Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọnđề tài :
Môi trƣờng có tầm quan trọngđặc biệt đối với đời sốngcon ngƣời, sinh vật và sự phát triển kinhtế,văn hóa, xãhộicủamột đất nƣớc. Chính vì vậy, bảo vệmôi trƣờng đãtrởthành mộtvấnđềtrọng yếucủatoàn cầu và đang
đƣợcnhiều quốc gia trênthếgiới quan tâmđặt thành quốc sách. Tuy nhiên trong những thập kỷ gần đây môi trƣờng thế giới đang có những thay đổi theo chiềuhƣớngxấuđi, nhƣsựthayđổicủakhíhậutoàn cầu,sựsuy giảm tầng ôzôn đang làm cho trái đất ngày càng nóng lên. Sự suy giảm của nhiều giống, loài động vật, thực vật, sự diệt vong của nhiều loài động vật quýhiếm, vấn đềcháy rừng, vấn đề chất thải, ô nhiễm v.v…
Ở nƣớcta từkhi chuyển sangnềnkinh tếthịtrƣờng cùngvớisựphát triểncủaxã hội,đãlàm nảy sinh nhiềuvấnđềmôi trƣờng. Môi trƣờngđất,
nƣớc,không khíởmột số thành phố lớn, khu công nghiệp trung tâm và các khu đông dân cƣ đã và đang bị suy thoái, nguyên nhân chính là do nƣớcthải sinh hoạt vànƣớcthải củacác khu công nghiệp chƣa quaxửlý; tài nguyên thiên nhiên đa dạng, sinh họcbị cạnkiệt vớidiện tích rừng ngày càng giảm; môi trƣờng biển, ven bờ vàhảiđảo có dấu hiệu xuống cấp do việc khai thác quámứcvàsửdụng các biện pháp đánh bắt mang tínhhuỷdiệt làm cho các nguồn thuỷsảnbịgiảm nghiêm trọng; bên cạnhđó sựcố môi trƣờng ngày một ra tăng, điển hình nhất là sự cố tràn dầu ở vùng ven biển .
Đểgiải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinhtế,xã hội và bảo vệmôi trƣờng theo hƣớngphát triển bền vững, nhànƣớcđãban hànhhệthống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trƣờng nhƣ: Luật Bảo vệ môi trƣờng năm 1993 và năm 2005, Luật khoáng sản1996, Luật tài nguyên nƣớc1998,
1
luật thuỷ sản2003, Luật xây dựng 2003, Luật đất đai 2003, Luậtbảovệvàphát triển rừng năm 2004…; cùng các Nghị định của Chínhphủ về hƣớngdẫn thi hành luật bảo vệ môi trƣờng nhƣ : Nghịđịnh117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng, Nghị định113/2010/ NĐ-CP quy địnhvềxácđịnh thiệt hại đốivớimôi
trƣờng ban hành ngày 13/12/2010, Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 củaChính phủ vềphí bảo vệmôi trƣờngđốivới nƣớcthải, Nghị định số 26/2003/NĐ-CP ngày 19/3/2003củaChính phủ vềxửphạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật, Nghịđịnhsố 50/2002/NĐ- CP ngày 25/4/2002 của Chính phủ vềxử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch, Nghịđịnhsố 19/2001/NĐ-CP ngày 11/5/2001 của Chínhphủvềxửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn và kiểm soát bức xạ v.v…; bên cạnh các quyđịnhvề biện pháp trách nhiệm pháp lý trong lĩnhvực bảo vệmôi trƣờng thì nhànƣớcta còn ban hành các quyđịnh vềtổchức và hoạtđộngcủa các cơ quan quản lý về môi trƣờng nhƣ Nghị định số 65/2006/NĐ – CP ngày 23/6/2006 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tài
nguyên và Môi trƣờng….
Tuy nhiên việc vi phạm pháp luật vềbảo vệmôi trƣờngởnƣớcta vẫn diễn ra nghiêm trọng. Theo đánh giácủaBộ Tài nguyên và Môi trƣờng thì trong giaiđoạn2003 đến nay toàn ngành quản lý Nhànƣớcvềbảovệmôi
trƣờngđãtiến hành thanh tra thực hiện luật bảovệmôi trƣờng,kếtquả: trong 439 cơ sở bị xử phạt và yêu cầu phải xử lý ô nhiễm triệt để đã có 156 cơ sở xử lýđạt yêu cầu ( chiếm 36%), 218 cơ sở đã và đang triển khai các biện pháp xử lý
(chiếm 49%) và còn 65 cơ sở chƣa có biện pháp xử lý đáng kể nào (chiếm 15%).
Số cơ sở gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng thuộc thẩm quyền quản lý của các bộ, ngànhđãhoàn thành việcxửlýtriệt đểđạt kết quả thấp (trung bình 40%). 17 tỉnh trong tổng số 29 tỉnh có hơn 50% số cơ sở thuộc diện phải
2
xửlý trong giađoạn2003 – 2005 đã hoàn thành việcxửlý ô nhiễm triệt để, 20 tỉnh trongsố 63 tỉnh có hơn 50%số cơsởđãhoàn thành việcxửlý ô
nhiễm triệtđểgiai đoạn 2003–2007. Cũng theo thống kêtừcácSởtài nguyên môi trƣờng thì 100% cơ sở có phát sinh nƣớc thải ” bỏ qua” việc xin cấp giấy phép xả nƣớc thải vào nguồn nƣớc, 100% doanh nghiệp phát thải khí không có thiết bị xử lý chất nguy hại. Số doanh nghiệp không chấp hành quy định vềbáo cáo đánh giá tácđộng môi trƣờng hoặc camkếtbảo vệmôi
trƣờng chiếm tỷ lệ khá cao từ 55%-70%.
Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng vi phạm pháp luật vềbảo vệmôi trƣờng chính làhệthống pháp luật vềmôi trƣờng ởnƣớcta còn nhiều bất cập, chung chung thiếu rõ ràng, nên khó có thể xác định hành vi nào là thực hiện đúng các quy định pháp luật,đồng thờipháp luật vềmôi trƣờng trong một số lĩnh vựccòn thiếu, VD: các quy địnhpháp luật trong lĩnh vực môi trƣờng biểnvừaphân tán, chồng chéo vừacó nhiều khoảng trống lại thiếu quy hoạch tổng thể; các quy địnhvềxác định mứcđộ thiệt hại mới chỉ dừngởcác thiệt hạicụthểđo đếmđƣợc,chứchƣa có các quyđịnhđểxácđịnhmức độ thiệt hại lâu dài; các quyđịnhvề sử dụngnguồn kinh phíđểkhắc phục ô nhiễm môi trƣờng và bồi thƣờng thiệt hại ô nhiễm môi trƣờng gây ra còn chƣa rõ ràng, thiếu thống nhất; các quyđịnh vềtrách nhiệm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trƣờng là loại trách nhiệm nào? trách nhiệm hành chính hay trách nhiệm dân sự vẫn đanglà vấn đềtranh cãi v.v…
Bên cạnhđó hệ thốngcơ quan áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng còn chồng chéo về chức năng nhiệm vụ, mứcxửphạt hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vựcbảo vệmôi trƣờng
chƣa đủmạnhđểrăn đe các chủ thể vi phạm.
Từnhững thực trạng trên, việc hoàn thiệnhệthống các văn bảnpháp luật về bảo vệmôi trƣờng cũng nhƣ nâng cao hoạt động áp dụng trách nhiệm
3
pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng đang là vấn đề cần đƣợc quan tâm ở
nƣớc ta hiện nay.
Đó làlý do tại sao tác giả chọnđềtài “Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam “
2. Mục đích, đối tƣợng nghiên cứucủa đề tài
Cho đến nay,ởnƣớcta vềphƣơng diện lý luận và thực tiễn thìđâylàmột vấn đềcòn mới mẻ và ít công trình nghiên cứu. Chỉ có một số công trình nghiêncứuvềvấnđềmôi trƣờng nhƣngởkhía cạnh khác nhƣ: trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực bảo vệmôi trƣờng; trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng…
Do vậymụcđính củađềtài là: đi sâu nghiên cứupháp luật vềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnh vựcbảo vệmôi trƣờng hiện nay, mối liên liênhệgiữa pháp luật vềtrách nhiệm hìnhsự,trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dânsự,nghiêncứutổng quan thực trạng pháp luật vềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng hiện nay (trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dânsự,trách nhiệm hành chính),đồng thời nghiêncứuvi phạmcủacông ty VeDanđểtừđó thấy đƣợcnhững bất cập của pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vựcbảo vệmôi trƣờng hiện nay. Ngoài rađểhoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng thì tác giả còn đi sâu nghiên cứu một số quy định vềpháp luật bảo vệmôi trƣờng củamột số
nƣớctrênthếgiới,đểtrên cơsởđó nêu một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trƣờng nói chung và pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng nói riêng ở nƣớc ta hiện nay.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài :
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nhữngnộidung cơ bảnvềvấn đềmôi
trƣờng và pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng, cụ thể bản luận án tập trung nghiên cứu và làm rõ các vấn đề sau đây:
4
+ Nghiên cứu làm rõ khái niệm trách nhiệm pháp lý theo nghĩa tích cực và tiêu cực, trongđó đi sâu nghiên cứutrách nhiệm pháp lý theo nghĩa tiêu cực trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng, trên cơ sở đó nêu khái niệm “pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng”, các đặc trƣng của pháp luật trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệmôi trƣờng. Nhucầuvàtiêu chí hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi
trƣờng hiện nay.
+ Nghiên cứu thực trạng pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng (pháp luật về trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự)
+ Trọng tâm của luận văn và là đi sâu nghiên cứu tìm ra sự bất cập của pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng ở nƣớc ta hiện nay (trách nhiệm hình sự,trách nhiệm dânsự,trách nhiệm hành chính).Đồng thời nghiên cứu một số quy định về pháp luật bảo vệ môi trƣờng cửa một số
nƣớc trên thế giới, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật vềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng .
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài :
Với những kết quả nghiên cứu đã đƣợc nêu trong bản luận án, tác giả hy vọng sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệmôi trƣờng ởViệt Nam, cũng nhƣ nâng cao hiệuquảáp dụng biện pháp trách nhiệm pháp lý của các cơ quan có thẩm quyền, đểtừđó từngbƣớc nâng cao ý thức pháp luật, ý thức bảo vệ môi trƣờng trong nhân dân và các cơsởsảnxuất kinh doanh,đồng thời nâng cao hiệuquảquản lý Nhànƣớcvềlĩnh vực môi trƣờng .
Luận án là một công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam nghiên cứu tƣơngđốitoàn diện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng ở Việt nam . Điểm mới của luận án thể hiện ở khía cạnh sau:
5
– Luận ánđãnêu khái niệm trách nhiệm pháp lý trong lĩnhvựcbảovệmôi
trƣờng ở hai khía cạnh “ tích cực” và “tiêu cực”, trong phạm vi nghiên cứu của đềtác giả đi sâu nghiên cứu khái niệm trách nhiệm pháp lý theo nghĩa tiêu cực, trên cơ sở đó nêu khái niệm “pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi
trƣờng”, hình thức thể hiện, phạm vi tác động và đối tƣợng tác động của pháp luật trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng. Đồng thời tác giả khái quát
đƣợc một số đặc trƣng của trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng làmột trong những cơ sở quan trọng để hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lýtrong lĩnh vực này.
-Đƣara đƣợc các yêu cầu khi hoàn thiện pháp luậtvềtrách nhiệm pháp lýtrong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng phải dựa trên những tiêu chí nào.
– Luận án đã đánh giá một cách tƣơng đối toàn diện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnhvựcbảovệmôi trƣờng hiện nay, cũng nhƣ hiện trạng vi phạm pháp luật bảo vệ môi trƣờng và thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm pháp lýtrong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng .
– Trên cơsởphân tích nhữngbấtcậpcủapháp luậtvềtrách nhiệm pháp lýtrong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng, luận án đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực này ở Việt Nam hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Trên cơ sở phƣơng pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin về pháp luật, luận án sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau đây:
– Phƣơng pháp duy vật biện chứng : tác giả dùngđểnghiên cứu mối liên hệgiữa pháp luật vềtrách nhiệm hìnhsự,trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự
6
– Phƣơng pháp phân tích – tổng hợp dùng đểnghiêncứucác khái niệm
nhƣ: Trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vựcbảo vệmôi trƣờng, pháp luật vềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng…
– Phƣơng pháp thống kêthểhiện ở việc thống kê thực trạng môi trƣờng Việt Nam, thực trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trƣờng hiện nay…
– Phƣơng pháp phân tích thuần tuý quy phạmđƣợctácgiảsửdụng đểnghiên cứu về pháp luật trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng
nhƣ: quy phạm pháp luật trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng Việt Nam.
– Phƣơng pháp so sánh pháp luật: tácgiảdùng đểnghiên cứu pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờngcủa một số nƣớc cókhác gì so với Việt Nam.
7.Kếtcấucủa luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luật thì luận án chia làm 4 chƣơng :
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Chƣơng 2: Cơsởlý luậncủaviệc hoàn thiện pháp luật vềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng.
Chƣơng 3 : Thực trạng pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng
Chƣơng 4: Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng
7
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUANĐẾN ĐỀTÀI
Trong những thập kỷgần đâymôi trƣờng thếgiới đang có những thay đổitheo chiềuhƣớngxấuđi, nhƣsựthayđổicủakhíhậutoàn cầu,sựsuy giảm tầng ôzôn đang làm cho tráiđất ngày càng nóng lên.Sựsuy giảm của nhiều giống, loài động vật, thực vật, sự diệt vong của nhiều loài động vật quý hiếm, vấn đềcháy rừng, vấn đề chất thải, ô nhiễm môi trƣờng…
Ở nƣớcta từkhi chuyển sangnềnkinh tếthịtrƣờng cùngvớisựphát triểncủaxã hội,đãlàmnảysinh nhiềuvấnđềmôi trƣờng quan trọng. Môi
trƣờng đất,nƣớc,không khí ởmột số thành phốlớn, khu công nghiệp trung tâm và các khu đông dân cƣ đã và đang bị suy thoái, nguyên nhân chính là do
nƣớcthải sinh hoạt vànƣớcthảicủacác khu công nghiệp chƣa quaxửlý (điển hìnhlà vụVeDan xả nƣớc bẩn ra sôngThịVải); tài nguyên thiên nhiên đa dạng, sinhhọcbị cạn kiệtvới diện tích rừng ngày càng giảm; môi trƣờng biển, ven bờ vàhải đảo có dấuhiệu xuống cấp do việc khai thác quámứcvàsửdụng các biện pháp đánh bắt mang tính huỷ diệt làm cho các nguồn thuỷ sảnbị giảm nghiêm trọng; bên cạnh đó sựcố môi trƣờng ngày một ra tăng,điển hình mới đây nhất là sự cố tràn dầu ở vùng ven biển Vũng Tàu mà chúng ta vẫn chƣa tìm ra nguyên nhân.
Đểgiải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinhtế,xã hội và bảo vệmôi trƣờng theo hƣớngphát triểnbềnvững, nhànƣớcta đãban hành hệthống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trƣờng nhƣ: Luật Bảo vệ môi trƣờng năm 1993 và năm 2005, Luật khoángsản1996, Luật khoáng sản2005, mới đâylà Luật khoángsảnnăm 2010, Luật tài nguyênnƣớc2004, luật thuỷ sản 2003, Luật xây dựng 2003 và Luật Xây dựng sửa đổi bổ sung năm 2009, Luậtđất đai 2003, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004…; cùng các Nghịđịnh của Chính phủvề hƣớngdẫn thi hànhluật bảo vệmôi trƣờng nhƣ: Nghịđịnh
8
số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 vềxửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vựcbảovệmôi trƣờng, Nghị định 113/2010/NĐ-CP quy định vềxácđịnh thiệt hại đối vớimôi trƣờng ban hành ngày 13/12/2010, Nghị định số67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trƣờng đối vớinƣớcthải, Nghịđịnh số 26/2003/NĐ-CP ngày 19/3/2003 củaChính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật, Nghịđịnh số 50/2002/NĐ-CP ngày 25/4/2002 củaChính phủ vềxửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vựcdu lịch, Nghị định số 19/2001/NĐ-CP ngày 11/5/2001 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn và kiểm soát bức xạ…; bên cạnh các quy định về biện pháp trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệmôi trƣờng thì nhànƣớcta còn ban hành các quyđịnhvề tổchức và hoạt động của các cơ quan quản lý vềmôi trƣờng nhƣNghị định số65/2006/NĐ – CP ngày 23/6/2006 của Chính phủvề tổ chức và hoạt độngcủa
Thanh tra Tài nguyên và Môi trƣờng v…v..
Tuy nhiên việc vi phạm pháp luật vềbảo vệmôi trƣờngởnƣớcta vẫn diễn ra nghiêm trọng. Theo đánh giácủaBộ Tài nguyên và Môi trƣờng thì trong giaiđoạn2003 đến nay toàn ngành quản lý Nhànƣớcvềbảovệmôi
trƣờng đãtiến hành thanh tra thực hiện luật bảovệmôi trƣờng, kết quả : trong 439 cơ sở bị xử phạt và yêu cầu phải xử lý ô nhiễm triệt để đã có 156 cơ sở xử lýđạt yêu cầu ( chiếm 36%), 218 cơ sở đã và đang triển khai các biện pháp xử lý (chiếm 49%) và còn 65 cơ sở chƣa có biện pháp xử lý đáng kể nào (chiếm 15%).
Nhìn chung, hầu hết các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nƣớc chƣađáp ứng đƣợcnhững tiêu chuẩnvềmôi trƣờng theo quy định. Thực trạngđólàm cho môi trƣờng sinh thái ởmột số địa phƣơngbị ô nhiễm nghiêm trọng. Cộngđồng dân cƣ, nhất là các cộngđồngdân cƣ lâncậnvớicác khu công nghiệp, đang phảiđốimặt vớithảmhoạvềmôi trƣờng.Họ phải sống chung với khói bụi, uốngnƣớc từnguồn ô nhiễm chất thải công nghiệp… Từ đó, gây
9
bất bình, dẫn đến những phản ứng, đấu tranh quyết liệt của ngƣời dân đối với những hoạt độnggây ô nhiễm môi trƣờng, có khi bùng phát thành các xung đột xã hội gay gắt.
Cùngvới sựra đời ồ ạt các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghềthủ công truyền thống cũng có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Việc phát triển các làng nghề có vai trò quan trọngđốivới sự phát triển kinhtế – xã hội và giải quyết việc làm ở các địa phƣơng. Tuy nhiên, hậu quả về môi trƣờng do các hoạt độngsảnxuất làng nghềđƣalạicũng ngày càng nghiêm trọng. Do sản xuất mang tính tự phát,sử dụngcông nghệ thủ công lạc hậu, chắp vá, mặt bằngsảnxuất chật chội, việcđầutƣ xây dựnghệthốngxửlýnƣớcthải ít
đƣợcquan tâm,ýthức bảo vệmôi trƣờng sinh tháicủangƣờidân làng nghềcòn kém, bên cạnh đó lại thiếu một cơ chế quản lý, giám sát của các cơ quan chức năngcủaNhànƣớc,chƣa có nhữngchếtàiđủmạnhđốivớinhữnghộlàm nghềthủcông gây ô nhiễm môi trƣờng và cũng chƣa kiên quyết loạibỏnhững làng nghề gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng, nên tình trạngônhiễm môi trƣờngtạicác làng nghề ngày càng trầm trọng và hiện nayđãởmức“báo độngđỏ”. Bên cạnh các khu công nghiệp và các làng nghề gâyônhiễm môi trƣờng,tạicácđô thịlớn, tình trạng ô nhiễm cũngởmứcbáođộng. Đó là các ô nhiễmvềnƣớc thải, rác thải sinh hoạt, rác thải y tế, không khí, tiếng ồn…
Xuất phát từtình hình thực tiễn môi trƣờng nói trênđãcó một số công trình nghiên cứu về môi trƣờng, cũng nhƣ các nghiên cứu về chính sách pháp luật môi trƣờngởnƣớcta hiện nay,đểtrên cơsởđó đềra những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện các cơ chế chính sách về bảo vệ môi trƣờng.
10
1.1. Tình hình nghiên cứu vấn đề bảo vệ môi trƣờng
1.2. Tình hình nghiêncứuvấnđềtrách nhiệm pháp lý và trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng.
Kết luận chƣơng
Vấn đềmôi trƣờng hiện nay khôngchỉlà vấn đềcủa một quốc gia mà làcủatoàn cầu, chính vìvậyđƣợcnhiều nhà khoahọcquan tâm nghiên cứu khôngchỉở trong nƣớc mà còn là ở nƣớc ngoài. Ở nƣớc ta trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng có một số nghiên cứu điển hình sau : “ Chính sách hình sự đối với cáctộiphạm môi trường”củaGS.TSKH Đào Trí Úc, GS.TS Võ Khánh Vinh, Luận ánTiến sỹLuật học“ Trách nhiệm hình sự đối với cáctộiphạm về môi trường”của NCS Dƣơng Thanh An do GS.TSKH. Đào Trí Úc hƣớng dẫnnăm 2011; “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vựcbảo vệmôi
20
trường”củaTS PhạmHữuNghị do Tạp chí KhoahọcĐạihọcQuốc gia HàNội phát hành 1/ 2002; “Trách nhiệm dân sựtrong lĩnh vựcmôi trường ởViệt nam” – tạp chí Nghiêncứulập phápsố 12/2003 củatác giả Đinh Mai
Phƣơng; Luận văn thạcsỹ“Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vựcbảo vệmôi trường ở Việt Nam hiện nay”củahọcviên Nguyễn Văn Việt do GS.TS Phạm Hồng Tháihƣớngdẫn… Cácđềtài nghiêncứunàyđãcó nhiều đóng góp quý báu cho hoạt động áp dụng pháp luật trên thực tiễn, đồng thời là các tài liệu tham khảo hết sứccó giátrịđốivớiviệc nghiêncứuvềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng .
Đểgóp phần nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật vềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng tácgiả đã lựa chọn đềtài “Hoàn thiện pháp luậtvềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnh vựcbảo vệmôi trường ởViệt Nam”. Tác giả mong muốn sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng ở Việt Nam, cũng nhƣ nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp trách nhiệm pháp lý của các cơ quan có thẩm quyền, đểtừ đó
từngbƣớcnâng cao ýthức pháp luật,ýthức bảo vệmôi trƣờng trong nhân dân và các cơsởsảnxuất kinh doanh,đồngthời nâng cao hiệuquảquản lý Nhà nƣớc về lĩnh vực môi trƣờng .
21
Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀTRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI
TRƢỜNG
2.1.Những vần đề vềmôi trƣờng và pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng.
2.1.1.Nhận thức chung về môi trƣờng
Mỗimột cơthểsống dù là cá nhân con ngƣờihay bất kỳmột loại sinh vật nào tồn tại trên trái đất ở trong mọi trạng thái đều bị bao quanh và bị chi phối bởimôi trƣờng.Vậymôi trƣờng là gì? nó đƣợchình thành và có quátrình biến đổi nhƣ thế nào? môi trƣờng có vai trò gì đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài ngƣời ?
Xung quanh khái niệm môi trƣờng, hiện nay có rất nhiều quanđiểm khác nhau của các nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu ở trong nƣớc và trên thế giới. Mỗi quan điểm đều cố gắngdiễn đạt đểđƣa ra những lập luận hợp lý có sức thuyết phục ở các mức độ khác nhau.
Quan điểmthứnhất: cho rằng môi trƣờng là sinh quyển, sinh thái cầnthiết cho sựsống tựnhiên củacon ngƣời, môi trƣờng cũng là nơi chứađựng những nguồn tài nguyên làm thànhđốitƣợngcủalao độngsản xuất, và hình thành các nguồnlựccầnthiết cho việcsảnxuất racủacảivật chất củaloài ngƣời, trongsố này mộtsố có thểtái tạo đƣợc,một số khác không thể tái tạo đƣợc. Trong quá trình khai thác nếu mức độ khai thác nhanh hơn mứcđộ táitạothì gây ra tình trạng khan hiếm, suy kiệt hoặc khủng khoảng môi trƣờng. Theo quan điểm này, khái niệm môi trƣờngđềcập nhiều hơn tới môi trƣờng tự nhiên, chƣa thể hiện đƣợc mối quan hệ giữa tự nhiên vàxã hội trong quan hệ tác động qualạilẫn nhau hợp thành thể thống nhất của môi trƣờng nói chung. Nét nổitrội và ƣuđiểmcủaquanđiểmnày là đãnêu

đƣợcnhững yếu tố cấuthànhcủamôi trƣờng đó là sinh quyển, sinh thái cần thiết chosựsốngtựnhiêncủacon ngƣời.Điểmhạnchếởđâylà cácyếutốsinh quyển, sinh tháiđƣợcđềcập rất chung chung, chƣađƣợccụthểhoá. Trong khái niệm này cácyếutố cấu thành môi trƣờngchƣa đƣợc đềcập đầy đủ,qua cách diễnđạt thì khái niệm toát lên tính không giancủamôi trƣờng “lànơi chứađựngnhững nguồn tài nguyên làm thànhđốitƣợngcủalaođộng”. Ở trong khái niệm này còn thiếu những yếu tố cơ bản cần thiết cho sựhợp thànhcủamôi trƣờngđólàđấtđai,động thực vật,hệsinh thái, còn tài nguyên không phải làyếutố cơbảnduy nhất cấuthành môi trƣờng,đồng thời khái niệm này cũng chƣa thể hiện đƣợc quan hệ giữa con ngƣời với môi
trƣờng cũng nhƣ giữa các yếu tố cấu thành của môi trƣờng với nhau.
Quan điểmthứhai: quanđiểmnày cho rằng môi trƣờng là tổng hợp các điều kiện bên ngoài ảnhhƣởngđến sự tồn tại và phát triển của một sựvật hiện tƣợng nào đó.Bất kỳ một sự vật,hiện tƣợng nào cũng tồn tại và phát triển trong môi trƣờng nhất định.Đốivớicơthểsống thì môi trƣờng là tổng hợp nhữngđiềukiện bên ngoàiảnhhƣởngđếnsựphát triểncủacơ thể.
Tƣơng tựnhƣvậyđối vớicon ngƣờithì “môi trƣờng là tổng hợp tất cảcácđiều kiện vật lý, hoá học, kinh tế, xã hội bao quanh có ảnhhƣởng đến sự sống và phát triểncủatừng cá nhâncủacộngđồngngƣời”.Khái niệm này mang tính bao quát hơn so vớikhái niệm trên, môi trƣờngđƣợcđềcập toàn diện hơn với đầy đủ các yếu tố cấu thành của nó bao quanh cơ thể sống. Điểm nổi trộicủaquanđiểmnày làđãđặt môi trƣờng trong mối quanhệvớisựsống, môi trƣờng gắn với sự sống, đặc biệt quan niệm này nhấn mạnh quan hệ giữa các cơ thể sống với môi trƣờng, qua đấy có thể hiểu môi trƣờng sống của con
ngƣời là những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con ngƣời, của xã hội loài ngƣời. Môi trƣờng sống của con ngƣời bao gồm môi trƣờng tựnhiên và môi trƣờng xã hội. Môi trƣờngtựnhiên giúp cho conngƣờitồntại
23
và phát triển thể chất còn môi trƣờng xã hội có ảnhhƣởngđến việc hình thành nhân cách, đạo đức, phong cách nếp sống của mỗi cá nhân trong xã hội .
Quan điểmthứba : Môi trƣờngở thời điểm nhất địnhlà tập hợp các nhân tố vật lý, hoá học, sinhhọcvà nhân tố xã hội có thể có hậu quả trực tiếp, hay gián tiếp,trƣớcmắt hay lâu dài tớicác sinh vật sống và các hoạtđộng của con ngƣời. Khái niệm này đã hàm chứa tƣơngđối đầy đủ các yếu tốcấu thành môi trƣờng, đó là các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học, xã hội … Mặc dù khái niệm không đềcập cụ thểtới cácyếutố tựnhiên, xã hội, nhƣng qua cách diễn đạt mang tính khái quát đã bao hàm đầy đủ các nhân tố tự nhiên vàxã hội cấu thành môi trƣờng. Điểmmới củaquan điểm này là ở chỗ xác định tính thời giancủamôi trƣờng. Theo quan điểmnày thì môi trƣờng cũng cótính thời gian, môi trƣờng không phải là “ cái gì” đó tĩnh tại, bất biến mà nóluôn thay đổi theo thời điểm. Có thể nói đây là quan điểm tƣơng đối toàn diện về môi trƣờngđãđềcập đến cả thời gian và tính không gian cũng nhƣ những ảnhhƣởngtrực tiếp trƣớc mắt và lâu dài của môi trƣờngđối với đời sốngcon
ngƣời . Tuy nhiên quan điểm này có hạn chế là chƣa thể hiện đƣợc mối quan hệgiữa các yếu tố cấu thành môi trƣờng và quan hệ giữa môi trƣờng với con ngƣời .
Quan điểmthứtư: quan điểm này căn cứ trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác – LêNinvềcácđiềukiện sốngcủacon ngƣời,sự tồn tạivà phát triểncủaloài ngƣời. Theo quanđiểmnày thì C.Mácđãchỉ ra yếu tốquyếtđịnh sự tồn tạivà phát triển của xã hội loàingƣờiđó là điều kiện địalý, dân số,và phƣơng thứcsảnxuất trongđiềukiện hiện tại, ba nhântố cũng có thể
đƣợcxem là các nhântố môi trƣờngtựnhiên, môi trƣờng xãhộivà môi
trƣờng kinhtế.Vớicách tiếp cậnnhƣ vậy, quanđiểmnày cho rằng: môi
trƣờng là khái niệm dùng để chỉ tổng thể các yếu tố vật chất, tự nhiên và nhân tạo bao xung quanh con ngƣời, có quan hệ mật thiết đến sự tồn tại, phát triển củaconngƣờivà xãhộiloài ngƣời. Nhƣvậykhái niệm môi trƣờngởđây
24
không phải là thế giới tự nhiên nói chung,bất kỳ,mà là thếgiới tựnhiên đặt trongmốiquanhệmật thiết vớisựtồntại và phát triểncủaconngƣờivà xãhội loài ngƣời nói chung. Môi trƣờng đƣợc hiểu theo cách diễn đạt này mang tính bao quát rất rộng vàđầyđủ,bao hàm tất cảmôi trƣờngtựnhiên, môi
trƣờng xãhộivà môi trƣờng nhân tạo,đồngthời nó thểhiệnđƣợcmốiquan hệ tƣơng tác giữa các yếu tố tự nhiên, xã hội, nhân tạo và nêu bật đƣợc vai tròcủamôi trƣờngđốivớiđờisốngcủaxãhộiloài ngƣời. Tuy nhiên theo quan điểmnày thì có thể thấy môi trƣờngđƣợc thểhiện chủ yếu ở khía cạnh phân loại môi trƣờng mà chƣa thể hiện đƣợc cấu trúc môi trƣờng .
Quanđiểmthứnăm: môi trƣờng đƣợcđịnh nghĩa theo khoản 1điều 3 Luật bảo vệ môi trƣờng đƣợc nƣớc ta ban hành ngày 12/12/2005 “ Môi trường bao gồmcác yếu tố tựnhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người có ảnh hưởng tớiđời sống, sản xuất,sựtồn tại, phát triển của con người và sinhvật”. Theo quan điểm này thì khái niệm môi trƣờng đề cập nhiều hơn về góc độmôitrƣờng tựnhiên có ảnh hƣởng tới đời sống con ngƣời.
Nhƣvậykhái niệm môi trƣờng,tuỳtheo gócđộ tiếp cậnthìđƣợchiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Tuy nhiên tựu chung lại các quan điểm trên đều đềcập đến các nộidung của môi trƣờng là :
– Nêu rõ bản chất bao quanh của môi trƣờngđối với cơ thể sống.
– Môi trƣờng có ảnhhƣởngvà tácđộngtới các cơ thể sống, tới sản xuất, tới tồn tại và phát triển của xã hội.
– Các mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành môi trƣờng và quan hệ giữa sự tồntại và phát triển của xã hội .
– Cấu trúc của môi trƣờng và các yếu tố cấu thành môi trƣờng.
Do đềtài luận văn là nghiêncứu“ Hoàn thiện pháp luậtvềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng ở Việt Nam” nên tácgiảchọn cách tiếp cận khái niệm môi trƣờng theo quan điểm thứ năm, tức là theo
25
khoản 1 điều 3 của Luật bảo vệ môi trƣờng nƣớc ta ban hành ngày 12/12/2005.Nếukhái niệm môi trƣờngđƣợchiểu theo nghĩa này thì hoạtđộng bảovệmôi trƣờng đƣợchiểu là“những hoạtđộnggiữcho môi trường trong lành,sạch đẹp;phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường,ứng phó sựcố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác,sửdụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học” (quyđịnhtạikhoản 3 điều 3 luật Bảo vệ môi
trƣờng năm 2005) và tất cảcác hành vi vi phạm pháp luật môi trƣờngđều phải chịu trách nhiệm pháp lý. Nhƣvậyso vớiluật bảo vệmôi trƣờng năm 1993 thì luật bảo vệ môi trƣờng năm 2005 đã có quy định chi tiết cụ thể hơn về khái niệm môi trƣờng cũng nhƣ các hoạt động bảo vệ môi trƣờng.
2.1.2.Những vấn đề lý luận vềpháp luật trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng.
* Khái niệm trách nhiệm pháp lý và pháp luậtvềtrách nhiệm pháp lýtrong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Môi trƣờng là tất cảnhững gì xung quanh ta: không khí; nƣớc; đất đai; rừng núi; sông ; hồ;biển cả; thế giới sinh vật … hàng ngày chúng ta phải hít
thở, ăn, uống, sống và làm việc trong môi trƣờng đó.Do vậy, môi trƣờng xung quanh có ảnhhƣởngrất lớnvà trong nhiều trƣờng hợp có ảnhhƣởng quyết định tới sự tồn vong của con ngƣời và sự phát triển kinhtế.
Điều 29 Hiến pháp 1992 (sửađổi,bổ sung năm 2001)củanƣớcta quy định rõ: “ Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quyđịnhcủa nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệmôi trường. Nghiêm cấm mọi hành độnglàm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường.”
26
Nhƣvậymọihành vi phạm pháp luật bảo vệmôi trƣờngđềuphải chịu trách nhiệm pháp lý.Vậytrách nhiệm pháp lý và trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng là gì?
Vềkhái niệm trách nhiệm pháp lý nói chung, trong giới khoahọcpháp lý có những quan điểm khác nhau. Quan điểm truyền thống hiểu trách nhiệm pháp lý làsựđánh giá phủ nhận củanhànƣớcvà xãhộiđốivới những vi phạm pháp luật. Hậu quả là ngƣời vi phạm pháp luật phải chịu các biện pháp
cƣỡngchếnhànƣớcdo các cơ quan nhànƣớc,ngƣời có thẩm quyền thực hiện. Đó là trách nhiệm pháp lý “tiêu cực” hay trách nhiệm đối với hành viđãxảy ra trong quá khứ.
Một quanđiểmkhác cho rằng, trách nhiệm pháp lý là quanhệcó trách nhiệmcủachủthểpháp luật đốivớicác nghĩavụ,bổnphậnđƣợcgiao phó. Trách nhiệm pháp lý theo quan điểmnày đƣợcgọilà trách nhiệm pháp lý theo nghĩa “ tích cực”.
Những năm gần đây xuất hiện quan điểmxem xét trách nhiệm pháp lý trên một bình diện xãhộirộng lớnbao gồmcảhai loại trách nhiệm tiêu cực và tích cực nói trên. Đáng chú ý là có ý kiến theo quan điểm thứ ba này xem xét trách nhiệm pháp lý nói chungdƣới dạngmột quan hệ pháp luật, quan hệpháp luật ấy đƣợc thể hiện ở hai khía cạnh:
1.Nhà nƣớc ấn địnhcho các chủ thể những quyền và nghĩa vụ nhất định và các chủ thểtrách nhiệmýthứcđƣợcnghĩavụ,bổnphậncủamình cũng
nhƣ sự cần thiết phải thực hiện chúng. Đó là quan hệ pháp luật hiện tại.
2.Sựáp dụngbởiNhànƣớcthông qua các cơ quan,ngƣờicó thẩm quyền chế tài pháp lý đối với ngƣời có lỗi trong trƣờnghợp ngƣời đóvi phạm pháp luật hay thiếu trách nhiệm tích cực.Đâylà quanhệpháp luật – trách nhiệm đối với hành viđãxảy ra trong quá khứ.
27
Nhƣvậytheo quan điểm này thì trong lĩnh vực bảo vệmôi trƣờng khái niệm “trách nhiệm” cũngđƣợc hiểu nhƣlà một quan hệ pháp luật và đƣợc thểhiện ở hai khía cạnh sau:
*.Khái niệm “trách nhiệm” theo nghĩa tích cực trong lĩnh vực bảo vệmôi trường
Ở khía cạnh tích cực, khái niệm “trách nhiệm”có nghĩa là chức trách, công việc đƣợc giao bao hàm cả quyền và nghĩa vụ đƣợc pháp luật quyđịnh.
Nhƣvậytrong lĩnhvựcbảo vệmôi trƣờng thì khái niệm trách nhiệm
đƣợchiểu làvừalà quyền,vừalà nghĩa vụvà trách nhiệmcủatất cảcáctổ chức, cá nhân trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng. Điều này có nghĩa làmọi tổchức, cá nhân phải có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm bảo vệ môi trƣờng, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trƣờng; có quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trƣờng.
Đốivớicáctổ chứcsảnxuất, kinh doanh bên cạnh quyềnđƣợckinh doanh và bảo đảm các điều kiện cần thiết theo quy định của pháp luật về bảo vệmôi trƣờngđểhoạt độngkinh doanh nhƣ; đƣợcnhànƣớckhuyến khích đầu tƣ dƣới nhiều hình thức, áp dụng tiến bộ khoahọckỹ thuật và công nghệvào bảo vệ và cải thiện môi trƣờng; sử dụng, khai thác lâu bền các thành phần môi trƣờng và các hệ sinh thái; đƣợc nhà nƣớc bảo vệ quyền lợi hợp pháp đểtham gia đầu tƣ, cải thiện môi trƣờng; nghiên cứu khoahọcvà công nghệvềbảo vệ môi trƣờng; phổ cập khoahọc về kiếnthức môi trƣờng v.v.. thì còn cónghĩa vụvà trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các quyđịnh củapháp luật vềđánh giá tácđộngmôi trƣờng; bảo đảmthực hiện đúng tiêu chuẩn môi
trƣờng, phòng chống khắc phục suy thoáiônhiễm môi trƣờng,sựcố môi
trƣờng; đóng góp tài chínhvềbảo vệmôi trƣờng; bồithƣờng thiệt hạido cóhành vi gây tổn hại môi trƣờng theo quyđịnhcủa pháp luật; cung cấp đầy đủ và tạo điều kiện cho các đoàn kiểm tra, thanh tra về môi trƣờng hoạt động.
28
Đối vớiNhànƣớcthì trách nhiệm trong lĩnh vựcbảo vệmôi trƣờng chính là trách nhiệm thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoahọcvàcông nghệ,phổbiến kiến thức khoahọcvà pháp luật vềbảo vệmôi trƣờng, bên cạnh đó Nhà nƣớc còn phải có trách nhiệm tạo điều kiện về cở sở vật chấtđểcác tổ chức, cá nhân thực hiện quyền về bảo vệ môi trƣờng.
Theo luật pháp Việt nam thì trách nhiệm trong lĩnh vựcbảo vệmôi
trƣờng theo nghĩa tích cựccó thểđƣợcchia thành những nhóm quyền vànghĩavụcụ thể sau :
+ Quyền, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, phổ biến kiến thức khoahọcvề bảo vệ môi trƣờng.
+ Quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong việc phòng chống suy thoái ô nhiễm môi trƣờng, sự cố môi trƣờng.
Đểbảo đảmviệc thực hiện và không ngừng nâng cao quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc phòng chống suy thoái ô nhiễm làmột trong những nội dung quan trọng trong chiếnlƣợc bảo vệmôi trƣờng vàphát triển bền vữngở Việt nam. Luật bảo vệmôi trƣờng năm 2005 đãcụ thểhoáĐiều29 Hiến pháp 1992, nhằm nâng cao hiệulựcquản lý Nhànƣớcvàchính quyền các cấp, các tổ chức kinhtế – xã hội, đơn vịvũ trang và mọi cánhân trong việc bảo vệmôi trƣờng nhằm vệsứckhoẻ nhân dân, bảo đảm quyền con ngƣời đƣợc sống trong môi trƣờng trong lành.
Ngoài ra vấn đềnày cònđƣợcquy định tại cáctạikhoản 3 Điều75, khoản 5 Điều 77, khoản 5 Điều 107 v.v… của Luật đất đai năm 2003.
Điều 4,6,7,20,21,25,26,27,30,31,35,38, 43 .vv.. Luật thuỷ sản 2003 Điều 4 quy định : “bảo đảm hiệuquảkinhtế gắn với việcbảo vệ, tái tạo nguồn lợi thuỷ sản, tính đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và cảnh quan thiên nhiên”
Điều 4,10,13,16, 33,36,37, 41, 42.v.v… của Luật xây dựng năm 2003
+ Quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ, khai thác các nguồn lợi động vật, đa dạng sinh học, rừng, biển và hệ sinh
29
thái. Đây làmột vấn đềhết sức quan trọng,vừamang tính thời sự, vừa mang tính lâu dài trong chiến lƣợc bảo vệ môi trƣờng và phát triển bền vững ở Việt Nam.Điềunày cònđƣợcquyđịnhtạiĐiều4,6,7,20,21 v.v… Luật thuỷ sản năm 2003, Điều 40,41,42,59,60 v.v… Luật bảo vệvà phát triển rừng năm 2004 quyđịnhrất rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể trong hoạtđộngbảo vệ và phát triển rừng.
+ Quyền, trách nhiệm và nghĩa vụcủatổ chức, cá nhân và bảo vệmôi
trƣờng trong lĩnh vựckhai thácđất nông nghiệp,đất lâm nghiệp, thuỷ sản; trong việc bảo vệ nguồn nƣớc, vệ sinh công cộng ở nông thôn; trong sản xuất kinh doanh.
Cùng vớiviệcđƣợcquyền khai thácđất nông nghiệp,đất lâm nghiệp;
đƣợcsửdụng các nguồnnƣớc,hệthống cấp nƣớc,thoát nƣớcv.v.. thì theo quyđịnhcủapháp luật kinh doanhđểsản xuất, kinh doanh và phụcvụ đời sống sinh hoạt của mình, tổ chức, công dân phải có trách nhiệm và nghĩavụ bảo vệ môi trƣờng.
* Khái niệm “ trách nhiệm” theo nghĩa tiêu cực trong lĩnh vực bảo vệmôi trường
Trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng là một loại trách nhiệm pháp lý nói chung nênởkhía cạnh tiêucựckhái niệm “trách nhiệm” trong lĩnh vựcbảo vệmôi trƣờngđƣợchiểu làhậuquảbất lợi(sựphản ứng mang tính trừng phạt củanhànƣớc)mà cá nhân,tổ chức phải hứng chịu khi thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ đƣợc giao phó trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng. Nhƣ vậy trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng chỉ áp dụng đối với những hành viđãthực hiện trong quá khứ. Theo nghĩa này trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vựcbảo vệmôi trƣờng cónhững đặc điểm nhƣ trách nhiệm pháp lý nói chung, cụ thể :
30
Thứnhất: Cở sở của trách nhiệm pháp lý là vi phạm pháp luật bảo vệmôi trường. Ở đâu có vi phạm pháp luật bảo vệmôi trƣờng thì ở đó có trách nhiệm pháp lý. Theo các nhà khoahọcpháp lý thì vi phạm pháp luật bảo vệmôi trƣờng có cácdấuhiệu cơbảnđó là: hành vi có tính trái pháp luật gây thiệt hại cho xã hội, có lỗi, do chủ thể có năng lực hành vi thực hiện
Thứhai: Trách nhiệm pháp lý chứa đựng những yếu tố lên án của nhànướcvà xã hội đối với chủ thể vi phạm pháp luật, là sựphản ứng của nhànướcđối với vi phạm pháp luật.
Đặcđiểmnàythểhiệnnộidung củatrách nhiệm pháp lý, xuất phát từđặcđiểmnày mà trách nhiệm pháp lýđƣợccoi là phƣơng tiện tácđộngcóhiệu quả tới chủ thể vi phạm pháp luật. Vì vậy về mặt hình thức, trách nhiệm pháp lý là việc thực hiện cácchếtài pháp luật đốivớichủthểvi phạm pháp luật thông qua hoạt động tài pháncủacơ quan nhànƣớccó thẩm quyền vàviệc chủ thể vi phạm phải thực hiện chế tài đó. Nhƣ vậy trách nhiệm pháp lýđối với chủthể vi phạm pháp luật cuối cùng chính là sự thực hiện các chế tài củaquy phạm pháp luật,tứclà baogồmtừhoạt động điềutra, xem xét, ra quyết định áp dụng chế tài cũng nhƣ cách thức, trình tự áp dụng nó, cho đến việc tổ chức thực hiện quyết định. Mặc khác, trách nhiệm pháp lý không phải là sự áp dụng chế tài bất kỳ, mà chỉ là áp dụng các chế tài có tính chất trừng phạt hoặcchếtàibồithƣờngvậtchất, cácchếtài có tính chất khôi phục lại quyền đãbịxâm phạm, bảo vệtrậttựpháp luật. Cácchếtài đặctrƣng cho trách nhiệm pháp lý là chế tài hình sự, dân sự, hành chính,kỷluật .
Thứba: Trách nhiệm pháp lý liên quan mật thiết với cưỡng chếnhànước.
Khi vi phạm pháp luật xảyra thì lúcđó giữa chủthểvi phạm pháp luật và cơ quan quản lý nhànƣớc sẽxuất hiện một loại quan hệtrong đó việc cơquan nhànƣớcxácđịnhbiện pháp cƣỡngchếvà áp dụng các biện pháp đó.
31
Nhƣng không phải biện pháp tácđộng nào có tínhcƣỡngchếtrong trƣờng hợp này đều là biện pháp trách nhiệm pháp lý, mà biện pháp trách nhiệm pháp lý là những biện pháp mang tính trừng phạt,tứclà tƣớc đoạt,làm thiệthại ởmột phạm vi nàođó các quyền tựdo,lợiích hợp pháp màchủthểvi phạm pháp luật đángđƣợchƣởng(nhƣ phạt tiền, phạt tù…) và các biện pháp khôi phục pháp luật thƣờng áp dụng kèm theo biện pháp trừng phạt (nhƣ bồi
thƣờng thiệt hạivật chất và tính thần… nhằm khôi phụclạiquyền vàlợiích hợp pháp đã bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại). Nhƣ vậy biện pháp trách nhiệm pháp lýchỉlà một loại biện pháp cƣỡng chế của nhà nƣớc, chỉ áp dụng khi có vi phạm phạm pháp luật xảy ra và tính chất trừng phạt hoặc khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.
Thứtư : Cơ sở pháp lý của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý làquyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan quản lý nhà nước, toà án v.v …).
Đặc điểm này xuất phát từ quan hệ không tách rời giữa trách nhiệm pháp lý và nhànƣớc.Điềuđócó nghĩa là Nhànƣớcthông qua cơ quan có thẩm quyềnmớicó quyền xácđịnhmột cách chính thức hành vi nào là vi phạm pháp luật và áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lýđối với chủthể gây ra vi phạm đó.
Ở đây trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tácgiảxin nghiên cứu trách nhiệm pháp lý theo khái niệm truyền thống hay trách nhiệm pháp lý theo nghĩa “tiêu cực”.
Khái niệm trách nhiệm pháp lý theo nghĩa“ tiêu cực” là một loại quan hệpháp luậtđặcbiệt giữa nhà nước(thông qua cơ quan nhà nướccó thẩm quyền) và chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó nhà nước (thông qua cơ quan có thẩm quyền) có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chếđượcquyđịnh ởcácchếtài quy phạm pháp luậtđối với chủ thể vi phạm và chủ thể đó có
32
nghĩa vụ phải gánh chịu hậuquả bất lợi do hành vi của mình gây ra [giáo trình lý luận chungvềnhànƣớcvà pháp luật – khoa Luật ĐHQG Hà Nội, 2004, tr. 397] .
Từ khái niệm trên ta có thể hiểu khái niệm trách nhiệm pháp lý trong lĩnhvựcbảo vệmôi trường là một loại quanhệpháp luật giữa nhà nước
(thông qua cơ quan có thẩm quyền) với chủ thể vi phạm pháp luật về bảo vệmôi trường, trong đóNhà nước (thông qua cơ quan có thẩm quyền) cóquyền áp dụng các biện pháp cưỡng chếđượcpháp luật bảovệmôi trường quyđịnhđốivớichủthểvi phạm và cácchủthểnày có nghĩavụphải gánh chịuhậuquả bấtlợido hành vi của mình gây ra.
Nếu trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng đƣợc hiểu nhƣtrên thì pháp luậtvềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnhvựcbảovệmôi trường chính là các quy tắc xử sự bắt buộc do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh quan hệ pháp luật giữa nhà nước (thông qua cơ quan có thẩm quyền) vớichủthể vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường và chủ thể vi phạm phải gánh chịu các biện pháp trách nhiệm được quy định ở phần chế tài của quy phạm.
Các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật môi trƣờng phải chịu trách nhiệm pháp lýtrƣớcnhànƣớc,trƣớccộngđồnghoặc cá nhânbịthiệt hại. Việc áp dụng pháp luật trách nhiệm pháp lýđốivớicá nhân,tổ chức cóhành vi vi phạm pháp luật môi trƣờng một mặt buộc ngƣời vi phạm phải gánh chịu nhữnghậuquảpháp lý nhất địnhdo hành vi vi phạm pháp luật gây ra, mặt khác ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật từphía nhữngngƣờikhác. Pháp luật vềtrách nhiệm pháp lý áp dụngđốivớichủthểvi phạm pháp luật bảo vệ môi trƣờng là bộ phận cấu thành không thể thiếu của cơ chế điều chỉnh pháp luật nói chung và pháp luật môi trƣờng nói riêng.
Nhƣvậyviệc hoàn thiện pháp luậtvềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực này chính là hoàn thiện các quy tắc xử sự trên, cụ thể là vấn đề:
33
Vềhình thức: pháp luật trách nhiệm pháp lý trong lĩnhvựcnày chính làcách thức thể hiện tại các quy phạm mang tính trừng phạt (về vật chất hay tinh thần) trong luật chuyên ngành nhƣ: luật hìnhsự,luật dânsự,luật hành chính. Ngoài ra cònđƣợcthểhiệnmộtsốvănbảnpháp luật khác nhƣ: Nghịđịnh 117/2009/NĐ-CP ngày 21/12/2009vềxửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệmôi trƣờng, nghị định 113/2010/NĐ-CP ngày 13/12/2010 quy định về xác định thiệt hại đốivới môi trƣờng …
Về nộidung: Pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi
trƣờng chính là các quyđịnhthếnào làmộthành vi vi phạm pháp luậtbảovệmôi trƣờng và các biện pháp mang tính trừng phạt (về vật chất hay tinh thần) áp dụng đốivới các hành vi này. Nộidung cụ thể của pháp luật trong lĩnh vực này bao gồm: thế nào là hành vi vi phạm hình sự, vi phạm hành chính, vi phạm dân sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng.
Vềphạm vi tácđộng,đốitượngđiềuchỉnh: pháp luậtvềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môitrƣờng tác động đến mộtbên là cơ quan nhà
nƣớc (chủ thể áp dụng biện pháp trừng phạt) và một bên là chủ thể vi phạm pháp luật về bảo vệmôi trƣờng (bên phải gánh chịu hậu quả bất lợi). Đốitƣợng điều chỉnh đƣợc chia theo thẩm quyền áp dụng biện pháp trách nhiệm và hành vi vi phạm pháp luật bảovệmôi trƣờng.Chủthểcó thẩm quyền áp dụng pháp luật trách nhiệm pháp lý chính là các cơ quan quản lý nhànƣớcvềmôi trƣờngtừtrung ƣơng xuống địa phƣơng.Chủthể phải gánh chịuhậu quảbấtlợi chính làcác cá nhân, tổ chức vi phạm phápluật bảo vệmôi trƣờng. Điều đặc biệt trong lĩnh vực này là chủ thể vi phạm thƣờng là các cơ sở sản xuất kinh doanh.
2.1.3. Vai trò, đặc trƣng của pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng .
* Vai trò của pháp luật trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
34
Pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệmôi trƣờng có vị tríđặcbiệt quan trọng trong bảo vệmôi trƣờng. Môi trƣờngbịhuỷhoại chủ yếulà do sựphá hoạicủacon ngƣời. Chính conngƣờitrong quá trình khai thác các yếu tố môi trƣờngđãlàm mất sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi
trƣờng. Vìvậymuốn bảo vệmôi trƣờng trƣớchết phải tácđộngđếncon
ngƣời. Pháp luật về trách nhiệm pháp lý với những quy phạm mang tính trừng phạtđãngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật bảovệmôi trƣờngcủacon
ngƣời một cách hiệu quả nhất,điều này đƣợc thể hiệnở khía cạnh sau:
+ Pháp luậtvềtrách nhiệm pháp lý quy định các biện pháp mang tính trừng phạt mà cácchủthểphải gánh chịu khi thực hiện hành vì khai thác vàsử dụngcácyếu tố củamôi trƣờng không đúng theo quyđịnh củapháp luật. Môi trƣờngvừalàđiềukiện sống,vừalàđốitƣợngcủasự tácđộnghàng ngàycủacon ngƣời.Sựtácđộngcủaconngƣờilàm biếnđổirất nhiều hiện trạngcủamôi trƣờng theo chiềuhƣớnglàm suy thoái nhữngyếutố củanó. Pháp luật trách nhiệm pháp lý với tƣ cách là công cụ điều tiết các hành vi của các chủ thể vi phạm có tác dụng rất lớn trong việc định hƣớng quá trình khai thác môi trƣờng theo tiêu chuẩn nhất định, qua đó sẽ hạn chế những tác hại vàngăn chặn đƣợc sự suy thoái về môi trƣờng.
+ Pháp luậtvềtrách nhiệm pháp lý quy định cácchếtài hình sự,hành chính, dân sựđểbuộc các cá nhân vàtổ chức phải thực hiệnđầyđủ các đòi hỏi của pháp luật trong việc khai thác và sử dụng các yếu tố môi trƣờng. Việc
đƣara các biện pháp mang tính trừng phạt (vềvật chất và tinh thần) có tác dụng răn đe cácchủthểvi phạm pháp luật quađóđịnh hƣớngcác hành vi khai thác và sử dụng môi trƣờng một cách hiệu quả.
Bằng các chế tài hình sự, hành chính, dân sự pháp luật tácđộngtới những hành vi vi phạm. Các chế tài này hoặc cách ly những kẻ vi phạm nguy hiểm khỏi xãhộihoặc áp dụng những hậu quảvậtchất, tinh thần đối vớihọ.Các
35
chếtài hình sự,hành chính, dânsựđƣợcsửdụng trong lĩnh vựcbảo vệmôi
trƣờng vừa có tác dụng ngăn chặn vi phạm luật bảo vệ môi trƣờng vừa có tác dụng giáo dục công dân tôn trọng luật bảo vệ môi trƣờng .
+ Bảo vệ môi trƣờng là công việc khó khăn và phức tạp, nhiều yếu tố của môi trƣờng có phạm vi rộng lớn, có kết cấuphức tạp nên việc bảo vệchúng đòi hỏi phải có hệ thống tổ chức thích hợp. Pháp luật về trách nhiệm pháp lý có tác dụng rất lớn trong việc tạo ra cơ chế áp dụng pháp luật cho các tổ chức bảo vệmôi trƣờng,cụthểthông qua các quy phạm pháp luật này Nhànƣớc trao cho các cơ quan chức năng các thẩm quyền xửphạt trong lĩnh vựcbảo vệ môi trƣờng.
+ Vai trò củapháp luật trách nhiệm pháp lý trong lĩnhvựcbảo vệmôi
trƣờng cònthểhiệnởviệc ban hành các biện pháp bồithƣờng thiệt hại(chủ yếu đƣợc quy định ở pháp luật trách nhiệm dân sự) thông qua đó giúp các bên liên quan giải quyết đƣợc các tranh chấp môi trƣờng, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
* Đặctrưng của pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệmôi trường.
Theo tác giả thì pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệmôi trƣờng có những đặc trƣng riêng sau:
Thứnhất:Đốitƣợngtácđộngcủapháp luật trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng là rất rộng. Theo điều 3 khoản 2 Luật bảo vệ môi
trƣờng 2005 thì môi trƣờng bao gồm cácyếutố : “đất,nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật,hệsinh thái và các hình thái vật chấtkhác”. Tƣơng ứngvới mỗi yếu tốtạo nên môi trƣờng, pháp luật có những quy định khác nhau về nghĩa vụ mà tổ chức, cá nhân phải thực hiện nhằm bảo vệ môi trƣờng và trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá nhân phải gánh chịu khi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định.Vấn đềđặt ra là trong lĩnh vực bảo vệmôi trƣờng
36
chúng ta khôngthểtách từng thành phần môi trƣờng rađểbảo vệmột cách riênglẻ,cũng khôngchỉtuânthủmột quyđịnhvềbảo vệmôi trƣờngđất,
nƣớc hay không khí… mà phải thực hiện đồng thời tất cả các quy định về bảo vệmôi trƣờng, trong khiđó bất kỳhoạt độngnào củaconngƣời(sinh hoạt hàng ngày hoặc sản xuất kinh doanh)đều tác độngđến môi trƣờng vì vậy khi hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực này phải đảm bảo tính thống nhất,đồngbộ.
Thứhai: Đối tƣợngđiều chỉnh của pháp luật về trách pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng chính là các cá nhân, tổ chức vi phạm quyđịnhvề bảo vệ môi trƣờng trong đó các chủ thể vi phạm phải gánh chịu các biện pháp nhƣ: phạt tù, cảnh cáo, phạt tiền, bồi thƣờng thiệt hại … do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền áp dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật bảo vệ môi trƣờng.
Thứba: Việc xácđịnhhành vi cũng nhƣ mối quanhệnhânquảgiữa hành vi vàhậu quảđểtừđó có cơ sở áp dụng pháp luật trách nhiệm pháp lý trong lĩnhvựcbảo vệmôi trƣờng là rất khó khăn, vì hành vi vi phạm pháp luật môi trƣờng đasố chƣađểlạihậuquảtrực tiếp ngay lập tứcmà thông
thƣờng phải qua một thời gian rấtdài, do đó việc tính toán mứcđộ thiệt hại rất phức tạp, khó xác định đƣợc mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra. Trên thực tế thì khó có thể có công thức chungđểtính toán một cáchđầyđủmứcđộ gây thiệt hạicủahành vi vi phạm pháp luật vềbảo vệ môi trƣờng đểtừđó có cơ sở xác định trách nhiệm pháp lýđối với chủ thểvi phạm, VD: hành vi thải hoáchất độchại vào nguồn nƣớc, không phải khi nào cũng gâyhậuquảngay lập tức, màhậuquảcó thểxảyra sau một thời gian dài sử dụng nguồn nƣớc có hoáchất độchại đónhƣ: ung thƣ, bệnh ngoài da, bệnh đƣờng hô hấp… Mặc khác việc xác định mức độ thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trƣờng gây ra đòihỏiphải có một quá trình phức tạp, cho nên một cá nhân thông thƣờng thì khó có thểphát hiện ra mà việc xác
37
định vi phạm và tính chất củavi phạm pháp luật bảo vệmôi trƣờng thƣờng
đƣợc xác địnhthông quahoạt độngthanh tra.
Thứtư: Pháp luật vềtrách nhiệm pháp lý có mốiquanhệchặt chẽvới các quy phạm pháp luậtvề“tiêu chuẩn môi trường”.Bởivì mọi hành vi bị coi là vi phạm pháp luật môi trƣờng khi nó làm ô nhiễm môi trƣờng suy thoái môi trƣờngtứclà thayđổithành phần môi trƣờng, làm cho môi trƣờngvƣợt quá những tiêu chuẩn quy định, chính là nhữngchỉsố mà pháp luật chấp nhận
đƣợc căn cứ vào ảnhhƣởngcủa chúng tới sức khoẻ của con ngƣời và hệ sinh thái. Do vậy nếu pháp luật chƣa quyđịnhtiêu chuẩn môi trƣờng cho một khu vực nhất địnhthì một hành vi làm thay đổi môi trƣờng theo chiều hƣớng xấu đi ở khu vực đó khó có thể bị coi là hành vi gây ô nhiễm môi trƣờng và khócó cơ sở đểbuộc các chủ thể đó chịu trách nhiệm pháp lý.
Tiêu chuẩn môi trường có ýnghĩa đặcbiệt quan trọng, tiêu chuẩn môi
trƣờng vừađƣợcxem là công cụkỹ thuật,vừalà công cụ pháp lý giúp nhà
nƣớcquản lý môi trƣờng. Trên cơsởcác tiêu chuẩn môi trƣờng, nhànƣớc mớicóthểáp dụng các biện pháp ngăn chặn và khắc phục tình trạng môi
trƣờng bị ô nhiễm và xử lý kịp thời các vi phạm môi trƣờng, còn các tổ chức cá nhân có quyền đƣợc biết họ đang sống trong điều kiện môi trƣờng nhƣthếnào? đƣợc phép tácđộngđến môi trƣờng nhƣ thế nào?..
Thứnăm: Việc xácđịnh lỗi củanhiều chủ thểkhi tácđộng đếnmôi
trƣờng, một trongnhững cơ sở đểáp dụng pháp luật trách nhiệm pháp lý của các chủ thể vi phạm pháp luật bảo vệ môi trƣờng là rất khó, VD: đối với một khu công nghiệp chất thải của một nhà máy vào môi trƣờngđƣợc xác địnhlàkhông vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép, nhƣng chất thải của nhiều nhà máy gộp
lạisẽlàm cho nồngđộ các chất thải vào không khí, chất độcthải vào nguồn
nƣớccao hơn nhiều so vớimứcđộ cho phép. Vậy lỗi củacác nhà máy này đến đâu và có buộc tất cả các nhà máy này chịu trách nhiệm pháp lý không ?
38
Trên thực tế thì những trƣờng hợp này mức độ gây ô nhiễm môi trƣờng cũng
nhƣ suy thoái là rất lớn, nhƣng không có đủ cơsởđểbuộc cácchủthểphải chịu trách nhiệm pháp lý.
Thứsáu: Pháp luật trách nhiệm pháp lý quyđịnhcác hành vi bị coi là vi phạm pháp luật môi trƣờng là các hành vi sau đây:
– Không thực hiện các quyđịnhđánh giá tácđộngmôi trƣờng nhƣ: không nộp hoặc nộp không đúng thời hạn quy định báo cáo đánh giá tácđộng môi trƣờng, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các yêucầughi tại phiếu thẩm định hoặc giấy phép môi trƣờng.
– Vi phạm quy định về bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên nhƣ vi phạm về khai thác, kinh doanhđộngthực vật quý hiếm; viphạm về bảo vệ đadạng sinhhọcvà bảo tồn thiên nhiên…
– Vi phạm các quy định về xuất, nhập khẩu công nghệ, thiết bị, hoá chấtđộchại…
– Vi phạm các quy định trong việc bảo quản và sử dụng các chất dễ gây ô nhiễm nhƣ vi phạmvềphòng tráchsựcố môi trƣờng trong tìm kiếm thăm dò, khai thác, vận chuyển dầu khí, vi phạm quyđịnhvề bảo vệ chất phóngxạ.
– Vi phạm các quy định vềvệsinh công cộng nhƣ vi phạmvềvận chuyển và xử lý chất thải, rác thải, vi phạm quyđịnhvề tiếng ồn, độ rung…
Thứbảy: Hậu quả của các hành vi vi phạm pháp luật môi trƣờng thƣờng là dẫn đến ô nhiễm môi trƣờng, suy thoái môi trƣờng và có thể gây sự cố môi
trƣờng. Do vậythông thƣờng muốn xácđịnhtrách nhiệm pháp lýcủamột hành vi trái pháp luật môi trƣờng thì còncầnphải xemđếncáchậuquảcủa hành vi đó có làm ô nhiễm môi trƣờng, suy thoái môi trƣờng hay là nguyên nhân gây nên sự cố môi trƣờng hay không?
Thứtám: pháp luật về trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự hoặc trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng có sự đan xen và bổ sung
39
cho nhau. Khi áp dụng pháp luật này thƣờng không áp dụng một cách độc lập mà có kết hợpvà hỗ trợ cho nhau. Đây chính là một trong những đặc trƣng cơbảncủapháp luật vềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnhvựcbảo vệmôi
trƣờng. Pháp luật về trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng đều có quyđịnhchung một số biện pháp áp dụng nhƣ : buộcngƣờivi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phụchậuquả, bồi
thƣờng thiệt hại (nếu có). Tuy nhiên đối với trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực bảo vệmôi trƣờng, các biện pháp nói trên đƣợcáp dụng là biện pháp chính,
ngƣờivi phạm và ngƣời bị vi phạm có thể thoả thuậnvớinhau khi thực hiện các biện pháp này. Nếu ngƣời có hành vi vi phạm không thực hiện, thì ngƣời bị vi phạm có quyền yêu cầu cơ quan nhànƣớcbảo vệquyền lợi cho mình. Tuy nhiên pháp luật vềtrách nhiệm dânsựtrong lĩnh vựcnày hiện nay còn thiếu nên trên thực tế, cácvụtranh chấp xảy ra có liên quan đến bảovệmôi
trƣờng hầu nhƣ không áp dụng đƣợc các quy định chung về trách nhiệm dân sự, rất ít các trƣờng hợp các chủ thể yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp vàyêu cầu bồi thƣờng thiệt hại môi trƣờng. Vì vậy, pháp luật vềtrách nhiệm hành chính đƣợc coi là hữu hiệu nhất đểxửlý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trƣờng.
Tuy nhiên giữa trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hìnhsựtrong lĩnh vực bảovệmôi trƣờngvẫn có điểmchung là chủthểvi phạm phải chịu trách nhiệmtrƣớcnhànƣớcchứkhông phải phía bên kia nhƣ trong trách nhiệm dân sự và trách nhiệm kỷ luật.Ngƣời xửlý vi phạm vàngƣời bị xửlý đềukhông có quanhệtrực thuộcvềmặt công vụ nhƣ trong trách nhiệmkỷ luật. Trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự đều không áp dụngđồng thờivớinhauđốivớicùng một hành vi vi phạm.Điềunày có nghĩa làmột
ngƣờivi phạm pháp luật bảovệmôi trƣờng thì ngƣờicó thẩm quyền chỉ cóthể áp dụng biện pháp trách nhiệm hành chính hoặc là trách nhiệm hình sự và
40
có thểkèm theo trách nhiệm dân sựhoặc trách nhiệmkỷluật vật chất, đây cũng là nét chung của 2 hình thức trách nhiệm này. Chúng đƣợc áp dụng độc
lập vớinhau, loạitrừnhauđểđảmbảo nguyêntắcnhânđạo củapháp luật: một hành vi vi phạm chỉbị xửphạt một lần.
Giữa pháp luật trách nhiệm dânsựvà trách nhiệm hình sựtrong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng có điểm chung là vấn đề xác định thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra. Thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trƣờng nói chung (diện tích đất, nƣớc, khu vực không khí bị ô nhiễm…); thiệt hại cho con ngƣời (tính mạng, sức khoẻ); thiệt hại gây ra cho tài sản ( bao gồm thiệt hại thực tếvà chi phí khắc phục hậu quả). Tuy nhiên để xác định trách nhiệm dân sự chỉ cần chủthể có hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo vệ môi trƣờng do pháp luật quy định(chƣa cần có thiệt hại xảy ra) thìngƣời bịviphạm đãcó quyền yêu cầu chủ thể vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm. Việc xác định thiệt hại xảy ra chỉ là yếu tố bắt buộc khi áp dụng hình thức bồi thƣờng thiệt hại. Ngƣợc lại trong trách nhiệm hình sự dấu hiệu gây hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc của đa số các tội phạm liên quan đến môi trƣờng.
2.1.4. Quanđiểmcủa Đảngvềviệc hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực bảovệmôi trƣờng
Bảo vệmôi trƣờng làsựnghiệp củatoànĐảng,toàn dân và toàn quân. Bảo vệ môi trƣờng là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đƣờng lối, chủ trƣơng vàkếhoạch phát triển kinh tế- xãhộicủatất cảcác cấp, các ngành, là cơsởquan trọng bảo đảmphát triểnbềnvững, thực hiện thắng lợi sựnghiệp công nghiệp hóa, hiệnđạihóađất nƣớc.Coi phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên tắcchủđạo kết hợp với xửlý ô nhiễm, cải thiện môi
trƣờng và bảo tồnthiên nhiên. Kết hợp phát huynộilựcvớităngcƣờnghợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trƣờng và phát triển bền vững.
41
Bảo vệ môi trƣờng trong đó bảo đảm nguyên tắc ngƣời gây ô nhiễm môi
trƣờng phải chịu trách nhiệm pháp lý là một trong những quan tâm hàngđầu củaĐảngta trong tiến trình công nghiệp hóa hiện đạihóađất nƣớcvà hội nhập quốctế.Vấn đềnày đãđƣợc Đảngtađềcập trongkếhoạch quốc gia vềmôi trƣờng và phát triển bên vững 1991-2000.Chỉthị36 ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị khóa VIII về “ tăng cƣờngbảo vệ môi trƣờng trong tời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc”, Chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội 2001- 2010 đƣợc Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảngthông qua đã khẳngđịnh quanđiểmphát triểnđất nƣớclà:“phát triển nhanh hiệuquảvàbềnvững, tăngcƣờngkinhtế điđôivớithực hiện tiếnbộ,công bằng và bảo vệmôi
trƣờng”.Nghị quyết 41 củaBộ Chính trị khóa IX ( ngày 15/11/2004) cũng
đƣa mụctiêu ngăn chặn hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trƣờng do hoạt độngcủa con ngƣời và tácđộngcủa con ngƣời, tác động củatựnhiên gây ra; khắc phục ô nhễm môi trƣờng,trƣớchết ởnhững nơiônhiễm nghiêm trọng …; Đình chỉhoạt độnghoặc buộc didờiđốivớicơsởgây ô nhiễm nghiêm trọng trong khu dân cƣ nhƣng không có giải pháp khắc phụchậuquả; thực hiện nguyên tắcngƣờigây thiệt hại đốivới môi trƣờng phải khắc phục, bồi thƣờng, từng bƣớc thực hiện thu phí, kýquỹbảo vệmôi
trƣờng, buộc bồi thƣờng thiệt hại về môi trƣờng…
Với chiến lƣợc phát triển nhanh gắnliền với phát triển bền vững, Đảng ta đềra các quyết sách gắn nhiệm vụ bảo vệ môi trƣờng với phát triển kinh tế, xã hội; Đổimớicơchếquản lý tài nguyên và bảo vệmôi trƣờng; Thực hiện nghiêm lộ trìnhxửlý các cơ sở gây ô nhiễm môi trƣờng. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệmôi trƣờng; xây dựngchế tài đủmạnhđểngăn chặn,xửlý các hành vi vi phạm. Khắc phục suy thoái, khôi phục và nâng cao chất
lƣợngmôi trƣờng; …Tăngcƣờnghợp tác quốctế đểphối hợp hànhđộngvàtranhthủ sự giúp đỡcủa cộng đồng quốc tế cho công tác bảo vệ tài nguyên và
42
môi trƣờng, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhà nƣớc tăngđầu tƣ đồng thời cócác cơ chế, chính sách ƣuđãiđểđẩymạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực bảo vệ môi trƣờng.
Đểtiếp tục thực hiện nhữngmụctiêu bảo vệ môi trƣờng trên quan điểm phát triểnbềnvữngcủaĐảngvàchủđộngứngphó vớibiếnđổikhí hậu, trong thời gian tới Đảng ta yêu cầu cần tập trung giải quyết một số nhiệm vụ cơ bản sau:
+ Xây dựng nền văn hóaứngxử thân thiện với môi trƣờng trên cơ sở đổi mớitƣ duy, cách làm, hành viứngxử,ýthức trách nhiệmvớithiên nhiên, môi trƣờng trong xãhộivà củamỗingƣờidân. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dụcpháp luật, nâng cao hiểu biết, xây dựng các chuẩn mực, hình thành ý thức, lối nghĩ, cách làm, hành vi ứngxửthân thiện với thiên nhiên, môi
trƣờng. Tăng cƣờng công tác kiểm tra, thanh tra,xửlý quyết liệt, giải quyết dứt điểmcácvụviệcvề môi trƣờng, các vi phạm pháp luật bảo vệ môi
trƣờng. Cần tạo bƣớc chuyển biến mạnh mẽ từnhận thức sang hànhđộngcụ thể. Lấy chỉ số đầu tƣ cho môi trƣờng, hoạt động bảo vệ môi trƣờng, kết quảbảo vệ môi trƣờngcụ thể đểđánh giá.
+ Coi trọng yếutố môi trƣờng trong tái cơcấukinh tế,tiếp cậncác xu thế tăng trƣởng bền vững và hài hòa trong phát triển ngành, vùng phù hợp với khảnăng chịutảimôi trƣờng, sinh thái cảnh quan, tài nguyên thiên nhiên vàtrình độ phát triển. Đã đến lúc “nói không” với tăng trƣởng kinh tế bằng mọi giá; Tăng trƣởng kinh tế phải đồng thời với bảo vệ môi trƣờng, ứng phó với biếnđổikhí hậu. Bảo vệ môi trƣờng, ứng phó với biến đổi khí hậu cũng phải thay đổi theo hƣớng có lợi cho tăng trƣởng kinhtế,thúc đẩy tăng trƣởng kinhtế, tạora công ăn việc làm, hỗ trợ để đất nƣớc phát triển nhanh hơn, bền vững hơn.
+ Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai. Quy hoạch sử dụngđất cả nƣớc đếnnăm 2020 và kếhoạch sử dụng đất 5 năm 2011 – 2015. Xáclập
43
cơ chế cung – cầu, chia sẻ lợi ích, phát triển bền vững tài nguyên nƣớc và bảođảm an ninh nguồn nƣớc. Xác định danh mục các nguồn nƣớc bị ô nhiễm, cạn kiệt nghiêm trọng; xửlý nghiêm các trƣờng hợp xảnƣớcthải gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồnnƣớc,đềxuất giải pháp xửlý, khôi phục.Đẩymạnh xãhộihóa, tạo điềukiệnđểcác thành phần kinhtế,cáctổ chức xã hội, mọi
ngƣờidân tham gia bảo vệmôi trƣờng, làm kinhtế từmôi trƣờng. Tạo điều kiện,hỗ trợ đểcác tổ chức phản biện xãhộivềmôi trƣờng, các hội, hiệp hội vềthiên nhiên và môi trƣờng hình thành,lớnmạnh và phát triển, đóng góp tích cực tronghoạt độngbảo vệ môi trƣờng.
+ Hoàn thiệnhệthống pháp luật vềmôi trƣờng, chuẩn bị cơ sở pháp lý cho ứng phó với biến đối khí hậu theo hƣớng thống nhất, công bằng, hiện đại vàhộinhập đáp ứng yêucầuxây dựng nhànƣớcpháp quyền xãhộichủ nghĩa. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành, tiến tới xây dựngBộluật môi trƣờng, hình thànhhệthống các văn bản quy định chi tiết và hƣớng dẫnthi hành theo hƣớngthống nhất, công bằng, hiệnđạivà hội nhập, khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, không rõ trách nhiệm và thiếu khả thi. Hệ thống pháp luật về môi trƣờng phải tƣơng thích, đồngbộtrong tổngthể hệthống pháp luật chung của nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Từnhững quan điểm,đƣờnglối củaĐảngta vềviệc hoàn thiện pháp luật bảo vệmôi trƣờng nói chung và pháp luật vềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng nói riêng, Đảng ta chỉ đạo trong thời gian tới nhà
nƣớc cần tập trung hoàn thiện những vần đề sau:
+Đẩymạnh nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện pháp luật vềbảo vệmôi trƣờng và các quyđịnhpháp luật vềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng .
+Đảmbảo quyền conngƣờiđƣớcsống trong môi trƣờng trong lành;đảmbảo nguyên tắcchủthểgây ô nhiễm môi trƣờng phải chịu trách nhiệm
44
pháp lý .
+ Quá trình xây dựng và thực thi pháp luật vềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng phải đảm bảo tính công khai, minh bạch, thống nhất.
+ Nâng cao trách nhiệmcủacác cơ quan quản lý nhànƣớcvềmôi
trƣờng trong việc bảo vệmôi trƣờng, phát hiện, phòng chốngônhiễm,suy thoái môi trƣờng.
Từnhững quan điểmtrên củaĐảng vềbảo vệmôi trƣờng trong đócóquanđiểmphải xửlý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệmôi
trƣờng, đồng thời các hành vi này phải chịu trách nhiệm pháp lý. Trên cơ sởđó nhà nƣớc xây dựng, ban hành và hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng
2.2. Pháp luậtvềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnhvựcbảovệmôi
trƣờng của mộtsố nƣớc.
Pháp luật môi trƣờng của nhiều nƣớc trên thế giới đều quyđịnh chủ thểvi phạm pháp luật bảo vệmôi trƣờng phải chịu trách nhiệm pháp lý. Tuy nhiên quyđịnhcụ thể của các nƣớc không giống nhau. Để hoàn thiện các quy định về trách nhiệm pháp lý trong lĩnhvực bảo vệmôi trƣờng của Việt Nam thì việc nghiên cứu các quyđịnhcủa các trên thế giới là điều cần thiết.
Pháp luật bảo vệ môi trường ở Singapore
Việc áp dụng trách nhiệm pháp lýđốivớihành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trƣờng ở Singapore có các đặc điểm sau :
Vềtrách nhiệm hình sự
Pháp luật bảo vệ môi trƣờng Singapore lấy chế tài hình sự là công cụ cơ bản đểthực thi, biện pháp này đƣợcáp dụng đối vớingƣời bị kết án phạt tiền, phạt tù, bắt bồi thƣờng và đối với những vi phạm nhỏ thì phạt cải tạo laođộngbắt buộc (chỉ áp dụngvớinhữngbịcáo đủ16 tuổitrởlên vàđủtiêu chuẩn y tế). Cụ thể là:
45
+Hầuhết cáccấuthànhtộiphạm môi trƣờngcủaSingapoređƣợcquy địnhdƣới cấu thành hình thức.
+ Trách nhiệm hình sự khôngchỉáp dụngvới thểnhân mà còn áp dụng với cả pháp nhân
+ Pháp luật môi trƣờng còn phân chia thành các hành vi vi phạm pháp luật ra làm 2 loại “chịu trách nhiệm tƣơng đối”và“loại chịu trách nhiệm tuyệt đối”.Loại chịu trách nhiệm tuyệt đối dùng đểchỉnhững vi phạm màởđó yếu tố chủquan (có lỗi) không cần phải làm rõ. Trongmột số trƣờnghợp việc buộctộikhông cần phải làm sángtỏ sự tồn tại của trạngthái lỗi trong ý thức của ngƣời phạm tội. Ví dụ : ngay hành vi vứt mẩu thuốc lá xuống sàn đãchứng tỏ đó là hành vi cố ý, việc buộc tội không cần phải làm sáng tỏsự tồn tạicủa trạng thái lỗi trong ý thức.
Các chế tài hình sự đƣợc áp dụng đối với hành vi vi phạm pháp luật môi
trƣờng bao gồm :
Hình phạt tiền: Đây là hình phạt phổ biến nhất trong các đạo luật về bảo vệmôi trƣờng củaSingapore, phạt tiền đƣợcxem là công cụ hữu hiệu trong việc tăng cƣờng hiệulựcpháp luật vềbảovệmôi trƣờng củaSingapore với
phƣơng châm“áp dụng rộngrãi hình phạt tiền sẽ làm tăng hiệu quả trong việc trừng trị kẻ vi phạm và phòng ngừa các hành vi tƣơng tự.,..”. phạt tiền có độchính xác cao,tỉmỉ cao,đểthay đổi và vì thế càng trở nên có hiệu quả”.
Theo cácđạo luậtởSingapore thì có nhiềumứcđộvi phạt tiền khác nhau, tuỳ thuộc vào các đạo luật khác nhau và mức độ nguy hiểm của hành vi gây ra. Vídụ: trƣờng hợp đổ rác nơi công cộng,nếubịToà án kết tộithì
ngƣời vi phạm sẽ bị phạt đến 10.000$ với vi phạm lần đầu và nếu tái phạm sẽbị phạt tới 20.000$. Ngoài ra, các đạo luật về bảo vệ môi trƣờng của Singapore cũng quyđịnhphạt tiền một cách rất linh hoạt đối với các vi phạm ít nghiêm trọng,đó là việc cho phép ngƣờivi phạmtrảmột khoản tiền thích
46
hợp cho Bộ Môi trƣờng Singapore vàvụviệcsẽtựkếtthúc mà không phải
đƣa ra Toà.
Hình phạt tù, ngoài ra đối với hành vi vi phạm nhỏ thì phạt lao động cải tạo bắt buộc (chỉ áp dụngđốivới nhữngbịcáo đủ16 tuổitrởlên vàđủtiêu chuẩn về y tế). Lao động cải tạo bắt buộc là biện pháp mà qua thực tiễn thực thi pháp luật vềmôi trƣờngởSingapore cho thấyđâylà một biện pháp hữu hiệu đểngăn chặn các vi phạm nhỏ, những ngƣời viphạm đãbị áp dụng hình phạt lao động cải tạo bắt buộc ít khi lặp lại hành viđãvi phạm, đặc biệt rất ít
ngƣời tái phạm
Về trách nhiệm hành chính:
Tuy pháp luật Singapore xemchếtài hình sựlà quan trọng nhất trong việc bảo vệmôi trƣờng nhƣng không vì thếmà xemnhẹcácchếtài hành chính và dânsựbởinếuchỉriêngchếtài hìnhsựthì khôngthểbảo vệmôi
trƣờng một cách có hiệu quả. Không giống nhƣ các chế tài hình sự thƣờng làcác biện pháp tứcthời, cácchếtài hành chính thƣờng có hiệulựctrong việc bảo đảm các biện pháp liên tục, đặc biệt là các hoạt động gây ô nhiễm.
Ngoài ra,chếtài hành chính còn thực hiện chức năng giám sát nhằm đảm bảo hạn chế tiếng ồn tại các công trƣờng khôngđƣợcvƣợt quá giới hạn cho phép. Nếu có khiếu nại từ phía dân chúng, Bộ Môi trƣờng phải tiến hành đánhgiá độclập về mức độ tiếngồn. Nếu tiếngồn vƣợt quámức độ quy định, thìchủsở hữu, ngƣời quản lý công trƣờng xây dựng có liên quan, căn cứ vào chứngcứ đãcó, buộc phải chịu một khoản tiền phạt tối đa là 2.000USD, nếu tái phạm phải nộp 100USD cho mỗi ngày tái phạm tiếp theo.
Do tính cấp thiết của pháp luật về môi trƣờng cho nên trong các Đạo luật vềmôi trƣờng cũngđãtrao cho Bộ Môi trƣờngmột số quyền hạn đểthực thi các công việc khẩn cấp, nhằm thi hành ngay bất kỳ nhiệmvụnào nếunhiệm vụ đó là cấp bách đối với sự an toàn xã hội, sức khoẻ hay dịch vụ cộng đồng.
47
Ví dụ:trong điều90 Luật Bảo vệmôi trƣờng quyđịnh:“trong trường hợp khẩn cấp,ngườicó thẩm quyền có thể chỉ đạo thực hiện ngaylậptức bấtkỳnhiệmvụ hoặc làm bất cứviệc gì theo quyđịnh tạiLuật này, nếu người có thẩm quyền thấy công việcđó làcần thiết cho sức khoẻ cộng đồng hoặc cho sự an toàn của xã hội”.
Về trách nhiệm dân sự:
Bên cạnh các chế tài về Hình sự và Hành chính, các Đạo luật môi trƣờng Singapore cũng quy định nhiều hình thức trách nhiệm dân sự. Cụ thể nhƣ: yêu cầucá nhân gây ô nhiễm phải nộp phạt,bồithƣờng thiệt hại, chi phí và các khoản phí tổn mà cơ quan có thẩm quyền phải chịu để làm sạch môi trƣờng… Theo Điều 97 của Luật Bảo vệ môi trƣờng của Singapore thì Chínhphủcó thểthu giữ lại từ ngƣời sở hữu hoặc quản lý tài sản các phí tổn và chi phíđãđƣợc sửdụng trong quá trình thực hiện bất kỳ nàođãđƣợcquy định trong luật. Trong vòng 14 ngày theo quy định, nếu chi phí này chƣa đƣợc thanh toán thì vụviệc sẽ đƣợc đƣa ra Toà.
Trênđâylà một số quyđịnhvề tổng quan pháp luật môi trường Singapore. Có thể thấyđiểmnổi bật trong pháp luật bảo vệ môi trường của Singapore chính là việc quy định các hình thức trách nhiệm pháp lý ( trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính) ở ngay trongđiều luật chuyên nghành. Bên cạnhđó trách nhiệm hìnhsựkhông chỉ áp dụng đối vớithể nhân mà còn áp dụng cả với pháp nhân. Từ một số vấnđềnêu trên cho ta thấy sở dĩ môi trường Singapore trở nên sạch, đẹp và để có được một Singapore là “thành phố của cây xanh” phải có rất nhiều yếu tố, nhưng chính pháp luật về môi trường được quy định một cách toàn diện làcông cụ hữu hiệu nhất đểđảmbảo sự sạch, đẹp cho môi trường Singapore.
Pháp luật về bảo vệ môi trường của Thái Lan
48
Thái Lan là một trong cácnƣớctrong khu vựccó hệthống pháp luậtvềbảo vệ môi trƣờng tƣơng đối hoàn thiện. Tuy nhiên ở Thái Lan các tội phạm vềmôi trƣờng chƣađƣợcquyđịnh chi tiết vàcụ thểtrong Bộ luật hình sựThái Lan. Tra cứu cảbộ luật này,chỉthấy 2 điềulà Điều237 và 239 có thểxếp vào tội phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng. Ngoài ra, theo quyđịnh tạiĐiều 239 Bộ Luật hình sự Thái Lan, nếu hành vi phạm tội nêu ở điều 237 và 239 đƣợcthực hiện với lỗi bất cẩnnhƣng gây ra mối nguy hiểm rõ ràng cho tính mạng của ngƣời khác thì ngƣời phạm tội bị phạt tù không quá 1 năm hoặc bị phạt không quá 2.000 baht hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt này.
Chính vì thế,tộiphạm môi trƣờngởThái Lan chủyếu đƣợcquy định trong cácđạo luật chuyên ngành về quản lý môi trƣờng. Chẳng hạn: Luậtvềnguồn nƣớc của Thái Lan; Luật về chất lƣợng môi trƣờng Thái Lan; Luật vềnhà máy của Thái Lan; Luật về chất thải nguy hại…
Như vậypháp luật bảo vệmôi trường của Thái Lanvềcơ bảngiống như luật bảo vệmôi trường của Singapođó là các hình thức trách nhiệm pháp lý ( trách nhiệm hìnhsự,trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự ) được quy định trực tiếp ở các luật chuyên nghành.
Pháp luật bảo vệ môi trường của Trung Quốc
Trung quốc làđất nƣớcrộng lớncó nhiều mỏ tựnhiên và có trữlƣợng lớn trải dài trên nhiều vùng khí hậu khác nhau, nên môi trƣờng ở Trung Quốc rất đa dạng. Thực hiện chính sách cải cách và mở cửa kinhtế,Trung Quốcđãđạt đƣợc nhữngthành tựu to lớn trong lĩnh vực kinhtế,song cũng đangđứng
trƣớc nhiều thách thức to lớn về môi trƣờng cần giải quyết nhƣ: nạn ô nhiễm môi trƣờng vànạnkhai thác quámứctài nguyên thiên nhiên đang có chiều
hƣớnggia tăng ở Trung Quốc. Trƣớc tình hình đó, Chính phủ Trung Quốcđãcoi bảo vệmôi trƣờng sinh thái là một nhiệmvụchiến lƣợc trong chính sách
phát triển –kinhtế xãhộicủamình. Chính phủTrung Quốcđãtiến hành
49
nhiều biện pháp kiểm soát và bảo vệthiết thực, trongđó có các biện pháp pháp lý nhƣ: quyđịnhvà thi hành các chế tài dân sự, hành chính và đặc biệt làtăngcƣờngáp dụng các biện pháp hình sự đối với các vi phạm pháp luật môi
trƣờng. Một số quyđịnhvềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnh vựcbảo vệmôi
trƣờng của Trung Quốc thể hiện ở một số khía cạnh sau :
– Hìnhsựhoá các hành vi nguy hiểm xâm hạimôi trƣờng, Trung Quốcđãxây dựng và thực thimộthệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệmôi trƣờng. Trongđó,Bộ luật Hình sự 1997 đã dành một Tiết riêng trong
Chƣơng Các tội xâm phạm trậttựquản lý xãhộiđểquy định các tội xâm phạm việc bảo vệtài nguyên môi trƣờng. Một trong những biện pháp cứng rắn và hữu hiệu nhất nhằm trực tiếp bảo vệ môi trƣờng là sử dụng các côngcụ pháp lý, thông quađó Nhànƣớccó thểáp dụng nhữngchếtài nghiêm khắcđốivớinhữngngƣờivi phạm pháp luật vềmôi trƣờng: Tiết 6 quy định“Các
tộixâm phạm việc bảo vệtài nguyên môitrƣờng”, gồm9 điềuluật từĐiều 338 đến Điều 346.
-Vềphân loại tội phạm môi trƣờng, Tiết 6 nàygồmcácđiềuquyđịnh về ba nhóm hành vi sau:
+ Cácđiềuquyđịnhvềhành vi gây ô nhiễm môi trƣờng(Điều338 vàĐiều 339);
+ Các điều quy định về hành vi gây thiệt hại cho tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinhhọc(các điều 340, 341, 342, 343, 344);
+ Các Điều quy định hình phạt áp dụng đối với các trƣờng hợp phạm tội cụ thể (Điều 345 và Điều 346) trong đó có quy định rõ các trƣờng hợp phạm
tội với số lƣợngtƣơngđối lớn và đặc biệt lớn.
Một số điều nhƣ: Điều 338, 342, 343 là những tội danh có cấu thành vật chất, do đó hậu quả là dấu hiệu bắt buộc trong việc xác định có phạm tội hay không phạm tội.
50
Một số điềunhƣ:Điều339, 340, 341 là cáctộidanh có cấuthành hình thức. Đối với các tội danh này, thì hậu quả (tƣơng đối nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng)là yếu tố địnhkhung tăng nặng.
Những yếu tố địnhlƣợngđặc trƣng cho các tội phạm về môi trƣờng nhƣthế nào là gây sự cố ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng, diện tích lớn, đặc biệt
lớn, số lƣợnglớn, đặc biệt lớn,hậu quảnghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng là bao nhiêu thì chƣađƣợcquy định rõ ngay trong cácđiềuluật nàycủaBộluật hình sự. Điều này cho thấy, các nhà lập pháp Trung Quốc có thể chƣa có điều kiện quy định định lƣợngcụthểngay vào từng điều luật mà đểcho các cơ quan áp dụng pháp luật sau này ra các văn bản hƣớng dẫn thi hành.
Một điểmnổibật ởluật hình sựTrung Quốcđó là pháp nhân có thểbị truy cứu trách nhiệm hình sựđối vớitội gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng ( Điều 338 ).
Như vậyở Trung Quốc các hình thức trách nhiệm pháp lý được quyđịnhtheo ngành luật ( Luật hìnhsự,luật dânsự,luật hành chính) .Điển hình Bộ luật Hình sự Trung Quốcđãquy định các tội phạm về môi trường thành một Tiết riêng. Với cách thức quyđịnhcáctộidanh rất đa dạng vàlinh hoạt, Bộ luật Hình sự đã liệt kêđược cáchành vi xâm hại môi trường phổ biến nhất hiện nay, đồng thời nếu pháp nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
Pháp luật bảo vệ môi trường Philippin
Ở Philippin các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệmôi trƣờng đƣợc quy định khá chi tiết trong cácđạoluậtvềbảo vệmôi trƣờngởPhilippin,đồng thờitộiphạm môi trƣờng khôngđƣợcquyđịnh trong bộ luật Hình sựmà
đƣợc quy định chi tiết ở ngay các bộ luật chuyên ngành về bảo vệ môi trƣờng.Điểm nổi bật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là nếu pháp nhân có hành vi vi phạm thì ngườiđứng đầupháp nhân,ngườiquản lý điềuhành pháp
51
nhânnếuđã đồngýhoặc biết vềhành vi vi phạm nhưng không có biện pháp ngăn chặn thì phải chịu trách nhiệm hìnhsựvềtội đãphạmvớitưcách là chính phạm. Trường hợp ngườivi phạm là quan chức hoặc nhân viên công quyền thì ngoài hình phạt đã quy định, người này còn bị đình chỉchứcvụvà cấmđảmnhiệm chứcvụcó liên quan sau khi mãnhạnchấp hành hình phạt.Điềunày làm cho pháp luật bảo vệmôi trƣờngởPhilippin có tính răn đe cao. Vídụ: Luật không khí sạch của Philippin năm 1999: Theo quyđịnhtạiĐiều47 củađạo luật này:ngƣờinào có hành vi gây ô nhiễm không khí thì tùy theo mứcđộ vi phạm mà bịphạt tiền từ10.000 pesosđến 100.000 pesos (đơn vị tiền tệ của Philippin) hoặc bị phạt tù từ 6 tháng – 6 năm hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt. Nếu người vi phạm là pháp nhân thì người quản lý, đứng đầu pháp nhân, nhân viên kiểm soát ô nhiễm sẽ phải chịu hình phạt luật quyđịnh. Trƣờng hợp ngƣờivi phạm có hành vi vi phạm nghiêm trọng các quy định của luật này (đƣợc hiểu chẳng hạn nhƣ trong một năm màcó tới3 lầnvi phạmtrởlên, hoặc trong 3 năm liên tiếp mà có tới3 lầnvi phạmtrởlên, coi thƣờng lệnhcủacơ quan quản lý môi trƣờngvềviệc đình chỉhoạt động củacơsở,phƣơng tiện gây ô nhiễm không khí, gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc không thểkhắc phụcđƣợcvềmôi trƣờng), thì theo quy địnhtại Điều 48,ngƣời phạm tội sẽ bịphạt tù từ 6 năm – 10 năm
Luật kiểm soát chất thải nguy hạinăm 1990:tạiĐiều14 củaLuật này quyđịnh: hình phạt đối với ngƣời có các hành vi vi phạm dạng (a), (b) và (c) trong Điều 13 sẽ bị phạt tù từ 6 tháng 1 ngày đến 6 năm và bị phạt tiền từ 600 pesos – 4.000 pesos. Trường hợp người vi phạm là người nướcngoài thì sau khi chấp hành án, người nàysẽ bị trụcxuất và cấm nhập cảnh vào Philippin. Trường hợp người vi phạm là pháp nhân thì người đứng đầu pháp nhân, người quản lý điều hành pháp nhân đã đồng ýhoặc biết vềhành vi vi phạm nhưng không có biện pháp ngăn chặn thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
52
đã phạm vớitư cách là chính phạm. Trường hợp người vi phạm là quan chức hoặc nhân viên công quyền thì ngoài hình phạt đã quyđịnh,người này còn bịđình chỉchứcvụ và cấm đảmnhiệm chứcvụ có liên quan sau khi mãn hạn chấp hành hình phạt.
Pháp luật về bảo vệ môi trường của Canađa:
Điểmnổi bật trong pháp luật về bảo vệmôi trƣờng của Canađa là phân biệt rõ giữa trách nhiệm cá nhân và pháp nhân trong cùngmộthành vi vi phạm. Đồng thời luật Hình sự của Canada cũng quy định trách nhiệm hình sựđối với pháp nhân.
Theo quyđịnhcủa Luật chất lượng môi trường Canađa, cùng một hành vi vi phạm thì hình phạt tù không áp dụng với pháp nhân mà chỉ áp dụng với cá nhân, tuy nhiên, mức phạt tiền áp dụng đốivớipháp nhân cao hơn nhiều so vớicá nhân. Vídụ:theo quyđịnhcủaLuật Chất lƣợngmôi
trƣờng của Canađa thì hành vi thải lƣợng chất thải lớn hơn mức cho phép thì với cá nhân sẽ bị phạt tiền từ 2.000$đến20.000$ khi vi phạmlần đầu,hoặc phạt tiền từ 4.000$ đến 40.000$ khibị kết án từlần thứhai trở đi hoặc bị phạt tùđếnmột năm hoặc vừa bị phạt tù vừa bị phạt tiền. Nhƣng cũng cùng hành vi trên thì pháp nhân sẽ bị phạt tiền gấp từ 3 lần đến 25 lần so với cá nhân.
Ở Canađa, ngoài hành vi xâmhạitrực tiếp đếnmôi trƣờng, thì với chủ thểcó hành vi có khảnăng gây tácđộngđếnmôi trƣờng thìtrƣớckhi thực hiện hành vi này phảiđƣợcsựcho phép củacơ quan có thẩm quyền, nếu vi phạm quyđịnhnày chủ thể vi phạm sẽ bị phạt từ 300$ đễn 5.000$.
Đểđảmbảo cho hình phạt tiềnđƣợctiến hành có hiệu quả,đạt đƣợc mụcđích hình phạt thì trong Luật chất lƣợngmôi trƣờng Canađa còn có quy địnhcho phép áp dụng các quyđịnhcủa pháp luật thếnợ bằngbất độngsản. Theo đó những chủ thể bị phạt tiền nếu không chấp hành hình phạt thì tài sản
53
thuộc sở hữu của ngƣời đó có thể bị cƣỡng chế đểđảm bảo cho hình phạt tiền
đƣợc thi hành.
Chủthểvi phạm bên cạnh việc phải chịu hình phạt tù hoặc chịu cả2 hình phạt trên, còn có nghĩa vụ khắc phục hậu quả. Việc quyết định buộc chủ thểvi phạm phải thực hiện nghĩa vụkhắc phục là thuộc thẩm quyền quyếtđịnh củaToà án. Toà án căncứvào mứcđộ thiệt hạixảy ra trên thựctế đểbuộcchủthểvi phạm phảibỏ chi phíđểthực hiện các biện pháp cầnthiết nhằm khôi phụclạitrạng tháicủasựvậttrƣớckhibịvi phạm. Quyđịnh nguyên tắc : chủ thể gây tổn hại cho môi trƣờng do hoạt độngcủamình phải chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại, nguyên tắcnày bảo đảmrằng những thiệt hại của môi trƣờng luôn đƣợc khắc phục.
Ngoài ra theo Luật chất lƣợng môi trƣờng của Canađa thì không chỉ chủ thểtrực tiếp vi phạm phải chịu trách nhiệm màcảnhữngchủthểliên quan cũng phải chịu trách nhiệm.Cụthể, nhữngngƣờithực hiện hành vitrợgiúp cho ngƣờikhác vi phạm quyđịnhcủaluật này, hoặc khuyên bảo, khuyến khích, xúi dục ngƣời khác thực hiện hành vi gây nguy hại cho môi trƣờng thì cũng coi nhƣ vi phạm pháp luật và phải chịu hình phạt nhƣ chính chủ thể thực hiện hành viđó.
Nhƣ vậy, có thểthấy rằng trong pháp luật của Canađa có quyđịnh phân biệt rất rõ trách nhiệm của cá nhân với pháp nhân. Mức phạt tiền của pháp nhân bao giờ cũng cao hơn mức phạt tiền đối với cá nhân trong cùng một hành vi và hình phạt tiền là hình phạt chính trong pháp luật môi trường của Canađa. Điều này thể hiện rõ nguyên tắc trách niệm của tổ chức, cá nhân sử dụng thành phần môi trƣờng: các tổ chức, cá nhân khisử dụngcác thành phần môi trƣờng phải có trách nhiệm đóng góp tài chính và khi có hành vi gây thiệt hại cho môi trƣờng thì phải bồi thƣờng thiệt hại và việc pháp luật hạnchếviệc áp dụng hình phạt tƣớctựdo, tăngcƣờnghình phạt mang tính
54
chất kinh tế là phùhợp với hƣớngphát triển chung của hệ thống hình phạt các
nƣớc tiến bộ.
Pháp luật về bảo vệ môi trường ở Thụy Điển
Trong lĩnhvực bảo vệmôi trƣờng, Thụy Điểnđãxây dựng một hệ thống luật pháp và quản lý toàn diệnđiềuchỉnh tất cảnhững hoạt độngcó tác hại đến môi trƣờng, gồm: Đánh giá tácđộngmôi trƣờng và cấp phép môi trƣờng, an toàn hóa chất, bảo vệsứckhỏe, quản lý chất thải, các vùng bảo vệ,chất
lƣợngnƣớc sạch và thực phẩm, an toàn gia súc. Đểđạt đƣợc sự phát triển bền vữngcủa đất nƣớc, Quốchội ThụyĐiển đãthông qua 16 mục tiêu môi trƣờng là địnhhƣớngcho tất cả các ngành phải đạt tới cho đến năm 2020.
ThụyĐiểnlà quốc gia có sựphân cấp mạnh trong công tác quy hoạch. Trách nhiệmlậpquy hoạch là của 290 quận trong cả quốc gia. Trong khi đóUỷban hành chính các thành phố có thẩm quyền cấp các giấy phép khác nhau trongđó có giấy phép môi trƣờng. Luật quy hoạch xây dựng và Luật bảo vệmôi trƣờngđiềuchỉnh các hoạt độngquy hoạchđất đai và môi trƣờng của quận, đồng thời phải đáp ứng cả lợi ích quốc gia và lợi ích cộngđồng. Tại cấp quận, phải có quy hoạch tổng thể, dƣới đó là quy hoạch phát triển chiến lƣợc của cộng đồng, và các quy hoạch phát triển chi tiết.
Vềcông tác bảo vệmôi trƣờng vàsứckhỏe cộng đồngtạiThụy Điển, 290 chính quyền địa phƣơng thực hiện các quy định của Luật và các quyđịnh kháccủanhànƣớc.Cơ quan có thẩm quyền cao nhất trong chính quyềnđịa
phƣơnglà Hội đồngnhân dân: quy định thuế, luật địa phƣơng, phê duyệt các quy hoạch xây dựng. Dƣới Hội đồng nhân dân là Uỷ ban nhân dân, có 3 thành viên chuyên trách, các thành viên khác là kiêm nhiệm, trực tiếp điềuhành các công việc thƣờng nhật. Dƣới Uỷ ban nhân dân là cácủyban thƣờng trực về môi trƣờng, xây dựngvà các vấn đềkhác, tùy thuộc quyết định của Uỷ ban
55
nhân dân, cácủy ban thƣờng trực này thƣờng phốihợpchặtchẽvới nhau trong công việc.
Việc đánh giá tácđộngmôi trƣờngở ThụyĐiển do các cơ sở chịu trách nhiệm thực hiện, trên cơ sở các dữ liệu và số liệu về hiện trạngnên rất đầy đủ và chuẩn. Cơ quan quản lý môi trƣờng địa phƣơng thu phíđốivớihoạt động phê duyệt đánh giá tácđộng môi trƣờng. Khái niệm Đánh giá môi trƣờng chiếnlƣợccònmớivà chƣa áp dụng nhiều.Nộidung quy hoạch môi trƣờng dựa trên đánh giá môi trƣờng và do phòng môi trƣờng và sức khỏe chịu trách nhiệm xây dựng. Quá trình quy hoạch môi trƣờng luônđƣợctiến hành song song với các quy hoạch khác, các quy hoạch môi trƣờng không chỉ là môi trƣờng mà còn là sức khỏe, an toàn thực phẩm.
Điểm nổi bật nhấttrong pháp luật môi trường Thụy Điển là buộc mua tàisảnbị thiệt hại. Ngoài những hình thức trách nhiệm nhưđã quyđịnh của nhiều nước thì trong bộ Luật môi trường của Thụy Điển có một hình thức trách nhiệm mới,đó là buộcngườigây thiệt hại phải mua tàisảnbịthiệt hại. Theo đó,nếumột tàisảnlà (ví dụlà đất)bị xâm hại khiến cho chủ sở hữutàisản đó không khai thác được một phần hay toàn bộ lợi ích từ tàisảnđó,hoặc khi chủ sở hữu sử dụng toàn bộ hay một phần tàisản đódẫnđến những hậuquả bất lợi (hay dẫn đến thiệt hại khi sử dụng) thì chủthểgây thiệt hại buộc phải mua tàisảnbị mất công dụng đó theo yêu cầu của chủ sở hữu. Quy định này cũng áp dụng khi người có trách nhiệm thực hiện việc khắc phục thiệt hại dẫnđếnviệcchủsở hữukhông khai thácđược một phầnhay toàn bộ lợi ích của tàisảnhoặc khi chủ sở hữu sử dụng tàisảnđó bị những hậuquả bất lợi. Quyđịnhnày bảo đảmrằng chủthểgây thiệt hại sẽluôn phải có trách nhiệm khắc phục thiệt hại nhưđối với tàisảncủa chính họ.
56
Tóm lại qua nghiên cứu pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng của một số nƣớc có thể thấy rằng:
+Ở một số nƣớccác biện pháp trách nhiệm pháp lý (hìnhsự,dân sự, hành chính) trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng có thể đƣợc quyđịnhtrực tiếp ởcác luật chuyên nghành ( nhƣ ở Singapore, Thái Lan). Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng áp dụng pháp luật.
+ Hầu hết các quy định pháp luật vềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệmôi trƣờng đều quyđịnh hình thức phạt tiền là hình phạt chính và cósự phân biệt mức phạt giữa cá nhân và pháp nhân trongđó mức phạt tiền đối với pháp nhân bao giờ cũng cao hơn rất nhiều so với cá nhân (nhƣ ở Canada)
+ Pháp luật vềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnh vựcbảo vệmôi trƣờng ởmột số nƣớc đãquyđịnhpháp nhân là chủ thể của pháp luật hình sự vì trong thựctếvi phạm pháp luật bảo vệmôi trƣờng chủ yếu là do pháp nhân thực hiện (nhƣởTrung Quốc). Thậm chíởmột số nƣớcđểđảmbảo tính nghiêm minh của pháp luật đãquyđịnhnếu pháp nhân có hành vi vi phạm thì ngƣời đứngđầu pháp nhân, ngƣời quản lý điều hành pháp nhân nếu đã đồng ý hoặc biếtvềhành vi vi phạm nhƣng không có biện pháp ngăn chặn thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đã phạmvớitƣ cách là chính phạm (nhƣ ởPhilippin)
+ Đặc biệt ở Thụy Điển trong pháp luật bảo vệ môi trƣờng có biện pháp buộc ngƣời gây thiệt hại phải mua tài sản bị thiệt hại.
Kết luận chƣơng
Qua nghiên cứu cácvấnđềvềtrách nhiệm pháp lý nói chung và pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng nói riêng, có thểrút ra một số kết luận sau :
Khái niệm môi trƣờng có rất nhiều quanđiểm,tuy nhiên do đềtài nghiên cứu của tác giả là“Hoànthiện trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo
57
vệ môi trường ở Việt Nam” nên tác giả chọn khái niệm môi trƣờng theo khoản 1 điều 3 Luật bảo vệ môi trƣờng đƣợc nƣớc ta ban hành ngày 12/12/2005
Trên cơ sở các khái niệm về môi trƣờng và khái niệm trách nhiệm pháp lýthì cóthểhiểu pháp luậtvềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnhvựcbảovệmôi
trƣờng chính là các quy tắc xử sự bắt buộc do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh quan hệ pháp luật giữa nhà nước (thông qua cơ quan có thẩm quyền) vớichủthểvi phạm pháp luật bảovệmôi trường và chủthểvi phạm phải gánh chịu các biện pháp trách nhiệm đượcquy định ở phần chế tài của quy phạm. Việc hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệmôi trường chính là hoàn thiện các quy tắc xử sự trên.
Vớiđặctrƣng là những quy phạm mang tính bắt buộc nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trƣờng của con ngƣời, thì pháp luật vềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực vệ môi trƣờng có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hạn chế các vi phạm về môi trƣờng. Chính vì vậy việc nghiên cứuvai trò và nhữngđặctrƣngcủanó có một ýnghĩađặcbiệt trong hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý ở lĩnh vục này.
Ngoài ra việc học tập và phát huy có lựa chọn kinh nghiệm một số nƣớcđốivớipháp luật bảovệmôi trƣờng nói chung và pháp luật vềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnhvựcbảo vệmôi trƣờng nói riêng có ýnghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện vấn đề này. Vì việc bảo vệ môi trƣờng là vấn đềcấp thiết và cần có sự hợp táccủanhiều quốc gia trên thế giới. Hợp tác quốctế và họchỏi kinh nghiệm quốc tế chính là một trong những nội dung cầnthiết đểnâng cao hiệuquảvà áp dụng trong việcxửlý các vi phạm môi
trƣờng ở nƣớc ta hiện nay.
58
Chƣơng 3 : THỰC TRẠNG PHÁPLUẬT VỀTRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG
3.1. Thực trạng môi trƣờng và pháp luậtvềtrách nhiệm pháp lýtrong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng ở Việt Nam
3.1.1. Thực trạng môi trƣờng và tình hình vi phạm pháp luật bảo vệmôi trƣờng
* Thực trạng môi trƣờng Việt Nam
Ở Việt Nam trong những năm vừa qua với sự phát triển của các thành tựu kinh tế, thì đi kèm với nó là sự suy thoái về môi trƣờng. Do việc mở rộng các hoạt động kinhtế,thông qua việc phát triển nhiều loại hình doanh nghiệp và tăngcƣờngđầutƣ thiếu những biện pháp bảo vệmôi trƣờng đãtácđộng tiêucựcđếnmôi trƣờng. Chính sách xoábỏ bao cấpđãbuộc các doanh nghiệp phảitựtrang trải kinh phí hoạt độngsảnxuất kinh doanh, cũng nhƣcác chi phí làm giảm ô nhiễm môi trƣờng. Bên cạnhđótốc độtăng trƣởng kinh tế cao kéo theo nhƣ cầu lớn về tài nguyên thiên nhiên, kết cấu hạ tầng vàthúcđẩyquá trình đô thị hoá,đồngthờisựphân phối thu nhập khôngđồng đều kéo dài đã tạo áp lực mạnhmẽ đối với tàinguyên do những ngƣời nghèo chỉcòn cách kiếm sống duy nhất là khái thác cùng kiệt những tài nguyên cótrong tầm tay họ.
Có thể nói hiện nay, Việt nam đang phải chịu những thách thức về môi
trƣờng sau [báo cáo tổng kết môi trƣờng quốc gia 2010]
* Môi trường nước :
Nguồn tài nguyênnƣớcđang bị ô nhiễm chủyếu là các vùng hạlƣu sông do ảnhhƣởngchất thảitừcác khuđô thịvà cơsởcông nghiệp. Nguồn gây ô nhiễm chính lànƣớcthải chƣa quaxửlý, xuất phát từcác hoạt động sinh hoạt củadân cƣđô thị và các hoạt động sảnxuất công nghiệp, các loại
59
nƣớcthải này thƣờngđƣợcđổ thẳng ra sông, kênh, rạch, ao,hồ mà không
đƣợcxửlý. Tính đếntháng 10/2009 toàn quốcđãcó 223 khu công nghiệp
đƣợcthành lập theo quyếtđịnh củaThủtƣớngChính phủ, trong đó có 171 khu công nghiệpđãđi vào hoạt độngvà hơn 1.000 bệnh viện trên cảnƣớc. Nuớc thảitừcác khu công nghiệp có thành phần đa dạng,chủyếulà các thành phần lơ lửng, chất hữu cơ, chất dinh dƣỡng vàmộtsố kim loại nặng. Khoảng 70% trong số hơn 1triệu m3 nƣớc thải /ngày từ các khu cônghiệp xảthẳng ra cacs nguồn tiếp nhận không qua xử lý gây ô nhiễm môi trƣờngnƣớc mặt. Chất lƣợngnƣớcmặntạinhững vùng chịu tácđộngcủanguồn thảitrừcác khu công nghiệp đãsuy thoái,đặcbiệt tạicác khu lƣuvựcsông Đồng Nai, Cầu, Nhuệ – Đáy.
Ngoài ra môi trƣờngnƣớcmặt vànƣớcdƣớiđất tạicác làng nghềđặc biệt là các làng nghề chế biến lƣơng thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm, ƣơm tơ, dệt nhuộm … đang ngày càng ô nhiễm nặng. Theo khảo sát tại báo cáo tổng quan phát triển làng nghề năm 2008 thì hàng ngày các làng nghề thải ra khoảng hơn 1000 m3 nƣớc thải mà không hề qua xử lý. Hàm
lƣợngcác chất ô nhiễm trong nƣớc thải tại các làng nghề này cũng rất cao dặc biệt là COD, BOD5, … vƣợt tiêu chuẩn hàng chục lần, thậm chí có làngvƣợtđến hàng trăm lần nhƣ các làng thợ nhuộm, làng sản xuất tinhbột từsắn.
*Về môi trường đất:
Các dạng thoái hoáđất chủyếu là: xói mòn, rửa trôi, đất có độ phì thấp và mất cân bằng dinh dƣỡng, đất chua hoá, phèn hoá, bạc mầu, khô hạn và sa mạc hoá, đất ngập úng, lũ quét,đất trƣợt vàsạt lở, đất bị ô nhiễm. Trên 50% diện tíchđất ( 3,2 triệu ha )ởđồngbằng và trên 60% diện tíchđất (13 triệu ha) ở vùngđồinúi có nhữngvấnđềliên quan tới suy thoái đất. Sự suy thoái môi trƣờng kéo theo sự suy thoái các quần thể động, thực vật và chiều hƣớng giảm diện tíchđất nông nghiệp trênđầungƣờiđếnmứcbáo động.Theo báo
60
cáo tổng quan môi trƣờng quốc gia 2010 thì đất nông nghiệp càng ngày càng bịthu hẹp nhƣờng đất cho khu công nghiệp và dự án sân golf,đồngthời các hoạt độngxây dựng, sản xuất và khai thác khoáng sản đã làm cho môi trƣờng đất càng ngày càngbị xói mòn, nén chặtđất và phá hủy cấu trúcđất.Bên cạnh đó rác y tế tuy chiếm tỷ trọng thấp trong thành phần chất thải xả ra môi
trƣờngđất nhƣngtỷlệcác chất nguy hạicao do vậykhi xâm nhập vào môi
trƣờng đất thì sẽ rất khó phục hồi và khả năng tái tạo sử dụng đất ô nhiễm này là rất thấp. Ngoài rađất nông nghiệp vùng ngoại thành xung quanh các làng nghề đangđứngtrƣớc một thực trạng bị ô nhiễm kim loại nặng. Đó là do chất thải của các khu công nghiệp chƣa qua xử lýhoặc xửlý chƣa triệt để xả thẳng ra môi trƣờng; chất thải các làng nghề; cáchộcanh tác bón nhiều chất hóa họcvới hàm lƣợng cao. Tất cả các hiện tƣợng trên dẫn đến làm cho đất bị rửa trôi, xói mòn
*Về môi trường không khí:
Các yếu tố gây ô nhiễm không khí hiện nay là bụi và khí thải từ sản xuất công nghiệp và đặc biệt là hoạt động giao thông vận tải. Hoạt động giao thông vận tải đãđƣợc sử dụngkhoảng 2 triệu tấn xăng và dầu diezel. Tƣơngứngvới
lƣợngxăngdầutiêuthụđó,lƣợngphát thải các loại khi ô nhiễm là khoảng hơn 8 triệu tấn CO2, khoảng 61.000 tấn CO2, 35.000 tấn NO2, 12.000 tấn SO2, và hơn 22.000tấnCmHn.Các ngành công nghiệp gây ô nhiễm không khí nhiều nhất là nhiệt điện,vật liệu xây dựng, luyện kim, hoá chất, khai thác khoáng sản. Công nghệsảnxuất cònlạchậuvà thiếu các thiết bịxửlýônhiễm bụi và khí thải là nguyên nhân gây ra ô nhiễm không khí. Ở một số nút giao thông tại các khu đô thị lớn, nồngđộcác chất ô nhiễm không khíđãvƣợt quá tiêu chuẩn cho phép .
Tạicác làng nghề ngoàiônhiễm không khí dođốtnhiên liệu ô nhiễm bụiSO2, CO,NO… thì quá trình táichếvà gia công cũng gây phát sinh khí
61
độcnhƣ hơi axit, kiềm, oxit kim loại ( PbO, ZnO, Al2O3) và gây ô nhiễm nhiệt. Theo thống kê hàm lƣợng bụitạicác làng nghềđều vƣợt tiêu chuẩn Việt Namtừ3 đến 8 lần, có nơi vƣợt đến 6,5 lần
* Về chất lượng rừng và đa dạng sinh học:
Đâylà một trong những vấnđềmôi trƣờngbứcxúc nhất củanƣớcta hiện nay. Theo thống kế, diện tích đất có rừng ở nƣớc ta hiện nay vào khoảng 11,5 triệu ha trongđócó 84% là rừngtựnhiên. Tuy nhiên trong vòng chƣađầy 50 năm, diện tích che phủ rừnggiảm từ43% xuống còn 27% năm 1990. Sau đó nhờnhững giải pháp kịp thời, diện tích rừng đãđƣợcnâng lên 33% vào năm 2001 và 34% vào năm 2003. Mặc dù vậy, rừngtựnhiên đầu nguồn và rừng ngập mặn vẫn tiếp tục bị tàn phá nghiêm trọng. Rừng giầu, rừng kín,
rừng nguyên sinh chỉ còn chiếm khoảng 13% và rừng tái sinh chiếm tới 55%
tổng diện tích rừng. Nguyên nhân chính là do cháy rừng, tình trạng phá rừng bừa bãi và chuyển đối mục đích sử dụng đất đai (làm đầm nuôi thuỷ sản, xây dựngđƣờngsá, chuyển đất rừng thành đất nông nghiệp ), dẫn đến thu hẹp nơi
cƣ trú và nguồn nuôi dƣỡng các giống loài, tình trạng buôn bán trái phép động thực vật quý hiếm,sửdụng các biện pháp khai thác có tínhhuỷdiệt và gia tăng ô nhiễm môi trƣờng cũng góp phần suy giảm đa dạng sinh học. Ngoài ra, việc nhập các giống loài ngoại lai thiếu kiểm soát cũng là mối đedọađối với các giốngbảnđịa.Chất lƣợngmôi trƣờng sống trong cáchệsinh tháibịsuy giảm, bị thay đổi theo chiều hƣớng xấu đi và nguồn gien đặc hữu cũngbị tổn thất hoặc bị suy thoái, có nơi đến mức nghiêm trọng.
*Về cân băng sinh thái biển và ven bờ:
Nƣớcta có bờbiển dài hơn 3.200kmvớinhiều hệsinh thái rừng ngập mặn đặcthù và đa dạng sinhhọccao.Gần60% dânsố,50%đôthịlớn vàquan trọng, cũng nhƣ hầu hết các khu công nghiệp lớn của cả nƣớc tập trung ở các vùng ven biển. Chính vì vậy, ô nhiễm môi trƣờng do các hoạt động kinh
62
tế – xã hội gây ra có ảnhhƣởngrất lớn đếnmôi trƣờng biển và ven bờnƣớc ta. Việc khai thác quá mức và sử dụng các biện pháp đánh bắt mang tính huỷ diệt đãlàm cho các nguồn lợi thuỷ sản bị giảm nghiêm trọng. Việc nuôi trồng thuỷ sản ven biển, nhất là nuôi tôm trên cát tràn lan và không chúý đến phục hồi cải tạo sau khai thác đã làm suy giảm mạnh hệ sinh thái ven biển .
Đặcbiệt, các trung tâm du lịch nằmven biển cũng là những nguồn xả
lớnnƣớcthải và rác thải ra biển. Ngoài ra, cácsựcố xảyra trongvậntải
đƣờngthuỷ và khai thácdầukhí cũng gây ô nhiễm môi trƣờng biển. Hoạtđộng vận tải đƣờngthuỷ ngày càng phát triển tƣơngứngvới sự phát triển của nền kinh tế và các hoạt động thông thƣơng quốctế,dẫn đến các rủi ro về môi
trƣờng nhƣ sự cố tràn dầu, đắm tầu trở nên phổ biến hơn .
*.Về chất thải rắn:
Mỗi năm ở nƣớc ta có khoảng hơn 13 triệu tấn chất thải rắn phát sinh từnhiều nguồn khác nhau,lớnnhất là từcáchộ gia đình, nhà hàng, khuchợvàcơsởkinh doanh, chiếm hơn 80%lƣợngthải. Chất thảirắnnguy hại chiếm khoảng 1% tổng lƣợng chất thải rắn, bắt nguồn từ cơ sở sản xuất công nghiệp, cơ sở y tế, và các hoạt độngnông nghiệp. Tuy chiếm tỷlệnhỏ nhƣng đây làmối hiểm hoạ tiềm tàng và có xuhƣớnggia tăng. Việc xử lý chất thải rắn còn ởmứcrất thô sơ,chủyếudƣớihình thức chôn lấp các bãi ráclộ thiên vàkhông đƣợc vận hành đúng kỹ thuật, gây ra nhiều vấn đề môi trƣờng cho các
cƣ dân quanh vùng và ảnhhƣởngđến nguồn nƣớc ngầm.
*Tác động của cácvấnđềmôi trường toàn cầu:
Bên cạnh đó, do môi trƣờng là một vấn đềcó tính chất liên ngành, liên vùng và toàn cầu nên nƣớc ta cũng chịu tác động bởi các biến động và thay đổi củacácvấnđềtoàncầucũng nhƣtừcác quốc gia láng giềng. Những tácđộng chính dƣới đây cũng là những thách thức cần đƣợc quan tâm giải quyết nhƣ :
+ Vấn đềmôi trƣờng của lƣu vực sông Mê Kông và sông Hồng .
63
+ Vấn đềmôi trƣờng của các vùng rừng chung biên giới. + Vấn đềmƣa a- xít
+ Vấn đề ô nhiễm tầng khí quyển, hiệu ứng nhà kính và ô nhiễm tầng ô- zôn . + Vấn đềô nhiễm biển đại dƣơng
+Vấnđềchuyển dịch ô nhiễm: Theo tài liệuvềquy hoạch môi trƣờng của Liên hợp quốc mỗi năm toàn cầu có 500 triệu tấn rác thải nguy hại, trong đó 98% làcủacácnƣớcphát triển. Việc một số nƣớcphát triển chuyển dịch công nghệlạchậuvà các chất thảidƣớinhiều hình thức khác nhau sang các
nƣớc phát triển là một thực tế cần đƣợc chú trọng .
Nguyên nhândẫnđến thực trạng môi trường nói trên chính là:
+ Pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờngở nƣớc chƣa đủ mạnh để răn đe vàngăn ngừa các vi phạm pháp luật bảo vệmôi trƣờng.
+ Ý thức bảo vệ môi trƣờng trong xã hội còn thấp. Đặc biệt là chƣa biến nhận thức về bảo vệ môi trƣờng thành hành động. Nhất là ý thức của các nhàđầu tƣ vìlợi nhuận kinh doanh mà tìm mọi cách không đầu tƣ côngnghệ xửlý chất thải gây ô nhiễm môi trƣờng.
+Bộ máytổ chức và nănglựcquản lý môi trƣờng chƣa đáp ứngđƣợc yêu cầu, vừa thiếu về lực lƣợng vừa yếu về năng lực .
+ Nhiều vấnđềmôi trƣờngbứcxúc chƣađƣợcgiải quyết trong khi dựbáo mứcđộ ô nhiễm môi trƣờng tiếp tụcgia tăng nhƣ: ô nhiễmởcác khu công nghiệp, ô nhiễm môi trƣờng làng nghề…
+ Kết cấu hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trƣờng lạc hậu, nguồn lực bảo vệmôi trƣờng của nhà nƣớc và các doanh nghiệp đều bị hạn chế.
+Sựgia tăng dânsố,di dântựdo và đói nghèo chƣađƣợcgiải quyết một cách cơ bản.
+ Hội nhập kinh tế đặt ra các yêu cầu ngày càng cao vềmôi trƣờng vàtácđộngcủa các vấn đềmôi trƣờng khu vực toàn cầu ngày càng lớn .
64
+ Mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng trƣởng kinh tế và giải quyết việc làm với yêu cầu bảo vệ môi trƣờngchƣa đƣợc xửlý đang là thách thức lớn nhất trong công tác bảo vệ môi trƣờng.
* Thực trạng vi phạm pháp luật bảo vệ môi trƣờng
Trên cơ sở các quy định của pháp luật, các quan điểm, tƣ tƣởngchỉ đạo về công tácbảo vệmôi trƣờngcủa Đảngvà Nhà nƣớc,một số Bộ,Ngànhđãban hành quy chế bảo vệ môi trƣờng ngành, nhiều địa phƣơng cũng đã có quyđịnhvềbảo vệmôi trƣờng, nhiều cơsởsảnxuất đãcó sựchúýđếnvấnđềbảo vệ môi trƣờng và chú trọng công tácđầu tƣ hạ tầngkỹ thuật cho công tác bảo vệmôi trƣờng.Ở nhiềuđịaphƣơngđãcó nhiều phong trào quần chúng tham gia bảo vệmôi trƣờng nhƣ: phong trào xây dựng thói quen, nếp sống sạch sẽ, vệ sinh; phong trào xanh – sạch – đẹp ; tuần lễ quốc gia về nƣớc sạch vàvệsinh môi trƣờng ; bảo vệđa dạng sinh học; chiến dịch làm sạchthế
giới….Tuy nhiênýthức chấp hành các quyđịnhpháp luật vềbảovệmôi
trƣờng cũng nhƣ ý thức bảo vệ môi trƣờng của các nhà sản xuất, nhà quản lý, những ngƣời ra quyết định ởcác cấp và nhân dân nói chung còn thấp. Các doanh nghiệp còn quátậptrung vào hoạtđộng sản xuất, kinh doanh, chƣa quan tâm đúng mức đến bảo vệ môi trƣờng. Hoạt động kiểm soát môi trƣờng tạinhiều nơi còn bị buông lỏng, có thực trạng là chỉ khi nào môi trƣờngbị ônhiễm trầm trọng thì các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền mới có hànhđộng ứngphó.
Ở nƣớcta vi phạm pháp luật môi trƣờng trong thời gian qua diễn ra trong lĩnh vựckinhtế,xã hội,ảnhhƣởngsâusắcđếnsự phát triển củađất
nƣớc, xâm phạm trực tiếp đến quyền lợi của nhân dân nhƣ gây ô nhiễm nguồn
nƣớc, không khí, lo lắng về an toàn thực phẩm…tại mộtsố địa phƣơngđãtrởthành mần mống mất an ninh trậttự.Có thểthấy vi phạm pháp luật bảo vệmôi trƣờng ở nƣớc ta trong thời gian qua diễn ra cụ thể nhƣ sau:
65
Về vi phạm pháp luật hình sự nổi lên ở một số lĩnh vực:
– Trong sản xuất công nghiệp,lợidụng chủtrƣơngmởcửa, chính sách thu hút đầu tƣ của nhà nƣớc cùng với sơ hở về pháp luật trong lĩnh vực bảo vệmôi trƣờngở Vịêt Nam, nhiều nhà đầu tƣ trong và ngoàinƣớc đãđầu tƣcác dựán sản xuất kinh doanh, nhƣng không chú trọng đến việc xây dựng các hệthốngxử lýchất thải, nhất là các nhà máy, cơ sở sản xuất trong các khu công nghiệp đang trong giaiđoạnhoàn thiện và cáccơ sởnằmtrên lƣuvựcsông.Đáng lo ngại là các doanh nghiệp tuy có hệ thống xửlý chất thải, nhƣng luôn cố tình vi phạm, dùng thủ đoạn tinh vi, lén lútđểxảthải ra môi trƣờng nhƣxây dựnghệthốngxảthải bí mật, phức tạp,đƣợcngụy trang bằng hệthống đạt tiêu chuẩn nên rất khó phát hiện,điểnhình vụVedan Việt Nam, công ty Tungkuang, Công TNHH Miwon, Công ty thuộc da Hào Dƣơng, Cồng ty giấy Việt Trì…
– Trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu, tình trạng nhập khẩu trái phép chất thải vào nƣớc ta dƣớihình thứcphếliệu làm nguyên liệu sản xuất, thiết bị công nghệ lạc hậu dẫn đến nguy cơ nƣớc ta thành bãi rác thải công nghiệp, với thủđoạn nhƣ ” tạm nhập, tái xuất” khibịphát hiện thì khai là ” gửi nhầm hàng” và xin đƣợc chuyển trả lại… Một số doanh nghiệp lợi dụng cơ chế kiểm hoá xắc suất, thậm chí móc nối với một số tổ chức kiểm định, giám địnhđểcókết luận hàng hoá đạt tiêu chuẩn về môi trƣờng. Nghiêm trọng hơn là hành vi nhập rác thải sinh hoạt, các loại chất dioxin, thực phẩm kém chất lƣợng, kểcảcác chất phóngxạ,các thiết bịcông nghệlạchậusảnxuất từnhững năm 60 của thế kỷ trƣớc.
– Trong hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản, bảo vệ đa dạng sinh học,nạnchặt phá rừng trong những năm qua đang diễn ra rất bứcxúc,đặc biệt là tình trạng chặt phá các khu rừng nguyên sinh, khu bảo tồn thiên nhiên,
rừng phòng hộ…với thủ đoạn lợi dụng chính sách chuyển đổi “rừng nghèo”,
66
xây dựng thuỷđiệnđểkhai thác rừngbừabãitạicác khu khai thác khoáng sản hầu nhƣ không có biện pháp hoàn nguyên môi trƣờng, chống sói mòn, rửa trôi đã biến rừng thànhđất trốngđồi trọc, tiềm ẩn nguy cơ lũ quét cao.
– Tình trạng săn bắn, buôn bán vận chuyển động vật hoang dã, qúy hiếm diễn ra công khai ở nhiều nơi. Quamột số vụviệc do lực lƣợng cảnh sát môi
trƣờng điều tra, khám phá cho thấy vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này diễn biến phức tạp, nhất là đối với các loại động vật quý hiếm có lợi nhuận cao.
– Trongsảnxuấttạilàng nghềvớitrên 2700 làng nghề trêncảnƣớc
nhƣnghầuhết quy mô sảnxuất nhỏ lẻ ởhộ gia đình, trìnhđộ sảnxuất thủ công theo kinh nghiệm, công nghệsảnxuất thô sơ, không quan tâmđếnvấn đềxử lýchất thải, hầu hết các chất thải trừ quá trình sản xuất kinh doanhđều thải trực tiếp ra môi trƣờngdẫnđếnmôi trƣờngtạicác làng nghề ô nhiễm nặng, ảnhhƣởngđến sức khỏecủa ngƣời dân.
-Vấnđềxửlý chất thải nguy hạiđang buông lỏng, hiện nay có koảng trên 60 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này nhƣng phần lớn chƣa đƣợcđầutƣ thỏa đáng, công nghệxửlýlạchậu, thậm chí có doanh nghiệp vì lợi nhuận màđãchôn hàng nghìn tấn chất thải nguyhạixuốngdƣớilòngđất đểlàm giảm chi phíxửlý .
Theo báo cáo sơ kết củaCụccảnh sát môi trƣờng thì từđầunăm 2010 Cảnh sát môi trƣờngđãđiều tra khám phá 3.012 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệmôi trƣờng, trong đó xácđịnh 1.034tổchức, 2096 cá nhân có liên quan, xửphạt vi phạm hành chính trên 17 tỷđồng,đềnghị khởitố 72 vụvới101đối tƣợng
Về vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi ttường:
Theo đánh giá của Cục Bảo vệ môi trƣờng thời gian quanổilênmột sốvi phạm hành chính điển hình sau :
67
– Vi phạm ở một số khu công nghiệp, khu chế xuất,cụmcông nghiệp cụ thểnhƣ: khu công nghiệp Bình Chiểu, Cát Lái, Phƣớc Hiệp, Tân Phú Trung, Tây Bắc Củ Chi, Vĩnh Lộc chƣa có hệ thốngxửlý nƣớc thải tập trung. Toàn bộ nƣớc thải từcác nhà máy, công ty tập trung về một hồ chứa chung rồi thải ra cống thoát nƣớc của khu dân cƣ. Vì chƣa qua xử lý nên toàn bộ khối lƣợng
nƣớcthải củacácđơnvị trênđều gâyônhiễm nghiêm trọng. Nồngđộ các chất thải đềuvƣợt từvài chục đến vài chục ngàn lần cho phép.Đặc biệt một số khu công nghiệp đãcó hệthống xửlý nƣớcthải nhƣ Linh Trung 1,2, LêXuan Minh, Tân Bình, Tân Tạo thì chất lƣợngnƣớc sauxửlý cũng chƣa đạt yêu cầu quyđịnh.
– Vi phạmởcác làng nghềthểhiện ởchỗ hầuhếtcác làng nghềđều không có hệthống xửlý chất thải,hầuhết các chất thải trong quá trình sản xuất đều thải trực tiếp ra môi trƣờng
– Các doanh nghiệp hoạt động ngoài khu công nghiệp cũng đang từng ngày từng giờ xả thẳng nƣớc thải sản xuất chƣa xử lý vào hệ thống nƣớc sinh hoạt gâyônhiễm môi trƣờng nghiêm trọng.Điển hình là Công ty Veđan tại ĐồngNai, công ty Miwon tại Phú Thọ…
Theo số liệu thống kê cho thấy, 6 thángđầunăm 2010, 58,8% cơsởởHàNộibị phát hiện vàxửphạt vi phạmvớisốtiền là 600 triệu đồng.Cùng thời gian, TP.HCM kiểm tra vàxửphạt 100 đơnvị có sai phạmvềBVMT. Năm 2009, các cơ quan chức năng của Nghệ An tiến hành kiểm tra tại 71 cơsở, 9 cuộc thanh tra và ban hành 34 Quyết định xử phạtvi phạm hành chính đối với các tổ chức kinhtế,truy thu hơn 1 tỷđồngphí BVMT.
Từnăm 2003 đến6/2010, TP.ĐãNẵng cũng tiến hành 356 cuộc thanh tra chuyên ngànhvềBVMT, phát hiệnvà xửlýđốivới2.450 cơ sở, cá nhân vi phạmvớitổngsố tiền phạt là hơn 1,1 tỷđồng.CònCầnThơ thực hiện 7
68
cuộc thanh tra đối với 32 doanh nghiệp, phát hiện và xử lý 6 doanh nghiệp với tổng số tiền là 246 triệu đồng.
Các vi phạmchủyếutập trungởmột số lĩnh vựcvớimột số vi phạmđiểnhình là: vi phạm các quiđịnh vềbáo cáo đánh giá tácđộngmôi trƣờng (chƣađƣợcphê duyệt hoặc thực hiện không đúng vàđầyđủnộidung trong báo cáo đánh giá tác động môi trƣờng); về xử lý chất thải, nƣớc thải (chủ yếu ở các khu công nghiệp, làng nghề); về quản lý, xử lý chất thải nguy hại, chất thải y tế; về BVMT tronghoạt độngnhập khẩu máy móc, thiết bị, phƣơng tiện
GTVT, nguyên nhiên liệu, vật liệu, phế liệu…
Đồngthời kết quảthanh kiểm tra cho thấy,chỉkhoảng 20% bệnh viện, cơ sở y tế có hệ thống xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn, còn hầu hết rác thải chƣa
đƣợc quản lývà xử lý theo qui chế xử lý chất thải y tế. Kiểm tra 92 khu công nghiệp (KCN) thì 26 KCN đãxây dựnghệthống xửlýnƣớcthải tập trung
nhƣng 50% trong số xử lý nƣớc thải chƣa đạt yêu cầu và vƣợt qui chuẩn Việt Nam; 37 KCN xả thải vƣợt qui chuẩn Việt Nam. Hầu hết các KCN chƣa có bãi trung chuyển chất thảirắnthông thƣờng, chất thải nguyhạitậptrung theo quiđịnh. Hiện nay mới có 3 KCN có bãi trung chuyển chất thải rắn thông thƣờng.
Nhƣ vậy từ những thống kê trên có thể thấy vi phạm môi trƣờngở nƣớc ta chủyếulà do các doanh nghiệp hoạt độngsảnxuất kinh danh thực hiện. Đồng thời những vi phạm này ngày càng gia tăng tính chất phức tạp và tinh vi. Nhiều cơ sở đãbịxửphạt nhiều lần song vẫn không thực hiện các yêu cầu của pháp luật về bảo vệ môi trƣờng nhƣ lắp đặt và vận hành thƣờng xuyên hệthốngxửlý nƣớcthải. Lý do cóthểlà khó khănvềvốn đầutƣ, công nghệ
nhƣng cũng có trƣờng hợp làýthứcbảovệmôi trƣờng kém,cố tình trốn tránh trách nhiệm bảo vệ môi trƣờng.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

