HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trước năm 1986 là thời kỳ của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, xã hội vẫn duy trì các giátrịtruyền thốngcủagia đình, làng quê vàhọhàng thân thích. Truyền thống đó góp phần quan trọng trong việc giáo dục và chăm sóc các em chưa thành niên. Các em thường tham gia phụ giúp gia đình thực hiện một sốcông việc như chăn trâu,lấynước,nấucơm, làm việc vặt trong gia
đình….Đây là giai đoạnhầunhư không có hiện tượng người chưa thành niên
phải tham gia lao động.
Từnăm 1986 Việt Nam bắt đầu quá trìnhđổimớinền kinh tế. Cuộc cải cách kinhtếdẫn đếnmột phần nguồn chi bao cấp cho khu vựcxã hội bịcắt giảm, trongđócó giáo dục, y tế. Nhiều gia đình không có khả năng cho con đi học nên tỷ lệ trẻ em bỏ học tăng, dịch vụ y tế khó tiếp cận cho nhóm yếu thế…Đây là một trong những nguyên nhân làm phát sinh hiện tượng lao động chưa thành niên. Mặt khác, thờikỳnày kinhtếhộgia đình, kinhtếtư nhân được mởrộng phát triển đã thu hút nhiều loại hình lao động, trongđócó lao động chưa thành niên.
Để điều chỉnhvấn đềtrên và đảm bảo phù hợp với những đặc thù về tâm, sinh lý, sức khỏe, nhận thức của người chưa thành niên, Bộ Luật lao động vàmột sốvăn bản hướng dẫn đãcó những quy định riêng vềngườilaođộng chưa thành niên, nhưng thực tế thực hiện vẫn còn nhiều vấn đề bất cập. Theo Báo cáo kết quả khảo sát của Cục An toàn lao động năm 2006 và Báo cáo kết quảthanh tracủaThanh traBộLao động-Thương binh và Xã hội,từnăm 2007 đếnnăm 2010 vẫn có tình trạng ngườichưa thành niên phải làm nghề, công việc nặng nhọc,độchại, nguy hiểm,ngườisửdụng lao độngcòn vi phạm quyđịnhvề giao kết hợp đồng lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ
ngơi, tiền lương, an toàn lao động, vệ sinh lao động,…đối với người lao động chưa thành niên, thậm chí có lúc, cónơi ởmức độnghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển về thể lực, trí tuệ và nhân cách của đối tượng này. Ngoài
ra, trong điềukiệnhộinhập quốctếhiện nay, việc vi phạm quyđịnhvềsửdụng lao độngchưa thành niên còn ảnhhưởngtớicam kết củaViệt Namvềthực hiện Công ước số 138 về độ tuổi tối thiểu làm việc và Công ước số 182 về cấm và hành động ngay lập tức để xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất,ảnhhưởngtới việc xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp.
Thực trạng này xuất phát từnhiều nguyên nhân.Mộtmặt, xuất pháttừnhu cầukhách quancủathịtrường lao động,ngườisửdụng lao độngvì lợi ích kinhtếtrướcmắtmuốn tậndụng nguồn lao động chưa thành niên đểtrảcông rẻ,dễsai khiến. Mặt khác, do nhu cầuchủquan củangườichưa thành niên,từsức ép vềviệc làm,từnghèo đói mà chấp nhậncảnhững công việc không phù hợp vớimình. Tuy nhiên, cũng khôngthểkhông kểđếnmột nguyên nhân quan trọng là pháp luật vềngườilao độngchưa thành niên còn bộclộnhững bất cập,hạnchếnhất địnhlàm ảnhhưởngđếnhiệuquảđiều chỉnh. Các quyđịnhhiện hành liên quan trực tiếp đếnriêng người lao động chưa thành niên không nhiều(từĐiều 119 đến Điều122 BộLuật lao động năm 1994 và ba Thông tư hướng dẫn, chủ yếu quy định về: ngành nghề, công việccấmsửdụng lao động chưa thành niên và ngành nghề, công việc được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc) và cũng chưa có sự rõ ràng. Đồng thời, quy định vềngườilao động chưa thành niêntừkhi đượcban hành đến nay ít được đổi mới. Ngoài ra, quyđịnhgiữa Bộ Luật lao động với một số văn bản pháp luật khác liên quan đến vấn đề này (Ví dụ Luật bảo vệ, chăm sóc vàgiáo dụctrẻem) còn cósựmâu thuẫn, chưa thống nhất…Điều này gây khókhăn cho việc áp dụng và thực hiện pháp luật trên thực tế, đặc biệt với những ngườilàm chính sách, nhữngngườitrực tiếp áp dụng các quyđịnhvềngười lao độngchưa thành niên. Công tác điềutra, thống kê, nghiên cứuvềthực trạng áp dụng pháp luật đốivới ngườilao độngchưa thành niên còn chưa đượcchú trọng, chưa cósựtổng kết,đúcrút kinh nghiệm thực tiễn áp dụng pháp luật đối với người lao động chưa thành niên một cách toàn diện và khách quan. Thêmnữavớinhững áp lựcvàđòihỏi củaquá trình hộinhập quốctế
2
cho những yêu cầu về tiêu chuẩn lao động quốc tế trong quan hệ thương mại đãtạo ra nhiều sức ép vớichính sách và pháp luật vềvấn đềlao độngnói chung và laođộng chưa thành niên nói riêng.Đâycũng là những lý do đểnghiêncứusinh chọn vấn đề“Hoàn thiện pháp luật vềlao động chưa thành niên trong điều kiện hội nhập quốc tế” làm đềtài luận án tiến sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đềngườilao độngchưa thành niên hay lao động trẻem trong thời gian gần đây đãthu hút đượcsựquan tâm củacộngđồngquốctếcũng nhưcủanhiều quốc giavà đã được tổ chứcnghiên cứu ở các phạm vi khác nhau. Trên bình diện thế giới có thể kể đến một số công trình như “Nghiên cứu tổng hợp về lao động trẻ em ở Philippin” của Việnnghiên cứu lao động Philippin năm 1994,đãphân tích những nguyên nhân vàđềxuất vềchính sách, pháp luật đểloại bỏ việc tuyển dụng trái phép trẻ em dưới 15 tuổi hoặc tuyển dụng nhữngngườidưới18 tuổi làm công việc độchại. Tuy nhiên, nhữngđềxuất này chỉ mang tính định hướng, chưa đưa ra nhữngđềxuất cụ thể về quyđịnh pháp luật [102].
Công trình nghiên cứu “Tổng quan về lao động trẻ em giúp việc gia đìnhởChâu Á”củatácgiảBharati Pflug (2002)đãxác địnhnguyên nhân, hậu quả, những mặt tiêu cực của trẻ em lao động giúp việc gia đình cũngnhư đềxuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về lao động trẻ em giúp việc gia đìnhở3 quốc gia Indonesia, Nepal, Thái Lan. Tuy nhiên, nghiêncứulại chỉ giới hạn trong phạm vi lao động giúp việc gia đình [92].
Báo cáo „”Chấm dứtlao động trẻem: trong tầm tay”củaTổchức laođộng quốctế(2006)đãđưaramộtbứctranh tổngthểvềtình hình lao động trẻ em ở nhiều khu vực trên thế giới cũng như chỉ ra nhữngnỗlực củanhiều quốc gia trong việc ngăn chặn và loại bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ. Báo cáo cũng kiến nghị các quốc gia thực hiện các chính sách kinhtế,giáo dục, xoáđóigiảm nghèo cầnthiết nhằm loạibỏlao độngtrẻem. Tuy nhiên, báo cáo chủ yếu mang tính kinh tế, xã hội và mới chỉ dừng lại ở việc khuyến
3
nghị xây dựng các chương trình hành động chung ở cấp quốc gia, chưa đi sâu vào khía cạnh luật pháp nhằm loạibỏcác hình thức lao độngtrẻemtồitệ
[101].
ỞViệt Nam, vấn đềngườilao động chưa thành niên được đềcập trực tiếp trong các giáo trình Luật lao độngcủamột sốcơsởđàotạo luật nhưTrường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Luật
ĐạihọcCầnThơ…Trong các giáo trình này, vấn đềngườilao độngchưa thành niên được đềcậprất ngắn gọn và thườngnằmxenkẽtrong các nội
dung về học nghề, tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi…Dođược thểhiện dướihình thức giáo trình nên các nội dung này chủyếulà sự cụ thểhoá các quyđịnhcủa pháp luật, không nghiên cứu sâu và toàn diện về người lao động chưa thành niên.
Dướigóc độkhoa học, cho đếnnay, vấn đềngườilao động chưa thành niên được đềcập trong nghiên cứu của một số cơ quan, tổ chức, cá nhân hay trong các bài báo, bài viết về lao động chưa thành niên hoặc một số luận văn đã côngbố. Có thể kể đến một số côngtrình nghiên cứu sau:
Báo cáo nghiên cứu “Từ việc nhà đến khai thác vàng. Laođộng trẻ em ởnông thôn Việt Nam”(1997) và“Lao động trẻem tại thành phốHồChíMinh” (1998) do QuỹcứutrợNhiđồngAnh phối hợp vớiViện nghiên cứu thanh niên tiến hành; Báo cáo nghiên cứu “Trẻ em làm thuê giúp việc gia đình ở Hà Nội”(2000)đượcKhoa Tâm lýhọc, Trường ĐạihọcKhoahọcxã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện; Báo cáo nghiên cứu “Thực trạng trẻem làm việc tại bãi rác Nam Sơn”(2000) của Viện xã hội học; Báo cáo nghiên cứu về“Trẻem làm thuê tại làng gốm Bát Tràng”
(2000)củaVụChính sách lao động và việc làm; Báo cáo nghiên cứu “Tình hình lao động trẻem ở8 tỉnh, thành phốViệt Nam”(2009)củaViện Khoa học Lao động và Xã hội; Báo cáo nghiên cứu “ Điều kiện lao động, sức khoẻnghề nghiệp của trẻem và người chưa thành niên tham gia lao động tại ba làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ, đá mỹ nghệ và dệt truyền thống” (2009) của Hội y
4
học lao động Việt Nam…Nhìn chung các nghiên cứu này được thực hiện dưới góc độkinhtế-xãhội vàchủyếunhằm tìm hiểu thực trạng, mức độvà hình thức lao độngtrẻemtạimột sốtỉnh, thànhphốởViệt Nam mà chưa đềcập nhiều dưới góc độluật học.
Dướigóc độluật học, vấn đềngườilao độngchưa thành niên được đềcập chủyếu trong các bài viết được đăng trong các tạp chí khoa học pháp lýchuyên ngành và các khoá luận luận văn. Trong số này có thể kể đến bài viết “Những vấn đềpháp lývềlao động chưa thành niên”củaTiếnsỹNguyễn Hữu Chí,Trường ĐạihọcLuật Hà Nội, đăng trên tạp chí Nhànướcvà Pháp luật số11 năm 2003. Bài viết đãđưara khái niệm lao độngchưa thành niên và nhận xét về thực trạngsử dụnglao động chưa thành niên ởnước ta,đồng thời đềramột sốgiải pháp nhằm bảo vệnhóm đối tượngnày. Tuy nhiên, do giới hạn ởphạm vi bài viết đăng trên tạp chí nên cácnộidungđược đềcập chưa mang tính chuyên sâu.
Bài viết “Một số vấn đềpháp lý về lao động chưa thành niên” của tác giảĐào Mộng Điệp,đăng trên Thông tin khoahọcsố13 năm 2004 củaTrường Đại học Huế. Tại đây, tác giả mới chỉ đềcập sơ lược, mang tính xuôi chiều vềmột sốquy định củapháp luật lao độngliên quanđến người lao độngchưa thành niên như quy định về việc làm, hợp đồng lao động, tiền lương, an toàn lao động, vệ sinh lao động.
Bài viết “Vấn đềtrẻem gái giúp việc gia đình tại các thành phốlớn” củaThạcsỹChu Mạnh Hùng, TrườngĐạihọcLuật Hà Nội, đăng trên Tạp chí Luật học số 5 năm 2005 và bài “Lao động phục vụ gia đình” của Thạc sỹPhạmThịThuý Nga, Viện Nhànướcvà Pháp luật, đăng trên Tạp chí Nhànước và Pháp luật số 2 năm 2006,đã đềcập thực trạng và giải pháp nhằm bảo vệ các em chưa thành niên lao động. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của hai bài viết này còn hẹp,mớichỉđềcập đếnvấn đềlao độngcủacác em chưa thành niên trong lĩnh vực giúp việc gia đình.
5
Bàiviết “Phòng, chống bạo lực đối với trẻ em và lao động trẻ em-Pháp luật vàthực tiễn”củaTiến sỹ Đỗ NgânBình,Trường ĐạihọcLuật Hà Nội,đăng trên Tạp chí Luật học số 2 năm 2009, đã phân tích để đưa ra khái niệm lao động vị thành niên, lao động trẻ em và thực trạng bạo lực đối với lao động trẻem cũng nhưchỉrõ thực trạng quyđịnhliên quan đếnphòng, chống bạo lực đốivớitrẻem, lao độngtrẻemđểtừđóbước đầuđềxuất một sốkiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các quyđịnh vềphòng chống bạo lực đối với trẻ em và lao động trẻ em. Như vậy, bài viết này không đềcập một cách toàn diệnvềbảo vệtrẻem và lao độngtrẻem nói chung màchỉđềcập đếnkhía cạnh phòng, chống bạo lực đốivớitrẻem vàlao động trẻ em.
Luận văn “Chế độpháp lý về lao động chưa thànhniên”của tác giả VũThịHằng (2000); Luận văn thạcsỹluật học“Pháp luật vềlao độngchưa thành niên ở Việt Nam” của tác giả Phan Văn Hùng (2002); Luận văn “Những vấn đềpháp lý cơ bản vềlao động chưa thành niên”củatácgiảDương ThịKiều Oanh (2003); Luận văn thạc sỹ luật học “Chế độpháp lý về bảo vệ laođộng chưa thành niên theo luật lao động Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đình Tự(2004); Luận văn“Một sốvấn đềpháp lývềlao động chưa thành niên theo quyđịnh củapháp luật lao động Việt Nam”củatácgiảLê Việt Hà
(2006) và Luận văn thạc sỹ luật học “Pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người lao động chưa thành niên ởViệt Nam”củatácgiảLêThịHuyền Trang (2008), nghiên cứu khái quát chung về lao động chưa thành niên nhằm chỉ ra sự cần thiết phải có quy định riêng đối với nhóm lao động này, đồng thời chủyếu nghiên cứu, đánhgiá chế độpháp lý hiện hành và bước đầu đưa ra một sốkiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về lao động chưa thành niên. Tuy nhiên, các luận văn trên chưa nghiên cứu, phân tích sâu và toàn diện các quy định đốivớingườilao độngchưa thành niên,đặcbiệt thực trạng pháp luật vềlaođộngchưa thành niên chưa đượclàm rõcảvềsựbất cập củapháp luật cũng như tổ chức thực hiện, chưa đánh giá được mức độ đáp ứng yêu cầu phát triển
6
kinh tếxã hội, nhất là trongđiềukiệnhộinhập quốctế.Mặt khác, các kiến nghị hoàn thiện pháp luật còn chưa cụ thể, rõ ràng, mới chỉ dừng lại ở những đềxuất mang tính định hướng, chung chung. Nhiều kiến nghị không còn phùhợp với điều kiện kinh tế, xã hội hiện nay.
Tóm lại,đếnnayđãcó khá nhiều công trình nghiêncứudướicác dạng khác nhauvềvấn đềngườilao độngchưa thành niên hay lao độngtrẻem nhưng các công trình nghiên cứu này chỉ ở mức độ nhỏ lẻ; tính toàn diện, đầy đủchưa cao, nhiều vấn đềcòn bỏngỏ chưa đượcnghiên cứu. Do vậy, đềtài “Hoàn thiện pháp luật về lao động chưa thành niên trong điều kiện hội nhập quốctế”là công trình khoa học đầutiên,dướihình thức luận án tiếnsỹluật học, trực tiếp nghiên cứu về người lao động chưa thành niên dưới góc độ pháp luật một cách tương đối toàn diện và có hệ thống. Các công trình khoa học cóliên quan khác đều có mục đích, phạm vi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu vàphương pháp tiếp cậnkhácvớiluận án này, nhưng cũng là nguồn tài liệu tham khảo quý giá đối với tác giả luận án.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là làm sáng tỏ những vấn đềlý luận vềngười laođộng chưa thành niên vàsựđiều chỉnh củapháp luật đốivới đối tượng này,đồngthời luận án đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật lao độngvềngười lao động chưa thành niên trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
– Nghiêncứulàm sángtỏnhững vấn đềlý luận vàsựđiềuchỉnh pháp luật lao độngđốivớingườilao động chưa thành niên cũng như tác động của hội nhập quốc tế đối với pháp luật lao động về đối tượng này.
– Nghiên cứu, đánh giá toàn diện thực trạng các quyđịnhpháp luật laođộng vềngườilao động chưa thành niên ởViệt Nam và việc thực hiện trên
7
thựctế,chỉra những ưu điểmvà những mặtcòn hạn chế, bất cập cần được khắc phục.
– Trên cơ sở các vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, luận án đưa ra một sốgiải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật lao độngvềngườilao độngchưa thành niên.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượngnghiên cứu đềtài chủyếulà các quyđịnhpháp luật lao động trong Bộ Luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ Luật lao động. Ngoài ra,đốitượngnghiêncứucòn bao gồmmột sốnộidung trong các văn bản pháp luật khác như: một số quy định trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004), Bộ Luật Tố tụng Dân sự (2004 và sửa đổinăm 2011),BộLuật dân sự (2005), Luật Bảo hiểm xã hội (2006)…Bên cạnh các quyđịnhcủa pháp luật Việt Namvềngườilao độngchưa thành niên, các quyđịnhcủa pháp luật quốctếvàmột số quốcgia cũngđược đềcập trong luận án ởmức độphù hợp, trong đótập trungchủyếuvào Công ướcsố138 vềđộtuổi laođộng tối thiểu (1973) và Công ước số 182 về cấm và hànhđộngngay lập tức đểxoábỏnhững hình thức lao động trẻemtồitệnhất (1999) là những văn bảnliên quan trực tiếp đếnngườilao động chưa thành niên mà Việt Nam đãphê chuẩn.
Về nguyên tắc người lao động chưa thành niên bao gồm nhiều đối tượng khác nhau, nếu hiểu theo nghĩa rộng, người lao động chưa thành niên gồm tất cảnhững ngườidưới 18 tuổi thực hiện hoạt động laođộng,còn hiểu theo nghĩa hẹp,ngườilao độngchưa thành niên là nhữngngườidưới18 tuổi làm công cho người sử dụnglao động đểđược trả lương. Tuy nhiên, phù hợp với têngọicủa đềtài và chuyên ngành nghiên cứu, luận ánchỉtập trung nghiên cứu pháp luật lao động về người lao động chưa thành niên trong mối quan hệlao động “làm côngăn lương” là đối tượngđiều chỉnh của luật lao động Việt Nam. Mặt khác,đểluận án cóđộrộng vàđộsâucầnthiết, tácgiảcũngmở
rộng phạm vi nghiên cứu cả pháp luật lao động về người lao động chưa thành
8
niên trong giai đoạn “tiền quan hệ lao động” (nghĩa là trong lĩnh vực việc làm, học nghề) và trong các mối quan hệ xã hội có liên quan trực tiếp với quan hệlao động.
5. Phƣơng pháp và tài liệu nghiên cứu
Để đạt đượcmục đích nghiên cứu và giải quyết tốt các nhiệm vụ nghiên cứu, luận án lấy phép duy vật biện chứng và duyvậtlịchsửcủatriết học Mác-Lênin cũng như của lý luận chung về Nhànướcvà pháp luật làm cơ sởphương pháp luận.Đồng thời luận án cũng bám sát chủtrương,địnhhướng của Đảngvà Nhànướcvềxây dựng, phát triểnnềnkinhtếthịtrường, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Bên cạnhđó,luận án cũngsửdụng các phương pháp nghiêncứucụthểphù hợp với từngnộidung, từng khía cạnhcủaluận án. Phương pháp tổng hợp là phương pháp đượcsửdụngchủyếutạiChương 1 và Chương 2 của luận án khi nghiên cứu những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng pháp luật về người lao động chưa thành niên nhằm tìm ra những ưu điểm, hạn chế trong việc quy định vềnội dung điều chỉnh pháp luật đối vớingười lao động chưa thành niên. Ngoài ra, trong Chương 2 của luận án cũngsử dụngthêm phương pháp thống kê, điềutra, khảo sát và phỏngvấntrực tiếp đểlàm rõ thực tiễn thực thi pháp luật về người lao động chưa thành niên. Phương pháp phân tích, so sánh và logic được sử dụng trong hầu hết các nội dung nghiên cứu ở cả ba chươngđểgiải quyết các nội dung cụ thể của luận án.
Tài liệu chủ yếu sử dụng trong luận án là các văn kiện pháp lý liên quan trong nước. Đây chính là nguồn tư liệu gốc và có vai trò “xươngsống” đểthểhiện nội dung của luận án. Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng nguồn tài liệu làcác văn bản pháp luật quốc tế và của nhiều quốc gia trên thế giới đãđược dịch sang tiếng Anh nhằm so sánh, đánh giá sự phát triển,mức độhoà nhập và sựphù hợp giữa luật pháp quốc gia với luật pháp quốc tế. Ngoài ra, các sách, báo cáo tổng kết,hộithảo, bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành, trên báo chí,
9
trên internet,…cũngđượcsửdụng làm nguồn tài liệu đểlàm sángtỏnhững vấn đề được nêu trong luận án.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình chuyên khảo cấp tiến sỹ đầu tiên nghiên cứu pháp luật về người lao động chưa thành niên. Với mong muốn góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về người lao động chưa thành niên nói riêng, pháp luật laođộngnói chung, luận án đã có những điểm mới sau đây:
– Góp phần luận giảihệthống lý luậnvềlao độngchưa thành niên vàpháp luật điều chỉnhđối tượngnày trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cụ thể:
+Chỉrõ cơsởđểxác địnhkhái niệmngườilao độngchưa thành niên, xác định các đặc điểmriêng của đốitượngnày đểphân biệt vớicác loại laođộngkhác,đồngthời làm căncứcho việc hoàn thiện các quyđịnhriêngđối với họ.
+Chỉrõ mục đích,ýnghĩacủaviệc điềuchỉnh pháp luật đốivớingười lao động chưa thành niên.
+ Nêu ra những nguyên tắc điều chỉnh pháp luật riêngđốivớingười laođộngchưa thành niên.
+ Xác định các tác động chủ yếu của quá trìnhhộinhập quốc tế đối với pháp luật về người lao động chưa thành niên.
– Luận án đãphân tích,chỉra những kinh nghiệmcủamột sốnướckhi điềuchỉnh pháp luật đối vớingườilao động chưa thành niên.Đâylà một trong những cơsởtham khảo quan trọng nhằm so sánh và hoàn thiện pháp luật về người lao động chưa thành niên ở nước ta.
– Luận án đưarasựđánh giá toàn diện vềthực trạng pháp luật đốivới người lao động chưa thành niên ở Việt Nam và chỉ ra những vấn đề cần phải sửa đổi, bổ sung trong hệ thống pháp luật.
– Luận án đãxác địnhnhững yêu cầucần thiết củaviệc hoàn thiện các quy định hiện hành vềngười lao động chưa thành niên, đề xuất thêmmột số
10
giải pháp kèm theo luận giải cụthểnhằm hoàn thiện pháp luật vềngườilaođộngchưa thành niên.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Những kết quảnghiêncứucủaluận án có giátrịtham khảo cho các cơquan hữu quan trong quá trình hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về người lao động chưa thành niên ở Việt Nam. Bên cạnhđó, ở mức độnhất định, luận án cũng giúp cho những người hoạt động trong lĩnh vực laođộng,xã hội những kiến thức cần thiết trong thực tiễn áp dụng pháp luật laođộng về người lao động chưa thành niên phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội Việt Nam, phù hợp với xuhướngchung của quốc tế.
Luận án cũng cóthểđượcsửdụng như một nguồn tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu và giảng dạykhoahọcluật lao động trong các trường chuyên luật hoặc các trường có giảng dạy luật lao động. Ngoài ra, luận án còn là tài liệu tham khảo cho bất kỳ cá nhân nào quan tâm đến việc bảo vệngười lao động chưa thành niên theo pháp luật lao động.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 3 chương:
– Chương 1.Những vấn đềlý luận về người lao động chưa thành niên vàpháp luật về người lao động chưa thành niên trong điều kiện hội nhập quốc tế.
– Chương 2. Thực trạng pháp luật về người lao động chưa thành niên.
– Chương 3. Hoàn thiện các quyđịnhpháp luật vềngườilao độngchưa thành niên trong điều kiện hội nhập quốc tế.
11
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤNĐỀLÝ LUẬNVỀNGƢỜILAOĐỘNGCHƢA THÀNH NIÊN
VÀ PHÁP LUẬTVỀNGƢỜILAO ĐỘNG CHƢA THÀNH NIÊN TRONG
ĐIỀUKIỆNHỘINHẬP QUỐCTẾ.
1.1. Ngƣời lao động chƣa thành niên–một loại lao động có đặc điểm riêng
1.1.1. Khái niệm người lao động chưa thành niên 1.1.1.1. Khái niệm người chưa thành niên
Ngày nay ngườita đãthừa nhận rằng,sựphát triển củaconngườilàmột quá trình liên tục, diễn ra trong suốt cuộc đời. Ở mỗi giai đoạn phát triển cá thể, cơthểcủamỗingườilà một chỉnhthểhài hoàvớinhữngđặc điểm riêng vốn có đối với giai đoạn tuổi đó. Mỗi giai đoạn tuổi này có thể được xác định dựa trên nhiều cơ sở khác nhau, như dựa trên tuổi xương (skeletal age), tuổi răng (dental age), tuổi dậy thì (sexual age), tuổi thời gian (chronological
age)…
Tuổi xương cho biết mức độ sinh học về sự phát triển của xương. Tuổi này có thể được xác định một cách rất chính xác bằng cách chụp X quang các xương cổ tay và cổ chân. Tuổi xương thường được sử dụng như một côngcụnghiên cứu trong phòng thí nghiệm,ít được sử dụngngoài phòng thí nghiệm vì chi phí cao, không tiện dụng và nhất là gây tác hại do bức xạ.
Tuổi răngdựatrên trật tựphát triểnkếtiếp củarăngtừhình dáng ban đầucủanúm răng đếnchân răng giúp ta đo đượctuổi canxi hoácủarăngtừđóxác định được các giai đoạn phát triển của mỗi người. Tuy nhiên, cũng nhưcách tính tuổi xương, cách tính tuổi răng phức tạp nên ít được sử dụngtrong thực tế.
Tuổidậythìdựatrênsựtrưởng thành sinh dục đượcxác địnhbởisựxuất hiện của các dấu hiệu sinh dục phụ và chính. Phương pháp này ít được sửdụng vì những lý do xã hội và văn hoá.

Tuổi thời gian là cách tínhdựatrên thời gian là tháng hay năm. Cách này đượcsửdụng rộng rãi nhất vì không phức tạp,dễtính vàđượccoi nhưbất biến đối vớitất cảmọi người. Căn cứ theo ngày tháng năm sinh của một ngườinào đó, ta có thể dễ dàng tính được tuổi của họ theo số năm, tháng vàngày. Như vậy, cóthểthấy việc xác định mỗi giaiđoạnphát triểncủacon người dựa trên cách tính tuổi thời gian là thuận tiện và thông dụng hơn so với các cách khác. Việc xác định giai đoạn chưa trưởng thành của con người, hay còn gọi là người chưa thành niên cũng được dựa trên cơ sở cách tính tuổi thời gian [84].
Tuy nhiên,tuỳthuộc vào cách tiếp cậncũng nhưđặcthùcủamỗi chuyên ngành màngườichưa thành niên đượchiểu và giải thích theo những cách thức riêng.
Thứ nhất, theo quan điểm của ngành nhân trắc học, thường dùngchỉ sốđo chiều cao đứng và chiều cao ngồi để xác định sự phát triển của con người, ngườichưa thành niên là người ởtrong giai đoạnphát triển nhanh nhấtvềchiều cao. Dựa trên quá trình phát triển về nhân trắc thì có hai mốc quan trọng đáng chú ý về người chưa thành niên. Mốc thứ nhất,từ tuổi dậy thì, bắt đầu từtuổi 12đếntuổi 17 ởnữvà tuổi 18vớinam. Trong giai đoạn này, chiều cao phát triển nhanh nhưng vào cuối giaiđoạn (tức tuổi 17, tuổi 18) chiều cao phát triển chậmhẳnlại,đâylà tuổingườichưa thành niên bắt đầuchuyển sang tuổi trưởng thành. Mốc thứ hai, từ tuổi dậy thì bắt đầu từ tuổi 12 đến tuổi 19-20 ởnữvà 21-22 ởnam là tuổi chiều cao ngồi đãđạt tới đỉnh,chiều caođứngcũngđãhoặc sắp đạt tới đỉnhcủasựtăng trưởng, cân nặng và vòng ngực đãđếnmột giaiđoạn đỉnhđiểmcủasựtăng trưởng,tạmdừng và giảm sút ít nhiều ởnữ; trướckhi ổn địnhvà tiếp tục phát triển trởlại,thểlựccủa hai giới cũngđãbắt đầu đạt mứctrung bìnhcủangườitrưởng thành. Theo ngành này, tuổi 19-20 ởnữvà tuổi 21-22 ở namđược đánhdấulà điểmgiới hạn của người chưa thành niên chuyển thành người trưởng thành, vì điểm giới
13
hạnnày đã đạt tới chỉ số cuối cùngđo chiều cao đứng và chiều cao ngồi khi xác định sự phát triển của con người [84].
Thứ hai, theo ngành tâm lýhọclà ngành thường dựa trên sự phát triển vềcảmxúc, tư duyđểphân biệt các giaiđoạnphát triển khác nhaucủacon người, người chưa thành niên được coi là những người trong nhóm từ 15 tuổi đếndưới18 tuổi. Các nhà tâm lýhọccho rằng, giaiđoạn này, người chưa thành niên đa số vẫn là học sinh. Trong những năm cuối học phổ thông, người chưa thành niên đãnắm đượccác thao tác trítuệphức tạp, cóvốnkiến thức khá phong phú làm cho hoạt động trí tuệ của họ trở nên bền vững và có hiệu quả. Sự phân hoá ngày càng rõ nét của tâm lý làm cho cấu trúc của hoạt động trí tuệ của người chưa thành niên cũng trở nên phức tạp và có tính cá biệt hơn nhiều so với học sinh cấp dưới. Mặt khác, ở giai đoạn này, do yêu cầu của nội dung chương trình, do tính chất của hoạt động học tập, học sinh cần phải nắm đượccáckỹnăng suy nghĩđộclập, nắm đượccác phương pháp vàkỹthuật hoạtđộngtrítuệđộclập, phải biết tựhọc. Nhữngđòihỏi đóđãthúc đẩysựphát triển tư duyởngườichưa thành niên.Họđãhoàn toàn cókhảnăng tưduy lý luận và tư duy trừutượngmột cáchđộclập, sáng tạo vềnhữngđối tượngquen biết đã được học ở trường hoặc chưa được học. Tư duy trừu tượng củahọđãphát triển vàđạt mứccao tầmcủangườitrưởng thành. Năng lực quan sát, tổng hợp, phân tích có tính logic hơn. Năng lực trí tuệ tiếp tục phát triển và hoàn thiện tối đa 100% và muốn sáng tạo theo sựtưởngtượngcủa mình, nhưthếgiới phải đượctổchức ra sao và làmthếnào đểcho tốt đẹp hơn. Do đó, lứa tuổi này cố gắng biến một số trong các ý tưởng đó thành hành động.Ởtuổi này các em bắt đầucó suy nghĩvềhướngnghiệp nghề nghiệp một cách hiện thực, đặc biệt ở cuối lứa tuổi này, nhiều em có khả năng tạo ra của cải vật chất và kiếm tiền. Đây là những đặc điểm trí tuệ nổi bật của người chưa thành niên và được xem là những khả năng ban đầu có thể đáp ứng được những yêu cầu trong các lĩnhvực hoạt độngcủa người lớn. Do đó, có thể nói,
14
bước qua tuổi 18, người chưa thành niên có đủ nănglực trí tuệ đểđảm đương trách nhiệm của một người trưởng thành [84].
Thứba, theo quanđiểmcủangành sinh học, tương tựnhư quan niệm của ngành tâm lý học, người chưa thành niên là những người tronglứa tuổi từ15 tuổi đến dưới 18 tuổi. Theo họ, đây là giai đoạn con người đangở thời kỳhoàn thiện và chín muồi vềmặt thể chất.Đa sốnữvà nambướcvào thời kỳnày đã sau dậy thì, nhưng vẫn phải “hoàn thànhnốt” nhiệmvụvà khắc phục tình trạng mất cân đối do sự chín muồi khôngđồngđều. Đến cuối thời kỳ này, trong đa số trường hợp các quá trình chín muồi sinh học cơ bản đã được hoàn thiện đếnmứccóthểcoisựphát triểnvềsau là thuộc tính vềchukỳngười lớn.
Ở Việt Nam, từ 15 tuổi đến 18 tuổi thường tương ứng với lứa tuổi học sinh lớn, học sinh trung học phổ thông. Ở cuối lứa tuổi này, cơ thể của nam, nữđãtrưởng thành vàsựphát triểnthểchất củahọít khácvớisựphát triển củangườilớn. Thời kỳ trưởng thành và phát triển cơ thể mạnh mẽvà không đồng đều đặctrưng cho lứatuổi chưa thành niên đãkết thúc và bắt đầuthời kỳphát triển tươngđối êm ảvềmặt thểchất.Ởcuối tuổi này, nhữngyếutốthểlựcnhư chiều cao, trọnglượngđãtương đối ổn định.Nhịp độphát triển chiều cao chậm lại một cách rõ rệt.Sứcmạnh cơ bắp vàkhảnăng làm việc tăng tiến rõ rệt,thểtích lồng ngực tăng lên,hệxương và các xương ốngđãhoàn toàn được cốt hoá, sự hình thành và phát triển về mặt chức năng của các mô và các cơ quan đã kết thúc. Thông thường, sự phát triển không cân đối của tim và các mạch máu đặc trưng cho lứa tuổi này đã trởnên cân bằng, dịu đi, huyết áp được điều hoà, hoạt động củacác tuyến nội tiết đãtrởnên nhịp nhàng.
Ởđộtuổi này, những biến đổi trongsựphát triển củacảhệthần kinh nói chung và não bộ nói riêng cũngđượcxác định. Hơn nữa, những biến đổi đóxẩyra không phải do khối lượngnão bộtăng lên mà là do cấutrúc bên trong của tế bào não phức tạp thêm lên bởi sự phát triển về mặt chức năng của
15
bộnão.Dầndần,cấutạo củatếbào vỏbán cầu đạinão có nhữngđặc điểm giống như cấu tạo tếbào não ởngười lớn.Sốlượngdây thần kinh liên hợp, nối các thành phần khác nhau củavỏnão tăng lên. Kết quảlà tạo rađược nhữngtiền đềcần thiết cho sự phức tạp hoá hoạt động trí tuệ (phân tích, tổng
hợp, so sánh…). Do vậy, vào cuối tuổi 18,vềmặt thểchất, con người đãđủkhảnăng thực hiện các nhiệmvụđòihỏivề sức khoẻnhư sinh sản, lao động [84].
Thứtư, các nhà luật họcsửdụng thuật ngữngườichưa thành niên đểnhấn mạnh tới những giới hạn về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý đối với đối tượng đặcthù này, thông quađóđểcó những quy địnhcụthể, phùhợp nhằm phân biệt vớinhững nhóm đối tượngkhác. Với tính chất như vậy, người chưa thành niên có thể gồm tất cả những người dưới 18 tuổi (hoặc trên dướimột độtuổi nhất định), nhóm tuổivềcơbảnchưa phải chịu hoặc chịu một phần trách nhiệm pháp lýđốivới hành vi củamình hoặcbịgiới hạnvềmột sốquyền và nghĩa vụ. Điềunày cóthểthấy rõ trong các vănbảnpháp luật quốc tế, ở đóthườnglấy mốc dưới 18 tuổi đểchỉ những người chưa thành niênvà độtuổi này có thể thay đổi tuỳ theo hệ thống pháp luật của các quốc gia.
Tại điểm 2 của Bản quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốcvềviệc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh)được Đại hội đồngLiênhợpquốc thông qua ngày 29/11/1985 nêu rõ“người chưa thành niên là trẻ em hay người trẻ tuổi” (A juvenile is a child or young person). Còn trongBảnquytắccủaLiên hợp quốcvềbảo vệngười chưa thànhniên bị tước quyền tự do được Đại hội đồngLiên hợp quốc thông qua ngày 14/12/1990,tạiMụcII,điểm11 (a) quyđịnh “người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên”.
Như vậy, khi đưa ra khái niệm người chưa thành niên, pháp luật quốc tế không dựa hoàn toàn, trực tiếp vào đặc điểm tâm, sinh lý hay sự phát triển
16
thểchất, tinhthần…màtrực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc xác địnhđộtuổi.Cụthể,ngườichưa thành niên có giớihạnlàngườidưới18 tuổi.Đồng thời pháp luật quốc tế cũng đưa ra khả năng“mở” cho các quốcgiatuỳ điều kiện kinh tế,xã hội, văn hoá, truyền thống riêng cóthểquyđịnhđộtuổi đósớm hoặc muộn hơn.
Ở góc độngôn ngữ học, một số từ điển thông dụng cũng lấy 18 tuổi làgiới hạn tối đa để xác định khái niệm ngườichưa thành niên. Từ điển Longman Dictionary of Business EnglishcủaJ.D.Adamđịnh nghĩa“người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi” [103].
Tương tự,trong TừđiểnBlack‟s Law Dictionary củaBryan.A.Garnerđịnh nghĩa: người chưa thành niên là trẻ em và trẻ em là người dưới 18 tuổi [93]. Theo Từ điển này thì người chưa thành niên còn được gọi là trẻ em.
Tóm lại,từviệclựachọn phương pháp tính tuổi thời gian làm cơsởcho việc xác địnhngườichưa thành niên đếnviệc xác địnhgiới hạn độtuổi tối đa hay tối thiểu củangười chưa thành niên củamỗi chuyên ngành trong các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá khác nhau ta thấy một đặc trưng chung của người chưa thành niên là người chưa trưởng thành, chưa phát triển đầy đủvề mặt thể chất, tinh thần và đa số các quan điểm lấy giới hạn độ tuổi tối đa là18 tuổi. Như vậy, theo cách hiểu thông dụng cóthểđưara khái niệm người chưa thành niên là những người dưới 18 tuổi.
Mặt khác, khái niệm này có thể trùng với khái niệm trẻ em (child) theo pháp luật quốc tế và pháp luật của nhiều quốc gia. Điều 1 Côngước quốc tếvề quyền trẻ em (1989) quy định: “trẻ em được hiểu là những người dưới 18 tuổi ngoại trừluật pháp quyđịnh độtuổi sớm hơn với trẻem,ngườichưa thành niên”. Điều 2 Luật Bảo vệ trẻ em của Cộng hoà Estonia (1992); phần 1,điểm 2 Luật Trẻ em của Malaysia (2001) quy định: “trẻ em là người dưới 18 tuổi”. Ngoài ra, như đã nêu ở trên, trong Bản quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên và Từ
17
điển Black‟s Law Dictionary đều đồng nhất hai khái niệm “người chưa thành niên” và “trẻ em“.
Điềunày cho thấy, trong những lĩnh vực, hoàn cảnh nhất định,khái niệm “người chưa thànhniên”và “trẻ em“ có thể thốngnhất vềmặt nộihàm vàđượcpháp luật quốctế,cũng như nhiều quốc giasửdụng thống nhất. Chính vì vậy, thuật ngữ “trẻ em”hay “người chưa thành niên” có thể hiểu làđồngnghĩa.
1.1.1.2. Khái niệm người lao động chưa thành niên trên thế giới
Pháp luật quốc tế, chủ yếu là các Công ước của Tổ chức lao động quốc tế, khôngsửdụng thuật ngữ“ngườilao động chưa thànhniên”màchỉsửdụng thuật ngữ “lao động trẻ em”. Từ khi được thành lập năm 1919 đến nay, Tổ chứclao độngquốc tế đãthông quagần200 Công ước,vớigần 30 Công ước đềcập đến vấn đềlao động trẻ em, trong đó có hai Công ước cơ bản đềcập trực tiếp và mang tính bao quát (so với các Côngước trước đó) về vấn đềlao độngtrẻem là Côngướcsố138 vềđộtuổi lao độngtốithiểu (1973) vàCôngướcsố182 vềcấmvà hànhđộngngay lập tức đểxoábỏnhững hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (1999). Hai công ước này không trực tiếp đưa ra khái niệm “lao động trẻ em”, nhưngĐiều2 Công ước số 182 đã gián tiếp đưa ra khái niệm về trẻ em, đó là người dưới 18 tuổi. Với những trẻ em dưới 18 tuổi, Côngướcsố138 vềđộtuổi lao độngtốithiểulạiphân chia thành những nhóm tuổi khác nhaudựatrên hoàn cảnh thông thường và hoàn cảnh đặcthù (tứcvớicác quốc gia cónềnkinh tếvàđiềukiện giáo dụccòn hạn chế, chưa thích hợp đểáp dụng cácmứctuổi lao động tối thiểu trong hoàn cảnh thông thường). Xuất phát từtính đa dạngcủacác loại hình công việc, Công ước đưa ra ba mức tuổi chính, áp dụng với các công việc nguy hại, các công việcnhẹnhàng và các công việc không thuộc phạm vi các công việc nguy hại và công việc nhẹ nhàng. Ngoài ra, xét đến tính chất đặc biệt của một
18
sốnghề nghiệp cầnphải luyện tập từđộtuổi còn nhỏ, Công ướccòn đềcập đến một độtuổi ngoại lệ, không thuộc vào các dạngđộtuổi kể trên. Cụ thể:
Thứnhất, trong hoàn cảnh thông thường,ngườilao độngcóthểđược tuyển dụng hoặc làm các công việc không có tính chất nguyhại với độtuổi ít nhất là 15 tuổi và kèm theo điều kiện là không thấp hơn độtuổi hoàn thành chương trình giáo dục bắt buộc; với những công việc nhẹ nhàng mà tính chất và điều kiện tiến hành không ảnh hưởng đến sức khoẻ, sự phát triển, việc học tập, học nghề hay các cơ hội giáo dục khác của trẻ thì độ tuổi tối thiểu ít nhất là từ 13 tuổi hoặc 15 tuổi; với những loại nghề nghiệp hoặc công việc mà tính chất hoặc điều kiện làm việc có thể làm tổn hại tới sứckhoẻ, sự an toàn hay nhân cách của trẻ thì mức tuổi tối thiểu được tuyển dụngvà cho phép đi làm việc phảitừ18 tuổi (khoản 3 Điều2; khoản 1, 2 Điều7 và khoản 1 Điều3 Côngước).
Thứ hai, trong hoàn cảnh đặc thù (ở các quốc gia mà nền kinh tế và các phương tiện giáo dục chưa phát triển đầy đủ), tuổi lao động tối thiểu có thể là14 tuổi;vớinhững công việcnhẹnhàng mà tính chất vàđiềukiện tiến hành không ảnhhưởngđến sức khoẻ, sự phát triển, việc học tập, học nghề hay các cơ hội giáo dục khác của trẻ thì tuổi tối thiểu tham gia lao độngcó thể là từ 12 hoặc 14 tuổi nhưng chưa hoàn thành chương trình giáo dụcbắt buộc; với những loại nghề nghiệp hoặc công việc mà tính chất hoặc điều kiện làm việc có thể làm tổn hại tới sức khoẻ, sự an toàn hay nhân cách của trẻ thì mức tuổi tối thiểu được tuyển dụng và cho phép đi làm việc có thể là 16 tuổi nhưng với điều kiện là an toàn, phẩm hạnh của trẻ phải được đảm bảo đầy đủ, phải có sựhướngdẫncụthểvà thích đáng hoặc phải đào tạo nghề cho họtrong công việc tươngứng(khoản 4 Điều 2; khoản 4 Điều 7; khoản 1 Điều 3 Côngước).
Thứ ba, với một số công việc, nghề nghiệp đặc biệt như biểu diễn nghệthuật thì các em có thể tham gia từ độ tuổi nhỏ nhưng việc quy định này phải tham khảo ý kiến những tổ chức của người sử dụng lao động và của người laođộng,đồng thời trong giấy phép cấp cho những trườnghợpcá biệt này phải
19
xác định rõ giới hạnthờigiờlao động,các điềukiện trong việcsửdụng laođộng(Điều 8 Côngước).
Như vậy, hai Côngướctrên đãbổsung cho nhau khi quy định vềlaođộng trẻem, theo đómột Công ướcgián tiếp nêu khái niệmvềlao động trẻem là những người dưới 18 tuổi và một Côngước đưara những quyđịnh cụthể hơn về lao động trẻ em khi phân chia lao động trẻ em thành những nhóm tuổi khác nhau trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau. Điều này tạo ra sựlinh hoạt,thểhiện quan điểm“mở” đối vớicácnướcthành viên khi phêchuẩn Công ước. Nó cho phép các quốc gia căn cứ vào những hoàn cảnh, đặc thù riêng của mình để phân chia lao động trẻ em hay những lao động dưới 18 tuổi thành những nhóm tuổi khác nhau (như nhóm từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi,
nhómdưới 15 tuổi…)sao cho phù hợp với tinh thần củahai Côngước.Hai Công ướcthểhiện quanđiểmcủacộng đồng quốctếvềviệc không loạibỏhoàn toàn hình thức lao độngtrẻem hay hình thức lao độngcủangườichưa thành niên,tứcvẫnthừa nhận các hình thức laođộng phù hợp với từng lứa tuổi, không ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần của người dưới 18 tuổi, chỉ loại bỏ những hình thức lao động tồi tệ nhất đối với họ [49].
Cụ thểhoá nội dung của hai Công ước trên, các nước phê chuẩn Công ước khi quy định về trẻ em lao động thường dùng thuật ngữ “lao động trẻ em” trùng với thuật ngữ được dùng trong hai Công ước. Điều này có thể thấy trong pháp luật lao độngcủaVương quốc Anh, Kenya, Malaysia… Song cũng cóquốc gia lại sửdụng thêm thuật ngữ“ngườilao động chưa thành niên”như
Slovakia, ThuỵĐiển,Oman, TrungQuốc…Cácquốc gia cósửdụng thuật ngữ “lao độngtrẻ em” quan niệm: lao động trẻ em là những em dưới 18 tuổi. Ví dụ như Điều 1 Luật tuyển dụng lao động trẻ em của Vương quốc Anh quy định: (trong Luật này) “trẻ em là người dưới 18 tuổi” [124].
Các quốc gia sử dụng thuật ngữ “lao động chưa thành niên” lại có quy định khác nhau. Thứ nhất, có quốc gia quy định về người lao động chưa thành niên là toàn bộ những người dưới 18 tuổi. Chẳng hạn, Điều 1 Chương V Luật
20
môi trường làm việc của Thuỵ Điển, Điều 40 Luật lao động Slovakia đều quy định: “người lao động dưới 18 tuổi là người lao động chưa thànhniên”[124] và Điều2 Chương V Luật môi trường làm việc của Thuỵ Điển còn quy định bổ sungvềviệc: Chính phủ phải có những quy định riêng liên quan đến việc tuyển dụng lao động chưa thành niên dưới 13 tuổi để làm công việc phù hợp. Thứhai, có những quốc gia quyđịnhngườilao độngchưa thành niên lại không phải tất cảnhữngngườidưới18 tuổi.Ởđây, các quốc gia quyđịnh ngườilaođộngchưa thành niênchỉlà nhữngngườitừ15 tuổi đếndưới18 tuổi. Điều này có thể thấy trong quy định tại Điều 1 Luật Việc làm của Oman (2003), Luật bảo vệngườitrẻtuổitạinơi làm việccủaCuprus (2001). Bên cạnhđó,có quốc giasửdụngđồngthời hai thuật ngữ“lao độngchưa thành niên”và “lao độngtrẻem”nhưng có quyđịnhđểphân biệt rõsựkhác nhau giữa hai thuật ngữnày. Chẳng hạn,Điều 2 Luật cấmlaođộng trẻem của Trung Quốc quy định: “lao động trẻ em để chỉ người chưa thành niên hay trẻem dưới 16 tuổi” và Điều 13 Luật này quyđịnh: “chỉ được sử dụng lao động trẻem vào lĩnhvựcthểthao, nghệthuật”[124]. Trong Luật lao động của Trung Quốc, Điều 58 quyđịnh: “lao độngchưa thành niên là nhữngngười từ16 tuổi đến18 tuổi”.Đâylàđiểmkhác biệt so vớinhiều quốc gia khác, khi quy định vềngườilaođộngdưới 18 tuổi, pháp luật Trung Quốc tách ra làm hai nhóm, một nhóm cóđộtuổitừ16 tuổi đến18 tuổi,đượcgọilà lao động chưa thành niên và một nhóm dưới 16 tuổi, được gọi là lao động trẻ em.
Như vậy, cóthểthấy pháp luật quốctếcũng như pháp luật củanhiều quốc gia không thống nhất vềtêngọichỉ“ngườilao độngchưa thành niên” (hay “lao động trẻ em”). Tuy nhiên, dù khác nhau về têngọinhưng nội hàm củathuật ngữ“ngườilao độngchưa thànhniên”và “lao độngtrẻem”lại giống nhau vàđềulấy18 tuổi là giới hạn đểphân biệt vớingườilao động trưởng thành.
1.1.1.3. Khái niệm người lao động chưa thành niên ở Việt Nam
21
Ở Việt Nam, những người chưa phát triển đầy đủvề thể chất, tinh thần nhưng tham gia lao động là hiện tượng phổ biến và được nhà nước thừa nhận.Điều này cóthểthấy thông qua những quyđịnhtrong những vănbảnpháp luậttừkhinướcta giànhđộclập đến khi BộLuật lao động đượcban hành năm 1994. Các văn bản có thể kể đến như Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 củaChủtịchHồChí Minh quy định những giao dịchvềviệc làm công giữa các chủ tư nhân Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhân Việt Nam làm việc tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự
do (Điều 12, Điều 57, Điều 99, Điều 131…); Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 củaChủtịchHồChí Minh vềQuychếcông nhân(Điều8,Điều 52); Nghị định số 24/CP ngày 13/3/1963 của Hội đồngBộ trưởngvề Điềulệtuyển dụng và cho thôi việc đối với công nhân viên chức Nhà nước (Điều 3); Thông tư liên tịch số 06-TT/LT ngày 6/9/1963 củaBộLao động- Nội Vụvềviệc hướng dẫn và giải thích Điều lệ tuyển dụng quy định những ngành nghềcần tuyển dụng người dưới 18 tuổi (Điểm C Mục II); Thông tư số
01/LĐTBXH-TT ngày 9/1/1988 của Bộ Lao động–Thương binh và Xã hội vềlaođộng-tiền lương(Điểm3MụcI); Thông tưsố09/LĐTBXH-TT ngày
18/4/1989 của Bộ Lao động–Thương binh và Xã hội về thực hiện Chính sách lao động và xã hội đối vớilao động làm thuê ở các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh(Điểm3, Điểm 6 Mục II); Pháp lệnhHợp đồng lao độngdo Hội đồng Nhànướcban hành ngày 30/9/1990(Điều12); Pháp lệnh Bảo hộlao
động do Hội đồng Nhànướcban hành ngày 10/9/1991 (Điều 19)…Các văn bảntrên,mặcdùđềcập đếnquyền lợi, nghĩavụcủanhữngngườichưa phát triển đầy đủvề thể chất, tinh thần khi tham gia quan hệ lao động nhưng không đềcập về tên gọi chungđểchỉ đối tượngnày khi tham gia lao động.
Năm 1994 khi Bộ Luật lao động được ban hành, lần đầu tiên thuật ngữ“ngườilao động chưa thànhniên”đượcsửdụngđểchỉnhững ngườichưa phát triển đầy đủvề thể chất, tinh thần tham gia lao động. Theo đó, Điều 119: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”.Đâylà
22
khái niệm đơn giản chỉ dựa trên cơ sở giới hạn độ tuổi tối đa là 18 tuổi đểđềcập nhữngngườichưa phát triển đầy đủvềthểchất, tinh thần tham gia laođộng.Khái niệm này chưa nêu rõ nhữngđặctính cơbảnlàm cơsởđểnhận biết đối tượngngười lao động chưa thành niên.
Trong Giáo trình Luật lao động Việt Nam của TrườngĐại học Luật HàNội(2009) nêu:“Lao động chưa thành niên là những lao động dưới 18 tuổi, bao gồm hai loại lao động là lao động dưới 15 tuổi và laođộng từ đủ15 tuổi đến dưới 18 tuổi”[79, tr 416]. Khái niệm này cóđiểmtương đồng vớikhái niệm đượcnêu tại Điều 119 Bộ Luật lao động, dựa trên cơ sở độ tuổi đểxác định phạm vi, đồng thời phân loại thành hai nhóm gồm nhóm dưới 15 tuổi vànhómtừđủ15 tuổi đếndưới 18 tuổi. Tuy nhiên, tươngtựnhưĐiều 119 BộLuật lao động, khái niệm này chưa nêu rõ những đặc tính cơ bản làm cơ sở đểnhận biết đối tượngngười lao động chưa thành niên.
Tuy nhiên,vẫncòntồntạimột sốkhái niệm khácvềngườilao động chưa thành niên ngoài hai khái niệm trên. Theo tác giả Phan Văn Hùng: “Laođộng chưa thành niên là những người chưa thành niên (ởViệt Nam là người dưới 18 tuổi) tham gia hoạt động lao động, có quan hệ lao động (trên cơ sởgiao kết hợp đồng lao động) nhằm mục đích tạo ra thu nhập để nuôi sống bản thân,giúp đỡgia đình”[47, tr17]. Khái niệm trên tương đối dài, trongđóđãgiới hạn phạm viđối tượng(người dưới 18 tuổi), đồng thời xác định phạm vi quanhệlao động (chỉgồmngười có quanhệlao động) cũng như chỉ rõ mục đích của đối tượng. Tuy nhiên, tác giả lại chưa chỉ rõ một đặc tính quan trọng của đối tượngnày, đó là khả năng lao động. Người dưới 18 tuổi tham gia hoạt động lao động, có quan hệlao động (trên cơ sở giao kếthợp đồnglao động) nhưngnếukhông cókhảnăng lao động(vídụbịtâm thần) thì quanhệlaođộng đókhông được pháp luật thừa nhận và đương nhiên ngườilao động đókhông thểcoi làngườilao độngchưa thành niên, một chủthểtrong quanhệlao động.
23
Theo tiếnsỹNguyễnHữuChí: “mọi người lao động dưới 18 tuổi cókhảnăng lao động và giao kết hợp đồng lao động là lao động chưa thành niên”.Đâylà khái niệm phản ánh tươngđối đầy đủnộihàmvềngườilaođộngchưa thành niên, trong đóđãxác địnhphạm viđốitượng, tính chất, thuộc tínhcủanhóm đốitượngchưa phát triển đầy đủvềthểchất, tinh thần tham gia quan hệ lao động, làm cơ sở để phân biệt với những người lao động đã phát triển đầy đủvề thể chất, tinh thần.
Từ các quan điểm khác nhau về người lao động chưa phát triển đầy đủvề thể chất, tinh thần , theo chúng tôi trong khái niệm về người lao động chưa thành niên cần phải xác định rõ đặc điểm và giới hạn phạm vi đối tượng cũng như điều kiện, tính chất của đối tượng này. Theo đó, có thể đưa ra khái niệm ngườilao động chưa thành niên như sau: người lao động chưa thành niên làngười laođộng cóđặc điểm riêng, gồm những ngườidưới18 tuổi cókhảnăng lao động và có giao kết hợp đồng lao động. Khái niệm đã nhấn mạnh tới đặctrưngcủangườilao độngchưa thành niên đểphân biệt vớingườilaođộng bình thường, đólà người lao động có đặc điểm “riêng”. Đối tượngđiều chỉnhcủaluật lao độnglàngườilao động nói chung, tuy nhiên xuất phát từđặctrưng,đặcthù riêng củangười lao động,pháp luật lao động phân chia thành nhóm nhữngngườilao độngcóđặc điểmriêng nhằm có quyđịnhphùhợp với nhữngngườilao động này.Họgồmlao động nữ,lao động là người cao tuổi, lao động là người tàn tật, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao, người nước ngoài lao động tại Việt Nam…và người lao động chưa thành niên thuộc nhóm lao động có đặc điểm riêng, đó là người lao động chưa phát triển đầy đủvề thể lực, trí lực.
Khái niệm trên cũngchỉrõ phạm vi giớihạntối đa là 18 tuổi đểxác định người lao động chưa thành niên và nhằm phân biệtvớingười laođộng đãphát triển đầy đủvềthểlực, trí lực. Cơsởcủaviệc phân biệt người laođộng thuộc nhóm lao động đặc thù có thể dựa trên các tiêu chí khác nhau như
giới tính, tình trạng sức khoẻ, trìnhđộchuyên môn kỹ thuật, quốctịch…Với
24
người lao động chưa thành niên, tiêu chí cơ bản thường được sử dụng làm căn cứ phân biệt với người lao động khác là dựa trên độtuổi. Độ tuổi là đại lượng cóthểdễdàngđịnh lượng một cách chính xác thông qua việc xác định sốnăm, tháng hoặc ngày. Do đó, trong khái niệm trên, việc dựa trên giới hạn tối đa về tuổi đểxác định phạm viđối tượnglà một trong những cơ sở quan trọng đểlàm rõ nội hàm khái niệm người lao động chưa thành niên.
Trong khái niệm trên đã chỉrõ điều kiện, tính chất củangườilao động chưa thành niên,đólàngườicókhảnăng lao động.Việc xác địnhkhảnăng lao động là điều kiện, thuộc tính của đối tượng này nhằm phân biệt với người không có khả năng lao động sẽ không được coi là người lao động chưa thành niên. Về mặt pháp lý, khi nói đến khả năng của một cá nhân thường đề cập tới khảnăngcủamột người tựthực hiện các quyền, nghĩavụdo luật pháp quy định. Do vậy, khi nói đến khảnăng lao độngcủangườilao động chưa thành niên là đề cập tới năng lực pháp luật và năng lực hành vicủa đối tượngnày. Năng lựcpháp luậtcủangườilao độngchưa thành niên làkhảnăngcủahọđược pháp luật quyđịnhcho các quyền đồng thời phải gánh vác những nghĩa vụlao động.Nănglựcpháp luật thườngđượcthểhiệncụthểthông qua quy định vềquyền năng, nghĩavụcơbảncủangườilaođộngchưa thành niên cũng như những hạn chế hoặc cấm đoán với họ, đồng thời còn là trách nhiệm pháp lý liên quan đến việchọthực hiện công việc. Tuy nhiên,nếungườilaođộngchưa thànhniên được hưởngcác quyền năng pháp lý nhưng bản thân họkhông cókhảnăng thực hiện thì quyền năng này khôngthểtrởthành hiện thực. Do đó,cùng vớiviệc pháp luật trao cho họquyền năng pháp lý, đồng thời đối tượngnày phải có năng lực hành vi lao động.
Năng lực hành vi lao độngcủangườilao động chưa thành niên là khảnăng thực tế củahọtrong việc tạo ra,hưởngdụng các quyền đồng thời gánh vác các nghĩavụlao động.Ngườilao động chưa thành niênchỉthực hiện đượccác quyền, nghĩavụpháp lý khihọcóthểlựcvà trí lực.Thểlựccủa người lao động chưa thành niên biểu hiện bên ngoài thông qua yếu tố hìnhthể
25
và sức khoẻ. Hìnhthểlà sự kết hợp và biểu hiện ra bên ngoài của cácyếu tố
như chiều cao, cân nặng, hình dáng,…Hìnhthểlàyếutốquan trọng trong việc xem xét khả năng của họ trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ. Vì hình thể của họ đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện nên họ chỉ có thể thực hiện quyền, nghĩavụlao độngphù hợp vớihìnhthểcủahọ.Bên cạnh đó, ngườisửdụng lao độngcũng chỉcóthểsửdụngngườilao độngchưa thành niên vào những công việc hoặc trong môi trường làm việc phù hợp vớihình thể của họ. Sức khỏe của người lao động chưa thành niên được hiểu là sức lực mà họ có được đểthực hiện các thao tác, nhiệm vụ khi lao động. Sức khoẻ cóthể được xác định thông qua những chỉ số đo như huyết áp, sức đẩy, sức kéo,
sứcnâng… Sứckhoẻ tươngtựnhư hìnhthểlàyếutốquan trọng trong việc xem xét khảnăngcủangườilao độngchưa thành niên trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động.
Ngườilao độngchưa thành niên đượccoi là có trílựckhi họcókhảnăng nhận thức vàđiềukhiển hành vi.Điềunàythểhiện qua việchọphải nhận thức đượccác quyền, nghĩavụ,lợi íchcủabảnthân cũng nhưtựbản thân điều khiển được các thao tác, hành vi lao động phù hợp với quy định vàyêu cầu của công việc. Người lao động chưa thành niên được coi là có trí lực khiđã đủ15 tuổi (Điều 6 BộLuật lao động). Ngoài quyđịnhmang tính chất chung, có tính phổ biến như trên, pháp luật cũng có những ngoại lệ nhất định áp dụng với ngườilao độngchưa thành niêndưới15 tuổi.Vớinhững người này, dù chưa phát triển đầy đủvềkhảnăng nhận thức vàđiềukhiển hành vi nhưng pháp luật vẫn coi họ là có trí lực thông qua quyđịnhcho phép họ tham gia một số công việc nhất định (như tham gia biểu diễn nghệ thuật hoặc tham gia hoạt động quảng cáo) và kèm theo những điều kiện nhất định như phải cósự đồngý của cha mẹ.
Để được thừa nhận là người lao độngchưa thành niên, họ phải đáp ứng một điều kiện quan trọng khác là có giao kết hợp đồng lao động. Người chưa thành niên có năng lực pháp luật và năng lực hành viđầy đủnhưng có trường
26
hợp họ không được coi là người lao động chưa thành niên khi họ không tham gia vào quan hệ lao động. Điều này có nghĩa, người chưa thành niên được coi là người lao độngchưa thành niên khihọtham gia quanhệlao động.Việc tham gia quan hệ lao động thông qua hình thức hợp đồng lao động. Theo đó, chủ thể trong hợp đồng lao động phải là người sử dụng lao động và người laođộng chưa thành niên. Đồng thời, hai bên khi giao kết hợp đồng lao động phải tuân theo những quyđịnhvềhình thức, nội dung hợp đồng đểđảmbảo hợp đồng có hiệu lực.Đâylà một trong những tiêu chí quan trọng đểxác định ngườidưới18 tuổi và cókhảnăng lao độngđủđiềukiện làngườilao động chưa thành niên.
Khái niệm trên về người lao động chưa thành niên không những là căn cứ xác định rõ nội hàm đối tượng này mà còn làm cơ sở để phân biệt với một số khái niệm khác có liên quan như:
i) Lao động vị thành niên.
Hiện nay, ngoài thuật ngữ lao động “chưa thành niên”, trong cuộc sống hoặc một sốtài liệu còn sửdụng thuật ngữlao động“vịthành niên”. Thuật ngữnày cóthểthấy trong cácbảndịchtừtiếng Anh các Công ướchoặc Khuyến nghịcủaTổchức lao độngquốctếnhư Côngướcsố6 vềviệc làm đêm của vị thành niên (1919); Công ước số 16 về kiểm tra y tế vị thành niên (1921); Côngướcsố77 vềkiểm tra ytếvịthành niên làm việc trong ngành công nghiệp (1946); Côngướcsố78 vềkiểm tra ytếvịthành niên làm việc trong ngành phi công nghiệp (1946); Công ước số 124 về kiểm tra y tế cho vịthành niên làm việcdướimặt đất (1965); Khuyến nghịsố125 vềcác điều
kiện làm việccủavịthành niêndướilòngđất (1965)… Các văn bản trên sửdụng thuật ngữ “vị thànhniên”, nhưng không đưa ra khái niệm cụ thể. Thuật ngữnày được dùng đểđềcập tớimột sốhành vi màhọ (“vị thànhniên dưới 18 tuổi” được nêu tại Điều 2 Công ước số 6 và Công ước số 7; Điều 1, Điều 2 Côngướcsố77 và Côngướcsố78) là nhữngngườidưới18 tuổi đượclàm hoặc khôngđượclàm. Như vậy, theo các văn bản trên thì “lao động vị thành
27
niên”đượchiểu là nhữngngườidưới18 tuổisẽđượchoặc khôngđượcthực hiện một số hành vi nên thuật ngữ “lao động chưa thành niên” và “lao độngvịthành niên” có nghĩa tương tự như nhau.
Mặt khác, theo cách giải thích trong Từ điển Luật học của Nhà xuất bản TừđiểnBách khoa HàNội(1999),“chưathànhniên”đượchiểu thống nhất với“vịthànhniên”dùngđểchỉngườichưa đến độtuổi (người chưa đủ18 tuổi) được pháp luật coi là có đủ khả năngđểsử dụngquyền, làm nghĩa vụ vàchịu trách nhiệm. Như vậy, có thể thấy thuật ngữ “lao động chưa thành niên” và “lao động vị thành niên” là một, chỉ khác nhau về cách gọi.
ii) Lao động trẻ em
Thuật ngữ “lao độngtrẻ em” được sử dụngtrong Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em (khoản 7 Điều 7), nhưng lại không có điều luật cụ thể giải thích nhằm so sánh vớikhái niệm“người lao độngchưa thành niên”. Tuy nhiên, căn cứ vào phạm vi áp dụngcủaLuật này Điều 1 nêu rõ: “trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” và khi khoản 7 Điều 7đềcập tới đối tượng“lao động trẻ em” thì thuật ngữ “lao động trẻ em” có thểđược hiểu là người lao động dưới 16 tuổi. Nếu so sánh thuật ngữ “lao độngtrẻem” và “lao động chưa thành niên” ta thấy hai thuật ngữ này không hoàn toàn đồng nhất vớinhau. Xét vềmặt nộihàm, “lao độngchưa thànhniên”(lànhững người dưới 18 tuổi)sẽ gồm cả “lao độngtrẻ em” (những người dưới 16 tuổi). Do vậy, theo cách suy luận trên thì những người dưới 16 tuổi tham gia lao độngsẽ đồngthời được gọi là “lao độngtrẻ em” và “lao động chưa thành niên”.
1.1.2. Đặc điểm của người lao động chưa thành niên
So sánhvớingười lao động thành niên, cóthểthấy người lao động chưa thành niên có một số đặc điểm cơ bản như sau:
Thứnhất,ngườilao độngchưa thành niên là nhữngngườilao động chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần. Đây là nhóm lao động đặc thù, là
28
những người chưa trưởng thành. Khác với người lao động đã trưởng thành làngười đã phát triển đầy đủcả về thể chất lẫn tinh thần. Do đó, người lao động chưa thành niên chưathểtham giađầy đủvào các quanhệlao độngcủa đời sống xã hội. Trước tiên là đặc trưng về sinh lý: dưới độtuổi 18, là giai đoạn cósựphát triển mang tính độtbiếnvềsinh lý, biểu hiện ởviệc các em phát triển nhanhvềchiều cao và trọng lượngcơ thể; hệxương, cơ bắp phát triển mạnh,đặcbiệt xương tay, xương chân. Ởgiaiđoạnnày,nếuphải lao động vớicườngđộquá sức, hoặc làm việc nhiều giờ, hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với môi trườngảnhhưởng xấu tới sựhình thành và phát triển nhân cách (như làm việc ở trong quán Bar, nhà hàng, phòng hát karaoke…)đềudễgây ảnhhưởngxấu đếnsựphát triểncảvềthể
lực và trí lực của họ.
Tiếp đếnlàđặctrưngvềtâm lý: Do sựphát triểnvượt bậcvềmặt thểchất, nên các em ở lứa tuổi chưa thành niên thường có những biểu hiện về mặt tâm lý khá phức tạp. Ở giai đoạn này các em dễ tưởng mình đã làngườilớn, thường có biểu hiện rõ nét nhất vềsựtựýthứcvềcá tínhcủamình và hình thành “cái tôi”, cũng như các phẩm chất tâm lý độc lập (phẩm chất tâm lý tích cựchoặc tiêu cực). Các em thườngthểhiện tính bồng bột, dũng cảm, mạnh mẽ, muốn mình như người lớn. Cũng ở giai đoạn này, quan hệ giao tiếp cũng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt quan hệ với nhóm bạn, có thể vượt ra ngoài giới hạn của tuổi học sinh,hoạt độngcó tính độc lập…Nhữngđặc điểmvề tâm lýnày ảnhhưởngđến khả năng học nghề, khả năng lao động của các em, nhất làtâm lý“cảthèm, chóng chán”, hiếu thắng. Các emdễbồng bột phản ứng lại với người dạy nghề hoặc người sử dụng lao động. Đây là những đặc điểm cơbảntạo rasựkhác biệt giữangườilao độngthành niên vàngườilao động chưa thành niên và cũng là cơsởxuất phát điểmcho các đặc điểmtiếp theo
[84].
Thứ hai, người lao động chưa thành niên được pháp luật bảo vệ ở mức độcao hơn so vớingười lao động thành niên.Đặc điểmnày xuất phát từsự
29
chưa phát triển đầy đủvềthểchất, tinh thầncủangườilaođộng chưa thành niên nên khi tham gia quan hệ lao động họ được pháp luật bảo vệ theo hướng “ưu tiên” trongviệc đượchưởngmột số quyền, lợi ích ngang bằng hoặc hơn những quyền, lợi ích mà pháp luật quyđịnhvới ngườilao độngthành niên.Điềunày thể hiện qua một số quyđịnh vềtiền lương, thời giờlàm việc, thời
giờnghỉ ngơi…Chẳng hạn, quyđịnhngườilao độngchưa thành niên được hưởngmức lương ngang bằng so với lương của người lao động thành niên khi làm cùng công việc hoặc đượcgiảmgiờlàm việc tối thiểu là một giờtrong một ngày làm việc,đượchạnchếlàm thêm giờ, làm đêmhay thời gian nghỉhàng nămcủahọlại nhiều hơn hayhọ được đảm bảo thời gian họcvăn hóa,đượcquan tâm chăm sócvềcác mặt lao động,sứckhoẻ trong quá trình laođộng so với ngườilao độngthành niên. Những quyđịnh này cóthểthấy rõtrong pháp luật lao động của nhiều quốc gia như Điều 132 Luật lao động của
Latvia, Điểm 9 Luật lao động của Nepal [124]…
Mặt khác, việcbảovệngườilao động chưa thành niên còn thểhiện ởquyđịnhhạnchếhọtham gia làm một sốcông việc, ngành nghề nhất định. Quy định hạn chế này không phải là sự giới hạn về quyền, tạo ra sự phân biệt đốixửvớingười lao độngchưa thành niên, đi ngượclạinguyên tắc: mọi người có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, không phân biệt đốixử. Đâylàsựthểhiện việc bảo vệcủapháp luật đốivớingườilaođộng chưa thành niên. Việc áp dụng nguyêntắcbìnhđẳng trên không cónghĩa là sự “cào bằng” mà cần căn cứ vào đặc điểm riêng của từngđối tượng đểcó quyđịnh vềcách thức bảo vệkhác nhau. Cách thức bảo vệngườilaođộngchưa thànhniên được sử dụngở đây là việc áp dụng quyđịnh“hạn chế”. Nội dung của sự hạn chế này thể hiện trong quyđịnhcủa pháp luật về những ngành nghề, công việc màngườilao độngchưa thành niên bịcấmlàm hoặc giới hạn những ngành nghề, công việc họ được tham gia lao động, tuyển dụng nhưng kèm theo điều kiện.
30
Vềquyđịnhnhững ngành nghề, công việcngườilao độngchưa thành niên khôngđượctham gia làm việc hay tuyển dụng thì những ngành nghề, công việc này thường mang tính chất nặng nhọc, nguyhiểm, độchạihoặc sẽảnhhưởng không tốt đến sức khỏe, nhân cách của các em. Đó là những ngành nghề, công việc cósửdụng các loại máy móc, thiết bị,dụng cụnguy hiểm hoặc liên quan đến điều khiển thủ công hay vận chuyển, mang vác hàng hoánặng hay những công việc dưới mặt đất,dưới nước, ở độcao nguy hiểm. Bên cạnhđólà những công việc trong môi trường cóhạicho sứckhoẻ nhưđểngười lao động chưa thành niên tiếp xúc trực tiếp với các hoá chất độc hại hay ở nơi cónhiệt độcao, cácmức độtiếng ồnhoặc độrung ảnhhưởngđến sức khoẻ. Ngoài ra, là những công việc trong những điều kiện đặc biệt khó khăn như làm việc nhiều giờ liên tục, làm việc ban đêm hoặc công việc khiến người lao động chưa thành niên bị giam hãm trong các nhà xưởng, trong không gian chật hẹp củangườisửdụng lao động.Các công việc khác cũng bịcấmlànhững công việc chứa những yếu tố khiến người lao động chưa thành niên sẽlâm vào tình trạngdễ bị lạm dụngvề thể chất, tâm lý, tình dục. Thông thường những ngành nghề, công việc trên sẽ được nhà nước quyđịnhthành danh mục ngành nghềcấmsửdụng lao động chưa thành niên.Điềunày cóthểthấy
trong quyđịnhcủa nhiều quốc gia như Philipin, Ấn Độ, Slovakia…
Đốivớimột sốcông việcnhẹnhàng, phù hợp vớilứatuổicủangười lao độngchưa thành niên, pháp luật cũng quyđịnh cụthểthành danh mục những côngviệc được sử dụnglao động chưa thành niên và kèm theo những điều kiện nhằm hạn chếviệclạmdụng từphíangườisửdụng lao độngvàquan trọnghơn là đểbảo vệngười lao động chưa thành niên khi họ tham gia quan hệ lao động.
Thứ ba,ngườilao động chưa thành niên bị hạn chế một phần năng lực hành vi khi giao kết hợp đồng lao độngtrong những trường hợp nhất định. Theo pháp luật dân sự, trong các giao dịch của người chưa thành niên đều cần đến sự trợ giúp của cha mẹ, người giám hộ. Cụ thể, Điều 20, Điều 21 Bộ Luật
31
dân sự quy định: người chưa thànhniên từ đủsáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Người chưa đủ sáu tuổi khi tham gia giao dịch dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Yêu cầu về người đại diện cho ngườichưa thành niên trong pháp luật dânsựcũng tươngtựnhư trong pháp luật lao động. Theo đó, người lao động chưa thành niên khi giao kết hợp đồnglao độngphải có “sự đồngý” của chamẹ, ngườigiámhộ. “Sự đồngý” đượcthểhiện ởnhững mức độkhác nhau.Thứnhất, quyđịnhkhi giao kết hợp đồng lao động,ngườilaođộng chưa thành niên đượctrực tiếp giao kết (tự ký hợp đồng) với người sử dụng lao động nhưng kèm theo điều kiện phải cósựđồngýbằng văn bảncủachamẹ,ngườigiámhộđểhợp đồng đócóhiệu lực. Quyđịnhnày nhìn chungđược áp dụngvớingườilao độngchưa thành niên dưới 15 tuổi. Tuy nhiên, một số quốc gia lại áp dụng quy định này đốivớitất cảnhữngngườilao độngchưa thành niêndưới 18 tuổi (như quy định tại Điều 40 và Điều 41 BộLuật lao động Slovakia [124]). Thứ hai, quy định khi giao kết hợp đồng lao động, người lao động chưa thành niên dưới 18 tuổi khôngđượctựgiao kết mà chamẹhoặcngườigiámhộsẽgiao kết hợp đồng vớingười sửdụng lao động.Điềunày cóthểthấy trong quy địnhtại Điều 58 Luật tiêu chuẩn lao động của Nhật [124]. Những quyđịnhtrên có thểhạn chếmột phần năng lực hành vi của người lao động chưa thành niên hoặc kéo dài trình tự,thủtụckhi giao kết hợp đồng lao động giữangườisửdụng lao độngvớingườilao độngchưa thành niên. Tuy nhiên, thông qua những quy định này lại góp phầnbảovệtốt hơn quyền, lợi íchcủangườilaođộng chưa phát triển đầy đủ về thể lực, trí lực khi họ tham gia quan hệ lao động.
1.1.3. Phân loại người lao động chưa thành niên
Việc phân loại người lao động chưa thành niên có thể dựa trên các tiêu chí khác nhau.
32
Thứ nhất,nếu căn cứ vào độtuổi tính theo năm có thể phân chia người lao độngchưa thành niên thành ba nhóm tuổi: nhómtừ15 tuổi đếndưới18 tuổi; nhóm từ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi và nhóm dưới 13 tuổi.
Cơ sở của việc lựa chọn nhóm từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi dựa chủ yếu trên khía cạnh giáo dục.ỞViệt Nam cũng nhưởnhiều quốc gia, đây làđộtuổi đã hoàn tất chương trình giáo dục bắt buộc, các em có thể tiếp tục học ởbậccao hơn hoặc vì những lý do nhất địnhdẫn đếnthôi học.Đốivớinhững em thôi học, trong số đó, có nhiều em học ở cuối cấp phổ thông cơ sở đã được trường học tạo điều kiện cho học thêmmột số nghềnhất định, các em có thểbắt đầulao độnggầnnhư người trưởng thành vàchỉbịhạnchếlàm những công việc nặng nhọc,độchại, nguy hiểm hayảnhhưởngtớinhân cách vàđược áp dụngthời gian làm việc ngắn hơn. Việc giới hạn nhóm tuổi từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi phù hợp với pháp luật lao động quốc tế, nhất là Côngước số138 về độtuổi tối thiểu được làm việc. Theo khoản 3 Điều 2 Công ước số 138 quyđịnh:tuổitốithiểu đượclàm việc khôngdưới15 tuổi vàđãkết thúc chương trình giáo dục bắt buộc.
Về nhóm từ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi là nhóm tuổi đang trong quá trình phát triển về thể chất, tinh thần, đa phần vẫn còn đi học bắt buộc nên việc các em tham gia làm việcchỉđượcphép với những công việcnhẹnhàng, đơn giản, khôngảnhhưởngđếnviệchọchành củacác em.Bởivì, ởnhóm tuổi này,hệxươngcủacác emởvào giaiđoạnphát dụcvà trưởng thành, sụn xương tương đối nhiều, thành phần nước và các vật chất hữu cơ trong tổ chức xương nhiều, các muối vô cơ ít, các chất liênkếtxương tương đối kém, xương có khả năng đàn hồi tốt song không chắc chắn, do độ cứng của xương nhỏ, độdẻo cao nêndễbịgẫy, biến dạng hoặc cong khi phải lao động quámức. Bên cạnh đó, ở nhóm tuổi này mặc dù các em rất hăng hái, sôi nổi, nhiệt tình tham gia các hoạt động phát triển trí tuệ, các hoạt động xã hội, tuy nhiên, khảnăng duy trì tư duy tập trung còn hạn chếnên hay chóng chánvớiviệc tham gia các hoạt động diễn ra trong thời gian dài, đòi hỏi sự tập trung. Điều
33
này cho thấy nếu các em tham gia lao động thì chỉ thích hợp với các công việc đơngiản,nhẹnhàng, thời gian ngắn [84, tr 123]. Ngoài ra,ởnhóm tuổi này do bản thân các em còn hạn chế về trìnhđộvà kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chưa có nhiều nên việc tham gia lao động củacác emchỉvới một sốcông việc đơngiản, ít yêucầuvềkỹnăng, chuyên môn. Chính vì vậy, nhóm tuổi này nênbịhạn chếchỉđượclàm những công việc do nhànướcquy định vàkèm theo đó là việc phải áp dụng những điều kiện chặt chẽ.
Vềnhómdưới13 tuổi là nhóm trong giaiđoạn đầucủaquá trình phát triển, các em còn quá non nớt đểcóthểtham gia lao độngnên nhóm này không được khuyến khích tham gia lao động. Tuy nhiên, do nhucầu củamột số ngành nghề đặc thù và tính chất công việclạinhẹnhàng, không phức tạp, không gây ảnhhưởngđếnsựphát triển trí lực,thểlực, việc đihọcvà với những điều kiện riêngđểbảo vệ các em khi tham gia làm việc thì các em cóthểtham gia làm việc trong thời gian ngắn. Vídụđóng phim, đóng kịch, ca hát, quảng cáo trên truyền hình…Đây là những công việc thuộc lĩnh vực nghệthuật đã được nêu trong Điều 8 Côngước số 138 về độtuổi tối thiểu được làm việc quyđịnhcho phép những người dưới 13 tuổi có thể tham gia.
Hiện nay, cách phân loại dựatrên cơsởtuổi đi họcthườngđược áp dụng trong pháp luật quốctếvà pháp luật ởnhiều quốc gia. Trước đây, các Công ước (được ban hành trước Công ước số 138 như: Công ước số 5 về tuổi tốithiểu (công nghiệp) (1919); Côngướcsố7 vềtuổi tối thiểu (trên biển)
(1920); Công ước số 10 về tuổi tối thiểu (nông nghiệp) (1921); Côngước số15 vềtuổitốithiểu(dướihầmtầuvàđốt lò) (1921)…) thường dựatrên các lĩnhvựcnhư công nghiệp, nông nghiệp, hànghải…đểxác địnhđộtuổi tối thiểu đượclàm việc và mỗi Côngước điềuchỉnh một lĩnhvựccóđặcthùriêng nênsẽáp dụng một độtuổi tối thiểu riêng.Điều nàytạorasựkhông thống nhấtvềđộtuổitốithiểu đượclàm việc nên gây khó khăn cho việc áp dụng. Do vậy, việc phân loại độtuổidựatrên cơsởđộtuổi đihọcsẽkhắc phục đượcsựkhông thống nhấtvềđộtuổi tối thiểu đi làm việc. Cách phân
34
loại dựatrên cơsởđộtuổi đihọcnàydễáp dụngởnhiều quốc gia,ởnhiều hoàn cảnh so vớicác cách phân loại khác. Chính vì vậy,ởkhía cạnh pháp luật, cách phân loại dựa trên độtuổi tính theo nămvà độtuổi đihọc đểphân chia thành các nhóm như từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, từ 13 tuổi đếndưới 15 tuổi vàdưới13 tuổi thườngđượccoi là cơsởchủyếu đểhình thành nên những quyđịnhriêng biệt áp dụng cho phù hợp với mỗi nhóm tuổi.
Thứhai,nếucăncứvào giới tính, cóthểphân thành lao độngchưa thành niên nam, lao động chưa thành niên nữ. Do cấu trúc cơ thể của nam vànữcó nhiều điểmkhác nhau nên cách phân loại này có vai trò quan trọng, nhằm có những biện pháp bảo vệ và sử dụng người lao động chưa thành niên cho phù hợp, chẳng hạn khi quyđịnh về nhữngcông việc, những ngành nghề, nơi làm việcdễxẩyra hiệntượnglạmdụng với ngườilao động chưa thành niên nữ, những công việc mang vác nặng, ngâm mình dưới nước…
Thứ ba, nếu căn cứ vào trìnhđộchuyên môn kỹ thuật có thể phân loại thành: người lao động chưa thành niên đã qua đào tạo và người lao động chưa thành niên chưa qua đào tạo nghề. Người lao độngchưa thành niên đãquađào tạo là những người đãđượccơ quan,tổchức có thẩm quyền cấp bằng hoặc chứngchỉnghề hoặc cóthểgồmnhững người tuy chưa qua trường lớp đào tạo nào nhưng tự trưởng thành thông qua tựhọchoặc kèm cặp tay nghề. Người lao động chưa thành niên chưa qua đào tạo nghề là những người ngoài nhómngườilao động chưa thành niên đãqua đào tạo. Mục đíchcủacách phân loại này nhằm có những chính sách cần thiết để hỗ trợ, đào tạo tay nghềcho người lao độngchưa thành niên, nâng cao chất lượngnguồn lao động trong tương lai.
Thứ tư, nếu căn cứ vào điều kiện, môi trường lao động có thể phân chia thành ngườilaođộngchưa thành niên làm việc trongđiềukiện, môi trường lao độngnặng nhọc,độchại, nguy hiểm vàngườilao độngchưa thành niên làm việc trongđiềukiện, môi trường lao động bình thường.Ngườilao động chưa thành niên làm việc trong điều kiện, môi trường lao động nặng nhọc, độc
35
hại, nguy hiểm là làm việctạinơi hoặc trong điều kiện tiến hành công việc gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển thể chất, tinh thần hoặc ảnh hưởng tới nhân cách, việc học hành của người lao động chưa thành niên. Ngược lại,điều kiện, môi trường laođộngbình thường là nơi làm việc hoặc điềukiện tiến hành công việc đảmbảophù hợp vớisựphát triểnthểchất, tinh thần, không ảnhhưởngđếnnhân cách và việchọchànhcủangườilao động chưa thành niên.
Cách phân loại trên cũng phù hợp với quy định tại điểm d Điều 3 Công ướcsố182 và cóýnghĩa trong việc bảo vệngườilao động chưa thành niên thông qua việc ban hành những quyđịnh cấm việc sử dụnghọ làm việc trong điều kiện, môi trường lao động không phù hợp.
Ngoài ra, còn có các cách phân loại khác: như dựa vào quốc tịch có thểphân thành ngườilao động chưa thành niên có quốc tịch Việt Nam và người lao độngchưa thành niên có quốc tịchnướcngoài (cách phân loại này hầu như không được sử dụng vì hiện nay theo quy định tại Nghị định số34/2008/NĐ-CP ngày 25/3/2008 củaChínhphủquy địnhvềtuyển dụng vàquản lý lao động nướcngoài làm việc tại Việt Nam thìđiềukiện đốivới người lao động nước ngoài phải từ 18 tuổi); dựa trên căn cứ các ngành kinh tếnơi người lao động chưa thành niên tham gia lao động có thể phân chia thành: ngườilao động chưa thành niên làm việc ở khu vựcnông-lâm-ngư nghiệp,ởkhuvựccông nghiệp,ởkhuvựcdịch vụ; dựavào cơsởtrìnhđộhọcvấncóthểphân chiangườilao động chưa thành niên thành người lao động chưa thành niên đãhọcxongphổthông cơsởvà chưahọcxongphổthông cơ
sở;…Nhưvậy, có nhiều cáchđểphân loại ngườilao độngchưa thành niên, mỗi cách phân loạilạidựatrên những căn cứkhác nhau,đểphụcvụnhững mục đích khác nhau.
1.2. Điều chỉnh pháp luật đối với ngƣời lao động chƣa thành niên trongđiều kiện hội nhập quốc tế
36
1.2.1. Mục đích, ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật đối với người lao động chưa thành niên
Điềuchỉnh pháp luật đượchiểu là việc nhànướcdùng pháp luật, dựa vào pháp luật đểtác động vào các quanhệ xãhộinhằm tạo lập trật tựxã hội theo ý chí của nhà nước. Hiện tượng người chưa thành niên tham gia quan hệlao động xuất phát từ nhu cầu xã hội và từ chính bản thân họ. Trong nền kinh tếthịtrường, nhất là trongđiều kiện hội nhập quốctế,kinh tếhộgia đình, kinh tế tư nhân, doanh nghiệp phát triển kéo theo nhu cầu sử dụng nhiều laođộng, trongđócó lao động chưa thành niên. Vì những lợi ích khác nhau nên việcsửdụngngườichưa thành niên thường có xuhướngtrảlương thấp hơn người thành niên khi cùng làm một công việc. Hoặc về mặt tâm lýngườilaođộng chưa thành niên thích làm việc nên ngườisửdụng lao độngdễđiều khiển hơn,dễbắt họphải làm thêmgiờmà không phảitrảthêm lương, tận dụngđượcsựnhanh nhẹn, khéo léo củahọtrong một sốcông việc như dệt,
may, thêu, nghề thủ công…. Mặt khác, do người chưa thành niên xuất thân từgia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, việc người thành niên trong gia đình thiếu việc làm hoặc có việc làm nhưng thu nhập thấp khiến người chưa thành niên cũng phải tham gia lao động để kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Thêm nữa, với người chưa thành niên không có khả năng đi học hay không muốn đi học hoặc những em rơi vào hoàn cảnh không còn cha mẹ, cha mẹ ly
hôn…cũng tăng sức ép phải tham gia laođộng,trong khi đóchính sách an sinh xãhộichưa bao trùmhếtcác đốitượngnày nên việchọtham gia laođộngcòn xuất phát từchính gia đình,bảnthânhọ.Hiệntượngngườichưa thành niên tham gia lao động đặt ra nhu cầu cần có pháp luật điều chỉnh nhằm địnhhướngcho sự phát triển của các quan hệ có đối tượng này tham gia theoý chí chủ quan của nhà nước. Thông qua cách thức quy định mang tính khái quát, pháp luật đãđịnhra các nhóm quyđịnhliên quanđếnviệc tạo cơ sở, tiền đề,thiết lập quan hệlaođộng (trong đócó quy định vềviệc làm, học nghề, giao kết hợp đồng lao động); nhóm quyđịnhtrong quá trình người chưa
37
thành niên tham gia, chấm dứt quan hệ lao động (gồm quy định về tiền lương, thời giờlàm việc, thời giờnghỉ ngơi, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất, an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội, thay đổi, chấm dứt hợpđồnglao động); và nhóm quyđịnhvềthanh tra,xửlý vi phạm, giải quyết tranh chấp lao động. Các nhóm quy định trên tạo khung pháp lý đểbảo vệ vàphát huy tính tích cực đồng thờihạn chếnhững ảnh hưởngtiêu cực của việc sửdụngngườilao độngchưa thành niên. Bên cạnhđó,vớinhữngđặcthùchưa phát triển đầy đủvềthểlực, trílựcnên ngoài những quyđịnh áp dụng cho mọi người lao động nói chung, pháp luật điều chỉnhđối tượngngười chưa thành niên còn có những quy định riêng đảm bảo cho họ được quyền tham gia quan hệlao độngnhưngđồngthời cũngđảmbảo cho họđượcbảo vệ, được phát triển bình thường về mặt thể lực, trí lực, đặc biệt là nhân cách.
Các quy định cho phép người lao động chưa thành niên được tự do lựa chọn việc làm, quyđịnhtrách nhiệm của nhà nước, của các chủ thể khác trong việc giải quyết việc làm cũngnhư tạo điều kiện đểngười lao động chưa thành niên tham gia quan hệ lao động giúp họ có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp. Khi người lao động chưa thành niên có việc làm và thu nhập ổn định sẽ tránh được nguy cơ mắc phải tệ nạn xã hội. Nhiều cuộc điều tra, khảo sát về xã hội đối với đối tượngnày cho thấy đa số những em mắc phải những tệ nạn xã hội là do không có việc làm, hoặc không cóđủviệc làm khi không cóđiềukiện học lên cao.
Những quy địnhcụthểvềnhững công việccấmsửdụngngườilaođộngchưa thành niên, những công việc,điềukiện đượcphép sửdụnghọsẽhạnchếnhiều bất lợicho đối tượng này,hạnchếnhững ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triểnvề thểlực, trí lực cho họ. Đồngthời điềunày còn cho phép người lao động chưa thành niên được tham gia vào một quan hệ lao động phùhợp,đượchưởngnhững thànhquảcủalao động,đượcbảo hộtoàn diệnvềđiều kiện lao động.
38
Khi tham gia quan hệlao động,ngườilaođộng chưa thành niên phải chịusựquản lý, điềuhành, thực hiện công việc theo yêucầucủangườisửdụng lao động.Trướctác độngtiêucựccủaquá trình hội nhập quốctế,với sức ép củathịtrường, việc chạy theo lợinhuậnsẽkhiếnngườisửdụng laođộng không đầu tư cải thiện môi trường, điều kiện làm việc, sẵn sàng vi phạm pháp luật lao động,tậndụng triệt đểsứclao độngcủangười lao động chưa thành niên, bắt họphải làm việc quá giờ,trảlương thấp, làm việc trong môi
trường không thuận lợi, không phù hợp vớisứckhoẻ….Điềunàydẫntới những hàng hoá, sản phẩm dongườilao động chưa thành niên làm ra không được thừa nhận là “hànghoá sạch”, “sản phẩm sạch”, dễ bị coi là bán phá giáảnhhưởnglớn đếnviệc xuất khẩu,ảnhhưởngđếnnềnkinhtế.Do vậy, việc Nhà nước ban hành quyđịnhpháp luật sẽ nhằm bảo đảm sức khoẻ, tính mạng cho người lao động chưa thành niên,mặtkhác cònhướngtới mụctiêu đẩy mạnh việc xuất khẩu hàng hoá, góp phần bảo đảm trực tiếp cho sự phát triển kinhtế của đất nước.
Pháp luật vềngườilao độngchưa thành niên còn gián tiếp bảo vệlợi ích của nhànướcvà xã hội. Người lao động chưa thành niên là thế hệ tương lai của mỗi quốc gia, bảo vệ nguồn lao động này còn là bảo vệ nguồn cung laođộngtrên thị trường lao động. Do đó, bảo vệ người lao động chưa thành niên bằng các quy định pháp luật cũng là góp phần bảo đảm sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.
1.2.2. Nguyêntắcđiềuchỉnh pháp luật đối với người lao động chưa thành niên
1.2.2.1. Tôn trọng quyền đượctham gia quan hệlao động của người lao động chưa thành niên
Xuất phát từ đặc điểm chưa phát triển đầy đủ về thể lực, trí lực và đang trongđộtuổi đi học của người chưa thành niên nên việc họ tham gia quan hệlao độngkhôngđượcnhànướckhuyến khích. Tuy nhiên,nếupháp luật cấm
39
hoàn toàn đối tượng này tham gia quanhệlao động sẽ đi ngượclại nhu cầu, lợi ích của họ hoặc gia đình họ hoặc xã hội. Điều này có thể thấy qua một sốnguyên nhân chính khiến người chưa thành niên phải tham gia lao động.
Ở các quốc gia đang phát triển hoặc chưa phát triển hoặc chưa có điều kiện thực hiện hiệu quả các tiêu chuẩn quốc tế về an sinh xã hội vẫn còn hiện tượngngười chưa thành niên mồcôi không nguồn nuôi dưỡng,trẻem sống trong các gia đình màbốmẹ,ngườitrụcột vềkinhtếbịốm đau, tai nạn,bịmất việc làm do tác độngtiêucựccủahội nhập quốctế,thu nhập củangười lớn thấp, không đủ trang trải các nhu cầu của gia đình…thì việc họ phải tham gia lao động làđiều khó tránh khỏi. Mặt khác,ởmột sốquốc gia diễn rasựchuyển đổi cơ chế kinh tế, mà biểu hiện là quá trình công nghiệp hoá, thương mại hoá, tư nhân hoá dẫn đến việc tăng nhucầu sử dụngcác nguồn lao động, trongđócóngườilao độngchưa thành niên. Quá trình chuyển đổinhư vậy cũng đặtcác gia đình vào vịthếđộclập hơn trong hoạt động sảnxuất, kinh doanh và dẫn tới nhu cầu tận dụng các nguồn lao động trong gia đình. Đối với các gia đình khác, khi rơi vào hoàn cảnh đói nghèo, họ buộc phải ưu tiên cho việc kiếm sống và thông thường, mọi thành viên trong gia đình, gồm cả người chưa thành niên đều đượchuy độngvào hoạt độnglaođộngkiếm sống cho gia đình. Một nguyên nhân khác dẫn đến tăng nhucầulao độngcủangười chưa thành niên là tình trạng không đi học của họ. Theo báo cáo của Tổ chức lao động quốc tế gần đâynhất ước tính có 71 triệu em trongđộtuổi tiểu học và 72 triệu em trongđộtuổi trung học khôngđến trường[101] (ở Việt Nam, theo điều tra mức sống dân cư năm 2010 cho thấy số học sinh trunghọc cơ sởtiếp tụchọclên trunghọcphổthôngchỉchiếm 71,9%,tứcsốhọcsinh trung học cơ sở không tiếp tục đi học chiếm 28,1%, chưa kể còn 6% trong tổngsốcác emtừ15 tuổitrởlên chưa bao giờđếntrường vàsốem khônghọcphổthông cơ sở chiếm 5,9% trong tổng số em trongđộtuổihọc phổthôngcơ sở
[123]). Đasốcác emđều ởcácnước đang hoặc kém phát triển, gia đình không cókhảnăng nuôi nấng.Ởcác quốc gia này,hệthống an sinh xã hội
40
chưa đủkhảnănghỗtrợcho nhữngđốitượngcònnhỏtuổi thất họchaybỏhọc sớm nên sẽ kéo theo nhu cầu cần tham gia lao động của họ là rất lớn.
Như vậy, có thể thấy việc người chưa thành niên tham gia lao động làđiều không thểtránh khỏi nên pháp luật cầnthừa nhận và tôn trọng quyền tham gia quan hệ lao động của họ. Điều này cần được thể hiện thông qua quy định vềquyềntựdo lao động phù hợp vớitừng nhóm tuổi, quyền đượclàm việc cho bất kỳngườisửdụng lao độngnào, bất kỳnơi nào mà pháp luật không cấm, quyền lựa chọn cách thức trực tiếp hoặc thông qua các cơ sở dịch vụviệc làm đểtìm kiếm việc làm, quyền đượcgiao kết hợp đồng lao động,
quyền đượclựachọn thờihạnhợp đồng,quyền đượcnhận tiền công,… Tuy nhiên, việc quy định các quyền trên cần đảm bảo phù hợp với sự phát triển vềthể chất, tinh thần của người chưa thành niên, được làm việc trong môi trường an toàn,đồng thời đảmbảo đối tượngnày không phải làm công việc nặng nhọc,độchại, nguy hiểm,đượcquan tâm chăm sócvềsứckhoẻ,họctập,được bảo đảm trước các rủi ro trong quá trình lao động. Bên cạnh đó, việc tôn trọng quyền này cần được thể hiện qua việc trân trọng thành quả lao động, kết quả đóng góp cho xã hội do họ mang lại.
1.2.2.2. Bảo vệngườilaođộng chưa thành niên thông qua các tiêu chuẩn tối thiểu (vềquyền, lợi ích) và tối đa (vềnghĩa vụ)trên cơsởđộtuổi đồng thời khuyến khích các thoả thuận có lợi hơn cho người lao động chưa thành niên so với quy định của pháp luật
Trong quanhệlao độnggiữa hai bên,ngườilao độngchưa thành niên thườngở vị trí yếu thế so với người sử dụng lao động. Sự “yếu thế” thể hiện ởkhía cạnh địa vị xã hội của họ thấp hơn, thể lực, trí lực của họ chưa phát triển bằng người sử dụng lao động. Khi thiết lập quan hệ lao động giữa hai bên nếu áp dụng nguyên tắc tự do thoả thuận, thương lượng, phía người lao động chưa thành niên sẽ rơi vào tình huống bất lợi, quyền và lợi ích của đối tượng này sẽkhông được đảm bảo.Do vậy, pháp luật cần có những quy định riêng, cụ thể
41
nhằm bảo vệquyền và lợi íchcủangườilao độngchưa thành niên cũng nhưđịnhra những nghĩa vụ cho đối tượng này.
Việc quyđịnh quyền, nghĩavụcủangườilao động chưa thành niên hiện nay cóthểthực hiện theo hai mô hình.Thứnhất, quyền, nghĩavụcủa ngườilao độngchưa thành niên đượcquy địnhtrongBộluật lao động.Thứhai, quyền, nghĩa vụ của người lao động chưa thành niên được quyđịnhtrong một văn bảnriêng, chẳng hạnluật lao động chưa thành niên hoặc luật laođộng trẻem.Nếutheo mô hình thứhai,vềcơbảnsẽtạo thành một văn bản tập hợp thống nhất các quyền, nghĩavụ của ngườilao động chưa thành niên. Tuy nhiên, ngoài những quyền, nghĩavụmang tính đặcthùcủangười laođộngchưa thành niên, các quyền, nghĩavụkhácsẽgiống như những người lao động nói chung được quy định trong luật lao động. Mặt khác, nếu áp dụng mô hình điều chỉnh theo hướngcứ mỗi một đối tượnglao động (như lao động
nữ, lao động là người khuyết tật, lao động có trìnhđộchuyên môn cao…) lại phải có một đạo luật lao độngriêngvềđối tượngđósẽtạo ra nhiều văn bản luật lao động có nội dung trùng lặp nhau khi quy định về quyền, nghĩa vụ của các chủ thể này. Do vậy, đa phần các nước (như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông
Cổ, Slovakia, Slovenia, Canada, Latvia,…)đều sử dụngmô hìnhthứnhất đểquyđịnhvề quyền, nghĩa vụ của người lao động chưa thành niên [124].
Theo mô hình thứnhất, ngoài quy định vềquyền, nghĩavụcủangười lao độngnói chung, trong luật lao động sẽ có một chương hoặc mục tập hợp những quy định về quyền, nghĩa vụ riêng, phù hợp với đặc thù của người laođộng chưa thành niên. Phương pháp tập hợp những quy định về quyền, nghĩa vụriêng nàysẽtạo thuậnlợitrong việc so sánh, phân biệt, xác địnhcác quyền, nghĩavụcủangườilao động chưa thành niên so với ngườilao động nói chung cũng như tạo rasựthống nhất toàn diện và logic giữa các nguyên tắc điều chỉnh chung củaluật laođộng với các quyđịnh riêng vềngười laođộngchưa thành niên.
42
Tuy nhiên, pháp luật khôngthểquyđịnhtheo hướngchi tiết,cụthểtừng quyền, nghĩavụ củangườilao động chưa thành niên, do khi các quyền, nghĩavụnày được áp dụng trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhausẽ
khác nhau, đặc biệt với người chưa thành niên đang trong quá trình phát triển về thể lực, trí lực, tươngứngvới mỗi giai đoạn phát triển sẽ mang nhữngđặc điểmriêng nên sẽ cần những quy định riêng cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển.Đểkhắc phục điềunày, pháp luật sẽquyđịnhtheo hướngthông qua các tiêu chuẩn tối thiểu (về quyền, lợi ích) và tối đa (về nghĩa vụ) trên cơsởđộtuổi đồngthời khuyến khích các thoả thuận cólợihơn cho ngườilaođộngchưa thành niên so với quyđịnhcủa pháp luật.
Cách thức quyđịnhtrên được hiểu là việc pháp luật định ra những mức độkhác nhau để đảm bảo quyền, lợi ích cho ngườilao động chưa thành niên trong những phạm vi giới hạnbắtbuộc, tối thiểu hoặc tối đa phù hợp từng điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Điều này có thể thấy trong pháp luật lao động
ở nhiều nước, cá biệt như Nhật Bản, Hàn Quốc…còn đặt tên cho văn bản luật là “Luật tiêu chuẩn lao động”, trongđócó quy định về các tiêu chuẩn tối thiểu hoặc tối đa mà các bên tham gia quanhệlaođộng không đượcthoả thuận thấp hơn các tiêu chuẩn tối thiểu (về quyền, lợi ích) hoặc thoả thuận cao hơn các tiêu chuẩn tối đa(vềnghĩa vụ). Các tiêu chuẩn này đượccoi như những giớihạnmà các bên tham gia quanhệlao độngkhôngđược viphạm. Đây làcác tiêu chuẩn định ra giới hạn mà người sử dụng lao động buộc phải đảm bảo ởmứcluật định. Với những“giới hạn”luật định,người sử dụnglao động vàngười lao động chưa thành niên sẽ thoả thuận những nội dung cụ thể cho phùhợp với điềukiệncủamỗi bên. Những quyđịnhtrên không phải nhằm hạn chế quyền tự do thoả thuận của các bên. Đây là những yêu cầu của pháp luật nhằm cân đốihài hoà quyền, nghĩavụcủahai bên trong quan hệlao động cũng như lợi ích của xã hội.
Đối với người lao động chưa thành niên, trên cơ sở có tínhđến đặc thùvề sự chưa trưởng thành vềmặt thể chất, tinh thần nên khi quy định các tiêu
43
chuẩn tối thiểu hay tối đa, pháp luật thường nâng cao tiêu chuẩn tối thiểu (vềquyền, lợi ích) hoặchạthấp tiêu chuẩn tối đa(vềnghĩa vụ) đểáp dụng với ngườilao độngchưa thành niên sovớingườilaođộng thành niên. Theo đó, khisửdụngngườilao độngchưa thành niên thìngườisửdụng lao động không được yêu cầu người lao động chưa thành niên phải thực hiện nghĩa vụquá mức tối đa (như về thời giờ làm việc, thời giờ làm thêm…) hay khôngcho họđượchưởngnhững quyềnlợithấp hơn mứctốithiểu (nhưvềtiền lương, thời giờnghỉ ngơi, nghỉ phép năm, trangbịphương tiệnbảohộ…) so với ngườilaođộngthành niên. Quyđịnhnhư trên nhằm bảo vệngười lao động chưa thành niên được làm việc trong điều kiện lao độngphù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và có được mức sống từ tối thiểu trở lên.
Mặt khác,ngườilao độngchưa thành niên có một đặctrưng riêng làđang trong quá trình phát triểnvềthể chất, tinh thần, trải quamỗi độtuổi lại ứngvớisựphát triển cao hơnvềthểchất, tinh thần nên khi quy địnhvềcác tiêu chuẩn tối thiểu hay tối đa để áp dụng với họ pháp luật cũng cần có những điều chỉnh nhất định cho phù hợp với đặc trưng riêng này. Như đã phân tích ởphần trước, người lao động chưa thành niên được phân chia thành nhóm từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, nhóm từ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi và nhóm dưới 13 tuổi thì tươngứngvới mỗinhóm tuổi, các tiêu chuẩn tối thiểu hay tối đa sẽ được điều chỉnh phù hợp. Cụ thể, pháp luật cần quy định nâng cao hơn tiêu chuẩn tối thiểu (về quyền, lợi ích) hoặc hạ thấp hơn tiêu chuẩn tối đa (về nghĩa vụ) đểáp dụng với nhóm ít tuổi hơn. Chẳng hạn, thời giờ làm việc của nhóm dưới 13 tuổi ít hơn nhóm từ 13 tuổi đếndưới 15 tuổi, thờigiờlàm việc của nhóm
từ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi ít hơn nhóm từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi…
Ngoài việc quy định các tiêu chuẩn tối thiểu và tối đa như trên, việc các bên thoả thuận theo hướngcó lợi cho ngườilao động chưa thành niên so với quy định pháp luật cũng được nhà nước khuyến khích. Các thoả thuận không đáp ứng các “giới hạn” hay gây bất lợi cho người lao động chưa thành niên sẽbị pháp luật cấm hoặc coi là trái luật. Như vậy, nguyên tắc này đã tạo ra định
44
hướngcơ bản trong việc ban hành những tiêu chuẩn tối thiểu hay tối đa riêng áp dụngvớingườilao độngchưa thành niên nhằm tạo ra hành lang pháp lýbảo vệ tốt hơn các quyền, lợi ích của họ.
1.2.2.3. Bảo vệ người lao động chưa thành niên trong mối tương quan với bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động.
Bảo vệngườilao độngnói chung vàngườilao độngchưa thành niên nói riêng là một trong các nguyên tắccơ bản được đềra trong pháp luật laođộng. Cơ sở củanguyên tắc này xuất phát từ sự không tương xứng vềvị thếgiữangườilaođộngvà người sửdụng lao động.Trong quanhệlao động, người lao động thường ở vị thế bất lợi hơn người sử dụng lao động. Đặc biệt ở nhữngnước chưa hoặc đang phát triển, nguồn cung lớn hơn nguồn cầu laođộng khiếnngườilao độngkhông có nhiều cơhộitrong việclựachọn việc làm cũng nhưđưara các yêucầucó lợi hơn chobảnthân trong quanhệlaođộng. Ngược lại, người sử dụng lao động thường ở vị trí thuận lợi hơn người lao động. Họ là người đầu tư vốn sản xuất, kinh doanh, có quyền quản lý, điều hành doanh nghiệp, cơ sở, trongđócó cả ngườilao động và quyền này được pháp luật thừa nhận. Do đódễdẫn đếnsựlạmquyền, xâm phạm quyền, lợi ích của người lao động. Vì vậy, việc pháp luật quan tâm, bảo vệ quyền lợi cho người lao động là hết sức cần thiết.
Tuy nhiên,nếucác quyđịnh “quánghiêng”vềbảo vệngườilao động chưa thành niên mà không tínhđếnquyền, lợi ích hợp pháp củangườisửdụng lao động sẽ dẫn đến bất lợi cho người lao động chưa thành niên. Vì quan hệlao động giữangườilao động chưa thành niên vàngười sử dụnglao động là quan hệ hai bên cùng có lợi, hai bên phải dựa vào nhau để duy trì mục đích củamỗi bên. Mục đích này chỉ có thể đạt được trên cơ sở đảmbảo đượchài hoà về quyền lợi, nghĩavụ củamỗi bên. Nếu pháp luật chỉ hoàn toàn bảo vệquyền lợi của người lao động chưa thành niên mà không tínhđến việc bảo vệquyền lợi của người sử dụng lao động (chẳng hạn có quyđịnhtrong quá trình thực hiệnhợp đồnglao động, nếungườilao động chưa thành niên cólỗigây
45
thiệt hại đến tài sản củangười sử dụng lao động thìhọ đượcmiễn hoàn toàn trách nhiệmbồithường thiệt hại) hoặc quyền lợi củangười lao độngchưa thành niên được pháp luật quy định vượt quá nghĩa vụ mong muốn của người sửdụng lao độnghoặc quyềnlợicủangườilao độngchưa thành niên được hưởngvượt quá giới hạn mà người sử dụng lao động có thể đáp ứngsẽ dễ dẫn đếnviệcngười sử dụnglao độngthay vì sử dụngngườilao độngchưa thành niên,họsẽsửdụng ngườilao độngthành niên.Điềunàysẽgây bất lợicho người lao động chưa thành niên khi họ rơi vào hoản cảnh khó khăn, không cónguồn nuôi dưỡng từ phía gia đình, xã hội và có nhu cầu về việc làm. Do vậy, việc bảo vệ người lao động chưa thành niên cần đặt trong mối tương quan với bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động.
Khi xem xét mối tương quan giữa hai bên cần tínhđến đặc điểm, vị thếcủa mỗi bên hoặc từng lĩnh vực khác nhau để có những quy định phù hợp cho
mỗibên. Chẳng hạn, với vấn đềtính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm…pháp luật cần tập trung vào bảo vệ người lao động chưa thành niên. Người sử dụng laođộnglà người đãthành niên, cóvịthếhơnhẳnngườilao độngchưa thành niên, có quyền quản lý, điều hành nên không cần thiết phải đặt ra nhu cầu cần có quyđịnhbảo vệ người sử dụnglao động về mặt sức khoẻ, tính mạng, nhân phẩm. Trái lại,ngườilao động chưa thành niên là nhữngngườichưa phát triển đầy đủvềthểlực, trí lực, phải làm việc trong môi trường chịusựquản lý, điều hànhcủa người sử dụnglao động nên dễ bị xâm hại về mặt sức khoẻ, tính mạng, nhân phẩm. Điều này đặt ra nhu cầu cần có quyđịnh bảo vệ người lao động chưa thành niên về mặt sức khoẻ, tính mạng, nhân phẩm.
Như vậy, có thể thấy rằng, nếu thực hiện đầy đủnguyên tắc trên sẽ tạo cơ sở cho việc duy trì mối quan hệ lao động hài hoà giữa người lao động chưa thành niên và người sử dụng lao động. Nguyên tắc này đã được thể hiện ngay trong lời nói đầu củaBộLuật lao động nướcta:“BộLuật lao độngbảo vệquyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của người lao động, đồng thời bảo
46
vệquyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, tạo điềukiện cho mối quan hệ lao độngđược hài hoà và ổn định”.
1.2.3. Nội dung điềuchỉnh pháp luật đối với người lao động chưa thành niên
Để điều chỉnhpháp luật đốivới người lao động chưa thành niên, pháp luật có những quy định khác nhauvềtừng lĩnh vực. Về cơ bản pháp luật đối với người lao động chưa thành niên bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
1.2.3.1. Nhóm quy định pháp luật liên quan đến việc tạo cơ sở, tiền đềvà thiết lập quan hệ lao động
Việc làm là tiền đềthiết lập quanhệlao độnggiữangườilao độngvàngười sử dụng lao động. Bên cạnhđó, đểtăng cơ hội có việc làm, người laođộng cũng cầncó trình độtay nghề nhất định.Do đó,vấn đềviệc làm, học nghề là cơsởquan trọngđểhình thành, thiết lập quanhệlao độngvà hình thức thể hiện của quan hệ lao động này chínhlà hợp đồnglao động.
i) Quy định về việc làm, học nghề
Xuất phát từnhiều nguyên nhân khác nhau màngườichưa thành niên phải tham gia lao động nhằm có thu nhập nuôi sống bản thân hoặc giúp đỡ giađình.Đểthừa nhận vàbảovệnhu cầuchính đáng này, pháp luật có những quy định thể hiện nguyên tắc tôn trọng quyền được tham gia quan hệ lao động của người lao động chưa thành niên thông qua việc khẳngđịnhquyền về việc làm của đối tượng này và trách nhiệmcủamột sốchủthểcũng như những biện pháp, cách thức đảm bảo thực hiện quyền trên cho họ.
Ngườilao động chưa thành niên có quyền có việc làm, được tự do lựa chọn việc làm phù hợp, có quyền làm việc cho bất kỳ người lao động nào và ởbất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm. Đây là những quyền thuộc phạm trùquyền cơ bản của con người, tạo điều kiện và cơ hội để người lao động chưa thành niên có thu nhập bảo đảm cuộc sống của bản thân vàgiúp đỡgia đình đồng thời đóng gópmộtphần cho xãhộicũng như hạn chếcác tiêu cực,tệ
47
nạnxã hội. Quyền này không nhữngđượckhẳngđịnhtrong pháp luật quốc gia mà trên bình diện quốctếcòn đượcghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế. Điều 2 Tuyên ngônvềquyền conngười(1948)củaLiên hợp quốc ghi nhận:“Mọingười đềucó quyền làm việc,tựdo chọn nghề, đượccó những điềukiện làm việc thuậnlợivà chính đáng vàđượcbảo vệchốnglạithất nghiệp”. Quy định này tiếp tục được thừa nhận và khẳng định thêm tại Điều 6 Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá (1966):
Các quốc gia thành viên của Công ước này thừa nhận quyền làm việc trongđóbao gồm quyền của tất cả mọi người có cơ hội kiếm sống bằng công việc do họ tự do lựa chọn hoặc chấp thuận, và các quốc gia sẽ thi hành các biện pháp thích hợp để bảo đảm quyền này.
Bên cạnh đó, vấn đềviệc làm cũngđược đềcập tới trong các văn kiện của Tổ chức lao động quốc tế, điển hình là trong Công ước số 122 năm 1964 về chính sách việc làm có quyđịnh:“mỗi nước thành viên phải tuyên bố và áp dụng, như một mục tiêu thiết yếu, một chính sách tích cực nhằm xúc tiến toàn dụng lao động, có năng suất và được tự do lựa chọn”. Theo Công ước này, nội dung vấn đề việc làm phải đảm bảo: a) sẽ có việc làm cho tất cả những người sẵnsàng làm việc và đang kiếm việc làm; b) việc làm đócàng có năng suất càng tốt; và c) sẽ có sự tự do lựa chọn việc làm và cơ may rộng lớn nhất cho mỗi ngườilao độngđểđạt đượctrình độtay nghề vàsửdụng đượctrình độtay nghề và năng khiếu của mình trong một công việc thích hợp, bất kỳ thuộc chủng tộc,mầuda, giới tính, tôn giáo, chính kiến, dòng dõi dântộchoặc nguồngốcxãhộinào.Đồngthời, chính sách việc làm đósẽphải chúýđến các giai đoạn và trình độ phát triển kinh tế, cũng như những mối quan hệ giữa cácmụctiêuvềviệc làmvớicácmụctiêu kinhtếvà xãhộikhác nhau,sẽđược thực hiện bằngcác phương pháp phù hợp với điều kiện và tập quán quốc gia.
Theo tinh thần Côngướcnày, giải quyết việc làm phải hướngtớicác cấp độhiệu quả khác nhau: thứ nhất,“việc làm đầy đủ”; thứ hai, “việc làm có
48
hiệu quả” và thứ ba, người lao độngđược “tự do lựa chọn” việc làm phù hợp với khả năng của mình. Như vậy, có thể thấy quyền về việc làm cho người laođộng chưa thành niên ngày càngđượckhẳngđịnh và phát triển theo hướng tích cực,từnhững quy định banđầuvềquyền đượccó việc làm, dần phát triển thành những quy định ở mức cao hơn về quyền có việc làm có hiệu quảvà tự do lựa chọn.
Một sốnướcnhư Trung Quốc, Philipin, Yemen…đãđưavấn đềviệc làm vào trong quyđịnhcủa pháp luật và các quyđịnh này cũng phù hợp với pháp luật lao độngquốctế.Trongđókhẳngđịnhviệc làm là quyềntựnhiên của mỗi công dân và là trách nhiệm của mỗi người có khả năng lao động, nhànước quy định quyền tiếp cận việc làm thông qua các kế hoạch phát triển kinh tếquốc gia. Ngoài ra, pháp luật còn quy định rõ trách nhiệm của nhànước trong việc thực hiện các biện pháp khác nhauđểthúc đẩyviệc làm nâng cao mứcsống cho ngườilao động(Điều5, Luật lao độngTrung Quốc, Luật lao độngcủa Yemen). Nhà nước có trách nhiệm trong việc tạo việc làm và cơ hội việc làm cho người lao động thông qua việc thúc đẩy phát triển kinh tế và xãhội. Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp,tổ chức và xã hội đểmở rộng kinh doanh, sản xuất tạo việc làm trong khuôn khổ pháp luật.Nhà nước hỗ trợngười lao động tự tạo việc làm hoặc tham gia làm việc cho các cá nhân khác. Quyđịnhpháp luật cũngcấmphân biệt vềdân tộc, giới tính, tôn giáo trong vấn đềviệc làm hoặc cấm tuyển dụng người lao động chưa thành niên dưới 16 tuổitrừcác lĩnhvựcvăn học, nghệ thuật, văn hoá,thểthao, các nghềthủcông, mỹ nghệ truyền thống được tuyển dụng người chưa thành niên dưới 16 tuổi nhưng phải thông qua trìnhtựkiểm tra và chấp thuậncủacác cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở đảm bảo quyền học hết chương trình giáo dụcbắt buộc (Điều 10, Luật lao độngTrung Quốc), hoặc khingườisửdụng lao động tuyển dụng người dưới 18 tuổi thì phải thông báo cho thanh tra viên lao động trong vòng 15 ngày khi người đó bắt đầu làm việc, đồng thời người sử dụng lao động phải chuẩn bị một hồ sơ ghi lại điều kiện tuyển dụng lưu lại
49
nơi làm việc đểthanh tra viên lao độngtiện thanh tra(Điều45, Luật tuyển dụng phụnữ,ngườitrẻtuổi vàtrẻemcủaSrilanca).Đốivới những emtừ7 tuổi đến 15 tuổitrướckhiđượctuyển dụng vào những ngành nghề do pháp luật quy định thì người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm về làm hồ sơ, thủtụccầnthiết đểxin cơ quan nhànướccó thẩm quyền cấp giấy phép laođộngcho những em này.Đồngthời phải đưara cam kết khisửdụng những em này phải đảmbảo vềsứckhoẻ, an toàn,đạo đứcvàsựphát triển bình thườngcủacác em (mục 9, Luật số4 vềcác nghề nguy hiểmvớingườilaođộng trẻtuổi) [124].Điềunày cho thấy việc tạo ra việc làm cho ngườilaođộng chưa thành niên làcầnthiết nhưng không vìthếpháp luật cho phép tuyển dụng bất kỳngườilao động nào. Việc tuyển dụng cần đảmbảocông việc màngườilaođộngchưa thành niên sẽtiến hành phải phù hợp vớilứa tuổi, phải tuân theo những điều kiện nhất định vềxin giấy phép lao động,vềviệc khai báo với cơ quan có thẩm quyền.
Đểgiải quyết việc làm cho ngườilao độngchưa thành niên, pháp luật quyđịnhnhững biện pháp chung như giao cho cơ quan có thẩm quyền xây dựng chương trình việc làm tổngthểvàtổchức, thiết lập hệthống thông tin quốc gia về xử lý, thông tin việc làm toàn quốc để cung cấp thông tin về việc làm cho ngườilao động, phát triển hệ thống thông tin thị trường lao độngđểhỗ trợ cho việclập kếhoạch nguồn nhân lực (Điều 15, Luật lao động trẻ em của Nepal) [124]). Ngoài ra, Nhà nước cũng tiến hành các biệnpháp đểthúc đẩyphát triển việc làm thông qua việc cung cấp hỗtrợcho ngườilao động chưa thành niên từ các trung tâm giới thiệu việc làm và cung cấp các dịch vụvề việc làm cho người lao động chưa thành niên (Điều 10, Luật lao động của Trung Quốc) [124]. Như vậy, vấn đề việc làm cho người lao động chưa thành niên luôn được các quốc gia coi trọng, coi đây là trách nhiệm của nhà nước, tổchức, cá nhân và việc giải quyết việc làm được cụ thể hoá thành các biện pháp nhằm mục đích bảo đảmthực hiện quyền việc làm tốt nhất cho ngườilaođộng.
50
Ngoài vấn đề giải quyết việc làm, nhà nước cũng rất coi trọng việc đào tạo, dạy nghề cho ngườilao động nói chung vàngườilao động chưa thành niên nói riêng nhằm đáp ứngcác yêucầucủanguồncầulao động.Việc học nghề giúp cho ngườihọctíchluỹkiến thức,kỹnăng, cókhảnăng tìm việc làm,tựtạo việc làm hoặc tiếp tụchọclên trìnhđộcao hơn đáp ứngnhu cầu của thị trường lao động, nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Đối với người dưới 18 tuổi, là độtuổi của người chưa trưởng thành, độtuổi của học sinh, họ hầu như mới chỉ học xong phổ thông, chưa có tay nghềnếutham gia vào quanhệlao động.Chính vì vậy,ởđộtuổi nàyhọcóthểtham giahọcnghề. Do đặctrưngcủanhóm đốitượngnày nên pháp luật thường có những quyđịnhriêngvềdạynghề cho họ. Những quy địnhnày một mặt tạo điều kiện cho người chưa thành niên được học nghề, nâng cao kỹnăng nghề, mặt khác còn nhằm bảo vệ họkhỏi tình trạngbịlợi dụng, bóc lột trong quá trình học nghề. Pháp luật thường quyđịnh vấn đềhọc nghề đối với đối tượngnày gồm những nội dung sau:
Thứnhất, điềukiệncủangườihọcnghềđượcthểhiện thông qua quy định về điều kiện độtuổi. Tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế-xã hội ở mỗi quốc gia mà pháp luật quy định độ tuổi học nghề cụ thể khác nhau. Chẳng hạn, cónướcquyđịnhđộtuổicủangườihọcnghề phải ít nhất 12 tuổi, một sốnước lạinângđộtuổitốithiểu này lên ít nhất là 15 tuổi hoặc sau khi hoàn tất chương trình giáo dụccơbảnmới đượchọcnghề(Điều98, Luật trẻem của Ghana),(Điều135, Luật giải quyết tranh chấp bằng hoà giảicủaSerbia)
[124]. Với những người từ 12tuổi đến dưới 16 tuổi còn phải được sự đồng ýbằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ thì họ mới đủđiều kiện đểhọc nghề, ngoạitrừnhữngngườitừ16 tuổitrởlên cóthểtựquyết địnhviệc học nghề (Điều 49, Luật lao động của Mông Cổ) [124]. Ngoài ra, một số nước còn ràng buộc thêm điều kiện cho người chưa thành niên khi học nghề phải có xác nhận bằng vănbảncủacơ quan nhànướccó thẩm quyền.Điềunày cóthểthấy trong Bộ Luật các quy định của Liên bang liên quan đến Luật tiêu chuẩn
51
tuyển dụngcủaMỹ[124], trongđócó quyđịnh vềngườihọcnghề trong độtuổi từ 16 đến 18 tuổi phải có giấy côngnhận đủtiêu chuẩn do Cục học nghềvà đào tạo của Bộ Lao độngMỹ cấp thì mới đủđiều kiện học nghề.
Thứ hai, quy định về hình thức hợp đồng học nghề. Hợp đồng học nghềthườngđượcthểhiện bằng văn bản hoặc lời nói. Tuy nhiên, pháp luật của nhiều nước đều coi trọng hìnhthức hợp đồnghọcnghề bằng văn bản, ít thừa nhậnhợp đồnghọcnghề bằng lời nói. Vì xét vềtính hiệu quả và tính có căn cứ thì hợp đồngbằng lời nói có nhiều hạn chế hơn so với hợp đồng học nghềbằng văn bản. Do tính ưu việt của hợp đồnghọcnghề bằng văn bản là cơ sởpháp lý rõ ràngthểhiện quanhệhọcnghề giữangườihọcnghề,ngườidạy nghề và là cơ sở đểbảo vệ quyền lợi của người học nghề nếu phát sinh tranh chấp nên pháp luật của các nước như Jordan (Điều 36, Luật lao động), Nigeria
(Điều50, Luật lao động), Sierra Leona(Điều137, Luật quyềntrẻem) [124]đều quyđịnh hợp đồnghọc nghề phải có hình thức bằng văn bản và có chứng nhận của cơ quan lao động mới có giá trị pháp lý.
Thứba,nộidung hợp đồnghọcnghề hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toànbộnhững vấn đềđược phản ánh trong hợp đồnghọcnghề nhằm tạo lập nên giátrịpháp lýcủabảnhợp đồng.Với cách hiểu này,nộidungcủahợp đồnghọcnghề khôngchỉgiớihạntrong phạm vi các điềukhoản mà còncảnhững vấn đềđảm bảo cho tính hợp pháp củahợp đồng. Hợp đồnghọcnghềgồm những nội dung chủ yếu như: thời gian học nghề, học phí, tiền lươngtrảcho người học nghề nếu tham gia lao động làm ra sản phẩm, trách nhiệm của ngườidạynghề trong việcdạynghề, truyềnkỹnăng và bảo vệlợi ích cho ngườihọcnghề. Ngoài ra, các bên cóthểthoả thuận thêm nhữngnộidung khác như bên dạy nghề sẽ cung cấp chỗ ăn, ở cho người học nghề, chịu trách nhiệmvềcác táchạigây ra cho ngườihọcnghề trong quá trình dạynghề. Ngườihọcnghề phải tuân theo chỉdẫncủangườidạynghề, ngăn ngừa thiệt hại về tài sản cho người dạy nghề (Điều 99, Luật bảo vệ người trẻ tuổi tại nơi làm việccủaCuprus), (Điều 37, Luật tiêu chuẩn lao độngcủaNhật Bản)
52
[124]. Khi các bên đã thoả thuận và ghi vào hợp đồng những nội dung trên thìnhững thoả thuận này sẽ có giá trị pháp lý, ràng buộc các bên và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ những nội dungđó.
Thứ tư, chấm dứt hợp đồnghọcnghề được hiểu là chấmdứtviệc thực hiện các quyền và nghĩavụmà các bên đãthoả thuận trong hợp đồng.Hợp đồnghọc nghề chấm dứt thường dựa trên những căn cứ do pháp luật quyđịnh như: hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồnghọcnghề hay một bên vi phạm quy định của pháp luật hoặc vi phạm thoả thuận trong hợp đồng hoặc một bên không thực hiện các nghĩavụđãthoả thuận, do địa điểmdạynghề thayđổi hoặc việchọcnghề gây nguy hạicho sứckhoẻ, an toàncủangườihọcnghề
(Điều38, Luật tiêu chuẩn lao độngcủaNhật Bản) [124].Vớitrường hợp chấm dứt hợp đồnghọc nghề do một bên vi phạm thoả thuận thì bên vi phạm có nghĩa vụbồithường thiệt hại cho bên kia. Theo Luật dạynghề của Hungary thìmứcbồithường nàycủabênhọcnghềsẽkhôngvượt quá 50% tiền lương thánghọcnghề, cònmứcbồithườngcủabêndạynghềsẽkhông vượt quá một tháng tiền lươngtrảcho ngườihọcnghề(Điều49, Luật dạy nghề của Hungary) [124].
ii) Quyđịnh vềgiao kết hợp đồng lao động với người lao động chưa thành niên.
Pháp luật về giao kết hợp đồng lao động với người lao động chưa thành niên thường quy định những nội dung sau:
Thứ nhất, quy định về điều kiện đối với người lao động chưa thành niên khi giao kết hợp đồng lao động, đượcxác địnhchủyếudựatrên cách phân loại theo tiêu chí độtuổi. Cơ sở đểxác định độtuổi dựa trên giấy chứng minh, thẻ căn cước như quyđịnhtại Điều 65 Bộ Luật lao động của Liên bang Nga,Điều 13 Bộ Luật lao động Afganistan [124]. Trên cơ sở tiêu chí độ tuổi được giao kết hợp đồnglao động,pháp luật lại chia thành những nhóm tuổi khác nhau được làm những công việc tương ứng. Cụ thể như sau:
53
Nhóm 1, từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được quyền giao kết hợp đồng laođộngvới hầu hết công việc, trừ công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đến an toàn, sức khoẻ, đạo đức, sự phát triển.
Nhóm 2,từ13 tuổi đến dưới15 tuổichỉđượcgiaokếthợp đồnglaođộng vớicác công việcnhẹnhàng, khôngảnhhưởngđếnan toàn,sứckhoẻ, đạo đức, sự phát triển và việc đi học.
Nhóm 3, dưới 13 tuổi chỉ được giao kết hợp đồnglao độngđểlàm các công việc về phim, kịch, nhạc kịch, hoà nhạc, biểu diễn nghệ thuật.
Cách quy định vềđiềukiện đượcquyền giao kết hợp đồnglaođộng ứngvớimỗi nhóm tuổi trên là phù hợp với tinh thần Công ước số 138 vềđộtuổitốithiểu đượclàm việc.Điều63 BộLuật lao độngcủaLiên bang Nga,Điều 37 Luật lao động Latvia, Điều 214 Luật quan hệlao độngcủaSloveniađã quyđịnhcụ thể các nội dung nêu trên [124].
Ngoài ra, một điều kiện bắt buộc khác đối vớingười lao độngchưa thành niên khi giao kết hợp đồnglà phải có xác nhận đủsứckhoẻđểthực hiện công việc.Điềukiện này nhằm xác định khảnăng thực hiện công việc củangườilao độngchưa thành niên sau khi giao kết hợp đồnglao độngvàcũng nhằm bảo vệhọkhỏi sựlạm dụng sức lao động. Đây là điều kiện được pháp luật nhiềunướcquyđịnhnhư Luật Xí nghiệp của Ấn Độ,tạiĐiều67 còn quyđịnhgiấy khám sức khoẻ này chỉ có giá trị trong 12 tháng [124].
Đáp ứngđượccác điềukiện trên,ngườilao độngchưa thành niên ởmột độtuổi nhất định (thôngthường từ đủ15 tuổi đến dưới 18 tuổi) có thể tựgiao kết hợp đồng lao động. Pháp luật một số nước như Croatia, Nhật, Slovakia…quyđịnhkhi giao kết hợp đồngphải cósựđồng ýcủacha mẹ, người giám hộ, thậm chí Điều 58 Luật Tiêu chuẩn lao động của Nhật còn quy định: chamẹ,ngườigiámhộsẽthay mặt ngườichưa thành niên đểkýhợpđồnglao động[124]. Quyđịnhnày là cần thiết,đặcbiệt vớinhómdưới15
54
tuổi, vì đây là quan hệ khôngđơngiản với nội dung liên quan khôngchỉ đến quyền, mà còn là nghĩa vụ của người lao động.
Thứ hai, về hình thức hợp đồng lao động.
Hình thức hợp đồngcóthểhiểu là cách thứcthểhiệnnộidungcủasựthoả thuận mà pháp luật yêu cầu các bên giao kết hợp đồng phải tuân thủ khi giao kết hợp đồng. Nó có thể là lời nói, văn bản hoặc hànhvi cụ thể. Ở một sốnướctheo hệthống luật Anh-Mỹ (common law), văn bảnlà hình thức bắt buộc đối với các hợp đồng lao động, còn ở các nước theo hệ thống luật lục địa (continental law) như Pháp, ThuỵSỹlại lấytựdo kýkếthợp đồng làm nguyên tắc cơ bản. Nguyên tắc này xem trọng “chữ tín”, nghĩa là khi đã cam kết điềugì, các bên phảitựgiác thực hiện và nhưvậyhợp đồngcóthểgiao kết dưới bất kỳ hình thức nào. Tuy nhiên, khi xẩy ra tranh chấp, rất khó có cơsở đểgiải quyết tranh chấp nếu giữa các bên không tồn tại một hình thức hợp đồng cụ thể bằngvăn bản hay lời nói. Pháp luật của nhiều nước quy định hình thức của hợp đồng lao động phải bằng văn bản mới có giá trị pháp lý. Đối với hợp đồnglao độngcủangườilao độngchưa thành niên, đasốcácnướcnhưLiên bang Nga (Điều 67, Bộ Luật lao động), Trung Quốc (Điều 12, Luật hợp đồng lao động), Croatia (Điều 40, Luật lao động), Afganistan (Điều 10,Bộluật lao động), Hàn Quốc (Điều 67, Luật tiêu chuẩn lao động)…đều quyđịnh phải bằng văn bản. Thậm chíĐiều24 BộLuật lao độngMôngCổcòn quy địnhhìnhthức hợp đồnglao độnglà điều kiện đểngười sử dụnglao động yêu cầu người lao động chưa thành niên thực hiện công việc [124]. Điều này có ýnghĩa quan trọng, nhằm đảmbảo sựan toàn cho ngườilao độngchưa thành niên, là cơ sở pháp lý để bảo vệ họ khi tham gia quan hệ lao động, nhất là khi họ còn chưa trưởng thành. Như vậy, theo quyđịnhcủa các nước trên thì hợp đồnglao độngvớingườilao độngchưa thành niên nhất thiết phải bằng hình thức là văn bảnmớicó giátrịpháp lý, bất kểđólà hợp đồng đểthực hiện công việc giản đơnhay không giản đơn, hợp đồngđócó thời hạnngắn hay không xác định thời hạn.
55
Thứ ba, thời hạn và hiệu lực của hợp đồng lao động.
Thời hạn hợp đồng lao động được hiểu là khoảng thời gian có hiệu lực của hợp đồnglao động. Về thời hạn của hợp đồng lao động, thường được quy địnhcó hai loại là hợp đồng lao động xác định thời hạn và hợp đồng lao động không xác định thờihạnvàđược áp dụng chung cho mọi ngườilao động trongđócó người lao động chưa thành niên.
Quyđịnhtrên có thể thấy trong pháp luật của nhiềunướcnhư Điều 23 Luật tiêu chuẩn lao động Hàn Quốc quy định thời hạn của hợp đồng lao động xác định thời hạn không vượt quá một năm, Điều 58 Luật lao động Liên bang Nga xác địnhhợp đồng laođộng xác địnhthờihạnlà hợp đồngkhông vượt quá năm năm. Riêng Luật hợp đồng lao động Trung Quốc lại không quy định thời hạn cụ thể của hợp đồnglao động xác định thời hạn mà lại quyđịnhcho phép hai bên tự thoả thuận thời điểm chấm dứt hợp đồng (Điều 13). Như vậy, với loại hợp đồnglao động xác định thời hạn thì quy định của pháp luật Trung Quốc có tính chất “mở” hơn so với pháp luật một số nước khác. Điều này tạo điều kiện cho các bên tham gia quan hệ lao động, tuỳ vào điều kiện cụ thể, tuỳvào từng loại tính chất công việc có thể tự do lựa chọn thời hạn chấm dứt hợp đồng lao động. Ngoài hai loại hợp đồng trên, pháp luật của các nước này cũng quy định thêm loại hợp đồng có thời hạn theo thời hạn hoàn thành một công việc nhất định (Điều 15,Luật hợp đồnglao động của Trung Quốc), (Điều 23, Luật tiêu chuẩn lao độngcủaHàn Quốc),(Điều59,BộLuật lao độngcủa Liên bang Nga) [124].
Một vấn đềkhác khá quan trọng cần đềcập tớilà hiệulựccủahợp đồng lao động. Thông thường pháp luật quy định hợp đồng lao động có hiệu lực vào thời điểm hai bên ký kết. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp người lao độnglàm việc cho ngườisửdụng lao động một thời gianrồimới ký kết hợp đồnghoặc có trườnghợphợp đồng lao độngđãđược kýnhưng sau một thời gian ngườilao động mới làm việc cho người sử dụng lao động. Đối với những trường hợp này, pháp luật củanhiềunướcnhư Liên bang Nga (Điều
56
61, Bộ Luật lao động), Trung Quốc (Điều7, Luật hợp đồng lao động), Kazakhstan(Điều12, Luật lao động)… quyđịnh thời điểmcó hiệulựccủa hợp đồng là ngày người sửdụng lao động bắt đầusửdụng ngườilao động hoặc vào ngày do hai bên thoả thuận. Việc pháp luật dựliệu trường hợp các bên không xác địnhthời điểmcó hiệulựccủahợp đồnglao độngvàđưara quy định dự phòng cho các trường hợp như trên có ý nghĩa hết sức quan trọng cho ngườilao động,nhất làngườilao độngchưa thành niên. Quyđịnh này một mặt xác định rõ thời điểmphát sinh, ràng buộc nghĩavụcủangười sửdụng lao động với người lao động chưa thành niên, một mặt bảo vệ quyền lợi chohọnếu người sử dụng lao động từ chối công nhận thời điểm có hiệu lực của hợp đồnglao động khi thực tế đã phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
Thứ tư, nội dung hợp đồng lao động.
Thông thường, nội dung hợp đồng lao động gồm những điều khoản chủyếu, mang tính bắt buộc mà hai bên cần thương lượng, thoả thuận đểxây dựng một hợp đồnglao động như: tên,vịtrí công việc, loại công việc, chức năng công việc; địa điểm làm việc; thời hạn của hợp đồng lao động; hình thức bảo hiểm; mô tả điều kiện làm việc; thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi; tiền lương, trách nhiệmvậtchất; quyền và nghĩavụcủahai bên. Những nội dung cơ bản trên của hợp đồng lao động được pháp luật lao động nhiều nước quy địnhnhư Croatia (Điều 17, Luật lao động), Trung Quốc,(Điều17, Luật hợp đồnglao động), Liên bang Nga (Điều 57, Bộ luật lao động) [124]. Ngoài ra, trong BộLuật lao độngcủaLiên bang Nga còn quy định hợp đồnglaođộngcóthểcó thêm một sốnộidung khác nhưđiềukhoảnvềthời gianthửviệc, việc đảmbảo bí mật công việc theo luật định,nghĩavụcủangườilaođộngvềthời gian làm việc sau khiđược đào tạo, việc đào tạo bằng kinh phícủangườisửdụng lao động,cũng như các thoả thuận khác cólợihơn cho ngườilao động so vớiquyđịnh củaluật, thoảướctập thể. Hoặc trong Luật lao độngcủaKazakhstan còn có thêm quy địnhvềđiềukhoản bắt buộc phải có như phải nêu rõ ngày bắt đầu làm việc; thủ tục thay đổi, chấm dứt, kéo dài
57
hợp đồnglao động; thủ tục bồi thường thiệt hại. Việc mở rộng thêm các điều khoản cụ thể, bắt buộc phải có trong hợp đồng lao động của Nga, Kazakhstan so với cácnướckhác cóýnghĩa quan trọng vớingườilao động chưa thành niên khi giao kết hợp đồnglaođộng,giúphọkhông bỏsót những nộidung liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân, hạn chế tranh chấp giữa hai bên vềnhững vấn đề chưa được hai bên thoả thuận.
1.2.3.2. Nhóm quyđịnh pháp luật trong quá trình tham gia và chấm dứt quan hệ lao động
Đâylà nhóm quyđịnh pháp luật quan trọngđiềuchỉnh quanhệlaođộngvừa đượcthiết lập giữangườilao độngchưa thành niên vàngườisửdụng lao động. Nói cách khác, nhóm quy định pháp luật này quyđịnhquyền và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động liên quan đến các vấn đềchủyếu sau:
Thứ nhất,vấn đềtiền lương
Về mặt pháp lý, tiền lươngđược hiểu là số tiền tệ mà người sử dụnglaođộngtrảcho ngườilao độngtheo sựthỏa thuậncủahai bên trong hợp đồng lao động,trên cơsởnăng suất lao động,chất lượng và hiệuquảcông việc. Tiền lương cóýnghĩa quan trọngđốivớingườilao động,giúp ngườilaođộngtích luỹ, tái sản xuất sức lao động, giúp họ và gia đình hoà nhập xã hội. Về cơ bản, pháp luật thường quyđịnhnhững nội dung sau:
Tiền lương tốithiểu. Đâylàmứclương thấp nhất theo quy định màngười sử dụng lao động có nghĩa vụ trả cho người lao động. Quyđịnh về mức lương tối thiểu có ý nghĩa quan trọng đặc biệt với người lao động chưa thành niên, khihọchưa phát triển đầy đủvềmặt trítuệđểcóthểthoả thuận với người sử dụng lao động mức lương tương xứng với công sức lao động. Thông thường tiền lương tối thiểu được tính bằng tiền lương tháng tối thiểu và được áp dụng chung cho tất cả mọi người lao động. Tuy nhiên, riêng với người laođộng chưa thành niên do cóđặc điểmriêng là chưa phát triển đầy đủvềthểchất, tinh thần, thời gian làm việccủahọcóthểđượcrút ngắn, pháp luật
58
nhiều nước có quy định riêng về cách tính lương tối thiểu theo giờ để áp dụng với ngườilaođộng chưa thành niên.Điều này cóthểthấy tại Điều133 BộLuật lao động của Liên bang Nga hay Điều 61 Luật lao động của Latvia,Điều 120 Bộ Luật lao động Slovakia [124].
Ngoài quy định về tiền lương tối thiểu, pháp luật cũng quyđịnhnhững nguyên tắc cơ bản về tiền lương đối với người lao động chưa thành niên nhưhọ có quyền nhận lươngđầy đủ, trực tiếp bằngtiền mặt, đúng hạn và đặc biệt là nguyên tắc về mức lương đối với người lao động chưa thành niên được xác định bằng mức lương của người lao động thành niên nếu làm cùng công việc.Đâylà những nguyên tắc đảm bảo cho ngườilao động chưa thành niên được đốixửbìnhđẳngnhư những người lao độngkhác và là cơsởpháp lýđểhọbảo vệ quyền lợi của mình. Quyđịnhnày được pháp luật lao động nhiều quốc giasửdụng như Luật lao độngcủa Latvia(Điều63),Bộ Luật lao động Afganistan (Điều 129), Bộ Luật lao động Azerbaijan (Điều 253) [124].
Thứ hai,vấn đềthời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Bên cạnh quyđịnh vềthờigiờlàm việc, thờigiờnghỉ ngơi cho người lao độngnói chung, pháp luật lao độngcòn có quyđịnhriêng cho ngườilaođộngchưa thành niên. Vấn đềnày đượcquyđịnh theo hướngrút ngắn thời giờlàm việc và tăng thờigiờnghỉ ngơi so vớingườilao độngthành niên. Chẳng hạn, pháp luật của Latvia, Nepal…quyđịnh thời giờ làm việc được áp dụng cho người lao động chưa thành niên thuộc nhóm từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi không quá 35 giờmột tuần,vớinhómtừ13 tuổi đếndưới15 tuổi trong thời gian đang đihọcthì không quá 10 giờmột tuần và trong thời gian nghỉhè thì không quá 24 giờmột tuần. Ngoài ra,đểđảmbảo sứckhoẻ,sựphát triểncủahọ,pháp luật cũngcấmngườisửdụng lao độngsửdụngngườilao động chưa thành niêndưới18 tuổi làm đêm. Thờigiờlàm đêm áp dụng với ngườilao độngthành niên đượctínhtừ10 giờtối đến6 giờsáng hôm sau, nhưng áp dụng vớingườilao động chưa thành niên lại được tínhtừ 8 giờ tối đến6 giờsáng hôm sau. Thêm nữa, pháp luật còn quyđịnh cấmngười lao
59
độngchưa thành niên nếu đãlàm việc tại một cơ sở sản xuất thì khôngđược tham gia làm việc tại cơ sở sản xuất khác trong cùng một ngày. Các nội dung nêu trên cóthểthấy trong quy định tại Điều132 Luật lao động củaLatvia,Điểm 9 Luật lao động của Nepal [124].
Trong thời gian làm việc, nếu người lao động chưa thành niên phải làm liên tục 4 giờ thì có quyền nghỉ ít nhất 30 phút trong suốt thời gian làm việc hoặc trong ngày làm việc được nghỉ ít nhất một tiếngđược tínhvào thời gian làm việc và họ có quyền nghỉ ít nhất 12 tiếng liên tục trước khi chuyển sang ngày làm việc tiếp theo. Ngoài thời gian nghỉ ngơi trong ngày làm việc,họcòn có quyền nghỉ hàng năm ít nhất 24 ngày màvẫntính vào thời gian làm việc. Đây là quy định củanhững quốc gia như Kazakhstan (145,Điều 53, Luật lao động), Montenegro (Điều 65, Luật lao động), Srilanca (Điều 146,BộLuật lao động) [124]. Những quy định trên thể hiện rõ việc tuân theo nguyên tắc bảo vệ người lao động chưa thành niên thông qua các tiêu chuẩn tối thiểu (về quyền, lợi ích) và tối đa (về nghĩa vụ) trên cơ sở phù hợp với từngđộtuổi.
Mặc dù thời gian làm việc ít đi, thời gian nghỉ ngơi dài hơn nhưng pháp luật vẫn quyđịnhngười sử dụng lao động có nghĩa vụ phải trả lương, trợ cấp,đảm bảo thời gian nghỉ ngơi và các quyền lợi khác chongườilao động chưa thành niên phải ngang bằng so vớicác lao động khác và phải tiến hành các biện pháp đểđảmbảo sứckhoẻ, an toàn cho họnhư quyđịnhcủaLuật laođộngcủa Nigeria (Điểm 10 và Điểm 11, Luật lao động) [124].
Như vậy, với những quy định riêngvề thờigiờlàm việc, thờigiờnghỉngơi cho ngườilao độngchưa thành niên, pháp luật luôn xuất phát từquyền lợi của chủ thểnày đểcó những quyđịnh tốt nhất cho họ,mộtmặtvẫn thừa nhận việc tham gia lao độngvới thời gian hợp lý, một mặt đảmbảo có được thời gian nghỉ ngơi phù hợp cho họ, đảmbảo sự phát triểnvề thểlực, trí lực cũng như việc học hành cho đối tượng này.
Thứ ba,vấn đềkỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất
60
Nhìn chung quy định về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất áp dụng với người lao động chưa thành niên cũng tương tự như người lao động thành niên. Pháp luật về kỷluật lao động bao gồm các quyđịnhcủanhànước,xác định nghĩavụ,trách nhiệmcủangườilaođộng với đơnvịsửdụng lao động và quyền xây dựng, áp dụng kỷluật lao động củangườisửdụng lao động. Bên cạnh đó, kỷ luật lao động còn gồm các quyđịnh về biện phápxửlý đối với người lao động vi phạm những quy định này. Kỷ luật lao động có ý nghĩa lớn đối với người sử dụng lao động và người lao động. Với người sử dụng laođộng, kỷluật lao động là cơ sở pháp lýđểtổ chức, duy trìtrật tựvà quản lýlao động,là côngcụhữuhiệu đểngườisửdụng lao độngthực hiện quyền quản lý, điều hành doanh nghiệp. Đối với người lao động chưa thành niên, kỷluật lao độngcó tác dụng rèn luyện ýthứctổchứckỷluật trong lao động, giúp họ thực hiện nghiêm túc các quyền, nghĩa vụ của mình. Nó vừa là căn cứquan trọng mang tính bắt buộc,vừalà công cụmang tính khuyến khích đểngười lao động chưa thành niên hoàn thành trách nhiệm của mình. Mặt khác, kỷ luật lao động là côngcụ đểbảo vệ người lao động chưa thành niên, những ngườichưa phát triển đầy đủvềthểlực, trí lực, tránh trường hợp ngườisửdụng lao động áp dụng hình thức kỷ luật vượt các biện pháp do luật định hoặc khi áp dụng hình thứckỷluật không cósựtham gia củaphía đạidiện của ngườilao động chưa thành niên đểbảo vệ họ. Với quan niệm và ý nghĩa của kỷluật lao động như trên, pháp luật khi quyđịnhvề kỷ luật lao động thường quy địnhvềviệcngười sử dụnglao động phải ban hành nội quy lao độngvàphù hợp với luật. Điều này có thể thấy trong quy định của Nhật Bản (Điều 93, Luật tiêu chuẩn lao động), Liên bang Nga(Điều189,Điều192,BộLuật laođộng)[124].
Khi ngườilao độngvi phạmkỷluật lao động và gây thiệt hại đếntài sảncủangườisửdụng lao độngthì phảibồithường thiệt hạicho ngườisửdụng lao động. Đây được coi là trách nhiệm vật chất củangườilao động đối với người sử dụnglao động. Pháp luật quy định về vấn đề này nhằm đảm bảo
61
quyền, lợi ích hợp pháp cho người sử dụng lao động khi tài sản của họ bị thiệt hại do lỗi của người lao động và nhằm khắc phục, bồi thường một phần thiệt hạicho ngườisửdụng lao động.Quyđịnhnàythểhiện rõ việc thực hiện nguyên tắc bảo vệ người lao động chưa thành niên trong mối tương quan với bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động nhằm bảo đảm hài hoàvềquyền lợicũng như duy trì quanhệlaođộng giữa hai bên. Bên cạnh đó,quyđịnhvềtrách nhiệm vật chất còn nhằm nâng cao tinh thần, trách nhiệm của người lao động trong việc chấp hành nội quy lao động.
Với ýnghĩa trên, pháp luật của một sốnước như Liên bang Nga,
Slovakia, MôngCổ,Afganistan, Oman… quy định cho phép người sửdụng lao động có quyền yêu cầu người lao động phải bồi thường thiệt hại do người lao động gây ra cũng như quy định về mức độ bồi thường của người lao động. Theo đó, căn cứ yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại, ngoại trừ các trường hợp bất khả kháng, là người sử dụng lao động phải xác định đượclỗi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật của người lao động cũng như chứng minh được mức độthiệt hạido hành vicủangười lao động gây ra(Điều233,BộLuật lao động củaLiên bang Nga) [124].Mứcyêu cầu đòibồithường thiệt hạidựatrên ýthứccủangườilao động thực hiện nghĩavụkhắc phục thiệt hại gây ra cho ngườisửdụng lao độngvàdựavào mứclương thángcủangườilao động. Thông thường mức bồi thường thiệt hại tối thiểu là 20% tiền lương tháng đến tối đa làbốntháng tiền lương(Điều74,Bộluật lao độngcủaAzerbaijan),
(Điều 133,Bộluật lao động của Mông Cổ), (Điều 241,Bộluật lao động của Liên bang Nga), (Điều 186, Bộ luật lao động của Slovakia) [124]. Ngoài quy
định trên, một sốnướcnhư Liên bang Nga, Slovakia…có quyđịnh áp dụng riêng cho người dưới 18 tuổi như căn cứ yêu cầu bồi thường là người sử dụng lao động phải chứng minh được thiệt hại màngườilao động chưa thành niên gây rabởilỗicốýhoặc do dùng các chất kích thích hoặc do nguyên nhân phạm tội. Sau khi chứng minh, người sử dụng lao động có nghĩa vụ đàm phán với đạidiện người lao động chưa thành niêntrướckhi yêu cầubồi thường
62
thiệt hại (Điều 242, Bộ luật lao động của Liên bang Nga), (Điều 191, Bộ luật lao động của Slovakia). Mặc dù, căn cứ, thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại áp dụng với ngườilaođộng chưa thành niên có phần phức tạp, nhưng đây đượccoi là những quy định hợplý, nhằmhạnchếđếnmứctối thiểu trách nhiệmcủangườilao độngchưa thành niên khihọgây ra thiệt hạicho người sử dụnglao động, bởi họ còn đang trongđộtuổi chưa trưởng thành, nhận thức về hành vicòn chưa đầy đủvà tài sản chưa có nhiều để bồi thường.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ

