hiện theo quyđịnh của Bộluật này, luật khác cóliên quan; (ii) trường hợp luật không có quy định thìthực hiện theo thỏa thuận của các bên; (iii) trường hợp luật không quy định vàcác bên không cóthỏa thuận thìthời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản làthời điểm tài sản được chuyển giao.
Đối với HĐTCQSDĐ vànhàở thìtrong Luật Đất đai năm 2013 vàLuật Nhàởnăm 2014 đều có quy định riêng về thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với QSDĐ vànhàở. Cụ thể, khoản 2 Điều 12 Luật Nhàở năm 2014 quy định: “Trường hợp góp vốn, tặng cho, đổi nhàở thìthời điểm chuyển quyền sở hữu làkể từ thời điểm bên nhận góp
vốn, bên nhận tặng cho, bên nhận đổi nhận bàn giao nhà ở từ bên góp vốn, bên tặng cho, bên đổi nhàở”.
Còn đối với HĐTC động sản, bên được tặng cho được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản tặng cho kểtừthời điểmbên tặng cho chuyển giao tài sản cho bên được tặng cho.
1.3.2.2. Hợp đồng tặng cho tài sản phải đăng ký sở hữu vàhợp đồng tặng cho tài sản không phải đăng ký sở hữu
Căn cứ vào thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản màtài sản được phân thành tài sản đăng kýsởhữu vàtài sảnkhông đăng kýsởhữu. Dựa trên cách thức phân loại này, HĐTCTS cũng được phân loại tương ứng thành HĐTC tài sản phải đăng ký sở hữu vàHĐTC tài sản không phải đăng ký sở hữu.
HĐTC tài sản phải đăng ký sở hữu làHĐTCTS có đối tượng làcác loại tài sản phải đăng ký sở hữu theo quy định của pháp luật. Hiện nay, theo quy định của nước ta, một số loại tài sản bắt buộc phải làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu như: QSDĐ, nhàở,
ôtô, xe máy, máy bày, tàu biển…Thông thường những loại tài sản này có các đặc điểm sau đây: (i) Giátrị tài sản lớn; (ii) Có ý nghĩa tối quan trọng trong đời sống của mỗi con người; (iii) Nhà nước cần kiểm soát, nắm bắt được các thông tin về tài sản.
HĐTC tài sản không phải đăng ký sởhữu làHĐTCTS có đối tượng làtài sản không phải đăng ký sở hữu. Chủng loại vàsố lượng tài sản trên thực tế vôcùng phong phú, đa dạng, đa phần trong số đó là các loại tài sản không phải đăng ký sở hữu; còn thủ tục đăng ký sở hữu đối với tài sản chỉ áp dụng bắt buộc với một số ít các tài sản. Việc tặng cho tài sản không phải đăng ký sở hữu phổ biến với các trường hợp tặng cho
vàng, bạc, điện thoại, gạo, bò, vàng, tiền…Việc phân loại HĐTCTS thành HĐTC tài sản phải đăng kýsởhữu vàHĐTC tài sản không phải đăng ký sởhữucómột sốýnghĩa quan trọng sau đây:
(i) Xác định thời điểm có hiệu lực của HĐTCTS
Đối với HĐTC tài sảnkhông phải đăng ký sởhữu: theo quyđịnh tại khoản 1Điều 458 BLDS năm 2015: “Hợp đồng tặngchođộng sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừtrường hợp cóthỏa thuận khác”; khoản 2Điều 459 BLDS năm 2015: “…nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thìhợp đồng tặng cho tài sản cóhiệu lực kểtừthời điểm chuyển giao tài sản”. Như vậy, HĐTC tài sản không phải đăng kýsởhữu (bao gồm cảđộngsảnvàbấtđộngsản), HĐTCTS phát sinh hiệu lực kểtừthời điểm chuyển giao tài sản tặng cho. Riêng đối với HĐTC động sản không phải đăng kýsởhữu, các bên cóquyền thỏa thuận thời điểmphát sinh hiệu lực như tại thời điểmtrước khi tài sản được chuyển giao hoặc thậm chíhợp đồng phát sinh hiệu lực sau khi tài sản tặng cho đã được chuyển giao. Vídụ: A tặng cho B chiếc đồng hồ. Hai bên thỏa thuận hợp đồng chỉ cóhiệu lực sau 3 hôm kể từ thời điểm A chuyển giao chiếc đồng hồ cho B. Đây là trường hợp bên tặng
cho vàbên được tặng cho thỏa thuận thời điểm phát sinh hiệu lực sau khi tài sản tặng cho đã được chuyển giao.
Đối với HĐTC tài sản phải đăng ký sở hữu: theo khoản 2 Điều 458 BLDS năm 2015: “Đối với động sản màluật cóquy định đăng ký quyền sở hữu thìhợp đồng tặng cho tài sản cóhiệu lực kể từ thời điểm đăngký”; khoản 2 Điều 459 BLDS năm 2015: “Hợp đồng tặng cho bất độngsản cóhiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thìhợp đồng tặng cho tài sản cóhiệu lực kể từthời điểm chuyển giao tài sản”. Như vậy, HĐTC tài sản phải đăng ký sở hữu phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký. Ví dụ: HĐTCTS ô tô , xe máy, QSDĐ, nhàở…
Việc xác định chính xác thời điểmphát sinh hiệu lực của HĐTCTS có ý nghĩa quan trọng. Bởi khi HĐTCTS cóhiệu lực thìcác bên trong hợp đồng phải chịu sự ràng buộc pháp lývới những cam kết đã được ghi nhận trong hợp đồng mà không được tự ýlàm khác với các thỏa thuận của họ trong hợp đồng.
(ii) Xác định thủtục đểxác lập quyền sởhữu đối với tài sản tặng cho của bên được tặng cho
Đối với HĐTC tàisảnkhông phải đăng ký sởhữu thìtheo nguyên tắcchungđược ghi nhận tại Điều 161 BLDS năm 2015, bên được tặng cho được xác lập quyền sởhữu đối với tài sảntặng cho kểtừthời điểmtài sản tặng cho được chuyển giao. Thời điểmtài sản tặng chođược chuyển giao đượchiểu làthời điểm bên cóquyền (người được tặng cho) hoặc người đại diện hợp pháp của người được tặng cho chiếm hữu tài sản. Còn đối với HĐTC tài sản phải đăng ký sở hữu thìthủ tục đăng ký chính làsự xác nhận của cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền về quyền sởhữu hợp pháp của chủtài sản. Do vậy, bên được tặng cho xác lập sởhữu đối với tài sản tặng cho phải đăng ký khi đã hoàn tất xong thủ tục đăng ký, trừ trường hợp luật có quy định khác.
1.3.3. Căn cứ vào hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản
Hình thức làmột yếu tố pháp lýquan trọng của hợp đồng, cóquan hệ biện chứng với bản chất, nội dung, giátrị hiệu lực, thời điểmcóhiệu lực của hợp đồng vàlàphương tiện để diễn đạt ý chícủa các bên, cũng như để chứng minh sự tồn tại của hợp đồng[111, tr.49]. Theo quy định của BLDS 2015, hợp đồng cóthể được lập bằng một trong ba hình thức làlời nói, văn bản hoặc bằng một hành vi cụ thể. HĐTCTS cóthểxác lập dưới một trong ba hình thức trên:
(i) HĐTCTSđược xác lập bằng lời nói: HĐTCTS bằng lời nói lànhững hợp đồng đượcgiaokếtdưới hình thức ngôn ngữnói, bằng lời hay còn gọi làhợp đồng miệng. Tặng cho động sản không phải đăng ký sở hữu cóthể được xác lập bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi. Vídụ: A thỏa thuận miệng với B về việc tặng cho B một chiếc laptop.
(ii) HĐTCTS được xác lập bằng văn bản: Đối với HĐTC bất động sản, khoản 1Điều 459 BLDS năm 2015 quy định: “Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn
bản cócông chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất độngsản phải đăng kýquyền sở hữu theo quy định của luật”. Theo quy định này, các trường hợp tặng cho bất động sản phải đăng ký quyền sởhữu như QSDĐ, nhàởthìHĐTCTS phải được xác lập theo hình thức văn bản.
(iii) HĐTCTSđược xác lập bằng hành vi: Hành vi là hành động, làxửsựcóýthức của các bên. Thông thường, hình thức hợp đồng bằng hành vi được sử dụng khi bên thực hiện hành vi giao kết hợp đồng đãbiết rõnội dung củahợp đồng vàchấp nhận tất cả các điều kiện mà bên kia đưa ra. Như đã phân tích ở trên, BLDS năm 2015 không quy định bắt buộc về hình thức của HĐTC động sản không phải đăng ký sở hữu nên đối với trường hợp tặng chođộngsản, các bên cóthể thiết lập giao dịch thông các các hành vi cụthể. Vídụ: A tặng cho B 5 triệu đồng thông qua việc chuyển khoản ngân hàng trên ứng dụng Bankplus (Achỉbằng các thao tác hành vi thực hiện việc tặng cho tiền).
Việc phân chia HĐTCTS dựa trên căn cứhình thức của hợp đồng cómột sốýnghĩa pháp lý sau đây:
(i) Xác định điều kiện cóhiệu lực của HĐTCTS: trường hợp tặng cho bất động sản, hình thức bắt buộc phải bằng văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký. Do vậy, hình thức của HĐTC bất động sản là điều kiện cóhiệu lực của giao dịch tặng cho theo quyđịnh tại khoản 2 Điều 117 BLDS năm 2015. Còn đối với HĐTCđộng sảnvì BLDS năm 2015 không quyđịnh bắtbuộc vềhình thức nên những giao dịch tặng cho thuộc nhóm nàychỉcần thỏa mãn các điều kiện quyđịnhtại khoản 1 Điều 117 BLDS năm 2015 mà không cần đáp ứng điều kiện về hình thức của giao dịch.
(ii) Xác định thời điểm cóhiệu lực của HĐTCTS: trường hợp tặng cho bất động sản phải đăng ký sởhữu thìhình thức bắt buộc phải bằng văn bản cócông chứng, chứng thực hoặc đăng ký; do đó, các hợp đồng này phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký (khoản 2 Điều 459 BLDS năm 2015). Còn đối với các trường hợp tặng chođộng sản không phải đăng ký thìmặc dùhợp đồng được giao kết bằng lời nói, văn bản hay hành vi thì thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng làkhi cósự chuyển giao tài sản tặng cho từ bên tặng cho sang cho bên được tặng cho, trừ trường hợp bên tặng cho và bên được tặng cho có thỏa thuận khác.
1.4. Phân biệt hợp đồng tặng cho tài sản với một số giao dịch dân sự khác
Để đáp ứngcác nhu cầu trong cuộc sống, các cánhân, tổ chức trong xãhội tham gia giao kết nhiều loại giao dịch khác nhau. Trong số các giao dịch được BLDS năm 2015 ghi nhận, cónhiều giao dịch cótính chất giống với HĐTCTS nên dễgây ra sựnhầm lẫn. Nhằm nhận diện chính xác vềHĐTCTS thì việc phân định hợp đồng này với một số giao dịch có tính chất giống với HĐTCTS là điều cần thiết.
1.4.1. Phân biệt hợp đồng tặng cho tài sản và di tặng
HĐTCTS và di tặng đều là phương thức chuyển quyền sởhữu tài sản từngười này sang người khác màkhông cósựđền bù. Điều này cũng đã được thểhiện rất rõ
trong quyđịnh tại khoản 1 Điều 646 BLDS năm 2015: “di tặng là…tặng cho”. Sựtương đồng giữa tặng cho vàdi tặng làrất lớn; tuy vậy giữa hai loại giao dịch này cómột số nội dung khác biệt cơ bản sau đây:
(i) Về loại giao dịch
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tặng cho tài sản làhợp đồng; dođó,đểhình thành được HĐTCTS thìphải cósự thỏa thuận, thống nhất ýchícủa từ hai bên chủ thể trở lên. Trong khi đó, di tặng làmột hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chícủa mộtbên lập di chúc màkhôngcầncósựthỏa thuận giữa người lậpdi chúc với người được di tặng.
(ii) Về chủ thể của giao dịch
Chủthểcủa HĐTCTS và chủthểcủa di tặng có hai điểmkhác biệt cơ bản sau đây:
– Một là, bên tặng cho và bên di tặng
+ Xuất phát từ lý do tặng cho làmột loại hợp đồng; còn di tặng làmột hành vi pháp lý đơn phương nên chủ thể giữa hai loại giao dịch này cósự khác biệt căn bản. Đối với HĐTCTS, số lượng chủ thể luôn luôn tối thiểu từ hai trở lên gồm bên tặng cho và bên được tặng cho. Chủ thể trong HĐTCTS có thể là cá nhân hoặc pháp nhân.
Còn di tặng làviệc người lập di chúc dành một phần di sản đểtặng cho người khác mà người lập di chúc chỉ cóthể cánhân nên chủ thể di tặng phải làcánhân màkhông thể là pháp nhân như HĐTCTS.
+ Giữa cánhân tặng cho tài sảnvà cá nhân được lập di chúc đểdi tặng tài sản cũng có hai sự khác biệt như sau:
(1) Cá nhân được lập di chúc để di tặng di sản của họ cho người khác phải từ đủ15 tuổi trở lên, cụ thể: Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha,mẹhoặc người giámhộđồng ývềviệc lập di chúc (khoản 2Điều 625 BLDS năm 2015). Trong khi đó, cá nhân từđủ6 tuổi đến chưa đủ15 tuổi cũng có thể giao kết, xác lập HĐTCTS nếu được người đại diện theo pháp luật đồng ý.
(2) Cá nhân từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được xác lập HĐTC theo ý chícủa họ, trừviệc tặng cho bất động sản, động sản đăng kýsởhữu thìcần cósựđồng ýcủa người đại diện. Tuy nhiên, trường hợp nhóm cánhân này muốn lập di chúc để di tặng di sản thìcần phải cósự đồng ý của cha, mẹ hoặc người đại diện đối với mọi loại tài sản nói chung bao gồm cả tài sản phải đăng ký sở hữu hay tài sản không phải đăng kýsở hữu.
– Hai là, bên được tặng cho vàbên được di tặng
Do pháp luật không giới hạn nên cả người được tặng cho và người được di tặngđều cóthểlàcánhân hoặc pháp nhân.Điểmkhác biệt giữa người được tặng cho vàngười được di tặng thể hiện ở hai nội dung sau đây:
Trong toàn bộquyđịnh vềHĐTCTS không có quyđịnh riêng vềngười được tặng cho nên tư cách chủ thể của người được tặng cho được áp dụng theo các quy định chung về chủ thể, cụ thể: đối với cá nhân được tặng cho tài sản thì năng lực pháp luật dân sự phát sinh kể từ khi cá nhânđóđược ra(khoản 3 Điều 16 BLDS năm 2015); do đó, đứa trẻ chưa được sinh ra không có tư cách nhận tài sản tặng cho.
Khác với người được tặng cho, người được di tặng cóthểchưa được sinh ra nhưng vẫn được di tặng di sản theo di chúc: “Người được di tặnglà cánhân phải còn sống vào thờiđiểmmởthừa kếhoặc sinh ra vàcòn sống sau thời điểmmởthừa kếnhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết” (khoản 2 Điều 646 BLDS năm 2015).
Người được tặng cho tài sảnkhông phải gánh vác các nghĩa vụvềtài sản của người tặng cho. Còn đối với di tặng, người được di tặng vẫn phải chịu thực hiện nghĩa vụ do người di tặng để lại nếu toàn bộ di sản của người di tặng không đủ để thực hiện nghĩa vụcủahọ(khoản 3 Điều 646 BLDS năm 2015). Lý do người được tặng cho không phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của người tặng cho vì đối với quan hệ tặng cho, người tặng cho vẫn còn sống sau khi tặng cho nên không đặt ra vấn đề kếthừa nghĩa vụ. Ngược lại, đối với di tặng, việc di tặng phát sinh khi người di tặng chết; dựa trên nguyên tắc được lợi thì cũng phải gánh chịu nghĩa vụ nên người được di tặng cũng phải có trách nhiệm đối với nghĩa vụ do người chết để lại.
(iii) Thời điểm phát sinh hiệu lực
HĐTCTS phát sinh hiệu lực khi các bên chủ thể còn sống; còn di tặng chỉ phát sinh hiệu lực khi bên di tặng chết. Theo đúng cách thức phân định này, việc nhận diện tặng cho vàdi tặng là tương đối rõràng. Tuy nhiên, sựphânđịnh ranh giới giữa hai loại giao dịch nàysẽphức tạp hơn nếu xảyra trường hợp chưa thực hiện xong HĐTCTS mà người tặng cho chết thìbản chất pháp lýcủa giao dịch này vẫn làtặng cho hayđược chuyển đổi sang di tặng? Trong công trình nghiên cứu “Phápluậtvề
tặng cho QSDĐ ở Việt Nam”, tác giả Nguyễn Hải Anđặt ra vấn đề, “nếu tài sản tặng cho làbất động sản mà phải đăng ký, HĐTCTS đã được giao kết và người được tặng cho đã nhận tài sản, nhưng thủ tục đăng ký chưa hoàn tất, tài sản vẫn đứng tên người tặng cho, tại thời điểm đó người tặng cho chết, đương nhiên tài sản tặng cho trở thành di sản thừa kếcủa người tặng cho. Như vậy, HĐTCTS đó có thểcoi làmột di chúc, còn người được tặng cho cóthể trở thànhngười được ditặng hay không thìpháp luật
không có quy định…”[47, tr.24 –tr.27]. Không đồng tình với quan điểm này, NCS cho rằng khi chưa thực hiện xong việc tặng cho màngười tặng cho chết thì cũng không thểcoi HĐTCTS là di chúc vì tính chất của hai giao dịch này khác hoàn toàn
nhau. HĐTCTS được hình thành từ sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng; trong khi đó, di chúc là hành vi pháp lý đơn phương chỉ thể hiện ý chí của bên lập di chúc. Do đó, nếu người TCTS chết khi HĐTCTS chưa hoàn thành thì căn cứ vào trường hợp chấm dứt hợp đồng nếu bên giao kết hợp đồng chết để giải quyết hậu quả pháp lýcủa HĐTCTS trong trường hợp này (khoản 3 Điều 422 BLDS năm 2015).
(iv) Về hình thức của giao dịch
HĐTCTS nói chung có thểđược xác lập bằng một trong ba hình thức gồm: (i) HĐTCTS được giao kết bằng hành vi; (ii) HĐTCTS được giao kết bằng lời nói; (iii) HĐTCTS được giao kết bằng văn bản.
Trong khi đó, việc di tặng phải được thể hiện trong di chúc mà di chúc chỉ được xác lậpbằng hình thức lời nói hoặc văn bản. Việc lập di chúc không thểbằng hình thức hành vi. Bởi lẽ, nếu khi còn sống một người thực hiện việc tặng cho tài sản, giao dịch này được xác định làHĐTC; còn khi họ đã chết thìkhông thể nào thực hiện được hành vi phân định di sản. Như vậy, xét vềhình thức xác lập giao dịch, HĐTCTS cóhình thức phong phú hơn khi bao gồm cả hình thức xác lập hợp đồng bằng hành vi.
Còn xét về hình thức lời nói, hình thức văn bản của HĐTCTS và di tặng thìhình thức của di tặng cũngđược quyđịnh chặt chẽhơn rất nhiều so với hình thức của HĐTCTS. Hình thức của di chúc (cóchứa đựng nội dung di tặng di sản) phải chặt chẽhơn so với hình thức của HĐTCTS là điều hoàn toàn phùhợp, bởi nếu trong trường hợp cótranh chấp về HĐTCTS, hai bên chủ thể hoàn toàn vẫn được thể hiện ý kiến,
quan điểm và đưa ra các bằng chứng để chứng minh cho yêu cầu của họ. Ngược lại, vìdi tặng chỉ phát sinh hiệu lực khi một người chết nên trường hợp phát sinh tranh chấp thìbằng chứng quan trọng nhất chính là bản di chúc (người di tặng đã chết nên không thể thể hiện được ý kiến); do vậy, hình thức di chúc càng rõràng, minh thị thìviệc giải quyết tranh chấp phát sinh sau khi người di tặng chết càng chính xác.
(v) Sửa đổi HĐTCTS, di tặng
Khi sửa đổi HĐTCTS cần phải cósự thỏa thuận, thống nhất của bên tặng cho vàbên được tặng cho; nếu một trong hai bên không đồng ý sửa đổi thì HĐTCTS không thể được sửa đổi (trừ trường hợp điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản).
Ngược lại, vìdi tặng là hành vi pháp lý đơn phương của một bên nên ngườidi tặng hoàn toàn cóthểsửa đổi, bổsung nội dung di tặng bằng cách sửa đổi, bổsung,
thay thế, huỷbỏdi chúc đã lậpvào bất cứlúc nào. Việc sửa đổi di chúc không cần phải được sự đồng ý của người được di tặng.
1.4.2. Tặng cho tài sản có điều kiện và hứa thưởng
Tặng cho tàisảncó điều kiện vàhứa thưởng làhai loại giao dịchdễgây nhầm lẫn trên thực thế. Để phân định hai loại giao dịch này, cần dựa trên một số tiêu chí cơ bản sau:
(i) Về loại giao dịch
Tặng cho tài sản có điều kiện làmột hợp đồng dân sự gồm hai bên chủ thể làbên
tặng cho và bên được tặng cho. Do đó, đểxác lập tặng cho tài sảncó điều kiện cần phải dựa trên cơ sở thỏa thuận, thống nhất ý chícủa các bên chủ thể trong hợp đồng. Ngược lại, hứa thưởng là hành vi pháp lý đơn phương; do đó, để xác lập giao dịch hứa thưởng thì chỉ cần sự tuyên bố ý chí của một bên hứa thưởng.
(ii) Về chủ thể
Chủ thể của tặng cho tài sản có điều kiện luôn được xácđịnhcụ thể cả bên tặng cho và bên được tặng cho. Còn hứa thưởng làmột hành vi pháp lý đơn phương nên chỉcần xác định cụ thể đối với bên hứa thưởng.
(iii) Thời điểm phát sinh hiệu lực của tặng cho tài sản có điều kiện vàhứa thưởng
Theo quyđịnh tại Điều 458 vàĐiều 459 BLDS năm 2015, tặng cho tài sản cóđiều kiện phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản (đối với tài sản không phải đăng kýsởhữu) hoặc kểtừthời điểm hoàn tấtthủtục đăng ký(đốivớitài sản phải đăng kýsởhữu). Riêng đốivới tặng cho động sản không phải đăng kýsởhữu, bên tặng cho và bên được tặng cho được quyền thỏa thuận về thời điểm phát sinh hiệu lực.
Còn hứa thưởng cóhiệu lực pháp luật kểtừthời điểm bên hứa thưởng ấn định trong tuyênbốhứa thưởng; nếu bên hứa thưởng không ấn định thời điểmthìhứa thưởng cóhiệu lực kểtừ khi tuyên bố hứa thưởng được đưa ra. Việc chuyển giao tài sản hứa thưởngtừbên hứa sang cho bên được thưởng không phải làthời điểmphát sinh hiệu lực của hứa thưởng mà đâychỉlàviệc thực hiện nghĩa vụcủa bên hứa thưởng đối với bên đã hoàn thành công việc theo đúng yêu cầu của người hứa thưởng.
(iv) Thứ tự thực hiện nghĩa vụ
Đối với tặng cho tài sản có điều kiện, bên được tặng cho cóthểthực hiện điều kiện tặng cho trước hoặc sau khi nhận tài sản tặng cho. Điều này được thể hiện rất rõtại khoản 1 Điều 462 BLDS năm 2015: “Bên tặng cho cóthể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho”.
Ngược lại, đối với hứa thưởng thì người được nhận thưởng phải là người đã thực hiện xong công việc màbên tuyên bố hứa thưởng đưa ra. Dođó,việc trả thưởngchỉđược tiến hành sau khi công việc mà bên trả thưởng đưa ra đã được hoàn thành. Điều này cũng được thể hiện trong quy định tại khoản 1 Điều 570 BLDS năm 2015: “Người đã công khai hứa thưởng phải trả thưởng cho người đã thực hiện công việc theo yêu cầu của người hứa thưởng”.
(vi) Tính chất đền bùcủa điều kiện tặng cho và công việc hứa thưởng
Bởi HĐTCTS luôn là hợp đồng không có đền bù, do vậyđiềukiện tặng cho không được làm mất đi tính chất không đền bù của loại hợp đồng này. Ngược lại, công
việc hứa thưởng cóthể mang lại lợi ích vật chất cho bên hứa thưởng hoặc không màkhông phải chịu sự giới hạn như điều kiện tặng cho.
1.4.3. Tặng cho tài sản có điều kiện thực hiện công việc vàhợp đồng dịch vụtrả công bằng vật
HĐTCTS vàhợp đồngdịch vụ làhailoại hợp đồngcósự khác biệt tương đối rõràng. Tuy nhiên, với tặng cho tài sản có điều kiện làthực hiện công việc vàhợp đồng dịch vụ mà bên sử dụng dịch vụ trả công cho bên cung ứng dịch vụ bằng vật thìranh giới còn mập mờ, gây nhầm lẫn trên thực tế. Nhằm tránh sự nhầm lẫn giữa hai loại hợp đồngnày, NCS phân biệt chúng với một số điểm khác biệt cơ bản sau đây:
(i) Về đối tượng
Tặng cho tài sản nói chung vàtặng cho tài sản có điều kiện thực hiện công việc nói riêng,đối tượng của hợp đồngluôn được xác định là tài sản. Còn công việc mà bên được tặngcho thực hiện không phải là đối tượng của hợp đồng mà đây chỉ là nghĩavụmà bên được tặng cho phải hoàn thành nếu muốn nhận được tài sản tặng cho.
Ngược lại, hợp đồngdịch vụ có đối tượng công việc. Còn vật được trả cho người cung ứng dịch vụ không phải là đối tượng của hợp đồng mà chỉ là“phí dịch vụ” màbên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ phải thanh toán cho bên cung ứng dịch dụ.
(ii) Liên quan đến tính chất đền bù của hợp đồng
HĐTCTS nói chung và tặng cho tài sản có điều kiện nói riêngđềulàhợp đồng không có đền bù. Ngược lại, hợp đồng dịchvụ làhợp đồngcó đền bù bởi cả bên cung ứng dịch vụvàbên sửdụng dịch vụđều cólợi ích khi xác lập, thực hiện hợp đồng.Đối với bên sử dụng dịch vụ, đó chính là việc hưởng thụ các kết quả do bên cung cứng dịch vụ thực hiện công việc mang lại; còn bên cung ứng dịch vụ được nhận tiền công mà bên sử dụng dịch vụ trả cho họ.
Nhằm phân định rõ ràng hơn hai loại hợp đồng này thìcần xem xét ví dụ sau đây:
Ví dụ: A thỏa thuận B sơn cho A căn nhà 3 tầng thì A sẽ cho B chiếc điện thoại diđộng trị giá6 triệu đồng. Giao dịch được xác lập giữa A và B là: (i) HĐTC điện thoại di động với điều kiện B phải thực hiện công việc sơn nhà hay (ii) hợp đồng dịch vụ cóđối tượnglàcông việc sơn nhà và B được trả công là điện thoại di động? Để xác địnhđược chính xác loại hợp đồng thìcần dựa vào tính chất có đền bù trong hợp đồng. Cóthểthấy, tiền công sơn nhà 3 tầng trên thựctếhiện nay cũng mang tính chất tươngđương, trao đổi ngang giávới giátrị chiếc điện thoại; dođó,trong giao dịch này, cảA và B đều có lợi ích vật chất tương đương nhau nên giao dịch giữa A vàB phải được xác định làhợp đồng dịch vụ.
1.5. Các lýthuyết ảnh hưởng đến việc xây dựng pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản
Mỗi một chế định nói chung và HĐTCTS nói riêng trong BLDS được được xây dựng dựa trên những cơ sở, những nguyên lýnhất định. Những yếu tốnàysẽquyết
định nội dung quyđịnh pháp luậtđốivới HĐTCTS. Thông qua việc nghiên cứu các công trình khoa học và văn bản pháp luật trong và ngoài nước, NCS rút ra một số cơsở chính cho việc xây dựng pháp luật về HĐTCTS như sau:
1.5.1. Lý thuyết về hợp đồng
Cũng giống như tất cả các hợp đồng khác, lý thuyết về hợp đồng là cơ sở đầu tiên cho việc xây dựng các quyđịnhpháp luậtvềHĐTCTS. Việt Nam làquốc gia thuộc thệ thống pháp luật Civil law, do đó các lý thuyết về hợp đồngđược áp dụngtại Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của hệ thống này. Khái niệm hợp đồng trong hệ thống Civil law bịchi phối bởi ba nguyên tắc: “Thứnhất, hợp đồng được xem làkết quảchung của sự gặp gỡ ý chícủa các bên. Thứ hai,đólà pháp luật do các bên lập ra để ràng buộc chính các bên trong hợp đồng. Vìsự ràng buộc của hợp đồng không chỉ làhiệu lực pháp lý được dự liệu bởi các bên, mà đó còn là hiệu lực được đảm bảo bởi pháp luật, bởi tập quán hoặc bởi yêu cầu của nguyên tắcthiện chí, nhằm xác lập trách nhiệm thực thi hợp đồng phùhợp với bản chất của hợp đồng. Nguyên tắc thứ balàtựdo hợp đồng: các bên được tự do, trong phạm vi giới hạn của luật công và trật tự công cộng, để tạo raloại hợp đồngmàhọ muốn, thậm chíđiều đócó thể là vôlýtheo cách nhìn nhận của người khác” [96, tr.10]. Cả ba nguyên tắc trên đều được được phản ánh rõ nét trong việc xây dựng các quy định của pháp luật về HĐTCTS, cụ thể:
Thứ nhất, HĐTCTS được xem làkết quả chung của sự gặp gỡ ý chícủa các bên: HĐTCTS được ghi nhận từ rất sớm trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Truyền thống
lịch sử lập pháp của nước ta từ trước đến nay đều nhìn nhận tặng cho làmột loại hợp đồng, do đó sự thỏa thuận, thống nhất ý chícủa các bên luônđược xác địnhlà cơ sởhình thành hợp đồng. Kết luận nàyđược minh chứng thông qua các định nghĩa vềHĐTCTS trong các Bộ luật của nước ta từ quá khứ tới hiện tại. Điều 864 Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931 quy định: “Sinh thời tặng dữ làmột khế ước do bên tặng chủ hiện thời bỏcủa ra, màbên thụtặng nhận lấy”.Trong BDLTK năm 1936, Điều 951 quyđịnh: “Sinh thời tặng dữ làmột khế ước do bên tặng chủ bỏ đứt ngaymột tài sản gì đểcho bên người thụ hưởng nhận lấy”. Kế thừa các quy định về khế ước sinh thời tặng dữ, Điều 461 BLDS năm 1995 quy định: “Hợp đồng tặng cho làsự thoả thuận giữa các bên, theođóbên tặng cho giao tài sản của mình vàchuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận”.Định nghĩa này có tínhbềnvững cao khi được tiếp tục ghi nhận trong BLDS năm 2005
(Điều 465) và BLDS năm 2015 (Điều 457) mà không cóbất cứ sự thay đổi nào.
Về cơ bản, cơ sở hình thành HĐTCTS cũng giống như cơ sở hình thành các hợp đồng khác, tuy nhiên sựthỏa thuận hình thành HĐTCTS có nét riêng biệt màbất cứhợp đồng nào được ghi nhận trong BLDS năm 2015 đều không có. Thông thường đối với hầu hết cáchợpđồng nói chung trừHĐTCTS thì sựthỏa thuận hình thành hợp đồng mang tính chất chủđộng, cóthểđược khởi nguồn từbất cứbên nào trong hợp
đồng. Khác với những hợp đồng còn lại, HĐTCTS thường được xác lập bắt đầu bởi ý
chícủa bên tặng cho – người cóvaitròchủ động để hìnhthành HĐTCTS; còn sự thỏa thuận của bên được tặng cho được thể hiện gián tiếp khi “bênđược tặng cho đồngý
nhận” –đây là yếu tố không được ghi nhận trong bất cứ định nghĩa nào của các hợp đồng khác ngoài HĐTCTS. Thông qua quy định “bên được tặng cho đồng ý nhận” đãthể hiện trực tiếp được sự bị động của bênđược tặng cho vàgián tiếp khẳng định vai trò chủ động của bên tặng cho khi thiết lập quan hệ tặng cho tài sản.
Tương tựnhư BLDS Việt Nam, Điều 568 BLDS Cambodia cũngđịnhnghĩa:
“Hợp đồng cho tặng làhợp đồng có hiệu lực khi một trong các bên cóhành vi chuyển giao miễn phítài sản cho bên kia và được bên kia chấp thuận”; Điều 549 BLDS Nhật Bản cũng có cáchthức địnhnghĩa tương đồng: “Hợp đồng tặng biếu cóhiệu lực, khi một trong các bên tuyên bố chuyển giao không hoàn lại tài sản của mình cho bên kia và bên kia đồng ý nhận nó”.
Thứ hai, HĐTCTS là pháp luật do bên tặng cho và bên được tặng cho lập ra đểràng buộc các bên
Khi HĐTCTS được xác lập vàcóhiệu lực pháp luật thìcả bên tặng cho vàbên được tặngcho đều phải thực hiện theo các cam kết của họ trong hợp đồng. Theo nhưnhận định:“Mộtsựthỏa thuận không phải làhợp đồng, nếukhông tạo nên hiệu lực ràng buộc giữa các bên…Sự thỏa thuận mang tính chất xãgiao hoặc một lời hứa danh dự, như lời hứa sẽ tặng quànhân ngày sinh nhật, hoặc thỏa thuận sẽ đến dự tiệc ở nhàbạn, hay cùng đi ăn tối với người khác cũng không phải làhợp đồng, vìcác thỏa thuận này không tạo ra sựràng buộc quyền và nghĩa vụpháp lýgiữa cácbên”[96, tr.16]. Thông thường với bên tặng cho tài sản là nghĩa vụ chuyển giao tài sản, còn với bên được tặng cho là nghĩa vụ nhận tài sản (đây vừa làquyền vàvừa là nghĩa vụ của bên đượctặng cho trong HĐTCTS có hiệu lực pháp luật). HĐTCTS chỉràng buộc được các bên khi hợp đồng đã phát sinh hiệu lực, còn tại thời điểm hợp đợp chưa phát sinh hiệu lực thì cả bên tặng cho và bên được tặng cho đều cóquyền thay đổi ý chí của mình trong việc giao kết, thực hiện hợp đồng.
Thứ ba, nguyên tắc thứ ba là tự do hợp đồng
Nguyên tắc tự do hợp đồng cho phép bên tặng cho được lựa chọn bên được tặng cho, loại tài sản tặng cho, số lượng tài sản tặng cho…; còn bên được tặng cho được tựdo thể hiện ý chítrong việc nhận hay không nhận tài sản tặng cho. Tự do hợp đồng lànguyên tắc quan trọngđối với mọi hợp đồngbao gồmcảHĐTCTS. Nguyên tắc này cho phép các bên chủ thể trong hợp đồng được thỏa thuận, thực hiện tất cả nhữngđiều mà pháp luật không cấm.
Từ các phân tích trên NCS khẳng định, lýthuyết về hợp đồng là cơ sở lýluận cóảnh hưởng trực tiếp, sâu sắctớiviệc xây dựng các quyđịnhpháp luật vềHĐTCTS. Tất cả các giai đoạn của HĐTCTS từ xác lập, thực hiện đến chấm dứt đều phải xoay
quanh các nguyên lý cơ bản của hợp đồng. Lýthuyết về hợp đồng cũng được thể hiện rõ nét thông qua các quyđịnhvềHĐTCTS, đặc biệt làĐiều luật địnhnghĩavềHĐTCTS.
So với BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 thì BLDS năm 2015 đã mở rộng thêm việc vận dụng yếu tố thỏa thuận, tự do đối với HĐTCTS. Trước đây trong BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005 đều không ghi nhận sự thỏa thuận của các bên đối với thời điểmphát sinh hiệu lực của HĐTCTS mà HĐTCTS luôn được phát sinh theo thời điểm do luật quy định. Đến BLDS năm 2015, các nguyên tắc về thỏa thuận, tự do ý chítrong hợp đồng được vận dụng tại khoản 1 Điều 458: “Hợp đồng tặng cho động sản cóhiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp cóthỏa thuận khác”.
1.5.2. Lý thuyết về sự không có đền bù của hợp đồng tặng cho tài sản
HĐTCTS luôn mang tính chất không đền bù- Đây là đặc trưng cơ bản nhất của HĐTCTS so với các hợp đồng khác và điểm đặc trưng này được nhấn mạnh trong tất cả các nghiên cứu về HĐTCTS trong các công trình trong và ngoài nước. Chính yếu tốkhông có đền bùcủa HĐTCTS chi phối toàn bộ các quy định liên quan đến hợp đồng này. Ngay trong định nghĩa về HĐTCTS được ghi nhận tại Điều 457 BLDS năm 2015 cũng thể hiện sự ảnh hưởng từ yếu tố này: vì đây là hợp đồng không mang lại lợi ích vật chất cho bên tặng cho nên quyền chủ động xác lập hợp đồng được ghi nhận theo hướng nghiêng về bên tặng cho; còn bên được tặng cho trở thành chủ thể của hợp đồng thông qua việc “đồng ý nhận”.
Trong các quy định của HĐTCTS, quy định về thời điểm phát sinh hiệu lực chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất của yếu tố không có đền bù. Thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTCTS được quy định rất chặt chẽ vànghiêm ngặt. Đối với tài sản không đăng kýsởhữu, khi chuyển giao tài sản tặng cho mới phát sinh hiệu lực của hợp đồng(trừtrường hợp bên tặng cho và bên được tặng cho thỏa thuận về thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTC động sản không phải đăng ký sởhữu).Đối với tặng cho tài sảnphải đăng kýsởhữu, khi thực hiện thủtục đăng ký thìhợpđồng mới phát sinh hiệu lực. Cách thức quy định về thời điểm phát sinh hiệu lực này thiên về bảo vệ quyền lợi cho
bên tặng cho – chủ thể không cólợi ích trong HĐTCTS. Ngoài ra, tất cả các quy định về hình thức xác lập hợp đồng, trách nhiệm của bên tặng cho tài sản, tặng cho tài sản có điều kiện…đều cósự chi phối của yếu tố không có đền bù. Nhận định này sẽ được làm rõthông qua việc nghiên cứu thực trạng pháp luật về HĐTCTS tại chương 2 của Luận án.
Nhìn nhận các quyđịnh vềHĐTCTS trong pháp luật Việt Namtừquákhứ tới hiện tại, NCS khẳng định pháp luật về tặng cho thời kỳ trước đây vận dụng lýthuyết về sự không có đền bùcủa giao dịch tặng cho tài sản triệt để hơn so với pháp luật hiện hành.Yếutốkhông cóđền bù trong HĐTCTS là cơsởcho việc xây dựng, ghi nhận
các quy địnhvề hủy bỏ khế ước tặngdữ khi người tặng có con, khi người thụ tặng vôơn trong BDLBK năm 1931, BDLTK năm 1936. Tuy nhiên, đến BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 không kế thừa sự vận dụng này.
Ởdướigócđộso sánh NCS nhận thấy, BLDS củaPháp, Nhật Bản, Thái Lan, Cambodia, Campuchia…đều vận dụng lýthuyết không có đền bùcủa tặng cho sâu sắc vàtriệt để hơn so với pháp luật Việt Nam. Các luật gia Pháp cólẽ lànhững người vận dụng triệt để, toàn diện lýthuyết không có đền bùcủa tặng cho nhất. Điều nàyđược minh chứng qua một loạt các quy định về tặng cho trong BLDS Pháp.
Một là, vềtỷlệtài sản tặng cho: bởi tặng cho là không có đền bùnên BLDS Pháp đã lấyđó làm cơsởđểxây dựng các quyđịnh vềtỉlệtài sản tặng cho. Ví dụ: Điều 913 quy định: Trường hợp người tặng cho có con: (1) Nếu người tặng cho cómột người con thìphần tài sản dùng để tặng cho không được vượt quámột nửa số tài sản của ngườitặng; (2) Nếu ngườitặng cho có hai ngườicon thìphần tài sản tặng cho không được vượt quámột phần ba tài sản; (3) Nếu người tặng cho có từ ba người con trở lên thìphần tặng cho không vượt quámột phần tư tài sản. Các con ở đây bao gồm cả con trong giáthúvàcon ngoài giáthú. Trường hợp tài sản được tặng cho vượt quáphần tài sản mà ngườiđểlại di sảncóthểtựdo định đoạtthìsẽbịrút bớt cho bằng phần này tại thời điểm mở thừa kế. Cólẽ, hợp đồng tặng cho tài sản làhợp đồng duy nhất mà pháp luật đặt ra giới hạn tỷ lệ tài sản tặng cho. Trong khiđó, một người cóthểbán hay trao đổi với người khác toàn bộ sản nghiệp của mình mà không phải chịu bất kỳsựgiớihạnnào.Điều này hoàn toàn xuất phát từtính không cóđềnbùcủa HĐTCTS.
Hai là, bảo lưu quyền hưởng dụng, quyền hưởng hoa lợi, lợi tức hay quyền đòi lại tài sản tặng cho. Vìtặng cho không mang lại lợi ích vật chất cho bên tặng cho nên BLDS Pháp bảo vệcuộc sống cho bên tặng cho bằng quyđịnh tại Điều 949 BLDS
Pháp: “Người tặng cho cóquyền bảo lưu cho mình hoặc cho người khác quyền hưởng dụng hoặc quyền hưởng hoa lợi, lợi tức đốivới các động sản hoặc bất động sản đã
tặng cho”. Ví dụ:Bốmẹtặng cho con trai căn nhà nhưng bảo lưu lại quyền hưởng dụng căn nhà cho đến khi bố mẹ chết. Như vậy, sau khi việc tặng cho được hoàn tất, chủsởhữucăn nhà là người con trai nhưng người tặng cholàbốmẹđược tiếp tục khai thác, sử dụng căn nhà cho đến khi họ chết.
Ba là, huỷ bỏ việc tặng cho tài sản. Lý thuyết không có đền bù của tặng cho được áp dụng đểxây dựng các quyđịnh vềhủybỏviệc tặng cho trong BLDS Pháp. Điều 953 BLDS Pháp quy định ba trường hợp huỷ bỏ việc tặng cho là: (1) Việc tặng chobịhuỷ bỏ trong trường hợp các điều kiện kèm theo việc tặng cho không được thực hiện; (2) Việc tặng cho bị huỷ bỏ khi người được tặng cho vô ơn. Bởi tặng cho làkhông cóđền bùnên sựvô ơn của bên được tặng cho cần được xem xét là căn cứđểhủybỏHĐTCTS. Trong khi đó, với các hợp đồng còn lại, sẽkhông phùhợp vàthiếu tính
thuyết phục khi coi sự vô ơn là căn cứ hủy bỏ hợp đồng; (3) Việc tặng cho bị huỷ bỏkhi người tặng cho cócon. Tương đồng với BLDS Pháp, BLDS Đức vàBLDS Thái Lan cũng vận dụng lýthuyết không có đền bùcủa tặng cho để thừa nhận bên tặng cho tài sản được huỷ bỏ việc tặng cho khi bên được tặng cho không thực hiện yêu cầu màhọ đã đưa ra hoặc cósự bội ơn đối với bên tặng cho. Điều này cũng được thừa nhận trong BộDân luật Bắckỳnăm 1931tạiĐiều871, Điều 872, Điều 873, Điều 874 vàtrong Bộ Dân luật Trung kỳ năm 1936 tại Điều 978. Thiết nghĩ, đây cũng là những quyđịnh hợp lývànên được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam vìhiện nay theo quy định trong BLDS năm 2015, ngườitặng cho chỉđược đòi lại tàisảnkhi người được tặng cho không thực hiện điều kiện tặng cho.
Lýthuyết về sự khôngcó đền bùđóng vai trò quan trọng khi xây dựng các quyđịnh về HĐTCTS. Điều này cũng được thừa nhận qua khẳng định sau: “các tặng dữ lànhững hành vi quan trọng nhiều khi có thể làm tiêu tan sản nghiệp, vìvậy nhà làm luật quy định rất chặt chẽ các hành vi sử phân này. Trái lại, trong lãnh vực khế ước hữu thường, các đương sự được nhiều tự do hơn” [112, tr.76 ]. Cũng nhằm lýgiải cho sựchặt chẽ, nghiêm ngặt của các quyđịnh vềHĐTCTS so với các hợp đồng có đền bùkhác, nhận định sau đây khẳng định:
Thông thường trong tư tưởng củacác luật gia, hợp đồng không có đền bùphải gánh chịu một qui chế pháp lý chặt chẽ hơn so với hợp đồng có đền bù. Chẳng hạn pháp luật qui địnhcác điều kiện rất chặt chẽcho việc giao kết hợp đồng này nhưvềhình thức hợp đồng, vềđối tượng của hợp đồng, vềcác trường hợp không có năng lực giao kết hợp đồng…[67, tr.197].
Từcác phân tích, lập luận mà NCS đưa ra cùng vớicác nhận địnhcósựthống nhất cao giữa các nhàkhoa học mà NCS đã dẫn chứng thìrõràng, lýthuyết vềsựkhông có đền bùcủa hợp đồng tặng cho tài sản làyếu tố chi phối mạnh mẽ vàtrực tiếp đến từng quy định về HĐTCTS.
1.5.3. Lýthuyết phân chia tặng cho thành “Donatio inter vivos” và“Donatio mortis causa”
Khi nghiên cứu, so sánh pháp luật nước ngoài với pháp luật Việt NamvềHĐTCTS, NCS nhận thấy bản chất của HĐTCTS được ghi nhận trong BLDS nước ta cónhiều điểm tương đồng, thống nhất với quy định của các quốc gia khác trên thế giới. Tuy nhiên, vấn đềlýluận khác biệt nhất củaHĐTCTS của nước ta so với nhiều các quốc gia khác trên thế giới làkhông xây dựng các quy định về HĐTCTS dựa trên lýthuyết phân loại tặng cho thành “Donatio inter vivos” và“Donatio mortis causa”
[159, tr.161]. Thực chất đây là hai thuật ngữ La-tin được dịch tươngứnglà“tặngcho khi sống”(Donatio inter vivos) và“tặngcho khi chết”(Donatio mortis causa). Trên thế giới, thuật ngữ “Donatio inter vivos” và“Donatio mortis causa” được giữ nguyên
gốc La –tin mà không được dịch ra các thứtiếng tương ứng,kểcảtiếng Anh. Thậm
chí ngay trong các văn bản pháp lýcủa mỗi quốc gia – thể hiện chủ quyền của quốc
gia nhưng cũng vẫn giữ nguyên gốc La – tin của thuật ngữ này. Do vậy, trong Luận án, NCS cũng sử dụng tương tự mà không dịch tương thích sang tiếng Việt.
Bởi “Donatio inter vivos” và“Donatio mortis causa”đều là tặngcho, chỉ khác nhau ở thời điểm tặng cho khi người tặng cho còn sống hay đã chết nên lýthuyết về“Donatio inter vivos” và“Donatio mortis causa” đặt ra yêu cầu xây dựng pháp luật đối với trường hợp tặng cho giữa những người còn sống vàtặng cho khi người tặng cho chết phải tương thích với nhau, không được tồn tại các quyđịnh mâu thuẫn hayđối nghịch nhau, trừ một số quy định đặc thùchỉ tương thích với từng loại giao dịch.
Đối chiếu với pháp luật Việt Nam về HĐTCTS, “Donatio inter vivos” chính làHĐTCTS được ghi nhận từĐiều 457 đến Điều 462 BLDS năm 2015; còn “Donatio mortis causa” thực chất chính làcác quyđịnh vềdi tặng trong BLDS năm 2015. BLDS Việt Nam không theo thuyết phân loại tặng cho thành (i) “Donatio inter vivos” và(ii) “Donatio mortis causa” nên các quyđịnh vềHĐTCS và di tặng trong BLDS năm 2015 không có sự kết nối, thậm chínhiều nội dung còn không cósự tương thích nào mà trái ngược nhau như liên quan đến người được tặng cho (đã được sinh ra) vàngười được di tặng (cóthể là người chưa được sinh ra); liên quan đến giới hạn tài sản tặng cho vàdi sản di tặng…
Ngược lại với pháp luật Việt Nam, một bộ phận không nhỏ các quốc gia trên thếgiới đều xây dựng HĐTCTS dựa trên lýthuyết phân loại này. Điềunàyđược chứng minh thông qua các hệ thống pháp luật của một số quốc gia sau đây:
Một là, lýthuyết phân loại tặng cho thành “Donatio inter vivos” và “Donatio mortis causa” được thểhiện trong kết cấu vànội dung các quy định tặng cho của BLDS Pháp
Trong BLDS năm 2015, tặng cho làgiao dịch chuyển quyền sởhữu tài sản, cụthể tặng cho được thừa nhận làhợp đồng; do đó các quyđịnhvềHĐTCTSđược kết cấu tại Chương XVI – Một số hợp đồng thông dụng; các quy định về di tặng được kết cấu độc lập tại Chương XXII – Thừa kế theo di chúc của BLDS năm 2015.
Ngược lạivớiViệt Nam, trong BLDS Pháp, tặng cho tàisảnđược quyđịnh tại Thiên II Quyển thứ 3 – Chứng thư tặng cho và di chúc. Như vậy, các luật gia Pháp đãxếp “chứng thư tặng cho” và“di chúc”vào chung một Thiên; còn hợp đồng được quyđịnh ở một thiên độc lập khác. Lýgiải cho kết cấu này, Điều 893 BLDS Pháp quy định:
“Mỗi người chỉ cóthể định đoạt tài sản của mình màkhông yêu cầu đền bù bằng cách lập chứng thư tặng cho hoặc di chúc”. Sựkhác biệt vềvịtrí, kết cấu của HĐTCTS giữa BLDS Pháp và BLDS năm 2015 đã được một nhànghiên cứu nhận định: “Ở
Pháp tồn tại hai loại hình thức định đoạt tài sản màkhông yêu cầu đền bù. Đó là lập chứng thư tặng cho hoặc di chúc. Tặng cho được thực hiện đối với những người còn sống còn di chúc cógiátrị khi một người chết. Nếu ởnước ta, tặng cho vàdi chúc
được quy định tương đối độc lập thìở Pháp sự tách biệt giữa chế định tặng cho và di chúc rất mong manh. Họ điều chỉnh hai chế định này tại cùng một phần vànhiều quyđịnh được áp dụng cho cảhai” [120, tr.136]. Cách kếtcấunhư BLDS Pháp sẽtinh giảm được lượng lớn các điều luật vì những vấn đề chung của tặng cho và di tặng được quy định đồng thời trong cùng điều luật như: người được tặng cho, người được di tặng cóthể là thai nhi mà chưa cần phải sinh ra; người tặng cho, người di tặng không được tặng cho, di tặng với toàn bộ tài sản; giới hạn tỷ lệ tài sản tặng cho, di sản di tặng đểbảo vệ con của người tặng cho, người thừa kế…
Hai là, lýthuyết phân chia tặng cho thành “Donatio inter vivos” và “Donatio mortis causa”được khẳng định cụthểtrong các quy định vềtặng cho trong BLDS Cambodia
Trong BLDS Cambodia không tồn tại khái niệm “di tặng”; do đó, trong các quyđịnh vềthừa kếkhông có các quyđịnh liên quan đến di tặng di sản của người chết. Đâykhông phải là điểm thiếu sót trong BLDS của Cambodia mà thực chất, việc một cánhân cho tài sản của mình sau khi chếtđược kết cấu tại Chương 3 của BLDS Cambodia về HĐTC.
Theo BLDS Cambodia, tặng cho tài sảngồm hai trường hợp: “Donatio inter vivos” và (ii) “Donatio mortis causa”. Điều 577 quy định về cho tặng khi chết được kết cấu trong chương 3 vềHĐTC, cụthể: “Việc cho tặng cóhiệu lực khi người cho
tặng chết được gọi làcho tặng khichết”. Do đó, các quy định về tặng cho khi sống vàtặng cho khi chết (di tặng) được quy định cónhiều điểm tương đồng bởi bản chất của hai loại giao dịch này đều là“chuyển quyền sở hữu miễn phícho một chủ thể khác”; điểm khác biệt nhất giữa tặng cho khi sống và tặng cho khi chết là liên quan đến thời điểm phát sinh hiệu lực của giao dịch tặng cho.
Ba là, BLDS của Louisiana vận dụng sâu sắc lýthuyết phân chia tặng cho thành “Donatio inter vivos” và “Donatio mortis causa” trong pháp luật về tặng cho tài sản.
Louisiana được đánh giá là quốc gia vận dụng triệt để nhất lýthuyết về “Donatio inter vivos” và“Donatio mortis causa” khi xây dựng các quy định về tặng cho. Điều này được thể hiện ở cả kết cấu và nội dung của tặng cho trong BLDS Louisiana.
– Về kết cấu: Tặng cho được quy định tại Phần II của BLDS Louisiana với tiêu đềchung “Donatinons” (tặng cho). Trong phần này, các luật gia của Louisiana quy định tất cả các vấn đề chung của tặng cho tại Chương 1 với tiêu đề “General dispositions” (Quyđịnhchung). Trong Chương 1, BLDS Louisiana quyđịnh vềtặng cho với hai phương thức: (i) “Donation inter vivos”; (ii) “Donation mortis causa”(từdonatio
trong tiếng La – tin được dịch sang tiếng Anh làDonation) – với kết cấu này, BLDS Louisiana đã vậndụng triệt đểlýthuyết về“Donation inter vivos” và“Donation mortis causa” vào trong Bộ luật của quốc gia mình. Như vậy, trong BLDS Louisiana, tặng cho khi còn sống vàtặng cho sau khi chết đều được quy định trong Phần quy định
về tặng cho mà không tách riêng thành HĐTC và di tặng như pháp luật Việt Nam.
– Về nội dung: Louisiana đã thừa nhận tặng cho khi sống vàtặng cho khi chết làcùng bảnchất; do vậy, các quyđịnhvềhai loại giao dịch này cần phải cósựtương thích. Điều nàyđượcthểhiện qua các quyđịnh tạichương 1 củaBLDS Louisiana, theo đó dù là “Donation inter vivos” hay “Donation mortis causa” đều phải tuân thủcác quy định chung năng lực tặng cho, tặng cho trẻ chưa được sinh ra, giới hạn tỷ lệ tài sản tặng cho,…Cũng ngay tại chương 1, Phần 2 BLDS Louisiana đã đưa ra ba quy định chung liên quan đến “Donation” (tặng cho tài sản), “Donation inter vivos” hay “Donation mortis causa”, cụ thể:
(i) Điều 1467 quy định về các phương thức tặng cho tài sản: “Một tài sản không bị chuyển giao hoặc xử lý mà không có đền bù, trừ trường hợp tặng cho tài sản giữa
những người còn sống hoặc tặng cho khi người tặng cho chết” (nguyên gốc tiếng Anh: “Property can neither be acquired nor disposed of gratuitously, unless by donations inter vivos or mortis causa, made in the forms hereafter established”);
(ii) Điều 1468 đưa ra định nghĩa về “Donation inter vivos” như sau: “Tặng cho giữa những người còn sống làmột giao dịch theo đó người tặng cho chuyển giao tài sản của mình, ngay tức khắc và không có đền bù; còn người tặng cho đồng ý nhận tài sản”(nguyên gốc tiếng Anh:“A donation inter vivos (between living persons) is an act by which the donor divests himself, at present and irrevocably, of the thing given, in favor of the donee who accepts it”);
(iii)Điều 1469 đưa rađịnh nghĩa về“Donation mortis causa”: “Trường hợp
tặng cho khi chết là một giao dịch chỉ có hiệu lực khi người tặng cho không còn tồn tại, theo đó, người hiến tặng định đoạt toàn bộ hoặc một phần tài sản của mình” (nguyên
gốc tiếng Anh: “A donation mortis causa (in prospect of death) is an act to take effect, when the donor shall no longer exist, by which he disposes of the whole or a part of his property, and which is revocable”).
Qua các phân tích trên, NCS khẳng định, lýthuyết phân chia tặng cho thành “Donatio inter vivos” và“Donatio mortis causa” là cơ sở quan trọng để các quốc gia trên thế giới vận dụng trong việc xây dựng pháp luật về tặng cho tài sản. Soi chiếu lýthuyết này vào pháp luật về HĐTCTS tại Việt Nam thìNCS nhận định các Bộ cổ luật trước đây như BDLBK năm 1931, BDLTK năm 1936…vận dụng lýthuyết này rõ nét hơn. Điều này được thể hiện qua nhiều các quy định khác nhau trong Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931 vàBDLTK năm 1936 như: quy định tương đồng về người được tặng dữvà người được di tặng (đều có thể chưa được sinh ra), quy định về giới hạn tỷ lệ tài sản được tặng dữ và giới hạn tỷ lệ disản được di tặng…
Đến BLDS năm 1995, 2005 và2015, lý thuyết phân chia tặng cho thành “Donatio inter vivos” và“Donatio mortis causa” được thể hiện rất mờ nhạt trong các quy định về HĐTCTS. Dường như các nhà lập pháp không chú trọng đến lý thuyết này
trong quátrình xây dựng các quyđịnh vềHĐTCTS trong các BLDS. Khác với các quốc gia như Pháp, Louisiana, Cambodia,…xếp “Donatio inter vivos” và“Donatio mortis causa” vào cùng một phần vàdành những quy định chung để quy định cho cảhai loại tặng cho này thì BLDS năm 2015 lại kết cấu “Donatio inter vivos” (HĐTCTS) và“Donatio mortis causa” (di tặng) thành hai phần độc lập: “Donatio inter vivos” được quyđịnh trong phần hợp đồng; “Donatio mortis causa”được quyđịnh trong phần thừa kế. Cách thức kết cấu này không vận dụng lý thuyết về “Donatio inter vivos” và“Donatio mortis causa”. Bên cạnh đó, nội dung các quyđịnh của “Donatio inter vivos” và“Donatio mortis causa” trong BLDS năm 2015 cũng không tương thích, có
sự khác biệt khálớn (Đã được phân tích tại mục 1.4.1). Điều này sẽ không hợp lývàkhógiải thích khi cảhai vấn đềcùng bảnchất mà không được quy định tương thích với nhau.
Tómlại, pháp luật vềtặng cho trên thếgiới nói chung được xây dựng chủyếu trên ba cơ sở: (i) Lý thuyết về hợp đồng; (ii) Lý thuyết về sự không có đền bù của giao dịch tặng cho; (iii) lýthuyết phân chia tặng cho thành “Donatio inter vivos” và“Donatio mortis causa”. Những lýthuyết này ảnh hưởng trực tiếp tới kết cấu cũng như nội dung của chế định tặng cho tài sản trong các BLDS trên thế giới cũng nhưởViệt Nam. Tùy thuộc vào việc mỗi quốc gia áp dụng nguyên lýnào, mức độ áp dụng mà kết cấu và nội dung của các quy định về tặng cho sẽ được thể hiện tương ứng. Tại Việt Nam, các luật gia vận dụng tương đối rõnét lýthuyết về hợp đồng vàlýthuyết về
sựkhông có đềnbù đểxây dựng các quyđịnh vềHĐTCTS; trong khi đó,lý thuyết phân chia tặng cho thành “Donatio inter vivos” và“Donatio mortis causa” chưa được các nhà làm luật quan tâm trong quátrình sửa đổi, bổ sung BLDS năm 2015.
Nghiên cứu các cơ sởcho việc xây dựng pháp luật vềHĐTCTS có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nội dung này lànền tảng cho NCS nghiên cứu về thực trạng pháp luật Việt Nam về HĐTCTS trong chương 2 của Luận án. Với mỗi quy định về HĐTCTS, NCS sẽ chỉ ra lýthuyết nào được vận dụng để hình thành vàxây dựng nên quy định đó; đồng thời, những cơ sở này giúp NCS đánh giá được những ưu, nhược điểm của pháp luật về HĐTCTS trong BLDS năm 2015.
Bên cạnh đó, các cơ sởcho việc xây dựng pháp luật vềHĐTCTS là nền tảng, tiền đề quan trọng nhất để NCS đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về HĐTCTS tại chương 3 của Luận án. Với mỗi kiến nghị cụ thể, NCS sẽ chỉ rõ cơ sở màNCS vận dụng để đưa ra.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
HĐTCTS là một trong các giao dịch dân sự phổ biến tại Việt Nam cũng như các quốc gia khác trên thế giới. Để nghiên cứu một cách toàn diện, cóhệ thốngcác vấn đềpháp lývềHĐTCTS thìviệc làm sáng tỏcác vấn đềlýluận của HĐTCTS là điều không thể thiếu. Với nội dung trọng tâm là tìm hiểu, phân tích một số vấn đề lý luận vềHĐTCTS, chương 1 của Luận án đã đạt được các kết quả nghiên cứu sau đây:
NCS tìm hiểu bản chất của tặng cho tài sản. Trong hệthống pháp luật của các quốc gia trênthếgiới, tặng cho được xem xét dưới hai góc độ: tặng cho làmột hợp đồng hoặc tặng cho là hành vi pháp lý đơn phương. Việc quyđịnh tặng cho làhợp đồng hay hành vi đơn phương của bên tặng cho sẽ quyết định đến các vấn đề pháp lýcủa tặng cho tài sản;
NCS tìm hiểu khái niệm về HĐTCTS và HĐTCTSCĐK. Theo đó, hợp đồng tặng cho tài sản làsự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình vàchuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bênđược tặng cho đồng ýnhận; còn hợpđồng tặng cho tài sản có điềukiện làhợp đồng tặng cho tài sản, theo đó bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm củaluật, không tráiđạođức xãhội và khôngđượclàm thayđổitính chất không có đền bù của hợp đồng tặng cho tài sản.
HĐTCTS thường bịnhầm lẫn với một sốgiao dịch tương tựkhác;đểxác định chính xác HĐTCTS, NCS phân biệt HĐTCTS với một số giao dịch khác như di tặng, hứa thưởng, hợp đồng dịch vụtrảcông bằng vật. Các giao dịch nàyđược NCS phân biệt theo một số yếu tố
Các loại HĐTCTS trên thực tếphong phú, đa dạng; do đó, dựa trên các căn cứkhác nhau, NCS tiến hành phân loại HĐTCTS dựa trên ba căn cứchính: căn cứvào điều kiện tặng cho thì HĐTCTS gồm HĐTCTS không có điều kiện vàHĐTCTSCĐK; căn cứvàođối tượng tặng cho thìHDTCTSgồmHĐTC bất độngsản, HĐTCđộng sản; HĐTC tài sản không phải đăng ký sở hữu vàHĐTC tài sản phải đăng ký sở hữu; căn cứ vào hình thức của HĐTCTS thì HĐTCTS gồm HĐTCTS giao kết bằng lời nói, HĐTCTS giao kết bằng văn bản, HĐTCTS giao kết bằng hành vi.
NCS phân tích các cơ sở cho việc xây dựng pháp luật về HĐTCTS trên thế giới nói chung vàtại Việt Nam nói riêng. Nhìn chung, pháp luật về tặng cho tài sản được xây dựng dựa trên ba lýthuyết chính: (i) Lýthuyết vềhợp đồng; (ii) lýthuyết vềsựkhông có đền bùcủatặng cho; (iii) lýthuyếtvề“Donatio inter vivos” và“Donatio mortis causa”. Những lýthuyết này chi phối đến nội dung các quy định về hình thức, thời điểm phát sinh hiệu lực, hủy bỏ hợp đồng…và các vấn đề khác của HĐTCTS.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN
Cách thức phân loại phổbiến nhất củaHĐTCTS là hợp đồng nàyđược phân thành: HĐTCTS thông thường (không có điều kiện) và tặng cho tài sản có điều kiện. Dựa trên cách thức phân loại này, NCS nghiên cứu thực trạng pháp luật về HĐTCTS theo hai nội dung lớn: (i) Nghiên cứu thực trạng pháp luật vềHĐTCTS nói chung.Đâylà những quyđịnh của pháp luật được áp dụng cho mọi loại HĐTCTS gồm HĐTCTS thông thường vàtặng cho tài sảncó điều kiện; (ii) Nghiên cứu thực trạng pháp luật về tặng cho tài sản có điều kiện. Những quy định của pháp luật được nghiên cứu, tìm hiểu trong nội dung nàychỉđượcáp dụng riêng đốivới tặng cho tài sản cóđiều kiện.
2.1. Thực trạng các quy định chung về hợp đồng tặng cho tài sản 2.1.1. Đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản
Đối tượng của HĐTC làtài sản; điều này được thể hiện cụ thể tại nội dung của Điều 457 BLDS năm 2015: “HĐTCTS làsựthỏa thuận giữa các bên, theo đó bên
tặng cho giao tài sản của mình vàchuyển quyền sởhữucho bênđược tặngcho…”. Mọi tài sản được quy định tại Điều 105 BLDS năm 2015 gồm vật, tiền, giấy tờ cógiávàquyền tài sản đều có thể trở thành đối tượng của HĐTCTS. Tài sản tặng cho cóthểlà độngsản, bất động sản; tài sản hiện có. Riêng đối với tài sản hình thành trong tương lai thìviệc xácđịnhloại tài sản này cótrở thành đối tượng của HĐTCTS hay không còn chưa thống nhất.
Trước đây trong lịch sử lập pháp của nước ta, vấn đề tặng cho tài sản hình thành trong tương laiđãđược ghi nhận rất cụ thể, rõ ràng vàtheo nguyên tắc chung làviệc tặng cho tài sản hình thành trong tương lai sẽ bị vôhiệu. Điều 952 Bộ Dân luật Trung kỳ năm 1936 quy định: “Chỉ tặng dữ tài sản màmình hiện cóthôi, nếu tặng dữ tài sản mình sẽcó, thờisựtặng dữấylàvôhiệu”. Không chỉtrong các văn bản pháp luật, ngay trong Giáo trình Luật Dân sự của Học viện Tư pháp khi phân tích về HĐTCTS trong BLDS năm 2015 cũng nhận định: “Vìhợp đồng tặng cho tàisảnlàhợp đồng thực tế, cho nên đối tượng của đồng tặng cho tài sản chỉ có thể là các vật có thực đang
tồn tại hiện hữu, chứkhông thểlàvật sẽcó trong tương lai (bởi vìvật sẽcótrong tương lai thì chưa chuyển giaođược, hợp đồng chưaphát sinh hiệu lực)”[102, tr.339] hay trong cuốn Bình luận Khoa họcBLDS năm 2015 cũng cónộidung tươngđồng:
“Vì hợp đồng tặng cholàhợp đồngthực tế cho nên đối tượng của hợp đồng tặng cho chỉ cóthể làcác vật có thực đang tồn tại hiện hữu chứ không thể là các vật cótrong tương lai thì chưa thể chuyển giao vật vìvậy hợp đồng chưa phát sinh hiệu lực” [122,
tr.466 – 467].
Cơ sởđểcác vănbảnpháp luật không thừa nhận tặng cho tài sản hình thành trong tương lai xuất phát từ tính chất thực tế của loại hợp đồng này. Tại thời điểm giao
nhận tài sản, tài sản tặng cho phải được hình thành, hiện hữu thìbên tặng cho mới cóthểthực hiện đượchành vi chuyển giao tài sản. Các nhậnđịnhnàychỉđúng và phùhợp khi BLDS năm 2015 chưa có hiệu lực thi hành bởi khoản 1 Điều 458 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng tặng cho động sản cóhiệu lực kểtừthời điểm bên được tặng cho nhận tài sản,trừtrường hợp cóthỏa thuận khác”. Theo quyđịnh này, bên tặng cho và bên được tặng cho được quyền thỏa thuận về thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTCTS khác với thời điểm giao, nhận tài sản tặng cho. Do đó, các bên hoàn toàn có quyền thỏa thuận HĐTCTS phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm giao kết mà khi đó tài sản tặng cho đang là tài sản hình thành trong tương lai; còn việc chuyển giao tài sản tặng cho được thực hiện khi tài sản đã hiện hữu trên thực tế.
Đểtrởthànhđối tượng của HĐTC thì tàisảnphải thỏa mãn các điều kiện sauđây:
Thứ nhất, tài sản tặng cho phải được phép giao dịch
Các chủthểđượctoàn quyền tặng cho tàisảntựdo lưu thông màkhông phải chịu bất kìhạn chếnào của pháp luật. Khi các bên xác lập HĐTCTS với tài sản hạn chế lưu thông thì cần tuân thủ các điều kiện theo quy định của luật (như tặng cho ngoại tệ). Còn đối với tài sản cấm lưu thông như ma túy, vũ khí,…thì các bên chủ thể khôngđược phép tặng cho. Trường hợp các bên tặng cho tài sản cấm lưu thông thì HĐTCTS bị vô hiệu tuyệt đối; không phát sinh hiệu lực giữa bên tặng cho và bên được tặng cho.
Thứ hai, tài sản tặng cho phải thuộc sở hữu của người tặng cho tài sản
Mục đích của HĐTCTS nhằm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản. Do vậy, chỉchủsởhữutài sản mới cóquyềnđịnhđoạttài sảnthông qua phương thức tặng cho. Trường hợp một người tặng cho tài sản của người khác khi không được sự đồng ý của người đó thì họ đã xâm phạm đến quyền sở hữu của chủ tài sản vàphải chịu các trách nhiệm pháp lý. Việc xác minh tài sản tặng cho thuộc sởhữu của bên tặng cho được thực hiện như sau:
(i)Đối với tài sản phải đăng kýsởhữu như QSDĐ, nhàở, ôtô, xe máy, tàu thuyền…bên được tặng cho cần căn cứvào các thông tin trên giấytờchứng nhận sởhữu (giấy chứng nhận QSDĐ, nhàở và tài sản khác gắn liền với đất; đăng ký xe mô tô,ô tô…) để xác định tư cách sở hữu của bên tặng cho tài sản;
(ii) Đối với tài sản không phải đăng ký sở hữu: khi xác lập HĐTCTS với tài sản không đăng kýsởhữu thìvệc xác định chủsởhữuthường dựa trên cơ sởsuy đoán. Thông thường, người đang chiếm hữu tài sản trên thực tế được suy đoán là chủ sở hữu tài sản. Việc suy đoán có thể dẫn tới hậu quả tài sản tặng cho không thuộc sở hữu của bên tặng cho. Người tặng cho cóthểbiết hoặc không biếtvềviệc tài sảntặng cho không thuộc sở hữu của họ. Tùy từng trường hợp mà sẽ có cách thức giải quyết tương ứng đối với tài sản tặng cho.
Thực tiễn các tranh chấp HĐTCTS xảy ra trên thực tiễn cũng liên quan đến nhiều trường hợp tài sản tặng cho thuộc sở hữu của nhiều người nhưng khi lập hợp đồng thìcóchủ sở hữu kývàchủ sở hữu không ký. Trường hợp tài sản tặng cho thuộc sở hữu chung của nhiều người, nguyên tắc tặng cho được xác định theo hình thức sở hữu:
Một là, trường hợp tài sản tặng cho thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất, tài sản chỉđược tặng cho khi tất cảcác chủsởhữuchung đồng ý. Đối với hình thức sởhữu này, tài sản tặng cho thuộcsởhữu chung của vợchồng làphức tạp vànảysinh nhiều tranh chấp trên thực tế, đặc biệt với các tài sản phải đăng ký sở hữu như: QSDĐ, nhàở, ô tô, xe máy…Tài sản chung của vợ chồng thuộc nhóm phải đăng ký sở hữu cóthể do cả hai vợ chồng đứng tên hoặc một trong hai vợ chồng đứng tên. Thực tế tồn tại rất nhiều trường hợp tài sản chung của vợ chồng nhưng chỉ do vợ hoặc chồng đứng tên. Do đó, nếu xác lập HĐTCTS với những tài sản này thìrất khó để xác định chính xác chủ sở hữu tài sản;
Hai là, trường hợp tài sản tặng cho thuộc hình thức sở hữu chung theo phần, mỗi chủ sở hữu chung theo phần cóquyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình (khoản 1Điều 218 BLDS năm 2015). Trường hợp một chủsởhữuchung theo phần bán phần quyền sở hữu của mình thìchủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua (khoản 3Điều 218 BLDS năm 2015). Quy định này không áp dụng đối với trường hợp một chủsởhữuchung theo phần tặng cho phần quyền sởhữu của mình. Điều này hoàn toàn phùhợp bởi HĐTCTS là hợp đồng không có đền bù; do đó, hợp đồng thường được xác lập giữa những người cóquan hệ thân thích, tình cảm nhưbố mẹ tặngcho con cái hoặc bạn bè tặng cho nhau. Nên sẽ không phùhợp vàtạo ra sự bất hợp lýnếu luật quyđịnh về quyền ưu tiên của các chủ sở hữu chung khác đối với HĐTCTS.
Thứ ba, tài sản tặng cho không đang bị tranh chấp về quyền sở hữu
Tài sản đangbịtranh chấp vềquyền sởhữulàtài sản đang có hai hay nhiều người cùng xác nhận quyền sở hữu của mình vàphủ định quyền sở hữu của người kiađối với tài sản. Điều kiện này thực chất làhệ quả được rút ratừ điều kiện “tài sản tặng cho phải thuộc sởhữucủa người tặng cho tài sản”.Khi tài sản đang bịtranh chấp quyền quyền sở hữu thì chưa thể xác định được ai làchủ sở hữu của tài sản. Do vậy, với những tài sản đó thì các bên tranh chấp không thể xác lập HĐTCTS.
Thứ tư, tài sản đang không bị kê biên để thi hành án
Theo quyđịnh tạiĐiều 24 Nghịđịnh62/2015/NĐ –CP ngày 18 tháng 07 năm 2015 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 thìkể từ thời điểm bản án, quyết định cóhiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc tàisảnkhác không đủđểđảm bảo nghĩavụthi hành án thìtàisảnđóvẫn bị kêbiên, xử lý để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
HĐTCTS được đặc biệt chútrọng trong số các giao dịch bị cấm chuyển nhượng đối với tài sản đang bị kê biên để thi hành án. Bởi đây là cách thức phổ biến mà chủ sởhữu tài sản thường sửdụng nhằm tẩu tán tài sản của mình. Bên cạnh đó, HĐTCTS không mang lại bất cứ lợi ích nào cho bên tặng cho nên việc tẩu tán tài sản thông qua hợp đồng này càng gây khó khăn cho quá trình thi hành án.
Trường hợpđã bịáp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạmthời, biện pháp bảo đảmthi hành án, biện pháp cưỡng chếthi hành án màtài sản vẫn bịchuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố cho người khác thìtài sản đó bị kê biên, xử lý để thi hành án; chấp hành viên có văn bản yêu cầu Tòa án tuyên bốgiao dịch đối với tài sản đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờliên quan đến giao dịch đối với tài sản đó.
Trong số các đối tượng tặng cho thì QSDĐ và nhà ở làhai loại tài sản tặng cho phổ biến nhất và thường xuyên phát sinh tranh chấp trên thực tế. Trong Luật Đất đai năm 2013 và Luật Nhàởnăm 2014 đều có các quyđịnh riêng vềđiều kiện đối với QSDĐ và nhà ởlà đốitượng trong các giao dịch dân sựnói chung và HĐTCTS nói riêng.
QSDĐ làmột trong các đối tượng phổ biến nhất của HĐTCTS. Xét dưới góc độphân loại, QSDĐ được thừa nhận làbất động sản [35, Điều 5]. Để QSDĐ trở thành đối tượng tặng cho thì cần thỏa mãn các điều kiện được ghi nhận tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2013:
(i) CóGiấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhàở vàtài sản khác gắn liền với đất
Thông qua việc được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, chủsởhữuđược công nhận quyền sở hữu hợp pháp đối với QSDĐ. Về nguyên tắc chung, chủ thể được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn QSDĐkhi họđược cấp giấy chứng nhận (khoản 1 Điều 168 Luật Đất đai năm 2013). Điều kiện này được quy định xuất phát từ lý do sau đây: QSDĐ là tài sản có giátrị lớn và cóý nghĩa quan trọng trong đời sống của mỗi cánhân, hộgia đình; không những vậy, việc sở hữu loại tài sản này còn liên quan đến an ninh quốc gia. Do vậy, đây là loại tài sản mà Nhà nước cósự kiểm soát chặt chẽ thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng. Chỉ những QSDĐ đã được cấp giấy chứng nhận mới được tặng cho để nhằm tránh trường hợp bên tặng cho cố ý tặng cho tài sản của người khác và đồng thời bênđược tặng cho có thể kiểm tra nguồn gốc cũng như chủ sở hữu thực sự của QSDĐ.
Liên quan đến điều kiện này, cóýkiếncho rằng: “Quyđịnh vềquyền sửdụng đất phải cóGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới được phép tặng cho là chưa phù hợp trong điều kiện thực tế hiện nay do việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ thể sử dụng đất vẫn chưa được hoàn thành nên còn tồn tại một số lượng lớn người sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận…” [172]. Đồng tình với quan
điểmnày, theo NCS, Luật Đấtđai năm 2013 quyđịnh điều kiện bắt buộc quyềnsửdụng đất phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới được phép xác lập HĐTCTS là cứng nhắc, chưa phù hợp với tình hình thực tiễn tại Việt Nam.
(ii) Đất không có tranh chấp
Tranh chấp đất đai là“tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” (khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013). Theo quy định này, chỉ được xác lập, thực hiện HĐTCTS với đất không cótranh chấp; còn với những đất đang có tranh chấp thìkhông thể trở thành đối tượng của HĐTCTS. Việc ghi nhận điều kiện này làphùhợp vàcần thiết; tuy nhiên, quy định về điều kiện này trong Luật Đất đai năm 2013 còn tồn tại hai điểm hạn chế sau đây:
Thứnhất,điểm b khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 sửdụng thuật ngữ“tranh chấp đất”là không chính xác. Vì theo quyđịnh tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013 và Điều 4 Luật Đất đai năm 2013, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu vàthống nhất quản lý; còn cá nhân, hộ gia đình và các chủ thể khác trong xãhội được công nhận cóQSDĐ. Do vậy, cánhân, hộ gia đình và các chủ thểkhác xác lập HĐTCTS thì đối tượng tặng cho là“QSDĐ”mà không phải là“đất đai”. Vìlẽ đó, cần phải sửa đổi quy định này để thống nhất với quy định trong Hiến pháp vàđúng với đối tượng tặng cho tài sản.
Thứhai,Điều luật quyđịnh điều kiện “đấtkhông cótranh chấp”còn chung chung, gây khó khăn cho việc áp dụng. Quy định này cóthể dẫn tới hai cách hiểu khác nhau:
Một là, khái niệm tranh chấp đất đai được quy định tại khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai 2013: “tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệđấtđai”. Theođịnhnghĩa này, “tranh chấpđất đai có phạm vi
rộng bao gồm nhiều loại tranh chấp khác nhau như tranh chấp vềquyền sởhữu đối với quyền sửdụng đất, tranh chấp vềcác quyền và nghĩa vụtrong hợp đồng có đối tượng quyền sử dụng đất; tranh chấp về các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;
tranh chấp về tài sản gắn liền với đất…” [172]. Do đó, với những trường hợp mặc dùđã xác định rõchủsởhữuQSDĐ nhưng lại cótranh chấp liên quan khác như tranh chấp về việc mở lối đi trên đất, tranh chấp liên quan đến việc khai thác đất không đúng
pháp luật gây thiệt hại cho các gia đình xung quanh…thì QSDĐ này cũng khôngthểtrở thành đối tượng của HĐTCTS;
Hai là,chỉkhi đất bịtranh chấp vềquyền sởhữu mới không thểtrởthành đối tượng của tặng cho tài sản; cònvớicác dạng tranh chấp khác không liên quan đến quyền sở hữu, chủ sở hữu được quyền tặng cho QSDĐ.
Đểhiểu chính xác nhất vềđiều kiện này thìcần phải lýgiải điều kiện tặng cho
dựa trên mục đích của HĐTCTS. Mục đích của HĐTCTS là chuyển giao quyền sở hữu; do vậy, với các tranh chấp không liên quan đến quyền sởhữu, bên tặng cho được
quyền tặng cho QSDĐ thuộc sở hữu của họ mà không gây ra bất kìmột hậu quả pháp lýbất lợinào đối với bên đang có tranh chấp với bên tặng cho. Ví dụ: Ông Nguyễn Văn T và bà Trần Vân B đang tranh chấp nhau về lối đi; bà B cho rằng bàcóquyền được mởlốiđi trênđất nhà ông T nhưng ông T không đồngý. Khi tranh chấp chưa được giải quyết, ông T lập HĐTCTS con gái diện tích đất này. Mặc dùQSDĐ màông T tặng cho con gái đang bịtranh chấp nhưng đâylà tranh chấpvềlốiđi mà không phải làtranh chấp về quyền sở hữu nên ông T hoàn toàn có quyền tặng cho màkhông phải chịu sự hạn chế của pháp luật.
Để tránh các cách hiểu không thống nhất như hiện nay vànhằm hạn chế việc giải quyết trái ngược giữa các tòa án liên quanđến vấn đề này thìLuật Đất đainăm 2013 cần cósự sửa đổi điều kiện này, theo đó quyền sử dụng đất không thuộc diện đang cótranh chấpvềquyền sởhữuđủđiện kiện đểtrởthành đối tượng trong các giao dịch dân sự nói chung và trong HĐTCTS nói riêng. Sự sửa đổi này sẽ giúp các chủ thể xácđịnh được thời điểm QSDĐ bị tranh chấp làtại thời điểm xác lập giao dịch thông qua từ“đang”;còn với các tranh chấp về quyền sở hữu đã xảy ra vàkết thúc thìnhàở vẫn đủ điều kiện để tặng cho. Bên cạnh đó, sự sửa đổi này đã xác định vàgiới hạn rõloại
tranh chấp làtranh chấp về quyền sở hữu QSDĐ; còn đối với các tranh chấp khác thìkhông làm ảnh hưởng tới việc xác lập HĐTCTS của chủ thể sử dụng đất.
(iii) QSDĐ không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
Vấn đề kêbiên QSDĐ để bảo đảm thi hành án được ghi nhận cụ thể tại Luật Thi hành án dân số 26/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội, được sửa đổi, bổsungbởiLuậtsố64/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 (Sau đâygọi tắt là“Luật Thi hành án dân sự”). Tại Điều 110, Điều 111 Luật Luật Thi hành án dân sựquy định: Chấp hành viên chỉ kêbiên QSDĐ của người phải thi hành án thuộc trường hợp được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai. Việc kêbiên QSDĐ phải lập biên bản ghi rõvị trí, diện tích, ranh giới thửa đất được kêbiên, cóchữkýcủa những người tham gia kêbiên. Nếu trên đất không cótài sản thìviệc kêbiên chỉ áp dụng đối với QSDĐ. Còn trường hợp khi kêbiên QSDĐ cótài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án sẽ kêbiên cả QSDĐ vàtài sản gắn liền với đất.
Một vấn đề ngược lại được đặt ra làđối với trường hợp kêbiên tài sản gắn liền với đất thìQSDĐ có đương nhiên thuộcđốitượng bịkêbiên theo hay không? Nội dung này được giải quyết theo Điều 94 Luật Thi hành án dân sự, “khi kêbiên tài sản làcông trình xây dựng gắn liền với đất phải kêbiên cả QSDĐ, trừ trường hợp QSDĐkhông được kê biên theo quyđịnhcủa pháp luật hoặc việc tách rời tài sản kêbiên vàđất không làm giảm đáng kể giátrị tài sản đó”. Kể từ thời điểm QSDĐbị kê biên đểbảo đảm việc thi hành án, chủ sở hữu QSDĐ không được phép xác lập các giao dịch bao gồm cả HĐTCTS.
(iv) Trong thời hạn sử dụng đất.
Khoản 2 Điều 15 Luật Đất đai năm 2013 ghi nhận, Nhà nước quy định thời hạn sử dụng đất bằng các hình thức sau đây: (a) Sử dụng đất ổn định lâu dài; (b) Sử dụng đất cóthời hạn. Khi xác lập HĐTCQSDĐ, cả bên tặng cho và bên được tặng cho đều phải kiểm tra thời hạn sử dụng đất. Nếu đất thuộc trườnghợp được sử dụng ổn định, lâu dài, các bên hoàn toàn yên tâm về thời hạn sử dụng đất. Tuy nhiên, nếu đất thuộc trường hợp sửdụng cóthời hạn, bên tặng cho chỉđược phép tặng cho QSDĐ cho người khác khi họ còn thời hạn sử dụng đất.
Tóm lại, QSDĐ làđốitượng của HĐTCTS phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện sau đây: (i) CóGiấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhàở vàtài sản khác gắn liền với đất; (ii)Đất không cótranh chấp; (iii) QSDĐ không bịkê biên đểbảo đảmthi hành án; (iv) Trong thời hạn sử dụng đất.
Bên cạnh QSDĐ, nhà ở cũng là một trong các đối tượng phổ biến của HĐTCTS. Nhàở làcông trình xây dựng với mục đích để ở vàphục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộgia đình, cá nhân (khoản 1Điều3 LuậtNhàởnăm 2014). Việc tặng chonhàởkhông chỉtuânthủcác quyđịnh chung vềtặng cho trong BLDS năm 2015 mà còn phải đáp ứng các điều kiện được quy định trong Luật Nhàở năm 2014. Theo khoản 1Điều 118 Luật Nhàở năm 2014, nhà ở là đối tượng của giao dịch dân sự nói chung vàcủa HĐTCTS nói riêng phải thỏa mãn các điều kiện sau đây:
(i) Có Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật.
Đâylà loại giấytờxác minh quyền sởhữu hợp pháp của bên tặng cho nhàở. Điều này cũng hạn chế được thấp nhất các trường hợp bên tặng cho cố ý tặng cho nhàởkhông thuộc sởhữu của mình; đồng thời, bên được tặng cho cóthểkiểm tra được chủ sở hữu đích thực đối với nhàở màhọ được tặngcho. Riêngđối với trường hợp tổchức thực hiện tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương, hình thức của hợp đồng không bắt buộc phải cógiấy chứng nhận QSDĐ (điểm b khoản 2 Điều 118 Luật Nhàởnăm 2014). Điều này hoàn toàn phùhợp vớithực tếtại Việt Nam cũng nhưthểhiện được tinh thần nhân văn của pháp luật.
Theo khoản 1 Điều 9 Luật Nhàở năm 2014:“Nhà ở được cấp Giấy chứng nhận phải lànhà ở cósẵn”.Như vậy, nhàở hình thành trong tương lai không được cấp giấy chứng nhận. Điều nàyđồng nghĩa với việc các bên chủthểkhông được xác lập HĐTCTS đối với nhàở hình thành trong tương lai, trừ nhà tình nghĩa, nhà tình thương.Điều này cũng được thể hiện tại Điều 2 Điều 118 Luật Nhàở năm 2014, “giao dịch vềnhàởsau đây thì nhàởkhông bắt buộc phải cóGiấy chứng nhận: a) Mua bán, thếchấp nhàở hình thành trong tương lai; b) Tổ chức thực hiện tặng cho nhàtình nghĩa, nhà tình thương; c) Mua bán, thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; mua bán, thuêmua nhàởxãhội, nhàởđểphục vụtái địnhcư không thuộc sởhữu nhà nước; bán
nhàở quy định tại khoản 4 Điều 62 của Luật này;d) Cho thuê, cho mượn, choở nhờ, ủy quyền quản lý nhàở; đ)Nhận thừa kế nhàở”.
(ii) Không thuộc diện đang có tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện về quyền sở hữu; đang trong thời hạn sở hữu nhàở đối với trường hợp sở hữu nhàở có thời hạn;
Điều kiện này thực chất là sự tích hợp của hai điều kiện cụ thể sau đây:
Một là,nhàởkhông thuộc diện đang có tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện vềquyền sở hữu.
Mục đích của HĐTCTS làchuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản, do vậy nhàở đangbịtranh chấp về quyền sở hữu không thể trở thành đối tượng tặng cho. Cũng cùng tính chất với điều kiện tặng cho QSDĐ được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 188 LuậtĐấtđai năm 2013, nhưng quyđịnhnàyđược ghi nhận chính xác vàcụthểhơn, điềunàyđược thểhiện như sau: một là, Điều luật này ghi nhận “Nhàởkhông
thuộc diện đangcó…”. Từ“đang”đã xác định thời điểm xảy ra tranh chấp làtại thời điểm xác lập giao dịch; còn với các tranh chấp về quyền sở hữu đã xảy ra vàkết thúc thìnhàở vẫn đủ điều kiện để tặngcho; hai là, quy định này đã xác định vàgiới hạn rõloại tranh chấp là“tranh chấp về quyền sở hữu”.
Hai là, đang trong thời hạn sở hữu nhàở đối với trường hợp sở hữu nhàở cóthời hạn
Trường hợp bên tặng cho sở hữu nhàvôthời hạn, nhàở luôn luôn thỏa mãn điều kiện về thời hạn sở hữu. Tuy nhiên, khi xác lập HĐTCđối với nhàở cóthời hạn, cảbên tặng cho và bên được tặng cho đều cần kiểm tra về thời hạn sở hữu nhàở để qua đó xác định bên tặng cho cóquyền được tặng cho nhàvàthời gian còn lại màbênđược tặng cho được sở hữu nhàở.
(iii) Không bị kê biên để thi hành án hoặc không bị kê biên để chấp hành quyết định hành chính đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
Điều 95 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quyđịnh về việc kê biên nhà ở như sau:
– Việc kêbiên nhàở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉđược thực hiện sau khi xác định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kêbiên nhàởđể thi hành án.
– Khi kêbiên nhàở phải kêbiên cả QSDĐ gắn liền với nhà ở. Trường hợp nhàởgắn liềnvớiđất thuộc quyền sửdụng của người khác thìchấp hành viên chỉkêbiên nhàởvàQSDĐđểthi hành án nếungười cóQSDĐđồngý. Trường hợp ngườicóQSDĐ không đồng ý thìchỉ kêbiên nhàở của người phải thi hành án, nếu việc tách rời nhàở và đất không làm giảm đáng kể giá trị căn nhà.
Với các trườnghợp nhàởđã bị kêbiên để thi hành án hoặc bị kêbiên để chấp hành quyết định hành chính đã có hiệu lực pháp luật, chủ sở hữu nhà không được phép
tặng cho nhàcho chủthểkhác. Quyđịnhnày nhằm ngăn cản hành vi tẩután tài sản của chủ thể có nhà bị kê biên.
(iv) Không thuộc diện đã có quyết định thu hồi đất, cóthông báo giải tỏa, phádỡnhàở của cơ quan có thẩm quyền.
Thu hồi đất làviệc Nhà nước quyết định thu lại QSDĐcủa người được Nhà nước trao QSDĐ hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai (khoản 11 Điều 11 Luật Đất đai năm 2013). Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: (a) Thu hồi đất vìmục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xãhội vìlợi ích quốc gia, công cộng; (b) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; (c) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, cónguy cơ đe dọa tính mạng con người (Điều 16 Luật Đất đai năm 2013). Khi QSDĐbịthu hồi thì các bên khôngđược phép xác lập HĐTC đốivới QSDĐvànhàởđược xây dựng trên đất. Trường hợp các bên cố ý xác lập HĐTC nhàở nằm trên QSDĐ thuộc diện thu hồi thì hợp đồng này bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật.
Đối với trường hợp giải tỏa, phádỡnhàở, Điều 92 Luật Nhàởnăm 2014 quyđịnh như sau:
– Nhàở bị hư hỏng nặng, có nguy cơ sập đổ, không bảo đảm an toàn cho người sử dụng đã có kết luận kiểm định chất lượng của cơ quan quản lý nhàở cấp tỉnh nơi cónhàở hoặc trong tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai.
-Nhàởthuộc trường hợp quyđịnh tại khoản 2 Điều 110 của LuậtNhàởnăm 2014.
– Nhàở thuộc diện phải giải tỏa để thu hồi đất theo quyết định của cơ quan nhànước có thẩm quyền.
-Nhàởxây dựng trong khu vực cấmxây dựng hoặc xây dựng trên đất không phải là đất ở theo quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
– Nhàở thuộc diện phải phá dỡ theo quy định của pháp luật về xây dựng.
Đối với nhàởthuộc diện giải tỏa, thu hồi thìchủsởhữukhông được xác lập HĐTCTS.
Xét về phương diện hình thức sở hữu, nhà ở cóthể thuộc hình thức sở hữu chung hoặc hình thức sở hữu riêng. Với trường hợp nhàở thuộc hình thức riêng, chủ sở hữu được tự quyết định việc tặng cho mà không phụ thuộc vào ý chícủa các chủ thể khác. Còn đối với nhàở thuộc sở hữu chung, việc tặng cho được quy định như sau:
– Trường hợp tặng cho nhàở thuộc sở hữu chung hợp nhất cần phải được sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung (khoản 1 Điều 137 Luật Nhàở năm 2014).
– Trường hợp tặng cho nhàở thuộc sở hữu chung theo phần, chủ sở hữu chỉ được tặng cho phần nhàở thuộc quyền sở hữu của mình và không được làm ảnh hưởng đến
quyền vàlợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu nhàở thuộc sở hữu chung khác (khoản 2 Điều 137 Luật Nhàở năm 2014). Quy định này tồn tại hai điểm hạn chế sau đây:
(i)Điều luậtsửdụng thuật ngữ“tặng cho phần nhàở”làkhông chính xác vàkhông có sự nhất quán với Điều 218 BLDS năm 2015:
Khoản 1 Điều 218 BLDS năm 2015 quy định:“Mỗi chủsở hữu chung theo phần cóquyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình”. Theo quy định này, việc định đoạt tài sản chung không phải địnhđoạt “phần tài sản (phần nhàở)”mà“định đoạt phần quyền sở hữu”– việc sử dụng thuật ngữ như trong BLDS năm 2015 là hoàn toàn chính xác. Bởi với các tài sản chung, đặc biệt làtài sản không thể phân chia (ôtô, xe máy, một sốnhàở) thìcác đồng sởhữukhông thểtrực tiếp định đoạt với “phần tài sản” được (khôngthểtháo rời một sốbộphận ô tô, xe máyđểđịnh đoạt). Nên thực chất, quyền định đoạt của đồng sở hữu thực chất là định đoạt phần quyền sở hữu của mình mà không phải là định đoạt phần tài sản.
(ii)Điều luật sửdụng thuật ngữ“tặng cho phần nhàở”chỉáp dụng được với trường hợp nhàở phân chia được theo phần. Còn đối với nhàở không phân chia được theo phần thìchủ sở hữu không thể tặng cho phần nhàở của mình cho người khác. Vídụ2: A, B cùng góp tiền mua chung mộtcăn hộchung cư mini rộng 45 m2, gồm1 phòng khách, 1 phòng ngủ, 1 phòng bếp và1 nhàtắm tích hợp nhàvệ sinh. Sau một thời gian, A đi du họcnước ngoài nên muốn tặng cho lại phần nhàởcủa mình cho người em trai của A. Trường hợp này A không thể tặng cho “phần nhàở” vì toàn bộcăn nhà đều thuộc sởhữu chung của A, B vàA, B cùng khai thác,sửdụng toàn bộdiện tích căn nhà. Do đó, trường hợp này không thể nào sử dụng thuật ngữ “tặng cho phần nhà ở” mà thực chất A tặng cho “phần quyền sở hữu đối với căn nhà” cho người em trai.
Nhằm thống nhất với quy định trong BLDS năm 2015 và đảm bảo sự chính xác của thuật ngữ, khoản 2 Điều 137 Luật Nhàở năm 2014 cần sử dụng cụm từ “tặng cho phần quyền sở hữu đối với nhàở” thay cho cụm từ“tặng cho phần nhàở”.
Bên cạnh các đối tượng tặng cho làtiền, vật, các quyền tài sản cũnglà đối tượng
tặng cho phổ biến trên thực tế như QSDĐ. Ngoài ra, các bên có thể thỏa thuận về việc tặng cho quyền đòi nợhay thực chất chính chính làviệc chuyển giao quyền yêu cầu đối với “quyền đòi nợ”mà việc chuyển giao này không có đền bù. Điều này được hiểu, bên được chuyển giao không phải trả bất cứ một khoản tiền nào cho bên chuyển giao. Ngược lại với tặng cho quyền đòi nợlà trường hợp mua bán quyền đòi nợ,bên mua
phải trảmột khoản tiền cho bên bán quyền. Trong sốcác quyền tài sản, chiếmvịtríquan trọng vàphổbiến nhất làquyền tài sảnđối với đối tượng quyền sởhữu trítuệ. Trong Luật Sở hữu trítuệ (sửa đổi) năm 2009 chỉ quy định về chuyển giao các quyền sởhữu trítuệ với hai nhóm chính làchuyển nhượng quyền sởhữutrítuệ vàchuyển quyền sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ. Các vấn đề liên quan đến tặng cho quyền sở
hữu trítuệ còn thiếu vắng, không đượcghi nhận trong LuậtSởhữutrítuệ (sửa đổi) năm 2009. Mặc dù cơ sở pháp lýtrực tiếp để xác lập, thực hiện HĐTC quyền sở hữu trítuệ chưa có nhưng theo nguyên tắc chung luật dân sự, các chủ thể được làm nhữngđiều màpháp luật không cấmnên các bên chủthểhoàn toàn cóthểxác lập HĐTC quyền sở hữu trí tuệ với nhau.
2.1.2. Chủ thể, quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong hợp đồng tặng cho tài sản Chủ thể của HĐTCTS gồm bên tặng cho và bên được tặng cho. BLDS năm 2015
thừa nhận chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự nói chung vàcủa HĐTCTS nói riêng gồm cá nhân và pháp nhân.
Bên tặng cho với tư cách là người định đoạt tài sản màkhông có lợi ích còn bênđược tặngcho với tư cách là người được hưởng lợi từ HĐTCTS nênđiều kiện để xác lập, thực hiện HĐTCTS của hai chủ thể này là khác nhau.
2.1.2.1. Bên tặng cho và quyền, nghĩa vụ của bên tặng cho * Bên tặng cho tài sản
(1) Đối với trường hợp bên tặng cho là cá nhân
Cá nhân tặng cho phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự phù hợp với loại HĐTCTSđược xác lập. Cánhân tặng cho tài sảnđược phân chia theo các nhóm sau đây:
Thứ nhất, người tặng cho tài sản đã thành niên
Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên (khoản 1 Điều 20 BLDS năm 2015). Tư cách tặng cho tài sản của người thành niên được xác định theo các trường hợp sau:
(i) Người tặng cho đã thành niên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự; do vậy, họ được quyền xác lập, thực hiện mọi loại
HĐTCTS, bao gồm cả HĐTC bất động sản như QSDĐ, nhàở…hay HĐTC động sản phải đăng ký sở hữu như ô tô, xe máy.
(ii) Người tặng cho tài sản bị hạn chế năng lực hành vi dân sự: việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người hạn chế năng lực hành vi dân sựphải cósự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác.
(iii) Người tặng cho tài sản có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi: Phạm vi đại diện vàthẩm quyền đại diện của người giámhộcho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phụ thuộc vào quyết định của tòa án. Do vậy, người cókhókhăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được tự mình tặng cho tài sản hay không phụthuộc vào nội dung giám hộ trong quyết định của tòa án.
Lần đầu tiên trong BLDS nước ta quy định về người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi vàsự ghi nhận này có ý nghĩa quan trọng đối với HĐTCTS. Thực tế
tại nước ta đã xảy ra nhiều vụ việc cha mẹ giàtặng cho tài sản cho nhà đất cho con cái.
Sau một thời gian được tặng cho, người con cóhành vi bất hiếu, đánh đập, không chăm sócbốmẹ,thậm chícónhững trường hợp đuổi bốmẹra khỏi nhà.Điểnhình nhưvụviệc: “Haivợchồng sinh được 02 người con trai đều đã trưởng thành. Đến năm 2010, hai vợchồng cómua một căn nhà và đất với giátrị khoảng 1,4 tỷđồng. Lúc làm cácthủtục chuyển nhượng, mua bán đấtthì2 vợchồng thống nhất lấy tên con trai đầu, vìmuốn để dành phần tài sản để sau này trông nom bố mẹ. Nhưng gần đây, do mâu thuẫn gia đình, người con trai cả đuổi bố mẹ ra khỏi nhà” [173]. Đối với những trường hợp này, cha mẹ muốn đòi lại nhàvìlýdo khi tặng cho họ không minh mẫn, sáng suốt hay lú lẫn nhưng không có cơ sở pháp lý để thực hiện. Với sự bổ sung quyđịnh vềngười có khó khăn trong nhận thức, làmchủhành vi thìnhóm những người giàkhông còn minh mẫn, sáng suốt đủ điều kiện mà cóyêu cầu thìtòa án sẽ ra quyết định tuyên bố người này là người cókhó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi vàchỉđịnh người giámhộcho họ.Thông qua đó, nếu nhóm người già đã được xácđịnh là có khó khăn trong nhận thức, làmchủhành vi màxác lập, thực hiện các HĐTCQSDĐ hoặc nhàở thì có cơ sở để yêu cầu tòa án tuyên bố HĐTC vô hiệu.
Người mất năng lực hành vi dân sự: Người mất năng lực hành vi dân sự là người hoàn toàn không cókhảnăng nhận thức vàlàmchủhành vi. Do vậy, mọi giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Tuy nhiên, người đại diện theo pháp luật không được phép mang tài sản của người bị mất năng lực hành vi dân sự tặng cho chủ thể khác [3, Điều 59]. Điều này làhoàn toàn phù hợp, các giao dịch dân sự do người đại diện theo pháp luật xác
lập, thực hiện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự đều nhằm mục đích vì lợi ích của người bịmất năng lực hành vi dân sự. Trong khi đó, việc tặng cho tài sản của người bị mất năng lực hành vi dân sự làm suy giảm một cách đáng kể khối lượng tài sản của những người này, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của họ trong bối cảnh họ không thể tự mình tạo ra thu nhập để nuôi sống bản thân nên trên thực tế gần như không có trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự với tư cách là bên tặng cho tài sản cho tài sản chủ thể khác.
Thứ hai, người tặng cho tài sản chưa thành niên
Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi (khoản 1 Điều 21 BLDS năm 2015). Người chưa thành niên là chủ thể tặng cho tài sản gồm các trường hợp sauđây:
(i) Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi: theo quy định của pháp luật, nhóm người này khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phùhợp với lứa tuổi. Giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày là những giao dịch không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi cánhân nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu
của mỗicon người như ăn, uống, mặc…Xétvềmụcđích của tặng cho, HĐTCTS có
thể được coi làgiao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày khiđối tượng
tặng cho là đồ ăn, thức uống hoặc các vật dụng sinh hoạt hằng ngày như quần áo, sách, bút, vở…Nhưng với tư cách là bên tặng cho tài sảnthì HĐTCTS thường hiếm khiđược xácđịnhlàhợpđồngnhằm phục vụnhucầusinh hoạt hằng cho bên tặng
cho…thậm chí còn làm giảm sút đáng kể tài sản của người tặng cho.
(ii) Người từđủmườilăm tuổi đến chưa đủmười tám tuổi: nhóm nàyđược quyền tự mình xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự, trừ trường hợp tặng cho QSDĐ,
nhàởhay tặng cho động sản phải đăng ký sởhữu như ô tô, xe máy…phải được sựđồng ý của người đại diện theo pháp luật.
(iii) Người chưa đủ 6 tuổi: Cũng giống như người mất năng lực hành vi dân sự, mọi giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự và người dưới 6 tuổi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Tuy nhiên, người đại diện theo pháp luật không được phép mang tài sản của người chưa đủ 6 tuổi đi tặng cho chủ thểkhác [3, Điều 59].
Trong BLDS năm 2015, các quy định về điều kiện của chủ thể tặng cho tài sản không được ghi nhận riêng màáp dụng theo quyđịnh chung củagiao dịch dân sự. Khác với Việt Nam, bên cạnh các quy định chung về chủ thể xác lập hợp đồng, BLDS Pháp quy định điều kiện riêng đối với chủ thể tặng cho tài sản. Theo đó, vì người tặng cho định đoạt tài sản mà không thu lại được bất kì một lợi ích nào nên năng lực thiết lập giao dịch tặng cho tài sản của người nàyđược quyđịnh rất chặt chẽ, người chưa thành niên dưới 16 tuổi không cóquyền định đoạt tài sản thông qua việc tặng cho trừmột sốtrường hợp theo quyđịnh của luật. Ngược lại, theo pháp luật nước ta, người chưa thành niên dưới 16 tuổi vẫn có thể xác lập một số HĐTCTS.
(2) Đối với trường hợp bên tặng cho là pháp nhân
Thực chất, pháp nhân thường xác lập, thực hiện HĐTCTS thông qua công tác
làmtừthiện, trao họcbổng…..Bản chất củaviệc làmtừthiện chính làviệc xác lập
HĐTCTS giữa cá nhân, tổ chức làm từ thiện với các đối tượng được nhận quà từ thiện.
Như vậy, vềnguyên tắc, pháp nhân cóthểtặng cho tài sảncủa pháp nhân, bao gồmcảtặng cho độngsản vàtặng cho bất động sản. Việc tặng cho tài sảncủa pháp nhân phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và Điều lệ của pháp nhân. Kể từ thời điểm pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự thìpháp nhân cóquyền tặng cho tài sản. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp, pháp nhân đều cóquyền tặng cho tài sản, cụ thể một số trường hợp sau đây pháp nhân không được phép tặng cho tài sản:
(i) Pháp nhân không được phép tặng cho tài sản khi lâm vào tình trạng phásản. Theo quyđịnh tại khoản 1 Điều 59 Luật Phásản năm 2014, giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xãmấtkhảnăng thanh toán được thực hiện trong thời gian 06 tháng trước ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mởthủtụcphásản bịcoi làvôhiệu nếu
thuộc trường hợp tặng cho tài sản. Điều này có nghĩa, trong khoảng thời gian 6 tháng trước ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phásản, pháp nhân khôngđược mang tài sản của pháp nhân đi tặng cho chủ thể khác; nếu pháp nhân vẫn xác lập, thực hiện HĐTCTS với tư cách là bên tặng cho thìHĐTCTSbịcoi làvôhiệu. Việc cấm pháp nhân không được phép tặng cho tài sản khi mở thủ tục phásản nhằm mục đích bảo toàn tài sản của pháp nhân không bị tẩu tán, qua đó bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các chủ nợ của pháp nhân đang lâm vào tình trạng phá sản.
(ii) Pháp nhân không được phép tặng cho tài sảnkhi tiến hành thủtục giảithểdoanh nghiệp. Theo quyđịnhtại điểmđ khoản 1 Điều 205 Luật Doanh nghiệp năm 2015, kể từ khi cóquyết định giải thể doanh nghiệp, nghiêm cấm doanh nghiệp, người quản lýdoanh nghiệp thực hiện việc tặng cho tài sản(ngược lại doanh nghiệp đang tiến hành giải thể vẫn cóthể được nhận tài sản do chủ thể khác tặng cho). Cũng giống như khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phásản, việc nghiêm cấm doanh nghiệp tặng cho tài sảnsau khi cóquyết định giải thểnhằm bảo toàn tài sảncủa doanh nghiệp, tránh việc doanh nghiệp tẩu tán tài sản gâyảnh hưởngđến quyền lợi chính đáng của chủ nợ.
Các quy định về năng lực chủ thể của cánhân, pháp nhân tặng chođược áp dụng chung đối với mọi trường hợp tặng cho tài sản. Riêng đối với trường hợp tặng cho QSDĐ và tặng cho nhà ở thìchủ thể tặng cho còn tuân theo các quy định riêng được ghi nhận tại Luật Đất đai năm 2013 và Luật Nhàở năm 2014.
Đối với bên tặng cho QSDĐ:
Thứ nhất, liên quan đến tư cách tặng cho QSDĐ của hộ gia đình
Khác với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 không thừa nhận hộgia đình, tổhợp tác làchủ thể độc lập của quan hệ pháp luật dân sự; do vậy, chủ thể của HĐTCTS nói chung chỉ bao gồm cánhân vàpháp nhân. Riêng đối với tặng cho QSDĐ, chủ thể
tặng cho chưa được hiểu thống nhất:
(i)Hộgia đìnhđược xác định làchủthểtrong các hợp đồng vềquyềnsửdụng đất, trong đó bao gồm HĐTCQSDĐ.
Theo quy định tại khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013: “Hộ gia đình sử dụngđấtlànhững người cóquan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có QSDĐ chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ; nhận chuyển QSDĐ”. Tại Điều 55, Điều 55, Điều 56 Luật Đất đai năm 2013 cũng ghi nhận hộ gia đình là chủ thểđược Nhà nước giao đất theo một trong hai hình thức không thu tiền sử dụng đất, cóthu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất. Qua các quy định này cóthể thấy, Luật Đất đai năm 2013 vẫn thừa nhận hộ gia đình là chủ thể trong các quan hệ sử dụng đất đai. Với tư cách là chủthểsửdụng đất, hộgia đìnhđược thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuêlại, thừa kế, tặng cho,thếchấp, gópvốnQSDĐ
(Điều 167 Luật Đấtđai năm 2013). Như vậy, dựa trên các căn cứpháp lýđược quyđịnh trong Luật Đất đai năm 2013 thì hộ gia đình được thừa nhận làchủ thể tặng cho và được tặng cho trong HĐTCQSDĐ.
(ii)Hộgia đình khôngđược xác địnhlàchủthểtrong các giao dịch dân sựnói chung, trong đó bao gồm HĐTCQSDĐ.
Nhận định này bắt nguồn từkhoản 1 Điều101 BLDS năm 2015:“Trường hợp hộ gia đình,tổhợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệdân sự thìcác thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân làchủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịchdân sự”.Theo quy định này, hộgia đình không được thừa nhận làchủ thể trong các quan hệ dân sự mà chủ thể chính là các thành viên của hộ gia đình (với tư cách cá nhân).
Sự không thống nhất giữa Luật Đất đai năm 2013 và BLDS năm 2015 liên quanđến chủ thể hộ gia đình trong quan hệ sử dụng đất đã gây ra nhiều lúng túng trên thực tế cho các cơ quan thực thi pháp luật, áp dụng pháp luật cũng như cho chính các bên trong HĐTCTS. Nhằm giải quyết tồn tại này, việc áp dụng khoản 3 Điều 4 BLDS năm 2015 được viện dẫn để khẳng định đối với lĩnh vực đất đai thì cần áp dụng quyđịnh trong Luật Đất đai năm 2013; qua đó, khẳng định hộ gia đình phải được thừa nhận làchủ thể trong HĐTCTS.
Ngược lại, theo quan điểm của NCS, các quy định trong Luật Đất đai năm 2013 chỉđược áp dụng giải quyết các quan hệđất đai mang tính chất quản lýhành chính giữa cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền và người sử dụng đất (như quan hệ trong việc giao đất, cấp đất, cấp sổ đổ, thu hồi đất, thu thuế sử dụng…). Điều này cũng được thểhiện thông qua Điều 1 Luật Đất đai năm 2013: “Luật nàyquyđịnhvề chế độ sở hữu đất đai, quyền hạn vàtrách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lývềđất đai, chếđộquản lývàsửdụng đất đai, quyền vànghĩa vụ của người sử dụng đất đối với đất đai thuộc lãnhthổ của nước Cộnghòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam”. Do đó, với các giao dịch dân sự được “hình thành trên cơ sởbình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản vàtự chịu trách nhiệm” [3, Điều 1] bao gồm cảHĐTCTS phải chịu sựđiều chỉnh của BLDS năm 2015. Như vậy, chủthểcủa HĐTCTS trong trường hợp tặng cho QSDĐ của hộgia đình được xác định làcác thành viên của hộ gia đình.
Thứ hai, các trường hợp hộ gia đình, cá nhân chuyển nhượng, tặng cho quyền sửdụng đất có điều kiện
Theo quy định tại Điều 192 Luật Đất đai năm 2013, trong một số trường hợp, bên
tặng cho QSDĐ khôngđược quyền tự ý tặngcho QSDĐ của họ cho chủ thể khác màphải tuân theo quy định của luật về chủ thể được tặng cho hoặc thời gian tặng cho, cụthể:
(i)Hộgia đình, cá nhân đang sinh sống xenkẽtrong phân khu bảo vệnghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng nhưng chưa có điều kiện chuyển ra khỏi phân khu đó thì chỉ được tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất rừng kết hợp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản cho hộgia đình, cá nhân sinh sống trong phân khu đó;
(ii)Hộgia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất ở, đấtsản xuất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ thìchỉ được tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ đó;
(iii)Hộgia đình, cá nhân là dân tộc thiểu số sử dụng đất do Nhà nước giao đất theo chính sách hỗ trợ của Nhà nước thì được tặng cho quyền sử dụng đất sau 10 năm, kể từ ngày có quyết định giao đất theo quy định của Chính phủ
Đối với bên tặng cho nhàở:
Điều 119 Luật Nhàở năm 2014 quy định về điều kiện của các bên tham gia giao dịch về nhàở nói chung và HĐTC nhà ở nói riêng như sau:
Thứ nhất, bên tặngcho nhàở làchủ sở hữu nhàở hoặc người được chủ sở hữu cho phép, ủyquyền đểthực hiện giao dịch tặng chovềnhàở. Đâylà điềukiện tặng cho đối với mọi loại tài sản nói chung, trong đó bao gồm cả nhàở;
Thứ hai, nếu làcánhân tặng cho thìphải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự đểthực hiện giao dịch về nhàở theo quy định của pháp luật dân sự. Như vậy, điều kiện vềnăng lực hành vi dân sựcủa bên tặng cho nhàởđược đặt ra khắt khe hơn so với tặng cho các tài sản thông thường khác. Nếu làtổ chức thìphải có tư cách pháp nhân, trừ trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương.
* Quyền và nghĩa vụ bên tặng cho tài sản
Quyền và nghĩa vụ của bên tặng cho tài sản được thể hiện thông quamột số nội dung cụ thể sau đây:
– Nghĩa vụ chuyển giao tài sản tặng cho của bên tặng cho.
Chuyển giao tài sảntặng chođược xác định là nghĩavụcủa bên tặng cho hay không phụ thuộc vào thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho. Trường hợp HĐTCTS có hiệu lực tại thời điểm bàn giao xong tài sản tặng cho thìviệc chuyển giao tài sản không được xác định là nghĩa vụ của bên tặng cho. Tuy nhiên, đối với trường hợp tặng cho động sản không phải đăng ký sở hữu, khoản 1 Điều 458 BLDS năm 2015 quy định như sau: “HĐTCTSđộngsản cóhiệu lực kể từ thời điểm bên được tặngcho nhận tài sản, trừtrường hợp cóthỏa thuận khác”. Theo quyđịnh này, nếu bên tặng cho và bên được tặng cho thỏa thuận thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng sớm hơn so với thời điểm chuyển giao tài sản thìviệc chuyển giaotài sản được xác địnhlànghĩa vụ của bên tặng cho tài sản. Vídụ: A tặng cho B 100 triệu đồng vàhai bên thỏa thuận HĐTCTS có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết. Trong trường hợp này, A có nghĩa vụ chuyển giao 100 triệu đồng cho B.
– Nghĩa vụ thông báo khuyết tật của tài sản tặng cho.
Việc thông báo cho bên được tặng cho biết các khuyết tậtcủatài sản giúp cho bên được tặngcho cónhững lưu ý cần thiết khi sử dụng tài sản, tránh những thiệt hại không may xảy ra từ chính những khuyết tật đó. Trách nhiệm của bên tặng cho nếu tài sản tặng cho có khuyết tật mà gây ra thiệt hại được xác định như sau:
(i) Trường hợp bên tặng cho biết tàisảncókhuyết tật màkhông thông báo sẽphải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra cho người được tặng cho. Điều 461 BLDS năm 2015 chỉghi nhận trường hợp bên tặng cho biết tài sảncókhuyết tật màkhông thông báo thìphải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra cho người được tặng cho mà chưa dự liệu trường hợp tài sản tặng cho gây ra thiệt hại cho chủ thể khác. (ii) Nếu bên tặng cho không biết vềkhuyết tật của tài sản tặng cho, họkhông
phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Thông thường, đối với những tài sản bên tặng chođãsửdụng thìbên tặng cho là người nắm rõvềtình trạng tài sản, những khuyết tật của tài sản. Do đó, bên tặng cho phải thông báo cho bên được tặng cho biết để họ sửa chữa,khắc phục khuyết tật hoặc có phương thức sử dụng hợp lý đối với tài sản. Trường hợp tài sản tặng cho làtài sản mới (bên tặng mua tài sản tặng cho bên được tặng cho vàbên tặng cho cũng chưa sử dụng) mà cókhuyết tật, tài sản này gây ra thiệt hại cho bên đượctặng cho hoặc chủthểkhác thìbên tặng cho không phải chịu trách nhiệm.
Trong BLDS của các quốc gia trên thếgiới đều ghi nhận vềnghĩavụcủabên
tặng cho tài sản, các nội dung này có điểm tương đồng và có điểmkhác biệt so với BLDS năm 2015. BLDS Nhật Bản quy định tương đối giống BLDS năm 2015 về trách nhiệm của bên tặng cho trong việc thông báo khuyết tật của tài sản tặng cho:“Người tặng biếu không chịu trách nhiệm đối với sự hư hỏng hoặc tính không cóhiệu quả của vật hay quyền tạo thành đối tượng của việc tặng biếu. Song điều này không áp dụngđối với những trường hợp khi người tặng đã biết về sự hư hỏng hoặc tính không hiệu
quả như vậy và đã không thông báo cho người được tặng cho về những nhược điểm đó” (Điều 551 BLDS Nhật Bản). Còn đối với Đức, các luật gia Đức không chỉ quy định vềtrách nhiệm của bên tặng cho khi không thông báo các khuyết tật của tài sản mà còn quyđịnh trách nhiệm của bên tặng cho với các khiếm khuyết pháp lý: “Nếu người
tặng cho cóác ý che giấu một khiếm khuyết về pháp lý thì người đó có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại gây ra cho bên được tặng cho” (Điều 523 BLDS Đức).
– Nghĩa vụ thanh toán chi phí để làm tăng giá trị của tài sản cho bên được tặng cho.
Chủsởhữu cóquyền kiện đòi lại tài sản từngười được tặng cho nếubên tặng cho tặng cho tài sảnkhông thuộc sởhữu củamình cho một chủthểkhác (xemĐiều 166, Điều 167, Điều 168 BLDS năm 2015). Đối với trường hợp tài sản tặng cho vẫn được giữnguyên hiện trạng như ban đầu (không tăng hay giảm sút vềgiátrị), bên
được tặngcho có nghĩa vụ trả lại tài sản cho chủ sở hữu như hiện trạng lúc tài sản rời khỏi chủ sở hữu. Tuy nhiên, thực tế phát sinh nhiều trường hợp khi chủ sở hữu đòi lại tài sản thì bên được tặng cho đã làm tăng giá trị của tài sản. Cách thức giải quyết vấn đề này được ghi nhận tại Điều 460 BLDS năm 2015 như sau: “Trường hợp bên tặng cho cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình mà bên được tặng cho không biết hoặc không thểbiết vềviệc đó thì bên tặng cho phải thanh toán chi phí đểlàm tăng giá trị của tài sản cho bên được tặng cho khi chủ sở hữu lấy lại tài sản”.
Như vậy, nếu bênđược tặng cho đã đầu tưchi phí để làm tăng giá trị của tài sản tặng cho thì bên được tặng cho được quyền yêu cầu bên tặng cho phải thanh toán chi phí đó khi chủ sở hữu đòi lại tài sản nếu thỏa mãn đầy đủ hai điều kiện sau đây:
Một là, bên tặng cho cốýtặng cho tài sảnkhông thuộcsởhữu của mình:điều này được hiểu làbên tặng cho không ngay tình, biết rõtài sản không thuộc sở hữu của họ nhưng vẫn mang đi tặng cho người khác;
Hai là, bênđược tặng cho không biết hoặc không thể biết về việc bên tặng cho không cóquyền tặng cho tài sản: điều này được hiểu là bên được tặng cho ngay tình; bên được tặng cho tin tưởng việc tặng cho làhoàn toàn hợp pháp nên họ đã nhận tài sản tặng cho.
Nếu tài sản tặng cho vàphần đầu tư tăng thêm có thể tách rời nhau thì khi chủ sởhữu đòi lại tài sản bênđược tặngcho cóquyền táchphần mà họ đã đầu tưthêm ra. Dođó, Điều 460 BLDS năm 2015 chỉ áp dụng đối với trường hợp tài sản tặng cho vàphần được đầu tư tăng thêm không thể tách rời nhau.
Bên cạnh các nghĩavụđối vớibên đượctặng cho, bên tặng cho cũng có các quyền năng cụthể. Tuy nhiên, quyền của bên tặng cho không được thểhiện rõnét trong HĐTCTS. Trường hợp HĐTCTS đã có hiệu lực mà bên được tặng cho không nhận tài sản thìbên tặng cho cóquyền yêu cầu họphải nhận tài sản theo như thỏa thuận. Đối với tặng cho tài sản có điều kiện thìbên tặng cho được yêu cầu bên được
tặng cho hoàn thành điều kiện. Nếu bên được tặng cho không hoàn thành điều kiện thìbên tặng cho có quyền đòi lại tài sản tặng cho vàyêu cầu bồi thường thiệt hại.
2.1.2.2. Bên được tặng cho tài sản và quyền, nghĩa vụ của bên được tặng cho * Bên được tặng cho tài sản
Bên được tặngcho tài sản bao gồm cánhân và pháp nhân. Về nguyên tắc, mọi cánhân đều cóthể trở thành bên được tặng cho tài sản. Với những cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thìhọ tự bằng hành vi của mình để xác lập, thực hiện HĐTCTS. Còn với những cá nhân có năng lực hành vi dân sự một phần hoặc không có năng lực hành vi dân sự, việc xác lập, thực hiện HĐTCTS cóthể phải thông qua người đại diện theo pháp luật.
Thứ nhất, đối với cánhân được tặng cho đã thành niên
Cá nhân được tặng cho đã thành niên tham gia giao kết, thực hiện HĐTCTS được xác định theo các trường hợp sau đây:
(i) Cá nhân đã thành niên và có năng lực hành vi dân sựđầyđủđược xác lập, thực hiệnmọiloại HĐTCTS gồm: HĐTC bất độngsản, HĐTC động sản, HĐTC tài sản phải đăng ký hoặc HĐTC tài sản không phải đăng ký sở hữu. Nhóm chủ thể này cóthểtựmình xác lập, thực hiện hoặc ủyquyền chongườikhác thayhọtham gia vào HĐTCTS;
(ii) Cánhân bịhạn chếnăng lực hành vi dân sự:nhóm người nàychỉđược tựmình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày, phùhợp với lứa tuổi. Do đó, với những HĐTCTS có mục đích phục vụcho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì họ được trực tiếp xác lập, thực hiện HĐTCTS mà không cần phải thông qua người đại diện như HĐTC
đồ ăn,sách, bút vở học tập hay tặng choquần áo…Còn đối với cácHĐTCTS không nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chỉ được xác lập, thực hiện HĐTCTS khi phải có sự đồng ý của người đại diện.
(iii)Đối với người có khó khăn trong nhận thức, làmchủhành vi: quyền hạn người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phụ thuộc vào quyết định của Tòa án. Do đó, với các trường hợp người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được tặng cho tài sản thìphải dựa trên quyết định của Tòa để xác định trường hợp nào họ được tự mình xác lập, thực hiện hợp đồng và trường hợp nào cần thông qua người đại diện.
Người mất năng lực hành vi dân sự: với tư cách làngười được tặngcho tài sản, trong mọi trường hợp người đại diện của người mất năng lực hành vi dân sự sẽ xác lập, thực hiện HĐTCTS cho nhóm chủ thể này.
Thứ hai, đối với cá nhân được tặng cho chưa thành niên
Chủthểđược tặng cho cóthểbao gồmcảngười đã thành niên và người chưa thành niên. Đối vớingười chưa thành niên, tư cách đượctặng cho xác địnhtheo các trường hợp sau:
(i) Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi: cũng giống như khi nhóm cá nhân này với tư cách là bên tặng cho, họ có thể tự mình xác lập, thực hiện HĐTCTS với mọi tài sản theo ý chícủa mình. Tuy nhiên, nếu nhóm cá nhân này được tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu hoặc bất động sản thì khi xác lập hợp đồngcần phải cósự đồng ýcủa người đại diện theo pháp luật.
(ii)Ngườitừđủ6 tuổiđến chưađủ15 tuổi: giống với nhómngườibịhạnchếnăng lực hành vi dân sự, người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi chỉ được tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày, phùhợp với lứa tuổi. Bởi vậy, nếu HĐTCTS có mục đích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hằng
ngày như HĐTC đồ ăn, sách, bút vở học tập hay tặng cho quần áo thì họ được trực tiếp xác lập, thực hiện HĐTCTS mà không cần phải thông qua người đại diện
như…Ngược lại, đốivới các HĐTCTS không nhằm mục đích phục vụcho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày, nhóm cánhân này chỉ được xác lập, thực hiện HĐTCTS khi phải có sự đồng ý của người đại diện.
(iii)Đốivớingườichưa đủ6 tuổi: Mọigiao dịch dân sựcủanhững ngườinàyđều do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Do đó, người chưa đủ 6 tuổi khi xác lập, thực hiện HĐTCTS với tư cách là bên được tặng cho đều phải thông qua hành vi của người đại diện.
Cơ chếxác lập, thực hiện HĐTCTScủacá nhân được tặng cho thông qua hai phương thức: (i) Cánhân tựmình xác lập, thực hiện HĐTCTS; (ii) Cánhân xác lập, thực hiện HĐTCTS thông qua người đại diện theo quy định của pháp luật hoặc do các bên thỏa thuận. Đối với phương thức cánhân tự mình xác lập, thực hiện HĐTCTS thìquyền lợi của cá nhân được đảm bảo một cách tốt nhất. Tuy nhiên, với những trường hợp HĐTCTS được xác lập, thực hiện bởi người đại diện thìthực tế đã phát sinh nhiều trường hợp quyền vàlợi ích của người được tặng cho không được bảo đảm. Vídụ: A 5 tuổi, được người hàng xóm tặng cho 3 triệu. B là người đại diện của A không đồng ývới HĐTCTS mà A xác lập nên đã nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu.
HĐTCTS mà người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là bên được tặng cho thìhợp đồng này chỉ làm phát sinh quyền cho họ. Do đó, mặc dùviệc xác lập, thực hiện không đúng theo quy định của luật nhưng hợp đồng không bịtòa án tuyên bốvôhiệu. Đâylà điểmmớibổsung hoàn toàn phùhợp của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005. Khi BLDS năm 2005 đang có hiệu lực thi hành, trên thực tếđã xảyra nhiều trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dânsựđược tặng cho tàisảnnhưng người đại diện vìmẫu thuẫnvớichính người được đại diện hay mâu thuẫn với người tặng cho màkhông xác lập, thực hiện HĐTC; gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi của người chưa thành niên và người mấtnăng lựchành vi dân sự. Hoặc cónhững trường hợp, ngườichưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự tự mình xác lập HĐTCTS với tư cách họ là bên được nhận tài sản nhưng sauđó người đại diện lại yêu cầu tòa án tuyên bố vôhiệu. Với BLDS năm 2005, những hợp đồng này sẽ bị
Tòa án tuyên vôhiệu nhưng theo quy định tại khoản 2 Điều 125 BLDS năm 2015 thìnhững hợp đồng này được công nhận hiệu lực.
Vì BLDS năm 2015 không có quyđịnh riêng vềngười được tặng cho nên vềnguyên tắc, một ngườichỉđược nhận tài sảntặng cho khi ngườiđó đãđược sinh ra. Điều này trái ngược hoàn toàn với quyđịnh tại Điều 906 BLDS Pháp: “Ngườiđược
tặng cho phải là người đã thành thai tạithời điểm tặng cho…Tuy nhiên, chứng thư
tặng cho hoặc di chúc chỉ cóhiệu lực khi trẻ được sinh ra còn sống”. Theo quy định này, kể cả một đứa trẻ chưa được sinh rađã có thể được tặngcho tài sản. Tương đồng với quy định này, Điều 965 của Bộ Dân luật Trung kỳ năm 1936 quy định: “Muốn cótư cách thụ nhận của tặng dữ, thìchỉ cốt đã thành thai trong khi tặng dữ, nhưng người thụtặngấy tấtphải sinh ra màsống…”. BLDS Pháp vàBộDân luật Trung kỳnăm 1936 quy định bên được tặng cho cóthể là thai nhi chưa được sinh ra xuất phát từ lýthuyết phân chia tặng cho thành “Donatio inter vivos” và“Donatio mortis causa”. Theo đó, người được tặng cho phải được quy định tương thích với người được di tặng. Ngược lại, BLDS năm 2015 chưa áp dụng lýthuyết này nên giữa người được tặng cho và người được di tặng quy định không tương thích. Vậy nên cần nghiên cứu về trường hợp tặng tài sản cho thai nhi để mở rộng quyền của bên tặng cho, bên được tặng cho vàbảo đảm sự nhất quán giữa chủ thể được tặng cho, chủ thể được di tặng theo pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới.
Trong một số trường hợp tặng cho đặc thù như tặng cho QSDĐ hay tặng cho nhàở, bênđượctặng cho ngoài việc thỏa mãn các điềukiệnđược quyđịnhchung trong BLDS năm 2015, họ còn phải đáp ứng thêm các điều kiện riêng được quy định tại Luật Đất đainăm 2013 và Luật Nhàở năm 2014, cụ thể:
Đối với bên tặng cho QSDĐ:
Thứ nhất, liên quan đến tư cách được tặng cho QSDĐ của hộ gia đình
Tương tự như đối với bên tặng cho tài sản, theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, hộgia đình là chủthểtrong quan hệsửdụng đất. Tuy nhiên, khi hộgia đình tham gia vào HĐTCQSDĐ với tư cách là bên được tặng cho thìchủ thể được tặng cho làcác thành viên của hộ gia đình (xem thêm mục 2.1.2.1 Chương 2 Luận án).
Thứ hai, các trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất
Theo Điều 191 Luật Đất đai năm 2013, trong một số trường hợp chủ thể không thể trở thành bên được tặng cho QSDĐ, cụ thể:
(i) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài không được nhận tặng cho quyền sử dụng đất đối với trường hợp mà pháp luật không cho phép chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất;
(ii) Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa;
(iii)Hộgia đình, cá nhân không được nhận tặng cho quyền sửdụng đất ở,đất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ, trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừngđặc dụng,nếu không sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đó.
Đối với bên tặng cho nhàở:
Khoản 2 Điều 119 Luật Nhàởnăm 2014 quyđịnh vềđiềukiện của bênđược tặng cho nhà ở như sau:
Thứ nhất, bên nhận tặng cho là cá nhân trong nước phải có đủ năng lực hành vi dân sựđểthực hiện các giao dịch vềnhàởtheo quyđịnh củapháp luật dân sựvàkhông bắt buộc phải có đăng ký thường trú tại nơi có nhà ở được giao dịch;
Thứhai, bên nhận tặng cho là cá nhânnướcngoài,ngườiViệt Nam địnhcưởnước ngoài phải có đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện giao dịch về nhàở theo quyđịnh của pháp luật Việt Nam, phải thuộc đối tượng đượcsởhữu nhàởtại Việt Nam vàkhông bắt buộc phải có đăng ký tạm trúhoặc đăng ký thường trútại nơi cónhàở được giao dịch.
Thứba, bên nhận tặng cho làtổchức phải có tư cách pháp nhân và khôngphụthuộc vào nơi đăng ký kinh doanh, nơi thành lập; trường hợp làtổ chức nước ngoài thìphải thuộc đối tượng được sở hữu nhàở tại Việt Nam.
Một trong những điều kiện quan trọng để người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cánhân, tổchức nước ngoài được tặng cho nhàởtại Việt Namlàhọphải thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam, cụ thể: (i) Đối với người Việt Nam định cưởnước ngoài thìphải được phép nhập cảnh vào Việt Nam (Điều 8 Luật Nhàởnăm 2104); (ii) Cá nhân nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam vàkhông thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừngoại giao, lãnh sựtheo quyđịnh của pháp luật (Điều 159, Điều 160 Luật Nhàở năm 2014); (iii) Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng nhàở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của Luật Nhàở vàpháp luật cóliên quan; Doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệpnước ngoài,quỹđầu tưnước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam.
* Quyền, nghĩa vụ của bên được tặng cho tài sản
Đối vớitrường hợp tặng cho tài sản cóđiềukiện, liên quan đến việc thực hiện điều kiện tặng cho của bên được tặng cho còn được hiểu chưa thống nhất:
(i) Cách hiểu thứ nhất: khi các bên thỏa thuận về HĐTCTSCĐK và hợp đồng đãcóhiệu lực, bên được tặng cho có nghĩa vụphải thực hiện điều kiện. Nếu bên được tặng cho không thực hiện điều kiện thìphải chịu các trách nhiệm dân sự được quy định từĐiều 351 đến364 BLDS năm 2015, trong đó có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ được quy định tại Điều 352 BLDS năm 2015: “Khi bên có nghĩa vụ thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thìbên cóquyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ”.
(ii) Cách hiểu thứ hai: việc thực hiện điều kiện tặng cho không phải là nghĩa vụ
bắt buộc của bên được tặng cho tài sản. Bởi, ngay cả khi HĐTCTS đã có hiệu lực thìbên được tặng cho nếu không muốn nhận tài sản hoặc trả lại tài sản tặng cho đã nhận thì họ vẫn được quyền lựa chọn không thực hiện điều kiện.
Với hai cách hiểu trên, NCS cho rằng cách hiểu thứnhất phùhợp hơn, khi các bên thỏa thuận về HĐTCTSCĐK và hợp đồng đã có hiệu lực thì bên được tặng cho cónghĩa vụ phải thực hiện điều kiện. Điều này được thể hiện ngay tại quy định của Điều 462 BLDS năm 2015: “Bên tặng cho cóthể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụtrước hoặc sau khi tặng cho”. Trường hợp bên được tặng cho không thực hiện điều kiện thìbên tặng cho cóquyền yêu cầu bên được tặng cho thực hiện điều kiện. Nếu bên được tặng cho vẫn cốtình không thực hiện thìbên tặng cho được quyền đòi lại tài sản vàyêu cầu bồi thường thiệt hại (nếu có).
Dưới góc độ là nghĩa vụ của bên được tặng cho tài sản thì bên được tặng cho phải thực hiện điều kiện tặng cho khi HĐTCTS đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, Điều 462 BLDS năm 2015 không ghi nhận quyền từ chối thực hiện điều kiện tặng cho của bên được tặng cho. Trong khi đó, Điều 526 BLDS Đức quy định về quyền từ chối thực hiện điều kiện tặng cho của bên được tặng cho như sau: “Nếu như do một khiếm khuyết về mặt pháp lýhoặc khuyết tật của vật được tặng chomàgiátrị địnhđoạt thấp hơn mức chi phícần thiết đểthực hiện điềukiện, người được tặng cho cóquyền từchối thực hiện điều kiện cho đến khi thiếu hụt do khiếm khuyết gây ra được bù đắp”. Thiết nghĩ, đâycũng là quyđịnh phùhợp, cần thiết trong BLDS Đức. Mặc dù Điều 462 BLDS năm 2015 không trực tiếp quyđịnh vềquyềntừchối thực hiện điều kiện tặng cho của bên được tặng cho tài sản nhưng trong BLDS năm 2015 đã có cơ sở pháp lý để giải quyết cho tình huống này. Trường hợp bên tặng cho không có đủ khả năng để thực hiện nghĩa vụ giao tài sản tặng cho thì người được tặng cho cóthể viện dẫn áp dụng tương tựquyđịnh tại khoản 1 Điều 411 BLDS năm 2015 như sau: “Bên phải thực hiện nghĩa vụtrước cóquyền hoãn thực hiện nghĩa vụ, nếu khảnăng thực hiện nghĩa vụ của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụnhưđãcam kết chođếnkhi bên kia cókhảnăng thực hiện được nghĩavụhoặc có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”.
2.1.3. Hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

