Hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiếtcủa đề tài

Qua mấy nghìn năm dựng nƣớcvàgiữnƣớc,cùngvớitruyền thống laođộng vàđấutranh, truyền thống hiếu họcvà tôn sƣ trọng đạo đãtrởthành bản sắcdân tộc và giá trị bềnvữngcủaconngƣờiViệt Nam.Đảng,Nhànƣớcvànhân dân ta không ngừngphấn đấu đểgiữvững và phát huy truyền thốngtốtđẹpđó.Trong những năm qua, nền giáo dục quốc dân đãđƣợcxây dựng thành một hệ thống ngày càng hoàn chỉnh từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học, góp phần chủ yếu vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sau hai lăm nămđổimớicủađấtnƣớc,sựnghiệp giáo dụcđãcó những

bƣớc phát triển, đáp ứng ngày càngtốthơn nhu cầu học tập của nhân dân, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài. Quy mô giáo dục tiếp tục tăng ở hầu hết các cấp họcvà trìnhđộ đào tạo; mạnglƣới trƣờnglớp đƣợc củngcố vàphát triển rộng khắp trongcả nƣớc, kểcả ở vùngsâu, vùng xa, miền núi, hải đảo và vùngđồngbào dân tộc thiểusố,góp phần thực hiện công bằng trong giáo dục; đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ,phục vụyêu cầu phát triển kinhtế – xã hội củacácđịaphƣơng vàcảnƣớc.Trìnhđộ dân tríđƣợcnâng lên rõ rệt. Chất

lƣợngvà hiệu quả giáo dục có những chuyển biến tích cực trên một số mặt. Giáo dụcđạihọcnƣớcta đãtừngbƣớcphát triển rõrệtvềquy mô, đa dạngvềloại hình nhà trƣờng và hình thứcđàotạo; giáodụcđạihọcđãcung cấpnguồn laođộngchủ yếucó trìnhđộcao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nƣớc, bảođảm an ninh quốc phòng và hội nhập kinh tế quốc tế. Theo đánh giá của một sốchuyên gia trongnƣớcvà quốctế,trìnhđộ hiểu biết, nănglựctiếp cậnvớitri thức của học sinh, sinh viên nƣớc ta nhìn chung là tốt so với mặt bằng chung của khu vực và nhất là so với điều kiện đầu tƣ cho giáo dục. Trong giáo dục đã xuất hiện một số nhântố mới,ởnhiều nơiđãxuất hiện phong trào họctập sôi nổi. Các hình thứchọctập, các loại hình nhà trƣờng,lớpđa dạng hơn. Nguồn lực ngoài ngân sách đãđƣợchuyđộng đểphát triển sự nghiệp giáo dục. Nhànƣớc

1

tăng ngân sách cho giáo dục, ngành giáo dụcđãbiết kết hợp nhiều nguồn vốn, trongđó có sự đónggóp của nhân dân để tăngcƣờngcơ sở vật chất, thiếtbị, kỹ thuật cho các nhà trƣờng tạo điềukiện nâng cao chất lƣợng dạyvà học. Chủ

trƣơng xã hội hoá bắt đầu phát huy tác dụng, góp phần quan trọng làm cho giáo dụcthựcsựtrởthànhsựnghiệp củatoànĐảng,toàn dân. Phong trào toàn dân chăm lo sựnghiệp giáo dụcngày càngmởrộngvớinhiều việc làm thiết thực.Đáp ứng nhu cầu phát triển và đổi mới củađất nƣớc, thực hiện chủ trƣơng xây dựng nhànƣớcpháp quyền xãhộichủnghĩa, việc nghiêncứuquán triệt quan điểm, đƣờnglối chủtrƣơngcủa Đảngvà nhànƣớc đểtừng bƣớc hoàn thiện pháp luật vềgiáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay là một yêu cầu cấp bách nhằm tạo hành lang pháp lý cho hoạt động giáo dục, đáp ứng một cách năng động và hiệu quả nhu cầu phát triển của đất nƣớc.

Bên cạnh những thànhtựu đãđạt đƣợc, giáo dục nƣớc ta, trong đó có giáo dụcđạihọcđangđứngtrƣớcthách thức rất to lớn: phƣơng pháp quản lý nhà

nƣớcđốivới cơsởgiáo dụcđạihọcchậmđƣợcthayđổi,khôngbảođảmyêu cầunâng cao chất lƣợngđào tạo củatoànhệthống; chƣa phát huy mạnhmẽ

đƣợcsựsángtạocủađộingũ nhà giáo, các nhà quản lý và ngƣời học. Chất

lƣợng nguồn nhân lực đang là một khâu yếu kém, kéo dài của toàn bộ hệ thống. Những biểu hiện tiêu cực, thiếu kỷ cƣơng trong giáo dục đây đó vẫn còn tồn tại. Việc thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục còn chƣa thật tốt. Đội ngũ giảng viên còn thiếu và hạn chế về trìnhđộ.Công tác quản lý giáo dục đại học còn cónhững biểu hiện tuỳtiện không tuân theo pháp luật và chƣađápứng đƣợcyêu cầu ổn định, phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Nhữngảnhhƣởngtiêu cực

chƣađƣợcngăn chặn kịp thời đãảnh hƣởng không tốttới họcđƣờng.Những chính sáchvềđầu tƣ,huy động nguồn lực, tạo động lực cho nhà giáo và ngƣời họccòn chƣa đầyđủvà thiếu cụ thể. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cógiá trị pháp lý cao điều chỉnh các hoạt độngvề giáo dục đại họctrong giai đoạn đổimớicòn chƣa hoàn chỉnh đang là một trong những nguyên nhân làm cho công tác quản lý giáo dục đạihọchiện nay có những bất cập. Các văn bản quy phạm pháp luật hiện hànhvề giáo dục đại họccòn rất phân tán, hiệu lực pháp lý

2

không cao. Nhiềuvấnđềquan trọng củagiáo dụcđạihọcnhƣ:tổ chức, hoạtđộngđào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốctế,kiểm địnhchất lƣợnggiáo dục, tài chính, tài sản; thanh tra, kiểm tra; quản lý nhà nƣớc về giáo dục đại học lại đƣợcquy định tạicác văn bản dƣớiLuật thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, ThủtƣớngChínhphủvà cấp Bộ, liên Bộ.

Nghị quyết số 50/2010/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2010 củaQuốc hội khoá XIIvề thựchiện chính sách, pháp luật vềthành lập trƣờng, đầu tƣ và bảođảm chất lƣợngđào tạo đốivớigiáo dục đạihọcđãnhận định:“Từ chủ trươngđúng đắn của Đảngvà chính sách, pháp luật của Nhà nước,sựtập trung chỉđạo của Chính phủ,sự nỗlực củangành giáo dục, sự tận tụy tâm huyết của các thế hệcán bộ, giảng viên, tinh thần hiếu học của cácthế hệhọcsinh, sinh viên và truyền thống chăm lo giáo dụccủa nhân dân, giáo dụcđại họccủa nướcta đã đạt đượcnhững thành tựu quan trọng… Giáo dụcđại họcđã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡngnhân tài, cung cấp cho đất nước nguồn nhân lực có trình độ cao, góp phần quan trọng vào thành công của sự nghiệp đổi mới… Tuy nhiên, việc thành

lập trường, mở ngành, mở rộng quy mô đào tạo trong thời gian qua còn bộclộnhiều hạn chế,bấtcập ảnhhưởng đến chất lượng đào tạo..”Nghị quyết cũng xác định:“Những hạn chế, bất cập nêu nêu trên trong giáo dụcđại họclà do hệthống pháp luật về giáo dụcđạihọcchưa hoàn thiện, việc hướng dẫn thi hành Luật giáo dục còn chậm, một số chính sách về giáo dụcđại họcban hành chậm, chưa đồng bộ và chưa đượcsửa đổi,bổsung kịp thờiđểphù hợp với thực tiễn…” (15, tr 01, 2).

Luật Giáo dụcnăm 2005 quyđịnhvềhệthống giáo dụcquốc dân; nhà

trƣờng, cơsởgiáo dụckháccủahệthống giáo dụcquốc dân,củacơ quan nhà

nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, lực lƣợng vũ trang nhân dân; tổchức và cá nhân tham gia hoạt độnggiáo dục. Luật Giáo dụclà luật khung,

tƣơngđối cụ thể, vìvậy, các quyđịnh về giáo dục đại họcở trong Luật Giáo dục mới chỉ là các quy định chung có tính nguyên tắc. Luật Giáo dục năm 2005 gồm 9 chƣơng 120 điềunhƣngchỉcó 6 điềuquyđịnhvềgiáo dụcđạihọc(Mục 4

3

chƣơng II từ Điều 38 đến Điều 47) chƣa điều chỉnh cụ thể và riêng biệt các lĩnh vực quan hệxãhội củagiáo dục đại học. Thực trạng pháp luật vềgiáo dục nói chung và pháp luật vềgiáo dục đạihọcnói riêng đặt ra yêu cầu khách quanvềpháp điểnhoá các quyđịnhvềgiáo dụcđạihọctrongmộtvănbảncó giá trị pháp lý cao. Thực tiễn trong những năm qua, việc nghiêncứuđềtài theo nội dung này còn ít, có một sốđềtài nghiêncứuvềgiáo dụcđạihọcnhƣng cũng

chƣa đềcập đến nội dung pháp luật về giáo dục đại học và hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học, đây là một yêu cầu bức xúc mà thực tế đặt ra hiện nay cũng

nhƣ về lâu dài.

Hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học không chỉ xuất phát từ thực trạng của pháp luật về giáo dục đại học mà còn là yêu cầu về xây dựng và hoàn thiện

hệthống pháp luật vềgiáodục–đàotạo thực hiện Nghị quyết số48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 củaBộ Chínhtrịvềchiếnlƣợcxây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật Việt Namđếnnăm 2010,định hƣớngđến năm 2020:

“Thểchếhoá quan điểmcoi giáodục–đào tạo là quốc sách hàngđầu,thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá giáo dục”, xây dựng xã hội học tập, nâng cao chấtlượnggiáo dục. Xác định rõ sự thống nhất quản lý nhànướcvềgiáo dục,đồng thời tăng cường quyềntựchủ,tựchịu trách nhiệm của nhàtrường, của cơ sở giáo dục;tạosựbìnhđẳng,khuyến khích cạnh tranh lành mạnh giữa các loại hinh đào tạo công lập và ngoài công lập”.Hoàn thiện pháp luật vềgiáo dục đạihọclà một trong nhữngnộidung quan trọng trongđổimới cơ chế quảnlý đốivới giáo dụcđạihọc. Việc hoàn thiện pháp luật vềgiáo dụcđạihọcsẽ tạo cơ sở pháp lý trong việc thực hiện công tác quản lý nhànƣớcvềgiáo dục đại học, xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lƣợc phát triển giáo dụcđạihọc; chỉ đạo triển khai hệ thống bảo đảm chất lƣợngvà kiểm định giáo dụcđại học; hoàn thiện môi trƣờng pháp lý; tăngcƣờngcông tác kiểm tra, thanh tra;điềutiết vĩ mô cơcấuvà quy mô giáo dụcđạihọc, đáp ứngnhucầunhân lực của đất nƣớc trong từng thời kỳ. Việc nghiên cứu của Đề tài sẽ tạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học, tăngcƣờngquản lý nhànƣớcbằng pháp luật đốivớigiáo dụcđạihọc, tăng tínhtựchủ,tựchịu

4

trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học, nâng cao chất lƣợng đào tạo, phát triển giáo dục đại học và thực hiện mục tiêu giáo dục đại học. Góp phần đƣa giáo dụcđại họcViệt Nam đạt trình độ khu vực và quốctế,hội nhập ngày càng sâu rộng với hệ thống giáo dục đại học trong khu vực và trên thế giới.

Vì vậy, nghiêncứusinhlựachọnđềtài:“Hoàn thiện pháp luật vềgiáo dục đại họcở Việt Nam hiện nay” đểthực hiện Luận án tiến sĩ Luật học.

2. Tính hình nghiên cứu

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của Luận án

–Đốitƣợngnghiêncứucủaluận án làhệthống pháp luật hiện hànhvềgiáo dục đại học ở Việt Nam. Qua nghiên cứu cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật vềgiáo dụcđạihọcvà thực trạnghệthống pháp luật vềgiáo dụcđại học, luận ánđềxuất hệthống các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật vềgiáo dục đại họcở Việt Nam hiện nay.

– Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng pháp luật về pháp luật giáo dụcđại họchiện hành để tìm ra các đặc điểm, hạn chế cụ thể, nhằm xácđịnhđƣợc cácgiải pháp cơ bản đểhoàn thiện pháp luật v ềgiáo dụcđại họcở Việt Nam hiện nay. Luận án phân tích và khái quát các yêu cầu cụ thểcủacác lĩnh vựccụthểliên quanđếngiáo dụcđạihọcđểlàmnổibật vấnđềquan tâm chủ yếu: hoàn thiện pháp luật vềgiáo dục đạihọcnhằm đáp ứngyêu cầuđổimớicơbảnvà toàn diệnvềquản lý, nâng cao chất lƣợnggiáo dụcđại họcở Việt Nam hiện nay.

4. Mục đích và nhiệm vụ của luận án

– Mục đích: Trên cơ sở phân tích nhữngvấn đềlý luận và thực tiễn nhằmđánh giá thực trạng hệ thống pháp luật về giáo dục đại học, để xác định phƣơng

hƣớngvànộidung hoàn thiện pháp luậtvềgiáodụcđạihọcởViệt Nam hiện nay. Đánh giá thực trạng pháp luật về giáo dục đại học ở Việt Nam trên cơ sở lý luậnvềhoàn thiện pháp luật giáo dụcđạihọcđểtừđó đƣara các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay.

– Nhiệmvụ:phù hợp vớimụcđích trên, luận án giải quyết các nhiệmvụ sau:

Một là: Xây dựng cơsởlý luậnvềpháp luật giáo dụcđại họcvà hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học; đề xuất các tiêu chí hoàn thiện pháp luật vềgiáo dục đại học.

13

Hai là: Phân tích, đánh giá các ƣu điểm và hạn chế của pháp luật về giáo dục đại họctrong thời gian qua.

Ba là: Trên cơsởlý luậnđãđƣợcxây dựng nhữngđặcđiểmvàhạnchếcủapháp luật giáo dụcđạihọcViệt Namđãđƣợcchỉra kết hợp vớiviệc tham khảo pháp luật giáo dục đại họccủa một số nƣớc trên thế giới đểđềxuất những

phƣơnghƣớngvà giải pháp cụthểđểhoàn thiện pháp luật vềgiáo dụcđạihọc của Việt Nam hiện nay.

5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu

– Luận ándựatrên cơsởlý luậncủachủnghĩa Mác –Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, cácchủtrƣơng,đƣờnglối củaĐảngCộng sảnViệt Namvềnhà

nƣớc và pháp luật, đặc biệt là các quan điểm của Đảng ta về giáo dục đại họcthểhiện trong các văn kiện: Nghị quyết Trung ƣơng 2 (khoá VIII), Nghị quyết Đại hội Đảngtoàn quốclầnthứIX, X, XI, Kết luận củaHộinghị Trung ƣơng 6 (khoá IX), Hiến pháp Việt Nam và Luật giáo dục.

– Trong quá trình nghiên cứu đề tài tácgiả đãvận dụng các phƣơng pháp khoahọcnhƣ: phƣơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phƣơng pháp xã hội họcđểlàm rõ giữa lý luận và thực tiễn công tác soạn thảo, xây dựng hệ thống văn bản pháp luật về giáo dục đại họcđểphân tích, đánh giá một cách đúngđắn,khách quan thấyđƣợcnhững ƣuđiểm,nhữngtồntạicầnkhắc phục của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục đại học.

Kết hợp giữa phƣơng pháp thống kê, phƣơng pháp hệ thống, phƣơng pháp phân tích mô tả đểnêu lên thực trạnghệthống pháp luật vềgiáo dụcđạihọc hiện nay, từđó,có thể đềxuất các phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học. Đặc biệt là so sánh luật họcđểphân tích bức tranh hệ thống pháp luật về giáo dục đại học qua các giai đoạn cũng nhƣ kinh nghiệm pháp luật giáo dục đại học của một số nƣớc trên thế giới, từ đó giải quyết các vấn đề về lý luận và thực tiễn mà đề tài đặt ra.

6. Những điểmmớivà đóng góp của luận án

Luận án là công trình mới, đầu tiên, không trùng lặp với bất kỳ công trình khoahọcnào đã công bố liên quan đến vấn đề này và nghiên cứu một cách toàn

14

diện, tập trung và trực tiếp vấnđềlý luận vềpháp luật giáo dụcđạihọcnhằm mụcđíchđềxuất các phƣơnghƣớngvà giải pháp hoàn thiện pháp luật vềgiáo dục đại họcở Việt Nam hiện nay. Cụ thể :

– Làm sáng tỏ nhữngvấn đềlý luận cơ bản của pháp luật giáo dục đại học và hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học, khái niệm pháp luật về giáo dục đại học;

– Khái quát,hệthống hoá thực trạnghệthống pháp luật vềgiáo dụcvàpháp luật vềgiáo dục đại học trong các giaiđoạn. Từ đó,có đánh giá, nhận xét hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động giáo dục nói chung và giáo dục đại họcnói riêngtừtrƣớc tới nay, đặc biệt là trong hơn 20 năm trở lại đây. Rà soát, hệthống các văn bản quy phạm pháp luật vềgiáodụcvà văn bản quy phạm pháp luậtvềgiáodụcđạihọc. Những kếtquảđạtđƣợc,những tồn tạicủahệthống các vănbảnquy phạm pháp luật vềgiáo dụcvà các vănbảnquy phạm pháp luật về giáo dục đại học. Kinh nghiệm xây dựng Luật giáo dục đại học của một số nƣớctrênthếgiới. Trên cơsởđó,đềxuất ban hành hệthống pháp luật

giáo dục đại học phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam, nhucầu đổi mới giáo dục đại họcViệt Nam và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốctế trong giai đoạn hiện nay.

– Trên cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về giáo dục đại họcởViệt Nam trong thời gian qua và kinh nghiệm quốc tế về pháp luật giáo dục đại họccủa mộtsố quốcgia đại diện cho các khu vực và gần với điều kiện của Việt Nam để vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm đó vào thực tiễn của nƣớc nhà, luận án đãđềxuất các quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giáo dụcđạihọc. Trong đó, xác định đánh giáhệthống pháp luật vềgiáo dục nói chung và pháp luật vềgiáo dục đạihọcnói riêng, trongđó đặc biệt tập trung vào việc hoàn thiện các quyđịnh pháp luật vềgiáodụcđạihọc,đềxuất một số phƣơng

hƣớnghoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học, đó là :

– Thể chế hoá các quan điểm, đƣờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về phát triển giáo dục đại học;

15

– Cụ thể hoá và phát triển các quyđịnhvề giáo dục đại họcquy định trong Luật giáo dục hiện hành;

– Bảo đảmpháp luật vềgiáo dụcđạihọcphù hợp vớihệthống pháp luật hiện hành;

– Đáp ứngnhucầuthực tiễntổ chức và hoạt độnggiáo dụcđạihọctrong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốctế;

Xác định các giải pháp hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học, bao gồm:

hoàn thiện về hình thức, nội dung; và xây dựng Luật giáo dục đại học, bao gồm:

nguyên tắc, quy trình xây dựng, Đề cƣơngLuật giáo dục đại học. Đềcƣơng Luật giáo dục đạihọcbao gồm: các nội dung đã đƣợc thực tế kiểm nghiệm, đã thực hiện ổn địnhthìsẽ đƣợcnâng lên thành quyđịnhcủaLuật và quyđịnhchi tiết, cụthể. Cácnộidung khác, nếu chƣa ổn định, còn có nhiều thay đổi có thể quy địnhtheo nguyên tắc và sẽ đƣợc quyđịnhcụ thể bằngvăn bản dƣới Luật.

7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

– Thông qua việc làm rõ cácvấn đềlý luận về pháp luật giáo dục đạihọcđểtạotiền đềlý luận cho việc thực hiện hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học

nhƣ là một Luật chuyên ngành và là một bộ phận pháp luật trong pháp luật giáo dục của Việt Nam hiện nay.

– Luận án góp phần hoàn thiện pháp luật vềgiáo dụcđạihọcnhằm góp phần tăng cƣờng quản lý nhànƣớcbằng pháp luật vềgiáo dụcđạihọc, hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định của giáo dục đại học; tạo hành lang pháp lý góp phần đƣa giáo dục đại học sớm tiến kịp với nền giáo dục đại học các nƣớc phát triển trong khu vực và trên thế giới.

– Luận án là nguồn tài liệu tham khảo cần thiết cho các cơ quan ban hành chính sách pháp luật; tổ chức thực hiện pháp luật, các cơ quan quản lý nhà nƣớc; các trƣờng cao đẳng, đại họcsửdụngđểnghiên cứu giảng dạy về pháp luật giáo dục đại học nói riêng và pháp luật giáo dục nói chung ở Việt Nam hiện nay theo

hƣớngngày càng chuẩn hoá.

8.Kếtcấucủa Luận án

16

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danhmụctài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 3 chƣơng:

Chương I: Cơsởlý luậncủaviệc hoàn thiện pháp luật vềgiáodụcđại học.

Chương II: Thực trạng giáo dụcđại họcvà pháp luật về giáo dục đại họcở Việt Nam hiện nay.

Chương III: Phƣơnghƣớngvà giải pháp hoàn thiện pháp luật về giáo dụcđại họcở Việt Nam hiện nay.

17

Chƣơng 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁPLUẬT VỀGIÁO

DỤC ĐẠI HỌC

1.1. PHÁPLUẬT VỀGIÁO DỤC ĐẠI HỌC

1.1.1. Khái niệm pháp luật về giáodục đại học

Pháp luật là hiện tƣợng của kiến trúc thƣợng tầng, vì vậy, một mặt nó chịu tácđộngmạnhmẽ của cơ sở hạ tầng(điều kiện của đời sốngkinhtế xãhộigiữvai trò quyết định đối với pháp luật), nhƣng mặt khác, pháp luật có sự tácđộng trởlại đối vớicơsởhạtầng.Vềnguyên lý, pháp luật luôn phản trình độ phát triển của kinh tế – xã hội, đồng thời pháp luật lại có giá trị bảo đảm và thúc đẩy sựphát triểncủakinh tế – xã hội. Pháp luật có quanhệgắnbó vớiNhà nƣớc. Nhà nƣớc không thể tồn tại thiếu pháp luật và ngƣợc lại pháp luật chỉ có thể phát huyđƣợchiệulựccủamình nếunó đƣợcbảo đảmbằngsứcmạnhcủabộ máy Nhànƣớc“Ý chíđó nếunó củaNhànƣớcthì phảiđƣợcbiểu hiệndƣớihình thứcmột đạo luật do chính quyền đặt ra, nếu không thì hai tiếng ý chíchỉlà sựrungđộngkhông khí do những âm thanh trống rỗng gâynên”(V.I. Lênin.Toàn tập, Tr.51, Tr.412). Ngƣợc lại, nếu không có một bộ máy nhà nƣớc, một cơ quan có đủ sứcmạnh cƣỡngchế đểbảo đảmcho pháp luật đƣợctôn trọng thực hiện thì pháp luật cũngthểphát huy hiệu lực đƣợc. Chính vìlẽ đó,pháp luật luôn thểhiện ý chí của giai cấp nắm quyền lực nhà nƣớc. Pháp luật là công cụ quan trọng đểnhà nƣớc quản lý và điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Sự hình thành và phát triển của pháp luật luôn xuất phát từ nhu cầu xã hội và mục đích của pháp luật là điều chỉnh các quan hệ xã hội. Vì vậy, khitình hình chính trị, kinhtế,văn hoá xã hội thay đổi thì pháp luật cũng phải có sự thay đổi

tƣơng ứng. Tính phù hợp của pháp luật chỉ có đƣợc khi pháp luật phản ánh đúng những quy luật phát triển khách quan của xãhộivà nhữngđiều kiện cụ thể của xã hội trong từng thời kỳ.

Hệ thống pháp luật đƣợc hình thành và phát triển phù hợp với cơ cấu của các quan hệ xã hội, pháp luật làmộtkhái niệm chung, có tính bao quát và rộng

18

hơn khái niệm luật,mộtkhái niệm có tính cụ thể. Hệ thống pháp luật là tổngthểcác quy phạm pháp luật, các nguyên tắc,địnhhƣớngvàmụcđích pháp luật cómối liên hệmậtthiết và thống nhấtvớinhau,đƣợcphânđịnh thành các ngành luật, các chế định pháp luật và đƣợc thể hiện trong các văn bản pháp luật do các cơ quan nhànƣớccó thẩm quyền ban hành theo những hình thức, thủ tụcluậtđịnh. Trong nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật là công cụ cho sựphát triển của xã hội. Một khi Nhà nƣớc đƣợc xác định là nhà nƣớc của dân, do dân và vì dân thì pháp luật là pháp luật của dân, do dân và vì dân. Pháp luật làcơ sở xây dựng “xã hội công dân” và trở thành một giá trị không thể thiếu trong một nhànƣớcpháp quyền.Điềukiệnđầutiêncủapháp quyền là bảo đảmcác quyền vàtựdo củacông dân bằng các quy định ràng buộc, không aiđƣợcvi phạm, nhất là những quyđịnhcho phép các chủ thể trong quá trình tham gia các giao dịch xã hội mà tự kiểm soát đƣợc mình, để ngăn chặn ngay những nguy cơxâm phạmđếnquyềnlợicủacácchủthểkhác. Trong nhànƣớcpháp quyền, pháp luật làthƣớcđo (chuẩn mực)củatựdo. Nhànƣớcpháp quyềnđƣợcxây dựng theo những nguyêntắcdân chủ. Các cơ quan quyềnlựcnhànƣớc(lập pháp, hành pháp và tƣ pháp)đƣợcbầucửmột cáchtựdovớisựtham gia một cách trực tiếpcủacông dânđểcó thểthểhiện một cáchđầy đủnhất ý chí của họ. Ý chíthểhiện trong pháp luật trong nhà nƣớc pháp quyền xãhội chủnghĩa phản ánhlợiích và nguyện vọngcủađôngđảo nhân dân trong xã hội, vì nó

đƣợc hình thành bằng con đƣờng dân chủ, do dân, vì dân ban hànhvà bảo đảm thực hiện và cũng dođó,pháp luật trong nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa có tính giai cấp đồng thời cũng có tính xã hội rộng rãi, phù hợp với các quy luật vận độngkhách quan và nhữngmụctiêu củachủnghĩa xã hội.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứIX của Đảngđãkhẳng định: “Nhànƣớcta là côngcụchủyếuđểthực hiện quyền làmchủcủanhân dân, lànhànƣớcpháp quyềncủadân, do dân, vì dân. Quyền lựcnhànƣớclà thống nhất, có sựphân công và phối hợp giữa các cơ quan nhànƣớctrong việc thực hiện các quyền lậppháp, hành pháp, tƣ pháp. Nhànƣớcquản lý xã hội bằng phápluật”(3, tr 131, 132). Văn kiện Đạihội đạibiểu toàn quốc lần thứX của

19

Đảng đãkhẳng định:“Nhànƣớcta là nhànƣớcpháp quyền xãhộichủ nghĩa, quyềnlựcnhànƣớclà thống nhất có sựphân công phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật…”

(4, tr 126).. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảngđãkhẳng định:“Tiếp tục đẩy mạnhviệc xây dựng và hoàn thiện nhà nƣớc pháp quyền xãhội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nƣớc ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo… Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà

nƣớctheo pháp luật, tăngcƣờngpháp chếxãhộichủnghĩa vàkỷluật,kỷ

cƣơng” (5, tr 238).

Từcuối năm 1986 đếnnay, việc không ngừng hoàn thiện hệthống pháp luật là mối quan tâm lớn, thƣờng xuyên và là một trong những chủ trƣơng quan trọngcủaĐảngvà Nhànƣớc,đƣợcghi nhận trong hầuhếtcác văn kiệncủaĐảng, đặc biệt là Nghị quyết Hộinghị Trung ƣơng 8 (Khoá 7), Nghị quyết Đại hội Đảngtoàn quốclầnthứVIII, Nghị quyết Hộinghị Trung ƣơng 3 (KhoáVIII), Nghị quyết ĐạihộiIX, Nghị quyết 08 Bộ Chính trị ngày 02/01/2002, Nghị quyết Đại hội X và Nghị quyết Đại hội XI.

Thực hiện chủtrƣơng xây dựng nhànƣớcpháp quyền xãhộichủnghĩa của Đảng, Quốc hội đang nỗ lực thực hiện chƣơng trình xây dựng pháp luật. Các luật và pháp lệnh đƣợcban hànhđãtạo môi trƣờng pháp lý, tăng cƣờng kỷ

cƣơng, làm cho xã hội ngày càngổn định vàphát triển. Có thể nói rằng trong hai thập kỷ qua cùng với các chuyển biến của đời sống kinh tế – xã hội ở Việt Namđồngthời cũng diễn ra những chuyển biến sâu sắc trong lĩnh vực giáo dục. Pháp luật về giáo dục và pháp luật về giáo dục đại họcđãcó những tácđộngtốt, tích cực đến quá trình phát triển xã hội kinhtế vàtrực tiếp trong lĩnh vực giáo dục vàgiáo dụcđạihọc. Tuy nhiên,cầnphải nhấn mạnh rằnghệthống pháp luật vềgiáodụcvà pháp luật vềgiáo dụcđạihọcchƣađầyđủ,cụ thể,đồng bộ và tácđộngcủanó còn nhiềuhạnchếtrong quá trình phát triển giáo dụcdo thiếu nhữngđiềukiện, cơ chế, nguồnlựcthực hiện. Luật giáo dụcnăm 1998, Luật giáodụcnăm 2005, Luật dạynghề năm 2006 và Luật sửađổi,bổ sung mộtsố

20

điều của Luật giáo dục năm 2009 cùng với hệ thống các văn bản quy phạm pháp luậtdƣới Luật đãtạo đƣợcmột hành lang pháp lý cho việc phát triển giáo dụcđạihọc.Từnăm 1998 đếnnăm 2011, các cơ quan có thẩm quyền đãban hành

đƣợc 89văn bản quy định trực tiếp về thành lập trƣờng, đầu tƣ và bảo đảm chất

lƣợngđào tạo trong giáo dục đại học. Tốc độ ban hành văn bản ngày càng nhanh

và chất lƣợngvănbảnngày càng cao. Giaiđoạn1998 –2005 ban hành 24 văn bản (bình quân 03 văn bản/1 năm), giai đoạn 2006 – 2009 ban hành 31 văn bản (bình quân 7,8 văn bản/1 năm), gấp hơn 2,5 lần so với giai đoạn trƣớc. Từ năm

2010– 2011 ban hànhđƣợc34 văn bản. Có thểnói hai năm nàyđãban hành

đƣợcnhiều vănbảnnhất vềtổ chức và hoạt độngcủagiáo dụcđạihọc. Đây cũng là năm triển khai thực hiện Luật sửađổi,bổ sung một số điềucủaLuật giáo dụcđạihọcngày 25 tháng 11 năm 2009; Nghị quyết số 50/2010/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2010 của Quốchội vềviệc thực hiện chính sách pháp luật về thành lập trƣờng, đầu tƣ và bảo đảm chất lƣợng đào tạo đối với giáo dục đại học; Nghị quyết số 35/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội vềchủtrƣơng,địnhhƣớngđổimớimột số cơchếtài chính trong giáo dụcvàđào

tạo từnămhọc2010 –2011 địnhhƣớngđếnnămhọc2014 –2015.Đặcbiệt, một số văn bản quy định chi tiết Luật giáo dục 2005 cũng đã đƣợc ban hành, đólà văn bản quy địnhvề dạyvàhọctiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số, quy định trƣờngcủa cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chínhtrị- xã hội,

lựclƣợngvũ trang nhân dân, quyđịnhchếđộ phụcấp thâm niên nhà giáo. Cóthểkhẳngđịnh rằng, hiện nayhệthống vănbảnquy phạm cơbảnđãđảmbảo

đƣợc tính phù hợp, thống nhất,đồng bộvà tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức vàhoạtđộng củanhà trƣờng. Tuy nhiên,hệthống văn bản chủyếu thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tƣớng Chính phủ và cấp Bộ,đểđiều chỉnh hoạt độnggiáo dục đại học thì đòi hỏi phải có văn bản có giá trị pháp lý cao thì hiệu lực và hiệu quả thực hiện mới đảm bảo.

Xuất phát từthực tiễn và nhucầucủaxãhộiđốivớigiáo dụcnói chung và giáo dục đại học nói riêng về nâng cao chất lƣợng đào tạo, phát triển giáo dục cho mọi ngƣời, xây dựng xã hội học tập,đến vấn đềđào tạo nguồn nhân lực đa

21

trình độ, lao động chất lƣợng cao, đã hình thành các nhóm quan hệ xã hội, đó là: quan hệ giữa Nhà nƣớc và cơ quan quản lý giáo dục Trung ƣơng và địa phƣơng (cácBộ,ngành,địaphƣơng); giữaBộ quản lývớicác cơsởgiáo dụcđạihọc; giữa các nội dung về tổ chức và hoạt động giáo dục đại học bao gồm: thành lập nhà trƣờng, tuyển sinh, đào tạo, nghiên cứu khoa học; tài chính, tài sản; tổ chức nhân sự; hợp tác quốc tế…

Có thể nêu một quan niệm chung pháp luật về giáo dục đại học nhƣ sau:

Pháp luật về giáo dụcđại họclà hệthống các quy phạm pháp luật do Nhànướcban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động giáodụcđại học, bao gồm các quyđịnhvềtổ chức cơ sở giáodụcđạihọc; nhiệmvụ,quyền hạn, vị trí của giáo dụcđạihọc trong hệthống giáodụcquốc dân; các trình độ đào tạo, loại hình đào tạo và

quy mô đào tạo của giáo dụcđại học; các hoạt động vềđào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ; đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dụcđại học; đầu tưcho giáo dục đại học, hợp tác quốc tế về giáo dục đại học.

Đối tƣợngáp dụng và phạm viđiều chỉnhcủapháp luật vềgiáodụcđại họcgồm các nhóm sau:

Thứnhất, nhóm đối tƣợng là các cơ quan quản lý các trƣờng đại học, cao đẳnggồm:

– Chínhphủthống nhất quản lýnhà nƣớc vềgiáo dục;

-Bộ GiáodụcvàĐàotạo chịu trách nhiệmtrƣớcChínhphủthực hiện quản lý nhà nƣớc về giáo dục;

– Các Bộ, ngành với vai trò là cơ quan chủ quản của một số các trƣờngđại học, cao đẳng, học viện và phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo giúp Chính phủ thực hiện quản lý thống nhất về giáo dục;

– Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh với vai trò là cơ quan quản lý mộtsố trƣờng đại học, cao đẳng và là cơ quan quản lýở địa phƣơngnơi trƣờngđặt trụ sở.

Thứhai, nhóm đối tƣợng là các đại học, trƣờngđại học, họcviện, trƣờng cao đẳng.

22

Các cơsởgiáo dụckhác cótổchức đào tạo đểcấp văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân.

Theo quy định của Luật giáo dục, hệ thống các trƣờngđạihọc, cao đẳng có thểchia thành hai loại hình trƣờng: các trƣờng công lập và các trƣờng tƣthục.

Thứba, nhómđối tƣợnglà giảng viên, cán bộ quản lý,ngƣờihọc, các tổchức và cá nhân có liên quan.

Giảng viên là ngƣời làm nhiệmvụ giảng dạy, giáo dụctrong trƣờng caođẳng, đại học. Giảng viên phải có đủ tiêu chuẩn và đạt trình độchuẩn đƣợc đào tạo theo quyđịnh.Giảng viên giữvai trò quyết địnhtrong việc bảo đảmchất

lƣợnggiáo dục đại học. Cán bộ quản lý ở các trƣờng cao đẳng, đại họcgiữvai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục đại học.

Ngƣời họctrong giáo dục đại học bao gồm: sinh viên của các trƣờng caođẳng, đại học; họcviên của cơ sở đào tạo thạc sĩ; nghiên cứu sinh của cơ sở đào tạo tiến sĩ.

Vềphạm viđiềuchỉnhcủapháp luật vềgiáo dụcđạihọclà các quanhệxãhộiphát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt độnggiáo dụccủacác trƣờng cao đẳng, đại học, bao gồm các lĩnh vực:

– Các loại hình trƣờng, điều kiện thành lập, cơ cấu tổ chức, – Hoạt động đào tạo trong các trƣờng cao đẳng, đại học,

– Tuyển sinh và đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, – Hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ,

– Kiểm định giáo dục đại học,

– Giảng viên, cán bộ, viên chức, ngƣời học, – Quản lý nhà nƣớc về giáo dục đại học,

– Tài chính cơ sở giáo dục đại học, – Hợp tác quốctế,

– Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật.

Hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
Hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay

Đểxây dựng pháp luật về giáo dục đại học và tổ chức thực thi có hiệu quảtrong thực tế cần hoạch định chính sách thƣờng xuyên và liên tục để điều chỉnh kịp thời và phát triển các chính sách tƣơng ứng với sự phát triển của giáo dục –

đào tạo và đời sống kinh tế – xã hội rất nhanh chóng trong thời kỳ công nghiệp hoá,hiện đạihoá. Các quyđịnhpháp luật về sự phát triển giáo dục đạihọccần

đƣợc hoạch định trên cơ sở dựbáo phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ phát triển nói chung cũng nhƣ cácdựbáo vềphát triển giáo dụcđạihọcnói riêng. Trong thời gian vừa qua, cùng với quá trình chuyển đổi của nền kinh tế – xã hội, hệ thống pháp luật về giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêngởViệt Nam đã và đang đƣợc hoàn thiện và phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục trong phạm vi toàn hệ thống cũng nhƣ các cấp, trình độ đào tạo vàquađó góp phầnđổimớihệthống giáo dụcquốc dân, đáp ứngngày càng tốt hơn cácmụctiêu phát triển quốc gia và ngày càng thích ứng hơn với các thiết

chếmớivề chính trị, kinhtế –xã hội. Quá trình xây dựng và thực thi pháp luật

về giáo dục phải luôn gắn với sự phát triển kinhtế – xã hội của đất nƣớc.

1.1.2. Đặcđiểmcủa pháp luật về giáo dục đại học

Pháp luật giáodụcđạihọcvớivịtrí là một cấuthànhcủahệthống pháp luật vềgiáo dụcquyđịnhtổ chức và hoạt độnggiáo dụccủacác trƣờng caođẳng, đại họccó những đặc điểm chung và đặc thù. Đó là:

a. Pháp luật về giáo dụcđạihọcthểchếhoá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong mối quan hệ với phápluật, đƣờnglối, chính sách của Đảnggiữvai trò chỉđạo.Đƣờnglối, chính sách của Đảngchỉđạo quan điểm, phƣơng hƣớng xây dựng pháp luật,chỉđạo nội dung pháp luật và việctổchức thực hiện, áp dụng pháp luật. Pháp luật vềgiáo dụcđạihọcluôn phản ánh vàthểchếđƣờng lối, chính sáchcủaĐảngthành các quyđịnh áp dụng thống nhất trên quy môtoàn xã hội. Trong quá trình xây dựng, hoàn thiện cũng nhƣtổ chức thực hiện pháp luật về giáodụcđại họcphải căn cứ các quan điểm, đƣờng lối, chính sách của Đảng, đặc biệt là đƣờng lối xây dựng con ngƣời mới xãhội chủnghĩa đểthểchế hoá thành hệ thống các quy phạm pháp luật phù hợp và tổ chức thực hiện có

24

hiệu quả. Tuy nhiên, pháp luật vềgiáo dụcđạihọccũng có tính độclập tƣơng đối củanó, nó cũng có tácđộng mạnh mẽ trởlại đốivới đƣờnglối, chính sách củaĐảng.Nếusửdụngtốtcôngcụpháp luật thì chủtrƣơng,đƣờnglối, chính sách của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống. Thông qua pháp luật,chủtrƣơng,

đƣờnglối, quanđiểm,chính sáchcủaĐảngđƣợctriển khai và thực hiện một cách nhanh chóng, cụ thể trên quy mô rộng lớn nhất.

b. Pháp luật về giáo dụcđại họclà một hệthống các quy tắc xử sự có tính thống nhất nội tại cao và có quan hệ chặt chẽ với các quy phạm xã hội khác

Tínhhệthống củapháp luật thểhiện sựđa dạng củacác loại quy phạm pháp luật do các cơ quan nhànƣớccó thẩm quyền ban hành trong những thời điểmnhất địnhđểđiềuchỉnh các quanhệxãhộitrong quá trình quản lý,điều hànhtổ chức hoạt độngcủa các trƣờng đại học, cao đẳng.

Pháp luật vềgiáo dụcđạihọccó quanhệmật thiết vớicác quy phạm xãhội khác nhƣ quy phạm đạo đức, quytắcứng xử của các tổ chức xã hội và đoàn thể quần chúng.

Pháp luật về giáo dục đại học có quan hệ chặt chẽ với pháp luật trong các lĩnh vựckhác nhƣ: hành chính; tài chính; khoahọccông nghệ; quyền và nghĩa vụcông dân; hình sự, dân sự…

Tuy nhiên, pháp luật vềgiáo dục đại họccũng có những đặc điểm riêng, mang tính chất đặc thù so với pháp luật trong các lĩnhvựckhác. Cụ thể:

– Sự hình thành các quyđịnh của pháp luật về giáo dụcđại họcgắn liền với quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý nhà nước về giáo dục

Trong quá trình chuyển đổi đó, cơ chế quản lý nhà nƣớc về giáo dục, pháp luật vềgiáo dục đạihọcđãcó những chuyển biến tích cực, khá đồngbộ những vẫn chƣa thực sự tạo ra đƣợc cơ chế chủđộngcho các trƣờng đại học, cao đẳng; một số quy định còn lạc hậu, chậm đƣợc thay đổi, các quyđịnhcòn mang nặng

tƣ duy bao cấp, mệnh lệnh tập trung; vẫn còn tình trạng “xin – cho”; nhiều quan hệ phát sinh trong quá trình tổ chức, hoạt động của nhàtrƣờng đƣợc điều chỉnh bởicác quyđịnhcó tính nguyêntắcchung,dẫntớiviệc các trƣờng có thểvận dụng các quy định đó theo các cách khác nhau, tuỳ khả năng và chỉ nhằm có lợi

25

cho mình, coi nhẹ trách nhiệm của Nhà nƣớc và xã hội. Vì lẽ đó việc hoàn thiện cơ chế quản lý theo hƣớng tăng cƣờng kỷ luật, kỷ cƣơng trong tổ chức và hoạtđộnggiáo dụcđạihọc, nâng cao trách nhiệmvềđạo đứcnghề nghiệp nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, đề cao quyền tự chủ của cơ sở đào tạo, quyền tự chủ sáng tạo của nhà giáo là đặc trƣng quan trọng của pháp luật về giáo dục đại học.

Việc thực hiện các quy định của pháp luật về giáo dục đại học trongđiều kiện nềnkinh tế thịtrƣờng,mởcửahội nhập quốctế,nhất là trongđiềukiện hiện nay khi mà ý thức pháp luật của ngƣời dân và dân trí pháp lý còn nhiều hạn chếnên gặpnhiều khó khăn;hệthống các cơsởgiáo dụcđại họccũng bị chi phối và ảnhhƣởngmạnh mẽ bởi „cơ chế” đó.Từ đó đặt ra nhiều vấn đề, nhƣng

trƣớchết làvấnđềchất lƣợngcác quyđịnhcủapháp luật giáo dụcđạihọcvàmức độ đáp ứngcủa nó đối với các yêu cầu sau:

Cơchếquản lýmớivềgiáo dụcđạihọcnhằmtớiviệc thoát khỏi cách quản lý giáo dụctheo cơchếtập trung, quan liêu, bao cấp, mệnh lệnh, hành chính, chuyển sang tăngcƣờngtínhtựchủ,tựchịu trách nhiệm cho cơsởgiáo dục, nâng cao đƣợcnănglựcquản lý nhànƣớcvềgiáo dục.Đảmbảo tăng

cƣờngđƣợctrật tự,kỷcƣơng trong các trƣờngđạihọc, cao đẳng,loạibỏ đƣợc các hiện tƣợng tiêu cực trong giáo dục, nâng cao chất lƣợng vàtiếp tục đổi mới giáo dục đại học.

Cầnhoàn thiệntổ chức bộ máy quản lý giáo dục đại học, cao đẳngtừbộmáy quản lýcủa Bộ,ngành chủ quản đến bộ máy quản lý của các cơ sở giáodụcđại học, tiếntớixoábỏ cơchếchủquản nhằm tạo ra“môitrƣờng giáo dục thông thoáng” cho các trƣờng đại học, cao đẳng.

Kịp thời có các quyđịnhpháp luật điềuchỉnh cácvấnđềmớiphát sinh trongtổ chức và hoạt độngcủacác trƣờngđạihọc, cao đẳngthíchứngvớicác trình độ phát triển kinhtế,xã hội và yêu cầu phát triển giáo dục.

Tính minh bạch và công khai của các quy định pháp luật vềgiáo dục đại họclà biện pháp hết sứcquan trọng nhằm đƣacác quyđịnh củapháp luật vào cuộc sống, biến các quyết định quản lý nhà nƣớc thành hành động cụ thể của tất

26

cả mọi ngƣời, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Tạo rađƣợcnhữngđiềukiện thuậnlợicho việc kiểm tra, thanh tra khi thực hiện các quy định về tổ chức,hoạt động của các trƣờng đại học, cao đẳng kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những hoạt động trái các quy định của pháp luật phát huy tối đa vai trò của các trƣờng đại học, cao đẳng trong sự phát triển giáo dục.

– Pháp luật vềgiáo dụcđại họcthể hiện chính sách của Nhànướcđược Hiến pháp ghi nhận: Giáo dục là quốc sách hàng đầu.

Pháp luậtvềgiáo dụcđạihọcphải thểhiện chủ trƣơng, chính sáchcủaĐảngvà quyđịnhcủaHiến phápnƣớcCộng hoà xãhộichủnghĩa Việt Nam năm 1992 đãđƣợc sửađổi, bổ sung năm 2001: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nhà nƣớc và xã hội phát triển giáodụcnhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồidƣỡngnhân tài…”(Điều 35). Giáo dụclà quốc sách hàng đầu,lànền tảngđểphát triển công nghiệp hoá, hiệnđại hoá, đểthực hiện chế định này cần tập trung chỉ đạo nâng cao chất lƣợngđào tạo ở các cấp họcvà trình độ đào

tạo,đặcbiệt là đào tạotrình độcao đẳng,đạihọc, thạc sĩ, tiến sĩ gắn liền với nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực giáo dục.

Các quyđịnhcủa pháp luật về giáo dục đại họcphải đƣợc cụ thể hoátheo

hƣớngbảo đảm giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu, là nền tảngđểphát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

– Pháp luật về giáo dụcđại họcthể hiện quyền tựchủ đồng thờitính chịu trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dụcđại học

Việc xác lập các quyđịnh củapháp luật giáo dụcđạihọcvềtổ chức vàhoạtđộng củacác trƣờng đạihọc, cao đẳng trƣớchếtphảithểhiện rõ nétđặc

trƣng này: các trƣờng đại học, cao đẳng là “doanhnghiệp đặc biệt”,sản xuất ra loại hàng hoáđặc biệt là nguồn nhân lực chất lƣợngcao, có ý nghĩa quyết định

đối với việc phát triển kinhtế – xã hội của đất nƣớc. Vìthế, các trƣờngđại học, cao đẳngcũng nhƣ các doanh nghiệp trong nềnkinh tế thị trƣờng cũng phải

đƣợc tự chủ trong “sản xuất” và chịu trách nhiệm về “sản phẩm” của mình. Tuy

27

nhiên, do tính chất của“sảnphẩm”đƣợcsảnxuất ra, nhất làýnghĩa xãhộito lớn củanó nên các bảo đảm pháp luậtvềquản lý cũng có những nét khác biệt;

quyền tự chủ càng cao thì tính chịu trách nhiệm xã hội, sự đòi hỏi của xã hội đối với các trƣờng đại học, cao đẳng càng lớn.

Xuất phát từnhu cầuthực tiễn khách quan, khi mànềnkinh tế –xã hội của Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổitừmô hình kinhtế kếhoạch hoá

tập trung sang mô hình kinh tế thị trƣờng mở cửa thì chƣa thểbảo đảm một mặt bằng tƣơngđốivềgiáo dụcvớimọiđốitƣợng,mọivùng, miền; việc ban hành các quy định pháp luật cũng phải xuất phát từ thực tiễn. Do vậy, vấn đềđặt ra ởđây là việc ban hành các quyđịnhcủa pháp luật về giáo dục đại học và việc thực hiện các quy định đó đối với các trƣờng đại học, cao đẳng nhƣ thế nào cho phù hợp đểgiữđƣợc tính nghiêm minh của pháp luật,đồngthờivẫn bảo đảmđƣợc quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trƣờng đại học, cao đẳng phù hợp với đặctrƣng có tính quáđộ củacác bảo đảmpháp luật vềtổchức, hoạt động của các trƣờng đại học, cao đẳng ở Việt Nam hiện nay.

– Pháp luậtvềgiáo dụcđạihọctạohành lang pháp lý đểthực hiệnchủtrương đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dụcđại học

Khi đềcập tớiviệc hoàn thiện pháp luật vềgiáo dụcđạihọcnhằmđápứngviệcđổimới giáodụcđạihọcViệt Nam và hội nhập quốctế,cầnphải

hƣớngtới mụctiêu là tạo hành lang pháp lý cho các trƣờng thực hiện đƣợc quyềntựchủ,tựchịu trách nhiệm xãhộicủamình. Muốn vậy,cầnđềcậpđến những khái niệm cơ bảnvề quyền tựchủ, tựchịu trách nhiệm của các trƣờng đại học, cao đẳng và các bảo đảm pháp luật về quản lý các trƣờng đại học, cao đẳng.

Vềquyền tự chủ: Tự chủ là tự quản lý, là khả năng tự điều hành và kiểm soát hoạt động củachính mình. Ngày nay,đồngthờivớiquyềntựchủđó,các

trƣờng đại học, cao đẳng phải có trách nhiệm với toàn xã hội và những cá nhân, tổ chức chịu sự tácđộngbởi các quyết định của nhà trƣờng. Nhƣ vậy, quyền tựchủquanhệmật thiết vớitính chịu trách nhiệm(tựchịu trách nhiệm). Tuy nhiên,tựchịu trách nhiệm là khái niệm tƣơngđốimới trongtổ chứchoạt động của các trƣờng đại học, cao đẳng. Tất nhiên, cùng với quyền tự chủ của mình thì

28

các trƣờngđạihọc, cao đẳngcũng phải là đốitƣợngchịusựkiểm soát ởcác mức độ khác từbên ngoài.

Với quan điểm trên, các chuyên gia quốctếvề quản lý giáo dục đại họcđãkhẳngđịnh rằng quyềntựchủlà yêucầukhôngthểthiếuđƣợcđốivớitổ chức và hoạt động của một trƣờng đại học, cao đẳng.

Ở Việt Nam, trong thời gian qua cùng với tiến trình đổi mới giáo dụcđại học, đểphù hợp với xu thế quốc tế hoá và hội nhập quốc tế trong giáo dục, đào

tạođãcó hai khái niệm đƣợc sử dụng và đƣợc đƣa vào hệ thống thuật ngữ quản lý là“quyềntựchủ”(Autonomy) và “tráchnhiệm”(Accountability)củacác

trƣờng đại học, cao đẳng.

Tuy nhiên, thực tế công tác quản lý cho thấy vẫn còn nhiều quan niệm về“quyền tựchủ”và “trách nhiệm”củacác trƣờng đạihọc, cao đẳng.Từđó dẫn đếnhạnchếtrong công tác quản lý và làm hạn chếnhững thànhtựucủacông cuộcđổi mớigiáo dục đạihọc. Đểgiáo dụcđạihọcphát triển phù hợp vớinền kinhtế thịtrƣờng, đáp ứngđƣợcyêucầucông nghiệp hoá, hiệnđạihoáđất

nƣớc,một trong cácvấn đềquan trọng của công tác quản lý là phải tăng quyền tựchủcho các trƣờng đại học, cao đẳng.

Khái niệm quyền tự chủở đâyđƣợchiểu là quyền quản lý của các cơ sởgiáo dục đại học mà không có sự can thiệp từ bên ngoài, là “tự điều hành, quản lý mọi công việccủamình, khôngbịai chi phối [2. tr.201]. Quyềntựchủcủa các trƣờngđạihọc, cao đẳngởnƣớcta hiểu theo cách nàyđãđƣợcghi nhận trong các văn bản pháp luật hiện hành của Nhà nƣớc, điển hình là Luật giáo dục 2005 (Điều 60)và Điều lệ trƣờngđại học(Điều 6).

Vềtựchịu trách nhiệm: Nhƣ trên đã nêu, quyền tự chủ quan hệ mật thiết với tự chịutrách nhiệm. Tuy nhiên, tự chịu trách nhiệm cho đến nay vẫn là một khái niệm mới trong thuậtngữquản lý giáo dụcđại học,đồngnghĩa với các thuật ngữ khác nhƣ tính trách nhiệm, sự chịu trách nhiệm, trách nhiệm xã hội… trong ngôn ngữ tiếng Việt.

Vấnđềđặt ra là một khi các trƣờngđạihọc, cao đẳngđãđƣợcquyềntựchủtrong các hoạt độngquản lýđiềuhành, tổ chức, hoạt độngthì đƣơng nhiên

29

các trƣờng phải tựchịu trách nhiệmvềcác hoạt độngđó.Tuy nhiên, có quan niệm lại cho rằng, “tự chịu tráchnhiệm”là một quyền riêng, độc lập với quyền tựchủvà do đó, các trƣờng đại học, cao đẳng hoàn toàn tự do hoạt động và chỉ chịu trách nhiệm với chính mình chứ không chịu trách nhiệm với cá nhânvà tổchức khác. Đây là quan niệm không đúng. Tự chịu trách nhiệm theo tiếng Anh

là “accountablity”. Từ điển Anh – Việt của Viện Ngôn ngữhọcdo Nhà xuất bản khoahọcxãhộiấnhành (1975) giải thích “accountablity” có nghĩa là “trách nhiệm, trách nhiệm phải giải thích”. Trong các tài liệu về giáo dục đại họcở các

nƣớc phát triển, thuật ngữ “accountablity” đƣợc giải thích với các nội dung sau:

Là trách nhiệm liên quantrƣớchết tớinhữngngƣờicó thẩm quyền quy địnhhọ cần thực thi nhiệm vụ của họ nhƣ thế nào;

Là trách nhiệmsẵnsàng giải thích các quyết địnhcó kèm theo bằng chứng khi sinh viên, đồng nghiệp hoặc bất kỳ ai hỏi;

Là trách nhiệm của những ngƣời đƣợcgiao quyềnlực trƣớcmột cá nhân hoặc một nhómngƣờinào đó.Chẳnghạncác giáo sƣ phải chịu trách nhiệm

trƣớcchủnhiệm khoa, nhất là trong trách nhiệm giảng dạy.Chủnhiệm khoa chịu trách nhiệm trƣớc hiệu trƣởng, ngƣời đƣợc phó giám đốc thƣờng trực hoặc giám đốcviện đạihọcbổ nhiệm hoặc miễn nhiệm, giám đốcđạihọcchịu trách nhiệm trƣớc hội đồng quản trị.

Thuật ngữ “accountablity” với nội dungtrên đƣợc sử dụngtrong hệ thống thuật ngữquản lýởViệt Nam bằngcụmtừ“tựchịu tráchnhiệm”,đƣợcpháp luật ghi nhận, cụ thể trong Luật giáo dục, Điều lệ trƣờng đại học và các văn bản

hƣớngdẫn nhƣđãnêu trên.

Nhƣ vậy ở các nƣớc trong khu vực, trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, “tựchịu trách nhiệm” không phải là quyền mà là “trách nhiệm” của các trƣờng đại học, cao đẳng trƣớc cơ quan quản lý cấp trên và trƣớc sinh viên, gia đình, cơquan,tổ chứcsửdụng sinh viên sau khi tốt nghiệp…, nói rộng ra làtrƣớctoàn thể xã hội. Đó chính là trách nhiệm của các trƣờng đại học, cao đẳng là đào tạo nguồn nhân lực chất lƣợng cao cho đất nƣớc, xứng đáng với sự đầu tƣ, quan tâm

30

củaNhànƣớc,sựđóng góp củanhân dân,củaxãhộivà phải chịusựkiểm tra, giám sát của Nhà nƣớc và của xã hội để hoàn thànhtốtnhiệm vụấy.

Quan niệmvề“tựchịu tráchnhiệm”nhƣ trên xácđịnhtrách nhiệm báo cáo và giải trình củacác trƣờngđại học, cao đẳng cũng nhƣ trách nhiệm các nhân trong tổchức và hoạt độnggiáodụcđại học. Cácchủthểmà trƣờng đại học, cao đẳng phải báo cáo, giải trình rất đa dạng. Đó là bộ quản lý về giáo dục, các bộ, ngành chủ quản, các tổ chức (trong nƣớc và quốctế)cung cấp tài chính, các đốitác liên kết đào tạo hoặc nghiên cứu, sinh viên, gia đìnhngƣờihọc, các cơ quan, tổ chức sử dụng sinh viên sau khitốtnghiệp.Vềnội dung, trƣờngđại học, cao đẳng phải báo cáo, giải trình cũng rất đa dạng, tuỳ theo sự quan tâm của cácchủthểmà trƣờng đại họcphải báo cáo.Đó là các quyết định củaHiệu

trƣởng trong quá trình quản lý,điều hành nhà trƣờng, nguồn kinh phí do Nhà

nƣớc cấp,kinh phí do các tổ chức quốc tế và trong nƣớc tài trợ, học phí của sinh viên, các nguồn vốn liên kết… và việc sử dụng các kinh phí đó; chỉ tiêu đào tạo Nhànƣớcgiao và việc thực hiện chỉtiêu; quá trình đào tạo và việc thực hiện

chƣơng trình; việc cấp, phát văn bằng; điều kiện ăn, ở của sinh viên trong ký túc xá…

Vềmốiquanhệgiữa quyềntựchủvàtựchịu trách nhiệm: Nhƣ trênđãnêu, giữa quyền tựchủvà tự chịu trách nhiệm luôn là hai mặt không thể tách rời trongmọi hoạt độngcủa một nhà trƣờng; tựchủchủyếu đểbảo đảm hiệu quả vàhiệu suất cao trong khitựchịu trách nhiệmchủyếu đểbảođảmchấtlƣợngvàcông bằng xã hội trong đào tạo.

Nhƣ vậy,đểgiáo dụcđạihọcViệt Nam đáp ứng đƣợcyêu cầucủasựnghiệp công nghiệp hóa hiệnđại hoáđấtnƣớcthì trong công tác quản lý phải quan tâm cả hai mặt: một mặt là phải tạo điều kiện cho các trƣờng đại học, cao đẳngđƣợctựchủtrongtổ chức, hoạt động,mặt khác, phải yêucầuhọ phảitựchịu trách nhiệm trƣớc cơ quan quản lý (bộ, ngành, uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, tổchức kinh tế) về những nội dung quản lý mà cơ quan quản lý, cơ quan chủ quản giao.Vềphía cơ quan quản lý, cơ quanchủquản phải tăngcƣờngtrách nhiệm

31

“thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luậtvềgiáo dục”theo quy định của Luật giáo dục và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về giáodụcđại học.

c. Pháp luật giáo dụcđại họccó quan hệchặt chẽvới các bảo đảm về

pháp luật, chính trị, kinh tế – xã hội

Bảo đảmvềpháp lý, theo quan niệm chung “bảo đảmlà làm cho chắc chắn, thực hiệnđƣợc,giữgìnđƣợchoặc có đầyđủnhững gìcầnthiết”(92, tr. 175). Vìvậy, để“bảo đảm” thựchiệnvớiýnghĩa trên đòi hỏi phải có côngcụ,

phƣơng tiện và phƣơng pháp nhất định và tuỳ thuộc vào mục tiêu, nội dung của sự “bảo đảm” đó là gì. Bảo đảm pháp luật là một trong các loại bảo đảm xã hội, có vai trò duy trì xãhộiđƣợcổnđịnh,giữvữngchếđộ chính trị, xãhộithực hiện một nền dân chủ rộng rãi, một nền kinh tế phát triển; phát huy nhân tố con

ngƣời. Trong khi có cùngmụctiêuvớicác loại bảo đảmxã hội, bảo đảmpháp luật có đặctrƣng là nó đƣợcthực hiện bằng công cụpháp luật,tứclà bằngsựđiều chỉnh của các quytắcpháp lý có tính bắt buộc chung thông qua cơ chế điều chỉnhđểtácđộnglênýthức và hành vicủacon ngƣời,địnhhƣớnghành viđóphùhợp với mụctiêu điều chỉnh đãđƣợc xác định.

Bảo đảmpháp luật đƣợcphân ra theo từng loại trên cơsởcác lĩnh vực khác nhaucủađờisống xã hội, song có quanhệchặt chẽvớinhau. Bảo đảm pháp luật vềgiáo dục đạihọclà loại bảo đảmvềgiáo dục có quanhệmật thiết vớicác bảo đảmtrong các lĩnh vựckháccủagiáo dục,đƣợcthực hiệnbởicác hoạt động khác của Nhà nƣớc, trong đó có các hoạt động lập pháp, thi hành vàbảo vệ pháp luật trong lĩnh vựcgiáo dục. Nói cách khác, bảo đảm pháp luật vềgiáo dục đạihọcđƣợc thểhiện trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định về các loại hình trƣờng, điều kiện thành lập, cơ cấu tổ chức; hoạt động đào tạo trong các trƣờng cao đẳng, đại học; tuyển sinh và đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ;hoạt độngnghiên cứu khoa học, công nghệ; kiểm định chấtlƣợnggiáo dục đại học; giảng viên, cán bộ, viên chức, ngƣời học; quản lý nhà nƣớc về giáo dụcđạihọc; tài chính cơsởgiáo dụcđạihọc; hợp tác quốctế và việc thi hành các quyđịnhnày.

32

Bảo đảmpháp luật nhƣ trênđãnêuchỉlà một loại bảo đảmxã hội, cóquan hệ chặt chẽ với các bảo đảm khác, trong đó có các bảo đảm quan trọng sau:

Bảo đảmvềchính trị: Phát triển giáo dụcnói chung và giáo dụcđạihọc nói riêngđãđƣợc Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam xác định là quốc sách hàngđầu, lànềngiáodụcxã hội chủnghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiệnđại

lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh làm nền tảng. Đây chính làbảo đảmchínhtrịcó ýnghĩa quyết địnhvàđịnhhƣớngcủapháp luật vềgiáo dụcnói chung và pháp luật vềgiáo dụcđạihọcnói riêng. Các cơ quan quản lý giáo dục, các cơ sở giáo dục đều phải đặt dƣới sựlãnh đạo của Đảng, phải căn cứvào chính sách vàđịnh hƣớngphát triển giáo dụccủaĐảngđểxây dựng chiếnlƣợc,phƣơnghƣớngphát triển, cách thức tuyển sinh,đàotạo, chƣơng trình, nội dung đào tạo, cách thức tổ chức quản lý. Trong đó có việc định ra vàthực hiện các bảo đảm pháp luật về giáo dụcđại học.

Nhànƣớc Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện quản lýmọi mặt đời sốngxã hội bằng pháp luật. Quátrình đổi mớinhànƣớclàmộtquá trình không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quảquản lý nhànƣớctrên cơ sở dân chủ hoá, thực hiện xãhộihoámộtsố lĩnh vực mà nhà nƣớc không nhất thiết phải quản lý hoặc quản lý không có hiệu quả. Chính theo xuhƣớngphát triển này của quản lý nhà nƣớc mà nhà nƣớc đóng vai trò quan trọng trong việc xác lập và thực hiện các bảo đảm pháp luật về giáo dụcđại học. Cụ thể:

– Nhà nƣớc quy định bằng pháp luật về tổ chức, hoạt động của các trƣờng đại học, cao đẳng;

– Nhànƣớctạo ra nhữngđiềukiện thuậnlợicho các trƣờngđạihọc, cao đẳngthực hiện đƣợc các quyđịnhđó;

– Nhà nƣớc thực hiện kiểm tra, thanh tra, giám sát, bảo đảm cho việc thực hiện các quyđịnhđó đúngvới mụctiêu, chính sách của Nhà nƣớc.

Bảo đảm về kinh tế: Một nền kinh tế tự chủ,ổnđịnh và không ngừng phát triển theo đúng định hƣớngxãhộichủ nghĩa bảo đảmkinh tế,bởinó tạora những điều kiện đểổn định và không ngừng nâng cao đời sống vật chất của con

33

ngƣời, hiện thực hoá cácvấnđềliên quan đếncác bảo đảmpháp luật vềgiáo dục đại học. Trongđiều kiện đổimới ở nƣớc ta hiện nay, phát triển kinh tế theođịnh hƣớng xã hội chủ nghĩa, nâng cao đời sống nhân dân là yêu cầu cơ bản vàcấp thiết đểthực hiện có hiệuquảChiếnlƣợcphát triển giáo dụcđào tạo giai đoạn2001-2010củaThủtƣớngChính phủ,Đềánđổimớicơbảnvà toàn diện giáo dục đạihọcViệt Nam giai đoạn 2006-2020củaChính phủ, Nghị quyết 50 vềviệc thực hiện chính sách, pháp luậtvềthànhlậptrƣờng, đầu tƣ và bảođảm chấtlƣợngđào tạođối vớigiáodụcđại họccủaQuốchộitrong đó có việc hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học và ban hành Luật giáodụcđại học.

Bảo đảmvềcác chính sách xã hội: Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớctrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội của ĐảngCộng sản Việt Nam đã xác định: “Chính sách xã hội đúngđắn vìhạnh phúc của con ngƣời là động lực to lớn phát huymọitiềm năng sáng tạo củanhân dân trongsựnghiệp xây dựngchủnghĩa xãhội”(2, tr. 25). Nhƣ vậy, chính sách xãhộivừachi phối nội dung các quy địnhpháp luật vềgiáo dụcđạihọcvừatạo nhữngđiềukiện, môi trƣờng, hoàn cảnh thuận lợi cho việc thực hiện các quyđịnhđó.

d. Pháp luật giáodụcđại họcthểhiện sự ưu việt về chính sách của Nhànướcvề an sinh xã hội và có quan hệ mật thiết với các thiết chế xã hội

Trong mối quan hệđó,kinh tế giữvai trò quyếtđịnh đối vớipháp luật giáodục đại học. Mọisự thay đổi của chế độ kinh tế dẫn đến sự thay đổi tƣơng ứngcủa pháp luật giáo dục đại học. Tuy vậy, pháp luật với nhữngđặc điểm đặc thù của mình sẽ có sự tácđộngtrở lại mạnh mẽ đối với sự phát của chế độ kinh tế – xãhộichủ nghĩa. Pháp luật giáo dụcđại họckhôngthểcao hơn hoặc thấp

hơn trình độ phát triển kinh tế – xã hội. Cho nên nếu pháp luật giáo dục đại học

phản ánh đúng trình độ phát triển của kinhtế – xã hộinó sẽ có vai trò tích cực và

ngƣợclạinếukhông phản ánh đúngđiềuđó sẽcó tác dụng tiêu cực. Trong giai đoạn hiệnnay, nền kinh tế nƣớc ta đang chuyển dịch mạnh mẽ sang nền kinhtếthị trƣờng có sự quản lý, điều tiết của Nhà nƣớc, việc xác định đúng tính chất,đặcđiểm, trình độ phát triển của nền kinh tế, dự báo đúnghƣớngphát triển tiếp theođểxây dựng một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục nói chung và

34

pháp luật về giáo dục đại học nói riêng thống nhất,đồng bộ,phù hợp là vấn đềcó ý nghĩa hết sức quan trọng.

đ. Pháp luật về giáo dụcđại họcđượchệthống cơ quan công quyền bảođảm thực hiện

Pháp luậtvềgiáodụcđạihọcquyđịnhvềnhữngvấnđềliên quan đến việcđàotạonguồn nhânlựctrìnhđộcao củađấtnƣớc.Vì vậy, Nhànƣớctăng

cƣờngđầu tƣ và có chính sách ƣu đãi, hỗ trợ, khuyến khích các nhà đầu tƣ trong

nƣớcvànƣớcngoàiđầutƣ vào lĩnhvựcgiáodụcđạihọc. Tăng quyềntựchủ, nâng cao trách nhiệm xã hội và thúc đẩy nănglựccạnh tranh của các trƣờngđại học. Quản lý nhà nƣớc tập trung vào việc xây dựng chính sách, chiến lƣợc phát triển, môi trƣờng pháp lý cho giáodụcđạihọc; chỉđạovà triển khai thực hiện chính sách, chiếnlƣợcphát triển; tăngcƣờngcông tác kiểm tra, thanh tra quátrình thực hiện; điều tiết vĩ mô cơ cấu và quy mô giáodụcđại họcđáp ứngnhu cầunhân lựccủađất nƣớc trong từng thờikỳ.

1.1.3. Nội dung của pháp luậtvềgiáo dục đại học

Nộidung pháp luật về giáo dục đại học hiện nay ở Việt Nam bao gồm:

a. Các quyđịnhvềcác loại hình trường,điều kiện thành lập, cơ cấu tổchức, nhiệmvụ,quyền hạn của nhà trường

Các quy định của pháp luật phải chỉ ra đƣợc các loại hình trƣờngđại học, cao đẳng; thẩm quyền thành lập, thẩm quyền cho phép hoạt động giáo dục; điều kiện thành lập,điềukiện cho phép hoạt độnggiáo dục; trìnhtự,thủtục,hồ sơthành lập trƣờng; trình tự, thủ tục, hồ sơ cho phép hoạt động giáo dục; cơ cấu tổchức của trƣờng; nhiệm vụ, quyền hạn của trƣờng trong việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chƣơng trình, phƣơng pháp giáo dụcvà các quy định liên quanđến tuyển sinh, giảng dạy,họctập, thicử,kiểm tra, công nhậntốtnghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ.

Các quyđịnhtrên hoàn toàn khác các quyđịnhđốivớicác cấp họcvàtrình độ đào tạokhác.Cụthể khác với các quyđịnhvề các cấphọcphổ thông. Thẩm quyền thànhlập trƣờng đại họclà ThủtƣớngChính phủ, thẩm quyền cho phép hoạt độnggiáo dụclàBộ trƣởngBộ Giáo dụcvà Đào tạo; thẩm quyền

35

thành lập trƣờng cao đẳng và thẩm quyền cho phép hoạt động giáo dục đối với

trƣờng cao đẳng làBộtrƣởngBộ Giáodụcvà Đào tạo; điều kiện thành lập

trƣờng phải quyđịnhcụ thể về cơ sở vật chất,tài chính;đội ngũnhà giáo và cán bộ quản lý; chƣơng trình giáo dụcvà tài liệu giảng dạy,họctập.Đảmbảo khi các trƣờng đƣợc thành lập phải có đầy đủ các điều kiện theo quyđịnh đểtuyển sinh, đào tạo theo yêu cầu đối với từng trình độ trong giáo dục đại học.

b. Các quy định về hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa họccủacơ sởgiáodụcđạihọc

Các quyđịnhcủa pháp luật phải quyđịnhđƣợc các điều kiện, tiêu chuẩn và trìnhtự, thủtục, hồ sơ đểtuyển chọn các đối tƣợng vào học tại các trƣờngđại học, cao đẳng; quy địnhvềmụctiêu, yêu cầu về nội dung phƣơng pháp giáo dụcđạihọc; chƣơng trình, giáo trình giáo dụcđại học; phƣơng pháp và hình thứcđào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với môn học, ngành học, trìnhđộđào tạo của giáo dục đại học; bảo đảm liên thông với các chƣơng trình giáo dục khác; bảo đảm chất lƣợng và hiệu quả giáo dục đồng thời phù hợp với điều kiện vềcơsởvật chất, trang thiết bị,đội ngũ cánbộ,giảng viên, nhân viêncủa

trƣờng; bảo đảmcác trƣờng có quyềntựchủđểthực hiện quá trình đào tạo, nghiên cứu khoahọccủa mình mà không lệ thuộc vào cơ quan quản lý cấp trên. Các trƣờng đại học, cao đẳngchỉcần căn cứ vào các quyđịnhcủa chƣơng trình khungđểxác định chƣơng trình giáo dục cụ thể của trƣờng mình.

Các quy định này khác với quyđịnhđốivớihệ thống của các nhà trƣờng trong giáo dục phổ thông. Đối với các trƣờng phổ thông, pháp luật quy định rất cụthểvà chặt chẽmụctiêu, yêucầuvềnộidung phƣơng pháp, chƣơng trình, sách giáo khoacủagiáo dụcphổthông. Các trƣờng ởgiáodụcphổ thông xây dựngkếhoạch dạy học,tổ chứcdạyhọctrên cơsởchƣơng trình giáodụcphổ thông do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Trên cơ sở chƣơng trình nay cơ quan có thẩm quyền biên soạn, thẩmđịnh và xuấtbảnsách giáo khoađểsửdụng chính thức trong giảng dạy vàhọctậpcho các môn học của giáo dục phổ thông.

Nhƣ vậy, tínhtựchủvà tínhtự chịutrách nhiệm của các trƣờng phổ thông trong cơ sở giáo dục phổ thông không lớn nhƣ các trƣờng đại học, cao đẳng.

36

c. Các quyđịnh củavề kiểmđịnh chất lượng giáo dục

Kiểm địnhchất lƣợng giáo dục là biện pháp chủyếunhằm xác địnhmứcđộ thực hiện mụctiêu, chƣơng trình, nội dung giáo dục đối với nhà trƣờng. Việc kiểm định chất lƣợng giáo dục đƣợc thực hiện định kỳ trong phạm vi cả nƣớc vàđốivới từng cơ sở giáo dục. Kết quả kiểm định chất lƣợnggiáo dục đƣợc công bố công khaiđểxã hội biết và giám sát.Đểnâng cao chất lƣợnggiáo dụcđào

tạo trong các trƣờng đại học, cao đẳng, hàng năm hoặc theo định kỳ nhà trƣờng tổ chức đăng ký với tổ chức có thẩm quyền kiểm định chất lƣợngchƣơng trình đào tạovà kiểmđịnhchất lƣợng cơ sở theo các tiêu chí, tiêu chuẩn do cơ quan có thẩm quyền quyđịnh. Kết quả kiểm địnhchƣơng trình giáo dục, kiểm định cơsởgiáo dụclà căncứđểcông nhận hoặc không công nhận cơsởgiáo dục,

chƣơng trình giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lƣợng. Cơ sở giáo dục có quyền khiếu nại,tố cáo, khởi kiệnvớicơ quan nhànƣớccó thẩm quyềnvềquyết định,kết luận, hành vi củatổ chứcvà cá nhân thực hiện nhiệmvụ kiểmđịnh chấtlƣợng giáo dụckhi có căncứcho là quyết định,kết luậnđó không đúng, hành viđótrái pháp luật.

d. Các quy định về quản lý nhà nướcđốivớigiáodụcđạihọc

Các quyđịnhcủa pháp luật về quản lýnhà nƣớc đối vớigiáo dục đại học phải quy địnhrõbộ có trách nhiệm quản lý nhànƣớcvềgiáo dụcnói chung, giáodụcđạihọcnói riêng. Phải xây dựng và ban hành các quyđịnhliên quan đến việcchỉđạo,điều hành và quản lý các trƣờng đại học, cao đẳng về tổ chức, hoạt độngtuyển sinh, đào tạo, xây dựng chƣơng trình, biên soạn giáo trình, nghiêncứukhoa học, quản lý, cấp phát, inấnvăn bằng, chứng chỉ, thanh tra, kiểm tra.Đồngthời, xácđịnhrõ trách nhiệmcủacácbộ chủquản có trƣờng trong việc quản lý các trƣờngđạihọc, cao đẳngvềhoạt độngđàotạo, nghiên cứukhoa học,hợptác quốctếcủatrƣờng,đầutƣ cơsởvật chất, tài chính của nhà trƣờng; xácđịnhrõ quyền quản lý hành chính, lãnh thổ của ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố nơi trƣờngđặt trụ sở.

e. Các quyđịnh về quản lý tài chính

Đểbảo đảmcho các trƣờngđạihọc, caođẳngthực hiện cácmụctiêu

37

nhiệm vụ của mình thì các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền phải xây dựng các hành lang, khuôn khổ pháp lýđểcác trƣờng thực hiện quyền tự chủ về tài chính. Các quyđịnhcủa pháp luật phải đảm bảo để các trƣờng thực sự có quyền tự chủ về tài chínhđểthực hiện nhiệmvụ, sửdụng lao động, tăng cƣờng huyđộng vàquản lý thống nhất các nguồn thu tài chính nhằmmởrộng và nâng cao chất

lƣợnghoạt độngsựnghiệp, khuyến khích và tạo điềukiện cho cácđơnvịsựnghiệp tăng thu, tiết kiệm chi phí, nâng cao thu nhập gắnvớihiệu quả công tác của đội ngũcán bộ, giảng viên, nhân viên. Có nhƣ vậy, các trƣờng mới phát huy các khả năng sẵn có vềnguồn lực, máy móc, trang thiết bị, phƣơng tiện nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệđáp ứngnhu cầu ngày càng phong phú vàđa dạng với chất lƣợng ngày càng cao của xã hội; tạo điều kiện để ngƣời dân cócơ hội đƣợc tiếp xúc, lựa chọn các hoạt động dịchvụcủanhà trƣờngvớinhiều mức độ khác nhau, phù hợp với khả năng chi phí trong đào tạo nhƣ: đào tạo theo hình thức chính quy, đào tạo theo hình thức thƣờng xuyên; tổ chức liên kết với các cơ sở giáo dục của nƣớc ngoài, tổ chức đào tạo theo chƣơng trìnhcủa nƣớc ngoài, cấp văn bằngcủanƣớcngoài. Các quyđịnh này trên cơsởđảmbảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trƣờng đại học, cao đẳng theo hƣớng cơ quan quản lý nhànƣớckhông can thiệp quá sâu vào hoạtđộngnộibộcủa

trƣờng.

Các quyđịnhcủa pháp luật trong quản lý tài chính của các trƣờngđại học, cao đẳngkhácvớicác cơsởgiáo dụcphổ thông. Vì các cơsởgiáo dụcphổthông phầnlớnthực hiện cơchếbao cấp (trừ các cơsởgiáo dụcphổ thông tƣthục), các cơ sở vật chất, trang thiết bị và chi phí thƣờng xuyên đều do nhànƣớc cấp đểbảo đảmthực hiệnmụctiêu giáo dụcphổ thông theo yêucầucủaNhà

nƣớc.

g. Các quyđịnh về tổ chức và nhân sự

Các quy định pháp luật về tổ chức và nhân sự đƣợc bao gồm các quy định vềquyềnhạncủahiệu trƣởng trong việc quyết địnhcơcấutổ chứccủanhà

trƣờng. Giao quyền cho hiệu trƣởng nhà trƣờng có quyết định thành lập cáctổchức thuộc trƣờng, quyết định bổnhiệmngƣờiđứngđầu củacáctổ chức này;

38

xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên, tổ chức việc bồi dƣỡng, đào tạo lại đội ngũ giảng viên, tổ chức ký kết các hợp đồng lao động và trả lƣơngtừnguồn kinh phí hiện có củanhà trƣờng; tổchức tuyển dụng cánbộ,nhân viên, quyết địnhviệc tiếp nhận,bổnhiệm các chức danhtừgiảng viên chínhtrở

xuống; quyết địnhviệc tuyển dụng, thôi việc và thuyên chuyển công tác giảng viên, cán bộ, nhân viên. Đối với các trƣờng tƣ thục các quy định của pháp luật quy định các quyền của hiệu trƣởng về tổ chức, nhân sự, điều hành bộ máy hoạtđộng củanhà trƣờng, quản lýđội ngũ nhà giáo, cánbộ,nhân viên theo hƣớng trao quyền tự chủ cao cho các trƣờng tƣ thục, đặc biệt, là các quyềnvề tổ chức bộ máy, biên chế và quản lý nhân sự.

h. Các quyđịnh vềhợp tác quốctế

Trong xu thếhộinhập quốctế nói chung vàhộinhập, đa dạng hoá, quốc

tế hoá giáo dục đạihọcnói riêng, pháp luật vềgiáo dụcđạihọcphải đƣợcquy định theo hƣớngtạo điềukiện thuận lợi đểcác trƣờngchủđộng trong việcmở

rộng mối quanhệhợp tác quốc tế với các tổ chức, cá nhân, các cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và các viện nghiên cứu…củakhu vựcvà trên thếgiới. Việc hợp tác quốctếđƣợcthực hiện bằng nhiều hình thức nhƣ: thànhlập cơ sởgiáo dụcđạihọc100% vốn nƣớcngoài, thành lập cơ sở liên kết giữa các cơ sở giáo dụcđạihọcViệt Nam và các cơsởgiáodụcđạihọcnƣớcngoài; liên kết chƣơng trình đào tạo giữa cơsởgiáo dụcđạihọcViệt Nam và cơsởgiáo dụcđạihọc củanƣớcngoài; trao đổi giảng viên, sinh viên tronghọctập, giảng dạy, nghiên cứukhoa học,tổ chức cáchộinghị,hộithảo hoặc tham gia cáchộinghị, hội thảo quốc tế…

i. Các quyđịnhvề thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật.

Các quy định củapháp luật vềgiáo dụcđạihọcchỉđƣợcphát huy hiệu quảvàđƣợcthực hiện nghiêm chỉnh khiđƣợccác cơ quan có thẩm quyền tiến hành thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực hiện một cách chặt chẽ. Thông qua quá trình tổ chức kiểm tra, giám sát này có thể phát hiện các vi phạm pháp luật về giáo dục đại họcđểcó biện pháp xử lý nghiêm minh. Việc vi phạm pháp luật về giáo dụcđại họccó thể do chính các trƣờng đại học, cao đẳng thực hiện

39

nhƣ vƣợt quá phạm vi cho phép để thực hiện các hoạt động thành lập trƣờng, cơcấutổ chức, nhiệmvụ quyền hạncủanhà trƣờng; tuyển sinh, đào tạo, nghiên cứukhoa học; kiểmđịnhchất lƣợnggiáo dục; quản lý tài chính; quản lý nhân sự; hợp tác quốc tế… Vi phạm cũng có thểdo các cơ quan nhànƣớccó thẩm quyền, các tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở các trƣờng thực hiện các quyền tựchủbắt buộc hoặc bắt buộc phải thực hiện các trƣờng phải chịu trách nhiệm lớn hơn các quyđịnhbắt buộc của pháp luật.

1.1.4. Hình thức của pháp luật về giáodục đại học

Pháp luật giáo dục Việt Nam đang trong giai đoạn đầu tiên của quá trình xây dựng. Xét theo quanđiểmhệthống thì hệthống pháp luật giáo dụcViệt Nam đang ởgiaiđoạnđặt nềnmóng,cầnđƣợctiếp tụcbổ sung, hoàn thiệnđể

tạo thành hành lang pháp lý đầy đủ cho sự vận hành có hiệu quả và hiệu lực của hệ thống giáo dục quốc dân ở các cấp học, trình độ đào tạo, loại hình nhà trƣờng và phƣơng thức giáo dục. Việc hoàn thiện pháp luật vềgiáo dục đại học sẽ góp phần củng cố và hoàn thiện hệ thống pháp luật về giáo dục.

Hiện nay, tronghệthống pháp luật giáo dụccủaViệt NammớichỉcóLuật giáo dục 2005, Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều củaLuật giáo dục 2005 và Luật dạy nghề 2006. Tất cả các văn bản luật này tạo thành một hệ thống nhất quán, phù hợpvớiHiến pháp, thống nhất trong nội bộ hệthống pháp luật và

tƣơng thích với các văn bản luật thuộc các lĩnh vực khác nhƣ lao động, khoahọc

và công nghệ, đầu tƣ, thƣơng mại, môi trƣờng v.v…Dođó,việc hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học là một quá trình vừa đảm bảo tính ổn định, vừa chú ý tới yêu cầu phát triển.

Việc hoàn thiện pháp luậtvềgiáo dụcđại họcphải đảmbảo tính nhất quán và tƣơng thích với các văn bản luật hiện hành. Hệ thống văn bản dƣới luật vềgiáo dục đạihọccủaViệt Nam khá phong phúvà đầyđủ. Có thểnói với hệthốngvăn bản dƣới luật này đủ đểxây dựng Luật giáo dục đại học chi tiết. Tuy nhiên, việc xây dựng một luật chi tiết trongđiềukiện trìnhđộ pháp luật chƣa cao, một số hoạt độngcủagiáo dụcđạihọcởnƣớcta hiện nay chƣaổnđịnh, chắcsẽkhó đƣađƣợcluật vào cuộc sống.Vớiđịnhhƣớngxây dựng một luật

40

tƣơng đối chi tiết,cụ thể vấn đềđặt ra là đánh giá đúng đắn và tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật giáo dụcđại họctrong thời gian qua, trên cơsởnhững quy địnhổn định, đãđƣợc thực tếkiểm nghiệm, phùhợpvớithực tiễn thì luật hoá. Khi đó, có thể nói Luật giáo dục đại học là văn bản kết tinh từ các văn bản dƣới luật này; nó sẽ là cơ sở pháp lýđểtạo nên sự gắn kết và thống nhất của các văn bảndƣớiluật, khắc phục những khiếm khuyết hiện nay vềtình trạng chồng chéo, trùng lắp, khôngđồngbộ,thiếu hiệu lực của các văn bản này.

Quanhệgiữa Luật giáo dụcđạihọcvà các luật khác tronghệthống pháp luật giáo dục là quan hệ bổ sung cho nhau. Điều đó có nghĩa là Luật giáo dục đại họcsẽbổ sung mà không lặp lạinhững quyđịnh đãcó trong các luật khácvềgiáo dục. Mối quan hệ giữa Luật giáo dục đại học với Luật giáo dục là mối quan hệgiữa một luật khung vớiluật chuyên ngành. Vì vậy, những quy địnhvềgiáo dụcđạihọcquyđịnhtrong Luật giáo dụccòn quyđịnh khung thì sẽđƣợcquy địnhcụthểtạiLuật giáo dụcđạihọc; những quyđịnhvềgiáo dụcđạihọcđãquy địnhcụ thể tại Luật giáo dục thì sẽ đƣợc dẫn chiếu đểthực hiện; những quy định về giáo dục đại họctrong Luật giáo dục chƣa phù hợp thìsẽ đƣợc sửa đổi, bổ sung thay thế cho phù hợp. Đối với Luật dạy nghề các quyđịnhvề các trình độ đào tạo của dạy nghề, tổ chức, hoạt độngcủa các cơ sở nghề đƣợc thực hiện theo quyđịnh của Luật dạy nghề. Đây là vấn đềrất quan trọng vì trong các luật hiện hành về giáo dục đã có khá nhiều quy định liên quan đến giáo dục đại học. Chẳng hạn Luật giáo dục 2005, trong chƣơng II về hệ thống giáo dục quốc dân, có riêng cả mục 4 gồm 6 điều về giáo dục đại học với các quy định về thời gian đào tạo; mục tiêu của giáo dục đại học; yêu cầu về nội dung, phƣơng pháp giáo dụcđạihọc; chƣơng trình, giáo trình giáo dụcđạihọc; cơsởgiáo dụcđạihọc; văn bằng giáo dục đại học. Luật dạy nghề 2006, trong chƣơng III về các trình độđào tạo trongdạynghề, có riêngmục3 quyđịnhvềcao đẳngnghề; trong

chƣơng IV về các cơ sở dạy nghề, có các quy địnhvề tổ chức và hoạt động của

trƣờng cao đẳngnghề,kểcảtrƣờng cao đẳngnghề có vốnđầu tƣnƣớcngoài. Việc xây dựng pháp luật giáo dục đạihọcsẽ phải tính đến các quyđịnh này để

41

tránh trùng lặp; trong trƣờng hợp cần thiết chỉ cần dẫn chiếu về các quyđịnhđãcó nhƣ thông lệ trong các văn bản luật nƣớc ngoài.

Thông thƣờng có haicấutrúc cơbảncủacác vănbảnluật:cấutrúc luật khung vàcấutrúc luật chi tiết.Vềmốiquanhệgiữa hai loạicấutrúc này, UNESCO đãcó lƣu ý:“Cầnphải cân bằng giữamứcđộ chi tiết cầnthiết của luật (cũng nhƣtầm ảnhhƣởngvà hiệulựccủaluật đó) với việc quyđịnhquá tỉ mỉcùng nhiều ràng buộc. Thựctế cho thấybộ luật có mứcđộ chi tiết hoá quácao đôi khi gây tác dụng ngƣợc, tạo nhiều lỗ hổng trong thực hiện hơn so với bộluật chỉ nêu những quyđịnh tổngquát, kèm theo là những văn bản chính sách và

hƣớngdẫnthực hiện chi tiết (linh hoạt hơn,dễsửađổivà đi vào cuộc sống hơn)”. Thông thƣờngđốivớicácnƣớccó hệthống luật pháp phát triển lâuđời thì luật giáo dục đại học đƣợc xây dựng chi tiết. Kể cả luật khung của các nƣớc này, nhƣ Luật Khung giáo dụcđạihọc1999 củaĐức,cũng có mứcđộ chi tiếtđángkểso với luật khung thông thƣờng.Đốivới các nƣớc đang phát triển, luật giáo dục đại họcchủyếu là luật khung. Dĩ nhiên, giữa luật khung và luật chi tiết có cả mộtcấu trúc luật khung với mức độ chi tiết tăng dần. Chẳng hạn Luật giáo dục đại họcLiên bang Nga có thể coi là luật khung tƣơng đối chi tiết. Malayxia chọn cách ban hành nhiều luật khung cho các lĩnhvựckhác nhaucủagiáo dụcđạihọcnhƣ lĩnh vực thành lập trƣờng, lĩnhvực kiểm địnhchất lƣợng, lĩnhvực

đại họctƣ thụcv.v… Ở nƣớcta, Luật giáo dục cũng nhƣ Luật dạy nghề có thểcoi là các luật khung tƣơng đối chi tiết. Vìvậy, đểđảm bảo tính tƣơngđƣơngvềcấutrúc giữa các văn bảnluật trong cùnghệthống,đềxuất Luật giáo dụcđại họcnên đƣợc xây dựng theo hƣớng là một luật tƣơng đối chi tiết,cụ thể.

1.1.5. Vai trò của pháp luậtvềgiáo dục đại học

Hoàn thiện pháp luật vềgiáo dụcđạihọclà một trong những cơsởgóp phần hoàn thiện pháp luật về giáo dục và xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổimới.Trƣớcthờikỳđổi mới, việc xây dựng, hoàn thiện Nhànƣớcvà pháp luật đƣợcthực hiện trên cơsởquan điểm phát triển nền kinhtế kếhoạch hoá tập trung, bao cấp.Từ Đại hội VI, Đảngkhởi

xƣớngđƣờng lối đổi mới, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, từngbƣớc

42

đổimớihệthống chính trị. Xây dựng nhànƣớcpháp quyền làmụctiêu cần

hƣớngtới của bất kỳxãhộinào, vì nó đáp ứng đƣợc khát vọng tự do, dân chủ, công bằng xã hội, phúc lợi cho nhân dân, là phƣơng thứchữuhiệu bảo đảm sựtôn trọng nhân phẩm và các quyền cơ bản củacon ngƣời.Ở Việt Nam, vấn đềxây dựng nhà nƣớc pháp quyền tuy cònmớimẻ,nhƣng nó đang mở ra phƣơng

hƣớngmới đầytriển vọng khi xácđịnh đólà nhànƣớcpháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trongnềnkinh tế thịtrƣờng xãhộichủnghĩa. Chính quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở nƣớc ta từ nền kinhtế kếhoạch hoátậptrung sang kinh tế thịtrƣờngđịnh hƣớng xã hội chủnghĩa và đứng trƣớc yêu cầu hội nhập kinh tế quốctế,đãtạo ra những thay đổi lớn về hạ tầng cơ sở. Cơ sở hạ tầng thay đổi,

tất yếu dẫn đến sự thay đổi củaNhànƣớcvà pháp luật với tƣ cách là nhữngbộphận trọng yếu của kiến trúc thƣợng tầng. Nhà nƣớc và pháp luật phải phản ánh,đạidiện đầyđủcũng nhƣđiềuhoàđƣợccáclợiíchcủacác giai cấp, tầng lớp nhân dân trong xã hội. Nhànƣớcxãhộichủnghĩa Việt Nam là nhànƣớccủa nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cảquyền lựcnhànƣớcthuộcvềnhân dân; bảo đảmtínhtốithƣợngcủaHiến pháp và cácđạo luật trong việcđiều chỉnh các quan hệ xã hội. Nhà nƣớc quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật,đƣa đất nƣớc phát triển theo địnhhƣớngxãhội chủnghĩa. Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Namthểhiện quyềnlựcnhànƣớcthuộcvềnhân dân, ý chí của nhân dân phải đƣợc thể hiện trong luật pháp, bảo đảm quyền con

ngƣời, quyền công dân. Nhân dân là chủ thể quyềnlựcnhà nƣớc. Nhànƣớcvàcác cơ quan nhànƣớclàđạidiện cho quyềnlựccủanhân dân và làngƣờitổchức thực hiện quyềnlựcấytheo nguyện vọng vàlợiích chính đángcủanhân dân. Nhà nƣớc luôn luôn có trách nhiệm bảo đảm để mọi công dân thực hiện tốt

các quyền cơ bản của mình nhƣ: kinhtế,chính trị, văn hoá, xã hội….

Việc hoàn thiện pháp luật giáo dục đại học thƣờng có mục đích kép: một mặt góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, mặt khác điều chỉnh hoạt động giáo dục đại họcphù hợp với yêu cầu phát triển kinhtế – xã hội. Thực tiễn Việt Nam thời gian qua chứng tỏ chúng ta chƣa có một hệ thống các quy phạm pháp luậtđiều chỉnh các quan hệxã hội phát sinh trong quá trình hoạt độnggiáo dụcđại

43

họcmột cáchđầyđủ,đồngbộ,phù hợp,điềunàyđãlàm cho bộ máy quản lý nhà nƣớc về giáo dục hoạt động kém hiệu quả, bộ máy quản lý cồng kềnh, chức năng, nhiệm vụ chồng chéo. Tổ chức, hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học không thống nhất cả về mô hình, cơ cấu tổ chức, hoạt động giáo dục.

Pháp luật tạo ra cơsởpháp lý cho việc quy hoạch và thành lập hệthống cở sở giáo dục đại họctrongcả nƣớc và từngđịa phƣơng; quyđịnhtổ chức vàhoạt độngcủa các cơ sở giáo dục đại học. Pháp luật giáo dục đạihọctạo cơ sởpháp lý đểđổimớitổchức và hoạt độngcủa các cơ sở giáo dụcđạihọcvà đổi mới quy hoạch mạnglƣới cơ sở giáo dục đại họccho hợp lý hơn.

Pháp luật vềgiáo dụcđạihọcbảo đảmviệc thực hiện có hiệuquảvềtổchức và hoạt động giáo dục trong các cơ sở giáo dục đại học. Pháp luật giáo dụcđại họctạo hành lang pháp lýđểcác cơ quan có thẩm quyền hoạch định chính sách, xây dựng các tiêu chí, xác định các quy trình nhằm tạo ra một cơ chế đồng bộ,thúcđẩyquá trình phát triểncủacác cơsởgiáo dụcđạihọcmanglạihiệu quả kinh tế thiết thực.

Pháp luật giáo dụcđại họclà cơsởđểmởrộng dân chủtrong các cơsởgiáo dục đạihọc, bảo đảm thựchiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cán bộ, viên chức, giảng viên, ngƣời học và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Pháp luật giáo dụcđạihọcgồmcác quy phạm pháp luật điềuchỉnh các quan hệ giáo dục đại học nhằm nâng cao chất lƣợng, mở rộng và phát triển giáo dụcđại học, góp phần thực hiệnmụctiêu phát triển giáo dụcvà xây dựngđất

nƣớc dân giàu nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Pháp luật giáo dụcđạihọclàhệthống các quyđịnh có giátrịpháp lý caođiềuchỉnh các hoạt độngvềgiáo dụcđạihọc, đáp ứngnhu cầuphát triển giáo dục trong tình hình hiện nay và trong nhiều năm sắp tới, góp phần hoàn thiện hệthống pháp luật vềgiáo dục thực hiện thành côngsựnghiệp phát triển giáo dục thúcđẩysựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóađất nƣớc,phát triển xã hội, tăng trƣởng kinh tế nhanh và bền vững.

Ngoài các vai trò chung nêu trên, pháp luật về giáo dục đại học còn có vai trò cụ thể sau trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nƣớc.

44

a. Pháp luật giáo dụcđại họcgóp phần hoàn thiện và đổi mới giáo dụcđại học.

Pháp luật giáo dục đạihọc tạohành lang pháp lý choviệc đổimới cơ bản và toàn diện giáodụcđạihọc. Nghị quyếtsố14/2005/NQ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2005củaChínhphủvềđổimớicơbảnvà toàn diện giáodụcđạihọcViệt Nam giai đoạn 2006-2020 là văn bản pháp lý đƣợc xây dựng rất công phu và đƣợcđánh giá cao trong việcđềra các nhiệmvụ và giải phápđểđạtmụctiêu là“Đến năm 2020, giáo dục đại học Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khuvựcvà tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới; có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chếthị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa” (điểm a mục 2). Nghị quyết số50/2010/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2010củaQuốchộivềviệc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trƣờng, đầu tƣvà bảo đảm chất lƣợng đào tạo đốivới giáo dục đại học là kết quả giám sát của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trƣờng, đầu tƣ và bảo đảm chất lƣợng đào tạođốivớigiáodụcđạihọctừnăm 1998đếnnăm 2009đãxácđịnhmộttrong những nhiệmvụtrọng tâmđểđẩymạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật vềgiáodụcđạihọcvà nâng cao chấtlƣợngđàotạođólà: “Trình quốchộixem xét, ban hành Luật giáo dục đại học năm 2011; sớm trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung các luật liên quan để điều chỉnh toàn diện, đồng bộ và thống nhất các vấn đề về thành lậptrƣờng,đầutƣ,bảođảmchất lƣợngvà cácvấnđềkhácđốivớigiáo dụcđại học…” (khoản 1 Điều 2).

b. Pháp luật giáo dụcđạihọclà yếu tố quan trọng trong việc phát huy vai trò của các trường đại học, cao đẳng trong sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước

Văn kiệnĐạihộiĐạibiểu toàn quốclầnthứXIcủaĐảng đãxácđịnh một trong những nhiệmvụ phát triển đất nƣớc5 năm (2011-2015): là “… Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dụcvà đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ và kinh tế tri thức…”.“Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dụcđàotạo, thực hiện các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục… Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao,đặcbiệt là đội ngũ

45

cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ, văn hoá đầuđàn;đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề…” (5, tr 216, 217). Đểthực hiện đƣợc chủtrƣơngcủa Đảngcác cơ quan nhà nƣớc theo thẩm quyền sẽ phải ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật tƣơng ứng. Chính hệ thống pháp luật này sẽ tạo hành lang pháp lý và là cơ sở quan trọngđểcác trƣờng caođẳng,đạihọcthựcsựlà nơi đào tạo nguồn nhânlựccó trìnhđộ cao cho nƣớc nhà, nơi tiếpcậntri thứcởmứccao nhất, nơisảnsinh ra tri thức mới, tƣ duy mới thúc đẩy sự tăng trƣởng và phát triển nền kinh tế tri thức, tạo ra nhữngbƣớc nhảy vọt về sản xuất, công nghệ. Tuy nhiên, vai trò của các trƣờng cao đẳng, đại họcchỉ có thểtrởthành hiện thực khi nó đƣợcthểchếthànhhệthống các văn bản pháp luật, các quy tắc, quy phạm có giá trị pháp lý cao giao quyền tựchủ, tựchịu trách nhiệm cho các trƣờng, tạo điều kiện và môi trƣờng thuậnlợi đểthực hiện các quyền đó.

c. Pháp luật giáo dụcđạihọctạo cơ sở pháp lý cho việc hội nhập quốc tếvề giáo dụcđại học

Nƣớc ta đã là thành viên của WTO và đã ký cam kết về GATS trong giáo dục, theo đó giáo dục đại họcđƣợc mở cửa nhƣmột thịtrƣờngđểcác nhà đầu tƣ

nƣớc ngoài tiếp cận. Nhƣ vậy, giáo dục đại học nƣớc tađãbƣớc sang giai đoạn mới,hộinhập và phát triển. Nhiều vấn đềmới đƣợcđặt ra nhƣ cơchếcạnh tranh, trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, tƣơngđƣơngvăn bằng, bảo vệ

ngƣờihọc…Trong bất kỳ trƣờng hợp nào, pháp luật giáo dục đạihọccũng cần có những quy định đểnâng cao năng lựchợp tác và cạnh tranh của các cơsởgiáo dục đại học trong nƣớc, trongđó có mộtyêu cầu cấp bách đangđƣợc đặt ra là đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội.

1.2. KHÁI NIỆM, YÊU CẦU, ĐIỀU KIỆN VÀ CÁC TIÊU CHÍ XÁCĐỊNHMỨCĐỘHOÀN THIỆN PHÁPLUẬT VỀGIÁO DỤC ĐẠI HỌC

1.2.1. Khái niệm, yêucầuvàđiềukiện hoàn thiện pháp luậtvềgiáo dụcđạihọc

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *