Hoạt động chứng minh của Luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội phạm sở hữu từ thực tiễn các tỉnh Tây Nam Bộ

Hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn các tỉnh Tây Nam Bộ

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Chứng minh là hoạt động cốt lõi, xuyên suốt quá trình tố tụng thu hút sự tham gia của các chủ thể thực hiện các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự (TTHS) để làm sáng tỏ sự thật của vụ án. Quá trình chứng minh có nội dung thống nhất, phương tiện, phạm vi, đối tượng chứng minh đều do luật TTHS quy định. Tuy nhiên, khi tham gia vào hoạt động chứng minh các chủthểcó quyền, nghĩa vụtốtụng khác nhau vàphương thức thực hiện khác nhau. Cũng như các chủ thể TTHS khác, luật sư thực hiện chức năng bào chữa thông qua hoạt động chứng minh và chính hoạt động này nhằm cụthể hóa chức năng bào chữa, là biểu hiện rõ nét nhất về thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự.

Hoạt động chứng minh của luật sư có vai trò và tầmquan trọng đặc biệt trong quá trình giải quyết vụ án. Trong tiến trìnhtố tụng, luật sư bào chữa được coi nhưngười cùng với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tham gia vào sự nghiệp bảo vệ công lý, góp phần làm sáng tỏ sựthật của vụán, thông qua đó chứng minh sựvô tội hoặc giảm nhẹ TNHS cho người bịbuội tội. Hoạt động chứng minh của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụngđể bảo vệ lợi ích công, còn hoạt động chứng minh của luật sư (HĐCMLS) nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội. Đểbảo vệngười bị buộc tội, luật sư phải tuân thủ pháp luật, tôn trọng sự thật khách quan và để bảo vệ công lý, luật sư phải thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củangườibịbuộc tội. Hoạtđộngchứng minhcủaluật sư nhằm cân bằng, hài hòa giữa bảo vệ quyền lợi của người bị buộc tội và bảo vệ lợi ích công cộng.

Hoạt động chứng minh của chủ thể buộc tội, bào chữa và xét xử độc lập nhưng có mối quan hệ ràng buộc với nhau hợp thành một thể thống nhất được quyết định bởi mục đích chung của TTHS là xác định sự thật của vụ án. Tuy nhiên, về lý luận và thực tiễn HĐCMLS vẫn chưa thực sựđược đề cao, tôn trọng tương xứng với chức năng, nhiệm vụ của luật sư. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chưa có sự nhìn nhận đúng đắn về vai trò của luật sư là góp phần xác định sự thật vụ án, hạn chế oan, sai. Lý luận về hoạt động chứng minh nói chung và HĐCMLS nói riêng vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, chưa có sự nhận thức thống nhất và chưa được nghiên cứu nhiều, trong khiđây là phần lý luận cơ bản nhất trong hoạt động tố tụng hình sự.

1

Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động chứng minh của luật sư vẫn còn nhiều bất cập, quyền tố tụng của luật sư chưa được quy định đầy đủ, đặc biệt là quyền thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ của người bào chữa chưa được quy định rõ ràng và không có những bảo đảm tố tụng kèm theo nên không đảm bảo tính thực quyền của người bào chữa, HĐCMLS trong xét xửsơ thẩm còn mang tính hình thức, chưa bảođảm các quyền của luật sư, chưa tạo điều kiệnđể luật sưtham gia tranh tụng bình đẳng với bên buộc tội, hoạt động xét hỏi, tranh luận của luật sư còn hạn chế bởi vai trò quá tích cực của Tòa án, chưa phát huy vai trò, chức năng đích thực của chủ thể bào chữa trong quá trình tham gia hoạt động chứng minh tại phiên tòa sơ thẩm.

Thực tiễn hoạt động chứng minh của luật sư đã đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần quan trọng cùng với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng làm sáng tỏ sự thật của vụ án, giúp chovụ án đượcgiải quyết nhanh chóng, chính xác, khôngbỏlọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Tuy nhiên, trong TTHS vai trò của người bào chữa vẫn còn mờ nhạt, chưa được tôn trọng đúng mức, cơ quan có thẩm quyền tiến hànhtố tụng còn xem nhẹ, thậm chí coi thường, cố tình bỏ qua nhiều tình tiết, chứng cứ quan trọng do luật sư đưa ra cũng như các ý kiến, đề nghị của luật sư không được chấp nhận,

lẽ ra phải đượcchấp nhận, dẫnđến việc bỏlọttội phạm hoặc làm oan cho người vô tội. Thực tiễn cho thấy, một trong những nguyên nhân của các vụ án oan có nguyên nhân xuất phát từ việc chưa đề cao, tôn trọng vai trò của người bào chữa cũng như hoạt động chứng minh của luật sư trong quá trình giải quyết vụ án.

Xét xử sơ thẩm (XXST) có vị trí trung tâm, giữ vai trò quyết định để giải quyết các vấn đề cơ bản nhất của TTHS. Tính chất, hình thức của xét xử sơ thẩm có vai trò chi phối toàn bộ hoạt động của các chủ thể, trong đó có sự hiện diện của chủ thể thực hiện chức năng bào chữa là luật sư. Hoạt động chứng minh của luật sư có mối quanhệbiện chứng với hoạt động chứng minh của chủthểbuộc tội, xét xửvà suy cho cùng, các hoạt động chứng minh lại phụ thuộc vào tính chất, hình thức của phiên tòa sơ thẩm. Mối quan hệnhiều chiều này trong sựgắn kết với hoạt động chứng minh của luật sưchưa được nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện có hệ thống.

Trong bối cảnh cải cách tư pháp, Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự(BLTTHS) năm 2015 đã ghi nhận nguyên tắc tranh tụng và Nghị quyết số49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị cũng đã nhấn mạnh: “Đổi mới việc tổ chức

2

phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố

tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phácủa hoạt động tư pháp”. Điều này đồng nghĩa với việc đề cao vai trò hoạt động chứng minh của người bào chữa trong điều kiện của nguyên tắc tranh tụng.Đây là vấn đề lýluận mới so với trước đây khi chưa thừa nhận nguyên tắc tranhtụng để bảo đảm quyền cho luật sư tham gia hoạt động chứng minh làm sáng tỏ sự thật của vụ án.

Pháp luật TTHS không thể đặt ra nhữngvấn đề phải chứngminh trong từngvụán mà chỉ có thể quy định chung nhất về những vấn đề phải chứng minh trong bất kỳvụán nào. Vì vậy, tùy theo từng loại tội phạm cũng như các nhóm tộikhác nhau mà đối tượng chứng minh cũng khác nhau. Các tội xâm phạm sở hữu là một nhóm tội độc lập trong Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015. Tính độc lập của nhóm tội này cho thấy nó có những đặc điểm pháp lý hình sự nhất định nên đối tượng chứng minh sẽ khác với các nhóm tội phạm khác và những khác biệt này chi phối đến hoạt động chứng minh của luật sư. Mối quan hệ giữa xét xử sơ thẩm với hoạt động chứng minh của luật sư và các tội xâm phạm sở hữu cho đến nay chưa được nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện.

Từ những phân tích trên cho thấy, việc nghiên cứu thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xửsơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn các tỉnh Tây Nam Bộ là sự kiểm định cần thiết cho lý luận khoa học về hoạt động chứng minh nói chung và hoạt động chứng minh của luật sư nói riêng mang tính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Đây là lý do nghiên cứu sinh chọn đề tài“Hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn các tỉnh Tây Nam Bộ” làm Luận án tiến sĩ luật học.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động chứng minh của luật sư, phân tích, đánh giá thực trạng quyđịnh củapháp luật và thực tiễn hoạt động chứng minh của luật sư trong XXST các tội xâm phạm sở hữu tại các tỉnh Tây Nam Bộ. Trên cơ sở đó đưa ra các yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động chứng minh của luật sư trong XXST các tội xâm phạm sở hữu tại các tỉnh Tây Nam Bộ.

3

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Từmục đích nêu trên, luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

– Phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu, các vấn đề luận án sẽ kế thừa, vấn đề chưa được thống nhất vànhững vấn đề mới cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết;

– Nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu, như: khái niệm, đặc điểm, đối tượng, phạm vi, nội dung, ý nghĩa, các yếutố tác động đến hoạt độngchứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu;

– Phân tích các quy địnhcủapháp luật liên quanđếnhoạt động chứng minh của luật sư; đánh giá thực tiễn hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu tại các tỉnh Tây Nam Bộ;

-Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và các giải pháp khác nhằm nâng cao chất lượnghoạt độngchứng minh của luật sư trong xétxửsơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu tạicác tỉnh Tây Nam Bộ.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượngnghiên cứu của luận án là nhữngvấn đề lý luậnvề hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu; các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu tại các tỉnh Tây Nam Bộ.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Luật sư tham gia tố tụng để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình với nhiều tưcách khác nhau. Tuy nhiên, trong phạm vi luận án này chúng tôi nghiên cứu hoạtđộng chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu, chủ yếu là tại phiên tòa sơ thẩm, là nơi thể hiện tập trung và rõ nét nhất vị trí, vai trò và chức năng của người bào chữa. Vì vậy, luận án chỉ nghiên cứu hoạt động chứng minh của luật sưvới tư cách là người bào chữa cho người bị buộc tội về các tội xâm phạm sở hữu trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

4

Về nội dung: Luận án nghiên cứu những vấnđề lý luận và quyđịnh của pháp luật liên quan đến hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu, thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu tại các tỉnh Tây Nam Bộ.

Về không gian: Luận án nghiên cứu hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn các tỉnh Tây Nam Bộ.

Về thời gian: Luận án nghiên cứu hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xửsơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn các tỉnh Tây Nam Bộ trong khoảng thời gian 10 năm, từ năm 2012 đến năm 2021.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp luận

Luận ánđược thực hiện dựa trên quanđiểm chủ nghĩa duyvậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịchsửcủachủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minhvề Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng vàNhà nước vềcải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu, cụ thể sau:

Phương pháp hệ thống hóa, phân tích,tổng hợp đượcsửdụng đểtrình bày tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án (Chương 1);

Phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử, logic được sử dụng để làm sáng tỏ lý luận về hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sởhữu (Chương 2);

Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, xã hội học pháp luật, tiến

hành khảo sát đánh giá thực tiễn bằng bảng hỏi, nghiên cứu án điển hình,…được sửdụng khi nghiên cứu, đánh giá quyđịnh củapháp luật và thực tiễn hoạt độngchứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu tại các tỉnh Tây Nam Bộ (Chương 3);

Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh,…cũng được sử dụng khi nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao chất lượng HĐCMLS trong xét xửsơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu tại các tỉnh Tây Nam Bộ (Chương 4).

5

5. Những đóng góp mới của luận án

Luận án là công trình đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu. Luận án có những đóng góp mới như sau:

Luận án góp phần hoàn thiện, phát triển hệ thống lý luận về hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu, như: khái niệm, đặc điểm, nộidung, ý nghĩa động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu. Luận án làm rõ đối tượng, đặc điểm, nội dung hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xửsơ thẩm các tội xâm phạmsởhữu; mối quan hệ giữa hoạt động chứng minh của luật sư với hoạt động chứng minh của các chủ thể thực hiện các chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự; những yếu tố tác động đến hoạtđộng chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu.

Luận án phân tích thực trạng quy định pháp luật liên quan đến hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu và thực tiễn hoạt động chứng minh của luật sư trong xétxửsơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn các

tỉnh Tây Nam Bộ trong thời gianmườinăm; đánh giá thực tiễn hoạtđộngchứng minh của luật sư, những kết quả đạt đượccũng như những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bấtcập về hoạtđộng chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu tại các tỉnh Tây Nam Bộ.

Luận án xác định những yêu cầu, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơthẩm các tội xâm phạm sở hữu tại các tỉnh Tây Nam Bộ.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Về lý luận: Luận án góp phần luận giải những vấn đề lý luận về hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự và hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu. Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa trong việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sựnói chung và pháp luật về hoạt động chứng minh nói riêng, nội dung nghiên cứu của luận án đóng góp cho sựphát triển lý luận chung vềhoạt động chứng minh của luật sư trong xétxửsơ thẩm cáctộixâm phạm sở hữu, với một số vấn đề như: khái niệm, đặc điểm, đối tượng, nội dung, ý nghĩa hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu.

6

Về thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa đối với việc hoàn thiện pháp luậtvề hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sựnói chung cũng như hoàn thiện pháp luật liên quan đến hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xửsơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu nói riêng. Các kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sựvà hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xửsơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu tại các tỉnh Tây Nam Bộ. Đồng thời, các kết quả nghiên cứu của luận án còn có giá trị để làm nguồn tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập tại các trường đào tạo chuyên ngành luật tố tụng hình sựvà tại các cơ quan, tổ chức nghiên cứu pháp luật có liên quan.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận ánđược kết cấu thành 4 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Những vấn đề lý luận về hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xửsơ thẩm các tội xâm phạmsở hữu

Chương 3: Quy định của pháp luật và thực tiễn hoạt động chứng minh của luật sưtrong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu tại các tỉnh Tây Nam Bộ

Chương 4: Yêu cầu và các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu tại các tỉnh Tây Nam Bộ.

Hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn các tỉnh Tây Nam Bộ
Hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn các tỉnh Tây Nam Bộ

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu

1.1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động chứng minh và hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

1.1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu vềchứng cứvà chứng minh, quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự, các chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự

11

1.1.1.3. Nhóm các công trình liên quan đến giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, vềnội dung, đặc điểm, tính chất của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

1.1.1.4. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu,đặcđiểm của các tội xâm phạm sở hữu

1.1.1.5. Nhóm công trình nghiên cứu về mô hình tố tụng hình sự,nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội

1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động chứng minh của luật sư, thực tiễn hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu

1.1.3. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu

1.2. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước

Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm không nhiều, có những công trình không nghiên cứu trực tiếp đến đề tài mà nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm, có thể kể đến công trình nghiên cứu như sau:

1.2.1. Các công trình nghiên cứu liên quanđến lý luận vềhoạtđộng chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu

1.2.2. Các công trình nghiên cứu những quy định của pháp luật liên quan đến hoạtđộng chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

1.2.3. Các công trình nghiên cứu liên quan đến giải pháp nâng cao chất lượng hoạtđộng chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu

1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án

Qua phân tích tình hình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài nhận thấy, hoạt động chứng minhcủaluật sưđãđượcnhiều nhà khoahọcnghiên cứu, tiếpcậndưới nhiều khía cạnh, góc độ và phạm vi khác nhau. Với sự nghiên cứu đa dạng, phong phú các công trình đã đạt được những kết quả nghiên cứu quan trọng liên quan đến luận án. Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những kết quả đạt được; những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu, tiến hành triển khai thực hiện nghiêm túc

23

để bảo đảm tính mới, tính cấp thiết cho đề tài nghiên cứu của luận án.

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã giải quyết được rất nhiều vấn đề cơ bản mà lý luận và thực tiễn hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu đặt ra. Một số công trình khác tuy không nghiên cứu trực tiếp về hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu, nhưng nó cũngtạotiềnđềlý luận chođềtài luận án. Các công trình nghiêncứunhiềuvấnđềvềchứng cứ và chứng minh trong TTHS, quá trình chứng minh, đối tượng, giới hạn chứng minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, đặc điểm pháp lý về các tội xâm phạm sở hữu. Bên cạnh đó cũng có nhiều công trình nghiên cứu về quy định của pháp luật, thực trạng hoạt động chứng minh và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật liên quan đến hoạt động chứng minh của luật sư trong XXST vụ án hình sự. Mặc dù đã rất có nhiều công trình nghiên cứu liên quanđếnđềtài luận án, nhưng chưa có trình nào nghiêncứumộtcách chuyên sâu, toàn diện có hệ thống về hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạmsởhữuvà chính điều này đòi hỏinghiên cứu sinh phải có nhiệmvụtriển khai thực hiện trong quá trình nghiên cứu luận án của mình.

1.3.1. Những nội dung nghiên cứu đã sáng tỏ và được luận án kế thừa

Các công trình nghiên cứu qua nhiều giai đoạn khác nhau có nhiều vấn đề liên quanđến luận án đã được thừa nhận rộng rãi, nghiên cứu sinh sẽ tiếp thu, kế thừa những kết quảnghiên cứu đó trong luận án của mình.

Về lý luận: phần lớn các công trình đều thống nhất bản chất của hoạt động chứng minh là nhằm làm sáng tỏ đối tượng chứng minh; quá trình chứng minh gồm có các hoạt độngthu thập, kiểm tra, đánh giá chứngcứvà hoạtđộngchứng minhcủaluật sư cũngđược thể hiện bằng các hoạt động này để làm sáng tỏ sự thật của vụ án, bảo vệ quyền và

lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội.

Về thực tiễn: các công trình khoa học nghiên cứu về quy định của pháp luật, thực trạng hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm, chỉ ra những hạn chế, bất cập và đưa ra giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu.

Những quan điểm, vấn đề được thừa nhận:

– Hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm được thể hiện tập trung rõ nét nhất là tại phiên tòa sơ thẩm, các hoạt động trước đó chỉ là giai đoạn chuẩn bị tạo

24

tiền đề cho hoạt động chứng minh của luật sư tại phiên tòa sơ thẩm.

– Chủ thể tham gia hoạt động chứng minh tại phiên tòa xét xử sơ thẩm chủ yếu làdo bên buộc tội và bên bào chữa thực hiện.

– Nội dung, nhiệm vụ của xét xử sơ thẩm nhằm giải quyết thực chất về vụ án, đưa ra phán quyết một người đang bị buộc tội có tội hay không có tội.

1.3.2. Những vấn đề liên quan đến luận án nhưng chưa được giải quyết thấu đáo trong các công trình nghiên cứu

Về lý luận: Nhiều công trình nghiên cứu lý luận về hoạt động chứng minh của luật sư với cách tiếp cận khác nhau sẽ là kinh nghiệm bổ ích cho nghiên cứu đề tài luận án, các kết quả nghiên cứu sẽ là sự bổ sung và phát triển lý luận về hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xửsơ thẩm các tội xâm phạmsởhữu. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu liên quan đến HĐCMLS trong xétxử sơ thẩm chỉ ở mức độ độc lập, riêng lẻ với nhau, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện về hoạt động chứng minh của luật sư trong mối quan hệ với xét xử sơ thẩm và các tội xâm phạm sở hữu để đưa ra khái niệm khoa học về hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xửsơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu và các vấn đề khác như về đặc điểm, nội dung, ý nghĩa về HĐCMLS trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu.

Vềthực tiễn: Chưa có công trình nào nghiêncứuchuyên sâu cácvấnđềpháp lýliên quan đến đến hoạt động chứng minh của luật sư, như những vấn đề phải chứng minh của luật sư trong vụ án hình sự. Trong đó, hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứcũng đượcnghiên cứu, tiếp cận khác nhau nhưng chưa có công trình nào nghiêncứuvềhoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu; chưa phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn hoạt động chứng minh của luật sư; những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế, bất cập trong hoạt động chứng minh của luật sư. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt độngchứng minh củaluật sư trong xét xửsơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu; những số liệu của các công trình công bố trước đây đã lâu, không còn mang tính thời sự.

Về các giải pháp và kiến nghị: Các giải pháp, kiến nghị của các công trình chủ yếu tập trung về những hạn chế, bất cập trong các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 mà cơ bản những hạn chế, bất cập này đã được

25

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 khắc phục. Các giải pháp đưa ra còn khiêm tốn, chưađáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Những hạn chế, bất cập trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa có giải pháp hoàn thiện để nâng cao chất lượng hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

1.3.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Từ những phân tích, đánh giá về tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án, nhận thấy cần tiếp tục triển khai nghiên cứu những vấn đề như sau:

Mộtlà, nghiên cứu, làm rõ khái niệm hoạt động chứng minh củaluật sư, hoạt động chứng minh củaluật trong xét xửsơ thẩm; mối quan hệ giữa hoạt động chứng minh củaluật sư với xét xửsơ thẩm và các tội xâm phạmsở hữu, từđóđưa ra khái niệm hoạtđộngchứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu. Nghiên cứu làm rõ về nội dung, đặcđiểm, đối tượng,ý nghĩa, các yếu tố tác động đến HĐCMLS trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu tại các tỉnh Tây Nam Bộ.

Hai là, nghiên cứu, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật TTHS liên quan đến hoạt động chứng minh nói chung và HĐCMLS trong xét xửsơ thẩm VAHS; những vấn đề phải chứng minhcủaluật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu. Nghiên cứu, tiếp cận hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứngcứ dưới gócđộhoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu.

Ba là, nghiên cứu, khảo sát tổng kết thực tiễnhoạt độngchứng minh của luật sưtrong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu, so sánh, đối chiếu với pháp luật TTHS của một số quốc gia trên thế giới để rút ra những bài học kinh nghiệm lập pháp cũng như thực tiễn hoạt động chứng minh củaluật sư trong xét xửsơ thẩm vụ án hình sự. Đánh giá những kết quả đạt được, nhữnghạnchế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế,bấtcập về HĐCMLS trong xétxửsơ thẩm cáctộixâm phạm sở hữu tại các

tỉnh Tây Nam Bộ.

Bốn là, nghiên cứu làm rõ các yêu cầu đảm bảo cho hoạt động chứng minh của luật sư trong tốtụng hình sự, nâng cao chất lượng hoạt động chứng minh của luật sưtrong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu; trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơthẩm các tội xâm phạm sở hữu tại các tỉnh Tây Nam Bộ. Các giải pháp đưa ra phải bảo đảm tính khả thi đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp.

26

1.4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 1.4.1. Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, luận án cần trả lời các câu hỏi sau:

1. Hoạt động chứng minh là gì? Hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xửsơ thẩm? Hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu có những đặc điểm gì?

2. Pháp luật quy định như thế nào về HĐCMLS trong xét xử sơ thẩm?

3. Thực tiễn hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm

sở hữu như thế nào?

4. Các yếu tốnào ảnh hưởng đến hoạt động chứng minh củaluật sư trong xét xửsơ

thẩm các tội xâm phạm sở hữu?

5. Để nângcao chất lượng đến hoạtđộngchứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm

các tội xâm phạm sở hữu cần có những giải pháp nào? 1.4.2. Giả thuyết nghiên cứu

Từ các câu hỏi nghiên cứu nêu trên, giả thuyết nghiên cứu của luận án là:

1. Hoạt động chứng minh là tổng thể các hành vi tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong hoạt động thu thập, kiểm tra,đánh giá chứng cứ nhằm làm sáng tỏ sự thật của vụ án.

2. Hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm là một bộ phận cấu thành của hoạt động chứng minh trong TTHS, là tổng hợp các hành vi tố tụng của luật sưtrong hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ để làm sáng tỏsựthật của vụ án, chứng minh về sựvô tội hoặc giảmnhẹTNHS, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội.

3. Xét xửsơ thẩm là mộtgiai đoạn củaquá trình chứng minh trong TTHS, trong đóToà án tiến hành xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện, đầyđủ các tình tiết, chứng cứđể giải quyếtđúng đắn vụ án. Những đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu chi phối hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

4. Quyđịnh của pháp luật TTHS liên quan đến hoạt động chứng minh của luật sưtrong xétxửsơ thẩm còn hạn chế, bất cập do nhiều nguyên nhân.Đểnâng cao chất lượng hoạtđộngchứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sởhữu cần hoàn thiện pháp luật và nhiều giải pháp toàn diện khác nhau.

27

Kết luận Chương 1

Chứng minh là hoạt động cơ bản xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án với sựtham giacủacác chủ thể thực hiện các chức năng cơbảncủa tố tụng hình sự. Trong những năm qua hoạt động chứng minh của luật sư đã góp phần làm sáng tỏ sự thật của vụ án,bảo đảm quyềnbào chữa của người bị buộc tội. Nghiên cứu các công trình trong nước và ngoài nước cótầmquan trọng để có thể kế thừa cơ sở lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn liên quan đến việc thực hiện nội dung của luận án.

Những công trình nghiên cứu nước ngoài bước đầu đã gợi mở hướng nghiên cứu cho đề tài luận án, chỉra các căn cứkhoa học về hoạt động chứng minh của luật sư,

tầmquan trọng về vị trí, vai trò hoạt động chứng minh của luật sư, các công trình đã phản ánh tình hình, xu hướng, ý nghĩa khoa học của việc nghiên cứu về hoạt động chứng minh của luật sư. Những công trình sẽ được tham khảo ở các cấp độ khác nhau, liên quan trực tiếp đến đề tài hoặc có những công trình không liên quan trực tiếp nhưng sẽ có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý luận và phương pháp tiếp cận để nghiên cứu sinh nhận thức sâu sắc hơn về lý luận và thực tiễn, rút ra được cách tiếp cận phù hợp cho mục đích nghiên cứu luận án đặt ra.

Mặc dù đãcó nhiều công trình khoa học ở trong và ngoài nước nghiên cứu về hoạt độngchứng minh của luật sư, nhưng do bị giới hạn về phạm vi cũng nhưcấp độnghiên cứu nên các vấn đề liên quan đến hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xửsơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu vẫn chưa được nghiên cứu chuyên biệt mà chỉ được đề cập ở một số khía cạnh khác nhau về quá trình chứng minh trong TTHS; về chứng cứ; về xét xửsơ thẩm; về thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ; về các chức

năng bàochữa,… Mộtsố công trình nghiên cứu riêng về hoạt động chứng minh của luật sư, các vấn đề lý luận cũng chưa được đề cập đến một cách toàn diện, chuyên sâu.

Vì vậy, với tư cách là một công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu và toàn diện về hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu, nghiên cứu sinh sẽ triển khai nghiên cứu, làm rõ những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu; các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiêncứu để đề tài luận án “Hoạtđộng chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn các tỉnh Tây Nam Bộ” tại trở thành mộtcông trình nghiên cứu khoa học toàn diện, có hệ thống và có tính mới tại Việt Nam.

28

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHỨNG MINH CỦA LUẬT SƯTRONG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU

2.1. Khái niệm, đặcđiểm hoạtđộngchứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu

2.1.1. Khái niệm hoạt độngchứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu

2.1.1.1. Khái niệm hoạt động chứng minh của luật sư

Chứng minh là chế định trung tâm xuyên suốt quá trình TTHS từ khởi tố,điều tra, truytố đến xét xửvới sựtham gia của nhiều chủ thể thực hiện các chức năng cơ bản của TTHS. Chứng minh là hoạtđộng cốtlõi của TTHS nhằm làm sángtỏ sựthật khách quan củavụ án. Như vậy, hoạt động chứng minh là gì? Nghiên cứu pháp luật TTHS nước ngoài cũng như pháp luật TTHS Việt Nam cho thấy, có nhiều tài liệu pháp lý, các giáo trình, bài báo khoahọcđềcập, nghiên cứu về đối tượng chứng minh, giới hạn chứng minh, nghĩavụ chứng minh, hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng

cứ… Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào đặt vấn đề nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện, có hệ thống để đưa ra khái niệm khoa học về hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu.

Hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội [115]. Ngoài ra, trong khoa học pháp lý có ý kiến về hoạtđộng như sau: “Hoạt động (hệ thống các hành vi được trật tự hóa) của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng được quy định cụthể trong Bộ luật TTHS” [130, tr.11]. Hoạt động là những việc làm có mối quan hệ gắn bó với nhau nhằm đạt mục đích nhất định nào đó, hoặc có thể hiểu hoạtđộnglà bao gồm hệ thống các hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định có mối quanhệchặtchẽvớinhauđểthực hiện nhiệmvụcủaTTHS. Như vậy, hoạtđộngtrong TTHS có thể hiểu, là hệ thống các hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố

tụng, người tham gia tố tụng theo trình tự, thủ tục do pháp luật TTHS quy định có quan hệchặt chẽ với nhau nhằm thực hiện mục đích chung của TTHS là xác định sự thật của vụ án.

29

Vậy, chứng minh là gì? Hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm chứng minh.

Theo giải thích của Từđiển tiếng Việt, thì: “Chứng minh là soi xéttỏ tường, viện dẫn bằng cớ để bàytỏ rõ ràng” [116, tr.225] hoặc theo Từ điển Luật học, thì:

“Chứng minh tội phạm là thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứđể xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạmtội” [114, tr.165]. Quan điểmnày nêu bản chất chứng minh là thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ để xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội, nhưng ở đây chỉ đề cập trong lĩnh vực chứng minh tội phạm.

Theo quan điểm của GS.TS.Võ Khánh Vinh: “Chứng minh là việc sử dụng các chứng cứ để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án hình sự. Ở nghĩa đó, khái niệm chứng minh đồng nghĩa với khái niệm nghiên cứu vụ án được tiến hành ở giai đoạn điều tra và xét xử thể hiện ở việc thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ, và ở việc làm sáng tỏvớisự giúp đỡcủa chứng cứ tất cả các sự kiện, tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án” [130, tr.457]. Mặc dù chưa chỉ rõ chủ thể chứng minh, nhưng quan điểm này đãđề cập đến nhiều vấnđề về chứngminh trong TTHS, đó là việc nghiên cứu vụ án ở giai đoạn điều tra và xét xử, là hai giai đoạn quan trọng nhất của quá trình chứng minh để làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án. Ý kiến khác cho rằng: “Chứng minh chính là việc thu thập, sử dụng các chứng cứ để làm sáng tỏ sự thật khách quan các tình tiếtcủa vụ ánhìnhsự”[101, tr.2]. Ý kiến này về chứng minh như vậy là chưa đầy đủ, không nêu rõ về chủ thể chứng minh và nội dung chứng minh gồmcác hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ. Hoặc có ý kiến cho rằng: “Chứng minh trong vụ án hình sự là việc các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòaán sử dụng các chứng cứ đã thu thập được để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án hình sự, trên cơsở đó đưa ra cách giải quyết vụ án một cách đúng đắn”[5, tr.57]. Quanđiểm này chỉ ra chủ thể tham gia hoạt động chứng minh là các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và việc sử dụng các chứng cứ để làm sáng tỏ các tình tiết làmcơ sở đểgiải quyết đúngđắn vụ án. Nhưng quanđiểm này không nêu được hoạt động chứng minh phải được tiến hành theo trìnhtự, thủtục do pháp luật TTHS quy định.Mộtquanđiểm khác cho rằng: “Quá trình chứng minh trong vụ án hình sự là hoạt động của các chủ thể tiến hành tố tụng hình sựđược Nhànước trao quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định để thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật khách quan trong vụ án hình sự” [20, tr.12]. Quan điểm này xác định chủ thể,

30

mục đích và quá trình chứng minh là thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ. Tuy nhiên, quan điểmnày cho rằng chủ thể chứng minh chỉ là những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là chưa đầy đủ, vì ngoài ra còn có các chủ thể khác như người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác cũng tham gia vào hoạt động chứng minh bảo vệ quyền lợi của họ. Nói cách khác, chứng minh là việc sử dụng chứng cứđể làmsáng tỏsựthật khách quan của vụ án. Những quan điểm nêu trên tuy chưa phản ánh đầy đủ về khái niệm chứng minh, nhưng nhìn chungđã nêu đượcbảnchất và những đặcđiểm vềchứng minh. Như vậy, có thể hiểu chứng minh là quá trình hoạt động tố tụng hình sựcủa chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.

Tố tụng hình sự là thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, là hoạt động của chủ thể tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và các cơ quan nhà nước, tổ chức cá nhân theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định, nhằm phát hiện chính xác, xử lý công minh kịp thời mọi hành vi phạm tội. “Tố tụng hình sự là toàn bộ hoạt động (hệ thống các hành vi) của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng và cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức xãhội được tiếnhành trong giớihạnvà trật tự do Bộ luậttố tụnghìnhsự vàcác văn bản quy phạm pháp luật khác quy định nhằm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật và các quan hệpháp luậtnảysinh giữa các cơquan, tổ chức và những người tham gia hoạtđộng” [130, tr.10-11]. Từnhững phân tích các quan điểm khác nhau về vấn đề chứng minh có thể hiểu, hoạt động chứng minh trong TTHS là tổng hợp hành vi các của chủ thể tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ nhằm làm sáng tỏ tất cả những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án.

Chứng minh là hoạt động chủ yếu của TTHS. Nếu xét theo toàn bộ độ dài của tiến trìnhtố tụng thì hoạt độngchứng minh diễn ra liên tục, xuyên suốt từgiai đoạn khởi tố, điều tra, truytố chođếnkhi xét xử.Nhưng trongđó hoạtđộng chứng minh được thể hiện tập trung chủ yếu trong giai đoạn điều tra và xét xửVAHS. Trong hai giai đoạn này, hoạt động chứng minh của chủ thể có nghĩa vụ chứng minh và chủ thể có quyền chứng minh được thể hiện một cách cụ thể, rõ đậm nhất.

31

Trong tố tụng hìnhsựcác Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, người bào chữa không trực tiếp chứng kiến đối tượng chứng minh, không nhìn thấy tội phạm xảy ra, họ không có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án nhưng có quyền, nghĩa vụ chứng minh những tình tiết liên quan đến vụ án. Vì vậy, để tạo dựng lại những sựkiện, tình tiết đã xảy ra một cách khách quan, toàn diện, các chủ thể chứng minh phải tiến hành các hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá các thông tin, tài liệu liên quanđể xác định sự thật của vụ án.

Hoạt động chứng minh là quá trình đi tìm chân lý khách quan trên cơ sở phương pháp luận về nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng nhằm dựng lại bức tranh toàn cảnh vụ án đã xảyra trong quá khứthông qua các chứng cứ. Hoạtđộng chứng minh chính là hoạt động nhận thức về chân lý khách quan của vụ án nên nó chẳng những phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục pháp lý chặt chẽ mà phải phù hợp với quy luật chung của quá trình nhận thức, theo logic: “Từ trực quan sinhđộng đến tư duy trừu tượngvà từtư duy trừu tượng đến thực tiễn. Đó là conđường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan” [54, tr.179].

Thực chất của hoạt độngchứng minh là quá trình tìm kiếm chứngcứđể giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Vì vậy, trong quá trình hoạtđộngchứng minh “Để giải quyết đúng đắnvụ án, cần phải xácđịnh,tìm kiếm chân lý khách quan, chân lý vật chất vềvụ án, tức là xác địnhsự phù hợp đầyđủ và chính xác của chính sự kiện phạm tội, tính có lỗi của người cụ thể trong việc thực hiện tội phạm và tất cả các tình tiết xác địnhmứcđộtrách nhiệmcủangười đó đối với hành vi đã thực hiện, hoặc khẳng định ngược lại, tức là tội phạm không được thực hiện trong thực tế, người bị truy cứu không có lỗi ” [130, tr.195-196].

Trong hoạt động chứng minh, các sựkiện, tình tiết của vụ án phải được xácđịnh trên cơ sở chứngcứvà phải dựa vào chứng cứ mới làm sáng tỏ được tội phạm và người phạm tội. Khi chứng cứđã được kiểm tra và đánh giá thì ngườicó thẩm quyền tiến hành tố tụng mới có căn cứ chứng minh tội phạm. Đối với người bào chữa cũng dựa vào chứng cứ để chứng minh bác bỏ sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS cho thân chủ của mình. Như vậy, chứng cứ là cơ sở duy nhất và bắt buộc để các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng,ngườitham gia tố tụng sử dụng làm phương tiện chứng minh xác định sự thật khách quan của vụ án.

32

Hoạt độngchứng minh trong TTHS là tổng hợp hành vi của các chủ thể tố tụng thông qua hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng. Các hình thức, phương pháp hoạt động có thể khác nhau tùy theođịa vị tốtụng của các chủ thể, nhưng chúng cómối liên hệ với nhau để bảo đảm cho các hoạt động chứng minh cùng hướng đến mụcđích tìm rasựthật khách quan của vụ án. Như vậy, hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự là tổng hợp hành vi của chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứngcứtheo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.

Hoạt động chứng minh của luật sư là một bộ phận cấu thành của hoạt động chứng minh trong TTHS, đâylà hoạt động chứng minh của chủ thể thực hiện chức năng bào chữa do luật sưthực hiện để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp cho người bịbuộc tội. Luật sư là một chức danh độc lập trong hệ thống các chức danh tư pháp, có đủtiêu chuẩn và điều kiện hành nghề luật chuyên nghiệp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, cơ quan, tổ chức. Hoạt động chứng minh của luật sư không chỉđểbảo vệ quyền lợi cho người bị buộc tội mà còn góp phần giúp cơ quan tiến hành tố tụng làm sáng tỏ sựthật của vụ án. Sựtham gia tích cực của luật sư vào quá trình chứng minh là sự phản biện cần thiết đối với cơ quan tiến hành tố tụng để hạn chế những sai

lầm trong quá trình giải quyết vụ án. Hoạt động chứng minh của luật sư không nhữngđể bảo bảo đảmquyền bào chữa cho người bị buộc tội mà còn“gópphần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơquan, tổ chức, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” [81, tr.132].

Hoạt động chứng minh của luật sư có mối quan hệ gắn bó mật thiết với chức năng bào chữa và quyền bào chữa của người bị buộc tội. Bào chữa là một quyền, quyền được bào chữa, không thể tồn tại chức năng bào chữa nào mà không hàm chứa nội dung hoạt động chứng minh của người bào chữa. Quyền bào chữa được thực hiện thông qua hoạt động bào chữa, nhưng hoạt động bào chữa thực chất là hoạt động chứng minh và luật sư là chủthể quan trọng, chủ thể đóng vai trò chủ lực trong hoạt động chứng minh thực hiện chức năng bào chữa.Hoạt độngchứng minh của luật sư chính là nhằm để cụ thể hóa chức năng bào chữa, là biểu hiện rõ nét nhất về bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong quá trình chứng minh xác định sự thật vụ án.

33

Hoạt động chứng minh của luật sư có mối quan hệ với hoạt động chứng minh của các chủ thể thực hiện các chức năng của TTHS, nhưng không đồng nhất. Nếu nhưhoạt động chứng minh của Kiểm sát viên là để chứng minh buộc tội thì HĐCMLS hướng đếnviệcgỡtộihoặc giảm nhẹ TNHS cho người bị buộc tội, còn hoạtđộng chứng minh của Tòa án nhằm chứng minh tính có căn cứ và hợp pháp cho phán quyết của mình. Hoạt động chứng minh của luật sư trước hết là để làm sáng tỏ sự thật khách quan, giúp cho Tòa án giải quyết đúng đắn vụ án. Song song với nhiệm vụ đó thì hoạt động chứng minh của luật sư còn nhằm thực hiện chức năng bào chữa, chứng minhvề sựvô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bảo vệquyền lợi tốt nhất cho người bịbuộc tội trong quá trình giải quyết vụ án.

Hoạt động chứng minh của các chủ thể buộc tội, bào chữa, xét xửcó vị trí độc

lập nhưng chúng có mối quan hệ vớinhau hợp thành một thể thống nhất đượcquyết định bởi mục đích chung củaTTHS là nhằm xác định sựthật của vụ án. Hoạtđộng chứng minh củachủthể thực hiện các chức năng đều hướng đếnbảo vệlợi ích công cộng, trật tự xã hội, bảo vệ quyền con người, trong quá trìnhđóluật sư bào chữa được coi như là người đã cùng cơ quan tiến hành tố tụng tham gia vào sự nghiệp bảo vệ công lý. Để bảo vệ cho người bị buộc tội thì luật sư phải tuân thủ pháp luật và tôn trọng sựthật khách quan và ngược lại, để bảo vệ công lý thì luật sư phải thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệquyền lợicủa người bị buộc tội. Có thể nói, vai trò của luật sư trong tố tụng hình sựlà sựkết hợp nhuần nhuyễn giữa việc bảo vệ quyền lợi người bị buộc tội với việc bảo vệcông lý, lợi ích công cộng và trậttựpháp luật. Như vậy có thể hiểu, hoạt động chứng minh của luật sư là tổng hợp hành vi tố tụng của luật sư trong hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định đểlàm sáng tỏ sự thật của vụ án, chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sựcho người bị buộc tội.

2.1.1.2. Đặc điểm của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Hoạt động xét xử là khâu trung tâm, quan trọng nhất của TTHS, “Hoạt động xét xử là hoạt động nhân danh quyền lựcNhànước nhằm xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợppháp và tính đúng đắncủa hành vi pháp luật hay quyếtđịnh pháp luật khi có sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích khác nhau” [118, tr. 57]. Trong toàn bộ quá trình tố tụng, xét xửsơ thẩm là giai đoạntrung tâm,

34

quan trọng, tập trung chất lượng, uy tín của cơ quan tư pháp, Tòa án nhân danh Nhànước đưa ra phán quyết. Bản án chính xác, khách quan của Tòa án sẽ bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ công lý và duy trì trậttựxã hội: “Tòa án phải là nơi thể hiện đầy đủ nền công lý, thể hiện chất lượng và uy tín của toàn bộ hệ thống tư pháp nước ta” [121, tr.11].

Tính chất của xét xử sơ thẩm là để giải quyết toàn bộ nội dung, bản chất của vụ án được thể hiện bằng bản án, quyết định của Tòa án, chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền phán quyết một người có tội hay vô tội và phải chịu hình phạt, điều này không thể được xác định dưới các hình thức văn bản nào khác mà phải là bản án, quyết định của Tòa án và khi bản án có hiệu lực pháp luật sẽ được đưa ra thi hành bởi quyền lực Nhà nước. Xétxử sơthẩm nhằm thực hiện chức năng xét xử và được thể hiện dưới hình thức là một phiên tòa đểgiải quyết nội dung, bản chất của vụán. Vềbản chất phiên tòa hình sự chỉ phát sinh trên cơ sở yêu cầu của các bên và được tiến hành khi có quyết định truy tố của Viện kiểm sát và đủ điều kiện để đưa vụ án ra xét xử. Để kết luận chính thức một người có tộihay không thì đòihỏi phải đưa họra xétxửmàtrước hết là xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, ở đó Tòa án sẽ nhân danh Nhà nước đưa ra kết luận, quyết định bị cáo có tội hay vô tội. Điều này cho thấy vai trò trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp. Tính hệ thống và tính chỉnhthể của hoạt độngtư pháp đã quy định nên diện mạo và vai trò trung tâm của Tòa án.

Trong tiến trình tố tụng, XXST đóng vai trò trung tâm, thể hiện đầy đủ bản chất hệ thống tư pháp của mỗi quốc gia nhằm thực hiện mục đích của TTHS, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp phápcủa tổchức, công dân. “Phiên tòa là giai đoạn trung tâm thể hiện đầy đủ nhất bản chất quá trình tố tụng nói chung và xét xử nói riêng. Phiên tòa có sự tham gia đầy đủ của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tốtụng, những người tham gia tố tụng với địa vịpháp lý được xác định. Thông qua phiên tòa, bằng thủ tục trực tiếp, công khai, qua ngheý kiến và đềxuất của các bên tham gia tố tụng, tòa án (với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng quan trọng nhất) tiến hành xác định sự thật khách quan của vụ án và ra các phán quyết giải quyết vụ án một cách đúng đắn, đầy đủ, khách quan và đúng pháp luật [23, tr.1].

Nhiệmvụ cơ bản nhất của TTHS là xác định sựthật của vụ án và nhiệmvụgiải quyết nội dung, bản chất của VAHS đã xác định XXST là giaiđoạn trung tâm,

35

quyết định, các giai đoạn trước đó chỉ là quá trình chuẩn bị cho XXST và các giaiđoạn sau là sự kiểm tra tính hợp pháp của giai đoạn XXST. Nguyên tắc hai cấp xét xửđược thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới và ở nước ta cũng theo xu hướng này. Theo nguyên tắc này, nếu bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, hoặc kháng nghịthì phảiđượcxétxửlại theothủtục phúc thẩm. Ngoài ra, còn có thủ tụcgiám đốc thẩm hoặc tái thẩm, nhưng đây là những thủ tục đặc biệt, không thể hiện đầy đủ các yếu tố đặc trưng của một phiên tòa như xét xử sơ thẩm, là phiên tòa lần đầu xem xét và quyết định về toàn bộ vụ án, phiên tòa sơ thẩm thể hiện đầy đủ nhất các yếu tố đặc trưng của phiên tòa. Vì vậy, trong tố tụng nói đến phiên tòa, tức là nói đến phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm [23, tr.1-2]. Đối tượng xem xét của xét xử sơ thẩm làcáo trạngcủaViện kiểm sát, cònđốitượng xem xétcủaxét xử phúc thẩm là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Xét xửsơ thẩm là một cấpxét xử, còn thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm cóđược tiếp tục thực hiện hay không là tùy theo từng vụán cụ thể. Xét xửsơ thẩm VAHS là xét xử ở cấp thứ nhất, là cấp xét xử bắt buộc đối với bất kỳ vụ án nào.

Chủ thể thực hiện hoạt động chứng minh trong XXSTgồmnhững người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng. Cho dù dưới mô hình TTHS nào thìhoạt động chứng minh của ba chủ thể buộc tội, bào chữa, xét xửcũng luôn tồn tại, không tách rời trong mối quan hệ ràng buộc, gắn bó với nhau. Sựtồn tại hoạtđộng chứng minh của chủ thể này là tất yếu cho sự tồn tại hoạt động chứng minh của các chủ thể còn lại, mỗi hoạt động chứng minh của chủ thể tồn tại, phát triển khi và chỉkhi hoạt động chứng minh của hai chủ thể kia tồn tại, phát triển. Nếu chỉ có hoạt động chứng minh củachủthể buộc tội mà không có hoạtđộngchứng minh củachủthể gỡ tội làmđối trọng thì đâychỉ là hoạt động chứng minh buộc tội một chiều, không có tính tranh tụng. Chân lý sẽ khó tìm thấy nếu chỉ cóđơnphương hoạt động chứng minh của buộc tội hoặc bào chữa, sự thống nhất và đấu tranh giữa hai chủ thể buộc tội vàbào chữa chính là nơi hội tụ chân lý,sựthật khách quan của vụ án sẽ được làm sáng

tỏ. Tại phiên tòa sơ thẩm, các bên có quyền đưa ra chứng cứ,lập luận để đấu tranh nhằm phủ định lẫn nhau cho đến khi sựđối trọng giữa các bên đạt đến đỉnh điểm tại phiên tòa dưới sự điều khiển của Tòa án sẽ đưa ra phán quyết về vụ án.

Nội dung của XXST là xem xét, đánh giá toàn bộ tình tiết, chứng cứ trong hồ

36

sơ vụ án cũng như chứng cứcủacác bên đưa ra tại phiên tòa để làm sáng tỏ những vấn đề phải chứngminh trong vụ án. Xét xử sơ thẩm là cấp xét xử thứ nhất, HĐXX sẽtiến hành kiểm tra, đánh giá công khai khách quan, toàn diện, đầy đủ chứng cứxácđịnh có tội, chứng cứxác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án. “Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng hình sự, trong đó tòaán có thẩm quyền, sau khi nghiên cứu toàn diện khách quan và đầyđủ hồ sơ vụ án,

lần đầutiênđưa vụ ánhình sự ra xét xử công khai trước phiên tòa hình sự nhằm xácđịnh có hay không có tội phạm xảy ra, mộtngười có phải là người phạm tội hay không để từ đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp với tính chất của vụ án mà Viện Kiểm sát đã truy tố” [130, tr. 348-349].

Thủ tục xét xửtại phiên tòa sơ thẩmđược tiến hành thông qua các bước: thủ

tục bắt đầu phiên tòa; xét hỏi tại phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa; nghị án và tuyên án. Những quy định chung về thủ tục xét xử là những bảo đảm quan trọng cho cả quátrình xét xử, trong đó xét xử sơ thẩm là một giai đoạn của quá trình tố tụng nên khi xét xử, Tòa án không chỉ tuân theo các nguyên tắc cơ bản của TTHS, như: nguyên tắc khi xét xửthẩm phán và hội thẩmđộc lập và chỉtuân theo pháp luật; nguyên tắc xét xử

công khai; xét xửtập thể và quyết định theo đa số…mà còn phải tuân theo các quyđịnh chung về thủ tục xét xử tại phiên tòa như nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói

và liên tục; thành phần của hội đồng xét xử sơ thẩm.v.v…

Xuất phát từ vai trò, vị trí của mình, XXST có tầm quan trọng bậc nhất, phiên tòa xét xửsơ thẩmvụán hình sựlà giai đoạn trung tâm, quan trọng nhất của hoạtđộng xét xửnói riêng và cả quá trình tố tụng nói chung. Tố tụngnước ta được thực hiện theo hệ thống pha trộn thiên về xét hỏi, tức yếu tố xét hỏi trong tố tụng nước ta rõ nét hơn. Việc nghiên cứu bản chất của tranh tụng tại phiên tòa ở nước ta phải được xem xét từ góc độ tranh tụng trong tố tụng xét hỏi [23, tr.3].

Xét xửsơ thẩm là giaiđoạn tố tụng phức tạp, không chỉ là tính phức tạp của quá trình chứng minh trong vụ án hình sự mà nó còn phản ánh nhiệm vụ quan trọng của xét xử là xác định sự thật của vụ án. Để thực hiện được các nhiệm vụ của tố tụng

37

hình sự đặt ra, việc xét xử vụ án phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc của tố tụng hình sự vàthủ tục củaphiên tòa sơ thẩm. Xétxửkhông chỉ đơn thuần là kiểm tra các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ rồi tuyên án mà nó phải là quá trình kiểm tra, đánh giá khách quan toàn diện, đầyđủ tất cảcác chứng cứ trong hồ sơ vụ án và chứng cứ do các bên thu thập, xuất trình tại phiên tòa vớimột thủ tụctranh tụng công khai, dân chủ, bình đẳng giữa các bên để làm sáng tỏ sự thật vụ án.

Phiên toà sơ thẩm về thực chất là nơi điềutra trực tiếp, công khai phơi bày chứng cứ của vụ án. Bởi vì, hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra lập trước khi xét xử chỉ làsơ bộ, quyết định truy tố của Viện kiểm sát chỉ là giả định, đây là sự buộc tội chưa đầyđủ. Tòa án không thể thỏa mãn với những lời khai của bị cáo, của người làm chứng,

các kết luận giám định, định giá tài sản…có tronghồsơ vụ án, các chứng cứđócần phải được đưa ra xem xét công khai tại phiên tòa thì chúng mới có thể trở thành chứng cứcó giá trị chứng minh các tình tiết của vụ án. Phiên tòa xétxửsơ thẩm là địa hạt tốt nhất đểluật sư tiến hành các hoạt động chứng minhcủamình một cách công khai, bình đẳng trướcTòa án. Như vậy, XXST là giai đoạn trung tâm, nơi hội tụ của các chủ thể thực hiện các chức năng, trong đó Toà án là cơ quan có thẩm quyền xét xửởcấp thứnhất tiến hành xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện các tình tiết của vụ án để ra quyết định bị cáo có tội hay không có tội, hình phạt áp dụng đối với người phạm

tội và giải quyết các vấn đề khác có liên quan trong vụ án.

Từsựphân tích các khái niệm liên quan về chứng minh, hoạt động chứng minh của luật sư, xét xử sơ thẩm VAHS có thể đưa ra khái niệm: Hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là tổng hợp các hành vi tố tụng của luật sư trong hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để làm sáng tỏ sựthật của vụán, chứng minh vềsự vôtội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị buộc tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

2.1.1.3. Dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu

Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực TNHS và đạtđộ tuổi theo luật địnhthực hiện với lỗicố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến các quan hệ sở hữu thông qua hành vi chiếm đoạt, hủy hoại, chiếm giữ, sửdụng trái phép tài sản, gây thiệt hại hoặc đe đọa gây thiệt hạicho quan hệ sở hữu đãđược BLHS quy định và bảo vệ. Các tội xâm phạm sở hữu là nhóm tội phạm phổ biến

38

trong các VAHS. Các tội phạm xâm phạm sở hữu có các đặc điểm sau đây:

a) Khách thể của các tội phạm xâm phạm sở hữu.

Tội phạm là hành vi do con người thực hiện thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm, như: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm. Khách thể củacác tội xâm phạm sởhữulà những quan hệsở hữu giữa người vớingười đối với tài sản. Nhóm các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại chương XVI của BLHS năm 2015, điều này nói lên vịtrí quan trọng của quan hệ sở hữu trong hệ thống các quan hệ xã hội được BLHS bảo vệ.

Đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu là tài sản, bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Tài sản này phải là thước đo giá trị lao động của con người được kết tinh, đồng thời phải thỏa mãn được các nhu cầu về vật chất hoặc tinh thần của con người [15, tr.116]. Đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu là những tài sản tồn tại dưới dạng vật chất có giá trị, giá trị sử dụng hoặc trị giá bằng tiền. Tuy nhiên, cũng có những loại tài sản khác không thuộc đối tượng điều chỉnh của nhóm các tội xâm phạmsở hữumà là đối tượng của các tội phạm khác. Chẳng hạn như: công trình quan trọng về an ninh quốc gia, vật liệu nổ, vũ khí quân dụng, ma túy,

tàu bay.v.v…Nhìn chung, đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu phải là tài sản có chủ sở hữu, tài sản còn nằm trong sự chiếm hữu, sự quản lý của chủ tài sản.

b) Mặt khách quan của các tội phạm xâm phạm sở hữu

Hành vi khách quan của các tộixâm phạmsở hữu tác động vào bộphận của quan hệ xã hội được luật hình sựbảo vệlà đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu. Mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu là những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan tác động và gây thiệt hại đáng kể cho các quan hệ sở hữu như, các hành vi chiếm đoạt; hủy hoại, làm hư hỏng, làm mất mát, lãng phí tài sản. Có thể chia các tội xâm phạmsở hữu thành hai nhóm chính: các tội xâm phạmsở hữu có tính chiếm đoạt và các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt. Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt gồm 8 tội: Cướp tài sản; Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; Cưỡng đoạt tài sản; Cướp giật tài sản; Công nhiên chiếm đoạt tài sản; Trộm cắp tài sản; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Đa số các tội xâm phạm sởhữulà có tính chiếmđoạt và được xếp đầu tiên trong chương các tội xâm phạm sở hữu theo thứ tự giảm dần về tính chất nguy hiểm cho xã hội.

39

Chiếmđoạt là hành vi của người phạm tội làm cho chủ sở hữu mất khả năng thực hiện các quyền chiếmgiữ, sửdụng, định đoạt đối với tài sản, đồng thời tạo ra cho người phạm tội khả năng chiếm hữu trái phép đối với tài sản của người khác. Các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt gồm 5 tội: Chiếm giữ trái phép tài sản;Sửdụng trái phép tài sản; Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản.

Đối với các tội xâm phạm sở hữu có cấu thành tội phạm hình thức, dấu hiệu về mặtkhách quan chỉ bao gồm yếutố hành vi phạm tội mà không bắt buộcyếutố hậu quả, còn các tộixâm phạmsởhữucó cấu thành vật chất thì dấu hiệu về mặt khách quan phải gồmhành vi, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Hành vi khách quan tuy khác nhau ở các hình thức thể hiện, nhưng có cùng tính chất làđều gây thiệt hại đáng kể cho các quan hệ sở hữu, xâm phạm đến quyền chiếm hữu, sửdụng, định đoạt tài sảncủa chủ sở hữu. Như vậy, hành vi là dấu hiệu bắt buộc trong mọi cấu thành tội phạm, còn hậu quả chỉ là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành một số

tội có cấu thành vật chất. Về thời điểm hoàn thành của tội phạm, trong cấu thành hình thức chỉ cần thực hiện hành vi thì tội phạmđã hoàn thành, còn đốivới cấu thành vật chất, thì hành vi phải có hậu quả xảy ra thì tội phạm mới được coi là hoàn thành. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện người phạm tội có thể thay đổi phương thức, thủ đoạn và sựthayđổi ấycó thể dẫn đến việc chuyển hóa tội phạm. Căn cứvào hành vi chiếmđoạt đã hoàn thành hay chưa và cách thức sử dụng vũ lực như thế nào để chiếm đoạt tài sản có thể xác định trường hợp nào được coi là có chuyển hóa từ các hình thức chiếm đoạt thành tội cướp tài sản hoặc trường hợp không có sự chuyển hóa tội phạm mà chỉ là hành hung để tẩu thoát.

c) Chủ thể của các tội phạm xâm phạm sởhữu

Chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu là người thực hiện tội phạm, đạt độ tuổi nhất định, có năng lực TNHS, đa số là những chủ thể thường, đáp ứng điều kiện chung về chủ thể củatội phạm (có năng lực TNHS, đạt độ tuổi luật định). Trong nhóm tội này chỉ có một tội phạm có chủ thể đặc biệt, đó là tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.

40

Những người từ đủ 16 tuổi trở lên là chủ thể tội phạm của các tội xâm phạm sở hữu. Tuy nhiên, ngườitừđủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ là chủ thể của các tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc về tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng đối với cáctội cưỡngđoạt tài sản; tội cướp giật tài sản; tội trộm cắp tài sản vàtộihủyhoại hoặccố ý làm hư hỏng tài sản. Nếungoài dấu hiệu về độtuổi và năng lực TNHS ra mà có dấu hiệu đặc biệt là những “Người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp” thìđâylà chủ thể của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản. Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội sử dụng trái phép tài sản, thìdấuhiệuchủthể đặc biệt “người có chức vụquyềnhạn”được phảnánh trong cấu thành tăng nặng. Trong trường hợp chuẩn bị phạm tội thì người phạm tội chỉ phải chịu TNHS đối với tội cướp tài sản và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.

d) Mặt chủ quan của các tội phạm xâm phạm sở hữu

Mặt chủ quan của các tội xâm phạm sở hữu là những diễn biến bên trong phản ánh trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi phạm tội và hậu quả của hành vi đó gây ra, bao gồm các dấu hiệu như lỗi, mục đích, động cơ phạm tội. Bất cứ tội phạm nào cũng đều thực hiện do hành vi có lỗi. Ngoài ra, động cơ và mục đích phạm tội còn là biểu hiện vềmặtchủ quan củamộtsốtội xâm phạm sở hữu. Về lỗi, thì đa số các tội xâm phạm sở hữu thực hiện do lỗi cố ý. Trong nhóm tội này có 11 tội được thực hiện với lỗi cố ý và 02 tội thực hiện với lỗi vô ý.

Động cơ, mục đích phạm tội có thể là tư lợi hoặc không tư lợi nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc khi định tội danh về các tội xâm phạm sở hữu. Chẳng hạn, như tội sửdụng trái phép tài sản thì động cơ vụ lợi là dấu hiệu bắt buộc, còn đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tàisảnthìdấuhiệu độngcơ“vìlý do công vụcủa người bị hại”chỉ được phản ánh trong cấu thành tăng nặng. Về mục đích phạm tội thì chỉ có các tội được quy định từĐiều 168 đến Điều 170 BLHS năm 2015 đòi hỏi mục đích “chiếm đoạt tài sản”là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Nhưvậy, đặc điểm nổi bật của các tội xâm phạm sở hữu là tính chiếmđoạt (8/13 tội) nên việc đánh giá ý thức chiếm đoạt có tính bắt buộc đối với các tội có tính chất chiếm đoạt. Hậu quả do các tội xâm phạm sở hữu gây ra chủ yếu là thiệt hại về tài sản, đa số các tội xâm phạm sở hữu có cấu thành vậtchất. Ngoài ra, tính chất và mức độ thiệt hạituy không phải là dấu

41

hiệu địnhtội trong mọi cấu thành tội phạm, nhưng nó là căn cứđể đánh giátính chất, mức độnguy hiểm của hành vi phạm tội, việc xác định thiệt hại về tài sản mang tính bắt buộc để định tội danh, khung hình phạt và giải quyết vấn đề dân sự trong VAHS vềcác tội xâm phạm sở hữu: “Mức độ nghiêm trọng của hậu quả do hành vi phạm tội gây ra có thể có ý nghĩa đối với việc định tội danh – khi đó hậu quả của tội phạm thuộc sựkiện chính. Nhưng chúng có thể có ý nghĩađộc lập,khi việc xác định chúng là cơsởcủa việc bồi thường thiệt hại cho người bị hại” [49, tr.173,174].

Hoạt động chứng minh của luật sư được thực hiện xuyên suốt quá trình tố tụng. Trong đó, xét xử là giaiđoạntrung tâm và phiên tòa sơ thẩm chính là nơi hội tụ của các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử. Đâylà giai đoạn quan trọng nhất để các chủthểthực hiện các hoạtđộng chứng minh bảovệquyền lợicủa mình. Phiên tòa sơ thẩm được coi là địa hạt tốt nhất cho HĐCMLS bào chữa, trong giai đoạn này luật sư sẽ nỗ lực hết mình đưa ra chứng cứ chứng minh bị cáo không phạm

tội hoặc giảm nhẹ TNHS, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội về các tội xâm phạm sở hữu.

Hoạt độngchứng minh của luật sư trong xétxửsơ thẩm chịu ảnh hưởng, chi phối bởi cácđặc điểmcủa từng vụ án và của từng nhóm tội khác nhau. Căncứvào khách thể loại BLHS phân chia thành nhiều nhóm tội phạm khác nhau. Chẳng hạn, nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; các tội xâm phạm sởhữu; các tộixâm phạm chếđộ hôn nhân và gia đình; các tội xâm

phạm trậttựquản lý kinh tế.v.v…Trong đó,các tội xâm phạmsở hữulà nhóm tội phạm phổ biến, phức tạp thường chiếm tỷ lệ cao trong các vụ án được đưa ra xét xử. Hoạt động chứng minh của luật sư chịusựảnh hưởng, chi phối bởi nộidung, tính chất của xétxửsơ thẩm vàđặc điểmcủacác tội xâm phạmsở hữu, chúng có mối quan hệ,tác động cộng hưởng qua lại lẫn nhau tạo cho hoạt độngchứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm cáctộixâm phạm sở hữu một nét riêng so với HĐCMLSđối với các nhóm tội phạm khác được quy định trong Bộ luật hình sự.

Như vậy, hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạmsởhữu chẳng những chịu sựchi phối bởi tính chất, thủ tụccủa phiên tòa sơthẩm mà cònchịu sựchi phốivề đặc điểm của các tộixâm phạm sở hữu, nhữngyếu

tố này đã tác động, chi phối đến hoạt động chứng minh của luật sư tạo thành nét riêng

42

biệt mang tính đặc thù cho HĐCMLS trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu. Từnhững phân tích về hoạt động chứng minh của luật sư, về vai trò, tính chất của xét xửsơ thẩm, đặc điểmcủa các tội xâm phạm sở hữu có thể đưara khái niệm: Hoạtđộng chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu là tổng hợp các hành vi tố tụng của luật sư trong hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để làm sáng tỏ sự thật của vụán, chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị buộc tội về các tội xâm phạm sở hữu trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

2.1.2. Đặcđiểmhoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu

Hoạt động chứng minh của luật sư là một trong những bộphận hợp thành của quá trình chứng minh trong TTHS. Hoạtđộng này có mối quan hệvớitính chất của XXST và đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu tạo nên nét riêng về HĐCMLS trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu, với những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạmsở hữu góp phần làm sáng tỏ sựthật của vụ án, chứng minh về sựvô tội hoặc giảm nhẹ TNHS cho người bị buộc tội.

Chứng minh là hoạt động chủ đạo của TTHS, hoạt động nàyđược thực hiện xuyên suốt từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xé xử, trong đó XXST là giai đoạn rất quan trọng để các chủ thể thực hiện các hoạt động chứng minh cho Tòa án xem xét, đưa ra phán quyết bị cáo có tội hay vô tội. Hoạt động chứng minh của luật sư trong các giaiđoạn điềutra, truy tố chỉ là sự chuẩn bị cho HĐCMLS tại phiên tòa. Có thể nói, XXSTđược coi là cơ hội tốt nhất cho HĐCMLS. Trong giai đoạn này, luật sưsẽ chủ động đưa ra chứng cứ, lập luận thuyết phục HĐXX bác bỏ chứng cứbuộc tội, chấp nhận quan điểm bào chữa của luật sư. Hoạt động chứng minh của luật sư luôn tồn tại đồng thời với hoạt động chứng minh của chủ thể buộc tội như một nhu cầu khách quan xuất phát từ mục đích chung là tìm ra sự thật của vụ án. Tuy nhiên, với vai trò, vị trí tố tụng của mình thì ngoài việc góp phần làm sáng tỏ sự thật của vụ án thì HĐCMLS trong xét xửsơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu còn nhằm mục đích quan trọng là bảo vệ chobịcáo không bị kết tội oan sai trong quá trình giải quyết vụ án.

43

Thứ hai, tùy theo các nhóm tội khác nhau mà đối tượng chứng minh của luật sưtrong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu cũng khác nhau.

Hoạt động chứng minh của luật sư trong xétxửsơ thẩm các tội xâm phạmsở hữu chính là nhằm xác địnhnhững sựkiện, tình tiết để đạtđược sựkhẳngđịnhđối tượng chứng minh là đúng, là xác thực. Các tội xâm phạm sở hữu là nhóm tội độc lập, chúng có những đặc điểmriêng biệt, không giống với các nhóm tội khác, dođóHĐCMLS đối với nhóm tội này cũng có sự khác biệt so các nhóm tội phạm khác được quyđịnh trong BLHS.Đặc biệt, trong đó việc địnhgiá tài sản và các thủđoạnthực hiện tội phạm là những vấn đề rất quan trọng cần phải làm sáng tỏ để truy cứu TNHS vàgiải quyết vấn đềdân sự trong VAHS. Việc xác định thủđoạnphạm tội còn nhằm phân biệt cáctộicó ranh giớigầngiống nhau trong nhóm cáctộixâm phạm sở hữu,đâylà đối tượng cần phải chứng minh trong vụ án về các tội xâm phạmsở hữu. Các đặc điểm này tạo nên sự khác biệt về HĐCMLS trong XXST các tội xâm phạm sở hữu so với HĐCMLS đối với các nhóm tội khác được quy định trong Bộ luật hình sự.

Thứba, hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xửsơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu có mối quan hệ gắn bó mật thiết với chức năng bào chữa.

Chức năng bào chữa là chức năng đặc định, vốn có của TTHS, không có chức năng bào chữa nào mà không chứa đựng nội dung HĐCMLS và cũng không tồn tại HĐCMLS nếu chúng không được thể hiện dưới hình thức thực hiện chức năng bào chữa. Quyền bào chữa được thực hiện thông qua hoạt động bào chữa, nhưng hoạt động bào chữa thực chất là hoạt động chứng minh và luật sư là chủ thể đóng vai trò chủ lực, quan trọng nhất để thực hiện chức năng bào chữa. Hoạt động chứng minh của luật sưtrong XXST các tội xâm phạmsở hữu nhằm bảo đảmquyền bào chữa của người bịbuộc tội đạt hiệu quả cao nhất. Nếu HĐCMLS được thực hiện tốt thì quyền bào chữa của người bịbuộc tội được bảo đảm, chức năng bào chữa được thực thi. Hoạt động chứng minh của luật sư nhằm cụ thể hóa chức năng bào chữa, phản ánh rõ nét nhất vềbảo đảm quyền bào chữa, thông qua HĐCMLS để bảo vệ quyền lợi cho những người bịbuộc tội về các tội xâm phạm sở hữu trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

Người bị buộc tộicó quyền nhưng không buộc phải chứng minh, người bị buộc tội được giải phóng nghĩa vụchứng minh vềsựvô tội. Nếu người bịbuộc tội không chứng minh được sựvô tội, thì không được coi đâylà căn cứđểkết tội. Luật sư bào

44

chữa là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội nên khi họ không có nghĩa vụ chứng minh về sự vô tội thì đương nhiên luật sư cũng không có nghĩa vụnày. Luật sư phải có trách nhiệm chứng minhvề sựvô tội hoặc giảm nhẹ TNHS, đây lànghĩa vụ của luật sư đối với thân chủ của mình, chứ nó không phải là nghĩa vụ chứng minh theo nghĩa của TTHS. Chứng minh vô tội là sự biểu hiện của quyền, chứ không phải là đòi hỏi vềnghĩa vụđối với bên bịbuộc tội. Chứng minh tội phạm là trách nhiệm của bên buộc tội – nghĩa vụ tố tụng, chứng minh về sự vô tội là quyền của bên bào chữa – quyền tố tụng. Cóthểnói,từxưa cho đến nay và mãi sau này, trong TTHS chứng minh luôn là quyền của bên bị buộc tội chứ không phải là nghĩa vụ của họ.

Thứ tư, hoạt động chứng minh của luật sư trong XXST các tội xâm phạmsởhữu là sự phản biện đối với cơ quan buộc tội để bảo vệ quyền lợi cho bị cáo

Mục đích hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm là làm sáng tỏ sự thật vụ án để bảo vệ quyền lợi tốt nhất cho người bị buộc tội. Hoạt động chứng minh củaluật sư cómốiquan hệ vớihoạtđộngchứng minhcủacác chủ thểtiến hànhtố tụng, nhưng không đồng nhất. Nếu như hoạt động chứng minh của Viện kiểm sát là để buộc tội thì HĐCMLS là nhằm hướng đến việc gỡ tội hoặc giảm nhẹ TNHS cho bị cáo, còn hoạt động chứng minh củaTòa án là đểchứng minh tính có căn cứvà hợp pháp cho phán quyết của mình. Hoạt động chứng minh của luật sư trước hết là để làm sáng

tỏ sự thật vụ án, song song với nhiệm vụ đó, HĐCMLS còn bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội. Hơn nữa, HĐCMLS còn là một sự đối trọng, phản biện cần thiết đối vớibên buộc tội, giúp cơ quan này hạnchếsai lầm có thể làm oan sai. Hoạt động chứng minh của chủ thể buộc tội, bào chữa, xét xửlà độc lập, nhưng chúng có mối quan hệvớinhauhợpthành một thểthống nhất đượcquyếtđịnhbởi mụcđích chung của TTHS. Trong tiến trình tố tụng, luật sư bào chữa được coi như là người đã cùng cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tham gia vào sự nghiệp bảo vệ công lý. Vì vậy, việc luật sư bào chữa minh oan cho người vô tội cũng quan trọng và có ý nghĩa xã hội như việc xửlý nghiêm minh người phạm tội. Có thể nói, hoạt độngchứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu không chỉ bảo vệ quyền lợi cho người bị buộc tội mà còn góp phần làm sáng tỏ sựthật của vụán, hoạt động chứng minh của luật sư chínhlà sựkết hợp hòa hòa giữa việcbảovệ quyền lợicủa người bịbuộc tội với việc bảo vệ công lý, lợi ích công cộng và trật tự pháp luật.

45

Thứ năm, hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu cómốiquanhệvớiphạm vi buộctộicủacơ quan truy tố.

Hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâmphạm sởhữu nhằm làm sáng tỏ đối tượng chứng minh. Hoạt động chứng minh của luật sư gắn liền với hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong mối quan hệ tác động qua lại, thống với nhau theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để bảo đảm giá trịchứng minh của các chứng cứ, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động chứng minh của luật sư bảo vệ cho người bị buộc tội về các tội xâm phạm sở hữu. Chứng minh chính là quá trình đi tìm chân lý khách quan của vụ án thông qua chứng cứ. Luật sư sử dụng chứng cứ để chứng minh không có sự kiện phạm tội, hành vi của bị cáo khôngđủ cấu thành một trong các tội xâm phạm sở hữu. Có thể nói, hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu về thực chất và suy cho cùng là quá trình xem xét, sử dụng chứng cứ, mọi hoạt động chứng minh của luật sưđều bắt đầu từchứng cứvà kết thúc từchứng cứ. Chức năng bào chữa nói chung và hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu nói riêng xuất pháttừsựbuộctộivà chịusựtácđộng,chi phốibởi nộidung buộc tội, gắn liền với nộidung buộc tội,“buộctộiđếnđâu, bào chữađến đó”. Tuy nhiên, hoạtđộngchứng minhcủaluật sư cóthể vượtra ngoài phạm vi buộctộivớimục đích làm giảm nhẹtrách nhiệm hìnhsựcho ngườibịbuộc tội.

Thứsáu, hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xửsơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu mang tính phản biện và thuyết phục.

Hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sởhữu mang tính phản biện và thuyết phục,đâylà nétđặc thù của nghề luật sư. Tính phản biện của luật sư được thể hiện rõ nhất trong giai đoạn xét xử mà điển hình là tại phiên tòa sơ thẩm, tại đây luật sư đưa ra chứng cứ, lập luận để phản biện với Kiểm sát viên, luật sư sẽ dùng lý lẽ sắc bén, đưa ra chứng cứ có giá trị chứng minh mạnhmẽ vàcăn cứ pháp luật vững chắc để đấu tranh bác bỏ chứng cứ buộc tội. Sự tham gia tích cực của luật sư làsự đối trọng,phản biện cần thiết đối với cơ quan tiến hành tố tụng, giúp cơ quan nàycẩntrọng hơnđểhạn chếnhững sai lầm trong quá trình chứng minh. Tính thuyết phục vềhoạt động chứng minh của luật sư trong xét xửsơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu được thể hiện ở sự tập trung, nỗ lực hết mình tíchcực đưa

46

ra chứng cứ, lập luận phản bác chứng cứ buộc tội, chứng minh quan điểm bào chữa là có căn cứ để thuyết phục Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của luật sư bào chữa, không chấp nhận chứng cứ buộc tội của Kiểm sát viên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bịbuộc tội vềmột trong các tội xâm phạmsởhữutrong xét xửsơthẩm vụ án hình sự.

Thứbảy, hoạt động chứng minh của luật sư trong XXST các tội xâm phạmsởhữu có mối quan hệ với nguyên tắc tranh tụng và nguyên tắc suy đoán vô tội.

Hoạt động chứng minh của luật sư trong XXST cáctộixâm phạm sởhữucómối quan hệ gắn bó, mật thiết với nguyên tắc tranh tụng và nguyên tắc suy đoán vô tội. Đâylà hai nguyên tắc quan trọng, mang tính đột phá trong hoạt động TTHS. Nguyên

tắc suy đoán vô tội là nền tảng, là biểu hiện cô đọng nhất về quyền bào chữa và hoạt động chứng minh của luật sư. Nguyên tắc suy đoán vô tội đemđếnsựcân bằng cho hoạt động chứng minh của luật sưvốnbị động vàyếu hơn so với bộ máycủacác cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Theo nguyên tắc suy đoán vô tội thì cho đến khi người bị buộc tội được đưa ra xét xử sơ thẩm cũng chưa khẳng định chắc chắn rằng, họ có tội nên mới tồn tạihoạt động tranh tụng giữa Kiểm sát viên và luật sư bào chữa, nguyên tắc suy đoán vô tội đã tạo ra cơ sở pháp lý, một vũ khí sắc bén để luật sưđấu tranh bác bỏsựbuộc tội khi Kiểm sát viên không đưa ra được chứngcứchứng minh bị cáo thực hiện một trong các tội xâm phạm sở hữu.

Thứtám, hoạt động chứng minh của luật sư trong XXST các tội xâm phạmsở hữu mang tính độc lập, trên cơ sở tuân thủ pháp luật, đạo đức nghề nghiệp.

Tính độc lập là nét đặc thù của nghề luật sư, là điều kiện đểphát huy trí tuệ, kinh nghiệm và bản lĩnh của luật sư. Hoạt động độc lập với cơ quan nhà nước là cơ sởđể luật sưbảo vệ quyền lợi cho thân chủ, còn độc lập với thân chủ để đảm bảo cho luật sư tuân thủ pháp luật, đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử hành nghề của luật sư. Pháp luật về luật sư được coi như là “hành lang” pháp lý, còn Quy tắc đạo đức và ứng xửnghề nghiệp luật sư như là “khuôn mẫu chung” để điều chỉnh hành viứng xử của luật sư.Sựtác động cộng hưởng qua lại giữa pháp luật và quychếtrách nhiệm nghềnghiệp chi phối, điều chỉnh các hành vi trong hoạt động hành nghề luật sư, trong đó có hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu.

47

2.2. Đối tượng,nộidung, ý nghĩa hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu

2.2.1. Đối tượng hoạt động chứng minh của luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sở hữu

Để đạt đượcmục đích xác định thật của vụ án thì nhất thiết phải xác định đúngđối tượng chứng minh, định hướng cho toàn bộ quá trình chứng minh. Xác định đúng đối tượng chứng minh có ý nghĩa quan trọng để xác định đúng phạm vi, giới hạn chứng minh. Nếu xác định không đúng đối tượng chứng minh sẽ dẫn đến tình trạng mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi chứng minh, làm cho hoạt động chứng minh dàn trải, kéo dài hoặc bỏ sót những tình tiết quan trọng không làm rõ được sựthật của vụ án. Theo PGS.TS. Trần Văn Độ, thì “Việc làm rõ đối tượng chứng minh có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định đúng phạm vi, giới hạn chứng minh. Xácđịnhkhông đầyđủ đối tượng chứng minh sẽdẫn đến tội phạm không được chứng minh đầy đủ, các tình tiết của vụ án không được làm rõ hết, làm cho việc giải quyết vụ án thiếu toàn diện, thiếu chính xác. Ngược lại, nếu xác định đối tượng chứng minh quá rộng so với đòi hỏi của pháp luật thì làm cho việc chứng minh dàn trải không cần thiết, kéo dài thời gian tố tụng dẫn đến giải quyết vụ án không kịp thời, thậm chí nhiều lúc gây nên sự phiền rối trong quá trình chứng minh” [90, tr.165].

Bộ luật TTHS quyđịnh những vấn đề phải chứng minh trong VAHS mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh (đối tượng chứng minh). Đối tượng chứng minh quy định trong BLTTHS là thể hiện ở dạng khái quát nhất, trên cơsở đó chủ thểtiến hànhtố tụngxác định đối tượng cụ thể cầnlàm sáng tỏ để giải quyết trong từng vụ án. Trong các vụ án về xâm phạmsở hữu chủ thểtiến hành tố tụng phải có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá khách quan, toàn diện tài liệu, chứng cứcủa vụ án để xác định đầy đủ các thuộc tính của chứng cứ làm căn cứ giải quyết vụ án. Hoạt động chứng minh về cáctộixâm phạm sở hữu được thể hiện rõ nét nhất là tại phiên tòa sơthẩm với sựtham gia đầy đủ của các chủ thể buộc tội, bào chữa, xét xử. Luật sư với tưcách là chủ thể thực hiện chức năng bào chữa tại phiên tòa nên đối tượng chứng minh của luật sưsẽ là những tình tiết, chứng cứliên quan đến việc bào chữa. Luật sư phải nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp xác thực và tính liên quan của các chứng cứ để sử dụng cho hoạt động chứng minh của luật sư tại phiên tòa.

48

Mục đích hoạt động tố tụng của luật sư là để đi tìm cho câu trả lời về những vấnđề cần phải chứngminh trong VAHS về các tội xâm phạm sở hữu, góp phần làm sáng tỏ sựthật của vụ án, chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ TNHS cho người bị buộc tội. Để đi tìm câu trả lời về những vấn đề cần phải chứng minh trong VAHS về các tội xâm phạm sở hữu, luật sư bào chữa cần chứng minh làm rõ những vấn đề sau:

– Về đối tượng thiệt hại trong các vụ án xâm phạm sở hữu: Trong các vụ án xâm phạm sở hữu, đối tượng tác động chủ yếu là tài sản. Người phạm tội xâm phạm quan hệ sở hữu về tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc Nhà nước. Tính chất và mức độthiệt hại do hành vi phạm tội gây ra là một trong những vấn đề phải chứng minh trong vụ án vềcác tội xâm phạm sởhữu, nó không phải là dấu hiệu định tội trong mọi cấu thành tội phạm nhưng nó luôn là căn cứ, là thước đo để đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Do đó, việc xác định làm rõ thiệt hại tài sản là rất cần thiết, là một yêu cầu mang tính bắt buộc trong các vụ án về tội xâm phạm sở hữu. Chỉ đến khi nào có kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thì mới có đủ căn cứđể truy cứu TNHS, định khung hình phạt và giải quyết các vấn đề dân sự. Khi tham gia các vụ án xâm phạm sở hữu, luật sư cần thu thập, đánh giá các tài liệu, chứng cứ thể hiện giá trị tài sản bị thiệt hại hoặc bị chiếm đoạt, như: biên bản thu giữtài sản, biên bản xác định giá trị tài sản, kết luận định giá tài sản để kiểm tra trình tự, thủ tục, tính có căn cứ và tính hợp pháp của các chứng cứđể làmcơ sở cho việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, trong một số vụ án về các tội xâm phạm sở hữu, ngoài việc xácđịnh về tài sảnra thì cần xác định, làm rõ thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; xâm phạm đến trậttựan toàn xã hội; đến hoạt động của các cơquan, tổ chức… nhằm đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đểtruy cứu TNHS, giải quyết vấn đề dân sự trong VAHS.

– Về thủ đoạn phạm tội trong các tội phạm có tính chiếm đoạt:Thủđoạn phạm tộilà cách thức thực hiện tội phạm một cách tinh vi khôn khéo, có sự tính toán. Trong các vụ án xâm phạm sở hữu để xác định thủ đoạn phạm tội cần làm rõ công cụ, phương

tiện, cách thức, tínhchất, mức độ củahành vi phạm tội, hành vi chedấu tộiphạm, cách thức quản lý, tiêu thụ tài sản đã chiếm đoạt. Nghĩa là, phải làm rõ người phạm tội đãchuẩn bị cho việc thực hiện tội phạm như thế nào, có sự chuẩn bị trước hay do bộc phát mà thực hiện, các thủ đoạn dùng để thực hiện tội phạm ra sao, thủ phạm có ý thức tạo

49

hiện trường giả, xóa dấu vết để đánh lạc hướng cơ quan có thẩm quyền tiến hành tốtụng không. Trong các vụ án xâm phạm sở hữu, phương thức, thủ đoạn phạm tội được

thể hiện thông qua các hành vi sau: hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực (dùng như thế nào), đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hay chỉ đe dọa dùng vũ lực hoặc cóhành vi khác để phạm tội; hành vi công khai phạm tội; hành vi lén lút, hành vi gian dối. Một trong những đối tượng cầnchứng minh trongvụ án xâm phạm sởhữu có tính chiếm đoạt là thủ đoạn phạm tội. Vídụ:lén lút chiếm đoạt là đặc điểm của tội trộm cắp tài sản; dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là đặc điểm của tội cướp tài sản; dùng thủ đoạn gian dối là đặc điểmcủa tội lạmdụng hoặc tội lừa đảo chiếmđoạt

tài sản v.v… Những hành vi này cần được xác định, làm rõ để xác định chính xác tội danh của các tội trong nhóm các tội xâm phạmsở hữu. Như vậy, phương thức, thủ đoạn phạm tội là căn cứ quan trọng xác định tội danh chính xác về các tội xâm phạm sởhữu trong xét xửsơ thẩm VAHS. Ngoài ra, trong các vụ án về các tội xâm phạmsở hữu rất dễ bị nhầmlẫnkhi xác định tội danh thông qua dấu hiệu vềmặt khách quan. Thực tiễn, thường dễ nhầm lẫn giữa tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản; tội công nhiên chiếm đoạt đoạt tài sản với tội trộm cắp tài sản; tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với

tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.v.v…

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\Hoạt động chứng minh của Luật sư trong xét xử sơ thẩm các tội phạm sở hữu từ thực tiễn các tỉnh Tây Nam Bộ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *