Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài
Về mặt thực tiễn, trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, đa dạng hóa và mở rộng dịch vụ là xu hướng tất yếu tại các ngân hàng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Tại Việt Nam hiện nay, các ngân hàng thương mại không chỉdừng lại ởviệc đẩy mạnh các dịch vụtruyền thống mà ngày càng phát triển nhiều loại hình hoạt động, trong đó nhiều ngân hàng phát triển thành mô hình có tính chất hỗn hợp. Các hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại như góp vốn, mua cổ phần, đầu tư chứng khoán theo đó được đẩy mạnh, trở thành hoạt động có vịtrí ngày càng quan trọng bởi lợi ích kinh tế và ý nghĩa phân tán rủi ronhất định đối với các ngân hàng. Tuy nhiên, xuất phát từđặc thù của hoạt động ngân hàng nói chung và rủi ro tiềm ẩn liên quan đến vấn đề xung đột lợi ích hàm chứa trong các hoạt động đầu tư , yêu cầu cần kiểm soát chặt chẽ nhóm hoạt động này đối với ngân hàng thương mại là rất cần thiết. Sự kiểm soát này hướng đến mục tiêu không gây ảnh hưởng hoặc hạn chế thấp nhất ảnh hưởng đến hoạt động và chức năng trung gian tiền tệ của ngân hàng thương mại cũng như cả hệ thống, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền.
Thực tế giai đoạn vừa qua cho thấy, những bất ổn của thị trường tài chính toàn cầu tác động mạnh mẽ đến hoạt động của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam, dẫn đến những yếu kém nội tại được thể hiện rõ ràng. Yêu cầu tăng cường sự can thiệp và quản lí của Nhà nước đối với hệ thống ngân hàng càng được đặt ra cấp thiết.
Vềmặt pháp luật, việc ban hành mới và sửa đổi Luật cáctổchức tín dụng (năm 1997, 2004 và 2010, 2017) cùng văn bản hướng dẫn thi hành đã thiết lập một cơ sở pháp lí tương đối đầy đủ, chi tiết hơn trong điều chỉnh hoạt động ngân hàng và đảm bảo an toàn hệ thống. Tuy nhiên,một số bất cập,hạn chế vẫn còn tồn tại xét
từng nhóm nội dung, đặc biệt trong nhóm quy phạm điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại. Những hạn chế này gây ra những hệ quả và rủi ro nhất định trên thực tế thị trường và đặt ra yêu cầu cần thiết phải hoàn thiện nhằm đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng và nền tài chính.
8
Về mặt nghiên cứu, mặc dù là một nội dung quan trọng trong cơ cấu hoạt động của ngân hàng và thị trường tài chính, nhưng hiện nay nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu. Các công trình đã được công bố tập trung vào hoạt động huy động vốn hoặc cấp tín dụng của ngân hàng thương mại. Pháp luật về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại chỉ được đề cập ở từng nội dung hoạt động vàchủ yếu trên giác độ kinh tế, những phân tích chuyên sâu hoặc chuyên ngành, đặc biệt về pháp luật rất hạn chế. Điểm qua nội dung các công trình này được mô tả chi tiết tại mục 2 Phần thứ nhất của Luận án.
Từ những lí do trên, việc nghiên cứu thấu đáo những vấn đề lí luận và thực tiễn đối với pháp luật về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại từ đó xây dựng và hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động này là cấp thiết và có tính thời sự. Chính vì vậy,tác giả đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam”làm đềtài nghiên cứu luận án tiến sĩ luật học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng cơ sở líluận về hoạt động đầu tư và pháp luật đối với hoạt động đầu tư của NHTM, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành, từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với hoạt động đầu tư của NHTM. Nghiên cứu, đánh giá của luận án nhằm đến mục tiêu quản lí hiệu quả, đồng thời có tính định hướng đối với hoạt động đầu tư của các NHTM hiện nay trước yêu cầu hội nhập của nền kinh tế.
Với mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụnghiên cứu của luận án được xác định là:
Thứ nhất, tác giả tập trung nghiên cứu và đưa ra kháiniệm về hoạt động đầu tư của NHTM, chỉ ra đặc điểm đặc thù hoạt động đầu tư của NHTM với các hoạt động ngân hàng truyền thống và các hoạt động đầu tư khác cũng như ý nghĩa hoạt động đầu tư đối với mô hình NHTM.
Thứhai, nghiên cứu và xây dựng khái niệm và xácđịnh cấu trúc pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM từ đó xác định các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của các NHTM.
9
Thứ ba, nghiên cứu lí luận và thực tiễn một số nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam gồm quy định về phương thức thực hiện hoạt động đầu tư, quy định về các biện pháp bảo đảm an toàn khi NHTM thực hiện các hoạt động đầu tư và quy định về quản lí nhà nước đối với hoạt động đầu tư của NHTM.
Thứ tư, từ những vấn đề nghiên cứu và giải quyết, luận án đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam, và tăng cường hiệu quả thực thi. Giải pháp vừa có tính tổng thể vừa chitiết để đảm bảo tính khả thi.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án được xác định như sau:
– Các quan điểm khoa học, học thuyết pháp lí của các tác giả cá nhân và tổ chức đã công bố trong các công trình trong nước và nước ngoài.
– Hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM bao gồm: Luật các Tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thương mại và các quy định quốc tế như Hiệp ước Basel.
– Thực tiễn hoạt động đầu tư của một số NHTM tại Việt Nam và thị trường thông qua phân tích số liệu báo cáo, tổng hợp.
Về phạm vi nghiên cứu: Nội hàm hoạt động đầu tư của NHTM có phạm vi rộng và hẹp theo quan điểm tiếp cận. Tuy nhiên, trong khuôn khổ hạn định của luận án, tác giả tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tưcủa NHTM từ khi ban hành Luật các TCTD số 47/2010/QH12 năm 2010 đến nay. Bên cạnh đó, tác giả xác định phạm vi nghiên cứu giới hạn trong một số hoạt động bao gồm các hoạt động góp vốn, mua cổ phần, hoạt động kinh doanh chứng khoán và hoạt động uỷ thác đầu tư. Luận án không nghiên cứu các hoạt động tín dụng đầu tư, đầu tư vào tàisản cố định,và một số hoạt động đầu tư khác như kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vàng, đây được xác định là những vấn đề đã được nghiên cứu tại nhiều công trình.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án xác định đối tượng nghiên cứu là pháp luật điều chỉnh đến hoạt động của chủ thể đặc thù của nền kinh tế – NHTM, do đó các yếu tố thị trường, chính trị
10
và yếu tố khác có tác động không nhỏ đến xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Để giải quyết hiệu quả đề tài, bên cạnh phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; các quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về hoạt
động tài chính ngân hàng, … các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phỏng đoán khoa học sẽ được tác giả vận dụng một cách linh hoạt nhằm đặt được mục đích nghiên cứu trong từng nội dung.
Tại phần I, phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ yếu nhằm tạo lập nguồn tài liệu đầy đủ cho nghiên cứu và hoàn thiện Luận án. Bên cạnh đó, phương pháp phỏng đoán được kết hợp nhằm đưa ra đánh giá và kết luận về tình hình nghiên cứu của đề tài.
Tại phần II, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của từng phần:
Chương I, xác định nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về hoạt động đầu tư của NHTM và pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM, tác giả sử dụng chủyếu phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh pháp luật, đồng thời có vận dụng phỏng đoán khoa học. Các phương pháp trên giúp cho việc xem xét hoạt động đầu tư của các NHTM, pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM một cách đầy đủ, từ đó đánh giá khách quan, toàn diện và xác định rõ ràng phạm vi vấn đề nghiên cứu cũng như đánh giá bước đầu về yêu cầu, tiêu chí và mức độ điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động đầu tư của NHTM.
Chương II, với mục tiêu nghiên cứu về trực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam, các phương pháp phân tích, so sánh, phỏng đoán khoa học sẽ được tác giả tiếp tục sử dụng là phương pháp nghiên cứu chủ đạo. Sử dụngcác phương pháp nghiên cứu trên xuất phát từ việc xác định rõ nội dung vàmục tiêu nghiên cứu với đặc thù nhất định. Pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTMđược xem xét như một bộphận của pháp luật ngân hàng, trongđómục tiêu điều chỉnh hướng đến hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn hệ thống song vẫn tạo được môi trường để NHTM thực hiện quyền tự do kinh doanh. Từ việc nhận diện đặc trưng trên, trong triển khai nghiên cứu, áp dụng tư duy logic khoa học thông qua việc phân tích, đánh giá các qui định pháp luật hiện hành, đồng thời so sánh pháp luật một sốquốc gia trên thế giới để phán đoán, xác định các xu hướng, hệ quả có thể xảy ra sẽ
11
có hiệu quả cao, từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật. Ngoài ra, nhằm đưa ra các đánh giá sắc đáng,thể hiện được thực tiễn thị trường, phương pháp tổng hợp phân tích được sử dụng khá nhiều nhằm tạo lập nguồn số liệu phù hợp, làm cơ sở đánh giá thực tiễn và hiệu quả áp dụng pháp luật trên thị trường.
Chương III, dựa trên cơsởcác luận giải tại chương II và vấn đềlí luận tại chương I, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, đặc biệt vận dụng phỏng đoán khoa học nhằm đưa ra các luận điểm, luận cứ và các giải pháp có tính thực tiễn. Các kiến nghị được đưa ra là kết quả của đánh giá nội dung pháp luật đặt trong yêu cầu hoàn thiện, có xem xét đến mục tiêu phát triển nền kinh tế, phát triển thị trường tài chính.
5. Đóng góp mới của Luận án
– Là luận án tiến sĩ luật học đầu tiên nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu các vấn đề líluận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam.
– Nghiên cứu pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM một số quốc
gia trên thế giới như Hoa Kì, Nhật Bản,Đức,…, làm cơ sở vận dụng chọn lọc từ đóđề xuất hoàn thiện bộ phận pháp luật này tại Việt Nam.
– Đánh giá khách quan các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM trong bối cảnh các yêu cầu đặt ra của tình hình mới và xu hướng hội nhập. Trên cơ sở đó, Luận án chỉ ra những bất cập còn tồn tại trong qui định hiện hành đặt trong yêu cầu và chức năng của bộ phần pháp luật này, khẳng định tính tất yếu khách quan của việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM.
– Nghiên cứu, đề xuất các kiến nghị, giải pháp phù hợp và khả thi, không chỉtrên phương diện hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM mà còn nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
6. Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài nghiên cứu
12
Thứ nhất: hệ thống hóa vào làm rõ các vấn đề lí luận về hoạt động đầu tư của NHTM và pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM làm cơ sở xác định yêu cầu trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh.
Thứ hai: đánh giá tương đối toàn diện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tưcủa NHTM tại Việt Nam trong bối cảnh tình hình mới, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn thị trường, khảo sát số liệu và trong sự so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới. Trên có sở đó, Luận án chỉ ra những bất cập còn tồn tại trong nội dung pháp luật khẳng định yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM.
Thứ ba: kiến nghị sửa đổi quy định pháp luật, giải pháp phù hợp và khả thi, không chỉ trên phương diện hoàn thiện pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM mà còn nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Bên cạnh ý nghĩa khoa học, kết quảnghiên cứu có tính ứng dụng thực tiễn lớn, thể hiện: (i) đóng góp căn cứ cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng nói chung và đặc biệt pháp luật về hoạt động đầu tư của các NHTM; (ii) đóng góp vào hệ thống pháp lí để các cơ quan quản lí nhà nước quản lívà giám sát hoạt động đầu tư của NHTM hiệu quả, đảm bảo hoạt động đầu tư của các NHTM lành mạnh, từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của khách hàng.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận án triển khai theo kết cấu gồm hai phần như sau:
Phần I: Tổng quan tình hình nghiên cứu Phần II: Nội dung luận án, gồm ba chương
Chương 1: Tổng quan về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
13
PHẦN I. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Với lịch sử phát triển lâu đời, cùng với tính chất rủi ro và biến động của hoạt động ngân hàng, pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này luôn được chú trọng. Cũng bởi vậy, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về lĩnh vực tài chính ngân hàng trên cả phương diện kinh tế và pháp luật tương đối phong phú. Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy, có sự hạn chế nhất định các công trình đề cập trực tiếp đến hoạt động đầu tư và pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại, đặc biệt ở Việt Nam.
1. Các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài
Đánh giá tình hình nghiên cứu đề tài tại Việt Nam và nước ngoài cho thấy,đến nay, có khá nhiều nghiên cứu về hoạt động ngân hàng trên khía cạnh kinh tế,
tuy nhiên không nhiều công trình trực tiếp đề cập đến pháp luật về hoạt động đầu tưcủa NHTM, đặc biệt chưa có công trình nào đánh giá trực tiếp và đầy đủ nội dung pháp luật Việt Nam về vấn đề này. Hoạt động đầu tư của và pháp luật điều chỉnh
nội dung này chỉ được nghiên cứu trên một hoặc một số khía cạnh phù hợp với nhiệm vụ của mỗi công trình nhưng nhìn chung hạn chế.
1.1. Các nghiên cứu trên khía cạnh pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM
1.2. Các nghiên cứu trên khía cạnh kinh tế
2. Đánh giá những kết quả nghiên cứu đã công bố liên quan đến luận án
2.1. Những kết quả nghiên cứu về lí luận hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại
– Thứ nhất, lí luận về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại
Về khái niệm hoạt động đầu tư của NHTM. Khái niệm về hoạt động đầu tưcủa NHTM được đề cập đến khá nhiều trong cả tài liệu trong nước và nước ngoài, tuy nhiên do khía cạnh tiếp cận khác nhau,nội hàm hoạt động đầu tư được xác định không đồng nhất.
Tác giả Lê Thị Hương (2003) định nghĩa hoạt động đầu tư của NHTM theo phương pháp liệt kê với phạm vi tương đối rộng:“hoạt động đầu tư của NHTM bao gồm: đầu tư phát triển như đầu tư trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, mua sắm tài sản đề
cho thuê tài chính,…và đầu tư tài chính như cho vay,đầu tư chứng khoán Chính
phủ,…”6. Tại Luận án, tác giả chỉ rõ hướng tiếp cận theo tính chất của hoạt động đầu tư, đồng thời xác định “hoạt động đầu tư của NHTM hầu hết là đầu tư tài chính”,và liệt kê các hoạt động gồm hai hoạt động chính là hoạt động đầu tư tín dụng và hoạt động đầu tư chứng khoán. Điểm đáng lưu ý trong luận án là sự phân loại hoạt động đầu tư của NHTM được tác giả trình bày khá chi tiết trên giác độ kinh tế từ đó làm rõ hơn hoạt động đầu tư của các NHTM.
Tác giả Phạm Thị Giang Thu (2013) trong nghiên cứu của mình về pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính của NHTM chủ yếu xác định các vấn đề liên quan đến hoạt động góp vốn, mua cổ phần của NHTM7.
Tác giả Trương Quốc Cường (2000) xác định hoạt động đầu tư do ngân hàng thực hiện gồm hoạt động kinh doanh chứng khoán, đầu tư vào các công ti con, công ti liên kết, hoạt động tín dụng thuê mua và thực hiện tàitrợcác dựán đầu tư của
6 Lê Thị Hương (2002), Nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư của các ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, tr.16.
7 Phạm Thị Giang Thu (2013), “Một vài ý kiến về pháp luật điều chỉnh hoạt động góp vốn, mua cổ phần của các ngân hàng thương mại”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật (1), tr.28-34.
25
Ởmột hướng tiếp cận khác, hoạt động đầu tưđược xem xét theo hướng là
nghiệp vụ của một mô hình kinh doanh ngân hàng độc lập – ngân hàng đầu tư. Với cách tiếp cận này, hoạt động đầu tư thường hướng đến các hoạt động đầu tư chứng khoán. Tại Việt Nam, tác giả Mạc Quang Huy (2009) trong “Cẩm nang ngân hàngđầu tư” khi nghiên cứu mô hình ngân hàng đầu tư trong đó có mô hình ngân hàng đầu tư tổng hợp có đề cập đến kháiniệm “nghiệp vụ đầu tư” trong đó xác định gồm “môi giới và đầu tư”,môi giới chủ yếu áp dụng cho sản phẩm chứng khoán niêm yết, đầu tư bao gồm nghiệp vụ đầu tư cho khách hàng và hoạt động đầu tư tự doanh9. Tác giả Đặng Minh Châu (1995)có đề cập đến “nghiệp vụ đầu tư” bên cạnh các nghiệp vụ cho vay, huy động vốn của NHTM. “Nghiệp vụ đầu tư (hay còn gọi là nghiệp vụchứng khoán) là nghiệp vụ sinh lời của của NHTM. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng tham gia vốn vào hai loại chứng khoán, thứ nhất là đầu tư vào các chứng khoán nhà nước,thứhai là đầu tư vào các chứng khoán xí nghiệp”10. Thomas M.Hoenig vàCharless S. Morris xác định nhóm hoạt động đầu tư ngân hàng gồm bảo lãnh phát hành chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu) nhà cung cấp dịch vụ tư vấn11.
Về đặc điểm và vai trò hoạt động đầu tư của NHTM. Các nghiên cứu trong và ngoài nước cùng với việc đề cập đến các khía cạnh khác nhau của hoạt động đầu tư, một số đặc điểm và vai trò của hoạt động này cũng được xác định.Đặc điểm điển hình mà nhiều tài liệu đề cập khi nhắc đến hoạt động đầu tư của NHTM, đặc biệt làhoạt động chứng khoán là tính chất rủi ro. Bên cạnh đó, vai trò hoạt động đầu tư cũng được chỉ ra như đa dạng hoá hoạt động của ngân hàng, góp phần cân bằng rủi ro tín
dụng,…
Tóm lại, từ những quan điểm trên đây về hoạt động đầu tư, có thể nhận thấy một số vấn đề như sau: (i) khái niệm về hoạt động đầu tư của NHTM đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu song còn chưa toàn diện.Các hoạt động được nghiên cứu nhiều gồm hoạt động góp vốn, mua cổ phần và hoạt động đầu tư chứng
8 Trương Quốc Cường (2000), “Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư theo dự án ở Ngân hàng Công thương Việt Nam”,NHD PGS. Phan Quang Tuệ, Ts. Trần Thị Hà, tr 40-45.
9 Mạc Quang Huy (2009), Cẩm nang ngân hàng đầu tư, Nxb. Thống kê, tr.25.
10 Đặng Minh Châu (1995), Đa năng hóa hoạt động ngân hàng thương mại theo cơ chế thị trường ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Hà Nội, tr.53.
11 Thomas M.Hoeing, Charless S. Morris (2012), Restructuring the banking system to improve safety and soundness, tr. 23.

khoán; (ii) Đặc điểm hoạt động đầu tư được chỉ ra trong nhiều nghiên cứu trong đó nhấn mạnh đến tính chất rủi ro. Đặc trưng này đặt ra yêu cầu cần sự điều chỉnh chặt chẽ bằng pháp luật đối với nhóm hoạt động này.
Trên cơ sở đánh giá kết quả nghiên cứu của các tác giả, luận án sẽ tiếp tục làm sáng tỏ phạm vi bản chất, đặc điểm của hoạt động đầu tư của NHTM, chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa tính chất rủi ro và vai trò cũng như xu hướng phát triển hoạt động đầu tư tại các NHTM.
– Thứhai, nội dung lí luận vềpháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của
ngân hàng thương mại
Tính đến hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM, do đó các nội dung lí luận pháp luật về hoạt đồng này cũng được xác định hạn chế ở các nghiên cứu. Tác giả Ngô Quốc Kỳ (2003) chỉ ra cách xác định pháp luật điều chỉnh đối với hoạt động của NHTM12, đồng thời chỉ ra các yếu tố cơ bản ảnh hướng đến pháp luật điều chỉnh hoạt động của NHTM “tính đặc thù về hoạt động của ngân hàng, cơ chế quản lí kinh tế và trình độ phát triển kinh tế – xã hội”13.
Về nguồn của pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM, cùng với tác giả Ngô Quốc Kỳ (2003), tác giả Phạm Thị Giang Thu (2013), Trần Dục Thức (2014) cũng chỉ ra nguồn cơ bản của pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính của NHTM, tuy nhiên tại đây tác giả chủ yếu dẫn chiếu quy định liên quan đến hoạt động góp vốn, mua cổ phần của NHTM. Các phương thức đầu tư khác trong phạm vi nội dung nghiên cứu gồm kinh doanh chứng khoán chưa được xem xét và hoạt động ủy thác đầu tư được đề cập rất hạn chế.
Trần Dục Thức và nhóm tác giả (2014) khi tiến hành nghiên cứu về quan hệsở hữu giữa TCTD và các công ti con, công ti liên kết cũng xác định hành lang pháp lí về hoạt động góp vốn, mua cổ phần đối với các TCTD, chỉ ra một số bất cập trong pháp luật điểu chỉnh hoạt động góp vốn, mua cổ phần14. Tiếp đó, trong nghiên cứu
12 Ngô Quốc Kỳ (2003), Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật Học, Đại học Luật Hà Nội, tr.36 -37. 13 Ngô Quốc Kỳ, tlđd, tr.43.
14 Trần Dục Thức và nhóm tác giả (2014), Quan hệ sở hữu giữa tổ chức tín dụng và các công ti con, công ti liên
kết – Thực trạng và giải pháp, Trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh, đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, tr. 31-39.
27
về “Sở hữu chồng chéo giữa các TCTD và tập đoàn kinh tế tại Việt Nam”,nhóm tác giả chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright chỉ ra nguồn luật điều chỉnh và một sốbất cập của khuôn khổ pháp lí giám sát sở hữu chồng chéo15. Phải nói thêm rằng,sởhữu chồng chéo giữa các TCTD (trong đó chủ yếu là các NHTM), giữa TCTD với doanh nghiệp là một trong những hệ quả của hoạt động đầu tư do các TCTD thực hiện. Cả hai nghiên cứu này đều chú trọng khía cạnh kinh tế, do đó, nội dung pháp luật được đề cập ở mức hạn chế, các vấn đề về mặt líluận pháp luật như đặc điểm, cấu trúc, các yếu tố ảnh hưởng pháp luật không được đề cập.
Các công trình nước ngoài, theo nghiên cứu cũng không đưa ra định nghĩa hay cấu trúc pháp luật về hoạt động đầu tư, tuy nhiên nhiều tài liệu có giá trị tham khảo,đặcbiệt xácđịnh các yếu tốtácđộng đến pháp luật điều chỉnh thông qua các nội dung liên quan đến đánh giá hệ thống quy định pháp luật của các nước hay mô hình trên thế giới. Điển hình,có thể kể đến “The Changing Borders of Banking: trends and implications” của Claudito E.V.Borio và Renato Filosa (1994); “Restructuring the banking system to improve safety and soundness” của Thomas M.Hoenig and
Charless S. Morris (2012);…Claudito E.V.Borio và Renato Filosa (1994) vàThomas M.Hoenig (2012) trong nghiên cứu của mình chỉ ra, thực trạng nền tài chính tác động rất lớn đến xu hướng điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động ngân hàng, việc nới lỏng, thặt chặt ranh giới giữa hoạt động ngân hàng truyền thống với hoạt động chứng khoán, bảo hiểm, hay giữa NHTM với các hoạt động ngân hàng đầu tư
và ngược lại, ban hành các giới hạn,… đều có sự thay đổi qua các giai đoạn ở các quốc gia16.
Như vậy có thể kết luận,những vấn đề líluận về pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM cho đến thời điểm hiện nay chưa được nghiên cứu đầy đủ. Một số nghiên cứu chỉ ra nguồn luật và các yếu tố tác động đến pháp luật điều chỉnh nhưng còn hạn chếhoặc ởphạm vi nghiên cứu của công trình. Các nội dung liên quan đến đặc điểm, cấu trúc pháp luật về hoạt động đầu tư gần như chưa được làm
15 Vũ Thành Tự An, Trần Thị Quế Giang, Nguyễn Đức Mậu, Đinh Công Khải, Nguyễn Xuân Thành, Đỗ Thiên Anh Tuấn (2013), Sở hữu chồng chéo giữa các tổ chức tín dụng và tập đoàn kinh tế tại Việt Nam: Đánh giá vàcác khuyến nghị thể chế, tr. 88-90.
16 Claudito E.V.Borio, Renato Filosa (1994), The Changing Borders of Banking: trends and implications, tr. 6-11; Thomas M.Hoenig, Charless S. Morris (2012), Restructuring the banking system to improve safetyi and soundness, tr. 5-7.
28
rõ. Tuy nhiên, các vấn đề lí luận chung về pháp luật ngân hàng là cơ sở để nghiên cứu sinh vận dụng và tiến hànhnghiên cứu chuyên sâu và đầy đủ hơn các nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM bao gồm khái niệm,cấu trúc pháp luật, các yếu tốảnh hưởng và tiêu chí hoàn thiện pháp luật hoạt động đầu tư của NHTM.
2.2. Những kết quả nghiên cứu về thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại ở Việt Nam
-Thứnhất, kết quảnghiên cứu vềthực trạng pháp luật vềphương thức thực hiện hoạt động đầu tư của NHTM
Các nghiên cứu nước ngoài thường tập trung vào mô hình tổ chức quản lí của ngân hàng, qua đó đề cập và phân tích đến việc mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng sang các hoạt động chứng khoán, bảo hiểm, do đó định nghĩa cụ thể vềphương thức thực hiện hoạt động đầu tư của NHTM không được đề cập trực tiếp. Tuy nhiên, quan điểm chung đều cho rằng, bên cạnh các hoạt động truyền thống, các NHTM phát triển sang đầu tư chứng khoán, bảo hiểm và các hoạt động thương mại khác. Điểm đáng chú ý là hoạt động đầu tư chứng khoán của NHTM được tiếp cận tương đối rộng gồm bảo lãnh, môi giới, phát hành và hoạt động kinh doanh chứng khoán (Armold W.Sametx, Michael Keenan,197917, Joao A.C Santos, 1998)18.
Trong khiđó,nghiên cứu trong nước thường đề cập đến nội dung pháp lí của từng phương thức thực hiện hoạt động đầu tư của NHTM, cụ thể:
Về hoạt động góp vốn, mua cổ phần. Đây là hoạt động được ghi nhận trong pháp luật và các NHTM triển khai từ khá sớm, đồng thời thực tế cũng phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến quản trị, do đó, các nghiên cứu đề cập đến vấn đề này đa dạng hơn so với các phương thức đầu tư khác. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như sau:
Trần Dục Thức và nhóm tác giả (2014) chỉ ra hành lang pháp lívề hoạt động đầu tư góp vốn, mua cổ phần đối với các TCTD nói chung gồm: Một là, các quy định trực tiếp về đầu tư góp vốn, mua cổ phần, với sáu nội dung: (i) Quyền được góp vốn,
17Arnold W.Sametx, Michael Keenan (1979), Securities Activities of Commercial Banks: An Evaluation of Current
Developments and Regulatory Issues, Journal of International Law, tr. 9 – 22.
18João A.C Santos (1998), Commercial Banks in the Securities Business: A Review (Bank for International Settlements, Basle, Switzeland).
29
mua cổ phần; (ii) Trường hợp bị cấm thực hiện; (iii) Các giới hạn về góp vốn, mua cổ phần; (iv) Quy định về các giới hạn này riêng đối với TCTD có yếu tố nước ngoài; (v) Điều kiện cần phải đảm bảo để được thực hiện hoạt động này; (vi) Quy định liên quan đến hoạt động; Hai là các quy định pháp lí liên quan khác gồm quy định về vốn, quy định về hạn chế và giới hạn cấp tín dụng. Một số nội dung chính các quy định pháp líđược nhómtác giả tổng hợp và lập bảng so sánh khá chi tiết19. Những nghiên cứu và đánh giá của nhóm tác giả có giá trị tham khảo cao, tuy nhiên do chủ yếu tập trung khía cạnh kinh tế, nên các đánh giá về mặt pháp lí kể trên chưa được phân tích sâu.
Tác giả Phạm Thị Giang Thu (2013) khẳng định quy định pháp luật hiện hành đã đưa ra hành lang pháp lí tương đối toàn diện, tạo điều kiện cho ngân hàng phát huy sở trường của nhà đầu tư có tổ chức, của chủ thể có năng lực tài chính và định hướng đầu tư tài chính. Tác giả khẳng định các quy định về điều kiện, nội dung hoạt động góp vốn, mua cổ phần, trình tự, thủ tục góp vốn mua cổ phần đều được quy định trong các văn bản luật và văn bản dưới luật nhằm mục tiêu kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo tính an toàn đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTDthực hiện hoạt động đầu tư tàichính. Bên cạnh đó tác giả cũng chỉ ra nhiều quy định trong Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 và văn bản hướng dẫn chưa rõ ràng cần được hướng dẫn
chi tiết như: thủ tục xin phép NHNN, điều kiện thực hiện, góp vốn, mua cổ phần,…20.
Trong khi các nghiên cứu về hoạt động góp vốn, mua cổ phần tương đối đa dạng thì hoạt động đầu tư chứng khoán và ủy thác đầu tư, đến hiện nay còn khá hạn chế. Đối với hoạt động đầu tư chứng khoán, mặc dù nghiên cứu vềmô hình hoạt động của NHTM trên thị trường chứng khoán được trình bày tại nhiều tài liệu như
Mạc Quang Huy (2009), Tạ Hoàng Hà (2015),…, tuy nhiên những đánh giá, phân tích cụ thể nội dung pháp luật này không nhiều. Tạ Hoàng Hà (2015) khẳng định, pháp luật hiện hành về ngân hàng, chứng khoán và pháp luật liên quan khác như dân
sự, doanh nghiệp, đầu tư, cạnh tranh,… đã ghi nhận và tạo cơ sở cho hoạt động đầu tư chứng khoán với hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp21, tuy nhiên tácgiả
19 Trần Dục Thức và nhóm tác giả, tlđd, tr. 31-39.
20 Phạm Thị Giang Thu (2013), Một vài ý kiến về pháp luật điều chỉnh hoạt động góp vốn, mua cổ phần của các ngân hàng thương mại, Tạp chí Dân chủ và pháp luật (1), tr.28-34.
21 Tạ Hoàng Hà, tlđd, tr.63-65.
30
không nhận định sâu hơn các quy định này. Đối với pháp luật về hoạt động ủy thác đầu tư, Trần Minh Hải (2012) đánh giá, quy định tại Thông tư 04/2012/TT-NHNN còn chung chung chưa đầy đủ, quy định mới tại Thông tư 30/2014/TT-NHNN đã cónhiều điểm tích cực, siết chặt hoạt động ủy thác như “khoanh vùng đối tượng tham gia ủy thác”,quy định rõ yêu cầu đối khi tiến hành hoạt động ủy thác đầu tư, khắc phục được quy định “chung chung”,thiếu rõ ràng trong quy định trước đây.
Như vậy, tình hình nghiên cứu vấn đề thực trạng pháp luật về phương thức thực hiện hoạt động đầu tư của NHTM có thể tóm lược như sau:
(i) Tính đến nay, chưa có một đánh giá toàn diện về các phương thức thực hiện hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam theo pháp luật Việt Nam hiện hành mà chủ yếu đề cập nội dung pháp lí của từng phương thức đầu tư ở phạm vi hẹp.
(ii) Trong từng phương thức đầu tư, thiếu vắng đánh giá chuyên sâu,đặc biệt đối với nội dung pháp luật về hoạt động đầu tư chứng khoán và ủy thác đầu tư của NHTM. Sự hạn chế này do nhiều nguyên nhân như yếu tố lịch sử (hoạt động ủy thác đầu tư và cơ chế pháp lí cho hoạt động này mới được pháp luật ghi nhận gần đây), vị trí, vai trò của phương thức đầu tư này trong hoạt động của ngân hàng.
Trên cơ sở nhận định các kết quả nghiên cứu như trên, luận án sẽ tiếp tục làm rõ, đồng thời đánh giá các quy định về từng phương thức thực hiện hoạt động đầu tưcủa NHTM, có liên hệ thực tiễn nhằm xác định đầy đủ vị trí và tầm quan trọng của từng hoạt động đầu tư đối với NHTM.
– Thứ hai, kết quả nghiên cứu thực trạng pháp luật về điều kiện và trình tự
thực hiện hoạt động đầu tư của NHTM
Nhìn chung, các nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đến điều kiện và trình tự thực hiện hoạt động đầu tư của NHTM khá hạn chế. Một số đánh giá pháp luật đãđược đưa ra, tuy nhiên không còn tính thời sựhoặc pháp luật hiện nay đã hoàn thiện.
Về quy định liên quan đến trình tự thực hiện hoạt động đầu tư. Nhóm tác giảchương trình giảng dạy Kinh tếFullbright (2013) chỉra mặc dù có quy định phải được sự chấp thuận trước bằng văn bản của NHNN, tuy nhiên hiện vẫn chưa có quy
31
định chi tiết về điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận22. Hạn chế này của pháp luật cũng được chỉ ra tại nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Giang Thu (2013). Trong trường hợp đã góp vốn, mua cổphần vượt mức quy định phải có giải phápxửlí, không được tiếp tục thực hiện hoạt động này. Giải pháp này phải được Hội đồng quản trị ngân hàng thông qua và chỉ cần gửi báo cáo NHNN. Tuy nhiên, thực tế pháp luật chưa có quy định về lộ trình tuân thủ và đặc biệt là các hình thức xử lí vi phạm. Tác giả Nguyễn Kiên Bích Tuyền (2019) cho rằng quy định về “lĩnh vực khác” tại điều 103 Luật các TCTD chưa rõ ràng, mơ hồ, gây khó khăn, tạo ra “chốt chặn” cho ngân hàng khi thực hiện hoạt động góp vốn, mua cổ phần.
Về quy định liên quan đến điều kiện thực hiện hoạt động đầu tư. Tác giả TạHoàng Hà (2015) chỉ ra rằng với điều kiện thị trường hiện tại, các quy định về hoạt động góp vốn, mua cổ phần chưa cụ thể, cần đặt ra các điều kiện khác nhau theo quy mô từng ngân hàng. Một số tài liệu nước ngoài trong nghiên cứu có đưa ra quy định về điều kiện thực hiện hoạt động đầu tư theo pháp luật của quốc gia mình như Masaki
Yagyu (1994), Yuwa Wei (2005),… các nội dung này có giá trị so sánh khi đánh giá pháp luật Việt Nam.
Tóm lại, nội dung về điều kiện trình tự thực hiện hoạt động đầu tư của NHTMđã được đánh giá song chưa toàn diện. Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trên, nghiên cứu sinh sẽ đánh giá toàn diện điều kiện thực hiện trong từng nhóm hoạt động đầu tư, làm rõ trình tự thực hiện hoạt động trong đó làm sáng tỏ phạm vi sự can thiệp của cơ quan quản lí đặt trong yêu cầu về đảm bảo quyền tự do kinh doanh của NHTM.
– Thứ ba, kết quả nghiên cứu thực trạng pháp luật về các biện pháp nhằm
đảm bảo an toàn khi NHTM thực hiện hoạt động đầu tư
Khi đề cập đến hoạt động đầu tư của NHTM, đặc biệt sự tham gia của NHTM vào hoạt động chứng khoán, vấn đề quan ngại được đặt rađó làan toàn hệ thống và xung đột lợi ích trong hoạt động. Bởi vậy, các biện pháp bảo đảm an toàn trong hoạt động của NHTM khi thực hiện các hoạt động đầu tư rất được quan tâm. Tuy nhiên thực tế nghiên cứu cho thấy, các quy định về tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu,giới hạn về
22 Vũ Thành Tự Anh, Trần Thị Quế Giang, Nguyễn Đức Mậu, Đinh Công Khải, Nguyễn Xuân Thành, Đỗ Thiên Anh Tuấn, tlđd, tr. 71.
32
vốn đầu tư, giới hạn về lĩnh vực đầu tư,…hầu hết có tính chất công bố thông tin, hoặc bình luận đánh giá trong phạm vi và mục đích của từng nghiên cứu, không đặt trong tổng thể và yêu cầu đảm bảo an toàn khi NHTM thực hiện hoạt động đầu tư.
Cụ thể, một số công bố như sau:
Tác giả Nguyễn Kiên Bích Tuyền (2019) lập luận cho thấy quy định hạn chếvề nguồn vốn đầu tư, giới hạn tỉ lệ góp vốn, mua cổ phần đem lại ý nghĩa trong quản lí nguồn vốn. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra một số hạn chế trong quy định pháp luật. Ví dụ, tác giảcho rằng quy định nội dung này tại khoản 3 Điều 9 Thông tưsố30/2014/TT-NHNN quy định vềuỷthác và nhận uỷ thác của TCTD là không cần thiết bởi đã có nguyên tắc chung liên quan về các hoạt động TCTDkhông được phép thực hiện.
Nhóm tác giả Chương trình giảng dạy Kinh tế Fullbrightnhận địnhđối với quy định về tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu như sau: tăng tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu (hệ sốCAR) 9% quyđịnh tại Thông tưsố13/2012/TT-NHNN tiếp tục được duy trì tại Thông tư 36/2013/TT-NHNN, sửa đổi bổ sung tại Thông tư 06/2016/TT-NHNN làcần thiết, phù hợp với thông lệ quốc tế (thậm chí vượt chuẩn 8% tối thiểu của Basel) nhằm khuyến khích các ngân hàng cái cơ cấu và nâng cao tiềm lực tài chính. Tuy nhiên, trong nhiều nghiên cứu đều cho rằng, quy định về hệ số CAR của Việt Nam và quy định về tỉ lệ đảm bảo an toàn khác chưa tiếp cận đầy đủ so với Basel II và III
(Nguyễn Anh Tuấn, 2012; Trần Dục Thức, 2014, …). Về vốn đầu tư, có quan điểm cho rằng chỉ cho phép sử dụng vốn điều lệ và quỹ dự trữ như quy định hiện nay nên đượcxem xét lại theo hướng mởrộng “vốn tựcó” (Phạm ThịGiang Thu, 2013).Đồng thời tácgiảcũng chỉra các lĩnh vực được phép góp vốn, mua cổphần của NHTM được pháp luật ghi nhận là lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, tuy nhiên khoản 4 Điều 103 Luật các TCTD năm 2010 lại quy định “Ngân hàng thương
mại được góp vốn,mua cổ phần của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khác…”, quy định này chưa được làm rõ.
Một số ý kiến khác, tác giả Trần Dục Thức và nhóm nghiên cứu (2014) khiđánh giá hoạt động góp vốn mua cổ phần của NHTM đưa ra quan điểm cụ thể cần chỉ rõ khía cạnh pháp lí của một số khái niệm như: “cổ đông lớn” với quy định nắm giữ tỉ lệ 5% như hiện nay khá cao gây khó khăn cho kiểm soát thông tin; khái niệm
33
“nhóm liên quan” ở 3 khía cạnh quan hệ sở hữu, quan hệ gia đình hay quan hệ chủsở hữu và người lao động;xác định “nguồn gốc tiền đầu tư/góp vốn” chưa rõ gây hệquả sử dụng tiền vay/hoạt động trá hình của tiền vay để tăng vốn ảo, khó khăn cho quản lí.
Nhìn chung, qua đánh giá các nghiên cứu cho thấy, bởi tính chất rủi ro của hoạt động đầu tư nói chung, các tác giả đều cho thấy quan điểm thống nhất cần thiết phải đặt ra các giới hạn và biện pháp đảm bảo an toàn khi NHTM thực hiện hoạt động đầu tư. Các nghiên cứu mặc dù còn thiếu hệ thống và tính toàn diện song có thể thấy pháp luật đã thiết lập được các giới hạn và biện pháp nhằm đảm bảo an toàn nguồn vốn cho hoạt động đầu tư, tuy nhiên thực tiễn triển khai còn phát sinh bất cập. Trước đánh giá về kết quả nghiên cứu như trên, luận án sẽ tiếp tục làm rõ và đánh giá đầy đủ, toàn diện các quy định về bảo đảm an toàn trong hoạt động đầu tư của NHTM,đặc biệt đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định hiện hành và liên hệso sánh với pháp luật các quốc gia có tính tương đồng.
– Thứ tư, kết quả nghiên cứu thực trạng pháp luật về quản lí nhà nước đối
với hoạt động đầu tư của NHTM
Về chủ thể, nhiều tác giả như Lê Thị Thu Thủy (2013), Lê Ngọc Lân,BùiThịThanh Tình (2013)23, Trần Vũ Hải (2014) 24, Nguyễn Đức Ngọc (2010) 25đều chỉ rõvấn đề bấp cập của môhình giám sát thị trường tài chính phân tán đang áp dụng tại Việt Nam. Mỗi ngành được giám sát bởi cơ quan giám sát riêng biệt. Cụ thể, liên quan đến hoạt động đầu tư của NHTM trên thị trường tài chính có: Cơ quan Thanh tra Giám sát ngân hàng thuộc NHNN Việt Nam, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trực thuộc Bộ Tài Chính, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia giám sát chung và điều phối hoạt động giám sát chuyên ngành26. Cũngđềcập đếnmô hình giám sát này, nhóm tác giả nghiên cứu của chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright (2013) chỉ rõ
23 Lê Ngọc Lân, Bùi Thị Thanh Tình (2013), Đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay, Tạp chí Ngân hàng (110).
24 Trần Vũ Hải (2014), Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam – Những vấn đề lí luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, tr.150-155.
25 Nguyễn Đức Ngọc (2010), “Một vài đặc điểm của pháp luật Hoa Kì và liên hệ với pháp luật ngân hàng Việt Nam”, Tạp chí Luật học (12).
26 Lê Thị Thu thủy (2012), Pháp luật Việt Nam về giám sát thị trường tài chính và thực tiễn áp dụng, Tạp chí Khoa học đại học Quốc gia Hà Nội (28), tr.17-29;
Vũ Thành Tự Anh, Trần Thị Quế Giang, Nguyễn Đức Mậu, Đinh Công Khải, Nguyễn Xuân Thành, Đỗ Thiên Anh Tuấn, tlđd, tr. 89.
34
mặc dù hoạt động giám sát của NHNN thông qua Cơ quan Thanh tra Giám sát đãtăng cường hoạt động trong thời gian qua, nhưng vẫn thiên về giám sát hoạt động của NHTM, trong khi các lĩnh vực giám sát thường bị giới hạn. Nhóm tác giả cho rằng sự phân tán và thiếu kết hợp dẫn đến hiệu quả giám sátbị hạn chế27.
Thực trạng hoạt động giám sát cũng được tác giảNguyễn ThịMinhHuệ(2010) chỉ ra. Tác giả khẳng định bên cạnh các kết quả như thực hiện theo dõiđối với hầu hết các NHTM, hoạt động giám sát có sự điều chỉnh theo yêu cầu của sự phát triển của hoạt động ngân hàng và theo thông lệ quốc tế, trong hoạt động giám sát của NHNN đối với NHTM vẫn tồn tại hạn chế như phương pháp giám sát chưa rõ ràng, phù hợp, nội dung giám sát chưa đầy đủ và thiếu toàn diện, quy trình giám sát chưa chặt chẽ và thiếu trọng tâm, hoạt động giám sát chưa chú trọng vào hoạt động cảnh
báo rủi ro cho các NHTM28,…; Tiếp đó, sự phân tán thẩm quyền giám sát ảnh hưởng lớn điến hiệu quả giám sát.
Về vấn đề xử lívi phạm, có quan điểm cho rằng các chế tài hiện nay áp dụng hoặc chưa đủ hiệu lực hoặc đang đi theo hướng hình sự hóa các quan hệ dân sự. Cụthể là các chế tài của NHNN đối với các vi phạm của TCTD nói chung hiện nay theo ba hướng: (i) Phạt tiền, (ii) Hạn chế mở rộng hoạt động và (iii) Chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra29.
Tóm lại, đánh giá kết quả nghiên cứu về nội dung quản lí nhà nước đối với hoạt động đầu tư của NHTM cho thấy, mặc dù có nhiều tác giả đề cập song chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu phân tích toàn diện và chuyên sâu về nội dung này. Các nghiên cứu đã chỉ ra vai trò và tầm quan trọng của cũng như một số hạn chế bất cập trong hoạt động quản lí đối với hoạt động đầu tư, song chưa đánh giá sâu sắc, toàn diện, đặc biệt khai thác được tính đặc thù trong quản lí giám sátđối với hoạtđộng đầu tư của NHTM. Bởi vậy, trên cơ sở các kết quả hiện nay, luận án sẽ làm rõ tính chất và yêu cầu đặc thù đối với quy định về quản lí nhà nước trong hoạt động đầu tư của NHTM, từ đó đánh giá hiệu quả các quy định pháp luật hiện hành.
2.3.Đềxuất và giải pháp trong các công trình nghiên cứu nhằm hoàn
27 Vũ Thành Tự Anh, Trần Thị Quế Giang, Nguyễn Đức Mậu, Đinh Công Khải, Nguyễn Xuân Thành, Đỗ Thiên Anh Tuấn, tlđd, tr. 89.
28Nguyễn ThịMinh Huệ (2010), Hoạt động giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Namđối với Ngân hàng thương mại, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
29 Tài liệu giảng dạy Kinh tế Fullbright, 2013, tlđd trang 90.
35
thiện và nâng cao hiệu quảthực thi pháp luật vềhoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại
Từ thực tế thiếu vắng các nghiên cứu trong nước và nước ngoàiđề cập trực tiếp đến nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM, các đề xuất vàgiải pháp hoàn hiện pháp luật khôngđược ghi nhận nhiều. Tuy nhiên,từkết quảnghiên cứu các công trình liên quan, có một số điểm đáng lưu ý như sau:
Thứ nhất, khi xem xét và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM cần đánh giá xu hướng và quan điểm thế giới cũng như Việt Nam trong quy định về hoạt động này. Nghiên cứu cho thấy quy định về mở rộng hoạt động của NHTM sang các hoạt động đầu tư vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau.
Quan điểm cần tách bạch hoạt động của NHTM với các hoạt động mang tính chất đầu tư hoặc hoạt động ngân hàng đầu tư bắt đầu tư sau khủng hoảng kinh tế
1929 – 1933, khi Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Glass – Steagall. Các nghiên cứu của Tabarrok (1998)30, Lia K.Thomas (2005)31, Bierman Harold (2003) 32 cho rằng các NHTM và công ti chứng khoán là nguyên nhân cuộc khủng hoảng kinh tếdo xung đột lợi ích phát sinh khi một tổ chức đồng thời kinh doanh ngân hàng truyền thống và kinh doanh chứng khoán. Sheng (2009)33 ủng hộ sự tách biệt giữa hoạt động NHTM và hoạt động đầu tư, ông cho rằng rất khó để có thể kết hợp văn hoá của ngân hàng đầu tư (dựa trên việc chấp nhận rủi ro) và NHTM (hoạt động kinh doanh mà sự“thận trọng” rất được coitrọng) dưới cùng một mái nhà.
Tại Việt Nam, Trần Dục Thức và nhóm tác giả (2014)34 cũng cho rằng, nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng cần tách bạch hoạt động ngân hàng đầu tư và hoạt động NHTM, nghĩa là NHTM không nên thực hiện chức năng kinh doanh đa ngành như hiện nay, mà thay vào đó NHTM chỉ có dịch vụ thanh toán- tài chính, huy động và cấp tín dụng. Các hoạt động đầu tư, góp vốn nên hình thành nên định chế ngân hàng đầu tư để tách bạch quản lí.
30 Tabarrok, A. (1998), The Separation of Commercial and Investment baning: the Morgans v. The Rockefellers, The Quarterly Jounrnal of Austraian Economics vol.1. (1988), tr. 1-18.
31 Lia K.Thomas (2005), “The Bussiness of Investment Banking”, John Wiley & Son, Inc.
32 Bierman Harold (2003), Investment banking: Valuation, Leveraged Buyouts, and Mergers and Acquisitions, tr.25.
33 Sheng (2009) From Asian to Global Crisis. NY, Cambridge University Press, tr. 326. 34 Trần Dục Thức và nhóm tác giả, tlđd, tr. 75-76.
36
Bên cạnh đó,một sốnghiên cứu cho thấy quan điểm ngược lại. Tabarrok
(1998)35 cho rằng mặc dù đạo luật Glass – Steagall nhằm gia tăng mức độ an toàn của hệthống ngân hàng và giảm xungđột lợi ích, tuy nhiên xungđột lợi ích trên không đáng kể. Nguyên nhân thực sựthông quađạo luật trên xuất phát từlợi ích chính trị của một số cá nhân. Macey (1991)36 cho rằng việc ngăn cấm thực hiện hoạt động ngân hàng đầu tư sẽ gia tăng rủi ro tại các NHTM. Ông chỉ ra chứng khoán nói chung (bao gồm cổ phiếu và trái phiếu) có ít rủi ro hơn tín dụng và đầu tư vào chứng khoán, được coi là khoản đầu tư có tính thanh khoản và đại chúng cao. Tính thanh khoản này giúp cho các ngân hàng dễ cân bằng trạng thái, đồng thời tính đại chúng của hoạt động chứng khoán làm tăng hiệu quả hoạt động của các NHTM. Tại Việt Nam, tác giả Mạc Quang Huy (2009), Tạ Hoàng Hà (2015) cho rằng Việt Nam cóthể phát triển đồng thời hai mô hình ngân hàng tổng hợp và ngân hàng đầu tư chuyên biệt”37.
Thứ hai, một số đề xuất giải pháp cụ thể trong một số nội dung nghiên cứu được đưa ra mang tính riêng lẻ nhưng vẫn có giá trị tham khảo trong nghiên cứu.
Vềphương thức thực hiện hoạt động đầu tư: TácgiảPhạm ThịGiang Thu (2013) cho rằng pháp luật cần quy định cụ thể hơn về hình thức thực hiện hoạt động góp vốn, mua cổ phần đặc biệt hướng dẫn về trình tự, thủ tục thực hiện trong từng hình thức, trường hợp nào phải thông báo và chấp thuận hoặc thông báo về thông tin phải thay đổi đến NHNN, trường hợp nào không cần thực hiện thủ tục này. Tác giảNguyễn Thị Lan Hương (2007) đưa ra đề xuất cần luật hoá quyền tham gia các lĩnh vực tài chính đa dạng của NHTM trong luật các TCTD. Việc xác định rõ lĩnh vực hoạt động và những hạn chế trong quá trình tham gia vốn vốn thành lập công ti bảo hiểm là cơ sở pháp lí để kiểm tra hoạt động góp vốn của ngân hàng đồng thời tạo quyền chủ động lựa chọn hoạt động kinh doanh của NHTM38. Trong khiđó đối với hoạt động ủy thác đầu tư, ý kiến chung trong các nghiên cứu đưa ra là cần hoàn thiện cơ sở pháp lí theo hướng thắt chặt quản lí đối với hoạt động này trong giai đoạn hiện
35 Tabarrok, A., tlđd. tr. 1-18.
36Macey, J.R., M.W. Marr, and S.D. Young (1991), The Glass–Steagall Act and the Riskiness of Financial Intermediaties, Research in Law and Economics (14), tr.19-30.
37 Tạ Hoàng Hà, tlđd, tr.118-122.
38 Nguyễn Thị Lan Hương, “Công ti nắm vốn – hình thức để ngân hàng đầu tư vào lĩnh vực bảo hiểm theo Luật Hoa Kì”,Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế – Luật số 23/2007, tr.86.
37
nay, thậm chí theo Luật sư Trần Minh Hải thì “không tồn tại nữa thì sẽ tốt hơn cho hoạt động ngân hàng”39. Trên phương diện tổng thể, Trần Ngọc Đức và Nguyễn Đức Hiên (2014) cho rằng nên “tách bạch chức năng ngân hàng đầu tư và NHTM” bởi quy định về đầu tư của NHTM đã xóa đi ranh giới giữa chức năng ngân hàng đầu tưvà NHTM tại Việt Nam, một trong những nguyên nhân tạo ra “lỗ hổng” tạo điều kiện cho sở hữu chéo.
Đứng trên phương diện đảm bảo an toàn cho hoạt động của toàn hệthống, quan điểm vềphạm vi thực hiện hoạt động đầu tư của NHTMđược Thomas M.Hoenig và Charless S. Morris (2012) khuyến nghị cần phải giới hạn hoạt động của các tổ chức ngân hàng. Theo đó, các tổ chức ngân hàng bao gồm cả NHTM không nên thực hiện ba trong số sáu nhóm hoạt động tài chính gồm: Kinh doanh và kiến tạo thị trường (chứng khoán, repos, hợp đồng phái sinh); dịch vụ môi giới và tự doanh40. Lập luận được đưa ra là, ba hoạt động này có ít mối tương quan với dịch vụ ngân hàng cơ bản và nó tạo rủi ro rất khó đánh giá, giám sát và kiểm soát41. Quan điểm vềgiới hạn hoạt động của tổ chức tài chính cũng được đưa ra bởi Claudio E.V.Borio and Renato Finosa (1994)42. Armold W.Sametx, Michael Keenan (1979) 43 cho rằng nếu như NHTM tham gia vào hoạt động chứng khoán cần thiết yêu cầu bổ sung vốn, bảo hiểm hoặc gia tăng thuế và biện pháp giám sát.
Về các biện pháp bảo đảm an toàn. Nhóm tác giả chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright (2013) nhấn mạnh cần hoàn thiện các quy định đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng Việt Nam thông qua một loạt các biện pháp: giám sát vốn ngân hàng, nhanh chóng hoàn thiện các tỉ lệ đảm bảo an toàn mới theo quy định của Luật các TCTD 2010, tinh thần của Basel II, hướng đến Basel III, quy định về công bố
thông tin, đảm bảo tuân thủ triệt để các quy định và nâng cao hiệu lực của chế tài,….
39 Xem “Dự thảo Thông tư mới về ủy thác đầu tư khác gì so với Thông tư hiện hành?”, truy cập ngày 15/10/2012, theo Tri thức trẻ, http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/du-thao-thong-tu-moi-ve-hoat-dong-uy-thac-khac-gi-so-voi- thong-tu-hien-hanh-2012101408294478.chn.
40 Theo Richardson, Smith và Walter, các hoạt động tài chính của NHTM, đầu tư và các SBS có thể được phân loại trong 6 nhóm hoạt động như sau: hoạt động NHTM (huy động và cho tổ chức, cá nhân vay), hoạt động ngân
hàng đầu tư – bảo lãnh chứng khoán và cung cấp dịch vụ tư vấn; quản lí tài sản; kinh doanh và kiến tạo thị trường; dịch vụ môi giới và tự doanh.
41 Thomas M.Hoenig và Charless S. Morris (2012), Restructuring the banking system to improve safety and soundness, tr. 25.
42 Borio, C and R. Filosa (1994): The changing borders of banking: Trends and implications, BIS Economic Papers (43).
43 Armold W.Sametx, Michael Keenan (1979), tlđd, tr. 32.
38
Đặc biệt, nhóm tác giả đưa ra đề xuất cần mở rộng quyền giám sát các cổ đông sởhữu ngân hàng44.
Bên cạnh đó, một số đề xuất cụ thể cũng được đưa ra như: điều kiện về vốn sử dụng để thực hiện hoạt động góp vốn, mua cổ phần nên được xem xétlà vốn tựcó thay vì vốn điều lệ như quy định hiện nay (Phạm Thị Giang Thu, 2013) nhằm nới rộng cơ hội thực hiện đầu tư kinh doanh của TCTD nhưng không mất đi tính an toàn của tổ chức này; cần định nghĩa lại người có liên quan, cụ thể quy định hạ thấp tỉ lệsở hữu ngân hàng phải công bố thông tin (từ mức hiện hành 5% xuống còn 1%) nhằm giúp cơ quan giám sát ngân hàng có thông tin đầy đủ hơn về cấu trúc sở hữu của mỗi
ngân hàng (Đặng Ngọc Đức, Nguyễn Đức Hiển – 2014; Trần Dục Thức và nhóm tác giả – 2014).
Về nội dung liên quan đến quản lí nhà nước. Trong hầu hết các nghiên cứu trực tiếp và có liên quan hoặc đề cập về hoạt động đầu tư của NHTM, các tác giả đều đưa ra quan điểm cần tăng cường giám sát từ phía cơ quan quản lí và đặt ra các giới hạn đối với các hoạt động đầu tư. Trần Dục Thức và nhóm nghiên cứu (2014) khi nghiên cứu về hoạt động góp vốn mua cổ phần của NHTM đã chỉ rõ“tăng cường công tác giám sát và quản lí của Nhà nước,đặc biệt làvai trò của NHNN” là một trong những giải pháp quan trọng nhằm tăng cường khảnăng giám sát một trong
những phương thức thực hiện đầu tư quan trọng của NHTM – hoạt động góp vốn, mua cổ phần. Bên cạnh đó, nghiên cứu giải pháp cần xây dựng mô hình giảm sát hợp nhất và đưa ra lộ trình và biện pháp thanh tra giám sátcụ thể45.
Tạ Hoàng Hà (2015) cho rằng để phát triển hoạt động đầu tư của ngân hàng dù theo mô hình chuyên biệt hay đa năng thì cần hoàn thiện cơ sở pháp líđối với hoạt động quản lí, giám sát thị trường. Pháp luật cần trao cho cơ quan quản lí các công cụ quản lí hiệu quả và đặc thù46. Tác giả Trần Dục Thức và nhóm tác giả (2014) cũng như tài liệu Chương trình giảng dạy kinh tếFullbright (2013) chung quan ýkiến về hoàn thiện hành lang pháp lí cho hoạt động góp vốn mua cổ phần cần đảm bảo mục tiêu quan trọng là phải xây dựng hệ thống chế tài đủ mạnhcho các vi phạm
44 Vũ Thành Tự Anh, Trần Thị Quế Giang, Nguyễn Đức Mậu, Đinh Công Khải, Nguyễn Xuân Thành, Đỗ Thiên Anh Tuấn, tlđd, tr. 71, tr. 105-112.
45Trần Dục Thức và nhóm tác giả, tlđd, tr. 76 -77.
46 Tạ Hoàng Hà, tlđd, tr. 138 – 141.
39
trên thị trường tài chính. Hoàn thiện pháp luật, đồng thời, cần nhấn mạnh vai trò cung cấp thông tin minh bạch, đúng đủ, kịp thời trên thị trường để toàn bộ cổ đông lớn, nhỏ không trực tiếp nắm quyền điều hành, quyền kiểm soát có thể thực hiện quyền chủ sở hữu hợp pháp của mình. Các quy định điều tiết, giám sát thị trường cần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, không thiên vị, không tạo rào cản đố với năng lực sáng tạo tích cực của các tác nhân tham gia thị trường hay công cụ kiểm soát doanh nghiệp47.
Qua nghiên cứu các công trình đã công bố về giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với pháp luật về hoạt động đầu tư tài chính của NHTM, có thể kết luận như sau:
(i) Khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM phải cân nhắc tổng hòa các yếu tố ảnh hưởng và đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng và thị trường tiền tệ, qua đúc rút kinh nghiệm các quốc qua trên thế giới và thực trạng thị trường Việt Nam.
(ii) Tại Việt Nam, do sự hạn chế trong các nghiên cứu trực tiếp nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM, do đó đề xuất liên quan không mang tính toàn diện, chủ yếu là đề xuất riêng lẻ trong phạm vi nghiên cứu của mỗi công trình. Tuy nhiên một số đề xuất vẫn còn giá trị tham khảo như yêu cầu hoàn thiện pháp luật, đề xuất liên quan đến giám sát thị trường. Bên cạnh đó,nhiều vấn đềpháp lí liên quan đến quy định về ủy thác đầu tư, quy định về hoạt động đầu tư chứng khoán, về giải pháp cụ thể trong quản lí nhà nước liên quan đến hoạt động đầu tư của
NHTM… chưa được nghiên cứu và đề xuất hoàn thiện. Rõ ràng, pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt động đầu tư của NHTM cần có đánh giá đầy đủ từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp cụ vừa mang tính toàn diện vừa cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật vànâng cao hiệu quả áp dụng, thắt chặt, đảm bảo hoạt động của thị trường. Đây là nội dung Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu và làm rõ.
3. Cơ sở lí thuyết, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu Về cơ sở lí thuyết
47 Trần Dục Thức và nhóm tác giả, tlđd, tr. 74-75.
Vũ Thành Tự Anh, Trần Thị Quế Giang, Nguyễn Đức Mậu, Đinh Công Khải, Nguyễn Xuân Thành, Đỗ Thiên Anh Tuấn, tlđd, tr. 100 -101.
40
Khi nghiên cứu hoạt động đầu tư của NHTM và pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM, nghiên cứu sinh sử dụng một số cơ sở lý thuyết điển hình như: học thuyết Mác – Lênin vềnhànước và pháp luật; lý thuyết vềquanhệpháp luật, lýthuyết về hợp đồng; lý thuyết về quyền tự do kinh doanh; lí thuyết về hoạt động ngân hàng.
Về câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiêncứu
Trên cơ sở đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu, tác giả xác định giải thiết và câu hỏi nghiên cứu đặt ra và giải quyết như sau:
Câu hỏi 1: Hoạt động đầu tư của NHTM có phạm vi như thế nào? Khi NHTM thực hiện hoạt động đầu tư sẽ có những hạn chế và đồng thời mang đến lợi ích như thế nào đối với NHTM đặt trong thực trạng thị trường tài chính ởViệt Nam?
Giảthuyết nghiên cứu: Hoạt động đầu tư của NHTM (được xác định ngoài các hoạt động ngân hàng truyền thống có nội hàm rộng gồm nhiều hoạt động và ngày càng có vai trò quan trọng trong cơ cấu hoạt động đầu tư của NHTM. Việc mở rộng hoạt động sang thực hiện các hoạt động đầu tư bên cạnh các hoạt động ngân hàng truyền thống hoặc cốt lõi (core banking business) chứa đựng rủi ro song mang đến nhiều lợi ích đối với NHTM.
Câu hỏi 2: Làm rõ xu hướng phát triển mô hình ngân hàng trên thế giới và đánh giá mô hình phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển nền tài chính Việt Nam hiện nay?
Giả thuyết nghiên cứu: Sự tồn tại và phát triển mô hình ngân hàng khác nhau trên thế giới chịu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị, trực trạng thị trường tài chính, năng lực của các ngân hàng. Mô hình ngân hàng đa năng bán phần và xu hướng đa dạng hoá hoạt động của NHTM phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển thị trường tài chính và nền kinh tế Việt Nam hiện nay.
Câu hỏi 3: Pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM có cấu trúc nhưthếnào? Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM phải đảm bảo những nguyên tắc đặc thù nào?
Giả thuyết nghiên cứu: Cấu trúc pháp luật điều chỉnh đối với hoạt động đầu tư của NHTM chịu ảnh hưởng lớn từ vị trí của hoạt động và đặc thù của hoạt động
41
đầu tư do NHTM thực hiện, thể hiện tính chất quản lí, giám sátcủa Nhà nước đối với hoạt động này. Theo đó, pháp luật điều chỉnh hoạt đầu tư của NHTM sẽ bao gồm các nhóm quy định về phương thức thực hiện hoạt động đầu tư, về điều kiện, trình tự thực hiện hoạt động đầu tư, các biện pháp bảo đảm an toàn và quy định về quản líNhà nước đối với hoạt động này. Xác định nội dung cấu trúc pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM khi đánh giá, bình luận cần thiết phải đặt trong nguyên tắc điều chỉnh của bộ phận pháp luật này. Pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM bên cạnh đảm bảo quyền tự do kinh doanh của NHTM, cần đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng và lợi ích công cộng.
Câu hỏi 4: Những hạn chế nào của pháp luật hiện hành phát sinh khiđiều chỉnh các quan hệ về hoạt động đầu tư của NHTM ở Việt Nam hiện nay? Tại sao tồn tại các hạn chế này?
Giảthuyết nghiên cứu: Những bất cập trên thịtrường tiền tệliên quanđến hoạt động đầu tư của NHTM thời gian qua cho thấy pháp luật chưa tạo lập được cơchế quản lí đầy đủ và chặt chẽ khi các NHTM thực hiện hoạt động đầu tư. Nhiều nội dung pháp luật điều chỉnh các quan hệ trong quá trình NHTM thực hiện hoạt động đầu tư chưa theo kịp xu hướng vận động của thị trường và yêu cầu quản lí nhằm đảm bảo an toàn hệ thống.
Câu hỏi 5: Cần phải sửa đổi, bổ sung pháp luật theo định hướng và các giải pháp cụ thể như thế nào để hệ thống pháp luật trở nên hoàn thiện hơn trong việc điều chỉnh các hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam?
Giả thuyết nghiên cứu: Để theo kịp xu hướng thế giới, quản lí hiệu quả các quan hệ phát sinh trong giao dịch và quản trị ngân hàng, pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam nên được hoàn thiện theo hướng đảm bảo và tạo điều kiện cho NHTM đa dạng hoá hoạt động, mở rộng các hoạt động đầu tư, đồng thời tăng cường quản lí, giảm sát nhằm đảm bảo an toàn hệ thống.
42
PHẦN 2: NỘI DUNG LUẬN ÁN
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ VẤN ĐỀHOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại
1.1.1. Quan niệm về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại – Ngân hàng thương mại
Sự ra đời của ngân hàng được xem là một trong những phát minh quan trọng của lịch sử thế giới. Ngân hàng với vai trò là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, hoạt động chủ yếu là huy động vốn, tín dụng và thanh toán, ngày càng thể hiện vai trò là yếu tố cấu thành cốt lõi trong sự vận hành nền kinh tế. Cùng với sự phát triển của thịtrường tiền tệ và ngành tín dụng ngân hàng, phạm vi hoạt động của các ngân hàng liên tục được mở rộng. Các ngân hàng đã có sự phân hoá thành nhiều loại hình khác nhau như đầu tư, ngân hàng đa năng, ngân hàng bán lẻ, ngân hàng cộng đồng. Trong đó,mô hình giữ vai trò quan trọng và phổ biến nhất hiện nay là ngân hàng thương mại (commercial bank).
Theo các nhà Kinh tế học thế giới thì “NHTM là một loại hình doanh nghiệp hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng”.
Tiếp cận trên phương diện hoạt động,“ NHTM nhận tiền gửi từ khách hàng cá nhân và tổ chức và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng cho khác hàng khác”48. “NHTM là một loại hình tổ chức tài chính, cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức nào trong nền kinh tế”. Reed, Rose & Woodland (1976) nhấn mạnh, NHTM như trái tim của hệ thống tài chính49.
Tại Hoa Kì, NHTM được xác định là công ti kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Tại Việt Nam, Luật các TCTD năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định, NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các
48 Iannotta, G. (2010). Investment Banking: A Guide to Underwriting and Advisory services. London: Springer, http://books.google.com, truy cập 12/12/2018.
49 Reed, E. W., Rose, P.S., & Woodland, D.L. (1976). Commercial Banking. New York: Prentice- Hall. Retrieved September 17, 2013, http://books.google.com , ngày truy cập 12/12/2018.
43
hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các TCTD nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng theo cách thức nào thì ngân hàng đều được nhấn mạnh đến hoạt động.Hoạt động chủyếucủa NHTM là huyđộng vốn,tái cung cấp vốn cho nền kinh tế và cung ứng dịch vụ thanh toán, ngoài ra NHTM tham gia thực hiện một số hoạt động kinh doanh khác. Các hoạt động NHTM phần lớn tập trung vào các nghiệp vụ ngắn hạn. Trong đó, nhóm hoạt động huy động vốn, tín dụng và thanh toán có thể được coi là những hoạt động truyền thống và điển hình của NHTM (trong nhiều tài liệu được nhắc đến với thuật ngữcore banking business hoặc tranditional banking business, sau đây được gọi là hoạt động ngân hàng truyền thống). Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các NHTM ngày càng đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh, bên cạnh các hoạt động “core banking business”,NHTM đã thực hiện nhiều hoạt động đầu như như góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối, mua bán trái phiếu doanh
nghiệp,…Các hoạt động có tính chất đầu tư do NHTM thực hiện ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với ngân hàng, đối với thị trường tài chính và nền kinh tế.
– Quan niệm thếgiới và theo pháp luật Việt Namvềhoạt động đầu tư của NHTM
Đầu tư là thuật ngữ phổ biến được sử dụng trong phạm trù kinh tế và pháp luật. Xác định nội hàm khái niệm đầu tư, đa số các nghiên cứu tiếp cận theo cách thức thực hiện hoạt động.Cụ thể:
Khái niệm đầu tư theo cách hiểu phổ thông làviệc “bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội”50.
Theo từ điền Black Law (2014)“đầu tư” (Investment) chỉ hoạt động bỏ chi phí, phí tổn để tạo lập nên tài sản, giá trị quyền sở hữu nhằm tạo ra lợi nhuận hoặc vốn đầu tư cơ bản” 51.
Về mặt pháp lí, Luật Đầu tư năm 2014 quy định “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư đểthực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế;
50 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 301 51 Black’s law (2004), tái bản bổ sung lần thứ 10, Bryan A.Garner, tr. 965.
44
đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”52. Sự khác biệt cơ bản của hoạt động đầu tư với hoạt động thương mại kinh doanh là hoạt động có tính chất
tạo lập (bỏ vốn, tài sản) nhằm hình thành cơ sở vật chất, kỹ thuật cũng như các điều kiện khác để thực hiện hoạt động tìm kiếm lợi nhuận.
Tác giả Vũ Hoàng Nam (2015) bên cạnh xách định nội hàmthuật ngữ “đầu tư” theo cách thức thực hiện hoạt động, đồng thời xác định theo thời gian của hoạt động,theo đó, hoạt động đầu tư (Investing) trong lĩnh vực tài chính, thường chủ yếu gắn liền với việc mua và nắm giữ các công cụ đầu tư như cổ phiếu,trái phiếu, chứng chỉ quỹ hoặc các công cụ đầu tư khác trong thời gian dài (có thể vài năm hoặc dài hơn) nhằm tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sơ hưởng lãi (trái tức,cổ tức,v.v.)53. Điểm khác biệt hoạt động đầu tư so với hoạt động kinh doanh (trading) là hoạt động kinh doanh có thời hạn nắm giữ công cụ đầu tư thường ngắn.
Như vậy, tiếp cận hoạt động đầu tư từ nội hàm thuật ngữ “đầu tư” có phạm vi tương đối rộng, bao gồm toàn bộ các hoạt động bỏ vốn, tài sản của nhà đầu tư theo các hình thức và cách thức nhằm mục đích lợi nhuận hoặc trong nhiều trường hợp là mục đích kinh tế, xã hội khác. Hoạt động đầu tư thường hướng đến thời gian dài thay vì kiếm lời ngắn hạn. Tuy nhiên, khi tiếp cận hoạt động đầu tư trên khía cạnh một hoạt động do ngân hàng thực hiện, nội hàm hoạt động đầu tư của NHTM có phạm vi hẹp hơn và không đồng nhất trong các nghiên cứu và thực tiễn.
Về hoạt động đầu tư của NHTM
Trong cuốn từđiển Black’s Law (2014), hoạt động ngân hàng đầu tư hay nghiệp vụ ngân hàng đầu tư (investment banking) được xác định là hoạt động bảo lãnh phát hành hoặc mua bán chứng khoán nhưcổphiếu, trái phiếu54. TácgiảThomas M.Hoenig và Charless S. Morris xác định hoạt động đầu tư của ngân hàng là nhóm hoạt động bao gồm bảo lãnh phát hành chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu) và cung cấp dịch vụ tư vấn55. Tác giả Mạc Quang Huy (2009) trong “Cẩm nang ngân hàng đầu tư” khi nghiên cứu mô hình ngân hàng đầu tư trong đó có mô hình ngân hàng đầu tư tổng hợp có đề cập đến kháiniệm “nghiệp vụ đầu tư” trong đó xác định
52 Luật Đầu tư năm 2014, Khoản 5 Điều 3
53 Vũ Hoàng Nam (2015), “Hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, tr.15.
54 Black’s Law Dictionary, (2004), tr. 954.
55Thomas M.Hoenig and Charless S. Morris, tlđd, tr. 23.
45
gồm “môi giới vàđầu tư”,môi giới chủyếu áp dụng cho sản phẩm chứng khoán niêm yết, đầu tư bao gồm nghiệp vụ đầu tư cho khách hàng và hoạt động tự doanh 56. Cách tiếp cận này thường gắn với các nghiên cứu đề cập đến mô hình ngân hàng
đầu tư (investment bank) – định chế tài chính lấy hoạt động kinh doanh chứng khoán làm nòng cốt.
Tại các nghiên cứu khác, tác giả Lê Thị Hương định nghĩa hoạt động đầu tưcủa NHTM theo phương pháp liệt kê với phạm vi tương đồng với khái niệm về hoạt động đầu tư, không có sựphân biệt vềthời hạn nắm giữcông cụđầu tư, theođó“hoạt động đầu tư của NHTM bao gồm: đầu tư phát triển như đầu tư trang thiết bị,
cơ sở hạ tầng, mua sắm tài sản đề cho thuê tài chính,…và đầu tư tài chính như cho
vay, đầu tư chứng khoán Chính phủ,…”57. Tác giả Đặng Minh Châu (1995)có đềcập đến “nghiệp vụđầu tư” bên cạnh các nghiệp vụcho vay, huy động vốn của NHTM, theo đó “Nghiệp vụ đầu tư (hay còn gọi là nghiệp vụ chứng khoán) là nghiệp vụ sinh lời của của NHTM. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng tham gia vốn vào hai loại chứng khoán, thứ nhất là đầu tư vào các chứng khoán nhà nước, thứ hailà đầu tư vào các chứng khoán xí nghiệp”58.
Tác giả Trương Quốc Cường (2000), khi nghiên cứu hoạt động ngân hàng, tập trung vào hoạt động đầu tư theo dự án có đưa ra quan điểm về hoạt động đầu tư của ngân hàng. Theo tác giả, mỗi ngân hàng đều có một chính sách đầu tư và hoạt động đầu tư của ngân hàng được điều hành rất chặt chẽ nhằm đảm bảo thu được lợi nhuận và an toàn vốn của người kí thác. Hoạt động đầu tư của ngân hàng ngày càng đa dạng và phong phú, sức mạnh biến tiết kiệm thành đầu tư của ngân hàng được thực hiện chủ yếu thông qua các hoạt động như sau: (1) Tham gia các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán; (2) Đầu tư vào các công ty con và công ti liên kết; (3) Hoạt động tín dụng thuê mua (Tín dụng thuê mua là hoạt động cho thuê động sản và bất động sản, trong đó người thuê lựa chọn tài sản cần thiết cho mình và đề nghị người cho thuêmua tài sản đó); (4) Thực hiện tài trợ các dự án đầu tư của doanh nghiệp. Đầu tưtheo dự án là một hoạt động phổ biến của ngân hàng trong thời kì đầu của nền kinh
56 Mạc Quang Huy, tlđd,tr.25.
57 Lê Thị Hương (2002), Nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư của các ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận Án Tiến sĩ Kinh tế, tr.16.
58 Đặng Minh Châu (1995), Đa năng hóa hoạt động ngân hàng thương mại theo cơ chế thị trường ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế, tr.53.
46
tế thị trường. Đây là hoạt động tín dụng trung – dài hạn nhằm tăng năng lực sản xuất cho các doanh nghiệp59.
Như vậy, qua nghiên cứu, tựu chung lại có nhiều cách tiếp cận khác nhau vềhoạt động đầu tư của NHTM:
Thứ nhất, dựa trên cách tiếp cận từ kháiniệm đầy đủ của hoạt động đầu tư, hoạt động đầu tư của NHTM được xem xét dựa trên việc sử dụng nguồn vốn để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai. Theo cách tiếp cận này, hoạt động đầu tư của NHTM có phạm vi rộng và đa dạng thể hiện trên nhiều phương diện khác nhau như đầu tư phát triển (đầu tư vào
trang thiết bị, nhà cửa, cơ sở hạ tầng, mua sắm tài sản cho thuê tài chính…), hoạt động cấp tín dụng, đầu tư chứng khoán, các hoạt động khác như kinh doanh vàng, kinh doanh ngoại hối,… Trong báo cáo tài chính của các ngân hàng,hoạt động đầu tư cũng được liệt kê gồm các khoản từ các hoạt động mua sắm, thanh lí, nhượng bán
tài sản cố định, tiền đầu tư góp vốn vào các đơn vị khác,…
Thứ hai, có thể xem xét là tiếp cận trên phạm vi hẹp. Cách tiếp cận này được được đề cập đến trong hầu hết các nghiên cứu của nước ngoài khi đánh giá về hoạt động của NHTM. Theo quan điểm này, hoạt động đầu tư được xem xét là các hoạt động nằm ngoài động ngân hàng cơ bản và hoạt động đầu tư phát triển. Hoạt động đầu tư của NHTM là hoạt động sử dụng vốn, tài sản nhằm tạo ra nguồn lợi vật chất bao gồm hoạt động góp vốn, mua cổ phần; hoạt động đầu tư chứng khoán và hoạt động khác như uỷ thác đầu tư, kinh doanh vàng, kinh doanh ngoại hối. Điểm lưu ý ở đây là hoạt động đầu tư chứng khoán được các nhà nghiên cứu và thực tế xem xét với nội hàm khá rộng gồm hoạt động bảo lãnh chứng khoán, tự doanh chứng khoán, môi giới.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, nhằm tập trung làm rõ các vấn đề nổi cộm, có tính cấp thiết trong thực tiễn, luận án xác định nội dung nghiên cứu hoạt động đầu tư do NHTM thực hiện chỉtrong phạm vi hẹp. Cơsởxác định phạm vi nghiên cứu này dựa trên hai lí lẽ: Một là, qua đánh giá về tình hình nghiên cứu vềNHTM nói riêng và TCTD nói chung cho thấy, các hoạt động ngân hàng truyền thống bao gồm hoạt động huy động vốn, cấp tín dụng và dịch vụ thanh toán rất được
59 Trương Quốc Cường (2000), tlđd, tr 40-45.
47
quan tâm, là đối tượng nghiên cứu trong nhiều công trình cảkhía cạnh kinh tếvà pháp lí; Hai là, thực tiễn hoạt động của các NHTM tại Việt Nam, trong các hoạt động đầu tư, nhóm hoạt động giữ vai trò ngày càng quan trọng có đóng góp và nguồn thu cho hoạt động của ngân hàng, trở thành một xu hướng trong vận hành hoạt động của NHTM trên thế giới tập trung vào hoạt động góp vốn, mua cổ phần,hoạt động đầu tư chứng khoán và hoạt động uỷthácđầu tư. Các hoạt động đầu tư khác do ngân hàng thực hiện như kinh doanh vàng, kinh doanh ngoại hối cũng sẽ không nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận án. Đối với hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán, mặc dù được đề cập rất nhiều trong nghiên cứu nước ngoài, gắn liền với hoạt động chứng khoán song bởi hiện nay pháp luật ngân hàng Việt Nam qui định rất rõ ràng các TCTD không được trực tiếp thực hiện nghiệp vụkinh doanh này, do đó cũng không nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận án.
Tóm lại, từ những phân tích ở trên, có thể đi đến kháiniệm về hoạt động đầu tư của NHTM làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu như sau:“hoạt động đầu tư của NHTM được hiểu là việc NHTM trực tiếp bỏ vốn, tài sản nhằm góp vốn thành lập doanh nghiệp, mua bán các công cụ đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu và các loại
chứng khoán khác hoặc uỷ thác cho bên thứ ba thực hiện các hoạt động đầu tư
nhằm tìm kiếm lợi nhuận”. Dưới cách tiếp cận này, luận án cũng xác định giới hạn nghiên cứu về pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM bao gồm nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động góp vốn, mua cổ phần; hoạt động đầu tư chứng khoán và hoạt động uỷ thác đầu tư60. Các nhóm hoạt động đầu tư này của NHTM cũng là vấn đề được quan tâm trong nghiên cứu pháp luật và thực tiễn tại nhiều
quốc gia trên thế giới và cũng là vấn đề còn tồn tại bấp cập tại Việt Nam.
1.1.2. Đặc điểm hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại
Xuất phát từ tính chất rủi ro của hoạt động ngân hàng, cũng như vị trí, vai trò, sức ảnh hưởng đặc biệt của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế, hoạt động đầu
60 Hoạt động góp vốn, mua cổ phần của NHTM là hoạt động đầu tư có tính chất dài hạn, theo đó NHTM
thực hiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế để trở thành cổ đông hoặc công ti mẹ của công ti góp vốn.
Đầu tư chứng khoán là hoạt động NHTM bỏ vốn thực hiện hoạt động mua bán chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận.
Hoạt động đầu tư chứng khoán được xem xét trong luận án có tính tương đồng với hoạt động tự doanh chứng khoán do NHTM thực hiện. Uỷ thác đầu tư được hiểu là việc NHTM giao vốn bằng tiền cho bên thứ ba thực hiện một số hoạt động đầu tư.
48
tư của NHTM có một số đặc trưng nhất định so với hoạt động đầu tư của các chủ thểkinh doanh thông thường khác và so với hoạt động kinh doanh truyền thống của NHTM.
Thứ nhất, hoạt động đầu tư của NHTM chứa đựng rủi ro
Liên quan đến tính chất rủi ro của hoạt động đầu tư do ngân hàng thực hiện, qua nghiên cứu cho thấy tồn tại hai hướng quan điểm.
(i) Quan điểm đầu tiên, đồng thời là xu hướng hiện nay trong quản lí hoạt động ngân hàng cho rằng, việc cho phép NHTM thực hiện hoạt động đầu tư, đặc biệt hoạt động chứng khoán chứa đựng rủi ro, do đó cần tách bạch hoạt động của NHTM với các hoạt động mang tính chất đầu tư. Rủi ro của hoạt động đầu tư do NHTM thực hiện, đặc biệt đầu tư chứng khoán được đề cập trong nhiều nghiên cứu, trong đó chủyếu nhấn mạnh đến vấn đề xung đột lợi ích (conflict of interest) và sự an toàn và lành mạnh của ngân hàng cũng như hệ thống (bank safety and soundness).
Xung đột lợi ích được hiểu là “một sự xung đột lợi ích tồn tại khi một người phục vụ hai hoặc nhiều bên và có thể dành lợi ích cao hơn cho một bên ở cùng mức chi phí 61”. Khi các NHTMvớimong muốnmởrộng sang các hoạtđộng đầu tư, trong đó chủ yếu vào hoạt động chứng khoán, sự xung đột lợi ích sẽ nảy sinh bởi vịthế của chính ngân hàng với tư cách trung gian tài chính, tức nhà tư vấn cho người gửi tiền hoặc trong nhiều trường hợp giữ vị trí như nhà quản lí quỹ uỷ thác. Sự xung đột lợi ích có thể gia tăng bởi cơ hội của ngân hàng để thực hiện các giao dịch với khách hàng (ngân hàng có thểgây áp lực vớikhách hàng vay tiền buộc phải mua dịch vụ bảo lãnh phát hành dưới sự đe dọa của chi phí tín dụng tăng hoặc không gia hạn hạn mức tín dụng). Xung đột lợi ích cũng có thể gia tăng bởi “thông tinnội bộ”
(internal information). Ví dụ ngân hàng có thể sử dụng thông tin bảo mật mà họ cóđược khi thực hiện các hoạt động chứng khoán hay hoạt động ngân hàng và cung cấp/ tiếtlộthông tin này mộtcách trực tiếp hoặc gián tiếp chođối thủcạnh tranh hoặc sử dụng thông tin làm lợi thế kinh doanh.
Tiếp đó, hoạt động đầu tư của ngân hàng có thể có tác động đến sự an toàn và lành mạnh của ngân hàng và cả hệ thống. Ngân hàng luôn được xác định là chủ thể
61 Joao A.C Santos (1998), tlđd, tr 9-12.
49
có tiềm lực tài chính mạnh và tầm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế. Việc ngân hàng tham gia vào hoạt động đầu tư (thường có tính chất dài hạn và chứa đựng rủi ro nhất định)sẽ tác động đến quản lí dòng tiền ngân hàng và việc đảm bảo khả năng thanh toán cũng như tính thanh khoản. Bên cạnh đó, sự tham gia của ngân hàng vào các hoạt động tài chính, hoạt động khác trong nền kinh tế thông qua việc góp vốn, mua cổ phần, thành lập mới công ti con, công ti trực thuộc có thể tạo nên mạng lưới và nguy cơ tác động đến nền kinh tế nếu hoạt động ngân hàng hay tập đoàn không được đảm bảo.Trong trường hợp này, đặt ra gánh nặng với Chính phủ trong đảm bảo an toàn hệ thống và phải thực hiện các can thiệp tài chính.
Quan điểm ủng hộ sự phân tách hoạt động đầu tư và hoạt động ngân hàng truyền thống do tính chất rủi ro của nhóm hoạt động này thể hiện rõ ràng nhất bắt đầu tư sau
khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933, khi Quốc hội Hoa Kì thông qua Đạo luật Glass –Steagall. Việc luật pháp thời điểm đó cho phép các ngân hàng được tự do thực hiện hoạt động chứng khoán mà thiếu sự kiểm soát đã dẫn đến những hậu quả nặng nề. Cụ thể từ giữa năm 1929 và 1933, hơn 4000 ngân hàng tại Hoa Kì đã đóng cửa vĩnh viễn, làm ảnh hưởng rất lớn đến hàng triệu người gửi tiền và tạo ra một khoản lỗ gần 400 triệu USD đến các nhà đầu tư. Thậm chí vào tháng 3/1933 Tổng thống Roosevel đã buộc phải đóng cửa toàn bộ hệ thống ngân hàng trong bốn ngày62. Nhiều nghiên cứu của các tác giảnhư Lia K.Thomas (2005)63, Bierman Harold (2003)64 cũng khẳng định NHTM và công ti chứng khoán là nguyên nhân cuộc khủng hoảng kinh tế do xung đột lợi ích.
Tại Việt Nam, Trần Dục Thức và nhóm tác giả (2014) cũng cho rằng, nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng cần tách bạch hoạt động ngân hàng đầu tư và hoạt động NHTM, nghĩa là NHTM không nên thực hiện chức năng kinh doanh đa ngành như hiện nay, mà thay vào đó NHTM chỉ có dịch vụ thanh toán- tài chính, huy động và cấp tín dụng bởi tính rủi rotừhoạt động này là rất lớn65. Tác giảTạHoàng Hà (2015)66 trong nghiên cứu về ngân hàng đầu tư cũng khẳng định,về mặt
62 James Larder (2009), A brief History of the Glass – Steagal Act, tr. từhttps://www.demos.org/research/brief-history-glass-steagall-act
63 Lia K.Thomas (2005), The Bussiness of Investment Banking, John Wiley & Son, Inc., tr.15. 64 Bierman Harold (2003), tlđd, tr.30.
65 Trần Dục Thức và nhóm tác giả, tlđd, tr. 75-76. 66 Tạ Hoàng Hà, tlđd, tr.133.
50
kinh tế, xung đột lợi ích tiềm tàng giữa hoạt động chứng khoán và hoạt động NHTM có khả năng làm giảm động lực của NHTM, độ tập trung của quản lí khoản vay dài hạn. Tạ Hoàng Hà cho rằng hoạt động chứng khoán nên được thực hiện bên ngoài ngân hàng, loại bỏ lợi thế cạnh tranh một tổ chức như ngân hàng có thể giúp công tác quản lí được thực hiện dễ dàng hơn với chi phí thấp hơn.
(iii) Quan điểm thứ hai
Bên cạnh việc gắn hoạt động đầu tư của ngân hàng với tính rủi ro, một sốnghiên cứu đưa ra quan điểm ngược lại. Tabarrok (1998)67 chỉ ra mặc dù đạo luật
Glass – Steagall nhằm gia tăng mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng và giảm xungđột lợi ích, tuy nhiên xung đột lợi ích trên không đáng kể. Thậm chí, Macey (1991)68 khẳng định việc ngăn cấm thực hiện hoạt động ngân hàng đầu tư (chủ yếu thực hiện các hoạt động chứng khoán)sẽgia tăng rủi ro tại các NHTM. Ôngchỉra, chứng khoán nói chung (bao gồm cổ phiếu và trái phiếu) có ít rủi ro hơn tín dụng,đầu tưvào chứng khoán là khoản đầu tư có tính thanh khoản và đại chúng cao. Tính thanh khoản này giúp cho các ngân hàng dễ cân bằng trạng thái, đồng thời tính đại chúng của hoạt động chứng khoán làm tăng hiệu quả hoạt động của các NHTM69.
Đối với vấn đề này,quan điểm của chúng tôi cho rằng,hoạt động đầu tư của NHTM có rính rủi ro nhất định đối với hoạt động của ngân hàng. Ngoài vấn đề xung đột lợi ích và an toàn hệ thống đã được đề cập, tính rủi ro này còn xuất phát từ thực tế thị trường tài chính Việt Nam và đặc trưng hoạt động của NHTM.Trước hết, quy mô thị trường tài chính tại Việt Nam hiện nay còn nhỏ, tiềm lực vốn và khả năng tài chính của các chủ thể trên thị trường còn hạn chế, việc đáp ứng tiêu chuẩn an toàn như Basel II của các ngân hàng ở mức thấp. Từ sau khủng hoảng kinh tế năm 2008, những mặt hạn chế trong cả hệ thống TCTD bộc lộ với các số liệu đáng lo ngại vềsở hữu chéo,nợ xấu.Hai là, xem xét đặc điểm từ chính chủ thể thực hiện hoạt động là các NHTM và hoạt động đầu tư. Các NHTM so sánh tương quan trên thị trường là chủ thể có khả năng tài chính lớn, nhưng lĩnh vực hoạt động rất nhạy cảm,độ rủi ro cao. Các biến động thị trường, yếu tố chính trị, chính sách pháp luật và bản thân
67 Tabarrok, A., tlđd. tr.6.
68 Macey, J.R., M.W. Marr, and S.D. Young (1991), The Glass – Steagall Act and the Rishkiness of Financial Intermediaties, Research in Law and Economics 14.
69Macey, J.R., M.W. Marr, and S.D. Young tlđd, tr.19-30.
51
tính cạnh tranh cũng có thể đẩy ngân hàng đến khó khăn. Việc sử dụng vốn, cơ cấu vốn và đảm bảo tỉ lệ an toàn có vai trò rất quan trọng. Trong khiđó, hoạt động đầu tư bao gồm góp vốn, mua cổ phần và đầu tư chứng khoán là các hoạt động có tính chất dài hạn, bản thân cũng chứa đựng rủi ro. Tính rủi ro của hoạt động đầu tư chứng khoán xuất phát từ nhiều nguyên nhân như hệ thống (rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro sức mua) hoặc rủi ro phi hệ thống (rủi ro kinh doanh, rủi ro quản lí). Hay hoạt động góp vốn, mua cổ phần có thể tạo nên các mối quan hệ có tính sở hữu gắn liền với quyền lợi (sở hữu chéo), do đó có thể làm phát sinh các giao dịch bất hợp lí, các giao dịch có tính chất phi thị trường, không dựa trên quan hệ giá cả dẫn đến nguy cơ rủi ro trong hoạt động của hệ thống ngân hàng.
Việc sử dụng vốn của ngân hàng vào các hoạt động đầu tư có khả năng sẽđe doạ đến sự ổn định dòng tiền của các ngân hàng, tăng mức độ tác động của các yếu tố khách quan từ nền kinh tế đến hoạt động của ngân hàng.Cũng chính vì tính chất rủi ro, nhạy cảm trong quá trình ngân hàng thực hiện hoạt động đầu tư mà các quốc gia, dù vận hành theo mô hình ngân hàng nào (đa năng hay chuyên doanh) thì pháp luật đều đặt ra quy định chặt chẽ trong quản lí dòng tiền, quản línguồn vốn và đặt ra các quy định về đảm bảo an toàn rất khắt khe đối với các ngân hàng.
Thứhai, hoạt động đầu tư không phải là hoạt động cơbảnnhưng ngày càng có vai trò quan trọng trong cơ cấu hoạt động của NHTM
Với vai trò là trung gian tài chính, chức năng được định vị cho NHTM là thực hiện luân chuyển nguồn vốn thông qua nghiệp vụ ngân hàng đặc thù là huy động vốn và cấp tín dụng (“core banking business”). Cùng với sự phát triển mạnh của nền kinh tế, khoa học kĩ thuật, hoạt động của ngân hàng ngày càng đa dạng, không chỉmởrộng các chức năng tín dụng, thanh toán, ngân hàng ngày càng phát triển dịch vụ, thực hiện các chức năng khác trong thị trường tài chính như uỷ thác, môi giới, bảo
hiểm, chức năng ngân hàng đầu tư và bảo lãnh,…Có thể nói, xét ở khía cạnh nhất định,ranh giới giữa dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính phi ngân hàng ngày càng có xu hướng bị xoá nhoà.
Tại Việt Nam, các NHTM cũng ngày càng chú trọng mở rộng các hoạt động ngoài hoạt động ngân hàng truyền thống, trong đó chú trọng đến đầu tư chứng khoán
52
và hoạt động đầu tư khác. Tuy nhiên, với định hướng phát triển mô hình ngân hàng đa năng bán phần, trong cơ cấu hoạt động của các NHTM tại Việt Nam, hoạt động tín dụng và thanh toán vẫn giữ vai trò cốt lõi. Hoạt động đầu tư, cho đến nay mặc dù được các ngân hàng chú trọng song vẫn thuộc nhóm“các hoạt động kinh doanh khác”. Hoạt động đầu tư ở khía cạnh nhất định nhằm hỗ trợ hoạt động thể hiện vai trò trung gian tài chính của ngân hàng. Cũng chính từ lí do này, quản lí nguồn vốn đầu tư và các chỉ số an toàn tài chính khi NHTM thực hiện các hoạt động đầu tư có vai trò rất quan trọng nhằm quản lí tốt dòng vốn, đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng, tránh rủi ro từ hoạt động đầu tư ảnh hưởng đến năng lực tài chính của ngân hàng.
Xác định đúng vị trí và xu hướng phát triển hoạt động đầu tư của NHTM có ýnghĩa trong xây dựng cơ chế điều chỉnh pháp luật phù hợp đối với hoạt động đầu tưdo các NHTM thực hiện. Trước hết cần thiết phải tạo lập được điều kiện và giới hạn cho NHTM thực hiện các hoạt động đầu tư, tiếp đó quy định các giới hạn, các biện pháp bảo đảm an toàn cụ thể đối với từng nhóm hoạt động nhằm đảm bảo song hành hiệu quả đối với hoạt động đầu tư và giảm thiểu rủi ro cho hoạt động của cả ngân hàng và hệ thống.
Thứ ba, nguồn vốn thực hiện hoạt động đầu tư của NHTM có tính đặc thùvà thường phải đảm bảo giới hạn nhất định
Đối với các doanh nghiệp thông thường, khi thực hiện hoạt động đầu tư, vốn sử dụng có thể được huy động từ nhiều nguồn, như vốn do Nhà nước cấp (đối với doanh nghiệp có sử dụng vốn Nhà nước), vốn góp, vốn vay (ngân hàng hoặc tổ chức,
cá nhân khá), vốn liên doanh, liên kết,… Xét về tính chất và nguồn gốc, các nguồn vốn này tương đối đa dạng, xuất phát từ chính doanh nghiệp hoặc huy động từ bên ngoài. Đặc điểm này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng tiếp cận nguồn vốn tối đa nhất nhằm phát triển sản xuất kinh doanh. Việc sử dụng nguồn vốn này được thực hiện theo ý chí của doanh nghiệp, tuân theo các cam kết sử dụng nếu có và qui định pháp luật.
Đối với các TCTD nói chung và NHTM, một trong những nguyên tắc rất quan trọng là việc sử dụng vốn phải đảm bảo an toàn. Trong hoạt động đầu tư của NHTM, nguyên tắc này càng phải được chú ý, đề cao. Điều này được lý giải bởi đặc trưng
53
trong cơ cấu và sử dụng vốn của NHTM. Với vai trò là trung gian tài chính, cơ cấu vốn của ngân hàng có tính chất đặc biệt, bên cạnh nguồn vốn tự có, vốn chủ yếu và quan trọng phải kể đến vốn huy động thông qua các nghiệp vụ huy động vốn nhưnhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá hoặc vay của TCTD khác, vay NHNN. Nguồn vốn huy động này mặc dù chiểm tỉ lệ quan trọng trong cơ cấu vốn của ngân hàng song có đặc trưng là phải hoàn trả và tính ổn định không cao (so với vốn tự có). Xuất phát từ tính chất này, để đảm bảo tính ổn định của cơ cấu nguồn vốn, gián tiếp bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, pháp luật các quốc gia thường đặt ra giới hạn trong sửdụng và kiểm soát nguồn vốn trong hoạt động đầu tư của ngân hàng. Tuỳ theo quanđiểm điều hành thị trường, giới hạn nguồn vốn được xác lập ở mức độ khác nhau
thường quy định về nguồn gốc vốn,tỉ lệ vốn,…
Ví dụ tại Việt Nam, mức độ giới hạn về vốn đầu tư được quy định khác nhau cho từng nhóm hoạt động đầu tư. Đối với hoạt động góp vốn, mua cổ phần, pháp luật ngân hàng quy định, vốn được sử dụng để thực hiện thường bị giới hạn trong vốn tựcó của chính ngân hàng. Đây là nhóm vốn có đặc trưng là tính ổn định cao, không hoàn trả70. Đối với hoạt động đầu tư chứng khoán khác,vốn đầu tư chị ảnh hưởng rất lớn bởi quy mô và cơ cấu nguồn vốn huy động với các quy định đảm bảo an toàn
liên quan tỉ lệ nguồn vốn, trích lập dự phòng ,…
Quy định bắt buộc về nguồn vốn sử dụng đầu tư có thể tạo ra giới hạn nhất định trong hoạt động đầu tư của NHTM tạo nên xung đột nhất định với mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng. Trong thực tế, việc tuân thủ pháp luật của ngân hàng có thểkhông được đảm bảo,do ngân hàng có thể sử dụng nhiều nghiệp vụ hoặc giao dịch nhằm lách các quy định giới hạn vốn này, dẫn đến nguy cơ rủi rođối với hệ thống.
Thứ tư, hoạt động đầu tư của NHTM thường phải tuân thủ các giới hạn hạn và biện pháp bảo đảm an toàn trong quá trình thực hiện.
Xuất phát từ tính chất rủi ro trong hoạt động đầu tư của các ngân hàng, việc đặt ra các quy định giới hạn và tiêu chí đảm bảo an toàn đối với hoạt động này là yêu cầu tất yếu.
Ngoài giới hạn trong nguồn vốn như đã đề cập, hoạt động đầu tư của NHTM phải đảm bảo thuân thủ các giới hạn về tỉ lệ đầu tư (đối với hoạt động góp vốn, mua
70 Luật các TCTD số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010, khoản 1 Điều 103.
54
cổ phần), hạn chế giao dịch giữa ngân hàng và công ti trực thuộc, giới hạn về loại
chứng khoán đầu tư, giới hạn về nội dung hoạt động trong uỷ thác đầu tư,…
Ví dụ trong hoạt động góp vốn, mua cổ phần, nhằm hạn chế rủi ro đầu tư ngoài ngành, hạn chế rủi ro trong sử dụng vốn, pháp luật ngân hàng hầu hết các nước đều quy định giới hạn chặt chẽ. Các NHTM hay tổ chức tài chính (theo định nghĩa của mỗi quốc gia) được góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác nhưng thường bị
giới hạn tỉ lệ nắm giữ (vốn điều lệ, hoặc cổ phần có quyền biểu quyết,…) từ 5%đến 15%71. Tại Việt Nam, tỉ lệ này là không quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp nhận vốn góp và không quá 40% tổng vốn điều lệvà quỹdựtrữcủa NHTM72. NHTM cũng không được góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp, TCTD khác là cổ đông, thành viên góp vốn hoặc là người có liên quan của cổ đông lớn, của người quản lícủa NHTM đó. Pháp luật cũng đặt ra các điều kiện đối với trường hợp NHTM nắm giữ cổ phiếu của TCTD khác, các trường hợp mua bán, sáp nhập ngân hàng.
Đối với hoạt động đầu tư chứng khoán, sự giới hạn trong việc ngân hàng tham gia vào hoạt động đầu tư chứng khoán trước hết thể hiện ngay từ việc xác lập phạm vi và quyền thực hiện hoạt động đầu tư chứng khoán của NHTM với hai xu hướng đang tồn tại là mô hình ngân hàng đa năng một phần và ngân hàng đa năng hoàn toàn. Ví dụ tại Hoa Kỳ, trong thời gian từ 1933, sau cuộc đại khủng hoảng kinh tế
cho đến 1999 khiđạo luật Glass –Steagall(Bộluật Ngân hàng 1933) có hiệu lực, NHTM bị hạn chế thực hiện các hoạt động kinh doanh chứng khoán, phân tách giữa hoạt động NHTM và ngân hàng đầu tư (kinh doanh chứng khoán là một trong các hoạt động điển hình của ngân hàng đầu tư). Mục tiêu của sự giới hạn này nhằm đảm bảo an toàn trong sử dụng vốn của ngân hàng, hạn chế mâu thuẫn lợi ích. Tiếp đó, ngay tại các quốc gia phát triển mô hình ngân hàng đa năng hoặc mô hình ngân hàng đa năng một phần (cho phép ngân hàng trực tiếp thực hiện hoạt động đầu tư chứng khoán một cách hạn chế) các quy định giới hạn trong sử dụng vốn và đầu tư chứng
71 Luật Ngân hàng số 59 năm 1981 Nhật Bản (Banking Act) sửa đổi tại Luật Số 65 năm 2006 và Luật số 109 năm 2006. Điều 16-3; Luật Tổ chức kinh doanh tài chính (Financial Institution Business Act) B.E 2551,Phần 33, 34 (Giới hạn tỉ lệ 5% đã được nới lỏng về thời gian, mức độ trong một số trường hợp tại Luật Ngân hàng sửa đổi, bổsung năm 2013) ; Luật Ngân hàng Singapore (Banking Act 1970) sửa đổi năm 2008.
72 Điều 18 Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20 tháng 11 năm 2014 quy định các giới hạn,tỉ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài,
55
khoán, loại chứng khoán, các tỉ lệ bảo đảm an toàn, quy định ngặt nghèo trong giao dịch chứng khoán cũng được đặt ra về yêu cầu tuân thủ.
Tại Việt Nam, sự giới hạn trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán của NHTM thể hiện ngay từ mô hình ngân hàng đa năng một phần. Các NHTM chỉđược phép thực hiện hoạt động đầu tư chứng khoán một cách hạn chế. Trong trường hợp ngân hàng muốn tham gia đầy đủ hơn vào các hoạt động chứng khoán thì phải thành lập công ti con, công ti liên kết. Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện, các quy định về cấp tín dụng liên quan đến công ti chứng khoán là công ti con, công ti trực thuộc cũng bị hạn chế, các trường hợp không được cấp tín dụng,
cấp tín dụng trong tỉ lệ giới hạn,… được quy định tương đối rõ ràng.
Đối với một số hoạt động uỷ thác đầu tư, pháp luật một số quốc gia quy định chi tiết với giới hạn bắt buộc các ngân hàng phải thực hiện như từ xác định tên gọi ngân hàng (trust bank – ngân hàng uỷ thác) hay các giới hạn trong hoạt động.Đạo luật riêng điều chỉnh hoạt động ngân hàng cũng được ban hành như tại Nhật Bản, Hàn Quốc nhằm quản lí chặt chẽ hoạt động này. Trong thực hiện hoạt động uỷ thác, các điều kiện cụ thể cũng được đặt ra như được phép của cơ quan quản lí chuyên ngành, đáp ứng các chỉ tiêu an toàn tài chính. Hoạt động uỷ thác bắt buộc phải thực hiện thông qua Hợp đồng uỷ thác với quy định về nội dung hợp đồng, các nguyên tắc cần đảm bảo khi thực hiện hoạt động uỷ thác.
Thứ năm, hoạt động đầu tư của NHTM chịu sự kiểm soát rất chặt chẽ từphía Nhà nước.
Thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh là quyền của cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên, với vai trò và sức ảnh hưởng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế, đặc biệt là các NHTM, pháp luật đã quy định hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động đầu tư của NHTM phải đặt dưới sự kiểm soát của cơ quan quản lí chuyên ngành. Trong quản lí các hoạt động ngân hàng, các biện pháp kiểm soát đặc thù được áp dung như là những công cụ chủ yếu nhằm đảm bảo lợi ích của các bên tham gia,đặt trong yêu cầu đảm bảo an toàn hệ thống và nền kinh tế. Ví dụ, NHTM khi thành lập công ti con, công ti liên kết hoặc góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác, hoạt động kinh doanh chứng khoán phải tuân thủ các điều kiện nhất định, phải báo cáo vàchịu sự giám sát chặt chẽ của của cơ quan quản lí chuyên ngành trong lĩnh vực ngân
56
hàng và lĩnh vực liên quan. Cụ thể, tại Hoa Kì, quản lí các hoạt động của hệ thống ngân hàng và hoạt động đầu tư của ngân hàng đặt dưới sự quản lí của Cục Dự trữliên bang (FED) và Bảo hiểm tiền gửi Liên bang (FDIC) – cơ quan giám sát hệ thống ngân hàng, đồng thời các hoạt động liên quan đến chứng khoán chịu sự quản lí của Uỷ ban chứng khoán quốc gia (SEC). Trong đó Cục Dự trữ liên bàng giữ vai trò là cơ quan giám sát tổng hợp. Tại Việt Nam, NHNN là cơ quan giám sát hệ thống ngân hàng, bên cạnh đó có sự tham gia của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Tài chính trong hoạt động liên quan đến hoạt động chứng khoán.
Như vậy, mặc dù cùng hướng đến mục tiêu lợi nhuận song do được thực hiện bởi chủ thể rất đặc biệt nên hoạt động đầu tư của NHTM mang nhiều đặc trưng điển hình. Bên cạnh những điểm khác biệt so với các hoạt động đầu tư thông thường, so sánh với hoạt động ngân hàng truyền thống, hoạt động đầu tư của NHTM cũng có một số điểm đáng lưu ý. Đầu tiên, mang đặc điểm chung là tính chất rủi ro, tuy nhiên bản chất rủi ro của hai nhóm hoạt động ngân hàng truyền thống và hoạt động đầu tưkhông hoàn toàn tương đồng.Tính chất rủi ro trong hoạt động ngân hàng truyền thống thường được đề cập đến vấn đề trong quản lí dòng tiền. Trong khiđó,rủi rođối với hoạt động đầu tư của NHTM được nhấn mạnh đến vấn đề xung đột lợi ích. Tiếp theo, về thời hạn đầu tư, hoạt động đầu tư thườnghướngđến mục tiêu phân bổvốn dài hạn hơn so với hoạt động ngân hàng truyền thống. Mặc dù có những khoản đầu tư ngắn hạn như đầu tư vào các chứng khoán có thời hạn dưới 01 năm, tuy nhiên nhìn chung khi xét đến tính chất và mục tiêu hoạt động đầu tư thì thường mang tính dài hạn. Cũng bởi đặc điểm này mà trong quản lí dòng vốn ngân hàng, thời gian đáo hạn của hoạt động đầu tư và tín dụng của một ngân hàng cụ thể phải được tổ chức theo hướng ngược lại. Về chủ thể quản lí, do đều là hoạt động do NHTM thực hiện nên nhìn chung cả hai nhómhoạt động đều chịu sựquản lí của NHNN, tuy nhiên trong hoạt động đầu tư, xuất phát từ lĩnh vực, phương thức thực hiện đầu tư mà ngân hàng thực hiện, các cơ quan quản lí khác như Uỷ ban chứng khoán, cơ quan quản lícạnh tranh, cơ quan quản lí chuyên ngành về lĩnh vực cũng có vai trò liên quan,đặc biệt vai trò của cơ quan quản lí chuyên ngành lĩnh vực chứng khoán.Điều này đỏi hỏi phải có sự phối kết hợp giữa các cơ quan nhằm đạt được mục tiêu quản lí và sựđiều chỉnh của pháp luật.
57
Tóm lại, qua việc xác định các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư của NHTM, có thể thấy hoạt động đầu tư do NHTM thực hiện là việc sử dụng vốn của chủ thể kinh doanh đặc thù trong nền kinh tế. Việc sử dụng vốn này phải đảm bảo không ảnh hưởng đến chức năng trung gian tài chính của NHTM. Nắm rõ các đặc trưng này sẽ tạo điều kiện để đánh giá đầy đủ, toàn diện và khách quan pháp luật.
1.1.3. Phân loại hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại hoạt động đầu tư của NHTM. Mỗi cách phân loại không chỉ nhằm làm rõ thêm về hoạt động đầu tư của NHTM mà đều có ýnghĩa pháp lí nhất định.Cụthể, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, hoạt động đầu tư do NHTM thực hiện có thể được phân loại theo các tiêu chí như sau:
* Căn cứ thời hạn đầu tư:
Căn cứ vào thời hạn đầu tư là tiêu chí phân loại các khoản đầu tư được các NHTM sử dụng trong báo cáo tài chính nhằm phân định và đánh giá nguồn vốn đầu tư của NHTM và tóm tắt các chính sách kế toán chủ yếu, đồng thời làcơ sở để đặt ra các quy định quản lí nguồn vốn của ngân hàng. Theo tiêu chí này,hoạt động đầu tưcủa NHTM được xác định bao gồm:
(i) Hoạt động đầu tư trung và dài hạn. Bao gồm các hoạt động đầu tư do các ngân hàng thực hiện với thời hạn xác định từ 12 tháng (thời hạn đầu tư từ trên 12 tháng đến 60 tháng được xác định là đầu tư trung hạn và trên 60 tháng là đầu tư dài
hạn). Do tính chất đặc biệt của chủ thể thực hiện hoạt động đầu tư – NHTM, việc xếp loại các khoản mục đầu tư có tính chất trung và dài hạn có ýnghĩa lớn trong quản lí nguồn vốn. Quy định về kế toán tài chính và biện pháp bảo đảm an toàn đặt ra yêu cầu đối với các NHTM nói riêng và TCTD nói chung phải thực hiện dự phòng giảm giá đầu tư đối với các khoản đầu tư dài hạn này. Khoản dự phòng giảm giá đầu tư tài chính được dùng để bù đắp số tổn thất của các khoản đầu tư dài hạn thực tế xảy ra do các nguyên nhân như bên đầu tư bị phá sản, thiên tai,… dẫn đến khoản đầu tưkhông có khả năng thu hồi hoặc thu hồi thấp hơn giá gốc của khoản đầu tư.
Các hoạt động đầu tư trung và dài hạn có thể được phân thành hai loại: – Hoạt động đầu tư thành lập các công ti có liên hệ về vốn (affiliates)
Thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong luật các quốc gia liên quan đến thành lập các công ti là “Affiliates”. “Affiliates “được định nghĩa theo từ điển Cambridge
58
là một tổ chức có mối liên hệ hoặc bị kiểm soát bởi một tổ chức có quy mô lớn hơn. Tại phần I.2 và phần 6, Đạo luật Ngân hàng Canada có định nghĩa “affiliates” là tổchức có mối quan hệ mang tính chất kiểm soát bởi một tổ chức khác hoặc cả haibịkiểm soát bởi cùng một tổ chức hoặc pháp nhân.
Hiện nay, việc thành lập công trực thuộc, công ti liên doanh là hình thức đầu tư phổ biến của các ngân hàng thực hiện. Hình thức đầu tư này đặc biệt có vai tròquan trọng hơn tại các quốc gia theo mô hình ngân hàng đa năng bán phần như Việt Nam, Nhật Bản. Theo mô hình này, các ngân hàng khi muốn thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh vào một số hoạt động tài chính khác như bảo hiểm, chứng khoán bắt buộc phải thành lập các công ti trực thuộc.
Tại Việt Nam, hoạt động thành lập các công ti có mối liên hệ về vốn được chia thành ba trường hợp: thành lập công ti con, công ti liên kết và công ti liên doanh
Theo quan niệm phổ biến, đầu tư vào công ti con là khi nhà đầu tư nắm giữtrên 50% vốn chủ sở hữu hoặc vốn cổ phần biểu quyết và có quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp nhằm thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động của doanh nghiệp đó.
Đầu tư vào công ti liên kết là hoạt động đầu tư mà ngân hàng đầu tư và nắm giữ một tỉ lệ nhất định vốn điều lệ hoặc cổ phần biểu quyết nhất định nhưng không đến mức chi phối. Tại Việt Nam, tỉ lệ này hiện nay được quy định là trên 11% 73.
Cuối cùng, đầu tư vào công ti liên doanh là việc ngân hàng thực hiện góp vốn, thành lập doanh nghiệp trên cơ sở hợp đồng liên doanh giữa ngân hàng và các bên, theo đó ngân hàng và các bên góp vốn sẽ có vai trò đồng sở hữu, kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp được thành lập.
∞ Hoạt động góp vốn, đầu tư dài hạn khác.
Hoạt động góp vốn, đầu tư dài hạn khác của ngân hàng được xácđịnh gồm các khoản đầu tư dài hạn khác bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ không bao gồm các khoản đầu tư vào công ti con, vốn góp vào cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát, đầu tưvào công ti liên kết. Khoản đầu tư này được xác định trong kế toán gồm các khoảnđầu tư chứng khoán vốn (chưa niêm yết) và các khoản góp vốn theohợp đồng và
73 Luật các TCTD số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017, Khoản 29 và khoản 30 Điều 4.
59
không niêm yết trên thị trường 74.
(ii) Hoạt động đầu tư ngắn hạn: bao gồm hoạt động đầu tư vào các chứng
khoán nợhoặc chứng khoán vốn trong thời hạn dưới 01 năm nhằm mục tiêu kinh doanh. Các khoản mục đầu tư này thường là đầu tư thương mại, đầu tư trên thị trường
tiền tệ, thị trường liên ngân hàng, mua tín phiếu kho bạc,… Đầu tư ngắn hạn có ưu điểm là thu hồi vốn nhanh, tốc độ quay vòng vốn lớn,mức độ rủi ronhìn chung thấp hơn so với các khoản đầu tư dài hạn hoặc không xác định thời hạn.
(iii) Hoạt động đầu tư không xác định thời hạn: chủ yếu là các khoản đầu
tư vào các loại giấy tờ có giá, trong đó phân định thành hai dạng: sẵn sàng để bán và đến ngày đáo hạn. Các khoản mục đầu tư này không xác định thời hạn, việc nắm giữcác giấy tờ có giá phụ thuộc vào nhu cầu vốn và kế hoạch kinh doanh của ngân hàng.
* Căn cứ theo phương thức thực hiện hoạt động đầu tư
Xét trong phạm vi nghiên cứu của luận án, hoạt động đầu tư của NHTM nếu xét trên phương thức thực hiện bao gồm các nhóm hoạt động: (i) hoạt động góp vốn, mua cổ phần; (ii) hoạt động đầu tư chứng khoán; (iii) hoạt động uỷ thác đầu tư. Do
tính chất đặc thù của chủ thể thực hiện hoạt động đầu tư – NHTM, mỗi phương thức NHTM thực hiện đầu tư, sử dụng vốn đều có đặc trưng và độ rủi ro khác nhau. Dođó,việc xác định và phân loại cụ thể các phương thức thực hiện hoạt động đầu tưcủa NHTM tạo cơ sở xây dựng cơ chế điều chỉnh phù hợp với mỗi nhóm hoạt động đầu tư, đảm bảo hiệu quả quản lí, giảm thiểu rủi ro hoạt động và hệ thống.
(i) Hoạt động góp vốn, mua cổ phần
Hoạt động góp vốn, mua cổ phần của NHTM là hoạt động đầu tư có tính chất dài hạn, theo đó NHTM thực hiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế. Hệ quả pháp lý của hoạt động góp vốn, mua cổ phần là hình thành các các công ti có liên hệ về vốn (affiliates) với ngân hàng, có thể là công ti con, công ti liên kết hoặc NHTM trở thành cổ đông của tổ chức kinh tế do nắm giữ cổ phần. Đây là nhóm hoạt động chịu sự giới hạn lớn từ nguồn vốn đầu tư, lĩnh vực đầu tư, quan hệ vốn
giữa công ti tiếp nhận vốn và ngân hàng mẹ,…
74 Quyết định số 497/2004/QĐ-NHNN ngày 29 tháng 4 năm 2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vềviệc ban hànhHệthống tài khoản kếtoán cácTổchức tín dụng,được sửa đổi bổsung tại Thông tưsố22/2017/TT-NHNN ngày 29/12/2017; (Xem Quyết định số 05/VBHN-NHNN ngày 17 tháng 1 năm 2018 văn bản hợp nhất về việc ban hành hệ thống tài khoản kế toán của TCTD)
60
(ii) Hoạt động đầu tư chứng khoán
Trước hết, về phạm vi sự tham gia của NHTM vào hoạt động chứng khoán trên thế giới, xét trong quan điểm hoạt động chứng khoán nói chung, sự tham gia của NHTM vào hoạt động này trên thế giới được xác lập qua hai mô hình,cụ thể:
Mô hình ngân hàng đa năng hoàn toàn: Mô hình này không có sự tách bạch giữa hoạt động ngân hàng và chứng khoán. NHTM không những được hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ mà còn tham gia trong lĩnh vực chứng khoán và bảo hiểm. Môhình này được áp dụng ở các nước Bắc Âu, Hà Lan, Thuỵ Sĩ, Áo, tại châu Á có Ấn
Độ, Philippin…
Mô hình đa năng một phần: Pháp luật một số quốc gia như Anh, Úc, Canada hay Nhật Bản và Việt Nam quy định các ngân hàng bắt buộc phải thành lập công ti con- công ti chứng khoán, hoạt động độc lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh chứng khoán. Bên cạnh đó,nhằm tạo điều kiện cho các NHTM đa dạng hoá hoạt động,các NHTM cũng có thể thực hiện một số giao dịch chứng khoán trực tiếp một cách hạn chế.
Về phạm vi hoạt động chứng khoán của ngân hàng, các nghiên cứu hiện nay trên thế giới và pháp luật ngân hàng thường tiếp cận trên phạm vi tương đối rộng. Tại Hoa Kỳ, Đạo luật Glass-Steagall 1933 khi đặt ra các quy định hạn chế hoạt động chứng khoán của ngân hàng cũng đề cập đến các hoạt động chứng khoán ngân hàng tham gia, bao gồm “phát hành, bảo lãnh, mua bán hoặc phân phối cổphiếu, trái phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và các loại chứng khoán khác” 75. Pháp luật ngân hàng Nhật Bản ghi nhận một số hoạt động kinh doanh chứng khoán các ngân hàng được thực hiện tựdoanh, bảo lãnh phát hành76. TácgiảArnold W.Sametx (1981) trong cuốn sách “Hoạt động chứng khoán của ngân hàng thương mại” (Securities Acivities of Commercial Banks)cũng đềcập đến các hoạt động chứng khoán chủ
yếu của NHTM bao gồm phát hành, tự doanh, bảo lãnh, môi giới chứng khoán…Các nghiên cứu và tiếp cận này thường đề cập và liên hệ đến mô hình ngân hàng đầu tưvới hoạt động chứng khoán làm nòng cốt, trong đó, nhiều hoạt động mang tính chất
75 Đạo luật Glass-Steagall 1933 phần 16; Arnold W.Sametz (1981), Securities Activities of Commercial Banks, tr. 3.
76 Luật Ngân hàng Nhật Bản (Banking Act 1981), Điều 10.2.
61
phục vụ khách hàng nhằm thu phí dịch vụ không thể hiện rõ “tính chất đầu tư” của hoạt động.
Trong phạm vi tiếp cận và nghiên cứu của luận án, xét về phương thức thực hiện, nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu và tập trung khai thác hoạt động của mô hình NHTM, hoạt động đầu tư chứng khoán được xem xét chỉ bao gồm hoạt động ngân hàng trực tiếp thực hiện mua, bán chứng khoán nhằm kiếm lời. Xét về sản phẩm đầu tư, trong nội dung trình bày luận án, nội dung pháp luật vềhoạt động đầu tưchứng khoán tập trung vào chứng khoán nợ, bởi lẽ đối với chứng khoán khoán, nội dung pháp lí đã được trình bày tại nội dung về hoạt động góp vốn, mua cổ phần.
Cách tiếp cận này ít nhiều phù hợp với ghi nhận trong báo cáo tài chính của ngân hàng. Trong báo cáo tài chính, các chứng khoán đầu tư của ngân hàng được phân thành chứng khoán kinh doanh (chứng khoán nợ, chứng khoán vốn và chứng khoán kinh doanh khác) và chứng khoán đầu tư (đầu tư sẵn sàng để bán và chứng khoán đầu tư giữ đến ngày đáo hạn).
(iii) Hoạt động uỷ thác đầu tư
Uỷ thác đầu tư được hiểu là việc NHTM giao vốn bằng tiền cho bên thứ ba thực hiện một số hoạt động đầu tư. NHTM chịu mọi rủi ro đối với hoạt động uỷ thác do mình thực hiện.
Với vai trò và tính chất nguồn vốn kinh doanh đặc biệt, NHTM khi thực hiện uỷ thác nguồn vốn cho chủ thể khác chịu sự quản lí chặt chẽ. Tại nhiều quốc gia,đạo luật chuyên ngành điều chỉnh cụ thể đối với hoạt động uỷ thác nói chung và uỷ thácđược thực hiện bởi các ngân hàng. Sự điều chỉnh này là hết sức cần thiết nhằm quản lí nguồn vốn đầu tư hiệu quả, hạn chế các hành vi lợi dụng uỷ thác nhằm tránh các quy định bảo đảm an toàn trong tín dụng đầu tư hoặc trung chuyển vốn thiếu kiểm soát.
Ngoài tiêu chí và cách phân loại như trên, hoạt động đầu tư của NHTM có thểđược phân loại thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp (căn cứ theo quan hệ quản lí). Đầu tư trực tiếp: NHTM thực hiện nắm quyền quản trị kinh doanh,người đầu tư vốn,đồng thời quyết định sử dụng vốn. Đầu tư gián tiếp: là hình thức đầu tư NHTM không trực tiếp tham gia quản lí, điều hành quá trình thực hiện và sử dụng các nguồn lực đầu tư. Phân loại dựa vào quan hệ quản lí có ý nghĩa trong xác định mối quan hệ của
62
ngân hàng với đối tượng tiếp nhận vốn. Xét từ phía cơ quan quản lí, đây là cơ sở xác định cơ chế quản lí nguồn vốn, quản lí hoạt động phù hợp nhằm giảm rủi ro cho hoạt động ngân hàng, đồng thời xác lập các quy định nhằm quản lí hoạt động đầu tư của ngân hàng theo định hướng đề ra.
1.1.4. Vai trò hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại
Thứ nhất, hoạt động đầu tư giúp NHTM có thể đa dạng hoá danh mục đầu tư, góp phần tạo lập và ổn định thu nhập
NHTM với vai trò là một định chế trung gian trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, yêu cầu sử dụng nguồn vốn hiệu quả, linh hoạt là rất quan trọng nhằm đảm bảo hiệu quả. Hoạt động huy động vốn một mặt tạo lập vốn cho ngân hàng,mặt khác đặt ra áp lực về trả lãi và các yêu cầu về đảm bảo an toàn khác trong sử dụng vốn. Trong khiđó,kênh cấp tín dụng của các NHTM dưới tác động của thị trường cạnh tranh, không phải dễ dàng. Việc các NHTM thực hiện góp vốn, mua cổ phần hoặc đầu tưchứng khoán (thông qua mua bán các chứng khoán như trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu hay giấy nợ thương mại trên cả hai phương diện kinh doanh và đầu tư) đã tạo lập thêm một kênh đầu tư cho chính các ngân hàng, góp phần ổn định thu nhập, cân bằng rủi ro tín dụng. Các hoạt động đầu tư tạo cơ hội cho NHTM đưa vốn vào các dự án tiềm năng với lợi nhuận cao bằng cách tận dụng lợi thế của các doanh nghiệp để tiến hành tái cơ cấu tài chính. Ý nghĩa ổn định thu nhập cho ngân hàng thể hiện ở việc hoạt động đầu tư có thể hạn chế những biến động lớn có thể xảy ra đối với thu nhập của ngân hàng trong chu kì kinh doanh ví dụ khi nguồn thu nhập từ cho vay giảm.
Hoạt động mua bán, nắm giữ chứng khoán giúp ngân hàng củng cố bảng cân đối tài sản, làm cho ngân hàng lành mạnh hơn về mặt tài chính bởi hầu hết các chứng khoán trong danh mục đầu tư đều có chất lượng cao. Các chứng khoán đầu tư làm tăng dự trữ thứ cấp, ít rủi ro đồng thời vẫn tạo ra các khoản lợi ích cho ngân hàng.
Hệ thống các công ti con, công ti liên kết của NHTM không chỉ giúp NHTMđa dạng hoá ngành nghề, mở rộng quy mô doanh nghệp, đồng thời giúp NHTM thực hiện một sốhoạt độngnghiệp vụ, làm tăng chuyên môn hoá cho hoạt động ngân hàng, nâng cao chất lượng dịch vụ. Khi Chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tín dụng thì mở rộng phạm vi hoạt động thông qua công ti con, công ti liên kết là một trong những biện pháp khắc phục khó khăn rất hiệu quả nhằm tìm kiếm lợi nhuận.
63
Tại Việt Nam, theo số liệu tổng kết năm 2017, có 35 NHTM77, trong khi đócó tới gần 20 công ti chứng khoán là các công ti con, công ti liên kết của các ngân hàng78, như vậy trung bình 1,5 NHTM có một công ti chứng khoán trực thuộc. Một số ngân hàng lớn, doanh thu từ hoạt động kinh doanh chứng khoán đạt đến 10% tổng tài sản của ngân hàng (xem Phụ lục 2. Số liệu khoản đầu tư chứng khoán và tỉ lệ khoản đầu tư so với tổng tài sản tại một số NHTM tại Việt Nam qua các năm)
Thứ hai, hoạt động đầu tư của NHTM góp phần cân bằng rủi ro tín dụng Mặc dù một trong những đặc trưng trong hoạt động đầu tư của ngân hàng là
tính rủi ro, tuy nhiên các hoạt động đầu tư do ngân hàng thực hiện như mua bán một số loại chứng khoán có độ an toàn cao, hay góp vốn vào các doanh nghiệp có hoạt độngkinh doanh lành mạnh, hiệu quả sẽ đóng vai trò là vật đảm bảo giúp ngân hàng ngăn ngừa thiệt hại, tổn thất gây ra bởi những thay đổi trong lãi suất. Các chứng khoán có rủi ro thấp, đặc biệt tính ổn định như tín phiếu kho bạc, trái phiếu Chính phủ là một khoản dự trữ thứ cấp cho nhu cầu thanh toán, nhu cầu dự phòng và tích trữ của ngân hàng, có thể được ngân hàng mua và giữ lại để cân bằng với rủi ro tín dụng. Ý nghĩa cung cấp dự trữ cho ngân hàng xuất phát từ tính thanh khoản cao của chứng khoán. Chứng khoán có thể dễ chuyển hoá thành nguồn tiền để thoả mãn nhu cầu thanh khoản hiện thời, hoặc có thể được dùng để cầm cố vay vốn bổ sung cho ngân hàng. Sở hữu chứng khoán rủi ro thấp tạo ra tuyến phòng thủ cho ngân hàng nhằm ngăn ngừa những thiệt hại mà có thể là hậu quả của lãi suất thay đổi trên thịtrường. Minh chứng cho nội dung này, nghiên cứu của White (1986)79 tiến hành kiểm tra tỉ lệ phá sản của các ngân hàng trong giai đoạn 1929-1933 tại Hoa Kì, so sánh tỉ
lệnày giữa các ngân hàng có công ti con (thực hiện hoạt động bảo hiểm, chứng khoán,..) với các ngân hàng không có công ti con (chỉ thực hiện hoạt động NHTM). Kết quả cho thấy xác suất phá sản của cá ngân hàng chỉ thực hiện nghiệp vụ NHTM cao gấp 04 lần các ngân hàng nếu thực hiện 2 loại nghiệp vụ trên.
77 Báo cáo thường niên Ngân hàng Nhà nước năm 2017,
https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/rm/apph/bctn?_afrLoop=12519943752388407#%40%3F_afr Loop%3D12519943752388407%26centerWidth%3D80%2525%26leftWidth%3D20%2525%26rightWidth%3D 0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl-state%3D11oxic2xvd_4 , truy cập ngày 01/12/2018.
78 Báo cáo Tổng quan thị trường tài chính năm 2016, Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia Nguồn Uỷ ban chứng khoán nhànước,tr. 41.
79 White, E.N. (1986), Before the Glass Steagall Act: An analysis of Investment Banking Activities of National Banks, Explorations in Economic History 23, tr. 22-55.
64
Ba là, thực hiện hoạt động đầu tư góp phần tăng cường hiệu quả hoạt động ngân hàng
Trong nền kinh tế, ngân hàng là chủ thể có nhiều ưu thế trong kinh doanh do tiềm lực tài chính và khả năng tiếp cận thông tin. Hoạt động đầu tư của NHTM tạo nên lợi thế về liên kết, khả năng về vốn, uy tín lớn, mối quan hệ rộng từ đó hỗtrợ hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Về khả năng tiếp cận thông tin, với chức năng là “thủ quỹ của doanh nghiệp”,thực hiện kiểm soát và giám sát bằng đồng tiền đối với nền kinh tế, NHTM có lợi thế và đặc quyền nhất định về việc thu thập các thông tin về các doanh nghiệp có phát hành chứng khoán qua mối quan hệ lâu năm
rất sâu sát trong quan hệ tín dụng, thanh toán. Về khả năng phân ích, ngân hàng có đội ngũ cán bộ, nhân viên có nghiệp vụ chuyên môn về kinh doanh tiền tệ, từ đó có thể phân tích mọi mặt sản xuất kinh doanh, các nguồn tài trợ và cả xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Đây là yếu tố rất quan trọng quyết định đầu tư, dự án giải ngân vốn, đánh giá thị trường nhằm sử dụng vốn hiệu quả.
Theo nghiên cứu của Nguyễn ChíĐức,Nguyễn Thành Trung (2016)80 trên 32
NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015 cho thấy, mô hình hoạt động ngân hàng đa năng (có tham gia vào hoạt động đầu tư bao gồm đầu tư trực tiếp vào kinh doanh chứng khoán và thành lập công ti con thực hiện hoạt động đầu tư) có tác động đến khả năng sinh lời ROE ( Return ofEquiti: Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủsở hữu) của các NHTM Việt Nam.
Ngoài cácýnghĩa nêu trên, khi các NHTM thực hiện hoạtđộngđầutưcòn tạo lập lợi ích nhất định đối với nền kinh tế như góp phần tái cung ứng vốn cho nền kinh tế, hỗ trợ tập trung nguồn vốn vào một số ngành, lĩnh vực. Cụ thể, thông qua hoạt động đầu tư chứng khoán, nguồn vốn của TCTD được đưa vào thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp và Nhà nước thực hiện các mục tiêu huy động vốn. Bên cạnh đó,lĩnh vực mà ngân hàng quan tâm hoặc được phép đầu tưthường trong lĩnh vực tài chính, do đó góp phần tạo động lực hỗ trợ thị trường, tạo nhiều dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và phát triển thị trường.
80 Nguyễn ChíĐức,Nguyễn Thành Trung (2016), “Tác động của mô hình ngân hàng đa năng đến tỷ suất sinh lời của ngân hàng thương mại”,Tạp chí Tài chính, (kỳ 2).
65
Ngoài các vai trò mang tính chất tích cực kể trên, song như phân tích đặcđiểm hoạt động đầu tại phần ////cũng chỉ rõ những rủi ro từ hoạt động này. Hoạtđộng đầu tưtiềm ẩnxung đột về lợi ích, tạo ra cơ hội cho các ngân hàng thực hiện giao dịch thiếu minh bạch, công bằng và có nguy cơ ảnh hưởng đến dòng tiềncủangân hàng. Tuy nhiên, như nhóm tácgiảThomas G.Fischer, William H.Gram, George G.Kaufman and Larry R.Mote (1984)81 chỉ ra, một số nhà kinh tếkhông phải coi nhẹ mức độ quan trọng của xung đột lợi ích, không coi việc loại bỏxung đột này là mục tiêu chính trong điều tiết. Họ cho rằng xung đột này là phổ biến và khó có thể tránh khỏi. Chính từ quan điểm này, trên thế giới hiện nay tồn tại những
xu hướng điều chỉnh đối với hoạt động đầu tư của NHTM khác nhau…… mô hình
ngân hàng đa năng hạn chế, ngân hàng đa năng hoàn toàn.
1.2. Quan niệm và cấu trúc pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại
1.2.1. Quan niệm về pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thươngmại
Nhà nước quản lí kinh tế, xã hội bằng nhiều hình thức và công cụ khác nhau, trong đó pháp luật là trụ cột của cả hệ thống quản lí, là công cụ hữu hiệu và quan trọng nhất. Dưới góc độ luật học “Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu định hướng cụ thể”82.
Điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động của NHTM nói chung là việc nhà nước sử dụng pháp luật để tác động vào hoạt động ngân hàng và chủ thể kinh doanh ngân hàng với mục đích làm cho hoạt động của các chủ thể này vận hành và phát triển ổn định có lợi cho nền kinh tế – xã hội. Tác giả Elisabeth WentWorth khi đề cập pháp luật ngân hàng tại Australia có đưa ra ý kiến cho câu hỏi “pháp luật ngân hàng làgì?” như sau:“Pháp luật ngân hàng không phải là một lĩnh vực pháp luật riêng biệt như hợp đồng hay dân sự. Pháp luật ngân hàng là tập hợp các nguyên tắc pháp lí, cái tác động vào các giao dịch ngân hàng và mối quan hệ giữa ngân hàng và khách
81 Tr 507
82 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình lí luận Nhà nước và pháp luật “, Nxb. Công An Nhân Dân, tr. 212.
66
hàng” 83. Câu trả lời đã thể hiện sự đa dạng trong xác định nội dung nguồn luật điều chỉnh trong pháp luật ngân hàng. Sự tác động của pháp luật đến các giao dịch ngân hàng, đi từ đặc thù tính chất rủi ro của hoạt động này, phải đảm bảo mục tiêu ổn định nền tài chính, bảo vệ quyền lợi của công chúng và lợi ích quốc gia. Tác giả Ngô Quốc Kỳ (2003) cũng đưa ra định nghĩa như sau “điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động của NHTM là việc Nhà nước sử dụng pháp luật để tác động vào các quan hệ tiền tệngân hàng với mục đích làm cho các quan hệ này phát triển ổn định theo một hướng nhất định có lợi cho nền kinh tế – xã hội nước đó”.
Như vậy có thể nhận định, nội dung cơ bản của việc điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động của NHTM bao gồm tổng thể các mối quan hệ tiền tệ ngân hàng được điều chỉnh bằng pháp luật , đặc biệt là đối tượng và phạm vi điều chỉnh với những chế định,nguyên tắc, quy phạm chứa đựng trong luật và các văn bản dưới luật vàchúng là nguồn luật điều chỉnh các mối quan hệ đó84. Mục tiêu quan trọngcủa sựđiều chỉnh hoạt động ngân hàng luôn được xác định là nhằm ổn định nền kinh tế và bảo vệ quyền lợi các bên liên quan.
Qua nghiên cứu cho thấy, xuất phát từ tính chất của của pháp luật và đặc thù hoạt động ngân hàng, pháp luật và định hướng mô hình hoạt động của NHTM ở mỗi quốc gia sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức hệ thống ngân hàng và phạm vi thực hiện hoạt động của NHTM ở mức độ nhất định. Cụ thể, hiện nay trên thế giới, ngân hàngđang vận hàng dưới nhiều mô hình như chuyên doanh, tổng hợp hay đa năng trên cơsở tách biệt nghiệp vụ ngân hàng cơ bản (core banking business) bao gồm hoạt động huy động vốn, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, với nghiệp vụ hiện đại bao gồm nghiệp vụ đầu tư.
Pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM là một bộ phận của pháp luật ngân hàng nói chung, bởi vậy thể hiện đầy đủ tính chất của pháp luật ngân hàng. Đó là sự điểu chỉnh các quy tắc xử sự thể hiện ý chí của Nhà nước nhằm mục tiêu cụthể. Nội hàm pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM chịu sự ảnh hưởng của cách tiếp cận và xác định phạm vi hoạt động đầu tư do NHTM thực hiện.
83 Elisabeth Wentworth, Essential Banking Law and Practice?, www.fos.org.au/public/download/?id=2793, truy cập ngày 01/12/2018.
84 Ngô Quốc Kỳ, tlđd, tr.36.
67
Theo nghĩa rộng, thực hiện hoạt động đầu tư là việc bỏ chi phí, phí tổn của NHTM tạo lập nên tài sản, giá trị quyền sở hữu nhằm tạo ra lợi nhuận hoặc vốn đầu tư cơ bản. Phạm vi và nội dung pháp luật về hoạt động đầu tư, xét một cách tươngứng, có nội hàm tương đối lớn, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh khi ngân hàng thực hiện hoạt động đầu tư bao gồm hoạt động tín dụng, hoạt động đầu tư phát triển, hoạt động góp vốn, mua cổ phần và hoạt động đầu tư khác.
Trong phạm vi tiếp cận được xem xét tại luận án, hoạt động đầu tư của NHTM chỉ bao gồm các hoạt động góp vốn mua cổ phần, đầu tư chứng khoán và hoạt động uỷthácđầu tư(không bao gồm các nghiệp vụ cấp tín dụng, các hoạt động đầu tưphát triển nhằm tạo lập tàisản cố địnhhay kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vàng). Bởi vậy, nội dung pháp luật về hoạt động đầu tư được xem xét có phạm vi giới hạn nhất định tương ứng với nội dung hoạt động đầu tư được xem xét. Theo đó, pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM là hệ thống các quy tắc xử sự, do Nhànước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quátrình NHTM thực hiện, sử dụng nguồn vốn, tài sản thực hiện các hoạt động đầu tưnhằm mục tiêu lợi nhuận ngoài các hoạt động ngân hàng bao gồm hoạt động góp vốn, mua cổ phần, hoạt động đầu tư chứng và hoạt động uỷ thác đầu tư.
Pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM dù dưới cách tiếp cận nào,đều có điểm chung là nguồn điều chỉnh phong phú. Cùng với việc tiếp cận nguồn hình thức của pháp luật, tức tất cả các yếu tố chứa đựng hoặc cung cấp căn cứ pháp lí để các chủ thể thực hiện hành vi thực tế. Nói cách khác, nguồn của pháp luật là tất cả các yếu tố chứa đựng hoặc cung cấp căn cứ pháp lí cho hoạt động của các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền cũng như các chủ thể khác trong xã hội 85. Nguồn của pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM bao gồm không chỉ các quy phạm pháp luật ngân hàng, chứng khoán mà cả những quy phạm pháp luật khác như doanh nghiệp, thương mại, đầu tư và các quy định, tập quán quốc tế. Đối với các quốc gia theo hệ thống pháp luật chung (common law), nguồn luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM còn nằm trong các tiền lệ pháp (precendent). Sự phong phú trong nguồn của pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM xuất phát bởi đặc
85 Giáo trình lí luận chung về Nhà nước và pháp luật (2018), Nxb Tư pháp, tr.284-285.
68
thù là tính rủi ro cao và tính liên kết quốc tế trong hoạt động của ngân hàng, đòi hỏi sự điều chỉnh chặt chẽ và có tính đặc thù cao.
Vídụtại Đức,điều chỉnh hoạt độngđầu tư ngân hàng và các tổchức kinh doanh ngân hàng là một hệcác quy phạm điều chỉnh chung cho hoạt động của tổchức thương mại và các quy phạm pháp luật điều chỉnh riêng đối với cáctổchức ngân hàng. Cụ thể, Đức ban hành Luật Công ti cổ phần, Luật chống cạnh tranh năm 1980, Luật Chứng khoán 1986, Luật về Ngân hàng Liên bang Đức năm 1957, Luật
Tín dụng năm 1976 (bản sửa năm 1985), Luật về Bảo đảm ngân hàng năm 1986,… Sự giám sát của cơ quan quản lí Nhà nươc đối với hoạt động đầu tư của các NHTM
tại Đức rất chặt chẽ, được xác lập dựa trên quy định cụ thể, chi tiết trong đạo luật
ngân hàng và các đạo luật liên quan như doanh nghiệp, cạnh tranh, chứng khoán…
Tại Việt Nam, không nằm ngoài đặc tính chung này, nguồn của pháp luật vềhoạt động đầu tư của NHTM chủ yếu nằm trong các quy phạm pháp luật ngân hàng, đồng thời trong các quy phạm pháp luật dân sự, quy phạm pháp luật chứng khoán, quy phạm pháp luật về cạnh tranh, quy phạm pháp luật thương mại và đầu tư có liên quan đến hoạt động đầu tư và các quy định quốc tế.
1.2.1. Cấu trúc pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

