HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÉT XỬ CÁC TỘI TÀNG TRỮ VẬN CHUYỂN MUA BÁN
MỞ ĐẦU
Việt Nam đã và đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, cùng với cơ hội mà xu thế hội nhập mang lại là tình hình trật tự an toàn xã hội diễn biến ngày càng phức tạp mà cụ thể là sự gia tăng về số lượng cũng như loại hình tội phạm mà đặc biệt nguy hiểm trong số đó là tội phạm về ma túy bởi tác hại của ma túy là khôn lường, nó không chỉ hủy hoại bản thân người phạm tội mà còn lây lan sang những người xung quanh và thậm chí là giống nòi mai sau và toàn xã hội. Từ tội phạm ma túy sẽ kéo theo những loại tội phạm khác cũng hoành hành như trộm cắp, cướp giật, hành hung, giết người…Bên cạnh việc nhanh chóng và kịp thời phát hiện tội phạm, tránh làm oan người vô tội, trừng trị và giáo dục, cải tạo người phạm tội thì việc nghiên cứu và triển khai các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm, đảm bảo trật tự an toàn xã hội là vô cùng cấp thiết và mang tính lâu dài. Bài viết dưới đây sẽ phân tích những vấn đề lí luận cơ bản về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy và phương pháp phòng ngừa các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, từ đó sẽ làm căn cứ để phân tích thực tế và đề xuất giải pháp đảm bảo trong thời gian tới.
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, những vấn đề về tệ nạn xã hội đang ngày càng gia tăng và gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho xã hội. Đặc biệt trong số đó là tội phạm về ma túy, đây đang là vấn đề nan giải đối với ngành Tòa án nói riêng và toàn xã hội nói chung. tác hại của ma túy và tội phạm ma túy là vô cùng nguy hiểm. Vì vậy việc đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy là vô cùng cấp thiết trên cả nước đặc biệt là đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam chúng ta. Trước tình hình đó, chúng ta cần tìm hiểu kĩ về vấn đề này nhằm góp phần ngăn chặn, hạn chế hậu quả nghiêm trọng của nó đối với toàn xã hội.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
Mục tiêu: Chuyên đề báo cáo thực tập tốt nghiệp này nêu lên những cơ sở lí luận về tội phạm ma túy nói chung và tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy nói riêng. Làm sáng tỏ các vấn đề có tính chất lý luận và thực tiễn xét xử trên địa bàn quận Sơn Trà. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả xét xử các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy.
Nhiệm vụ: Nêu lên những đặc điểm, phân tích thực trạng thực tiễn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy tại Tòa án nhân dân quận Sơn Trà và các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả xét xử các tội phạm đó trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
3. Nội dung
Đây là bài viết nghiên cứu tình hình tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy dưới phương diện tội phạm học; Gợi mở cho việc xây dựng và tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm ma túy nói chung và tình hình về tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy nói riêng. Báo cáo này góp phần nâng cao về nhận thức, góp phần khắc phục hạn chế, vướng mắc, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trên cả nước nói chung và địa bàn quận Sơn Trà nói riêng.
- Phạm vi nghiên cứu đề tài
Báo cáo này tập trung vào những vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử các vụ án hình sự về tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trên cả nước và đặc biệt là trên địa bàn quận Sơn Trà, khái quát những vấn đề chung của quy trình xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy dựa trên thực tiễn xét xử trong 3 năm gần đây.
- Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các phương pháp cụ thể được sử dụng để nghiên cứu đề tài này là: Phân tích, tổng hợp lịch sử, so sánh, thống kê và sử dụng tài liệu thứ cấp.
Nội dung của đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy theo luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn xét xử các vụ án về tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy tại Tòa án nhân dân quận Sơn Trà
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả xét xử các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Khái niệm và lịch sử hình thành, phát triển của các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy theo luật hình sự Việt Nam.
Khái niệm
Khái niệm chất ma túy: Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về ma túy hay chất ma túy. Theo định nghĩa của Liên hợp quốc thì ma tuý là chất hoá học có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo, khi xâm nhập vào cơ thể con người sẽ có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức trí tuệ của con người, làm cho con người bị lệ thuộc vào các chất đó, gây nên những tổn thương cho từng cá nhân và cộng đồng. Do vậy, những khâu vận chuyển, mua bán, sử dụng…. các chất đó phải được quy định chặt chẽ trong các văn bản pháp luật và chịu sự kiểm soát của nhà nước. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới thì: “Ma túy là các chất độc, khi xâm nhập vào cơ thể sẽ phá hủy các cơ quan nội tạng.” [6]
Năm 1982 WHO đã phát triển định nghĩa Ma túy thành: “Ma tuý theo nghĩa rộng nhất là mọi thực thể hoá học hoặc là những thực thể hỗn hợp, khác với tất cả những cái được đòi hỏi để duy trì một sức khoẻ bình thường, việc sử dụng những cái đó sẽ làm biến đổi chức năng sinh học và có thể cả cấu trúc của vật.” [6]
Theo UNODC, “chất ma túy” là một thuật ngữ được sử dụng đa nghĩa: trong y học, nó đề cập đến bất kỳ chất nào có khả năng ngăn ngừa, chữa bệnh hoặc tăng cường và phục hồi thể chất hoặc tinh thần; trong dược học, nó có nghĩa là bất kỳ tác nhân hóa học nào làm thay đổi quá trình sinh hóa hoặc sinh lý của tế bào sinh vật. Các loại chất ma túy được mô tả bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào nguồn gốc và tác dụng. Chất ma túy có thể có nguồn gốc tự nhiên, bán tổng hợp hoặc tổng hợp. Trong bối cảnh kiểm soát ma túy quốc tế , “chất ma túy” có nghĩa là bất kỳ các chất được liệt kê trong Phụ lục I và II của Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961, dù là tự nhiên hoặc tổng hợp.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam: “Theo từ điển tiếng Việt thì ma túy là những chất thuốc làm đê mê tinh thần, cảm giác bạc nhược hay buồn ngủ, phần nhiều rút trong á phiện”. Luật phòng chống ma túy năm 2000 quy định: “Chất ma tuý là chất gây nghiện[1], chất hướng thần[2] được quy định trong danh các danh mục do Chính phủ ban hành.”.Thuốc gây nghiện, hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh được quy định trong danh mục do Bộ Y tế do chính phủ ban hành. Các chất ma túy được quy định trong danh mục do Chính phủ Việt Nam ban hành tại Nghị định số 82/2013/NĐ-CP, gồm có 235 chất ma túy chia thành 3 danh mục và 41 tiền chất[3] không thể thiếu trong quá trình sản xuất chất ma túy. Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 24 tháng 12 năm 2007 hướng dẫn thì: “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần, được quy định các danh mục do Chính phủ ban hành”
Về phân loại chất ma túy, dựa theo nguồn gốc sản sinh thì các chất ma túy gồm có: Ma túy tự nhiên[4] và Ma túy tổng hợp.[5] [8]
Ma túy có sức tàn phá người sử dụng một cách khủng khiếp

Đối với hệ hô hấp: Các chất ma túy kích thích hô hấp làm tăng tần số thở gây ức chế hô hấp, nhất là khi dùng quá liều. Nhiều trường hợp ngưng thở nếu không cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong, đôi khi ngưng thở rất đột ngột. Chẳng hạn một thanh niên đang cai nghiện đột ngột ngưng thở tử vong không rõ nguyên nhân, khi giải phẫu tử thi thì phát hiện nạn nhân có bao heroin bởi một màng mỏng rồi cấy dưới da để thuốc phóng thích từ từ, nhưng bao thuốc đột nhiên vỡ và phóng thích quá nhiều gây ngộ độc. Ngoài ra có thể gây phù phổi cấp, tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất, xuất huyết phế nang, viêm tiểu phế quản tắc nghẽn, viêm phổi, lên cơn hen phế quản…
Đối với hệ tim mạch: Các chất ma túy sẽ kích thích làm tăng nhịp tim, ảnh hưởng trực tiếp lên tim, gây co thắt mạch vành có thể tạo nên cơn đau thắt ngực, nặng hơn có thể gây nhồi máu cơ tim. Chúng cũng là nguyên nhân của các rối loạn nhịp đe dọa tính mạng người dùng ma túy. Ngoài ra còn gây nên tình trạng co mạch làm tăng huyết áp.
Đối với hệ thần kinh: Ngoài tác dụng kích thích thần kinh giai đoạn đầu gây hưng phấn, sảng khoái, lệ thuộc thuốc…, cũng có thể gây các tai biến như: co giật, xuất huyết dưới nhện, đột qụy…
Đối với hệ sinh dục: Ở người nghiện ma túy, khả năng tình dục bị suy giảm một cách rõ rệt, và hậu quả này vẫn tồn tại sau khi ngưng dùng thuốc một thời gian khá lâu. Ở những nam giới dùng ma túy trong thời gian dài sẽ bị chứng vú to và bất lực. Còn ở phụ nữ sẽ bị rối loạn chu kỳ kinh nguyệt, rong kinh, tăng tiết sữa bất thường và vô sinh.
Ngoài ra, người dùng ma túy còn phải chịu những tác hại khác như: hoại tử tế bào gan, ảo thính, ảo thị… Sử dụng ma túy còn có khả năng nhiễm HIV/AIDS (bệnh cơ hội) và khả năng tử vong cao.
Các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy là hành vi nguy hiểm đối với xã hội, xâm phạm chế độ quản lí của nhà nước trong các khâu vận chuyển, cất trữ đối với chất ma túy; Do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý. Trong đó, các hành vi được hiểu cụ thể như sau:
“Tàng trữ trái phép chất ma túy” là hành vi cất giấu trái phép chất ma túy ở bất kì nơi nào, dưới bất kì hình thức nào mà không nhằm mục đích tráo đổi, mua bán, vận chuyển. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không phải là dấu hiệu định tội cho tội danh này.
“Mua bán trái phép chất ma túy” là việc bán hoặc bán hộ chất ma túy cho người khác; dùng tiền để mua trái phép chất ma túy hoặc dùng tài sản khác không phải là tiền để đổi lấy chất ma túy.
“Vận chuyển trái phép chất ma túy” là hành vi chuyển dịch bất hợp pháp chất ma túy từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào; trên các tuyến đường khác nhau mà không nhằm mục đích mua bán, tàng trữ hay sản xuất trái phép chất ma túy khác.
Từ những khái niệm trên, ta có thể rút ra:
Về mặt pháp lí: Các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy là hành vi trái pháp luật hình sự.
Về mặt khách quan: Các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lí của Nhà nước trong các khâu lưu trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy.
Về mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm: Các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý.
Hậu quả của các tội phạm về tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy không phải là yếu tố bắt buộc để định tội. Vì vậy những tội này là loại tội phạm có cấu thành hình thức.
Lịch sử hình thành và phát triển của các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy
Nước ta đã ban hành và sửa đổi nhiều Bộ luật hình sự và kèm theo đó là những quy định của pháp luật về tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy cũng thay đổi theo thời gian để phù hợp với tình hình tội phạm thực tế đang diến biến phức tạp từng ngày.
Thời kỳ trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985, qua nghiên cứu các quy định của nước ta trước năm 1985 về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy thời kỳ này chỉ có thuốc phiện là chất ma túy duy nhất được pháp luật điều chỉnh. Theo đó, từ khi thuốc phiện mới du nhập vào nước ta, chính quyền phong kiến đã nhận thấy những tác hại của thuốc phiện nên ngay từ năm 1665 đã có văn bản cấm việc trồng, buôn bán, sử dụng thuốc phiện. Nhưng sau khi xâm chiếm nước ta, thực dân Pháp đã hợp thức hóa việc trồng, vận chuyển và sử dụng thuốc phiện cho nên tệ nạn buôn bán, sử dụng thuốc phiện đã gia tăng mạnh mẽ. Sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định về quản lý, xử lý người vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện như Nghị định số 225/TTg ngày 22/12/1952 về việc xử lý những người có hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện, Nghị định số 580/TTg ngày 15/9/1955 quy định những trường hợp có thể đưa ra Toà án để xét xử, Nghị định số 76/CP ngày 25/3/1977 về chống buôn lậu thuốc phiện. Trên cơ sở đó, các cơ quan Tư pháp Trung ương đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn đường lối xử lý những vụ án về buôn lậu thuốc phiện. Với việc ban hành các văn bản trên, phần nào đã ngăn chặn, xử lý kịp thời tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán thuốc phiện.
Thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999. Năm 1985, Bộ luật hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời, Bộ luật này không có quy định riêng nào về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép, chiếm đoạt chất ma túy. Ở giai đoạn này, những hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép, chiếm đoạt chất ma túy được pháp luật hình sự giải quyết bằng các quy định khác nhau, tương ứng với hành vi cụ thể. Trước tình hình tội phạm về ma túy nói chung ngày càng gia tăng, nhiều hành vi nguy hiểm chưa được quy định cụ thể vào trong luật thành điều luật riêng nên ngày 28/12/1989 Quốc hội nước ta đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự trong đó có bổ sung Điều 96a – tội sản xuất tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma tuý. Tiếp đó, ngày 10/5/1997 Quốc hội nước ta đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự. Trong đó có bổ sung Chương VIIA “Các tội phạm về ma tuý” vào “Phần các tội phạm” của Bộ luật hình sự. Trong Chương VIIA các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép, chiếm đoạt chất ma túy được quy định tại bốn điều luật riêng rẽ, từ Điều 185c đến Điều 185e. So với Điều 96a trước đây thì Điều 185c, 185d, 185đ, 185e có nhiều điểm mới như: số lượng ma túy không còn quy định mang tính chất định tính nữa mà quy định cụ thể khối lượng các chất ma túy tương ứng với 4 khung hình phạt (Điều 96a chỉ có 3 khung hình phạt); cùng với việc bỏ tình tiết định khung có tính chất chuyên nghiệp là bổ sung thêm những tình tiết định khung mới như “phạm tội nhiều lần”, tình tiết định khung quy định sẽ phải chịu hình phạt quy định tại khung hình phạt đó nếu có nhiều tình tiết quy định tại khoản trước đó; bỏ hình phạt bổ sung quản chế hoặc cấm cư trú đối với người phạm các tội này. Để áp dụng thống nhất các quy định của Bộ luật hình sự về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép, chiếm đoạt chất ma túy, trong thời gian từ năm 1990 đến năm 1998 đã có 9 thông tư liên ngành, thông tư liên tịch được ban hành có chứa nội dung hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về tội phạm ma túy, tùy từng thời điểm mà nội dung hướng dẫn cũng có sự khác nhau.
Thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015: Ngày 21/12/1999, Quốc hội nước ta đã thông qua Bộ luật hình sự mới: Bộ luật hình sự năm 1999. Trong Bộ luật này, các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép, chiếm đoạt chất ma túy được quy định chung trong Điều 194 với tên gọi “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy”. So với các quy định trước đây thì quy định tại Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 đã thể hiện sự hơn hẳn về kỹ thuật lập pháp và sự toàn diện trong quy định tội danh. Sau khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực, để đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành 03 Nghị quyết chứa đựng quy định hướng dẫn áp dụng tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy. Tiếp đó là Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp 15 dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999. Đây là văn bản hướng dẫn một cách chi tiết và toàn diện các quy định về tội phạm ma túy góp phần tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án ma túy cũng như tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy.
Trải qua những giai đoạn nhất định, từ BLHS năm 1985 đến BLHS năm 1999 và nay là BLHS năm 2015, việc xử lý 4 hành vi phạm tội nêu trên về ma túy luôn được quy định trong các điều luật cụ thể thuộc Bộ luật. Nếu như BLHS 1985 khi vừa được thông qua không quy định về 4 hành vi này, thì trong đợt sửa đổi năm 1989 đã kịp thời bổ sung “Tội sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma tuý.” tại điều 96a. Sau đó lại được tách ra quy định tại các Điều 185c, 185d, 185đ và 185e. BLHS 1999 dành riêng chương các tội phạm về ma túy (Chương XVIII) và điều 194 nhập 4 hành vi lại thành một điều luật: “tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy”. Trải qua quá trình thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, BLHS 2015 có hiệu lực vào ngày 1/7/2016 quy định các tội phạm về ma túy tại chương XX, trong đó đặc biệt là việc tách hẳn 4 hành vi nêu trên thành 4 tội danh độc lập chứ không gộp chung trong một điều luật như BLHS 1999 trước đó. Đây là điểm nhấn quan trọng có tác dụng tích cực trong việc đấu tranh phòng ngừa và xử lý tội phạm ma túy.
Quy định của pháp luật về các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của BLHS 2015.
Sự cần thiết của việc quy định tội tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam
Pháp luật là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và được Nhà nước bảo đảm thực hiện, bảo vệ bằng các biện pháp tổ chức giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế của bộ máy nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với thực tế khách quan của đời sống kinh tế – xã hội. Nhà nước quản lí xã hội bằng pháp luật song cũng chú trọng kết hợp với giáo dục tư tưởng đạo đức, truyền thống và nâng cao dân trí cũng như đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội cho toàn dân.
Truyền thống văn hóa phương Đông nói chung và truyền thống văn hóa Việt Nam nói riêng rất coi trọng đạo lí và tình nghĩa, luôn lấy đó làm chuẩn mực đạo đức con người. Đây là những giá trị tốt đẹp đã được gìn giữ và phát huy bao đời nay, trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc.
Trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, phòng chống tệ nạn ma túy và tội phạm ma túy nói riêng, vấn đề đạo lí cũng luôn được đặt ra để nâng cao ý thức chính trị, pháp luật của người dân với tệ nạn ma túy và tác hại của ma túy đối với bản thân người phạm tội và toàn xã hội. Từ nhận thức đúng đắn đó, người dân sẽ có trách nhiệm hơn trong cuộc đấu tranh phòng chống ma túy, đẩy lùi tệ nạn và tác hại của chúng. Những hành vi phạm tội về ma túy nói chung, các hành vi phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy nói riêng không chỉ gây nguy hiểm cho xã hội mà còn vi phạm pháp luật hình sự, trái chuẩn mực đạo đức và đi ngược lại truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Hiện tượng nguy hiểm này có tính phổ biến, lây lan nhanh chóng, tạo ra sự bất ổn và gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, văn hóa, đạo đức, sức khỏe, tâm tư, tình cảm… của con người.
Một trong những tác nhân chính đẩy nhanh tốc độ lây lan tệ nạn ma túy và làm gia tăng tội phạm ma túy ở Việt Nam hiện nay là những hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Để phòng chống và ngăn chặn có hiệu quả đối với hiện tượng nguy hiểm này, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động đấu tranh bằng pháp luật thông qua việc xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật.
Trong hoạt động xây dựng pháp luật, Đảng và Nhà nước ta đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bao gồm các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự, các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự và các quy định của pháp luật về phòng chống ma túy nhằm đấu tranh một cách quyết liệt hơn với tội phạm ma túy. Qua đó, pháp luật thể hiện vai trò quan trọng trong đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy nói chung và tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán chất ma túy nói riêng… Pháp luật là phương tiện ghi nhận và bảo tồn các giá trị đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Việt Nam; Pháp luật là phương tiện để nhà nước thể chế hóa đường lối đấu tranh và kiểm tra đường lối đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy và tội phạm ma túy, pháp luật là phương tiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan chức năng có thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các hành vi phạm tội nói chung, các hành vi phạm tội tàng trữ, vận chuyển, sử dụng chất ma túy nói riêng.
Tóm lại, việc quy định tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trong luật Hình sự Việt Nam là một đòi hỏi khách quan và có tính tất yếu cả về lý luận và trong thực tiễn của đời sống xã hội. Những quy định này không chỉ phản ánh trung thực các điều kiện kinh tế – xã hội và thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ chính trị ở Việt Nam hiện nay mà còn thể hiện rõ quan điểm, quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta cũng như nỗ lực của toàn thể dân tộc Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề phức tạp và cấp bách mang tính toàn cầu: Tệ nạn ma túy và tội phạm ma túy.
Quy định của pháp luật hình sự hiện hành về các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy [5]
Các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy được quy định chi tiết từ điều 249 đến điều 251 trong Bộ luật Hình sự 2015
Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249)
- Mặt khách quan của tội phạm:
“Tàng trữ trái phép chất ma túy” là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất giấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người…) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội này.
Thời gian cất trữ dài hay ngắn không có ý nghĩa xác định người phạm tội có tàng trữ trái phép chất ma túy hay không[6].
Người nào tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy với số lượng sau đây không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma túy khác thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác, theo đó không truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng phải bị xử lý hành chính: Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao coca có trọng lượng dưới 01 gam; Heroin, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng dưới 0,1 gam; Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam; Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam; Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam; Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam; Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít trở xuống.
Hậu quả không phải dấu hiệu bắt buộc của tội này, chỉ cần tội phạm thực hiện hành vi cất giữ trái phép chất ma túy được mô tả trong Điều 249 Bộ luật Hình sự là đã cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Khách thể của tội phạm
Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Chất ma túy là chất kích thích gây nghiện nguy hiểm cho xã hội nên việc quản lý, sử dụng chất ma túy phải tuân theo quy định của pháp luật. Hành vi tự ý tàng trữ chất ma túy đã xâm phạm đến việc quản lý các chất ma túy của Nhà nước.
- Mặt chủ quan của tội phạm
Người phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Người phạm tội biết hoặc phải biết hành vi của mình là trái quy định của pháp luật và gây hậu quả nghiêm trọng nhưng vẫn cố tình thực hiện. Người nào biết người khác đi mua trái phép chất ma túy để sử dụng mà vẫn dùng phương tiện để chở người đó và chất ma túy thì người đó là đồng phạm với người mua chất ma túy về tội vận chuyển hoặc tàng trữ trái phép chất ma túy nếu khối lượng, số lượng ma túy bị bắt giữ đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy.
- Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của các tội tàng trữ trái phép chất ma túy là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự[7].
- Hình phạt
Tội tàng trữ trái phép chất ma túy có 04 khung hình phạt tương ứng với 04 khoản (từ khoản 1 đến khoản 4) của Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Khung 1: Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm trong trường hợp: đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam; Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam; Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam; Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam; Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam; Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít; Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.
Khung 2: Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm trong trường hợp: Có tổ chức (tức là trường hợp nhiều người cùng bàn bạc, câu kết với nhau để phạm tội dưới sự chỉ đạo của một kẻ cầm đầu); Phạm tội 02 lần trở lên; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn (lợi dụng sự tín nhiệm, tin tưởng của mọi người, lợi dụng uy quyền để cấu kết, tiếp tay cho tội phạm); Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội (là việc xúi giục, cưỡng ép, đe dọa, khống chế, lôi kéo trẻ dưới 16 tuổi vào việc phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy dưới bất kì hình thức nào. Việc làm này xâm phạm quyền trẻ em và đặc biệt nguy hiểm cho xã hội); Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam; Heroin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam; Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam; Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam; Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam; Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam; Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít; Tái phạm nguy hiểm; Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này.
Khung 3: Phạt tù từ 10 năm đến 15 năm trong trường hợp: Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam; Heroin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam; Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam; Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam; Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam; Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam; Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít; Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.
Khung 4: phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân trong trường hợp: Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên; Heroin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng 100 gam trở lên; Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng 75 kilôgam trở lên; Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên; đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên; Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên; Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên; Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.
Việc áp dụng khung hình phạt nào tùy thuộc vào hành vi thực tế của người phạm tội. Ngoài ra, Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250 BLHS 2015)
Vận chuyển trái phép chất ma túy là hành vi chuyển dịch bất hợp pháp chất ma túy từ nơi này đến nơi khác, từ vị trí này sang vị trí khác, từ người này sang người khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác… bằng bất kì phương thức nào (trừ hình thức chiếm đoạt) nhưng không nhằm mục đích mua bán. Nếu vận chuyển ma túy hộ cho người khác mà biết rõ mục đích mua bán ma túy của người mà mình vận chuyển hộ thì người có hành vi vận chuyển ma túy bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò giúp sức. Khi xác định hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy cũng như hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như trên, các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, trong một không gian, thời gian nhất định để phân biệt hành vi nào là hành vi tàng trữ và hành vi nào là hành vi vận chuyển.
Các yếu tố cấu thành tội vận chuyển trái phép chất ma túy
- Mặt khách quan:
Đối với tội vận chuyển trái phép chất ma túy, mặt khách quan thể hiện qua hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Phương pháp vận chuyển chất ma túy rất đa dạng: Qua đường bưu điện, đường không, đường sắt, đường bộ, đường thủy và bằng các phương tiện khác nhau như xe ô tô, máy bay, tàu thủy…hoặc không có phương tiện như đi bộ, mang, vác chất ma túy…
- Khách thể:
Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy.
- Mặt chủ quan:
Người phạm tội thực hiện tội phạm nêu trên với lỗi cố ý, tức là biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật và kéo theo hậu quả nhưng vẫn cố tình thực hiện.
- Chủ thể:
Chủ thể của các tội phạm nêu trên là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện một trong các hành vi mua bán trái phép chất ma túy đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy.
- Hình phạt:
Mức hình phạt của tội này được chia thành bốn khung cụ thể như sau:
Khoản 1 có mức phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Được áp dụng đối với trường hợp có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản của các tội phạm nêu trên.
Khoản 2 có mức phạt tù từ 7 năm đến 15 năm. Được áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội có tổ chức; phạm tội nhiều lần (là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy 02 lần trở lên và đều cấu thành tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức để phạm tội (là trường hợp một người nào đó lợi dụng cơ quan, tổ chức mà mình là thành viên để thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy); vận chuyển, mua bán qua biên giới (được hiểu là vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy từ Việt Nam qua biên giới một nước khác hoặc ngược lại; sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho trẻ em (chẳng hạn sử dụng trẻ em vào việc mua bán, vận chuyển chất ma túy hoặc bán ma túy cho trẻ em sử dụng…); nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ 500 gam đến dưới 1 kilôgam; heroin hoặc côcain có trọng lượng từ 5 gam đến dưới 30 gam; lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam; quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 ki lôgam; quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam; các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam; các chất ma túy khác ở thể lỏng từ 100 mililit đến dưới 250 mililit; có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy nêu tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản 2 Điểu 249 Bộ luật Hình sự; tái phạm nguy hiểm.
Khoản 3 có mức phạt tù từ 15 năm đến 20 năm. Được áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau đây: Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ 1 kilôgam đến dưới 5 kilôgam; heroin hoặc côcain có trọng lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam; lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam; quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam; quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam; các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam; các chất ma túy khác ở thể lỏng từ hai 250 mililit đến dưới 750 mililit; có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy nêu tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Khoản 4 có mức phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Được áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau đây: nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ 5 kilôgam trở lên; hêrôin hoặc côcain có trong lượng 100 gam trở lên; lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ 75 ki lôgam trở lên; quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ 600 kilôgam trở lên; quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ 150 kilôgam trở lên; các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng từ 300 gam trở lên; các chất ma túy khác ở thể lỏng từ 750 mililít trở lên; có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Ngoài việc chịu một trong các hình phạt như đã nêu ở trên, tùy từng trường hợp cụ thể, người phạm các tội nêu trên còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng; tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251 BLHS 2015)
Mua bán trái phép chất ma túy là hành vi bán hay mua để bán lại; vận chuyển ma tuý để bán cho người khác; tàng trữ để bán lại hoặc để sản xuất ra chất ma tuý khác để bán lại trái phép; hoặc dùng ma tuý để đổi lấy hàng hoá hay dùng hàng hoá để đổi lấy ma tuý.
Bán trái phép chất ma túy cho người khác là dùng ma túy mà mình có dưới bất kì hình thức nào để bán cho người khác hoặc để đổi lấy tài sản.
Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác là dùng tiền hoặc tài sản để đổi lấy chất ma túy và dùng chất ma túy đó bán cho nguời khác lấy tiền hoặc tài sản. Việc xác định hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng căn cứ vào các tình tiết khách quan của vụ án. Chỉ khi nào các cơ quan tiến hành tố tụng xác định rõ mục đích của người phạm tội là mua chất ma túy đó nhằm bán lại thì mới có thể truy cứu trách nhiệm hình sự người đó về tội mua bán trái phép chất ma túy.
Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác là hành vi được thực hiện bằng lời nói hoặc hành động để người khác cho mình chất ma túy rồi dùng chất ma túy đó bán lại cho người khác để lấy tiền hoặc đổi lấy tài sản, đồ dùng khác không phải là tiền. Nếu người phạm tội xin được chất ma túy và bán ngay cho người khác thì hành vi đó là phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Nếu người phạm tội xin được chất ma túy và cất giữ, sau đó mới bán cho người khác thì hành vi đó được xác định là tội tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy.
Tàng trữ ma túy nhằm bán trái phép cho người khác là hành vi cất trữ trái phép chất ma túy và đem bán cho người khác. Nếu người đó chỉ tàng trữ mà không bán hoặc cơ quan tiến hành tố tụng không chứng minh được người đó tàng trữ để bán thì người đó chỉ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Cũng như các tội phạm khác được quy định trong BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), tội mua bán trái phép chất ma túy gồm 4 cấu thành cơ bản sau:
- Chủ thể:
Chủ thể của tội phạm này là chủ thể thường, bất cứ ai đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đạt đủ tuổi luật định đều có thể bị coi là chủ thể phạm tội, trong trường hợp đồng phạm thì dù chỉ là giúp sức, xúi giục, tổ chức… cũng đều xác định là mua bán trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi phạm tội này nếu rơi vào khung hình phạt tăng nặng được quy định tại Khoản 2, 3 và 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015.
- Khách thể:
Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Đối tượng tác động của tội này là các chất ma túy.
- Mặt khách quan:
Hành vi khách quan được quy định là hành vi mua bán trái phép chất ma túy, bao gồm cả những hành vi mua bán hộ người khác để hưởng tiền công hoặc những lợi ích khác. Mục đích của hành vi này là mua bán, nếu chỉ là vận chuyển hay tàng trữ thì không cấu thành tội này.
- Mặt chủ quan:
Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý.
Nếu chất ma túy đem ra mua bán được xác định là ma túy giả thì: Nếu người thực hiện hành vi mua bán biết đó là chất ma túy giả nhưng cố ý làm cho người khác tưởng là ma túy thật để thực hiện hành vi mua bán chất ma túy giả đó, thì người mua bán ma túy giả đó không phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Nếu người mua bán chất ma túy có ý thức rằng chất ma túy đó là thật nhưng thực chất đó là chất ma túy giả thì người thực hiện hành vi mua bán chất ma tuý đó vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
- Hình phạt với tội mua bán trái phép chất ma túy
Về mức hình phạt đối với tội phạm này được BLHS 2015 quy định trong 4 điều khoản từ cơ bản đến tăng nặng tương ứng với mức độ nghiêm trọng tăng dần của hình phạt và hành vi.
Trong điều khoản cơ bản tại khoản 1, khung hình phạt là từ 02 năm đến 07 năm; Khoản 2 là từ 07 năm đến 15 năm trong những trường hợp phạm tội có tổ chức; phạm tội 02 lần trở lên, mua bán với 02 người trở lên; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người dưới 16 tuổi; nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam; hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam; lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam; quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam; quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam; các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam; các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít; có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm n khoản này; tái phạm nguy hiểm.
Khoản 3 là từ 15 năm đến 20 năm trong trường hợp: quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam; quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam; các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam; các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít; có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.
Khoản 4 là từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình trong trường hợp: nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên; heroin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng 100 gam trở lên; lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng 75 kilôgam trở lên; quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên; quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên; các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên; các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên; có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.
Mức hình phạt vẫn được giữ nguyên từ thấp nhất (02 năm) đến cao nhất (tử hình), qua đó cho ta thấy sự nhìn nhận của nhà nước về mức độ nguy hiểm cao độ của tội mua bán trái phép chất ma tuý so với các hành vi khác xâm phạm các quy định về ma tuý của pháp luật.
Quy định mới cũng đã bổ sung thêm các tình tiết tăng nặng mới nhằm phù hợp với điều kiện, tình hình hiện tại hoặc những công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc đã ký kết như: quy định về bảo vệ trẻ em vị thành niên “Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người dưới 16 tuổi” luật quy định cụ thể độ tuổi ở đây là người dưới 16 tuổi chứ không quy định chung chung là trẻ em như BLHS 1999; Quy định nhằm hạn chế tác hại của việc mua bán trái phép chất ma tuý đối với cộng đồng “Mua bán với 02 người trở lên”; bổ sung loại ma tuý tổng hợp mà trước đây chưa quy định như Methamphetamine, Amphetamine, MDMA, hay thêm các bộ phận của cây cần sa như rễ, thân, cành nhằm sản xuất chất ma tuý.
Xác định hành vi mua chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác cần chú ý: Chỉ khi nào xác định rõ mục đích của người phạm tội mua chất ma tuý đó là nhằm bán lại thì mới truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý. [3]
Phân biệt tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy với tội chiếm đoạt trái phép chất ma túy
Thông thường, các hành vi phạm tội “tàng trữ”, hành vi “vận chuyển”, hành vi “mua bán” trái phép chất ma túy không được thực hiện một cách độc lập, riêng lẻ mà thường nằm trong một chuỗi các hành vi kế tiếp nhau và đan xen nhau. Hơn nữa, các tội phạm “tàng trữ”, “vận chuyển” và “mua bán trái phép chất ma túy” đều được xem là hoàn thành kể từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm mà không cần phải có thêm một dấu hiệu pháp lí nào khác.
Trong khi đó, hành vi phạm tội “chiếm đoạt chất ma túy” thường được thực hiện một cách độc lập, riêng lẻ và luôn phải kèm them dấu hiệu pháp lí khác trong cấu thành tội phạm tương ứng với hành vi chiếm đoạt. Ví dụ: hành vi trộm cắp chất ma túy phải đi kèm với hành vi lén lút, hành vi cướp chất ma túy phải đi kèm với hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt chất ma túy, hành vi cưỡng đoạt chất ma túy phải đi kèm với hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt chất ma túy hoặc hành vi lừa đảo chiếm đoạt chất ma túy phải đi kèm với thủ đoạn gian dối….
Mặt khác, các hành vi phạm tội “tàng trữ”, “vận chuyển”, “mua bán trái phép chất ma túy” đều được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và đối tượng tác động của tội phạm trong các trường hợp phạm tội này đều phải được xác định là chất ma túy. Tuy nhiên, hành vi phạm tội “chiếm đoạt chất ma túy” có thể được thực hiện do lỗi cố ý gián tiếp, tức là người thực hiện hành vi phạm tội “chiếm đoạt chất ma túy” có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra mà không cần biết đối tượng chiếm đoạt là chất ma túy hay là các loại tài sản khác. Ngoài ra, khi hành vi phạm tội “chiếm đoạt chất ma túy” gây ra những thiệt hại (nếu có) về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, danh dự hoặc thiệt hại về tài sản cho người khác, thì người thực hiện hành vi phạm tội “chiếm đoạt chất ma túy” đó còn phải chịu trách nhiệm hình sự về những hành vi độc lập tương ứng với những thiệt hại (nếu có) mà người phạm tội đã gây ra.
1.3. Một số điểm khác biệt trong các quy phạm pháp luật về tội danh ma túy của BLHS 2015 so với BLHS 1999
So với BLHS sửa đổi bổ sung năm 2009, BLHS năm 2015 (chương XX) có sửa đổi, bổ sung 02 nội dung lớn: (i) Tách Điều 194 BLHS hiện hành thành các tội độc lập nhằm thực hiện chủ trương giảm quy định hình phạt tử hình đối với tội phạm về ma túy và (ii) sửa đổi một số tiết tiết định khung hình phạt nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và đảm bảo sự công bằng giữa các đối tượng phạm tội, nhất là tình tiết liên quan đến hàm lượng chất ma túy.
1.3.1. Tách Điều 194 BLHS 1999 sửa đổi 2009 thành các tội độc lập nhằm thực hiện chủ trương giảm quy định hình phạt tử hình đối với tội phạm về ma túy
Điều 194 BLHS 1999 sửa đổi 2009 được BLHS 2015 tách thành 4 Điều luật độc lập:
Điều 249. tàng trữ trái phép chất ma túy;
Điều 250. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy;
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy;
Điều 252. Tội chiếm đoạt chất ma túy;
Theo đó, BLHS 2015 cụ thể hóa các tội phạm này, khác với Điều 194 BLHS 1999 sửa đổi 2009 cơ bản nhất là ở khoản 1 của các Điều luật 249, 250, 251 ngoài quy định mức chế tài các điều luật này còn liệt kê các hành vi vi phạm mà ở Điều 194 BLHS 1999 sửa đổi 2009 chưa làm được.
Ngoài ra, ở điểm b, khoản 3 của các điều này ngoài Hêrôin và côcain, còn bổ sung thêm các chất mới như: Methamphetamine, Amphetamine, MDMA.
Tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt quy định trong BLHS. Thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình trong nhiều thập kỷ qua cho thấy, hình phạt này đã đem lại những tác dụng nhất định trong việc trừng trị những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật. Tuy nhiên, mặt trái của hình phạt này là tước đi quyền sống – quyền cơ bản, quan trọng nhất của con người, tước bỏ cơ hội tái hòa nhập với cộng đồng và phục thiện của người bị kết án.
Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm cho thấy, không có một nền tư pháp nào trên thế giới có thể bảo đảm chính xác tuyệt đối, không có oan sai và nếu oan sai trong việc kết án và thi hành án tử hình xảy ra thì không còn khả năng khắc phục sai lầm. Do đó, nhiều quốc gia trên thế giới đang tiếp tục thu hẹp phạm vi hình phạt tử hình và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn loại hình phạt này trong hệ thống hình phạt. Trong thời điểm hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu đề xuất hạn chế hình phạt tử hình ở nước ta là sự thể hiện tinh thần của Hiến pháp năm 2013 trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền sống của con người, đồng thời tiếp tục thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng về giảm hình phạt tử hình trong các Nghị quyết của Đảng như: Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Theo đó, Nghị quyết số 49/NQ-TW đã khẳng định chủ trương “Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Bên cạnh đó, việc tiếp tục hạn chế hình phạt tử hình ở nước ta còn nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế vì đến nay, Việt Nam đã trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế về quyền con người, trong đó liên quan trực tiếp đến quyền sống như Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 và Công ước về quyền trẻ em năm 1989. Các Công ước này đưa ra những nguyên tắc cụ thể định hướng cho việc áp dụng cũng như thi hành hình phạt tử hình ở những quốc gia mà hình phạt tử hình chưa được xoá bỏ, ví dụ như: chỉ được phép áp dụng án tử hình đối với những tội ác nghiêm trọng nhất, căn cứ vào luật pháp hiện hành tại thời điểm tội phạm được thực hiện hoặc là không được phép tuyên án tử hình đối với người phạm tội dưới 18 tuổi và không được thi hành án tử hình đối với phụ nữ đang mang thai.
Qua số liệu thống kê của các cơ quan chức năng, số lượng các bị cáo bị kết án tử hình chủ yếu về tội phạm ma túy. Do đó, dù có bỏ hình phạt tử hình đối với các tội phạm nêu trên thì cũng không giảm án tử hình trên thực tế được bao nhiêu, bởi lẽ, thực tiễn cho thấy số án tử hình chủ yếu tập trung vào tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý (Điều 194 BLHS). Do vậy, để góp phần giảm án tử hình trên thực tế BLHS 2015 Điều 194 của BLHS về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý theo hướng tách riêng thành các tội danh độc lập, đồng thời chỉ giữ lại hình phạt tử hình đối với tội mua bán trái phép chất ma túy. Còn đối với các tội danh khác thì mức hình phạt cao nhất là tù chung thân.
Quy định này một mặt, hạn chế việc áp dụng hình phạt tử hình đối với các tội phạm ma túy chủ yếu về hành vi tàng trữ, vận chuyển chất ma túy đang diễn ra hiện nay, mặt khác, góp phần cá thể hoá các đối tượng phạm tội để bảo đảm chỉ áp dụng hình phạt tử hình đối với những người phạm tội đến mức đáng phải chịu như vậy. Trường hợp chứng minh được hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy nằm trong quy trình mua bán trái phép chất ma tuý có tổ chức, tiếp tay cho hoạt động mua bán trái phép chất ma tuý thì người có hành vi này sẽ bị xử lý về tội mua bán trái phép chất ma tuý. Còn nếu chỉ đơn thuần là hành vi tàng trữ hoặc vận chuyển thuê chất ma tuý trái phép, nhất là vận chuyển thuê để lấy tiền thì hình phạt tù chung thân đối với người phạm tội là đủ nghiêm khắc.
1.3.2. Sửa đổi một số tình tiết định khung hình phạt nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và đảm bảo sự công bằng giữa các đối tượng phạm tội, nhất là tình tiết liên quan đến hàm lượng chất ma túy
Điều 248, Điều 253, 254, 255, 256, 257: điểm b, khoản 2 sửa “phạm tội nhiều lần” thành “Phạm tội 02 lần trở lên”;
Các điều luật ở chương XX của BLHS 2015 ở khoản 1 không chỉ quy định các mức chế tài như BLHS 1999 sửa đổi 2009 mà còn liệt kê vi phạm cụ thể các hành vi, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho người áp dụng và sử dụng luật.
Về việc xác định hàm lượng chất ma túy để làm căn cứ định tội, định khung hình phạt:
Trong Danh mục chất ma túy ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19-7-2013 của Chính phủ thì chất ma túy bao gồm nhiều loại chất gây nghiện, chất hướng thần khác nhau; mỗi loại có cấu tạo, thành phần, mức độ nguy hiểm khác nhau, từ đó các biện pháp quản lý, kiểm soát và xử lý đối với người vi phạm cũng khác nhau.
Theo quy định tại Chương XVIII của Bộ luật hình sự thì có một số loại thảo mộc có chứa chất ma túy như: lá, hoa, quả cây cần sa; lá côca; quả thuốc phiện; có những chất ma túy được tinh chế qua quá trình sản xuất như: Hêrôin, Côcain, nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao côca, các chất ma túy khác ở thể rắn và thể lỏng. Tùy thuộc vào tính chất nguy hiểm của từng loại ma túy, khung hình phạt áp dụng tương ứng với trọng lượng của từng loại chất ma túy được quy định khác nhau.
Ví dụ: Theo quy định tại khoản 3 Điều 194 của Bộ luật hình sự thì người mua bán trái phép quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ 50 kg đến dưới 150 kg thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm; nếu chất ma túy là Hêrôin thì trọng lượng quy định là từ 30 gam đến dưới 100 gam. Như vậy, việc xác định loại chất ma túy, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy trong các vụ án về ma túy là rất quan trọng và là căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Theo hướng dẫn tại tiểu mục 1.4 mục 1 phần I Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT -BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24-12-2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999 (gọi tắt là Thông tư liên tịch số 17), thì: “Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma tuý hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma tuý, tiền chất. Nếu chất được giám định không phải là chất ma tuý hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý, nhưng người thực hiện hành vi ý thức rằng chất đó là chất ma tuý hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý, thì tuỳ hành vi phạm tội cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự người đó theo tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng đối với các tội phạm về ma tuý.
Trường hợp một người biết là chất ma tuý giả nhưng làm cho người khác tưởng là chất ma tuý thật nên mua bán, trao đổi… thì người đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm về ma tuý mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật hình sự, nếu thoả mãn các dấu hiệu khác nữa trong cấu thành tội phạm của tội này”.
Tại tiết a và b tiểu mục 1.1 mục 1 phần I Thông tư liên tịch số 17 cũng đã hướng dẫn:
a) Đối với các chất ma tuý ở thể rắn được hoà thành dung dịch (như dung dịch thuốc phiện, dung dịch hêrôin dùng để tiêm, chích) hoặc chất ma tuý ở thể lỏng đã được pha loãng để tiện cho việc sử dụng thì không coi toàn bộ dung dịch này là chất ma tuý ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng moocphin trong dung dịch để tính trọng lượng của chất ma tuý đó.
b) Đối với xái thuốc phiện thì không coi là nhựa thuốc phiện mà phải xác định hàm lượng moocphin trong xái thuốc phiện để tính trọng lượng của thuốc phiện.
Có thể nói, yêu cầu về giám định chất ma túy theo các hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 17 nêu trên đã bảo đảm tính đúng đắn, khoa học và được thể hiện rõ ràng; hoàn toàn phù hợp với quy định của Bộ luật hình sự; Luật phòng, chống ma túy và các văn bản pháp luật có liên quan. Tuy nhiên, đã qua 7 năm, các hướng dẫn nêu trên vẫn chưa được các cơ quan tiến hành tố tụng quán triệt và thực hiện đúng. Đến nay, thực hiện tinh thần của Hiến pháp năm 2013 không cho phép tiếp tục vi phạm. Theo Từ điển tiếng Việt thì hàm lượng là “lượng của một chất chứa trong một hỗn hợp hoặc trong một chất nào đó, tính bằng phần trăm (%)” . Như vậy, có thể hiểu hàm lượng chất ma túy là phần trăm chất ma túy có trong chất nghi là ma túy được giám định. Phải xác định được hàm lượng chất ma túy có trong chất nghi là ma túy thì cơ quan tiến hành tố tụng mới có thể xác định chính xác được trọng lượng chất ma túy để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ. Ví dụ: tang vật nghi là chất ma túy thu giữ được có trọng lượng là 1000 gam; kết quả giám định có 5% là Heroin thì trọng lượng Heroin được xác định sẽ là 1000 gam x 5% = 50 gam. Nếu cho rằng trọng lượng Heroin thu được là 1000 gam thì Tòa án sẽ xử bị cáo ở mức án tử hình; nếu xác định chính xác chỉ có 50 gam Heroin thì bị cáo chỉ bị xét xử tối đa là 20 năm tù. Tại Công văn số 20542/QLD-KD ngày 25-11-2014 của Cục quản lý dược, Bộ Y tế gửi Tòa án nhân dân tối cao cũng đã xác định về sự cần thiết phải giám định để xác định loại ma túy, hàm lượng và trọng lượng ma túy khi giải quyết các vụ án về ma túy .
Thực tế hiện nay, do điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật ở một số địa phương còn chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác giám định; đặc biệt là ở những khu vực xa trung tâm nên đã nảy sinh những khó khăn, lúng túng trong việc giám định hàm lượng chất ma túy. Tuy nhiên, Việt Nam hiện đã tham gia các Công ước quốc tế về quyền con người. Bởi vậy trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử luôn phải đảm bảo sự công bằng, công lý và vì quyền con người. Những khó khăn, bất cập trong công tác giám định chất ma túy cần phải được giải quyết theo hướng tăng cường năng lực cho các cơ quan có chức năng giám định trong tố tụng hình sự, đặc biệt là việc trang bị máy móc, phương tiện kỹ thuật và đào tạo nghiệp vụ. Có thực hiện nghiêm việc giám định hàm lượng chất ma túy theo đúng hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 17 thì Tòa án mới có căn cứ để tuyên một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh oan sai và bỏ lọt tội phạm. Nếu khi thụ lý hồ sơ vụ án từ Viện kiểm sát mà trong hồ sơ không có kết quả giám định hàm lượng chất ma túy trong các chất thu giữ được nghi là chất ma túy thì không có đủ căn cứ để Tòa án giải quyết vụ án và có thể dẫn đến kết quả xét xử bị oan sai, đặc biệt là đối với những vụ án nghiêm trọng, có mức án chung thân hoặc tử hình; hậu quả xảy ra sẽ là rất lớn, thậm chí không thể khắc phục được và Tòa án là chủ thể phải chịu trách nhiệm về hậu quả này.
1.4. Sự bất cập trong quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy
Hiện nay, hệ thống các quy phạm pháp luật của nước ta còn thiếu đồng bộ, thiếu chặt chẽ, các văn bản hướng dẫn dưới luật chưa đầy đủ, kịp thời. Một số văn bản hướng dẫn thực hiện BLHS còn nhiều bất cập, không phù hợp với thực tiễn diễn biến tình hình tội phạm. BLHS quy định nhiều tội danh trong cùng một điều luật với chế tài, khung hình phạt chung cho tất cả các hành vi phạm tội là chưa hợp lý, gây khó khăn cho việc định tội danh và quyết định hình phạt chính xác, công bằng vì tính chất, mức độ, nguy hiểm của mỗi hành vi không giống nhau. Các tội danh về ma túy bị trùng lặp tình tiết định khung nhiều. Lỗi dễ nhận thấy nhất ở BLHS sửa đổi lần này là có nhiều điều luật bị trùng lặp các tình tiết định khung.
Cụ thể tại Điều 249 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy: Với quy định như trong văn bản đã công bố thì khi có vi phạm ở mức dưới 10kg sẽ không bị xử lý về hành vi này và khi có người tàng trữ Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam thì không biết nên xử lý theo khoản 2 hay khoản 3 vì khối lượng ghi trong các khoản là giống nhau.
Tại Điều 250 về tội vận chuyển trái phép chất ma túy: Với quy định đã công bố thì khi có vi phạm dưới 10kg sẽ không bị xử lý về hành vi này. Nếu người nào vận chuyển Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam thì không biết sẽ bị xử lý theo khoản 1 hay khoản 2 vì khối lượng cho mức phạt ghi trong các khoản là giống nhau.
Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, mức hình phạt nhẹ nhất là khoản 1 có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù, trong khi hành vi mua bán trái phép chất ma túy, khoản 1 có mức hình phạt nhẹ nhất từ 02 đến 07 năm tù. Quy định trên thể hiện sự đánh giá tính nguy hiểm của tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhẹ hơn so với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chính điều này là nguyên nhân gây ra một số vướng mắc trong giải quyết vụ án mà trước đây áp dụng Điều 194 BLHS 1999 không gặp phải.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS 2015: “… Tàng trữ trái phép chất ma túy là … không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy”. Điều đó có nghĩa là nếu một người tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích mua bán thì không phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Không phải tinh thần quy định này chưa được giải thích trong văn bản pháp luật, tại Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT-BCA-VKSTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối cao – Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999 đã hướng dẫn: Mua bán trái phép chất ma túy gồm nhiều hành vi trong đó có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác.
Do vậy, theo Hướng dẫn tại Thông tư số 17, khi xác định được một người tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác thì người đó phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng Thông tư 17 hướng dẫn áp dụng BLHS 1999 đến nay đã hết hiệu lực. Trong khi chưa có hướng dẫn cụ thể đối với các tội phạm về ma túy của BLHS 2015 sửa đổi, ảnh hưởng nhiều đến việc xác định tội danh, đặc biệt khi mà tội tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy có mức hình phạt khác nhau.
Vấn đề nhất quán trong định tội danh giữa tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của BLHS 2015 ngay sau khi xác định được toàn bộ hành vi khách quan, động cơ, mục đích có ý nghĩa quan trọng, thiết thực đối với công tác kiểm sát điều tra, truy tố.
Thực tiễn hiện nay xảy ra trường hợp: Toàn bộ quá trình điều tra, truy tố bị can khai nhận tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích ai mua thì bán, nhưng cơ quan tố tụng đánh giá chứng cứ cho rằng ngoài lời khai của bị can không xác định được người mua cụ thể nên không đủ căn cứ xác định bị can phạm tội mua bán mà bị can chỉ phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Hoặc trường hợp ngoài 01 lần bán ma túy hoàn thành, bị can còn tàng trữ 0,1 gam Heroin mục đích có ai mua thì bán (không xác định được người mua), Viện kiểm sát truy tố 02 tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Điều 251 và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249. Tòa án cho rằng bị cáo chỉ phạm một tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đối với 0,1 gam ma túy Heroin nhằm để bán có 02 luồng ý kiến:
Một là: Phải tính là một lần bán ma túy để xét xử bị cáo theo khoản 2 Điều 251 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết “phạm tội nhiều lần”.
Hai là: Lượng ma túy này cần được thu hút vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, để xét xử bị cáo theo khoản 1 Điều 251.
Những quan điểm như trên đều bộc lộ những điểm bất hợp lý.
Thứ nhất: Ngoài BLHS 2015 đang có hiệu lực, đến thời điểm hiện nay, không có định nghĩa cụ thể trong bộ luật hoặc hướng dẫn của trung ương về hành vi mua bán trái phép chất ma túy là gì, nhưng qua quy định Tàng trữ trái phép chất ma túy mà … không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất tại khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 có thể hiểu: Khi một người có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để bán trái phép là phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, như tinh thần hướng dẫn tại Thông tư 17 trước đây.
Thứ hai: Trong đời sống thực tiễn, thông thường người bán hàng (bất kỳ mặt hàng gì, lương thực, thực phẩm, thuốc men…) đều không biết cụ thể người sẽ mua hàng hóa của mình là ai, nhưng có một điều chắc chắn họ luôn có mục đích bán hàng, họ được xã hội gọi là người làm nghề buôn bán, kinh doanh, doanh nhân… Liên hệ với trường hợp người bán ma túy, họ cũng không thể biết họ sẽ bán ma túy cho ai cụ thể trước được, chỉ biết rằng họ luôn sẵn có ma túy để bán cho người có nhu cầu. Do đó, lập luận phải chứng minh được người mua thì mới cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy là khiên cưỡng, không đúng tinh thần Điều 249 BLHS 2015.
Để thống nhất trong xác định tội danh, phục vụ tốt công tác áp dụng pháp luật hình sự, liên ngành trung ương cần có hướng dẫn để thống nhất giải quyết những tranh chấp, xung đột trong định tội danh đối với trường hợp “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhằm mục đích để bán nhưng không xác định được người mua và trường hợp ngoài hành vi mua bán hoàn thành (ví dụ 01 lần), người phạm tội còn tàng trữ trái phép một lượng chất ma túy (đủ định lượng của tội tàng trữ trái phép chất ma túy) nhằm mục đích để bán nhưng không xác định được người mua.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương này đã trình bày khái quát về khái niệm chất “ma túy”, cách phân loại ma túy cũng như hiểu thêm về lịch sử hình thành và phát triển các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Đồng thời, thấy được vai trò quan trọng của việc quy định các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trong pháp luật hình sự Việt Nam. Bên cạnh đó, so sánh một số điểm khác biệt trong quy định của pháp luật hiện hành so với bộ luật hình sự 1999 về các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy; qua đó nêu lên được những bất cập vẫn còn tồn tại trong hệ thống quy phạm pháp luật của nước ta.
CHƯƠNG 2:
THỰC TIỄN XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN VỀ TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN,
MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN SƠN TRÀ – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1. Giới thiệu khái quát về quận Sơn Trà – thành phố Đà Nẵng
Quận Sơn Trà được thành lập ngày 23/01/1997, có vị trí khá đặc biệt trên bản đồ thành phố Đà Nẵng, ngăn cách với quận Hải Châu bằng một con sông về phía Tây, phía Nam giáp quận Ngũ Hành Sơn, phía Đông và Bắc giáp biển Đông.
Theo Nghị định số 07/1997/NĐ-CP của Chính phủ, quận Sơn Trà được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của các phường An Hải Tây, An Hải Bắc, An Hải Đông, Nại Hiên Đông, Mân Thái, Phước Mỹ, Thọ Quang của khu vực III thành phố Đà Nẵng trực thuộc tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng cũ. Quận Sơn Trà có 5.972 ha diện tích tự nhiên và 96.756 người, gồm 7 phường. Đến năm 2018 dân số toàn quận là 173.455 người.
Quận Sơn Trà là nơi có Khu Công nghiệp An Đồn – khu công nghiệp đầu tiên của Đà Nẵng. Bán đảo Sơn Trà có cảnh quan đẹp với bãi biển Sơn Trà là nơi đang có nhiều dự án khu nghỉ mát đang được xây dựng.
Quận Sơn Trà có vị trí quan trọng về kinh tế, có cảng biển Tiên Sa là cửa khẩu quan hệ kinh tế quốc tế không chỉ của thành phố Đà Nẵng mà của cả khu vực miền Trung, Tây Nguyên và các nước Lào, đông bắc Thái Lan, Myanma. Với Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, một dãy bờ biển đẹp với nhiều bãi san hô lớn, Sơn Trà có điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế và phát triển du lịch dựa trên du lịch sinh thái và du lịch biển.
F:\TÀI LIỆU NĂM 2023/ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÉT XỬ CÁC TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, MUA BÁN
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÉT XỬ CÁC TỘI TÀNG TRỮ VẬN CHUYỂN MUA BÁN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÉT XỬ CÁC TỘI TÀNG TRỮ VẬN CHUYỂN MUA BÁN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÉT XỬ CÁC TỘI TÀNG TRỮ VẬN CHUYỂN MUA BÁN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÉT XỬ CÁC TỘI TÀNG TRỮ VẬN CHUYỂN MUA BÁN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÉT XỬ CÁC TỘI TÀNG TRỮ VẬN CHUYỂN MUA BÁN


