Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại công ty Truyền tải điện 2
Tổ chức công tác kế toán (TCCTKT) là một trong những nội dung thuộc về tổ chức quản lý trong doanh nghiệp. TCCTKT một cách thích ứng với điều kiện quy mô, về đặc điểm tổ chức SXKD cũng như gắn bó với những yêu cầu quản lý cụ thể tại doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp.
Với chức năng thu thập thông tin và kiểm tra tình hình, kết quả hoạt động của doanh nghiệp một cách thường xuyên, kịp thời và có hệ thống nên tổ chức kế toán là một trong những nội dung quan trọng được các doanh nghiệp quan tâm. TCCTKT không đơn thuần là tổ chức một bộ phận quản lý trong doanh nghiệp, mà nó còn bao hàm cả việc xác lập các yếu tố, điều kiện cũng như các mối liên hệ qua lại có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kế toán bảo đảm cho kế toán phát huy tối đa các chức năng vốn có của mình.
Việc TCCTKT khoa học và hợp lý tại doanh nghiệp không những đảm bảo cho việc thu thập thông tin, hệ thống hoá thông tin kế toán đầy đủ, kịp thời, đáng tin cậy phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp, mà còn giúp doanh nghiệp quản lý chặt chẽ tài sản của doanh nghiệp, ngăn ngừa những hành vi làm tổn hại đến tài sản, hoạt động của doanh nghiệp. TCCTKT trong điều kiện thực hiện cơ chế thị trường, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc chung của khoa học tổ chức, còn phải gắn với đặc thù của hạch toán kế toán. Đây vừa là môn khoa học, vừa là nghệ thuật ứng dụng để việc tổ chức kế toán bảo đảm được tính linh hoạt, hiệu quả và đồng bộ nhằm đạt tới mục tiêu chung là tăng cường được hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp có nhiều đơn vị trực thuộc như công ty Truyển tải điện 2 việc TCCTKT rất quan trọng và cần thiết, qua đó góp phần đảm bảo cho việc thu thập thông tin, hệ thống hóa thông tin nghiệp vụ kinh tế phát sinh đầy đủ, kịp thời đáng tin cậy, phục vụ cho công tác quản lý tài chính; giúp quản lý chặt chẽ tài sản, tiền vốn ngăn ngừa những hành vi làm tổn hại đến tài sản, tiền vốn của công ty; … TCCTKT tại công ty hiện nay đang khó khăn trong khâu xử lý và lưu trữ dữ liệu. Mặc dù, đội ngũ nhân viên kế toán của công ty có năng lực tương đối tốt nhưng vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của công việc. Nguyên nhân chủ yếu do có nhiều đơn vị trực thuộc trên địa bàn rộng và trang bị công nghệ còn chưa đáp ứng được yêu cầu.
Vì vậy tổ chức một cách khoa học và hợp lý công tác kế toán là vấn đề rất cấp thiết và quan trọng, đặc biệt để thực hiện tốt công tác quản lý tài chính ở doanh nghiệp. Xuất phát từ lý luận và thực tiễn nêu trên tác giả chọn đề tài: “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại công ty Truyền tải điện 2” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình. Mục đích của nghiên cứu này là nhằm đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện công tác kế toán của cty sao cho vừa phù hợp với cơ chế chính sách của Nhà nước vừa phù hợp với thực tiễn hoạt động của công ty.
– Nghiên cứu các vấn đề lý luận về tổ chức công tác kế toán theo mô hình doanh nghiệp 100% vốn chủ sở hữu nhà nước.
– Nghiên cứu thực trạng tổ chức công tác kế toán tại công ty Truyền tải điện 2 trong thời gian vừa qua.
– Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại công ty Truyền tải điện 2 trong giai đoạn 2018 trở đi.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức công tác kế toán tại công ty Truyền tải điện 2.
– Không gian nghiên cứu: Công ty Truyền tải điện 2.
– Thời gian nghiên cứu: Thực trạng tổ chức công tác kế toán giai đoạn 2016-2018 và giải pháp cho giai đoạn từ năm 2020 trở về sau.
Để có thể cung cấp cho người đọc một cái nhìn xuyên suốt đề tài, luận văn sử dụng phương pháp hỗn hợp hay chính là phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp nghiên cứu định tính.
4.2.1. Phương pháp thu thập tài liệu
– Thực hiện việc nghiên cứu các tài liệu chuyên ngành, thực hiện chọn lọc các nội dung cần thiết và trình bày lại các nội dung đó một cách khoa học làm cơ sở cho việc đưa ra các đánh giá, nhận xét. Các dữ liệu thứ cấp tiến hành thu thập gồm có:
+ Luật kế toán của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 88/2015/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2015;
+ Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam;
+ Thông tư 200/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 22/12/2014 về “Hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp”;
+ Các văn bản hướng dẫn thực hiện chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán doanh nghiệp;
+ Các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến nội dung hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại doanh nghiệp.
Ngoài ra, không thể thiếu đó là thu thập các tài liệu kế toán: chứng từ, sổ sách, báo cáo,…. của công ty Truyền tải điện 2 liên quan đến tổ chức công tác kế toán.
4.2.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
Qua việc thu thập các dữ liệu thứ cấp, dữ liệu sơ cấp, việc phân tích dữ liệu trên và trình bày kết quả phân tích nhằm đạt được các mục tiêu đề ra khi thực hiện đề tài.
Đối với những dữ liệu về tình hình lao động, tình hình tài sản, kết quả kinh doanh, đề tài sử dụng các chỉ tiêu tính toán về số tuyệt đối, số tương đối, để phân tích mức độ và xu hướng biến động về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp từ đó có được những nhận xét đánh giá.
Đối với các dữ liệu thu thập được liên quan trực tiếp đến nội dung tổ chức công tác kế toán, sau khi tiến hành phản ánh, đề tài sẽ tập trung vào việc đánh giá, phân tích những kết quả đạt được và những tồn tại của doanh nghiệp. Việc phân tích phải dựa trên việc so sánh với cơ sở lý luận đã được tổng hợp, trình bày nhằm đưa ra những nhận định chính xác, có cơ sở khoa học hướng tới việc đề xuất các giải pháp hợp lý để hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại doanh nghiệp.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được kết cấu gồm 3 chương với nội dung như sau:
– Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp
– Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại công ty Truyền tải điện 2
– Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại công ty Truyền tải điện 2
6. Tổng quan nghiên cứu luận văn
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp nhà nước
1.1.2. Đặc điểm doanh nghiệp nhà nước
1.1.3. Phân loại doanh nghiệp Nhà nước
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.2.1. Khái niệm và ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp Nhà nước
1.2.2. Yêu cầu, nguyên tắc và nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp Nhà nước
1.2.3. Các đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nước có ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán
1.3. NỘI DUNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG DNNN
1.3.1. Tổ chức bộ máy kế toán
1.3.2. Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán
1.3.3. Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán
1.3.4. Tổ chức vận dụng hệ thống sổ kế toán và hình thức kế toán
1.3.5. Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán
1.3.6. Tổ chức kiểm tra kế toán
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2.
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN 2
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN 2
2.1.1. Lịch sử hình thành, chức năng và nhiệm vụ của công ty Truyền tải điện 2
2.1.2. Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty Truyền tải điện 2
2.1.3. Kết quả hoạt động

2.2. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN 2
2.2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán
2.2.2. Thực trạng tổ chức chứng từ kế toán
Tại công ty Truyền tải điện 2 đang áp dụng hệ thống chứng từ kế toán theo quy định của Luật kế toán, thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 của Bộ Tài chính gồm hệ thống chứng từ bắt buộc và hệ thống chứng từ hướng dẫn và một số văn bản quy phạm pháp luật hiện hành khác có liên quan.
Khi có các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh thì Phòng Tài chính kế toán (bộ phận kế toán) của đơn vị phải tổ chức kiểm tra các điều kiện để hạch toán ban đầu đầy đủ ở tất cả các bộ phận và đây là công việc khởi đầu của quy trình kế toán. Tùy thuộc vào loại nghiệp vụ thực hiện, loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh và số lượng nghiệp vụ để kế toán sử dụng các loại chứng từ kế toán phù hợp.
Quá trình lập, phân loại, kiểm tra chứng từ tại công ty Truyền tải điện 2 tuân thủ quy trình luân chuyển chứng từ qua 4 bước như sơ đồ 2.3 dưới đây:
Lập, tiếp nhận chứng từ kế toán
Kiểm tra, ký chứng từ kế toán
Phân loại, sắp xếp, định khoản và ghi sổ kế toán
Lưu trữ, bảo quản chứng từ kế toán
Hình 2.3. Quy trình luân chuyển chứng từ kế toán của công ty
2.2.3. Thực trạng tổ chức hệ thống tài khoản kế toán
Xuất phát từ đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, trình độ phân cấp quản lý kinh tế tài chính của công ty Truyền tải điện 2, hệ thống tài khoản của công ty theo Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 của Bộ Tài chính. Hệ thống tài khoản của công ty sử dụng bao gồm các tài khoản cấp 1, cấp 2, cấp 3… và các tài khoản chi tiết cần thiết của các tài khoản đó, để xác định hệ thống tài khoản riêng của công ty. Hệ thống tài khoản của công ty đảm bảo tuân thủ các TK cấp 1, cấp 2, cấp 3… không mâu thuẫn với chế độ kế toán Nhà nước ban hành, phù hợp với hoạt động của công ty.
Toàn bộ tài khoản cấp 1 được phân bổ trong 9 loại: Loại 1 và 2 phản ánh tài sản; Loại 3 và 4 phản ánh nguồn vốn; Loại 5 và loại 7 phản ánh doanh thu, loại 6 và loại 8 phản ánh chi phí, loại 9 phản ánh kết quả kinh doanh.
Các tài khoản sử dụng tại công ty Truyền tải điện 2 có kết cấu và nội dung theo quy định của Thông tư 200/2014/TT-BTC. Tuy nhiên đã mở chi tiết cho nhiều tài khoản. Điều này cũng là phù hợp cho việc quản lý của công ty, vì công ty có địa bản quản lý rộng, tài sản chủ yếu là tài sản cố định và rất nhiều loại vật tư, hàng hóa, thành phẩm…. Đây là cũng là lý do mà công ty nên xem xét việc mở rộng thêm hệ thống tài khoản đang sử dụng sao cho hợp lý và khoa học hơn nữa.
2.2.4. Thực trạng tổ chức hệ thống sổ kế toán
Công ty Truyền tải điện 2 áp dụng hình thức kế toán chứng từ ghi sổ và đã thực hiện tin học hóa trong công tác kế toán. Hiện đang sử dụng phần mềm kế toán có tên “ERP”.
Nhìn chung, việc sử dụng các loại sổ, xây dựng kết cấu các loại sổ, quan hệ đối chiếu kiểm tra, trình tự, phương pháp ghi chép các loại sổ kế toán tại công ty đã tuân thủ chế độ và quy định của Nhà nước. Việc sử dụng hình thức ghi sổ là chứng từ ghi sổ có ưu điểm là thuận lợi cho việc ứng dụng phần mềm máy tính trong việc xử lý số liệu kế toán. Và thực tế thì tất cả các sổ này đều đã được lập trong phần mềm kế toán “ERP” và được cài đặt trên máy vi tính. Sau khi nhập đúng, đủ và chính xác chứng từ vào phần mềm kế toán, kế toán có thể xem và in được toàn bộ sổ theo yêu cầu ở các thời điểm khác nhau.
2.2.5. Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán
Báo cáo kế toán là kết quả của công tác kế toán trong doanh nghiệp, là nguồn thông tin quan trọng cho các nhà quản trị của doanh nghiệp cũng như cho các đối tượng khác bên ngoài doanh nghiệp trong đó có các cơ quan chức năng của Nhà nước. Công ty hiện nay đang thực hiện lập và trình bày báo cáo tài chính theo Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính ban hành. Báo cáo tài chính được công ty lập tuân thủ theo đúng nguyên mẫu, nội dung của chế độ hiện hành. Báo cáo tài chính bao gồm: Bảng cân đối kế toán; báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính.
Hệ thống báo cáo tài chính năm bao gồm:
– Bảng cân đối kế toán – Mẫu số B 01–DN;
– Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh – Mẫu số B 02–DN;
– Báo cáo lưu chuyển tiền tệ – Mẫu số B 03-DN;
– Thuyết minh báo cáo tài chính – Mẫu số B 09-DN.
Hệ thống báo cáo tài chính giữa niên độ gồm các báo cáo:
– Bảng cân đối kế toán giữa niên độ – Mẫu số B 01a-DN;
– Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ
– Mẫu số B 02a – DN;
– Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa biên – Mẫu số B 03a – DN;
+ Thuyết minh báo cáo tài chính giữa niên độ – Mẫu số B 09a – DN.
2.2.6. Thực trạng tổ chức kiểm tra kế toán
Công tác kiểm tra kế toán nội bộ trong doanh nghiệp là hết sức quan trọng, điều này sẽ giúp việc cung cấp cho nhà quản trị thông tin chính xác và chất lượng, đồng thời cập nhật nhanh chóng về các chính sách kinh tế tài chính và các văn bản pháp quy nhằm điều chỉnh công tác điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh đúng hướng. Đảm bảo nhanh chóng và hiệu quả trong việc cung cấp thông tin cho các đối tượng trong và ngoài đơn vị.
Công ty không có bộ phận kiểm tra kế toán nội bộ mà chỉ có sự kiểm tra qua lại giữa các nhân viên kế toán, giữa kế toán công ty với nhau, tuy nhiên vẫn đạt hiệu quả cao và chính xác. Vì kế toán công ty đã xây dựng quy trình kiểm tra số liệu chéo và đồng thời áp dụng một số biện pháp kiểm soát như sau:
– Mọi khoản chi đều có chứng từ và có chữ ký duyệt chi của Kế toán trưởng và thủ trưởng đơn vị;
– Hầu hết các khoản chi đều thanh toán qua ngân hàng, hạn chế chi bằng tiền mặt. Tuy nhiên, tiền mua nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất, tiền lương và các khoản chi hàng tháng phát sinh tại các đơn vị trực thuộc thì vẫn thanh toán bằng tiền mặt;
– Thường xuyên đối chiếu với ngân hàng về các khoản đã phát sinh. Tiền gửi ngân hàng so với sổ phụ hay bảng sao kê tài khoản tiền gửi ngân hàng;
– Thường xuyên kiểm tra đối chiếu số liệu chi tiết nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ giữa kế toán vật tư và thủ kho;
– Định kỳ kiểm kê và đối chiếu công nợ, đối chiếu với kế toán trên Công ty. Với việc tổ chức công tác kế toán theo mô hình phân tán, thực hiện hoàn chỉnh các nghiệp vụ nên việc kiểm tra sẽ do các nhân viên kế toán làm đến đâu kiểm tra đến đó trước khi nộp báo cáo vào cuối kỳ kế toán, Kế toán trưởng căn cứ vào đây kiểm tra tính chính xác và hợp lý của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Nội dung kiểm tra kế toán nội bộ bao gồm:
– Kiểm tra chứng từ: Kiểm tra chứng từ kế toán là nội dung chủ yếu của việc kiểm tra trước trong nội bộ đơn vị trực thuộc. Kiểm tra chứng từ rất quan trọng nó gắn liền với việc kiểm tra từng nghiệp vụ kế toán đối với việc kiểm tra thường kỳ hoặc bất thường của công ty và của cơ quan tài chính. Chứng từ kế toán được kiểm tra chủ yếu theo những nội dung sau:
+ Kiểm tra nội dung chứng
+ Kiểm tra tính hợp lệ của chứng từ
+ Đối với những chứng từ tổng hợp và chứng từ ghi sổ phải đối chiếu với chứng từ gốc theo từng nghiệp vụ kinh tế.
– Kiểm tra việc ghi chép vào các sổ kế toán: Kiểm tra nội dung diễn giải vào sổ kế toán có đúng sự thật, đúng với chứng từ kế toán, rõ ràng rành mạch;
– Kiểm tra việc tổ chức bộ máy kế toán: Kiểm tra việc phân công, phân nhiệm, lề lối làm việc của bộ máy kế toán. Yêu cầu trong tổ chức bộ máy kế toán là phải hết sức gọn nhẹ nhưng đảm bảo được chất lượng công việc theo yêu cầu quản lý;
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN 2
Thứ nhất, Công ty Truyền tải điện 2 là một đơn vị có quy mô rất lớn với nhiều đơn vị trực thuộc nhưng lại có bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ, các phòng ban chức năng hoạt động nhịp nhàng, hiệu quả, cung cấp kịp thời chính xác các thông tin cho Ban lãnh đạo công ty để đưa ra các quyết định quản lý phù hợp..
Công ty đã nhận thức vai trò của chứng từ kế toán nên đã xây dựng hệ thống chứng từ đáp ứng yêu cầu quản lý và phù hợp với chế đội kế toán. Do vậy, hệ thống chứng từ tại công ty nói chung và tại các đơn vị trực thuộc nói riêng phần lớn được tổ chức chặt chẽ cả về nội dung và hình thức; đảm bảo tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ và sự thống nhất từ công ty đến các đơn vị trực thuộc. Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều được phản ánh vào các chứng từ có liên quan, quy trình luân chuyển chứng từ được đơn vị thiết kế khá hợp lý và khâu lưu trữ bảo quản theo đúng quy định. Các chứng từ được đánh số liên tục như phiếu thu, phiếu chi, phiếu nhập, phiếu xuất… nên rất dễ kiểm tra, tránh tình trạng mất mát có thể xảy ra. Hệ thống kế toán trong công ty đã đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin không chỉ cho quản lý Nhà nước mà còn phù hợp với yêu cầu sử dụng thông tin của nhiều đối tượng khác nhau và phù hợp với thông lệ, chuẩn mực kế toán.
Thứ ba, công ty Truyền tải điện 2 vận dụng hệ thống sổ kế toán theo hình thức chứng từ ghi sổ phù hợp với đặc điểm của đơn vị. Qua đó đáp ứng được yêu cầu về hệ thống hóa thông tin kế toán từ các chứng từ kế toán đã phản ánh theo từng đối tượng kế toán, theo từng chỉ tiêu kinh tế tài chính phục vụ kịp thời cho quản lý và góp phần thúc đẩy hoạt động của đơn vị có hiệu quả.
Thứ tư, là về hệ thống sổ kế toán: Công ty đã áp dụng tỏ chức sổ kế toán theo hình thức chứng từ ghi sổ là rất phù hợp với công ty có quy mô lớn, nhu cầu quản lý cao, hệ thống sổ sách thống nhất, rõ ràng về biểu mẫu, dễ làm, dễ kiểm tra, đối chiếu, công việc kế toán được phân công đều trong kỳ và các chỉ tiêu thống nhất. Đây cũng là một trong những điều kiện thuận lợi trong công tác kế toán và nâng cao chất lượng công tác kế toán.
Thứ năm, là về tổ chức hệ thống báo cáo kế toán: Các báo cáo tại công ty đã được lập đầy đủ theo đúng quy định của Nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Số liệu của các báo cáo đúng thực tế, phần lớn đã đạt yêu cầu. Báo cáo tài chính của công ty có độ tin cậy và chính xác cao.
Thứ sáu, là về tổ chức kiểm tra kế toán và kiểm toán nội bộ: Công tác này được thực hiện hàng quý, 06 tháng và hàng năm giúp cho công tác tổ chức kế toán ngày càng hoàn thiện, giúp cho việc công bố thông tin báo cáo tài chính được tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng của công tác quản lý nói chung và công tác kế toán nói riêng.
Những kết quả này đã góp phần nhất định vào thành tựu phát triển sản xuất kinh doanh của công ty trong suốt thời gian qua.
2.3.2. Những tồn tại hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại hạn chế
2.3.2.1. Những tồn tại hạn chế
Qua quá trình nghiên cứu tại công ty Truyền tải điện 2, bên cạnh những mặt đã đạt được thì tổ chức công tác kế toán tại công ty còn tồn tại một số hạn chế sau:
Thứ nhất, về tổ chức bộ máy kế toán và ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác kế toán: Bộ máy kế toán của công ty tuy hoạt động nhịp nhàng, đáp ứng tương đối tốt yêu cầu quản lý của ban giám đốc nhưng hiện chưa có bộ phận riêng phục vụ yêu cầu quản trị cũng như phân tích hoạt động kinh doanh. Vì vậy những tham mưu cho giám đốc về tài chính đều do ý kiến chủ quan của cá nhân kế toán trưởng hoặc ý kiến tổng hợp từ giám đốc của công ty. Bên cạnh đó, khả năng, trình độ của nhân viên kế toán là không đồng đều do đó cần tổ chức các lớp đào tạo chuyên môn sâu cho nhân viên để nâng cao trình độ đồng thời cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật mới.
Việc ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác kế toán mặc dù đã được quan tâm nhưng chỉ dừng lại ở phần mềm kế toán, các trang thiết bị, máy móc phục vụ công tác kế toán.
Thứ hai, về tổ chức hệ thống chứng từ kế toán: Tuy đã xây dựng được một hệ thống chứng từ khá hiệu quả, song việc tổ chức hệ thống chứng từ tại Công ty vẫn còn một số thiếu sót như việc thực hiện chi trả tiền lương hàng tháng vẫn trả bằng tiền mặt nên yêu cầu chữ ký của người nhận phải chuẩn nhưng hiện tượng lĩnh hộ, ký thay vẫn thường xuyên. Một sai sót nữa là hiện tượng thiếu chữ ký ở các chứng từ vẫn còn xảy ra ở các chứng từ như giấy đề nghị thanh toán, phiếu chi, phiếu thu…
Thứ ba, về tổ chức hệ thống tài khoản kế toán: Mặc dù Công ty đã sử dụng hệ thống tài khoản kế toán theo đúng quy định của quyết định số 48/2006/QĐ-BTC tuy nhiên hiện tại văn bản này đã hết hiệu lực và đã được thay thế bởi thông tư 133/2016/TT-BTC hoặc trước đó là thông tư 200/2014/TT-BTC. Tuy nhiên kế toán tại công ty vẫn chưa áp dụng theo các văn bản mới, bên cạnh đó nhiều tài khoản chưa được mở chi tiết đặc biệt là các tài khoản về doanh thu, chi phí chỉ theo dõi ở cấp 1 do đó việc theo dõi và ghi sổ cũng gặp khó khăn.
Thứ tư, về tổ chức hệ thống sổ kế toán: Hiện nay, công ty áp dụng hình thức sổ kế toán là chứng từ ghi sổ, sử dụng phần mềm “ERP” để thực hiện công việc kế toán. Vì vậy sau khi chứng từ được kiểm tra và nhập liệu chính xác vào phần mềm thì tất cả các loại sổ tổng hợp, chi tiết được in ra một cách đầy đủ. Tuy nhiên vẫn còn có hiện tượng tẩy xoá trên sổ sách hoặc thực hiện không đúng phương pháp chữa sổ theo quy định của chế độ kế toán hiện hành.
Thứ năm, về tổ chức hệ thống báo cáo kế toán: Việc lập và trình bày báo cáo tài chính hàng năm tổng hợp toàn công ty mặc dù đã tuân thủ tương đối chính xác nhưng đôi lúc vẫn còn hiện tượng lập báo cáo chậm so với quy định, nguyên nhân do phải lập báo cáo bằng thủ công, chưa có phần mềm chuyên dụng.
Thứ sáu, về tổ chức kiểm tra kế toán và kiểm toán nội bộ: Hiện nay, công tác kiểm tra kế toán trong nội bộ công ty chỉ đơn thuần là sự kiểm tra chéo giữa các nhân viên kế toán với nhau do chưa xây dựng được kế hoạch, quy trình kiểm tra cụ thể. Bên cạnh đó, việc kiểm toán nội bộ cũng gặp nhiều khó khăn do công ty chưa có bộ phận chuyên làm công tác này. Điều này không chỉ gây bất tiện cho công ty khi thông tin kế toán bị lộ ra ngoài.
2.3.2.2. Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế
Nguyên nhân khách quan: Do đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty được thực hiện trên địa bàn rộng, chịu nhiều biến động của thời tiết. Bên cạnh đó, chế độ kế toán của Nhà nước có nhiều thay đổi trong mấy năm gần đây, các văn bản pháp lý hướng dẫn chế độ liên quan đến công ty tương đối nhiều nên việc áp dụng còn nhiều lúng túng. Tình hình nắm bắt thông tin kế toán của nhân viên kế toán tại công ty chưa cao.
Nguyên nhân chủ quan:
– Trình độ của nhân viên kế toán tại công ty chưa được tốt bởi việc cập nhật sử dụng các văn bản quy định của nhà nước liên quan đến Chế độ kế toán còn chưa được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định.
– Phải nói đến quan điểm truyền thống về làm kế toán của công ty là tổ chức ghi nhận nghiệp vụ phát sinh, định kỳ lập báo cáo vào cuối tháng, cuối quý, cuối niên độ dẫn đến công việc bị dồn vào cuối tháng, cuối quý, cuối niên độ. Chính vì vậy, việc nhầm lẫn, thiếu sót trong quá trình làm công tác kế toán là không thể tránh khỏi;
– Vấn đề phối hợp giữa bộ phận kế toán và các bộ phận khác trong công ty còn chưa được chặt chẽ dẫn đến việc luân chuyển, kiểm tra và xử lý chứng từ còn chậm, mất nhiều thời gian;
– Việc ứng dụng khoa học công nghệ còn hạn chế, rời rạc. Công ty đầu tư phần mềm kế toán, trang thiết bị, máy móc nhưng chưa đầu tư đúng mức dẫn đến khối lượng công việc kế toán nhiều, dễ nhầm lẫn.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN 2
3.1. MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN 2
3.1.1. Mục tiêu phát triển
3.1.2. Phương hướng hành động
3.2. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN 2
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN 2
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán của đơn vị
Nhìn chung tổ chức công tác kế toán của công ty Truyền tải điện 2 được tổ chức và hoạt động tương đối hiệu quả, hoàn thành tốt vai trò và nhiệm vụ của mình trong việc thu thập, xử lý, ghi chép, kiểm tra, phân tích và cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin kinh tế, tài chính cho ban giám đốc và các cơ quan chức năng. Bên cạnh đó, cũng còn một số tồn tại trong việc tổ chức vận dụng tại công ty còn chưa linh hoạt nên tổng thời gian tìm hiểu thực tế tại công ty, tác giả xin có một số đề xuất để góp phần hoàn thiện tổ chức công tác kế toán như sau:
– Xác định khối lượng công việc kế toán cần thực hiện của cng ty. Mỗi đơn vị trực thuộc công ty đóng trên một địa bàn khác nhau với quy mô khác nhau nên quản lý cũng khác. Vì vậy, cần bố trí người làm kế toán tại các đơn vị trực thuộc phụ thuộc vào từng địa bàn khác nhau. Mặt khác, mỗi phần hành kế toán có sự phức tạp và yêu cầu người làm kế toán khác nhau nên cần bố trí những người làm có kinh nghiệm vào các phần hành kế toán phức tạp và chiếm tỷ trọng hợp lý;
– Xây dựng qui trình, thủ tục kiểm soát nội bộ chặt chẽ, tăng cường áp dụng các nguyên tắc bất kiêm nhiệm và nguyên tắc ủy quyền, phê chuẩn trong việc phân công nhiệm vụ cán bộ kế toán và công tác kiểm tra kế toán: Một trong những ảnh hưởng lớn đến các gian lận và sai sót trong kế toán là các nguyên tắc phân công công tác cho cán bộ trong bộ phận kế toán. Các nguyên tắc ảnh hưởng lớn đến vấn đề gian lận và sai sót là nguyên tắc bất kiêm nhiệm; nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn; nguyên tắc độc lập trong kiểm tra, kiểm soát. Trong tất cả các trường hợp, sự ràng buộc trách nhiệm bằng các văn bản chính thức là cơ sở chắc chắn nhất đối với các nguyên tắc kiểm soát.
Nguyên tắc bất kiêm nhiệm trong kế toán xuất phát từ mối quan hệ đặc biệt giữa các trách nhiệm và các chức năng trong kế toán, đòi hỏi tất cả các công đoạn trong cùng một quy trình nghiệp vụ không thể giao cho một cán bộ. Việc không tách biệt các nhiệm vụ và các chức năng của kế toán với các chức năng khác tạo điều kiện thuận lợi cho các gian lận xảy ra trong đơn vị. Nguyên tắc bất kiêm nhiệm đòi hỏi sự tách biệt về trách nhiệm, cụ thể là tách biệt trách nhiệm ghi chép sổ kế toán vưới các trách nhiệm thực hiện nghiệp vụ, bảo quản tài sản và xét duyệt; tách biệt chức năng kế toán và chức năng tài chính, tách biệt chức năng thực hiện và chức năng kiểm soát.
Nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn: Là việc giao quyền quyết định và giải quyết một hoặc một số công việc trong phạm vi nhất định cho cán bộ cấp dưới. Nguyên tắc này đòi hỏi các nghiệp vụ phát sinh đều được ủy quyền cho các cán bộ phê chuẩn một cách thích hợp và trong phạm vi quyền hạn được giao.
Nguyên tắc độc lập trong kiểm tra, kiểm soát các giao dịch và thông tin kế toán: Việc kiểm tra, kiểm soát nội bộ đơn vị cần đảm bảo yêu cầu về tính độc lập, đây được coi là yếu tố chủ yếu để phát huy tính hiệu quả và khách quan trong quá trình kiểm tra, kiểm soát và thông tin được kiểm tra, kiểm soát. Theo đó, Công ty nên phân công nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thông tin kế toán cho một người độc lập với ghi chép các phần hành kế toán.
– Xây dựng quy trình công tác kế toán một cách bài bản : Kế toán trưởng, phó phòng kế toán công ty nên thiết kế quy trình xử lý công việc trong bộ phận kế toán bằng các lưu đồ liên quan tới từng cán bộ kế toán cụ thể. Quy trình này cần được ban hành bằng văn bản trình Ban giám đốc phê duyệt, có hướng dẫn cụ thể và phổ biến cho các cán bộ của bộ phận kế toán và các bộ phận khác có liên quan. Quy trình cần được xây dựng cụ thể cho các vấn đề như trình tự luân chuyển chứng từ , quy trình phân loại, sắp xếp, bảo quản, lưu trữ tài liệu kế toán, quy trình đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, năng cao ý thức về trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ kế toán.
Hiện nay phần mềm kế toán ERP mà Công ty đang sử dụng có những bất cập mà cán bộ kế toán cảm thấy khó khăn hơn trong việc kiểm tra đối chiếu như khi in ra để kiểm tra thì không có tài khoản đối ứng , ngôn ngữ hoàn toàn bằng Tiếng anh. Do đó để đảm bảo sự thành thục nhất cho cán bộ kế toán đề nghị Công ty hoàn thiện hơn phần mềm ERP như ngôn ngữ bằng Tiếng Việt thân thiện vưới người dùng, nội dung bám sát vưới các quy định chế độ, chính sách về luật kế toán của Việt Nam, cần thiết kế thêm chức năng chuyển tải thông tin thành đồ thị, biểu đồ để hôc trợ công tác tài chính trong Doanh nghiệp, để cán bộ kế toán có thể xử lý thành thạo thao tác trên phần mề,giảm thiểu sự sai sót.
3.3.2. Hoàn thiện tổ chức hệ thống chứng từ kế toán
Chứng từ kế toán là tài liệu gốc, là căn cứ để xác minh số liệu trên báo cáo tài chính có trung thực, hợp lý hay không. Trong thực tế thì hệ thống chứng từ kế toán ở mỗi Công ty có đặc thù riêng nên sẽ có phương pháp, quy trình luân chuyển khác nhau; tuy nhiên vẫn phải tuân theo đúng quy định chung về chứng từ kế toán cho từng bộ phận. Chứng từ kế toán hợp lý sẽ giúp cho công việc tiết kiệm về thời gian, về việc bố trí nhân sự và việc kiểm tra sau này. Việc đề xuất một số giải pháp hoàn thiện tổ chức hệ thống chứng từ kế toán là rất cần thiết vì chứng từ kế toán đảm bảo tính xác thực của hoạt động kế toán, chứng từ đầy đủ đúng quy định, phù hợp với công việc sẽ giúp nhà quản trị và nhân viên kế toán thuận lợi trong việc kiểm tra, kiểm soát các bộ phận có liên quan. Chứng từ của Công ty như đã trình bày ở trên thì còn một số tồn tại: chứng từ thiếu chữ ký, thời gian luân chuyển chứng từ chậm,… Do đó, cần quy định lại các nội dung cơ bản của việc kiểm tra, luân chuyển chứng từ.
– Về công tác bảo quản và lưu trữ chứng từ kế toán: Tài liệu kế toán là căn cứ, cơ sở quan trọng và mang tính pháp lý cho các thông tin do kế toán cung cấp, do vậy chế độ bảo quản và lưu trữ tốt tài liệu kế toán sẽ đem lại nhiều lợi ích cho Công ty trong quá trình tra cứu, kiểm tra, kiểm soát thông tin, đối chiếu trong nội bộ Công ty và đối chiếu với các bên thứ ba, đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời cho công tác thanh tra, quyết toán thuế.
3.3.3. Hoàn thiện tổ chức hệ thống tài khoản kế toán
Một trong những nội dung quan trọng của tổ chức công tác kế toán là tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán là công cụ để thu thập những thông tin cần thiết từ các số liệu trên chứng từ kế toán và xử lý chúng để cung cấp những thông tin kế toán theo nhu cầu của người sử dụng. Hệ thống tài khoản kế toán được sử dụng để phân loại các đối tượng kế toán, ghi chép, phản ánh và kiểm tra thường xuyên, liên tục có hệ thống tình hình hiện có và sự biến động của từng loại tài sản, nguồn vốn cụ thể, nhằm cung cấp thông tin có hệ thống về các hoạt động kinh tế, tài chính ở các đơn vị.
Tài khoản kế toán và hệ thống tài khoản ở Công ty Truyền tải điện 2 đã áp dụng đúng quy định về hệ thống tài khoản kế toán tuy nhiên một số tài khoản chỉ dừng ở cấp 1 chưa mở chi tiết cấp 2, cấp 3. Vì vậy sẽ rất khó khăn cho việc kiểm tra, thanh tra khi cần thiết. Mặt khác, theo nguyên tắc trọng yếu, một thông tin trọng yếu phải được trình bày trên báo cáo tài chính nên khi thiếu thông tin đó sẽ ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính và ảnh hưởng đến việc ra quyết định của người đọc.
Bên cạnh đó, khi xây dựng danh mục tài khoản chi tiết cần phân tích và quán triệt các yêu cầu sử dụng thông tin phục vụ quản lý nội bộ doanh nghiệp.
3.2.4. Hoàn thiện tổ chức vận dụng hệ thống sổ kế toán và hình thức kế toán
Việc tổ chức hệ thống sổ kế toán hợp lý chính là tổ chức ghi chép các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh để góp phần nâng cao năng suất lao động của các nhân viên kế toán, đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời cho thủ trưởng đơn vị cũng như các cơ quan hữu quan.
Hệ thống sổ kế toán tại Công ty Cổ Truyền tải điện 2 theo quy định của chế độ hiện hành, mẫu sổ đúng theo quy định đáp ứng yêu cầu quản lý và cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác. Tại Công ty áp dụng hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ và ứng dụng phần mềm kế toán vào ghi chép, in ấn sổ sách. Công ty cần có giải pháp cụ thể trong việc hoàn thiện hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ, đối chiếu số liệu thường xuyên giữa các phần hành kế toán, công tác bảo mật số liệu.
3.3.5. Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán
– Một báo cáo phản ánh đầy đủ kết quả kinh doanh của các lĩnh vực kinh doanh được gọi là Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Trong báo cáo này, kết quả hoạt động kinh doanh của từng bộ phận cần được trình bày đầy đủ, giúp cho việc tìm hiểu kết quả hoạt động kinh doanh tổng thể ở hiện tại và dự kiến về kết quả hoạt động kinh doanh trong tương lai được rõ ràng hơn;
– Cần nâng cao chất lượng thông tin của Thuyết minh báo cáo tài chính như trình bày khái quát định biên lao động và quỹ tiền lương, tình hình nợ, tình hình sử dụng các quỹ và đánh giá những nguyên nhân các biến động phát sinh không bình thường trong hoạt động của đơn vị ;
– Theo tác giả, Công ty cần bổ sung một số báo cáo quản trị như: báo cáo kế toán quản TSCĐ theo từng đơn vị trực thuộc; báo cáo tình hình công nợ; báo cáo phân tích tuổi nợ…
Đối với hoạt động SXKD cần tập trung vào phân tích hiệu quả các loại hình SXKD, cơ cấu chi phí để có biện pháp điều chỉnh nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.
Vì vậy trong thời gian tới Công ty cần phải xây dựng cho đơn vị mình hệ thống báo cáo quản trị để cung cấp các thông tin kế toán quản trị hữu ích.
3.3.6. Hoàn thiện kiểm tra kế toán và kiểm toán nội bộ
– Thận trọng, nghiêm túc, trung thực, khách quan trong quá trình kiểm tra;
– Các kết luận kiểm tra phải rõ ràng, chính xác, chặt chẽ trên cơ sở đối chiếu với chế độ, thể lệ kế toán cũng như chế độ quản lý kinh tế, tài chính hiện hành. Từ đó đưa ra các thiếu sót cần khắc phục.
Hiện nay, phương pháp kiểm tra kế toán ở Công ty chủ yếu là phương pháp so sánh, đối chiếu số liệu giữa các nhân viên kế toán với nhau. Tiến hành đối chiếu số liệu giữa chứng từ kế toán và sổ kế toán, báo cáo kế toán với nhau; đối chiếu số liệu thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh với chính sách chế độ kế toán tài chính hiện hành.
Chính vì vậy, nhằm nâng cao chất lượng, tính khách quan, độc lập trong công tác kiểm tra kế toán cũng như kiểm toán độc lập thì theo tác giả Công ty nên có một bộ phận kiểm tra, kiểm toán riêng biệt, độc lập với Phòng Tài chính kế toán Công ty như hiện nay; để tránh tình trạng một nhân viên kế toán phải kiêm nhiệm quá nhiều khiến chất lượng công việc bị ảnh hưởng.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
TCCTKT là một trong những nội dung quan trọng trong tổ chức công tác quản lý của doanh nghiệp, với chức năng cung cấp thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế – tài chính trong công tác quản lý ở một doanh nghiệp. Hơn thế nữa, nó còn ảnh hưởng đến việc đáp ứng các yêu cầu quản lý khác nhau của các đối tượng có quyền lợi trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó có các cơ quan chức năng của Nhà nước.
Thông qua toàn bộ nội dung của Luận văn, tác giả đã nghiên cứu các vấn đề chính sau:
– Đã hệ thống và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của việc tổ chức công tác kế toán tại doanh nghiệp.
– Đã nghiên cứu thực trạng của tổ chức công tác kế toán tại Công ty Tryền tải điện 2. Trình bày về hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ cấu tổ chức quản lý và đặc biệt đi sâu phân tích các nội dung của việc tổ chức công tác kế toán tại đơn vị những năm qua rút ra những thành công và những tồn tại cần khắc phục
– Đề xuất phương hướng, giải pháp cụ thể về việc đổi mới và hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Công ty Tryền tải điện 2.
Được sự hướng dẫn tận tình của Thầy giáo –TS. Phan Thanh Hải, cộng với những kiến thức đã được học trong trường và một số kinh nghiệm làm việc thực tế, tác giả đã vận dụng trình bày và đề xuất trong bài luận văn thạc sỹ với hy vọng có thể giúp cho Kế toán trưởng và Ban giám đốc Công ty tham khảo nhằm khắc phục những mặt còn hạn chế trong tổ chức công tác kế toán giúp cho Công ty ngày càng phát triển.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\PHAM THI BỊCH THANH\SAU BAO VE


