Hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Cuộc đời mỗi con người thường phải tham gia các hoạt động lao động bằng việc sử dụng sức lao động (trí óc hoặc chân tay) để tạo ra thu nhập, giá trị vật chất cũng như giá trị tinh thần nhằm phục vụ các nhu cầu của bản thân, gia đình và xã hội. Tuy nhiên, sức lao động của con người không vô hạn cũng như con người luôn phải đối diện với nhiều rủi ro từ cuộc sống như: bệnh tật, tai nạn, thất nghiệp, già yếu,… Khiđó, khả năng lao động của con người bị giảm sút, thậm chí là mất khả năng laođộng nên không thể tạo ra thu nhập hoặc tạo ra thunhập không đủ để đảm bảo cuộc sống của họ. Trong khi đó, con người luôn cần nguồn thu nhập để đảm bảo cuộc sống khi rơi vào những hoàn cảnh tương tự nêu trên. Mặt khác, việc đảm bảo cuộc sống cho người dân, NLĐ trong những giaiđoạnkhó khăn như: đau ốm, thai sản, bệnh nghề

nghiệp, không còn khả năng laođộng,…không còn là nhiệm vụ của riêng bản thân cá nhân, NLĐ mà đó còn là nhiệm vụ quan trọng, hàng đầu của bất kỳ một quốc gia nào trênthếgiới, Việt Nam không là ngoại lệ: “Nhànướcđảmbảovà phát huy

quyền làm chủ của nhân dân,… mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, cóđiều kiện phát triển toàndiện”[88, Đ.3].

Cùng với sự nỗ lực để phát triển nền kinh tế đất nước, ổn định tình hình chính trị – xã hội trong nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: việc đảm bảo ASXH, phát triển chính sách xã hội là nhiệmvụthường xuyên, quan trọng của Đảng.Cụthể, Nghị quyết 15-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đềchính sách xã hội giai đoạn 2012- 2020 khẳng định: “Chính sách xãhội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ”. Thêm vào đó, Nghị quyết 15-NQ/TW còn xác định, việc đảmbảo ASXH khôngchỉlà nhiệmvụcủa Đảng và Nhà nước mà là nhiệm vụcủa cảhệthống chính trị, của toàn xã hội

[03]. Với vai trò góp phần đảm bảo thu nhập tối thiểu cho con người trong hoàn cảnh khó khăn, khủng hoảng hay góp phần chia sẻ rủi ro, thu hẹp khoảng cách về thu nhập

1

giữa các thành viên trong xã hội,… hệ thống ASXH và BHXH nói chung, CĐHT nói riêng góp phần quan trọng vào việcbảovệcuộc sống con người ởtừng giai đoạn, thời kỳ nhất định trong cuộc đời mỗi người.

Bắt đầu bước vào giai đoạn “già hóa” dân số từ năm 2017, tính đến thời điểm tháng 6 năm 2019, tỷlệphụthuộc tuổi già tại Việt Nam là 11,3% [148], dựđoán vào năm 2035 là 21,8% [13]. So với nhiều quốc gia trên thế giới, tốc độ già hóa dân số ở Việt Nam được đánh giá là khá nhanh với thời gian chuyển từ dân số “già hóa” sang dân số “già” được xem là ngắn hơn so với nhiều quốc gia trên thế giới. Cụ thể, để chuyển từ dân số “già hóa” sang dân số “già” thì Pháp mất 115 năm; Hoa Kỳ mất 69 năm; Anh mất 45 năm, Nhật Bản và Trung Quốc mất 27 năm; trong khi đó Việt Nam được dự đoán là mất 20 năm (2017-2037) [123]. Việc già hóa dân số diễn ra

nhanh chóng ở Việt Nam đã có những tác động nhất định đến nền kinh tế, xã hội,… Một trongsố đólà tác động đến việc áp dụng các quy định về CĐHT cũng như ảnh hưởngđến sự cân đối của quỹ hưu trí và tử tuất (thuộc quỹ BHXH) trong thời gianđến. Điều nàyđã được đại diện của ILO khẳng định tại Hội thảo “Đánh giá tài

chính quỹhưu trí ởViệt Nam –Kết quảdựbáo và những khuyến nghị”tổchức ngày 01/8/2012 tại Hà Nội. Ngoài ra, đại diện của ILO còn chỉ ra một số vấn đề tồn tại trong hệ thống pháp luật về CĐHT ở nước ta như: độ tuổi về hưu của Việt Nam còn tương đối sớm, đặc biệt là phụ nữ, đó làchưa kể đến một bộ phận NLĐ được vềhưu trước tuổi quy định; tỷ lệ sinh giảm trong khi tuổi thọ trung bình của người Việt

ngày một tăng,… Những vấn đềnêu trên đều có tác động nhất định đến khảnăng chi trả của quỹ hưu trí.

“Diện bao phủ” – một trong những tiêu chí thể hiện tỷ lệ tham gia BHXH nói chung và CĐHT nói riêng. Nhằm mục đích mởrộng diện bao phủ,mởrộng tỷlệtham gia CĐHT ởnước ta, góp phần đảmbảo ASXH, ngày 29/3/2017, Hội thảo

“Mởrộng diện bao phủbảo hiểm xã hội –Kinh nghiệm quốc tếvà giải pháp cho Việt Nam” được tổ chức tại Hà Nội. Phát biểu tại Hội thảo, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho biết, tính đến hết năm 2016, cảnước có gần 13 triệu NLĐ tham gia BHXH chiếm khoảng 28% trong tổng sốlực lượng lao động tham

2

gia thị trường lao động. Mặc dù, tỷ lệ tham gia BHXH (tương ứng với tỷ lệ tham gia CĐHT) có sự gia tăng qua các năm nhưng nhìn chung, tỷ lệ người tham gia các loại hình CĐHT ở nước ta còn ít, tỷ lệ tham gia BHXH còn thấp, “diện bao phủ” chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của thịtrường lao động cũng nhưtiềm năng phát triển kinh tế – xã hội của nước ta.

Trong khiđó,Nghị quyết 28-NQ/TW ngày 23/5/2018vềcảicách chính sách BHXHcủaBan chấp hành Trung ương khóa XII xácđịnhmụctiêu: phấnđấuđến năm 2021, có khoảng 35% lực lượng laođộngtrong độ tuổi tham gia BHXH, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện chiếm khoảng 01% lực lượng lao động trong độ tuổi [05]. Xuất phát từ thực tiễn cũng nhưmục tiêu tại Nghị quyết 28-NQ/TW, việc mở rộng “diện baophủ”, làmgia tăngtỷ lệtham gia các loại hình CĐHT của người dân là việc làm cấp bách và cần thiết. Ngoài ý nghĩa góp phần quan trọng vào việc đảm bảo thu nhập cho người dân, NLĐ khi đã hếttuổi lao động,việc gia tăng, mởrộng diện baophủtham gia BHXH nói chung, CĐHT nói riêng còn góp phần xây dựng hệ thống ASXHbền vững của đất nước.

Để phápluật về CĐHT có thể phát huy được hết vai trò cũng như được áp dụng rộng rãi và hiệu quả trong xã hội thì việc làm sáng tỏ các vấn đề mang tính lý luận là điều cần thiết. Bởi lẽ, dựa vào nguyên tắc, nội dung của pháp luật về CĐHT thì việc ban hành, hoàn thiện các quy định pháp luật sẽ mang tính khả thi hơn khi áp dụng vào trong cuộc sống. Đã có nhiều công trình nghiên cứu các vấn đề lý luận của pháp luật về CĐHT. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây chỉ xem xét một sốyếutố,nộidungcủaCĐHT trên phương diện, giácđộnghiêncứunộidung của BHXH. Trong khiđó,CĐHT là mộtbộphận quan trọng của hệthống ASXH nói chung và BHXH nói riêng. Do vậy, việc tiếp tục nghiên cứu các vấn đề mang tính lýluận là việc làm cần thiết, trên cơ sở đó nhằm hoàn thiện hệ thống hưu trí toàn diện và hiệu quả; góp phần vào việc xây dựng nền kinh tế Việt Nam phát triển bền vững, an

ninh – chính trị an toàn, xã hội công bằng, văn minh.

Hiện nay, ngoài Luật BHXH năm 2014 – văn bản luật chuyên ngành điều chỉnh chủ yếu về CĐHT ở nước ta thì cũng có nhiều văn bản QPPL hướng dẫn thi

3

hành về CĐHT. Theo đó, hệ thống CĐHT ở nước ta bao gồm: CĐHT theo loại hình BHXH bắt buộc; CĐHT theo loại hình BHXH tự nguyện; Chương trình HTBSTN; và hưu trí niên kim được quy định trong Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Luật Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi năm 2010. Có thểkhẳng định, Nhà nước ta đã rất nỗ lực trong việc ban hành các chính sách cũng như quy định hành lang pháp lývề CĐHT, tạo điều kiện, cơ hội để cá nhân, NLĐ tham gia CĐHT phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình nhằm đảm bảo cuộc sống khi đã hết độ tuổi lao động; góp phần đảm bảo công bằng ASXH. Mặc dù vậy, thực trạng quyđịnhpháp luật cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật về CĐHT ở nước ta còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập; chưa được toàn diện, gây khó khăn cho quá trình thực hiện pháp luật trong cuộc sống.

Do đó, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật hiện hành vàthực tiễn thực hiện pháp luật về CĐHT cũng như đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về CĐHT là việc làm hết sức cần thiết, góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống ASXH bền vững, góp phần vào sự nghiệp phát triển nền kinh tế đất nước,

xây dựng an ninh – chính trị an toàn, xã hội văn minh.

Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam” để nghiên cứu và thực hiện luận án trong chương trình đào tạo tiến sỹ của mình.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng hệ thống lý luận của pháp luật về CĐHT, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về CĐHT ở nước ta. Qua đó, luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về CĐHT ở Việt Nam, góp phần vào việc đảm bảo ASXHởnước ta cũng như công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận án có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề sau:

4

– Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tàiđểrút ra những điểm hợp lý để kế thừa từ các công trình nghiên cứu trước đó; xác định các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu hoặc bổ sung nhằm thực hiện mục đích nghiên cứu đãđặt ra trong luận án.

– Nghiên cứu các vấn đề lý luận của pháp luật về CĐHT như: khái niệm, vai trò, nguyên tắc… Ngoài ra, luận án còn tham khảo, nghiên cứu văn bản pháp lý quốc tế có liên quan đến quyền con người, các khuyến nghị quốc tế liên quan đến CĐHT, tuổi nghỉ hưu; và pháp luật của một số quốc gia xoay quanh pháp luật về CĐHT.

– Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về CĐHT thông qua việc phân tích nội dung cơ bản cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật về CĐHTở nước ta. Trên cơ sở đó, luận án chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế của quy định pháp luậtđã gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật về CĐHT.

– Thông qua việc nghiên cứu vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về CĐHT, luận án đề xuất phương hướng, các giải pháp hoàn thiện pháp luật về CĐHT và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về CĐHT ở Việt Nam.

3. Đối tượngvà phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về CĐHT tại Việt Nam. Ngoài ra, luận án còn nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, các văn kiện quốc tế liên quan đến CĐHTđể rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình xây dựng, ban hành và hoàn thiện pháp luật về CĐHT phù hợp, hiệu quả.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng quyđịnhvềCĐHT theo pháp luật hiện hành ởViệt Nam nhưng chỉxoay quanh trục chính là CĐHT trong hệthống BHXH (theo loại hình BHXH bắt buộc, theo loại hình BHXH tựnguyện và Chương trình HTBSTN) đượcquyđịnh

tạiLuật BHXH năm 2014 cùng các văn bảnhướng dẫn thi hành. Luận án không nghiên cứu các sản phẩm hưu trí thương mại do các công ty bảo hiểm cung cấp theo

5

Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi năm 2010, nếu có thì cũng chỉ dừng lại ở mức độ nhất định.

Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu từ năm 2007 đến nay. Về không gian: Trong phạm vi cả nước.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp luận

Luận án được thực hiện trên cơ sởsửdụng phương pháp luận duy vật biện

chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tưtưởngHồ Chí Minh. Đồng thời, luận án vận dụng các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam vềcải cách hệthống BHXH nói chung, xây dựng hệthống hưu trí đa tầng, linh hoạt nói riêng trong giai đoạn hiện nay.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận ánsửdụng phối kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như: phương pháp hệthống hóa, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích và

tổng hợp; phương pháp trừu tượng hóa, khái quát hóa; phương pháp so sánh luật

học,…. đặc biệt là phương pháp phân tích QPPL. Tùy vào mục đích nghiên cứu của từng chương mà mứcđộ, sựkếthợp giữa các phương pháp nghiên cứu sẽkhác nhau. Cụ thể:

Chương 1: Sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp để đưa ra các đánh giá, nhận định về tình hình nghiên cứu nội dung liên quan đến luận án.

Chương 2: Sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh luật học để xây dựng khái niệm, phân tích các nội dung mang tính lý luận cơ bản của pháp luật về CĐHT.

Chương 3: Sử dụng phương pháp phân tích QPPL; phương pháp so sánh luật học; phương pháp thống kê, lịch sửđểlàm rõ, đánh giá thực trạng quyđịnh pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về CĐHT ở nước ta.

Chương 4: Sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp hệ thống để xácđịnhđịnhhướng hoàn thiện pháp luật;đề xuất cácgiải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về CĐHT tại Việt Nam.

6

5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án có những đóng góp mới về khoa học như sau:

Thứ nhất, luận án hệ thống hóa, bổ sung và làm sâu sắc các vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật về CĐHT. Cụ thể, xác lập khái niệm CĐHT và khái niệm pháp luật về CĐHT; làm rõ vai trò của pháp luật về CĐHT. Đặc biệt, dựa trên các nguyên

tắc và tinh thần chung của pháp luật Việt Nam về ASXH, BHXH, CĐHT, luận án kếthừa vàbổsung một sốnguyên tắc đặc thù của pháp luật vềCĐHT – một nội dung mang tính lý luận quan trọngđượcghi nhận và cụthểhóa xuyên suốt quátrình ban hành, hoàn thiện pháp luật. Ngoài ra, luận án đã xác định một số tiêu chí nhằm đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về CĐHT ở nước ta.

Thứ hai, song song với việc nghiên cứu CĐHT theo loại hình BHXH (bắt buộc và tựnguyện), luận án nghiên cứu có hệthống các vấn đềlý luận, quyđịnh pháp luật về Chương trình HTBSTN – một loại CĐHT mới ở nước ta được quy định trong Luật BHXH năm 2014.

Thứ ba, luận án nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách toàn diện và khách quan hệthống pháp luật vềCĐHT hiện hành; phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về CĐHT ở Việt Nam. Qua đó, làm rõ những thành tựu và hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam về CĐHT.

Thứ tư, luận án xác định phương hướng cũng nhưđề xuất một số giải pháp cụthể nhằm hoàn thiện pháp luật về CĐHT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay trên cơ sở các nguyên tắc và quyền hiến định của các chủ thể có liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án.

6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

– Về mặt lý luận, luận án góp phần bổ sung, phát triển các vấn đề mang tính lýluận của pháp luật vềCĐHT; làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật vềCĐHT ởViệt Nam; cung cấp bổsung luận cứđểđánh giá mức độhoàn thiện pháp luật về CĐHT ở Việt Nam, góp phần vào mục tiêu đảm bảo ASXH, BHXH toàn dân.

7

– Về mặt thực tiễn, luận án góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật về CĐHT ởViệt Nam. Đồng thời, luận án còn là nguồn tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu, học tập và giảng dạycác vấn đề liên quan đến pháp luật về CĐHT nói riêng, pháp luật về ASXH, BHXH nói chung.

7. Cấu trúc của luận án

Ngoài lờimở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụlục, danh mục công trình công bố liên quan đến đề tài, luận án được kết cấu gồm 04 chương.

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết nghiên cứu. Chương 2: Những vấn đề lý luận về chế độ hưu trí, pháp luật về chế độ hưu trí.

Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam.

Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam.

8

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,

CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1. Tình hình nghiên cứu

Việc đánh giá, phân tích các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài sẽ giúp luận án tránh được tình trạng trùng lặp về mặt nội dung. Qua đó, giúp luận án xác định được những điểm mới cần nghiên cứu, cần làm sáng tỏ.

1.1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu vềquyền con người, quyền hưởng an sinh xã hội, quyền hưởng bảo hiểm xã hội

1.1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu pháp luật về chế độ hưu trí, bảo hiểm hưu trí

1.1.1.3. Nhóm công trình nghiên cứu Chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện

1.1.2. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứuvà những nội dung cần nghiên cứu trong luận án

Thứ nhất, từ việc nghiên cứu các công trình về quyền con người, quyền hưởng ASXH, quyền hưởng BHXH [46], [58], [104], [105], [106], [132], bên cạnhviệc kếthừa tinh thần về việc xác định quyền hưởng ASXH nói chung, quyền hưởng BHXH nói riêng thuộc quyền con người, và thuộc nhóm quyền kinh tế – xã hội và văn hóa thì nghiên cứu sinh tiếp tục luận giải, làm rõ quyền hưởng lương hưu, hưởng các quyền lợi từ việc tham gia CĐHTcủacá nhân, NLĐ thông qua việc xácđịnhvà luận giải các quyền này trong các nội dung, vấn đề khác có liên quan của luận án như nguyên tắc, bình luận các quy định và định hướng hoàn thiện pháp luật về CĐHT.

Ngoài ra, khi nghiên cứu nguyên tắc của pháp luật về CĐHT, một số tài liệu đã tiếp cận dướigóc nhìn là nguyên tắc của pháp luật vềBHXH [60], [114]. Do đó, cùng vớiviệc kếthừa, tiếp thu các nội dung liên quanđến nguyên tắc, luận ánsẽluận giải một số nguyên tắc mang tính đặc thù của pháp luật về CĐHT.

Thứ hai, về mặt lý luận, một số công trình, tài liệu đã luận bàn, nghiên cứu vềkhái niệm, vai trò, ý nghĩa của pháp luật về CĐHT. Mặc dù đều thừa nhận pháp luật vềCĐHT làmộtbộphậncủapháp luậtvềBHXH nhưng khi xây dựng khái niệm pháp luật về CĐHT, các tài liệu có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Một số tài liệu xây dựng khái niệm pháp luật về CĐHT trên cơ sở tiếp cận khái niệm của BHXH; các đặc điểm, vai trò của CĐHT giống như của BHXH [53], [60], [69], [114], [115]. Một số

21

tài liệu khác xây dựng khái niệm với tư cách là một chế định pháp luật độc lập [72], [79]. Tuy nhiên, khi phân tích đặc điểm, vai trò của pháp luật về CĐHT theo cách này thì các công trình nghiên cứu này vẫn không tách rời với pháp luật về BHXH. Do đó, nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục nghiên cứu, phát triển, làm sâu sắc hơn khái niệm pháp luật về CĐHT.

Thứba, dưới góc độnghiên cứu pháp luật thực định vềCĐHT, hầu hết các công trình chủ yếu đề cập đến pháp luật về CĐHT dưới góc nhìn chung chung của BHXH (bắt buộc và tựnguyện) với các nộidung: điều kiện tham gia, mức đóng góp, điều kiện hưởng, cách tính lương hưu với số liệu cụ thể ở từng giai đoạn khác nhau [53], [69], [72], [79], [114], [135]. Tuy nhiên, cách tiếp cận của các công trình này là chưa toàn diện hoặc chủ yếu được nghiên cứu trong thời gian trước khi Luật BHXH năm 2014 có hiệu lực thi hành. Do đó, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu các nội dung cơ bản của pháp luật về CĐHT theo quy định pháp luật hiện hành. Mặt khác,

xuất phát từnhiệmvụ,luận án nghiên cứu bổsung Chương trình HTBSTN –một CĐHT được quy định trong Luật BHXH năm 2014.

Thứtư, từnhững vấn đềlý luận và thực tiễn nêu trên, luận án đềxuất định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật vềCĐHT ởnước ta. Ngoài ra, các luận giải, bàn luận của các chuyên gia trong các tài liệu, công trình nghiên cứu nêu trên xoay quanh điều kiện hưởng lương hưu, tuổi nghỉ hưu, việc quản lý, sửdụng quỹ

hưu trí,… cũng được cân nhắc đến tính phù hợp đểđưa vào phần kiến nghị, giải pháp trong Chương 4 để phù hợp với đặc điểm tình hình phát triển kinh tế – xã hội ởnước ta cũng như tương thích với thông lệ pháp luật quốc tế.

1.2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu

1.2.1. Lý thuyết nghiên cứu

– Học thuyết Mác – Lênin và tưtưởngHồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước về xây dựng, hoàn thiện hệthống BHXH nói chung, hệ thống hưu trí nói riêng. Học thuyết này mang tínhđịnh hướng khi tiếp cận, luận giải, giải quyết hayđềxuất các giải pháp có liên quan trong luận án; góp phần vào việc đảm bảo thực hiện quyền con người cũng nhưđảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, NLĐ.

22

– Lý thuyết về quyền con người: mỗi cá nhân, con người khi được sinh ra với tưcách làmộtthành viêncủaxãhộithìđượcthực hiện cácđặcquyềntựnhiên, khách quan và bình đẳng trên cơ sở hệ thống chính sách, pháp luật quốc gia và các thỏa thuận quốctếmà các quốc gia là thành viên hay tham gia ký kết. Dođó,việc tham gia vàđược hưởng lợi từ việc tham gia CĐHT (BHXH) nói riêng, được đảm bảo ASXH nói chung là một quyền con người cụ thể trong hệ thống quyền con người.

– Lý thuyết Maslow về nhu cầu: Trên cơ sở nhìn nhận con người dùở bất kỳgiai đoạn, thời kỳ nào thì cũng cần được đáp ứng các nhu cầu cơ bản để tồn tại vàphát triển, đó là nhu cầu về thể chất, nhu cầu về tình cảm, nhu cầu được tôn trọng,

hoàn thiện và phát triển bản thân,…. Khi NLĐ vềhưu, hoặc không còn khảnăng lao động thì họ cũng cần đáp ứng những nhu cầu nêu trên từ cuộc sống. Do đó, đểđảm bảo cuộc sống, đảm bảo nhu cầu thiết yếu thì tham gia CĐHT được xem là một trong những giải phápđểđáp ứng nhu cầu của con người nói chung, NLĐ, người làm công ăn lương nói riêng.

-HọcthuyếtcủaBismarkvềASXH: Vớicách hiểu BHXH (làtrụcộtcủa hệthống ASXH) được áp dụng bắt buộc đối với NLĐ thông qua việc tham gia đóng góp vào quỹ khi họ còn trong thời gian làm việc, lao động. Do đó, NLĐ được quỹ hưu tríchi trả một khoản thu nhập từ quỹ để đảm bảo an toàn cuộc sống cho họ khi về già.

– Học thuyết của Lord Beveridge về ASXH: Việc đảm bảo ASXH nói chung, CĐHT nói riêng cần hướng tới bao phủtoàn dân. Do đó, nhà nước cần tạođiều kiện, cơ hội như nhau cho mọi người dân tham gia cũng nhưhưởngthụ quyền lợi CĐHT. Ngoài ra, mức chi trả cho đối tượng tham gia CĐHT cần phải tương xứng với mức đóng góp của họ.

Ngoài ra, luận án còn sử dụng lý thuyết về rủi ro và quản lý rủi ro; lý thuyết về chia sẻ trách nhiệm xã hội để thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu nghiên cứu của luận án.

1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Để giải quyết những vấn đề thuộc nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu, luận án đặt ra các câu hỏi nghiên cứu tương ứng với các giả thuyết nghiên cứu sau đây:

– Câu hỏi nghiên cứu 1: Lý luận của pháp luật về CĐHT bao gồm những nội dung cơ bản nào?

Hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam
Hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam

Giả thuyết nghiên cứu 1: Pháp luật về CĐHT là một trong những nội dung quan trọng, nền tảng của hệ thống pháp luật về BHXH không chỉ ở Việt Nam mà tại nhiều quốc gia trên thế giới. Do đó, việc nghiên cứu các vấn đề mang tính lý luận của pháp luật về CĐHT là cần thiết. Tuy nhiên, hiện nay các nội dung mang tính lý luận như: vai trò, nguyên tắc, nội dung của pháp luật về CĐHT ở Việt Nam được xem xét dưới góc độ của BHXH một cách chung chung. Do vậy, để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu,dựkiến luận ánsẽxây dựng khái niệm pháp luậtvềCĐHT. Ngoài ra, luận án còn luận bàn các nguyên tắc, vai trò cũng như xác định các nội dung cơ bản của pháp luật về CĐHT.

– Câu hỏi nghiên cứu 2: Pháp luật về CĐHT hiện hành ở Việt Nam được quyđịnh nhưthếnào? Có những hạn chế, bất cập nào của pháp luật vềCĐHT ởViệt Nam gây khó khăn cho quá trình thực hiện pháp luật không?

Giảthuyết nghiên cứu2: Quyđịnh pháp luật hiện hành vềCĐHT ởnước ta vẫn còn nhiều điểm chưa phù hợp, gây khó khăn trong việc tổ chức thực hiện pháp luật trên thực tế. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến “diện bao phủ” của BHXH nói chung, CĐHT nói riêng còn thấp. Do đó, dự kiến kết quả nghiên cứu làhệthống hóa quyđịnh pháp luật hiện hành vềCĐHT; phân tích và xácđịnh những hạn chế, bất cập của quy định pháp luật; chỉ ra những khó khăn khi áp dụng các quy định pháp luật đó vào trong cuộc sống. Ngoài ra, trong quá trình luận bàn các nội dung, nhiệmvụnghiên cứu, luận án có tham khảo kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia trên thế giới liên quan đến vấn đề có liên quan.

– Câu hỏi nghiên cứu 3: Pháp luật về CĐHT ở Việt Nam có cần phải sửa đổi, bổ sung hay hoàn thiện để đảm bảo quyền con người, quyền hưởng ASXH (BHXH) của người dân không? Việc hoàn thiện pháp luật vềCĐHT ởViệt Namđược xây dựng dựa trên cơ sở nào?

Giả thuyết nghiên cứu 3: Vấn đề đảm bảo để người dân thực hiện quyền con người nói chung, quyền hưởng ASXH (BHXH) nói riêng được Đảng và Nhànước ta quan tâm chú trọng. Do đó, trên cơ sở xác định những bất cập, hạn chế của pháp luật vềCĐHT thì việc sửa đổi,bổsung, hoàn thiện pháp luật vềCĐHT nhằm tạo điều kiện cho người dân thực hiện quyền con người của mình là yêu cầu cấp thiết.

24

Tuy nhiên, hiện nay, ở nước ta vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra các kiến nghị và đềxuất một cách toàn diện, đầyđủvà hợp lý đểsửa đổi, bổsung và hoàn thiện các quyđịnh pháp luật vềCĐHT. Do đó,trên cơ sởxácđịnh cácđịnh hướng hoàn thiện, luận án dự kiến đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về CĐHT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, luận án cònđề cập đến một số giải phápnhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về CĐHT.

25

Kết luận chương 1

Từ việc nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài vàcơ sở lý thuyết nghiên cứu, cho thấy:

1. Đề tài về CĐHTđãnhận được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều tác giảtrong nước, nước ngoài theo nhiều khía cạnh, giácđộkhác nhau; và đượcthểhiện dướinhiều hình thức,cấpđộ:sách chuyên khảo, giáo trình, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, bài báo khoa học,… Tuy nhiên, các công trình trước đó chủ yếu được nghiên cứu dưới giác độ của BHXH nói chung hoặc chỉ nghiên cứu một nội dung, một vấn đề cụ thể xoay quanh pháp luật về CĐHT. Do đó, việc nghiên cứu chuyên sâu, có tính hệ thống và toàn diện cả về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài “Hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam” theo quy định pháp luật hiện hành là cần thiết và đảm bảo tính mới.

2. Trên cơ sởđánh giá kết quảnghiên cứu của các công trình trước đó liên quan đến pháp luật về CĐHT nói riêng và pháp luậtvềASXH (BHXH) nói chung, luận ánđã xác định nhiệmvụnghiên cứulà xây dựng khung lý luận pháp luậtvềCĐHT; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật vềCĐHT ở Việt Nam; đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về CĐHT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

3. Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, luận án sử dụng linh hoạt và phối – kết hợp các phương pháp nghiên cứu phù hợpvới từng nội dung, từng chương khác nhau. Ngoài ra, luận án còn được triển khai thực hiện trên cơ sởlý thuyết với những lý thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu cụ thể.

26

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ, PHÁP LUẬT

VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ

2.1. Lý luận về chế độ hưu trí

2.1.1. Khái niệm chế độ hưu trí

Thông thường, cuộc đời mỗi người đều trải qua các giai đoạn: sinh – lão – bệnh –

tử.Dùởgiaiđoạnnào thì các nhucầuthiếtyếucủacuộc sống như: ăn, mặc, đi lại,

chăm sócsứckhỏe,….luôn hiện hữu,đòihỏicầnđượcđápứngđểduy trìsựsống cũng như để phát triển nhân cách con người. Do vậy, con người cần phải lao động, làm việc để tạo ra các sản phẩm cần thiết hoặc tạo ra thu nhập để đáp ứng các nhu cầu trên. Tuy nhiên, trong cuộc sống, con người có thể gặp nhiều rủi ro, khó khăn từ môi trường

tự nhiên, môi trường xã hội như: ốm đau, bệnh tật, tử tuất, tai nạn, thất nghiệp,…. dẫn đến thu nhập của họ bị giảm sút hoặc mất thu nhập hoàn toàn. Trong hoàn cảnh này, các nhu cầu thiết yếu từ cuộc sống của bản thân họ và gia đình vẫn luôn cần được đápứng. Khi đó, vai trò của ASXH, BHXH được thể hiện với sự hỗ trợ, tương trợ dựa trên tinh thần đoàn kết hoặc dựa trên các khoản trợ cấp từ Chính phủ, nhà nước để giúp con người vượt qua các khó khăn, bất hạnh từ cuộc sống.

Sức khỏe của con người không vô hạn. Đến một thời điểm, giai đoạn nhất định thì sức khỏe con người khôngđược đảm bảo để họ cóthể tham gia các hoạt động lao động, không thể làm việc để tạo ra thu nhập, của cải vật chất. Thay vào đó, con người có thiên hướng nghỉ ngơi, hưởng thụ cuộc sống an nhàn lúc tuổi già. Mặc dùvậy, con người cũng cần có thu nhập đểđảm bảo cuộc sống. Khoản thu nhập này xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau, chẳng hạn: từ tài khoản tiết kiệm cá nhân; từhỗtrợcủa con cháu, các thành viên khác trong gia đình; từhỗtrợcủa nhà nước,

Chính phủ…. Một trong số đó là thu nhập mà con người nhận được do đã tham gia,đóng góp vào các quỹ, chương trình trong thời gian họ còn làm việc, lao động. Tuy nhiên, đểnhậnđược khoản trợcấpnày thì cá nhân, NLĐ phải đápứng điềukiện nhất định về độ tuổi vàcác điều kiện khác theo quy định pháp luật. Có thể nói, đây là khoản thu nhập chủ yếu của cá nhân, NLĐ khi về già, khi họ đã hết tuổi lao động.

Khoảng cuối thếkỷXIX, tại Đức, bảo hiểm hưu trí manh nha xuất hiện khi hình thức pháp lý đầu tiên của BHXH (RVO) ra đời sau một thời gian dài thành lập

27

các quỹ ốm đau để dự phòng cho các công nhân khi bị giảm thu nhập do bệnh tật, gồm: bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm y tế và bảo hiểm tai nạn với sự ra đời của Luật bảo hiểm ốmđau vào năm 1883; Luật tai nạn lao động năm 1884; và Luật bảo hiểm người già và người tàn tật do lao động năm 1889 [122, tr.317]. Banđầu, các hình thức bảo hiểm chỉ áp dụng đối với công nhân. Sau đó, đối tượng tham gia các hình thức bảo hiểm này được mở rộng với quy định bắt buộc đối với cả giới chủ của nhà máy, xí nghiệp; và nhà nước.

Tại Hoa Kỳ, sau khi tuyên bố độc lập vào năm 1776, một chương trình hưu tríquốc gia dành cho những người lính được phê chuẩn. Tuy nhiên, khi cuộc nội chiến ởHoa Kỳkết thúc thì chương trình hưu trí này mới phát triển một cách đầyđủ. Những năm 80 của cuối thếkỷXIX, Hoa Kỳtrởthành quốc gia công nghiệp với nền kinh tếphát triển nhanh chóng theo hướng công nghiệp hóa, chuyên môn hóa cao; thu nhập của người dân chủyếu từviệc tham gia laođộng,làm việc tại các công ty trong ngành công nghiệp và dịch vụ. Để đảm bảo cho cuộc sống của công nhân khi gặp rủi ro dẫn đến mất hoàn toàn hoặc giảm sút thu nhập, các kếhoạch hưu trí dành cho nhóm đối tượng nàyđược đặt ra và thực hiện vào năm 1882. Cụthể, mỗi NLĐ, công nhân phải trích ra 01% tiền lươngcủamìnhđể đónggóp vào quỹ lương hưu; công ty, xí nghiệp sẽ trả thêm 06% lãi suất mỗi năm vào quỹ lương hưu này [129, tr.140].

Trong khi đó, chế độ bảo hiểm hưu trí dành cho các đối tượng làm việc trong cơ quan nhà nước hoặc chính quyền địa phương như: giáo viên, cảnh sát, lính cứu hỏa thì chỉ mới được xây dựng và áp dụng ở một số địa phương. Cụ thể, bang New Jersey đã áp dụng CĐHT dành cho giáo viên vào năm 1896. Đây là CĐHT được áp dụng sớm nhất cho nhân viên chính phủ [58, tr.68]. Đến ngày 14/8/1935, Nghị viện Hoa Kỳ thông qua Đạo luật ASXH – đạo luật đầu tiên trên thế giới về ASXH. Một trong những nội dung cơ bản của Đạo luật ASXH là chương trình hưu trí dành cho NLĐvới việc họ tiếp tục được nhận lương khi về hưu ở tuổi 65 [129 tr.141]. Nhưvậy, sựra đời của các văn bản này đã phản ánh được tính tất yếu, vai trò của BHXH và bảo hiểm hưu trí tại Hoa Kỳ, Đức nói riêng và các quốc gia khác trên thế giới nói chung.

28

Không dừng lại ởphạm vi quốc gia, các vấn đềliên quan đến BHXH, bảo hiểm hưu trí còn nhậnđược sựquan tâm của nhiều tổchức quốc tế. Cụthể, ngày 10/12/1948, Đạihội đồng LiênHợpQuốc thông qua Tuyên ngôn Quốc tếNhân quyền (UDHR) tại Paris, Pháp. Trong đó, Điều 22 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền nhận định: “Mỗi người, vì là thành viên của xã hội, có quyền được đảm bảo an sinh xã hội và được đảm bảo để thực hiện các quyền không thể thiếu được về kinh tế, xã hội và văn hóa, phẩm giá và sựphát triển tựdo nhân cách cá nhân”[106, tr.43]. Thêm nữa, Điều 25 Tuyên ngôn Quốc tếNhân quyền còn khẳng định: Mọi người đều có quyền sống ởmức sống đầy đủ về sức khỏe vàhạnh phúc của bản thân vàgia đình, bao gồm: thực phẩm, quần áo, nhà ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết và quyền được bảo vệ khi rơi vào hoàn cảnh thất nghiệp, bệnh tật, khuyết tật, góa phụ, tuổi già hoặc thiếu kế sinh nhai khác mà nằm ngoài tầm kiểm soát của mình [140]. Như vậy, theo Tuyên ngôn Quốc tếNhân quyền thì quyền được đảm bảo ASXH là một nội dung của quyền con người về lao động.

Tổchức Lao động Quốc tế- cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc phụtrách lĩnhvựclao động đã thông qua nhiều Công ước và Khuyến nghị liên quan đến lĩnh vực lao động, ASXH,… Nổi bật trong số đó là Công ước số 102 quy định các tiêu chuẩntốithiểuvềASXHtạiGiơ-ne-vơđượcthông qua ngày 28/6/1952.Vớibốcục gồm 87 Điều được chia thành 14 phần, Công ước số 102 về ASXH xây dựng hệ thống ASXH với 09 dạng trợ cấp: chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già (hưu bổng), trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật và trợ cấp tiền tuất. Trong đó, trợ cấp tuổi già (hưu bổng) là một trong những chế độ BHXH bắt buộc mà các quốc gia thành viên phải xây dựng và tổ chức thực hiện trong hệ thống ASXH của mình.

Đến tháng 12/1966, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Công ước quốc tế vềcác Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR) và có hiệu lực từ ngày 03/01/1976.Điều 9 Công ước quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa khẳng định:“Các quốc gia thành viên Công ước này thừa nhận quyền của mọi người được hưởng an sinh xã hội,kểcảbảo hiểm xãhội”[48]. Theo ICESCR, quyềnhưởngASXH nói chung, BHXH nói riêng là một bộ phận của quyền con người trong laođộng vàthuộc nhóm quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội của con người.

29

Tựu trung lại, theo tinh thần chungcủacác văn kiện pháp lý quốctếtrên thìquyền hưởng ASXH nói chung, BHXH nói riêng làmộtnội dung của quyền con người trong lao động. Đồng thời, các văn kiện nêu trên xác địnhcác quốc gia cónghĩa vụ ghi nhận, tôn trọng và đảm bảo cho người dân thực hiện các quyền hưởng ASXH, thểhiện qua việc bảo vệcuộc sống của người dân trong những hoàn cảnh nhất định. Trong đó, có trường hợpbảo vệcon người khi vềgià, khi tuổi đã cao, không còn khảnăng lao độngdẫn đến mất thu nhập hoặc thu nhập bịgiảm sút.Đồng thời, khẳng định sự bình đẳng của cá nhân, con người đối với các quyền này. So với các chếđộkhác trong hệthống ASXH nói chung, BHXH nói riêng, bảo hiểm hưu trí được áp dụng để đảm bảo cho NLĐ có nguồn thu nhập phục vụ cuộc sống khi họ hết tuổi lao động, hoặc khi không còn khả năng lao động,..

Với tầm quan trọng đó, bảo hiểm hưu trí được quan tâm, tổ chức thực hiện tại nhiều quốc gia khác nhau trên thếgiới. Cụthể, tính đến năm 1993đã có 155/163 quốc gia áp dụng CĐHT, chiếmtỷlệ95,1% [69, tr.21]. Tuy nhiên, tùy vào tình hình, điều kiện kinh tế, đặc điểm về chính trị, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia màtên gọi chung của các quy định liên quan đến việc nghỉ hưu, việc đóng gópđể được

hưởng lương hưu, chi trả lương hưu,…có sự khác nhau. Chẳng hạn, Đức gọi là bảo hiểm hưu trí, Trung Quốc gọi là bảo hiểm dưỡng lão; Hoa Kỳgọilà chếđộbảo hiểm hưu trí (Retirement Social Insurance); Thụy Điển gọi là CĐHT [122, tr.447];

Việt Nam gọi là CĐHT [89, Đ.4]; hay ILO gọi là trợ cấp tuổi già [108]….

Tại Việt Nam, ngay từ rất sớm, việc quan tâm đến đời sống của người dân nói chung, cá nhân, NLĐ khi về già nói riêng đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, chú trọng. Trong thời kỳ Pháp thuộc (1884 – 1945), những người làm việc trong bộmáy caitrịcủa thực dân Phápđượchưởngcác chếđộBHXH như: hưu bổng, tai nạn laođộng.Ngoài ra, nhờsựđấutranh của mình, giai cấp công nhân làm việc trong các hầmmỏ, xí nghiệp của thực dân Pháp cũng được hưởng các chếđộBHXH, song vẫn còn hạn chếvềquyền lợi [08, tr.12]. Tháng 11/1940, Hội nghịTrung ương Đảng Cộng sản Đông Dương khẳng định: “sẽđặt ra Luật BHXH” [156] với việc lập quỹ hưu bổng dành cho người già (năm 1940). Tiếp theo đó, Mặt trận Việt Minh (năm 1941) công bố mục tiêu trong Chương trình Việt Minh (gồm

30

Tuyên ngôn, Điều lệ và Chương trình 44 điểm): sau khi giành độc lập sẽ thành lập Chính phủ do quốc dân bầu ra và thực hiện các chính sách mang lại quyền lợi cho nhân dân, NLĐ với nội dung:

“Thi hành luật ngày làm 08 giờ và các luật xã hội khác…

Thợ thuyền – được hưởng Luật lao động. Bỏ các giấy giao kèo nô lệ, lập giấy giao kèo chung giữa chủ và thợ; thợ thuyền già có lương hưu trí, cải thiện chế độlàm việc”[50, tr.469].

Như vậy, thông qua nội dung của Chương trình Việt Minh, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện mong ước của toàn thể dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ: “làm chonướcViệt Nam hoàn toànđộclập; làm cho dân Việt Namđượcsung sướng,tựdo”. Theođó,nộihàm của thuậtngữ“sung sướng,tựdo”đượchiểu theo nghĩa làngười dân được hưởng các phúc lợi xã hội, chế độ đãi ngộ, đảm bảo ASXH [08, tr.14].

Cho đến nay, trải qua các giai đoạn, thời kỳ phát triển đất nước, hệ thống văn bản QPPL, quy định về CĐHT được ban hành, điều chỉnh, bổ sung để áp dụng vào thực tiễn cũng như phù hợp với xu thế phát triển của đất nước và khu vực. Bên cạnhđó, trên tinh thần tôn trọng quyền con người trong lĩnh vực lao động, Việt Nam đãtham gia vào nhiều văn kiện pháp lý quốc tế. Điển hình, Việt Nam tham gia Công ước quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR) vào ngày 24/9/1982; và làthành viêncủaILO vào năm 1992 [139], [147].Mặtkhác, quyềnhưởngASXH còn được ghi nhận tại các bản Hiến pháp trong các giai đoạn, thời kỳ. Cụ thể, Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Những người công dân già cả hoặc tàn tật không làmđược việc thì được giúp đỡ. Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng” [82. Đ.14]; Hiến pháp năm 1959:“Người lao động có quyền được giúp đỡvề vật chất khi già yếu, bệnh tật, hoặcmất sứclao động. Nhà nước mở rộng dần các tổ chức bảo hiểm xãhội, cứu tế và y tế đểbảo đảm cho người lao động được hưởng quyền đó”[83, Đ.32]; Hiến pháp năm 1980: “Công nhân, viên chức khi vềhưu, già yếu, bệnh tật

hoặc mất sức lao động được hưởng quyền lợi BHXH…”[84, Đ.59],… Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã khẳngđịnh:“Công dân có quyền được đảm bảo an sinh xãhội”[92, Đ.34].

31

Ngoài ra, các vấn đề,chính sách liên quanđến ASXH, BHXH cũng được Đảng ta quan tâm, đưa ra định hướng phát triển thểhiện trong các văn kiện, Nghịquyết của mình. Cụthể, Nghị quyết 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 vềmột sốchính sách xã hội giai đoạn năm 2012-2020 xác định: việc đảmbảo ASXH là nhiệmvụthường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xãhội. Bên cạnh đó, quan điểm về việc xây dựng hệ thống ASXH tại Nghị quyết 15- NQ/TW là phải đa dạng, toàn diện, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ với nhau; bảo đảm tính bền vững, công bằng [03].

Ngày 22/11/2012, Nghị quyết 21-NQ/TWvềviệc tăng cường lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, bảo hiểm ytếgiai đoạnnăm 2012-2020 được ban hành. Theo đó, Nghị quyết 21-NQ/TW xác định: cùng với bảo hiểm y tế thì BHXH là một trong hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống ASXH, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội và phát triển kinhtế- xã hội[04]. Chính vì vậy, việc mởrộng, hoàn thiện chính sách BHXH cần có bước đi, lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của đất nước cũng như hội nhập quốc tế.

Gần đâynhất, Ban chấp hành trung ương khóa XII ban hành Nghị quyết 28- NQ/TW ngày 23/5/2018 vềcải cách chính sách BHXH. Tương tựNghị quyết 15- NQ/TW, Nghị quyết 28-NQ/TW nhấn mạnh việc thực hiện tốt chính sách BHXH lànhiệmvụcủacảhệthống chính trị, là trách nhiệm của các cấp ủyđảng,chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, doanh nghiệp vàcủa mỗi người dân. Thêm nữa, Nghị quyết 28-NQ/TW còn đưa ra các giải pháp cải cách chính sách BHXH theohướngmởrộng vững chắc diện bao phủ; hướng tới mục tiêu BHXH toàn dân; phát triển hệthống BHXH linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tếtheo nguyên tắc có đóng, có hưởng, công bằng, bình

đẳng, chia sẻ và bền vững;…[05].

Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của Đảng, các văn bản QPPL có nội dung liên quan đến việc hoàn thiện, phát triển hệ thống ASXH (BHXH) được ban hành và áp dụng trên thực tế: BLLĐ năm 1994, Luật BHXH năm 2006, BLLĐ năm 2012, Luật

32

BHXH năm 2014,… Theo đó, đối tượng được đảm bảo ASXH là mọi công dân Việt Nam bất kể là người già, trẻ em, cán bộ công chức, viên chức, NLĐ thuộc các thành phần kinh tế.

Tóm lại, tương tựnhiều quốc gia trên thếgiới, Việt Nam thừa nhận và tôn trọng quyền hưởng ASXH nói chung, BHXH nói riêng của con người, xem đây làmột trong những quyền quan trọng của NLĐ nói riêng, người dân nói chung. Đồng thời, Việt Nam còn ghi nhận nghĩa vụđảm bảo cho người dân thực hiện quyền hưởng ASXH. Đâylà cơ sở, nền tảng đểhoàn thiệnhệthống pháp luật liên quanđến quyền lao động của con người, quyền hưởng ASXH tại Việt Nam. Với tư cách là một bộ phận quan trọng của hệ thống ASXH, cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật vềCĐHT cũng khôngnằmngoài nội hàm đó. Qua đó, pháp luật sửdụng các quyđịnh về CĐHT để đảm bảo thu nhập cho cá nhân, NLĐ khi về già, khi họ không còn khả năng lao động.

Theo cuốnTừđiểnTiếng ViệtcủaViện Ngônngữhọc, hưu tríđượchiểu là “nghỉ làm việc có hưởng tiền cấp định kỳ, khi tuổi già và đã phục vụ đủ thời gian phục vụ theo quy định” [130, tr.475]. Tương tự, cuốn Đại từ điển Tiếng Việt giải thích: hưu trí là “nghỉ việc khi đã già hoặc đủ thời gian phục vụ, được hưởng chế độ lương bổng theo quyđịnhcủanhànước”[119, tr.864]. Ngoài ra, theoTừđiểnLuật học [127, tr.122] và Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lí thông dụng [73, tr.66], CĐHT được hiểu là:“chế độ đối với người lao động có đủ các điều kiện về tuổi đời đã đóng bảo hiểm xã hội, được nghỉ việc và hưởng các chế độ do pháp luật quy định”.

Nhìn chung, về mặt giải thích từ ngữ, hưu trí là trạng thái mà NLĐ nghỉ làm việc, chấm dứt hoạt động lao động nhằm tạo ra thu nhập nhưng vẫn được hưởng khoản tiền trợ cấp để đáp ứng các nhu cầu từ cuộc sống hàng ngày. Thông thường, khoản tiền trợ cấp này được gọi là trợ cấp tuổi già, trợ cấp hưu trí, hoặc tiền lương hưu, hoặc hưu bổng [119]. Khoản trợcấp, thu nhập này có ýnghĩacảvềmặtvật chất lẫn tinh thần đối với cá nhân, NLĐ khi mà họkhông còn khảnăng làm việc, lao động để tạo ra thu nhập. Tuy nhiên, để được hưởng trợ cấp tuổi già thì cá nhân, NLĐ đó phải đáp ứng những điều kiện nhất định về độ tuổi; thời gian làm việc theo

33

quy định; thời gian tham gia đóng góp;…. Tất cả các quy định này được định danh trong pháp luật bằng thuật ngữ pháp lý là “chế độ hưu trí”.

Trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nhà nghiên cứu đã quan tâm, tiến hành nghiên cứu chuyên sâu vềhệthống ASXH nói chung, BHXH nói riêng. Trong đó, một nội dung, bộphận nòng cốt của hệthống BHXH là CĐHT cũng không phải trường hợp ngoại lệ. Cuốn chuyên khảo “Quyền an sinh xã hội và đảm bảo thực hiện trong pháp luật Việt Nam” cho rằng CĐHT làmột chế độ BHXH, được quy định nhằm đảm bảo thu nhập cho người hết tuổi laođộng hoặc không còn tham gia QHLĐ [106, tr.120]. Quan điểmnày là chưa toàn diện vì CĐHT được thực hiện trên nguyên tắc có đóng, có hưởng, không phải làmột chế độ đươngnhiên được áp dụng đối với mọi chủ thể hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia QHLĐ. Hay cũng có quan điểm cho rằng “bảo hiểm hưu trí là chế độBHXH đảm bảo thu nhập cho người tham gia BHXH khi hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệlaođộng nữa”[60, tr.9]. Quan điểmnày có vẻđầy đủ, khái quát hơn về nội hàm nhưng hiện nay ở Việt Nam không sử dụng thuật ngữ “bảo hiểm hưu trí”mà sử dụng thuật ngữ “CĐHT” để khái quát về một loại chếđộ dành cho những cá nhân, NLĐ tham gia đóng BHXH để được hưởng lương hưu.

Như vậy, CĐHT là một chế độ được Nhà nước ban hành với mục đích, ý nghĩa là góp phần ổn định, đảm bảo cuộc sống cho người tham gia sau khi họ hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động để tạo thu nhập. Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa về CĐHT như sau:

“CĐHT là một chế độ của BHXH, là quyền lợi mà cá nhân, NLĐ được hưởng do tham gia BHXH nhằm đảm bảo thu nhập, ổn định cuộc sống khi không còn tham gia QHLĐ do đủtuổi nghỉ hưu hoặc không còn khảnăng lao động đểtạo thu nhập”.

2.1.2. Đặc điểm của chế độ hưu trí

Thứnhất, CĐHTđượcthực hiện chủyếu dựa trênsựđóng gópcủađối tượng tham gia.

Tương tự các chế độ khác trong hệ thống BHXH (như: thai sản, ốm đau,…) đểđược hưởng trợ cấp tuổi già khi không còn khả năng lao động hoặc khi không còn

34

tham gia QHLĐ, NLĐ phải tham gia đóng góp vào quỹ BHXH (quỹ hưu trí) trong quá trìnhhọcòn làm việc, laođộng.Ngoài ra, thông qua cơ chếbắt buộc thì việc đóng góp vào quỹ hưu trí còn có sự tham gia của NSDLĐ, giới chủ với tỷ lệ đóng góp khác nhau. Đó là chưa kể, một số quốc gia còn hỗ trợ thêm khoản đóng góp vào quỹ hưu trí cho công dân của mình bên cạnh sự đóng góp của NLĐ và NSDLĐ như:

Thái Lan, Singapore… [115, tr.234]. Có thểkhẳng định, việc đóng góp vào quỹBHXH (quỹ hưu trí) là cơ sởduy nhất đểNLĐ được nhận trợcấptuổi già, lương hưu. Nói cách khác, quyền được hưởng các loại trợ cấp BHXH được đảm bảo bằng việc đóng góp của NLĐ, NSDLĐ, nhà nước (nếu có), trong đó có quyền được tham gia CĐHT và nhận lương hưu khi hết tuổi lao động hoặc khi không còn khảnăng lao động [101, tr.20].

Thứ hai, CĐHT vừa mang tính bắt buộc, vừa mang tính tự nguyện.

Cùng với sựphát triển của nền kinhtếthịtrường, thịtrường lao động ngày càng phát triển đa dạng với các QHLĐ phát sinh ngày một tăng về số lượng, phức tạp về tính chất. Do đó, bên cạnh các quyền được pháp luật bảo vệ khi tham gia QHLĐ, NLĐ và NSDLĐ còn có nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý cần thực hiện để đảm bảo yêu cầu quản lý của nhà nước cũng như đảm bảo sự tiến bộ chung của xã hội, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước. Một trong số đó là khi tham gia vào QHLĐ, NLĐ có nghĩa vụ tham gia đóng góp vào quỹ BHXH nói chung và quỹ hưu trí nói riêngmộtkhoản tiềndựatrênmứctiền lương màhọnhậnđược.Nghĩavụtham gia BHXH không chỉ của NLĐ mà còn là trách nhiệm pháp lý của giới chủ, NSDLĐ.

Bên cạnh quyđịnhbắt buộc tham gia CĐHT, trongmộtsốtrường hợp, việc quyếtđịnhcó tham gia CĐHTđểđượchưởngtrợcấphưu trí,trợcấptuổi già hay không còn phụ thuộc vào sự tự nguyện, tự do ý chí của cá nhân, NLĐ. Theo đó, dựa vào điều kiện thực tế, hoàn cảnh cụ thể của mình, cá nhân, NLĐ có nhu cầu, nguyện vọng thì có thể lựa chọn hình thức, loại hình CĐHT phù hợp để tham gia. Bên cạnh việc phụ thuộc vào nhận thức, ý thức của cá nhân, NLĐ, thì việc tham gia CĐHT tựnguyện cònphụthuộc vào triết lý, chính sách laođộngcủaNSDLĐ; cácđiềukiện kinh tế, xã hội của đất nước. Cá nhân, NLĐ có thể tham gia CĐHT tự nguyện dưới

35

nhiều hình thức khác nhau: tham gia BHXH tự nguyện; hoặc dưới hình thức là các tài khoản cá nhân hoặc tham gia các sản phẩm do công ty bảo hiểm nhân thọ cung cấp.

Chính vì vậy, các quốc gia thường ban hành các quy định về CĐHT bắt buộc hoặc CĐHT tựnguyện tronghệthống pháp luật củamìnhđểđảmbảo cuộc sống cho đại đa số người dân khi về hưu, góp phần xây dựng xã hội tiến bộ, công bằng. Trên cơ sở đó, các chủ thể có thể chủ động lựa chọn hình thức tham gia phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mình.

Thứ ba, CĐHT góp phần bảo vệ cuộc sống cho cá nhân, NLĐ đủ tuổi nghỉ hưu. Thông thường, khi còn tham gia QHLĐ, cuộc sống của cá nhân, NLĐ được

bảo vệthông qua các khoản thu nhập từviệc: được trảlương bằng tiền mặt; được trả lương ở mức cao hơn khi làm thêm, làm việc vào ban đêm; được trả tiền lương

khi phải ngừng việc mà không phải do lỗi của họ,… Ngay cả khi không còn đủ sức khỏe để làm việc, tham gia hoạt động lao động để tạo thu nhập thì cuộc sống của cánhân, NLĐ vẫn được bảo vệ thông qua cơ chế đảm bảo thu nhập dưới hình thức họđược nhận trợ cấp tuổi già, trợ cấp hưu trí, tiền lương hưu từ Chính phủ dựa trên cơ sở đóng góp vào quỹ hưu trí hoặc do đã tham gia quỹ BHXH [105, tr.60]. Đặc điểm này phùhợpvới tinh thần chung của Côngước số102 [108, Đ.26]vềASXH với luận điểm: trợcấp tuổi già góp phần bảo vệtình trạng sống lâu hơn độtuổi được quyđịnh theo pháp luật quốc gia khi ngườiđược bảo vệkhông thểtham gia hoặc không còn tham gia hoạt động lao động, làm việc tạo thu nhập. Do đó, việc ban hành và áp dụng CĐHT tại hầuhết các quốc gia trênthếgiới đều không thoát ly khỏi nội hàm nêu trên.

Thứ tư, quyền lợi của CĐHT được thực hiện ngoài quá trình lao động của đối tượng tham gia.

Khác với các chế độ BHXH ngắn hạn như: ốm đau, thai sản, CĐHTlà chế độBHXH dài hạn có đặc điểm là đối tượng được nhận trợ cấp tuổi già khi họ sống lâu hơn một độ tuổi theo quy định pháp luật (tuổi nghỉ hưu). Thời gian hưởng trợ cấp tuổi già tương đối dài và không xác định.Như vậy,đối tượng tham gia chỉđược nhận trợ cấp tuổi già, được hưởng các quyền lợi của CĐHT khi không còn khả năng

36

lao động hoặc không còn tham gia QHLĐ sau khi đáp ứngcác điều kiện về độ tuổi,

thời gian tham gia,…. theo quy định của pháp luật.

Điều 30 Công ước 102 về ASXH cũng quy định về việc trợ cấp tuổi già phải được chi trả trong suốt thời gian xảy ra trường hợp bảo vệ. Thông thường, thời gian xảyra trường hợp bảo vệđược tínhtừlúc NLĐ nghỉ hưu, hoặc kểtừkhi NLĐkhông còn khả năng lao động cho đến khi họ chết. Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho người tham gia CĐHT, người được bảo vệ, các quốc gia thường ghi nhận thời điểm hưởng trợ cấp tuổi già của đối tượng tham gia trong hệ thống pháp luật của mình.

2.1.3. Phân loại chế độ hưu trí

Là một lĩnh vực mang tính kinh tế và tính xã hội, CĐHT được nghiên cứu dưới nhiều giác độ, phương diện khác nhau tùy thuộc vào cách thức tiếp cận. Theo đó, cónhiều tiêu chí khác nhau được sử dụng để phân loại CĐHT. Cụ thể:

2.1.3.1. Theo tính chất quan hệ bảo hiểm

Căn cứ vào tính chất của quan hệ bảo hiểm, CĐHT được chia thành:

– Chếđộhưu trí bắt buộc: là CĐHT được áp dụng bắt buộc với sự tham gia của NLĐ và NSDLĐ theo quyđịnhpháp luậtcủanhànước.Cụthể, NLĐ và NSDLĐ cónghĩa vụ tham gia đóng góp vào quỹ hưu trí theo một tỷ lệ nhất định. Thông thường, tỷ lệđóng góp (phí bảo hiểm) của các bên tham gia được tính dựa trên cơ sở tiền lương, thu nhập hàng tháng (đối với NLĐ), hoặc dựa trên tổng quỹ lương chi trả (đối với NSDLĐ). Nhóm đối tượng tham gia CĐHT bắt buộc thường chiếm số lượng lớn, có mối quan hệràng buộc lẫn nhau thông qua HĐLĐ, thỏa ước lao động tập thể hoặc một hình thức pháp lý khác. Trong CĐHT bắt buộc, chủ thể quản lý quỹ chủ yếu là Nhà nước, Chính phủ,

chẳng hạn: Hoa Kỳ, Solovenia, Bôlivia, Pháp, Đức…

– Chế độ hưu trí tự nguyện: là CĐHT áp dụng dựa trên sự tự nguyện tham gia,

tự nguyện lựa chọn mức đóng, phương thức đóng góp vào quỹ hưu trí phù hợp với thu nhập của NLĐ. Nhóm đối tượng tham gia CĐHT tự nguyện chủ yếu là NLĐ, cánhân làm việc tự do, tự tạo việc làm, hoặc làm trong lĩnh vực nông nghiệp hoặc làm

việc mà không thông qua HĐLĐ,… Chủthểquản lý nguồn quỹtrong CĐHTtựnguyện có thểlà cơ quan nhà nước hoặc là một đơn vị, tổchức bất kỳ. Đức,

Singapore,… là các quốc gia áp dụng loại hình CĐHT tự nguyện.

37

2.1.3.2. Theo chủ thể quản lý

Dựa vào chủ thể quản lý, CĐHT được chia thành:

– Chếđộhưu trí nhà nước: là CĐHT được tổchức, thực hiện và quản lý bởi nhà nước, còn được gọi là CĐHT ở khu vực công. Theo đó, nguồn quỹ do các đối tượng tham gia CĐHT đóng gópsẽdo nhà nước trực tiếp quản lý, tổchức chi trảcho người tham gia khi họ đáp ứng đủcác điều kiện để được hưởng trợ cấp. Hiện nay, có nhiều quốc gia trên thếgiới sửdụng mô hình này. Điển hình, tại Trung Quốc, việc tham gia CĐHT của nhómđối tượng là NLĐ làm việc trong các loại hình doanh nghiệp, cá nhân, NLĐ ở khu vực thành thị, hoặc cán bộ, nhân viên làm việc trong các cơ quan nhà nước, quân đội sẽdo nhà nước quản lýchủyếu thông qua Bộ Lao động và ASXH [112, tr.207].

Hay tại Hàn Quốc, bảo hiểm hưu trí dành cho công chức, viên chức sẽ do BộNội vụ quản lý, giám sát; cơ quan bảo hiểm sẽ trực tiếp thu và thực hiện chi trả chếđộ; quản lý, sửdụng quỹ.Đối với bảo hiểm hưu trí dành cho NLĐ trong khu vực doanh nghiệp thì Bộ Y tế và Phúc lợi quản lý, giám sát thực hiện thông qua các cơquan chuyên môn như: Vụ Chế độ hưu trí, Vụ Tài chính, Văn phòng Bảo hiểm hưu

trí; Ban quản lý Quỹ hưu trí quốc gia, Hội đồng CĐHT quốc gia [112, tr.218],…

– Chếđộhưu trí tư nhân: là CĐHT được thành lập trên cơsởtựnguyện của đối tượngtham gia với việc được quyền lựa chọn đối tượng, sản phẩm hưu trí do tổchức, đơn vị tư nhân cung cấp. Thông thường, đó là các sản phẩm hưu trí được cung cấp bởi các công ty bảo hiểm nhân thọ; hoặc cá nhân, NLĐ mởcác tài khoản cá

nhân tại các tổ chức được phép kinh doanh theo quy định…Việc quản lý, sử dụng quỹ sẽ do tổ chức mở tài khoản cá nhân, đơn vị cung cấp sản phẩm quyết định, thực hiện dựa trên sựthỏa thuận giữa các bên. Mức độtham gia của Nhà nước đối với CĐHT tư nhân chủ yếu thể hiện ở sự điều phối, quản lý của nhà nước thông quahệthống các quy định pháp luật.

2.1.3.3. Theo cơ chế tài chính của mô hình bảo hiểm xã hội

Thông thường, theo quyđịnh pháp luật của nhiều quốc gia trên thếgiới, CĐHT là một nhánh, một bộphận quan trọng của hệthống BHXH. Do vậy, việc

38

vận hành cơ chế tài chính của CĐHT tương đồng với cơ chế tài chính của mô hình BHXH. Theo đó, dựa vào mô hình BHXH, CĐHT được chia thành:

– Chế độ hưu trí theo mô hình BHXH thực thanh – thực chi (“PAYG”- Pay as you go). Theo đó, khoản đóng góp vào quỹ hưu trí của NLĐ ở một thời điểm được dùng đểchi trảtrợcấp tuổi già, lương hưu cho người hưởng quyền lợi từCĐHT cùng thời điểm. Do đó, điểm nổi bậc của mô hình này là tính tương trợ, chia sẻ cao theo quan điểm lấy số đông bù số ít [115, tr.79]. Sự cân đối giữa mức thu và mức chi của quỹ hưu trí trong mô hình PAYG phụ thuộc vào cơ cấu giữa tỷ lệ người đóng góp và người hưởng.

Mô hình PAYG sẽphát huy hiệu quảkhi quốc gia có cơ cấu dân sốtrẻhoặc khi dân số ổn định, số người đóng góp vào quỹ cao hơn số người hưởng. Tuy nhiên,

hạn chế của mô hình PAYG là phụ thuộc vào cơ cấu dân số, nhạy cảm với sự biến động dân số. Theo đó, số người hưởng cao hơn số người đóng góp hay cơ cấu dân sốchuyển sang giai đoạn già hóa hay giaiđoạngià thì nguy cơ mất cânđốicủa quỹdễ

xảyra,ảnhhưởngđếntínhbềnvữngcủaquỹ.Đức, Pháp, Ý,… là những quốc giađiển hình sử dụng mô hình PAYG [77].

– Chế độ hưu trí theo mô hình có mức đóng xác định trước bắt buộc (MDC): theo mô hình MDC, khoản đóng góp củangười tham gia vào CĐHT sẽđược nhànước (thường là cơ quan BHXH) dùng để đầu tư vào thị trường tài chính; khi phát sinh sự kiện pháp lý về việc nghỉ hưu thì người thụ hưởng sẽ được nhận khoản tiền trợ cấp tuổi già. Mức trợ cấp tuổi già được xác định trên cơ sở khoản đóng góp của người tham gia và khoản tiền sinh lời từ việc đầu tư phát triển quỹ sau khi trừ các chi phí liên quan đến việc quản lý tài khoản. Do đó, mô hình MDC còn được gọi là mô hình tài khoản tiết kiệm cá nhân.

Ưu điểm của mô hình MDC là không phụ thuộc vào cơ cấu dân số, quy mô dân số.Việc áp dụng mô hình này giúp nâng cao trách nhiệmcủacá nhân trong việctựđảm bảo tài chính, đảm bảo thu nhập khi về hưu, góp phần hỗ trợ thị trường tài chínhổn địnhhơn. Tuy nhiên, mô hình này có nhược điểm là tính tương trợ không cao, mức độ chia sẻ giữa những người cùng tham gia đóng góp vào quỹ trong cùng thế hệ thấp.

39

– Chếđộhưu trí theo mô hình tài khoản cá nhân tượng trưng (NDC):đâylàmô hình kết hợp giữa hai mô hình MDC và mô hình PAYG. Theo đó, khoản đóng góp vào quỹ hưu trí được ghi nhận vào tài khoản cá nhân của người tham gia; mức hưởng trợcấptuổi giàđược xácđịnhtrên cơsởmứcđóng tích lũy và khoản tiền sinh lãitừ việc đầu tưquỹ hưu trí. Tuy nhiên, tài khoản cá nhân của người tham giađược ghi nhận trongsổbảo hiểm,chứkhông tích lũy thực sựtrong tài khoản cá nhân mà được sử dụng để chi trả cho các đối tượng, cá nhân đang thuộc đối tượng được hưởng quyền lợi của CĐHT ởcùng thời điểm [137, tr.4]. Khi NLĐ đáp ứng độtuổi theo quyđịnh,lúc này tài khoản tượng trưng chuyển thành khoản tiền trợcấp và được dùng để chi trả cho NLĐ. Do vậy, khoản tiền tích lũy trong tài khoản cá nhân chỉ mang tính hình thức, tượng trưng.

Tương tự như MDC, mô hình NDC không phụ thuộc vào sự biến động về cơ cấu và quy mô dân số. Do đó, tính bền vững, sự cân đối của quỹ hưu trí không phụthuộc vào biến động dân số do già hóa hoặc dân số già. Ngoài ra, do phí đóng trong tài khoản cá nhân được sử dụng để chi trả cho các đối tượng, cá nhân đang được hưởng quyền lợi của CĐHT nên mô hình NDC thể hiện tính tương trợ, chia sẻ. Tuy nhiên, với mức hưởng được xác định trên mức đóng góp nên mức độ của tính tương trợ, chia sẻ

thấp [115, tr.84]. Mô hình NDC được áp dụng tại Thụy Điển, Ba lan, Nhật Bản,…

– Chế độ hưu trí theo mô hình BHXH tự nguyện bổ sung (VFS). Theo đó, người tham gia mô hình VFS tự nguyện lựa chọn và tham gia đóng phí cho một quỹ hưu trí tư nhân thông qua sự thỏa thuận, hợp đồnghoặc khế ước.Trên cơsở đó, quỹ sửdụng khoản đóng góp để đầu tư vào thị trường tài chính. Lợi nhuận thu được từ việc đầu tưquỹ cùng với khoản đóng góp của người tham giasẽ được sử dụng để chitrảcho người tham gia sau khi trừchi phí quản lý quỹ. Mô hình này thường tồntại song song với mô hình MDC hoặc mô hình PAYG. Đối tượng tham gia mô hình này thường là những người có thu nhập cao và có tính ổn định; khoản đóng góp của họđược nhà nước khuyến khích thực hiện thông qua chính sách hỗtrợvềthuế; hoặc Nhà nước hỗ trợ thông qua việc cung cấp khoản trợ giúp banđầu để quỹ hình

thành và hoạt động, chẳng hạn: Đức, Anh, Trung Quốc [54, tr.46],…

40

Điểmmạnh của mô hình VFSthểhiện ở tính linh hoạt. Tuy nhiên, do mang tính tựnguyện nên mô hình này thường chỉtập trung vào nhómđốitượng có thu nhập cao nên ít thể hiện được các mục tiêu về ASXH của quốc gia. Thông thường, mô hình này tồn tại dưới hình thức là chương trình hưu trí bổ sung và được nhiều quốc gia áp dụng: Bỉ, Pháp, Thụy Sỹ, Canada, Hoa Kỳ, Thái Lan, Đức [71], [96, tr.23]…

2.1.3.4. Theo tần suất chi trả

Dựa vào tần suất chi trả quyền lợi hưu trí cho người thụ hưởng, chia thành:

– Trợ cấp hưu trí định kỳ: việc chi trả trợ cấp hưu trí được tiến hành định kỳ khi người thụ hưởng đáp ứng các điều kiện để được chi trả quyền lợi hưu trí; việc chi trảđịnh kỳ được thực hiện liên tục sau khi người thụ hưởng về hưu, thường là hàng tháng.

– Trợ cấp hưu trí một lần: hình thức chi trả trợ cấp hưu trí nàyđược áp dụngđối với đối tượng tham gia CĐHT khi đến tuổi nghỉ hưu nhưng do chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được hưởng trợ cấp hưu trí định kỳ.

2.1.3.5. Theo sự đóng góp

Căn cứ vào sự đóng góp, CĐHT được chia thành:

– Chế độ hưu trí dựa trên đóng góp: để được hưởng trợ cấp hưu tríthì người thụhưởng phải thực hiện nghĩa vụđóng gópđểhình thành quỹhưu trí trong thời gian họcòn laođộngthông qua các loại hình BHXH (bắt buộc hoặc tựnguyện)… Mức trợ cấp theo loại hình này được thực hiện trên cơ sở mức đóng góp, thời gian tham gia đóng vào quỹ hưu trí, và một số tiêu chí khác.

– Chế độ hưu trí không dựa trên đóng góp (“NCP”: Non Contibuttory Pernion): còn gọi là hưu trí xã hội. Để nhận được trợ cấp hưu trí xã hội, cá nhân cần đáp ứng một số điều kiện nhất định(thường là độ tuổi) mà không cần phải đóng góp bất kỳ một khoản nào để tạo lập quỹ. Nhà nước hỗ trợ nguồn chi trả thông qua ngân sách nhà nước hoặc các nguồn tài chính khác.

2.2. Lý luận pháp luật về chế độ hưu trí

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM

Hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *