Hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

Hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

Hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đến nay, thực hiện đườnglốiđổi mới, đất nước ta đãthoát ra khỏi khủng hoảng, đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng về kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng và đối ngoại. Nhà nước thực hiện quản lýnềnkinh tế thông qua pháp luật và điều tiết thông qua các chính sách và côngcụ kinh tế vĩ mô. Hoạt động lập pháp đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng để xây dựng vàhoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ cho quá trình hội nhập quốc tế, trongđóđặc biệt làpháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ngày càng được quan tâm. Nghịquyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị Về hội nhập kinh tế quốc tế; Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Về một sốnhiệmvụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của BộChính trịVề chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đếnnăm 2010, định hướng đếnnăm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của BộChính trị Về chiến lược cải cách tư phápđếnnăm 2020 đều xác định: nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ cho nhiệm vụ tăng cường hợp tác quốc tế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới. Đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, trong thời gian vừa qua, nhà nước ta đã tập trung xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ dânsựcó yếu tốnước ngoài vàbước đầu đã đạtđược những kết quảquan trọng.

Trong quá trình hội nhập quốc tế, khi các tranh chấp dân sựcó yếutố nước ngoài xảy ra càng nhiều và phức tạp thì yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước này trên lãnh thổ một nước khác cũng tăng lên. Đối với Việt Nam, thực tiễn cho thấy, quá trình hội nhập quốc tế càng diễn ra mạnh mẽ thì số lượng các bảnán, quyết định dân sựcủa Tòa án nước ngoài có yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam ngày càng gia tăng và tính chất càng phức tạp. Để giải quyết các yêu cầu của tình hình thực tế, trong những năm qua Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam và một trong những văn bảnpháp luật quan trọng là BLTTDS 2004/2011 (tập trung tại Phần thứsáu “Thủ tục công nhận và cho thi hành tại  Việt Nam bản án, quyết định dânsựcủa Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài”, từĐiều 342 – Điều 363). Với việc ban hành BLTTDS 2004/2011 pháp luật Việt Namđã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc điều chỉnh vấn đề công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, nhằm hướngđến sựtoàn diện, đầyđủ và tương thích với các chuẩn mực pháp lý chung của thế giới. Bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật trong nước, Việt Nam cũng không ngừng tăng cường ký kết các Hiệp định TTTP có nội dung liên quan đến vấn đề công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.

Tuy nhiên, gần 10 năm sau thời điểm ra đời của BLTTDS 2004/2011, nền kinh tế – xã hội Việt Nam đã cósựphát triển nhanh chóng, quy mô của nền kinh tế và tốc độ vậnđộng của các quan hệ xã hội, đặc biệt là các quan hệ pháp luật có yếu nước ngoài đã lớn và nhanh hơn trước rất nhiều. Việt Nam đang tham gia mạnh mẽ vào quá trình hội nhập quốc tế, các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều và phức tạp. Vì vậy, các tranh chấp cũng gia tăng đòi hỏi phải có cơ chế giải quyết cũng như đảm bảo việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án sao cho lợi ích của các bên được bảo vệ tốt nhất,đảm bảo cho các quan hệ này phát triển trongmột trật tựnhất định, bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ. Trong khi đó, những quy định của pháp luật hiện hànhđã bộc lộ nhiềuhạn chế cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sungđểđápứng yêu cầu của tình hình thực tiễn.

Bên cạnh đó, trong thời gian qua, tình hình thực tiễn đã cho thấy yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dânsựcủaTòa án nước ngoài ngày càng gia tăng về số lượng cũng như mức độ phức tạp. Một thực tế cũng cần phải quan tâm làbên cạnh các yêu cầu công nhận và cho thi hành đến từ Việt Nam định cư ở nước ngoài thì ngày càng có nhiều yêu cầu đến từ cá nhân, tổ chức nước ngoài có lợi ích hợp pháp tại Việt Nam cần đượcbảo vệ. Nghĩa là những chủ thể có lợi ích liên quan đếnviệc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài ngày càng đa dạng. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại lãnh thổ nước khác bản án quyếtđịnh của Tòa án Việt Nam cũng không ngừng tăng lên. Việc đảm bảo lợi ích của chủ thểnước ngoài tại Việt Nam cũng như đòi hỏi một cơ chế bảo vệ hữu hiệu lợi ích của chủ thểViệt Nam tạinướcngoài sẽ góp phần thúc đẩy các giao lưu dânsựquốc tếphát triển,đápứng các yêu cầu của quá trình hội nhập. Chính vì vậy, việc hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài đảm bảo phù hợp với yêu cầu của tình hình thực tiễn, tạo cơ chế thuận lợi trên cơ sở có đi có lại, đảm bảo chủ quyền quốc gia, thúc đẩy giao lưu dân sựquốc tếlà một yêu cầu cấp thiết đặt ra trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung trong giai đoạn hiện nay. Với những cơ sở phân tích như trên, tác giảđã chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyếtđịnh dân sự của Tòa án nƣớc ngoài” cho luận án tiến sĩ Luật học của mình.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ của luận án

Mục tiêucủaluận án: Luận án có mụctiêu đưa ra các luậncứkhoa học góp phần hoàn thiện pháp luật công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dânsựcủa Tòa án nước ngoài.

Nhiệm vụcủaluận án:Để đạtđược mục tiêu nghiên cứu, luận án có các nhiệm vụ cơ bản sau đây:

– Nghiên cứu những quy địnhcủavănbảnpháp luật Việt Nam hiện hành liên quanđến công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sựcủa Tòa án nước ngoài nhưBLTTDS 2004/2011, Luật TTTP 2007, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, … mà trọng tâm là các quy định của BLTTDS 2004/2011;

– Nghiên cứu nội dung các HiệpđịnhTTTP mà Việt Nam đã kýkếtvới các nước cócác quy định điều chỉnh hoạt động công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyếtđịnh dân sự của Tòa án nước ngoài;

– Nghiên cứu nội dung các điều ước quốc tế tiêu biểu, pháp luật một số quốc giađiển hình về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của nước ngoài làm cơsở cho việc đánh giá pháp luật Việt Nam;

– Nghiên cứu tình hình thực tiễn công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dânsựcủaTòa án nước ngoài trong những năm gần đây để làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật phù hợp với thực tiễn.

3. Phạm vi nghiên cứu của luận án

Xuất phát từ mục tiêu và nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận án bao gồm:

– Các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến pháp luật về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài;

– Nội dung một số điều ước quốc tế tiêu biểu cũng như pháp luật của một số quốc gia điển hình, nội dung của các văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành về công nhận vàcho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài;

– Các vấn đề phát sinh từ thực tiễn công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian qua.

– Các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sựcủa Tòa án nước ngoài tại Việt Nam nhằm phục vụ cho yêu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thời gian sắp tới.

Tuy nhiên, trong khuôn khổ một luận án tiến sĩ với giới hạn về số trang tối đa, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản của văn bản pháp luật Việt Nam, các Hiệp định TTTP mà Việt Nam đã ký kết về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sựcủa Tòa án nước ngoài nhưđiều kiện, nguyên tắc, trình tự, thủ tục, … mà không nghiên cứu những quy định của pháp luật thi hành án dân sự về tổ chức thi hành bản án, quyết địnhdân sựcủa Tòa án nước ngoài trên thực tế.Phạm vi nghiên cứu của luận án cũng không đề cập đến vấn đề công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án Việt Nam ở nước ngoài, công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tàinướcngoài cũng như việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dânsựtrong pháp luật các nước. Xuất phát từ phạm vi nghiên cứu như trên, các giải pháp đề xuất góp phần hoàn thiện pháp luật cũng giớihạntrong các quy địnhcủaBLTTDS 2004/2011 mà chưa đi sâu vào các giải pháp liên quan đến việc ký kết, gia nhập các điều ước quốc tếsong phương, đa phương có liên quan.

4. Cơ sở phƣơng pháp luận và các phƣơng pháp nghiên cứu của luận án – Phương pháp luận

Phương pháp nghiên cứu duy vậtlịch sửcủaChủ nghĩa Mác – Lenin, tưtưởng HồChí Minh; Chủ trương, chính sáchđổimớicủa ĐảngcộngsảnViệt Nam về phát triển kinh tế, được thể hiện trong các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI; Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 1991

(bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lượcphát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020đã được vận dụng để nêulên những quan điểm cơ bản về hoàn thiện pháp luật công nhận vàcho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sựcủa Tòa ánnước ngoài trong xu hướng hội nhập và phát triển. Đồng thời, việc nghiên cứu nội dung các điều ước quốc tế tiêu biểu, pháp luậtcủacác quốc gia điển hình cũng được tiến hành làm cơ sở cho những phân tích, đánh giá và đưa ra phương hướng hoàn thiện những quy định về công nhận vàcho thi hành tại Việt Nambảnán, quyếtđịnh dânsựcủaTòa ánnước ngoài trong hệthống pháp luật Việt Nam hiện hành.

– Phương pháp cụ thể

Từphương pháp luận, các phương pháp so sánh, phân tích, hệ thống hóa và tổng hợp đã được sử dụng để giải quyết từng vấn đề trong nội dung luận án, cụ thể:

– Phương pháp phân tích được sử dụng để làm rõ các vấn đề lý luận được giải quyết trong nội dung luận án.

– Phương pháp phân tích và phương pháp hệ thống hóa được sử dụng để làm rõ các quy định của văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành về công nhận và cho thi hành tại Việt Nambảnán, quyết định dân sựcủa Tòa ánnước ngoài cũng như các Hiệp định TTTP Việt Nam đã tham gia.

– Phương pháp so sánhđược sửdụngđểđốichiếu những quy định của cácđiềuước quốc tế, của pháp luật các nước với quy định của pháp luật Việt Nam để làm cơ sở đánh giá pháp luật Việt Nam.

– Phương pháp tổng hợp được sử dụng để rút ra những kết luận đối với từng vấn đềmà luận án đã phân tích làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật.

5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Xuất phát từmục tiêu và nhiệmvụ nghiên cứucũng như giới hạn phạm vi nghiên cứu như trên, trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đã công bố, trong luận án tác giả cố gắng tiếp tục nghiên cứu, giải quyết một cách cơ bản, đầyđủ những cơ sởkhoa học củaviệc hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sựcủa Tòa án nước ngoài trong điều kiện hội nhập quốc tế và có những đóng góp mới về khoa học như sau:

– Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu và phân tích để góp phần hoàn thiện các cơ sở khoa học củaviệc hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sựcủa Tòa án nước ngoài trong bối cảnh yêu cầu điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài phục vụ cho việc phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam ngày càng cấp thiết.

– Thứ hai, nghiên cứu và phân tích để làm rõ nội dung của các điều ước quốc tế tiêu biểu, pháp luật của một số quốc gia điển hình về vấn đề công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.

– Thứ ba, phân tích và đánh giá các ưu điểm và hạnchếcủa pháp luật hiện hànhvềcông nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trong mối liên hệ so sánh với các quyđịnhcủa các điềuước quốc tế có liên quan, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới.

– Thứ tư, phân tích và đánh giá kết quả thực tiễn công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trong những năm gần đây, chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đối với kết quả đạt được.

-Thứnăm, đề xuất phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dânsựcủa Tòa án nước ngoài đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường của Việt Nam và quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

6. Kết cấu của luận án

Luận án được cấu tạo thành bởi phần mở đầu, nội dung luận án và kết luận. Phần nội dung luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đếnnội dung luận án

Chương 2: Cơsở khoa họccủa việc hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nƣớc ngoài

Chương 3: Thực trạng pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nambảnán, quyết định dân sự của Tòa án nƣớc ngoài

Chương 4: Quan điểm, phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật vềcông nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nƣớc ngoài

Hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam  bản án quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài
Hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

27

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Trên cơ sở phân tích các kết quả của các công trình nghiên cứu đã công bố trong vàngoài nước có liên quan đến nội dung đề tài luận án, những kết luận rút ra trong Chương 1 như sau:

Thứnhất, vấn đề côngnhận và cho thi hành bản án, quyết định dânsựcủa Tòa án nước ngoài đã được nhiều chuyên gia nghiên cứu ở những góc độ, cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu khác nhautừ đócó những quan điểm, kết quả nghiên cứu khác nhau. Đến thời điểm hiện tại, có rất nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều hình thức như giáo trình, sách chuyên khảo, tài liệu tham khảo, bài báo khoa học, … đã được công bố trên thế giới có đề cập đến vấn đề mà luận án nghiên cứu.

Thứhai, các công trình nghiên cứu công bố ở nước ngoài đã giải quyết tương đốicụthể nhiều vấn đề lý luận có liên quan đến vấn đề công nhận và cho thi hành bản án, quyếtđịnh dân sựcủa Tòa án nước ngoài. Bên cạnh đó, việc công nhận và cho thi hành theo quy định của các điều ước quốc tế, theo pháp luật cụ thể của nhiều quốc gia cũng đã được trình bày khá chi tiết trong nhiều tài liệu khác nhau.

Thứba, các công trình khoa học đãcôngbố tại Việt Nam về cơ bản đã giải quyếtđược nhiều vấn đề lý luận liên quan đến nội dung của luận án. Tuy nhiên, một số công trình đã công bố trong thời gian khá lâu nên không có điều kiện nghiên cứu những quyđịnh của pháp luật hiện hành để đưa ra những giải pháp phù hợp với thực tiễn nhất, một số giải pháp hoàn thiện pháp luật đưa ra đã được cụ thể hóa trong các quy định pháp luật ban hành sau đó nhưng đến này cũng đã phát sinh những hạn chế trên thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu.

Thứtư, bên cạnh những kết quả nghiên cứu đã đạt được của các công trình khoa họcđã công bố vẫn còn một số vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu, giải quyết và đề xuất giải pháp cụ thể để góp phần hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.

28

Chƣơng 2

CƠ SỞKHOA HỌC CỦA VIỆC HOÀN THIỆN

PHÁP LUẬT VỀ CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM

BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƢỚC NGOÀI

2.1 Những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đếnviệc hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nƣớc ngoài

2.1.1 Khái niệm bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

Trong Tư pháp quốc tế, xuất phát từ nguyên tắc “tôn trọng chủ quyền quốc gia” vànguyên tắc “quyền tài phán lãnhthổ”mà bản án, quyếtđịnhcủa tòa án một quốc gia luônđược coi là bản án, quyết định củaTòa án nước ngoài tại một quốc gia khác. Về mặt lýluận, khái niệm này gồm hai yếu tố cấu thành là “Tòa án nước ngoài” và “bản án, quyếtđịnh dân sự”.

Là một bộ phận cấu tạo thành bộ máy nhà nước, tòa án là cơ quan tài phán điển hình hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước trên cơ sở pháp luật của một quốc gia cụthể. Trong hệthống pháp luật củacác quốc gia đều có quyđịnhđiềuchỉnh vấn đềtổ chức, hoạt động cũng như các vấn đề khác có liên quan đến hệ thống tòa án của quốc gia đó. Như vậy, đối với Việt Nam, Tòa án nước ngoài là tòa án được thành lập, tổ chức và hoạtđộng theo pháp luật nước ngoài. Chức năng chính của tòa án là án nhân danh nhà nướcđểgiải quyết các vụ án hoặc yêu cầu phát sinh trong các quan hệ xã hội được pháp luật quyđịnhtrong các lĩnh vực hình sự, hành chính, dân sự, … Tuy nhiên, tùy vào quy địnhcụ thểcủa pháp luậtmỗiquốc gia, bên cạnh tòa án còn có các cơ quan khác không phải là tòa án cũng có chức năng giải quyết trong một số vụ việc dân sự nhất định như Tham chính viện của Pháp [84, tr. 159], Ủy ban phúc thẩm của Thượng nghị viện (House of Lord), Ủy ban tư pháp của Hội đồng cơ mật của Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ailen [96, tr. 242] … Trong các HiệpđịnhTTTP giữa Việt Nam với các nước (HiệpđịnhTTTP giữa Việt Nam với Liên bang Nga năm 1999, HiệpđịnhTTTP giữa Việt Nam với Mông Cổ năm 2000, Hiệp định TTTP giữa Việt Nam với CH Belarut năm 2000, …), bên cạnh tòa án còn cócác cơ quan khác cũng có thẩm quyền giải quyết các vụ kiện hôn nhân, gia đình không mang tính chất tài sản, các yêu cầu về lao động và gia đình không mang tính chất tài sản như: cơ quan tư pháp, cơ quan hộ tịch, cơ quan giám hộ và trợ tá. Như vậy, khái niệm cơ

29

quan có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sựcủa nước ngoài rộng hơn khái niệm Tòa án nước ngoài.

Trong quá trình thực hiện chức năng xét xử trong các lĩnh vực pháp luật nói chung, lĩnh vực pháp luật dânsựnói riêng, tòa án ban hành ra bản án, quyết định. Đâylà hình thức văn bản thể hiện kết quả giải quyết của tòa án. Những bản án, quyết định trong lĩnh vực dân sựđược gọi là bản án, quyết định dân sự. Theo quyđịnh của pháp luật nhiều nước thì bản án, quyết định dân sự của tòa án bao gồm hai loại cơ bản: bản án, quyết định mang tính chất tài sản và bản án, quyết định không mang tính chất tài sản [108, tr. 3]. Bảnán, quyết định dân sựmang tính chất tài sản luôn có liên quan đến một khoản tiền, một nghĩa vụ tàisảnhoặc một giá trị vật chất như bản án, quyếtđịnhgiải quyếtcác vấn đềvềquyền sở hữu tài sản, thừa kế, bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và ngoài hợp đồng, …; Bản án, quyết định dânsựkhông mang tính chất tài sản chỉ liên quan đến các vấn đề nhân thân như bản án ly hôn mà chỉ giải quyết quan hệ nhân thân, quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không giải quyết vấn đề tài sản, quyết định thay đổi họ tên, … Việc phân chia bản án, quyết định dân sự thành hai loại như trên không có nhiều ý nghĩa trong việc xem xét nội dung của bản án, quyết định nhưng có ý nghĩa rất quan trọng về mặtlý luận cũng nhưthực tiễn đối vớiviệc xây dựng các quy định pháp luậtcụthểvề công nhận vàcho thi hành bởi lẽ những bản án, quyết định không có tính chất tài sản chỉ phát sinh yêu cầu công nhận còn những bản án, quyết định có tính chất tàisảnthường phát sinh yêu cầu thi hành. Từ yêu cầu khác nhau này sẽ dẫn đến sự khác nhau trong việc xác định cácđiều kiện đểcông nhận và cho thi hành nhưđiềukiện đối với tưcách chủ thể nộpđơnyêu cầu,điều kiện về nơi cư trú, tài sản của bên phải thi hành và quan trọng nhất là xác định trình

tự, thủ tục công nhận và cho thi hành …

Ở các quốc gia khác nhau cách hiểu về pháp luật dân sự không giống nhau. Có quốc gia chỉ phân chia hệ thống pháp luật của mình ra làm hai bộ phận là luật công và luật tư. Luật công là luật điều chỉnh những quan hệ liên quantớicông quyền (một bên là đại diện cho nhà nước), bao gồm Luật hiến pháp, Luật hành chính, Luật hình sự. Luật tư là là luật điều chỉnh các quanhệ không liên quan tới công quyền (các bên đều là cá nhân, pháp nhân; trong trường hợp nếu một bên là cơ quan nhà nước tham gia thì khi đó cơ quanấy tham gia quanhệvớitư cách làmộtpháp nhân công quyềnchứkhông phải làngười đại diện cho công quyền), bao gồm Luật dân sự hiểu theo nghĩa rộng (Luật dân sự hiểu theo

30

nghĩa hẹp, Luật thương mại, Luật lao động, Luật hôn nhân và gia đình, …). Có quốc gia phân chia pháp luật của mình ra làm các ngành luật khác nhau như: Luật hiến pháp, Luật hành chính, Luật dân sự, … Phương pháp điều chỉnh đặc thù của Luật dân sự theo nghĩa rộng là thỏa thuận, tự định đoạt. Do vậy, các bản án, quyết định dân sựcủaTòa án nước ngoài về cơbảncũng là các bản án, quyết định về lĩnh vực quan hệ mà pháp luật điều chỉnh bằng các biện pháp dựa trên sự thỏa thuận, định đoạt của đương sự như quan niệm của quốc gia sở tại. Tuy nhiên, do chế độ chính trị – xã hội, trình độ phát triển, phong tục,

tập quán, truyền thống … ở các quốc gia khác nhau, cho nên có những vụ việc ở quốc gia này coi là tội phạm (hình sự) song ở quốc gia khác lại coi là quan hệ dân sự (ví dụ: quan hệ về mua bán vũ khí quân dụng). Nói cách khác, phạm vi của các quan hệ dân sự ở các quốc gia rộng hay hẹp là khác nhau. Điều này dẫn đến bản án, quyết định dân sự của Tòaán nước ngoài cầnđược hiểu làbản án, quyết định “dân sự” theo pháp luật của quốc gia nơi bản án, quyết định cần được công nhận và cho thi hành chứ không phải theo pháp luật của quốc gia nơi có Tòa án ban hành bản án, quyết định đó.

Khi xem xét một bản án, quyết định của nước ngoài có phải là bản án, quyết định “dân sự” hay không đểcông nhận và cho thi hành tại Việt Nam cần phải căncứvào quyđịnh của pháp luật Việt Nam. Theo quy định tại Điều 1 BLTTDS 2004/2011 thì vụ việc dân sự bao gồm vụ án dân sự và việc dân sự trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và giađình, kinh doanh, thương mại, lao động. Và theo quy định tại khoản 2 Điều 405 BLTTDS 2004/2011 thì vụ việc dân sựcó yếu tố nướcngoài là vụ việc dân sựtheo quyđịnh tạiĐiều 1 BLTTDS 2004/2011 nhưng có thêm yếu tố nước ngoài. Các quyđịnh trên cho thấy nội dung điều chỉnh của BLTTDS 2004/2011 đối với vụ việc dân sựcó yếu tố nước ngoài phát sinh từ quan hệ dân sựcó yếu tốnước ngoài được hiểu theo nghĩa rộng. Nhưvậy, quan hệ dân có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, trong đó có BLTTDS 2004/2011được hiểu theo nghĩa rộng. Việc làm rõ điều này có ýnghĩa quan trọng về mặt lý luận trong quá trình hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sựcủa Tòa án nước ngoài bởilẽ các giải pháp hoàn thiện phải xuất phát từ góc độ xem xét quan hệ dân sự theo nghĩa rộng.

Một vấn đề cần phải xem xét tiếp theo là khi nào được xem là “bản án” dân sự, khi nào được xem là “quyết định” dân sự. Theo quan điểm chung thể hiện trong pháp luật các nước, khi tòa án giải quyết một tranh chấp dân sựgiữa các bên đương sự(chủ yếu là

31

nguyên đơn và bị đơn) thì văn bản cuối cùng giải quyết về nội dung của vụ án dân sự mà tòa án đưa ra được gọi là bản án dân sự, khi tòa án giải quyết một yêu cầu dân sự (không có nguyên đơn và bị đơn mà chỉ có người yêu cầu), văn bản cuối cùng về nội dung của việc dân sựmà Tòa án nước ngoài đưa ra được gọi là quyết định dân sự. Dĩ nhiên, sựphân chia này chỉ có ý nghĩa tương đối và là kết quả giải quyết cuối cùng của từng trường hợp cụ thể vì cũng có nhiều trường hợp tòa án giải quyết một tranh chấp dân sựnhưng không ban hành bản án mà ban hành quyết định như quyết định đình chỉ vụ án, quyết định công nhận sựthỏa thuận của các đương sự, … Như vậy, xem xét ởgóc độ pháp luật về công nhận và cho thi hành, có thể hiểu bản án dân sựcủa Tòa án nước ngoài là bản ánđược tuyên ngoài lãnh thổ của nước nơi nhận được yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án đó,là kết quả của quá trình giải quyết một tranh chấp dânsựtại Tòa ánnước ngoài; Quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là quyếtđịnhđược tuyên ngoài lãnh thổnước nơi nhận được yêu cầu công nhận và cho thi hành, có nội dung công nhận kết quả thỏa thuận của các đương sự về một tranh chấp dân sự hoặc quyết định giải quyết một yêu cầu dân sự hoặc là phần quyết định về tài sản trong bản án hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài.

Tóm lại, từ những cơ sở lý luận đã phân tích có thể định nghĩa:Bảnán, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là bản án, quyết định dân sự không được tuyên bởi Tòa án của nước nơi nhậnđược yêu cầucông nhận và cho thi hành.Đối với ViệtNam, bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là bản án, quyết định dân sự được tuyên bởi Tòaán nước ngoài.

Bên cạnh đó, về mặt lý luận, liên quan đến khái niệm cơ quan có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự của nước ngoài, cần lưu ý có 2 loại phạm vi công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của nước ngoài [45]:

– Phạm vi công nhận và cho thi hành hẹp: Chỉ công nhận bản án, quyết định dân sựcủa Tòaán nướcngoài ban hành. Pháp luật những nước tiêu biểu áp dụng cách quy định này là: Liên bang Nga (Điều 409 Bộ Luật TTDS 2003) [57, tr. 253], CHND Trung Hoa (Điều 267, Điều 268 Luật TTDS ngày 09/4/1991) [31, tr. 198], Hoa Kỳ (Luật thống nhất

về thi hành phán quyết nước ngoài năm 1948) [145], CHDCND Lào [61], … Khoản 2 Điều 409 Bộ Luật TTDS Liên bang Nga năm 2003 quy định: “Bản án, quyết định của Tòaán nước ngoài là bản án, quyết định về vụ việc dân sự, trừ tranh chấp kinh tế và những vụ

32

việc khác liên quan đến hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động kinh tế khác, và phần quyếtđịnh trong bản án kết tội về bồi thường thiệt hại gây ra do hành vi phạm tội” sẽ được công nhận và cho thi hành tại Liên bang Nga [57, tr. 253].

BLTTDS 2004/2011 (Điều 342) quy định công nhận và cho thi hành theo phạm vi hẹp, chỉ công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính và bản án, quyết định khác của Tòa án củanước ngoài ban hành. Một số Hiệp định TTTP giữa Việt Nam với các nước như: Hiệp định TTTP giữa Việt Nam với CHND Trung Hoa năm 1999 (Điều 15), Hiệp định TTTP giữa Việt NamvớiCHDCND Lào năm 1999 (Điều 44), Hiệp định TTTP giữa Việt Nam với CHDCND Triều Tiên năm 2002 (Điều 30), … cũng quy định tương tự. Khoản 2 Điều 15 Hiệp định TTTP giữa Việt Nam với CHND Trung Hoa năm 1999 quy định: “Các quyếtđịnh củaTòa án nói trong hiệp định này ở Cộng hòa XHCN Việt Nam bao gồm:Bảnán, quyết định, biên bản hòa giải của Tòa án” [49, tr. 347].

– Phạm vi công nhận và cho thi hành rộng: Bên cạnh công nhận và cho thi hành bản án, quyếtđịnhdânsựcủaTòa án nướcngoài còn công nhận và cho thi hành các quyếtđịnh củamộtsốcơ quan khác không phải là tòa án ban hành như quyết định của các cơquan hành chính, tư pháp … Cách quy định này được áp dụng tại mộtsố công ước quốc tếtiêu biểu. Công ướcLa Haye ngày 01/02/1971 về việc công nhận và cho thi hành phán quyết của nước ngoài về các vấn đề dân sự và thương mại (Convention on the Recognition and Enforcement of Foreign Judgments in Civil and Commercial Matters dated 01/02/1971) tại Điều 2 quy định về phán quyết của nước ngoài được công nhận và cho thi hành như sau: “Công ước này được áp dụng cho tất cả các phán quyết được ban hành bởi cơ quan có thẩm quyền củamột quốc gia là thành viên công ước, không phụthuộc vào tên gọi của cơ quan ban hành ra phán quyết hoặc tên gọi của phán quyết nhưbản án, quyết định, án lệnh”[126], Điều 25 Công ước Brussels ngày 27/12/1968 [118], Điều 25 Công ước Lugano ngày 16/12/1988 [134], Điều 32 Quy tắc Brussels 2001 [121],

… đều quy định tương tự. Pháp luật một số nước áp dụng như: Pháp [29, tr. 181], CH liên bang Đức (Điều 328 Bộ Luật TTDS năm 1877) [85], Nhật Bản (Điều 24 Luật Thi hành án dân sự năm 1979, sửa đổi, bổ sung năm 2003) [142], Bỉ (khoản 3 Điều 22 Luật Tư pháp quốc tế ngày 16/7/2004) [139], Italia (Điều 64 Luật Tư pháp quốc tế ngày 31/5/1995)

[146], Australia(Điều3 Luật liên bang về phán quyết của nước ngoài năm 1991 của

33

Australia) [138], … cũng áp dụng cách quy định này. Theo pháp luật của Pháp, ngoài việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài ban hành, các văn bản khác như các quyết định của Tham chính viện của Pháp cũng được xem xét công nhận và cho thi hành [84, tr. 159] hoặc theo pháp luật của Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ailen còn có bản án của Ủy ban phúc thẩm của Thượng nghị viện [96, tr. 242], …

Theomột số Hiệp địnhTTTP mà Việt Nam là thành viên thì phạm vi công nhận vàcho thi hành rộng hơn BLTTDS 2004/2011. Cụ thể: Hiệp định TTTP giữa Việt Nam với Liên bang Nga năm 1999 (Điều51, 52), Hiệp định TTTP giữa Việt Nam với Mông Cổnăm 2000 (Điều 42, Điều 43), HiệpđịnhTTTP giữa Việt Nam với CH Belarut năm 2000 (khoản 2 Điều 56), … Theo đó, ngoài bản án, quyếtđịnhdânsựcủatòa án ban hành còn có các quyết định về những vụ kiện hôn nhân, gia đình không mang tính chất tài sản của các cơ quan khác, không phải là tòa án ban hành, quyết định về các vấn đề dân sự(bao gồm cả lao động) và gia đình không mang tính chất tài sản do cơ quan tư pháp, cơ quan hộ tịch, cũng như cơ quan giám hộ và trợ tá ban hành cũng được xem xét công nhận vàcho thi hành. Tuy nhiên, phạm vi công nhận và cho thi hành theo quy định của các Hiệp định TTTP mà Việt Nam là thành viên vẫn hẹp hơn quyđịnh củapháp luật các nước Pháp, CH liên bang Đức, Italia, Australia, Bỉ, … bởi các Hiệp định TTTP áp dụng phương pháp liệt kê nên vẫn giới hạn được những bản án, quyết định dân sựnước ngoài được công nhận và cho thi hành trong khi pháp luật các nước kể trên thì gần như không có giới hạn cụ thể.

Việc làm rõ khái niệm bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài cũng nhưphạm vi công nhận và cho thi hành có ýnghĩa quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài bởivì đâylà những vấn đề có ý nghĩa quyết định đến phạm vi điều chỉnh của pháp luật. Ngoài ra, khái niệm bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài còn là cơ sở để xây dựng các nội dung khác của pháp luật như nguyên tắc, điều kiện công

nhận và cho thi hành, thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành, …

2.1.2 Khái niệm công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

Là một bộ phận quan trọng của Tư pháp quốc tế, pháp luật các nước về công nhận và cho thi hành bản án quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài có nội dung cơ bản điều

34

chỉnh các vấn đề liên quan đến quá trình công nhận và cho thi hành tại nước sở tại bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài. Chính vì vậy, việc định nghĩa khái niệm công nhận và cho thi hành có ý nghĩa quan trọngcả về mặt lý luậnlẫnthực tiễn. Theođịnh nghĩa trong Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì “công nhận và cho thi hành” bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam là việc thừa nhận và cho phép thi hành tại Việt Nambảnán, quyết địnhvề dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định về hình sự, hành chính củaTòa án nước ngoài theo những nguyên tắc và trình tự pháp lý nhất định [94, tr. 177]. Định nghĩa này dù đã nêu được nội hàm củakhái niệm nhưng chưa làm rõđược sựkhác biệt giữa thuật ngữ“công nhận” và thuật ngữ „cho thi hành” vì hai thuật ngữ này không tương đồng với nhau.

Theo các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố thì: “Công nhận là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thừa nhận bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật; còn cho thi hành được hiểu là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm cho quyết định, bản án đó được thực thi trênthực tế”. Do vậy, “công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự củaTòa án nướcngoài là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của một quốc gia thừa nhận giá trị (hiệu lực) pháp lý của bản án, quyếtđịnh dân sự của một quốc gia khác và làm cho bản án, quyếtđịnh dân sựđó có hiệu lực cưỡng chế thi hành trên thực tế trên lãnh thổ quốc gia đó” [108, tr. 9]. Định nghĩa này đã tách bạch và làm rõ được sự khác biệt giữa hai thuật ngữ “công nhận” và “cho thi hành”. Theođó, hành vi công nhận có ý nghĩa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của một quốc gia thừa nhận trên thực tế một bản án, quyết định dânsựcủa Tòa án nước ngoài. Hành vi cho thi hành có ý nghĩa trao hiệu lực bắt buộc thi hành trên thực tế cho bản án, quyết định dân sựđó. Một số công trình nghiên cứu tại Việt Nam cũng có cách định nghĩa khái niệm công nhận và cho thi hành theo hướng này [72]. Trên thực tế, nhưđã phân tích tại Mục 2.1, nhóm tiểu mục 2.1.1, những bản án, quyết định dân sựcủanước ngoài không có tính chất tài sản chỉ phát sinh yêu cầu công nhận còn những bản án, quyết định dân sựcủa nước ngoài có tính chất tài sản thường phát sinh yêu cầu thi hành nghĩa là trước tiên phải tiến hành yêu cầu công nhận và cho thi hành. Từsựphân tích này có thể thấy hành vi công nhận và hành vi cho thi hành về bản chất là khác nhau.

Pháp luật các nước đều có sự phân biệt giữa hành vi “công nhận” và hành vi “cho thi hành”. Khoản 3 Điều 22 Luật Tư pháp quốc tế của Bỉ quy định: “Công nhận là việc trao

35

hiệu lựcpháp lý cho phán quyết của cơ quan tài phánnước ngoài” [139]. Theo định nghĩa này, hành vi công nhậnđồngnghĩavớihành vi trao cho phán quyết của nước ngoài hiệu lực pháp lý như phán quyết của cơ quan tài phán của Bỉ. Như vậy, sau khi đã được công nhận, phán quyết của cơ quan tài phán nước ngoài, về mặt pháp lý, sẽ ở vị trí ngang hàng với phán quyết của cơ quan tài phán trong nước. Pháp luật Việt Nam hiện hành cũng có sựphân biệt giữa “công nhận” và “cho thi hành”. Điều này thể hiện qua các quy định

của Chương XXVII BLTTDS 2004/2011 (Điều 350 – Điều 359) về “Thủ tục xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dânsựcủa Tòa án nước

ngoài” và các quy định của Chương XVIII BLTTDS 2004/2011 (Điều 360 – Điều 363) về“Thủ tục xét đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dânsựcủa Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam”. Mặc dù còn nhiều hạn chế liên quan đến các thủ tục này nhưng rõ ràng pháp luậtđã có sựphân biệt giữa yêu cầu “công nhận vàcho thi hành” với yêu cầu “không công nhận” bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.

Từcác phân tích trên có thể định nghĩa: Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là việc Tòa án Việt Nam thừa nhận trên thực tế bản án, quyết định dânsự của Tòa án nước ngoài và trao hiệu lựcbắt buộc thi hành cho bản án, quyết định này tại Việt Nam.

Bên cạnh việc xem xét khái niệm “công nhận và cho thi hành”bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài cần phân biệt khái niệm này với khái niệm “thi hành” bảnán, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài. Xemxét dưới góc độlà các hoạt động cụthể của quá trình tố tụng thì nội hàm của hai thuật ngữ này là khác nhau. Thuật ngữ “công nhận và cho thi hành” được giới hạn bởi hoạt động của cơ quan có thẩm quyền mà cụ thểlà Tòa án nước sở tại nhận được yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định nước ngoài trong việc công nhận hiệu lực pháp lý của bản án, quyết định nước ngoài và tuyên bốbảnán, quyếtđịnh đó đượcthi hànhtại nướcsởtại như các bản án, quyết định trong nước.Tuy nhiên, bản án, quyết định đó sau khi đượccông nhận và cho thi hành muốn tổ chức thi hành trên thực tế phải trãi qua những thủ tục khác, thường được tiến hành bởi cơ quan thi hành án. Quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định đó trên thực

tế được gọi là quá trình “thi hành” bản án, quyết định dânsựcủanước ngoài. Như vậy, xét ở góc độ hoạt động cụ thể của quá trình tố tụng dân sự, hoạt động “thi hành” chính là

36

hoạt động của cơ quan thi hành án tổ chức thi hành bản án, quyết định trên thực tế; Nếu xét ở góc độ văn bản pháp luậtđiềuchỉnh, hoạt động“côngnhận và cho thihành”thườngđược điều chỉnh bởi Bộ Luật TTDS, còn hoạt động “thi hành” phải bao gồmcả sựđiều chỉnh củađạoluật về thi hành án dân sự (thường làmộtvăn bản pháp luậtđộc lập với Bộ Luật TTDS). Theo quyđịnh củapháp luật Việt Nam hoạt động “công nhận và cho thi hành” được điều chỉnh bởi BLTTDS 2004/2011, còn hoạt động “thi hành”được điều chỉnh bởi Luật Thi hành án dân sựnăm 2008 (những điều khoản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định như Điều 2, Điều 4, Điều 6, …).

2.1.3Đặc điểm của pháp luật vềcông nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

Về mặt lý luận, pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyếtđịnh dân sựcủa Tòa án nước ngoài là một nội dung của pháp luật tố tụng dân sự nên có cảđặc điểmcủa pháp luật tố tụng dân sự. Bên cạnh đó, pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nambảnán, quyết định dân sựcủa Tòa án nước ngoài còn có những đặc điểm riêng như sau:

– Việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dânsựnước ngoài chỉ được đặt ra sau khi bản án, quyếtđịnh dân sựđó đãcó hiệu lực pháp luật. Đặcđiểm này thể hiện cụ thể tại khoản 1 Điều 356 BLTTDS 2004/2011: Những bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam nếu “Bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định đó”.Trong pháp luật của nhiều quốc gia đặcđiểm này cũng được thể hiện như là một điều kiện bắt buộc để xem xét công nhận và cho thi hành một bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài. Khoản 1 Điều 25 Luật Tưpháp quốc tế ngày 18/12/1987 của Liên bang Thụy Sĩ quy định: Một phán quyết của nước ngoài sẽ được công nhận tại Thụy Sĩ nếu “Không có đơn kháng cáo hoặc phán quyếtđólà chung thẩm”[144]; Khoản 3 Điều 117 Luật Tư pháp quốc tế ngày 04/5/2005 của Bulgaria [141]; Khoản 1 Điều 22 Luật Tư pháp quốc tế ngày 16/7/2004 của Bỉ cũng quyđịnh tươngtự[139]. Theo quy địnhcủapháp luật Việt Nam hiện hành việc xác định một bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài đã phát sinh hiệu lực pháp luật hay chưa phải căn cứ vào quy định của pháp luật nước có Tòa án đã ban hành ra bản án, quyết địnhđó.Thậm chí trong một số trường hợp bản án, quyết định đãcó hiệu lực pháp luật theo

37

pháp luật của nước có Tòa án ban hành bản án, quyết định đó nhưng bản án, quyết định này vẫn không được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Theo khoản 3 Điều 356 BLTTDS 2004/2011: Nhữngbảnán, quyết định dânsựcủaTòa án nước ngoài khôngđược công nhận và cho thi hành tại Việt Nam nếu “Vụán thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của Tòa án Việt Nam”.

– Việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không chỉ đặt ra khi bên phải thi hành bản án, quyết định dân sựkhông tựnguyện thi hành và có yêu cầu công nhận và cho thi hành của bên được thi hành mà cònđặt ra cả trong trường hợp đương sự (có thể là bên được thi hành hoặc bên phải thi hành) có yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự đó thì Tòa án nhận được yêu cầu vẫn can thiệp để xem xét quyết định công nhận hay không công nhận. Đặc điểm này được thể hiện cụ thể từĐiều 360 đến Điều 363 BLTTDS 2004/2011. Như vậy, trong mọi trường hợp, dù đương sự yêu cầu là người phải thi hành hay được thi hành bản án, quyếtđịnh dân sựnước ngoài thì đềunhận được sựtrợ giúp của Tòa án có thẩm quyền. Đặcđiểm này thể hiện sự khác biệt cơ bản so với pháp luật tố tụng dân sự quốc gia cũng nhưpháp luật về thi hành án dân sự trong nước. Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tốtụng tụng dân sự là đươngsựcó quyền yêu cầu vàngườiđưa ra yêucầu(nguyên đơn) là người có nghĩa vụ chứng minh chứ người bị khởi kiện (bị đơn) không có nghĩa vụchứng minh. Tương tự, so sánh với quy định của pháp luật về thi hành án dân sự chúng ta thấy quyền yêu cầu cưỡng chế thi hành án bản án, quyết định dân sự chỉ được quy định cho bên được thi hành mà không quy định cho bên phải thi hành án.

– Các quyđịnh pháp luật điềuchỉnh việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dânsựcủa Tòa án nước ngoài chứa đựng trong các văn bản pháp luật trong nước và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp giữa Việt Nam và nước liên quan chưa cóđiềuước quốctế thì việc công nhận và cho thi hành

tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài phải hoàn toàn căncứvào văn bản pháp luật trong nước. Hiện nay, cácđiều ước quốc tếmà Việt Nam là thành viên trong lĩnh vực này chủ yếulà các Hiệp định TTTP song phương và nội dung các Hiệpđịnhchỉ đưa ra những quy định chung đối với việc công nhận và cho thi hành còn những quy định cụ thể, đặc biệt là quy định về thủ tục công nhận và cho thi hành, lại chứa đựng trong văn bản pháp luật trong nước (chủ yếulà BLTTDS 2004/2011, Luật TTTP 2007,

38

Luật Thi hành án dân sự2008 và một số văn bản pháp luật khác có liên quan). Ví dụ:

khoản 1 Đ iều 18 Hiệp định TTTP giữa Việt Nam vàAngieri năm 2010 quyđịnh:

“Thủ tục công nhận và cho thi hành bản án, quyếtđịnhđược thực hiện theo pháp luật hiện hành của Bên được yêu cầu” [52]. Theo quy định này, thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam một bản án, quyết định của Angieri phải được xác định theo pháp luật Việt Nam vì trong Hiệp định TTTP giữa Việt Nam vàAngieri không quy định.

– Bản án, quyết định dân sựcủaTòa án nước ngoài nếu được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam thì có giá trị chứng cứ và chứng minh tại Việt Nam. Đây làvấn đềrất quan trọng liên quan đến giá trị pháp lý của bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài sau khi đã được cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia công nhận giá trị pháp lývà cho thi hành trên thực tế. Như vậy, ngoài giá trị pháp lý và khả năng yêu cầu cưỡng chế thi hành trên thực tế, bản án, quyết địnhdân sựcủaTòa án nước ngoài còn cóthểđược sử dụng trong các vụ án dân sự khác diễn ra tại Tòa án Việt Nam với giá trị là chứng cứkhông cần phải chứng minh. Đây là một yêu cầu rất quan trọng trên thực tiễn bởi cónhiều trường hợp chủ thể nước ngoài thực hiện thủ tục yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyếtđịnhcủaTòa án không trực tiếp nhằm vào việc tổ chức thi hành bảnán, quyết định đó trênthực tế mà để sửdụng làm chứng cứ theo đuổi một vụ kiện khác quan trọng hơn hoặc sửdụng để giải quyết những vấn đề khác cần có bản án, quyết định này với vai trò là chứng cứ chứng minh.Đặc điểm này được thể hiện cụ thể tại điểm b khoản 1 Điều 80 BLTTDS 2004/2011: Những tình tiết, sựkiện không phải chứng minh là“Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong các bản án, quyết định của Tòa ánđã cóhiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật”. Và theo khoản 1 Điều 375 BLTTDS 2004/2011 thì bản án, quyết định đã cóhiệu lực pháp luật là: “Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài … đã có quyếtđịnh có hiệu lực pháp luật của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam”. – Văn bản pháp luật trong nước của Việt Nam chỉ quy định việc công nhận và cho

thi hành bản án, quyếtđịnh dânsựdo Tòa án nước ngoài ban hành. Đặc điểm này xuất phát từ quy định phạm vi công nhận và cho thi hành hẹp của BLTTDS 2004/2011. Điều này dẫn đến những quyết định giải quyết cácvấn đề dân sựcó nhu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam nhưng không do Tòa án nước ngoài ban hành sẽ không được công nhận và cho thi hành ở Việt Nam (ngoại trừ một số hiệp định TTTP mà Việt Nam là thành

39

viên có quy định phạm vi công nhận và cho thi hành rộng hơn BLTTDS 2004/2011). Đây cũng là điểm khác biệt của pháp luật Việt Nam so với các điều ước quốc tế tiêu biểu cũng như pháp luật một số quốc gia điển hình.

2.1.4 Ý nghĩa của việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

Về phương diện chính trị – ngoại giao: Việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dânsựcủa Tòa án nước ngoài sẽ góp phần thúc đẩy quan hệ hữu nghịhợp tác giữa Việt Nam với các nước. Trong thời đại toàncầuhóa, mối quan hệ giữa các quốc gia đã và cần phải được thiết lập trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực tưpháp. Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án các nước với nhau thể hiện thái độ thiện chí của các quốc gia trong quan hệ với nhaubởi lẽ để bản án, quyếtđịnh của nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại một nước thì pháp luật của nước đó cũng như hàng loạt các cơ quan, các cơ chế khác có liên quan phải tạo điều kiện hỗ trợ. Điều này xuất phát từ nguyên nhân công nhận và cho thi hành là một thủ tụctố tụng đặc biệt do Tòa án quốc gia nơi nhậnđược yêu cầu tiếnhành nên mọi vấn đề có liên quan đều do ý chí chủ quancủaquốc gia đó chi phối. Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyếtđịnh của Tòa án nước ngoài còn tạo điều kiện thúc đẩyquan hệ trao đổi, phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền của hai nước có liên quan bởi lẽ trong quá trình giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành một bản án, quyết định đòi hỏi có nhiều nội dung mà các quốc gia phải phốihợpvới nhau mới có thể giải quyết được. Quá trình phốihợpvới nhau sẽ thúc đẩy sự hợp tác toàn diện giữa các quốc gia với nhau, sự tương đồng quan điểm với nhau trong lĩnh vực tư pháp và mở rộng ra các lĩnh vực khác bởi lẽ việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án là một trong những hành động thể hiện thái độ của quốc gia đó đối với bên ngoài. Điều này thể hiện trên thực tế những quốc gia hợp tác chặt chẽ với nhau trong vấn đề công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án thường là những quốc gia có mối quan hệ gần gũi với nhau trong mọi lĩnh vực hoặc là đối tác chiến lược của nhau. Đối với Việt Nam việc công nhận và cho thi hành bản án, quyếtđịnh của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam còn góp phần thực hiện chủ trương của Nhànước ta là thiết lập quan hệ hợp tác hữu nghị với tất cả các nước trên thế giới trên nguyên

tắc đôi bên đều có lợi. Việc công nhận và cho thi hành bảnán, quyết địnhcủa Tòa án

40

nước ngoài trong cácđiều kiệnhợplý là phù hợp với xuhướngvăn minh tiến bộ trênthếgiới hiện nay. Chính vì vậy, chính sách đó sẽ được ủng hộ rộng rãi trên thế giới.

Việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dânsựcủa Tòa án nước ngoài còn góp phần quan trọng thúc đẩy giao lưu dânsựquốc tế giữa Việt Nam với các nước bởi những lợi ích của việc công nhận và cho thi hành mang lại. Trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền, các quốc gia hoàn toànở vịtrí ngang nhau trong việc thiết lập mối quan hệ giao lưu quốc tế trên mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sựcủa nhau. Điều này có nghĩa là một nước chỉ xem xét công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án một nước khác khi nước đó cũngđặt vấn đề xem xét việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án nước mình. Thậm chí, các quốc gia còn quyđịnh cụ thể trong các điều ước quốc tếsong phương (thường là các Hiệp định TTTP) các loại bản án, quyết định, điều kiện cụ thể đểbản án, quyết định được công nhận trên nguyên tắc bình đẳng, có đi có lại. Như vậy, việc Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi cho việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam chính là góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án Việt Nam ở nước ngoài. Điều này sẽ mang lại lợi ích cho cả hai bên liên quan.

Về phương diện kinh tế: Việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyếtđịnh dân sựcủa Tòa án nước ngoài sẽ góp phần bảo vệ lợi ích kinh tế chính đáng củađương sựtrong các vụ án dân sự, bao gồm cả đương sự là công dân hoặc pháp nhân Việt Nam. Trước hết, công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài sẽ bảo vệ lợi íchcủa bên đượcthi hành (nói cách khác là bên thắng kiện hoặc bên có yêu cầu thi hành bản án, quyết định) bởi lẽ họ đã theo đuổi vụ việc dân sự tại Tòa án nước ngoài, đã thực hiện mọi yêu cầu cũng nhưđáp ứng mọiđiều kiện theo quy định của pháp luật nơi bảnán, quyết địnhđược ban hành. Vấn đề phát sinh sau cùng là bản án, quyết định này lại không thi hành ở quốc gia nơi tuyên ra mà phải thi hành ở một quốc gia khác. Như vậy, nếu như bản án, quyết định không được công nhận thì xem như mọi công sức và chi phí mà họ bỏ ra không có tác dụng gì. Nếu mọi bản án, quyết định do Tòa án nước ngoài tuyên đều không được thi hành trên thực tế sẽ tạo điều kiện cho hiện tượng vi phạm pháp luật, trốn tránh nghĩa vụ của những chủ thể phải thi hành án. Bên cạnh đó, nếu việc công nhận và cho thi hànhbảnán, quyết định dânsựcủaTòa án nước ngoài là chính

41

đáng và cần thiết để bảo vệ lợi ích của người được thi hành thì rõ ràng việc từ chối công nhận và cho thi hành sẽ làm tổn hại đến lợi ích cần được bảo vệ của họ. Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài còn góp phần bảo vệ lợi ích của cả bên phải thi hành bản án, quyết định đó bởi lẽ nếu như yêu cầu công nhận vàcho thi hành một bản án, quyết định củaTòa án nước ngoài là không chính đáng hoặc không đáp ứng những điều kiện do pháp luật quốc gia nơi nhận được yêu cầu quy định thì yêu cầu đó sẽ không được chấp nhận. Điều này đồng nghĩa với việc bản án, quyết định sẽ không được thi hành và như vậy, bên phải thi hành không chịu sự ràng buộc đối với nội dung của bản án, quyết định và có cơ hội khởi kiện lại tại quốc gia nơi bản án, quyết định có yêu cầu thi hành để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài sẽgóp phầnhạnchế chi phí tư pháp của Việt Nam cũng như chi phí củacác bên tranh chấp. Quá trình tố tụng của tòa án bất cứ quốc gia nào cũng sẽ kéo theo những tốn kém về thời gian, chi phí và công sức của các bên tham gia vụ kiện cũng như của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chính vì vậy, nếu bản án, quyết định củaTòa án nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại nơi cần được thi hành đồng nghĩa với việc các bên phải tiến hành khởi kiện lại tại Tòa án quốc gia đó.Điều này sẽdẫn đến thời gian tiến hành tố tụng kéo dài, tăng chi phí cho các bên, thêm công việc cho tòa án của nước được yêu cầu công nhận. Điều này cũng sẽ làm cho vấn đềtrởnên phức tạp cũng như gia tăng mức độ đối kháng giữa các bên tham gia tranh chấp vốn là một trong những hạn chế của phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án và hơn thế nữa, vụ việc không có cơ hội kết thúc tại thời điểm mà lẽ ra nó đã phải kết thúc. Như vậy, việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài sẽ góp phần rất quan trọng trong việc giảm bớt chi phí, thời gian, công sức cho tất cả các bên liên quan, giảm công việc giải quyết cho Tòa án Việt Nam và quan trọng nhất, tạo cơ hội để vụ tranh chấpđược kết thúc, tránh tình trạng bên phải thi hành tìm cách kéo dài thời gian giải quyết vụ việc, trốn tránh việc thi hành nghĩa vụ, gây thiệt hại cho lợi ích hợp pháp của bên còn lại cũng nhưlàm phức tạp thêm vụ việc tranh chấp.

Về phương diện pháp luật: Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sựcủa Tòa án nước ngoài sẽ góp phần tăng cường tính ổn định và dự đoánđược củamôi trường pháp lý Việt Nam. Một hệ thống pháp luật ổn định, ít thay đổi sẽ giúp cho

42

các chủ thể chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật đó có thể dự đoán được những hậu quả pháp lý từhành vi thực hiện trên thực tế của mình. Đặc biệt trong quan hệ đầu tư, kinh doanh thì yêu cầu về tính ổn định của hệ thống pháp luật càng trở nên quan trọng bởi

lẽ quan hệ kinhtế làquan hệ dễ bị tổn thương nhất do các thay đổi của pháp luật gây ra. Chính vì vậy, trong quá trình kinh doanh, điều mà các nhà đầu tư quan tâm nhất là làm sao bảo vệ được lợi ích của mình khi nó bị xâm hại. Chỉ khi trả lời được câu hỏi này hoặc tìm ra được cơ chế bảo vệ hữu hiệu các lợi ích chính đáng của mình thì nhà đầu tư mới mạnh dạn ký kết các hợp đồng, thiết lập các quan hệ đầu tư, kinh doanh. Một hệ thống pháp luật quốc gia với các quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài chặt chẽ, ổn định sẽ góp phần quan trọng trọng trong việc hình thành một môi trường pháp lý ổn định và dựđoánđược. Bởilẽnhà đầu tư đã nhìn thấytrướcđược khả năng bảo vệ một cách hữu hiệu lợi ích của mình nếu có xảy ra tranh chấp cho dù vụ tranh chấp được giải quyết tại Tòa án của nước nào. Điều này càng có ý nghĩa quan trọng hơn khi Việt Nam đang trong giai đoạn tăng cường hội nhập quốc tế. Việc hoàn thiện cơ chế công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài sẽ làmột trong những yếu tố then chốt quyết định mức độ gia nhập vào các hoạt động kinh tế mang tính chất toàn cầu của Việt Nam cũng như nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

2.2 Nguồn luật điều chỉnh vấn đề công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bảnán, quyết định dân sự của Tòa án nƣớc ngoài

2.2.1 Nguồn vănbảnpháp luật trong nước điều chỉnhvấnđềcông nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

Văn bản pháp luật trong nước đóng vai trò cơ bản trong việc điều chỉnh vấn đề công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài. Việt Nam là một trong những nước không ban hành đạo luật riêng về Tư pháp quốc tế mà đặt các quy phạm của Tư pháp quốctế trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Chính vìvậy, quá trình phát triển của pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sựcủa Tòa án nước ngoài gắn liền với quá trình phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam. Đặc biệt, quá trình này gắn liền với quá trình hoàn thiện các văn bản pháp luật trong lĩnh vực tố tụng dân sự của Việt Nam bởi lẽ công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là một chế định thuộc về luật

43

tố tụng dân sự. Chính vì vậy, việc ban hành các văn bản pháp luật tố tụng dân sự là những cột mốc quan trọng của quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về công nhận vàcho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sựcủaTòa án nước ngoài trong đó việc ban hành BLTTDS 2004/2011 là một cột mốc quan trọng. Xét theo tiêu chí này pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyếtđịnhdânsựcủa Tòa ánnước ngoài có hai giai đoạn phát triển quan trọng:

Giai đoạn trước khi ban hành BLTTDS 2004/2011

Văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam có nội dung quy định liên quan đến việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là Thông tưsố 11/TATC ngày 12/7/1974 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn đề vềnguyên tắc và thủ tục trong việc giải quyết những việc ly hôn có yếu tố nước ngoài (Phần IV về vấn đề công nhận và thi hành bản án của Tòa án nước ngoài). Thông tư đã có những quy định về các nguyên tắc công nhận và cho thi hành bản án nước ngoài. Bên cạnh đóThông tư cũng có những quy địnhvềtrình tự, thủ tục tiến hành ủy thác cho đương sựởnước ngoài và thủ tục thi hành quyếtđịnhcủa Tòa án Việt Nam về công nhận và cho thi hành bản án của Tòa án nước ngoài. Tuy nhiên, vì được ban hành trong hoàn cảnh lịch sửđặc biệt của đất nước nên Thông tưđã có nhiều hạn chế, quan trọng nhất là nội dung Thông tư chỉ mới đề cập đến vấn đề công nhận và cho thi hành bản án về vấn đề ly hôn của Tòa án nước ngoài mà chưa có quy định điều chỉnh việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài trong các lĩnh vực khác. Thông tư cũng chưa có quyđịnh nào cho phép cá nhân, tổ chức Việt Nam có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định dân sựcủa Tòa án nước ngoài. Do vậy, trong thời gian này Tòa án Việt Nam chưa có cơ sở pháp lý để giải quyết các đơn yêu cầu không công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.

Trong giai đoạn này Việt Nam cũng đã ký kết một số Hiệp định TTTP với một sốnước XHCN. Để thi hành các Hiệp định TTTP đã ký kết, Nhà nước ta đã ban hành Thông tư liên bộsố139-TT/LB ngày 12/3/1984của Bộ Tưpháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tốicao, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao về việc thi hành các Hiệp định TTTP và pháp lý giữa về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự đã ký kết giữa Việt Nam với Liên Xô và các nước XHCN. Trong Thông tư này đã quy định rõ nhiệm vụ của Tòaán nhân dân tối cao tại điểm 4 Mục II như sau:“Quyết định công nhận và cho thi hành ở

44

nước ta những bản án, quyết định dân sự và biên bản hòa giải của Tòa án các nước ký kết khác, về các vấn đềdân sự, hôn nhân gia đình và laođộng,những quyết định về bồi thường trong các bản án hình sự, những quyết định của các cơ quan có thẩm quyền của các nước ký kết đó giải quyết vấn đề có liên quan đến thừa kế và những quyết định về án phí” [49, tr. 490].

Trên cơ sở các Hiệp định đã ký, ngày 25/3/1993 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tưsố 163/HTQT về việc thực hiện ủy thác tư pháp của Tòa án nước ngoài. Văn bản này tuy không có những quy định trực tiếp điều chỉnh vấn đề công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sựcủa Tòa án nước ngoài nhưng đã có những quyđịnh hướng dẫn cho hoạt động ủythác tư pháp nói chung trong đó có hoạt động ủythác tưpháp liên quanđếnviệc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dânsựcủaTòa án nước ngoài.

Ngày 28/8/1989 Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh thi hành án dân sự, trong đó tại điểm đ Điều 3 Pháp lệnh có quy định bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận thì được thi hành tại Việt Nam theo quyđịnh củaPháp lệnh thi hành án dân sự. Sau đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 26/4/1993 thay thế Pháp lệnh thi hành án dânsựngày 28/8/1989, có hiệu lực thi hànhtừngày 01/6/1993, cũng có những quy định tương tựvềviệc thi hành bản án, quyết định dânsựcủaTòa án nước ngoài. Ngày 17/4/1993 Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dânsựcủaTòa án nước ngoài, có hiệu lực thi hànhtừngày 01/7/1993. Đây làvăn bản quy phạm pháp luật đầu tiên của Việt Nam điều chỉnh riêng vấn đề công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sựcủa Tòa án nước ngoài. Pháp lệnh này đã quy định kháđầyđủ vềcác vấn đềliên quan đến công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài như: các bản án, quyết định nàođược xem là bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; các nguyên tắc công nhận và thi hành; trình tự, thủ tục xét đơn yêu cầu công nhận và thi hành cũng như đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sựcủa Tòa án nước ngoài không có yêu cầuthi hành tại Việt Nam. Bên cạnh đó, Pháp

lệnh còn quy định các vấn đề khác có liên quan như quyền kháng cáo, kháng nghị,về lệphí, về đảm bảo việc chuyển tiền và tài sản thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án

45

nước ngoài ra khỏi Việt Nam, … Để thi hành Pháp lệnh này, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên ngànhsố04/TTLN ngày 24/7/1993 “Hướng dẫn thực hiện một số quy định của Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài”. Văn bản này cùng với Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan tư pháp tiến hành việc công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết địnhdân sựcủa Tòa án nước ngoài cũng nhưkhông công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam. Cũng trong giai đoạn này Quốc hội ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2001, điều chỉnh các vấn đề liên quan quan đến hôn nhân và giađình, trong đó có quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Chương XI (Điều

100 – Điều 106) đã quy định nhiều vấn đề liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình cóyếu tố nước ngoài như kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi cũng như việc công nhận tại Việt Nam bản án, quyết định ly hôn của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của nước ngoài (khoản 4 Điều 104).

Bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp quy định về vấn đề công nhận vàthi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dânsựcủa Tòa án nước ngoài, trong giai đoạn này hàng loạt các văn bản pháp luật có nội dung liên quan đến vấnđề công nhận và thi hành tại Việt Nambảnán, quyết định dân sựcủa Tòa án nước ngoài đã được ban hành như: Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 14/01/2004 thay thế Pháp lệnh thi hành án dân sựngày 26/4/1993; Nghị định số 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí Tòa

án … Các văn bản pháp luật này cùng với những văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp quy định về vấn đề công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòaán nước ngoài bước đầu đã tạo được một chế định pháp luật tương đối rõ ràng và đầy đủ.

Về cơ bản, các văn bản pháp luật ban hành trong giai đoạn này đã bước đầu đáp ứng các yêu cầuvề công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sựcủa Tòa án nước ngoài trên thực tế. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế đặt ra cần phải nghiên cứu khắc phục đối với các quy định cụ thể của các văn bản pháp luật. Hạn chế cơ bản nhất về mặt lập pháp là chưa có một văn bản thống nhất, tập trung, có hiệu lực pháp lý cao để điều chỉnh hoạt động công nhận và cho thi hành. Bên cạnh đó, những quy định cụ thể vẫn còn nhiều hạn chế. Ví dụ: Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định

46

dân sựcủa Tòa án nước ngoài ngày 17/4/1993 của Ủyban thườngvụ Quốc hội chỉ quyđịnh nguyên tắc công nhận và cho thi hành trên cơ sở các điều ước quốc tế mà chưa ghi nhận nguyên tắc có đi, có lại. Tất cả các hạn chế này cần phải được khắc phục trong giaiđoạn tiếp theo để đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tiễn.

Giai đoạn từ khi ban hành BLTTDS 2004/2011

Những hạn chế của các quy định pháp luật về công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sựcủa Tòa án nước ngoài cũng như yêu cầu của tình hình thực tiễn đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết phải nhanh chóng ban hành một văn bản pháp luật mới có hiệu lực pháp lý cao trong hệ thống pháp luật, thống nhất các quy định pháp luậtđang tản mạn trong nhiều văn bản khác nhauvề vấn đề công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài đồng thời nâng cao các quy định cho phù hợp với các cam kết quốc tế, phù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế. Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định trước đây về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dânsựcủaTòa án nước ngoài, ngày 15/6/2004 Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ5 đã thông qua BLTTDS 2004/2011, bắt đầu có hiệu lực từ01/01/2005. Bộ luật nàyđãđược sửa đổi, bổ sung một số điều khoản vào năm 2011. Nội dung Bộ luật đã có những quyđịnh tương đối đầyđủ và có hệ thống về công nhận và cho thi hành bản án, quyếtđịnh dân sự của Tòa án nước ngoài.

Sau khi BLTTDS 2004/2011được ban hành, nhiều văn bản pháp luật có liên quanđến hoạt động công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dânsựcủa Tòaán nước ngoài cũng đãđược sửa đổi, bổ sunghoặc ban hành mới. Cụ thể: Luật Thi hànhán dân sựnăm 2008 thay thế Pháp lệnh thi hành án dân sựngày 26/4/1993; Luật TTTP 2007; Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 thay thế Nghịđịnh số 70/CP ngày

12/6/1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí Tòa án; … Các văn bản pháp luật này đã tạo thành một cơ sở pháp lý tương đốiđầy đủ để giải quyếtvấn đềcông nhận và cho thi hành

tại Việt Nam bản án, quyết định dânsựcủa Tòa án nước ngoài. Cũng trong giai đoạn này, đặc biệt là sau khi Luật TTTP có hiệu lực, trong hai năm 2008 – 2009, công tác đàm phán, ký kết các Hiệp định TTTP nói chung, Hiệp định TTTP trong lĩnh vực dân sự nói riêng cũng đã được đẩy mạnh. Cụ thể: Tiến hành đàm phán Hiệp định TTTP trong linh vưc dân sư giưa Viêt Nam va Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ai -len (đa đam phan vong 1 tại Hà Nội vào cuối năm 2008, đang chuẩn bị các nội dung và thủ tục cần thiết để đàm phán

47

vòng 2); Hiệp định TTTP trong linh vưc dân sư va thương mai giưa Viêt Nam va Han Quôc (đa đam phan vong 1 tại Hà Nội vào tháng 10 năm 2009, vòng 2 vào tháng 5 năm 2013, đang thẩm định để chuẩn bị đàm phán vòng 3); Xúc tiến các công việc chuẩn bị cho quá trình đàm phán Hiệp định TTTP trong linh vưc dân sư va thương mai giữa Việt Nam

và đặc khu Hong Kong – Trung Quốc (đãbắt đầu tiếnhành vào cuối năm 2009). Chuẩn bịtriển khai việc sửa đổi cac Hiệp định TTTP trong linh vưc dân sư va thương mai vơi CH Sec (đã kết thúc đàm phán và ký biên bản ghi nhớ giữa hai đoàn công tác hai nước vào cuối tháng 3/2010), Hunggary. Đang chuẩn bị xúc tiến đàmphán sửa đổi các Hiệp định TTTP với các nước Ba Lan, Xlô-va-kia; đang tiến hành đàm phán Hiệp định TTTP về dân sự và thương mại với Ân Đô , Australia. Trong năm 2010 – 2011, Việt Nam đã ký Hiệp định TTTP trong linh vưc dân sư va thương mai với An -giê-ri, Kazakhstan và ký Thoa thuân tương t rơ tư phap trong linh vưc dân sư giưa Văn phong Kinh tê va Văn hoa Viêt Nam tai Đai Băc va Văn phong Kinh tê va Văn hoa Đai Băc tai Viêt Nam [19]. Đầu năm 2013 đã ký kết Hiệp định TTTP trong linh vưc dân sư va thương mai với Cam puchia và đã hoàn tất các thủ tục nội bộ để triển khai thực hiện Thỏa thuận tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự giữa Văn phòng Kinh tế và Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc và Văn phòng Kinh tê va Văn hoa Đai Băc tai Viêt Nam [22].

Nhìn chung, hệ thống văn bảnpháp luật trong nước đã đạtđượcnhững bước phát triển quan trọng trong việc đáp ứng yêucầucủa tình hình thực tiễn công nhận và cho thi hành các bản án, quyếtđịnh dân sựcủa Tòa án nước ngoài. Tuy nhiên, sau một thời gianáp dụng, những quy định của pháp luật hiện hành đã bộc lộ nhiều hạn chế, không theo kịp yêu cầu của thực tiễn. Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh chóng của kinh tế – xã hội cùng với quá trình hội nhập quốc tế mạnh mẽ của Việt Nam đã làm phát sinh nhiều vấn đề mớiđòi hỏiphải được giải quyết kịp thời. Điều này dẫn đến yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện những quyđịnh của văn bản pháp luật trongnước để góp phần hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các bản án, quyết định dânsựcủa Tòa án nước ngoài.

2.2.2 Nguồn điều ước quốc tế điều chỉnh vấnđề côngnhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI

Hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài Hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài Hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *