Hoàn thiện hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát Triển Việt Nam
Trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển cùng với xu hướng khoa học công nghệ được ứng dụng vào mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội thì thói quen thanh toán bằng tiền mặt dường như không còn phù hợp với hoàn cảnh. Điều này tất yếu đòi hỏi sự ra đời một hình thức thanh toán mới, mang lại tự tiện lợi và an toàn cho tất cả các chủ thể tham gia. Đó chính là hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.
Trong các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán tiện lợi và ưu việt, thể hiện sự tiêu dùng văn minh đồng thời mang lại nhiều lợi ích cho các đối tượng tham gia, giúp nền kinh tế hội nhập và phát triển.
Đối với các Ngân hàng thương mại, việc phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ gắn liền với việc phát triển thương hiệu và tăng cường khả năng cạnh tranh. Thẻ ngân hàng là sản phẩm nòng cốt trong hoạt động bán lẻ, có ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh của NHTM. Kinh doanh dịch vụ thẻ đóng góp đáng kể vào thu nhập cho ngân hàng, đồng thời góp phần giảm rủi ro do hoạt động cho vay mang lại. Chính vì vậy, việc tập trung hoàn thiện và phát triển kinh doanh dịch vụ dịch vụ thẻ mang lại diện mạo mới cho mỗi Ngân hàng, là định hướng phát triển tất yếu khách quan và hết sức cần thiết. Hơn nữa, thẻ củng là xu thế chung của thời đại Công nghệ ngân hàng, nếu không NHTM không theo kịp xu thì thì tự nhiên sẽ tụt hậu, mất dần thì phần trong hoạt động kinh doanh dịch vụ nói chung của NH.
Đối với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình, với lợi thế là địa phương có sức hút du lịch mạnh mẽ, nguồn nhu cầu thanh toán vô cùng lớn trong đời sống hằng ngày. Đây chính là cơ hội lớn để chi nhánh Quảng Bình triển khai các chiến lược kinh doanh dịch vụ thẻ một cách có hiệu quả, đảm bảo phấn đấu đạt mục tiêu đề ra là: “Dẫn dần đầu về thị phần dịch vụ thẻ trong tỉnh”. Tuy nhiên, cơ hội lớn thách thức cũng lớn, BIDV Quảng Bình đã và đang có những khó khăn trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các NHTM, cuộc chạy đua đầu tư công nghệ, ra mắt các sản phẩm thẻ mới tăng cường tính năng bảo mật phục vụ khách hàng, cuộc chạy đua miễn giảm phí, tranh giành khách hàng trong hệ thống NHTM.
Mặt khác, nền kinh tế toàn cầu trong đó có Việt Nam đã và đang chịu ảnh hưởng nặng nề của Đại dịch Covid – 19, dự báo sẽ còn tiếp diễn nhiều năm nữa, nền kinh tế trở nên đình trệ, hoạt động của ngân hàng cũng dần trở nên khó khăn hơn đối với các sản phẩm dịch vụ truyền thống, song bên cạnh đó, cơ hội cũng mở ra đối với NHTM trong việc phát triển dịch vụ thẻ, là một trong những phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt đang trở nên quan trọng nhất hiện nay, về khách quan thẻ là phương tiện giao dịch hạn chế tiếp xúc thông qua những tiện ích giao dịch trực tuyến, tiền mặt không được sử dụng do đó hạn chế lây nhiễm chéo của dịch bệnh.
Chính vì điều này đã và đang đặt ra vấn đề cấp thiết là BIDV Quảng Bình phải làm gì để vừa tận dụng cơ hội phát triển khách hàng, đảm bảo lợi ích khách hàng, gia tăng lợi nhuận và nâng cao thị phần và nắm vị thế dẫn đầu trong toàn tỉnh?
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “ Hoàn thiện hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình” để làm đề tài nghiên cứu của mình. Qua việc thực hiện đề tài, tác giả mong muốn nêu lên thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ tại BIDV Quảng Bình, đồng thời chỉ ra được những hạn chế, từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động kinh doanh thẻ trong thời gian tới.
Mục tiêu chung:
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình để từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận về hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng thương mại
- Đánh giá các tiêu chí trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại NHTM.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại NHTM
- Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình
- Rút ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình.
- Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra các khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình trong thời gian tới.
Câu hỏi nghiên cứu:
Với mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, nội dung nghiên cứu phải trả lời được những câu hỏi sau đây:
- Hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại bao gồm những vấn đề gì?
- Tiêu chí đánh giá hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của NHTM bao gồm những tiêu chí nào ?
- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của NHTM?
- Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình diễn ra như thế nào?
- Những kết quả đạt được và hạn chế của chi nhánh trong hoạt động này, nguyên nhân của những hạn chế?
- Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình và các chủ thể liên quan cần làm gì để hoàn thiện hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại chi nhánh?
Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình.
- Đối tượng khảo sát là: Các khách hàng cá nhân, đại diện khách hàng doanh nghiệp đã và đang sử dụng thẻ, cán bộ ngân hàng, các cán bộ là lãnh đạo ngân hàng, cán bộ chuyên trách lĩnh vực kinh doanh thẻ.

Phạm vi nghiên cứu luận văn:
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu những vấn đề về dịch vụ thẻ, phân tích tình hình kinh doanh dịch vụ thẻ trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019 tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình.
- Về không gian: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình.
- Về thời gian: Luận văn thu thập số liệu và dữ liệu nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2017 đến năm 2019.
Phương pháp thu thập số liệu và chọn mẫu
- Thu thập thông tin thứ cấp: Số liệu thứ cấp là số liệu được thu thập từ các nguồn có sẵn, là các số liệu đã qua xử lý, tổng hợp. Bao gồm: các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, thực trạng hoạt động kinh doanh của từng đơn vị, từ các nguồn sách, báo, tạp chí chuyên ngành, các công trình khoa học, báo cáo thực tế đã công bố chính thức.
- Thu thập thông tin sơ cấp: thông tin sơ cấp là các số liệu được thu thập trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu thông qua phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi. Tác giả thực hiện phỏng vấn khách hàng và các cán bộ ngân hàng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (gồm Huyện Quảng Ninh, huyện Bố Trạch, thành phố Đồng Hới). Lập bảng câu hỏi, hiệu chỉnh bảng câu hỏi dựa trên ý kiến của đối tượng điều tra bằng cách phỏng vấn và tham khảo thêm ý kiến của một số lãnh đạo ngân hàng. Sau đó tiến hành phỏng vấn khoảng 10 đối tượng để kiểm tra mức độ rõ ràng của bảng câu hỏi để hiệu chỉnh và lập bảng câu hỏi chính thức lần cuối.
- Tác giả sử dụng kết quả khảo sát thường quy của chi nhánh về sự hài lòng trong sử dụng sản phẩm dịch vụ đối với 100 khách hàng của chi nhánh. Qua quá trình thu thập thông tin được tiến hành, sau khi sàng lọc các bảng hỏi không phù hợp, nghiên cứu tiến hành nhập liệu vào phần mềm và phân tích dữ liệu khảo sát để kết luận các vấn đề liên quan đến đề tài..
Phương pháp tham vấn:
Được thực hiện để tham vấn ý kiến nhận xét, đánh giá của các lãnh đạo ngân hàng và lãnh đạo doanh nghiệp về thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ. Kết quả thu thập ý kiến sẽ được tổng hợp và làm căn cứ hình thành các nhận xét, luận giải của luận văn về các nội dung nghiên cứu. Phương pháp chuyên gia được thực hiện qua phỏng vấn trực tiếp hoặc gián tiếp các đối tượng trên.
Phương pháp tổng hợp
Sử dụng các phương pháp quy nạp, suy luận logic để kết nối các kết quả nghiên cứu bộ phận đã thực hiện thành báo cáo tổng hợp luận văn có tính logic, kết nối chặt chẽ.
Thông tin bảng hỏi thu thập sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS. Thang đo sau khi được đánh giá bằng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA.
Phương pháp phân tích
Sau khi đã thu thập được những số liệu, tài liệu thứ cấp và sơ cấp dựa vào khảo cứu tài liệu và điều tra, khảo sát thực tế, tác giả đã tiến hành xử lý số liệu bằng các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê mô tả: Diễn giải các thông tin, số liệu để hình thành các kết quả theo các nội dung cần nghiên cứu và kiểm chứng những giả thiết đã đề ra và giải quyết các vấn đề liên quan đến mục tiêu và đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh: Tác giả sử dụng phương pháp này để phân tích so sánh hoạt động giữa các NHTM trong tỉnh theo các chỉ tiêu đã xác định ở cơ sở lý luận, từ đó đưa ra các đánh giá về tình hình hoạt động của các NHTM và hiệu quả hoạt động dịch vụ nói chung và hoạt động dịch vụ thẻ nói riêng trên địa bàn nghiên cứu.
Phương pháp so sánh được thực hiện qua 3 cách, đó là:
+ So sánh tuyệt đối: Được thực hiện qua so sánh các số tuyệt đối về cùng một chỉ tiêu như quy mô, số lượng, giá trị, …
+ So sánh tương đối: Được thực hiện bằng so sánh các tỷ lệ % các chỉ tiêu, hoặc so sánh về tốc độ tăng trưởng,…
+ So sánh bình quân: Được thực hiện để so sánh giữa các chỉ tiêu nghiên cứu, giữa các năm nghiên cứu. So sánh bình quân cho phép đánh giá được tình hình chung, sự biến động chung của các chỉ tiêu trong thời gian nghiên cứu Nội dung nghiên cứu và tiến độ thực hiện.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo, các từ viết tắt, lời cam đoan, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại NHTM
Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình.
Chương 3: Khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Khái niệm
Năm 1946, chiếc thẻ ngân hàng đầu tiên xuất hiện trong sáng chế của John Biggins (New York, 1946). Với chiếc thẻ này, người mua hàng sẽ mua sắm, sau đó biên lai sẽ được chuyển đến ngân hàng nơi phát hành thẻ, và ngân hàng sẽ thanh toán tiền cho người bán, người mua hàng sẽ thanh toán cho ngân hàng.
Tại Việt Nam, năm 1993 Vietcombank là ngân hàng đầu tiên cho ra đời sản phẩm thẻ ghi nợ đầu tiên, và từ đó trở đi các NHTM đua nhau ch ra đời các sản phẩm thẻ của mình và được nhiều khách hàng sử dụng.
Theo NHNN quy định, Thẻ ngân hàng (thường được gọi tắt là “thẻ”): Là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận. Trong đó, các tổ chức phát hành thẻ hiện nay được hiểu là các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam và một số công ty tài chính.
Đặc điểm
Thẻ ngân hàng có đặc điểm thiết kế như sau:
- Là một miếng nhựa (plastic) có kích thước tiêu chuẩn quy định là 8,5×5,5 (cm)
- Có một băng từ ở mặt sau lưu trữ thông tin về chủ thẻ, và có chíp điện tử để lưu trữ các thông tin, dữ liệu khác.
- Trên thẻ có tên/logo của Tổ chức phát hành, logo của tổ chức thẻ quốc tế/ tổ chức chuyển mạch thẻ trong nước, tên chủ thẻ, ngày hiệu lực của thẻ, số thẻ. Sau khi nhận thẻ, chủ thẻ cần lưu ý ký chữ ký của mình vào dải trống được thiết kế trên mặt sau của tấm thẻ.
Theo đặc tính kỹ thuật
- Thẻ khắc chữ nổi: là loại thẻ sơ khai ban đầu, các thông tin cơ bản được khắc nổi trên bề mặt thẻ.
- Thẻ băng từ: được sản xuất dựa trên kỹ thuật thư tín với 2 băng từ chứa thông tin ở mặt sau của thẻ, được dùng phổ biến trong vòng 20 năm nay, tuy nhiên tồn tại một số nhược điểm: khả năng bị lợi dụng cao, do thông tin ghi trên thẻ không được mã hóa, có thể đọc được dễ dàng, thẻ chỉ mang một lượng thông tin hạn chế không áp dụng được kỹ thuật mã hóa an toàn nên có thể bị ăn cắp thông tin bằng các thiết bị nối với máy tính.
- Thẻ thông minh: có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của “chíp” điện tử là khác nhau. Thẻ thông minh khắc phục được nhiều nhược điểm của thẻ từ, đảm bảo tính an toàn cao và có thể sử dụng cho các mục đích khác nhau.
Theo nguồn tài chính đảm bảo cho việc sử dụng thẻ
- Thẻ ghi nợ (Debit card): là loại thẻ được liên kết với tài khoản tiền gửi của chủ thẻ. Khách hàng được chi tiêu trong phạm vi số tiền có trong tài khoản.
Chiếc thẻ loại này đầu tiên được biết đến là thẻ chuyên dùng để rút tiền mặt, sau đó, các ngân hàng đã phát triển chiếc thẻ ghi nợ với thêm nhiều tính năng đa dạng hơn như có thể sử dụng đặt mua vé máy bay, mua hàng hóa trên các ứng dụng thương mại điện tử… Với chiếc thẻ ghi nợ này, chủ thẻ có thể chủ động nắm bắt việc chi tiêu của mình trong giới hạn số tiền có trong thẻ.
- Thẻ tín dụng (Credit card): Thẻ tín dụng là một hình thức thay thế cho việc thanh toán trực tiếp. Hình thức thanh toán này được thực hiện dựa trên uy tín. Chủ thẻ không cần phải trả tiền mặt ngay khi mua hàng. Với ưu điểm là “chi tiêu trước, trả tiền sau”, thẻ tín dụng có thể giúp cho chủ thẻ thực hiện các GD thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các ĐVCNT hay trên các trang mạng thương mại điện tử.
Thẻ tín dụng cho phép khách hàng thanh toán dần số tiền đã chi tiêu chứ không bắt buộc thanh toán 1 lần toàn bộ số dư nợ. Số tiền thanh toán phải đảm bảo đủ mức tối thiểu theo NH yêu cầu, và thanh toán trước ngày đến hạn trên sao kê.
- Thẻ trả trước (prepaid card): là thẻ cho phép chủ thẻ chi tiêu trong phạm vi số tiền đã được nộp vào thẻ tương ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trước cho TCPHT. Như vậy, việc sở hữu một chiếc thẻ trả trước giúp khách hàng có thể nộp tiền trước vào thẻ qua ngân hàng, sau đó, chi tiêu trên số tiền đã nộp.
Hiện nay, các loại thẻ trả trước được dùng để thanh toán các khoản chi mua dịch vụ giải trí, xăng, dầu, dịch vụ giải trí, thanh toán trên các ứng dụng thương mại điện tử, dịch vụ giao thông – vận tải…
Theo phạm vi lãnh thổ
- Thẻ nội địa: được sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ và sử dụng các dịch vụ khác trong nước. Vì vậy, loại tiền được sử dụng đối với loại thẻ này là đồng tiền của quốc gia nơi phát hành ra loại thẻ này.
- Thẻ quốc tế: được sử dụng để chi tiêu không khỉ ở trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia mà còn sử dụng trên toàn thế giới. Thẻ quốc tế phát huy tính tiện lợi và hữu ích khi đi KH có nhu cầu chi tiêu khi đi du lịch, công tác, chữa bệnh, hoặc là đi du học hay mua sắm ở nước ngoài.
Dựa trên phạm vi lãnh thổ, thẻ được chia thành thẻ nội địa và thẻ quốc tế, tuy nhiên, xét về tính năng thì thẻ nội địa hay thẻ quốc tế đều có thể là thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng hoặc thẻ trả trước
Theo chủ thể phát hành thẻ
- Thẻ do Ngân hàng phát hành: là loại thẻ do NH phát hành để cho khách hàng có thể sử dụng tài khoản của mình tại NH hoặc sử dụng một hạn mức do Ngân hàng cấp tín dụng. Đây là loại thẻ phổ biến nhất hiện nay, có thể được sử dụng trên khắp thế giới.
- Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ du lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc các công ty xăng dầu lớn, các cửa hiệu lớn phát hành, như Diner’s Club, Amex…
- Thẻ liên kết: là loại thẻ ra đời dựa trên sự kết hợp giữa ngân hàng với bên thứ ba. Trên loại thẻ này, thường chứa đựng các thông tin của bên thứ ba như nhãn hiệu, logo…. Loại thẻ này sẽ bao gồm đặc điểm của loại thẻ do NH phát hành, đồng thời, nó bao gồm thêm các tính năng đi kèm do bên thứ ba cung cấp.
Theo đối tượng sử dụng
- Thẻ cá nhân: là thẻ do một cá nhân yêu cầu phát hành và sẽ chịu trách nhiệm về việc sử dụng đối với NHPH. Thẻ cá nhân được phát hành theo mục đích của KH, thường được phát hành thẻ chính và thẻ phụ. Thẻ phụ là thẻ do chủ thẻ chính yêu cầu phát hành, thường có hạn mức giao dịch thấp hơn hoặc bằng thẻ chính.
- Thẻ công ty: là loại thẻ do pháp nhân là công ty yêu cầu phát hành. Thông thường, thẻ chính của công ty không phải là thẻ vật lý, mà thẻ phụ phát hành cho các cá nhân sử dụng mới có cấu tạo vật lý để thuận tiện cho quá trình sử dụng. Các khoản chi tiêu phát sinh sẽ do công ty thanh toán cho ngân hàng.
Dịch vụ thẻ ngân hàng là toàn bộ hay tập hợp những dịch vụ do NHTM cung cấp cho phép KH của NHTM có thể sử dụng thẻ để thay thế cho các phương tiện thanh toán và thỏa mãn những nhu cầu dịch vụ tài chính khác.Về bản chất, dịch vụ thẻ là vô hình và không đem lại một sự sở hữu.
Kinh doanh dịch vụ thẻ là quá trình mua bán nhằm thu lại lợi nhuận từ việc cung ứng dịch vụ thẻ từ phía ngân hàng đối với KH sử dụng thẻ. Phân tích HĐKD dịch vụ thẻ là phân tích quá trình mở rộng HĐKD dịch vụ thẻ nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu của KH, trên cơ sở sử dụng tối đa năng lực của đơn vị mà vẫn kiểm soát được rủi ro và đảm bảo gia tăng lợi nhận.
Dịch vụ thẻ do NH cung cấp bao gồm nhiều nội dung khác nhau với mục đích cung cấp cho KH nhiều tiện ích đa dạng phù hợp với nhu cầu khách hàng. Về cơ bản, dịch vụ thẻ của NHTM đều có những dịch vụ sau:
- Gửi tiền
- Chuyển tiền
- Thanh toán
- Rút tiền
- Truy vấn thông tin
- Nhận lương điện tử
- Cho vay qua thẻ
Ngoài ra, ngân hàng còn có thêm các dịch vụ tùy vào chiến lược phát triển dịch vụ thẻ của từng ngân hàng và nhu cầu của khách hàng (kiểm tra và xác nhận số dư, in sao kê…); hay cung cấp những tiện ích khác qua mạng điện thoại di động giúp khách hàng tiết kiệm thời gian hơn
Đối với chủ thẻ
Khách hàng sử dụng thẻ nhận được sự thuận tiện và cảm thấy an toàn khi sử dụng thẻ. So với các phương tiện thanh toán khác, thẻ ngân hàng được sản xuất theo công nghệ mới, hiện đại, tích hợp đầy đủ các yếu tố bảo mật, hạn chế thẻ giả mạo. Ngoài ra, mỗi thẻ sẽ được cấp số PIN riêng được đặt theo chủ thẻ, các thông tin trên thẻ đều được mã hóa sao cho không để việc bị lộ hoặc đánh cắp thông tin xảy ra.
Trong trường hợp mất thẻ hoặc mã số PIN bị lộ, chủ thẻ cần liên hệ với ngân hàng nơi phát hành thẻ để có biện pháp xử lý phù hợp như khóa thẻ, đổi lại số PIN mới…. Như vậy, tài khoản của chủ thẻ sẽ được bảo đảm an toàn cho tới khi nhận được yêu cầu kích hoạt lại từ chính chủ thẻ.
Đối với ngân hàng phát hành
Ngân hàng phát hành khi tham gia vào thanh toán các dịch vụ thẻ sẽ có rất nhiều lợi ích, đó là:
- Ngân hàng phát hành sẽ có một nguồn tiền gửi không kỳ hạn với chi phí lãi là rất thấp.
- Với các dịch vụ thẻ mà ngân hàng cung cấp, ngân hàng sẽ thu được những khoản phí trả cho việc sử dụng dịch vụ của KH góp phần gia tăng lợi nhuận.
- Với sự tích hợp càng nhiều tiện ích, ngân hàng sẽ duy trì được nền KH cũ và phát triển thêm được nhiều KH mới. Điều này giúp cho ngân hàng gia tăng vị thế của mình trên thị đường cạnh trang đầy khốc liệt.
- Ngoài ra, việc tập trung phát triển các tiện ích liên quan đến dịch vụ thẻ buộc NH phải chú trọng vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ liên quan đến dịch vụ thẻ cũng như đầu tư thêm và hệ thống trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở vật chất để có thể đưa ra các điều kiện tốt nhất trong quá trình thanh toán phục vụ cho nhu cầu của KH.
Đối với ngân hàng thanh toán
Các hợp đồng kinh doanh dịch vụ thẻ mang đến nguồn thu nhập cho các NH đóng vai trò là NH thanh toán thông qua việc thu các khoản phí sử dụng thẻ của KH như phí rút tiền, phí chuyển khoản…; các khoản phí thu từ các Đơn vị chấp nhận thẻ. Các ĐVCNT muốn gia nhập vào mạng lưới ĐVCNT của ngân hàng phải mở tài khoản tại NH đó, như vậy, NH sẽ phát triển được thêm KH mới, bán chéo được các sản phẩm, dịch vụ khác có liên quan cho các đối tượng KH mới này.
Đối với đơn vị chấp nhận thẻ
ĐVCNT có thể tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, thu hút được nhiều KH đến mua sắm khi chấp nhận thanh toán thẻ NH. Trong thời buổi việc thanh toán bằng tiền mặt dần mất đi ưu thế, thì việc tham gia vào mạng lưới ĐVCNT của một ngân hàng sẽ làm gia tăng sức cạnh tranh của đơn vị kinh doanh đó.
Ngoài ra, việc chấp nhận thanh toán các loại thẻ ngân hàng sẽ mang lại sự an toàn, hiệu quả cho ĐVCNT bởi vì tiền thanh toán sẽ được chuyển vào tài khoản của đơn vị mở tại ngân hàng. Các chi phí như kiểm kê, vận chuyển, bảo quản tiền sẽ được cắt giảm. Đồng thời tiết kiệm được tối đa thời gian liên quan đến công tác quản lý tiền mặt tại đơn vị.
Đối với nền kinh tế
Trong nền kinh tế hiện tại, kinh doanh dịch vụ thẻ của ngân hàng là một hoạt động quan trọng giúp đưa vốn vào nền kinh tế. Khi số lượng giao dịch qua ngân hàng tăng lên, chứng tỏ một lượng lớn nguồn vốn đã được bơm vào nền kinh tế, làm tăng hiệu quả sử dụng đồng vốn, giúp cho nền kinh tế phát triển tốt hơn. Bằng việc tạo ra môi trường thanh toán văn minh, hiện đại, việc sử dụng các tiện ích của dịch vụ thẻ làm giảm các loại chi phí liên quan đến việc sử dụng thanh toán bằng tiền mặt như chi phí kiểm đếm, chi phí vận chuyển, bảo quản tiền mặt…. Ngoài ra, nó còn làm giảm các nguy cơ có thể làm ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế như tiền giả, tiền bị hư hỏng do cháy nổ….
Ở khía cạnh khác vĩ mô hơn, thì thanh toán qua các dịch vụ thẻ sẽ giúp Nhà nước quản lý tốt hơn các nguồn thu nhập, kiểm soát được việc trốn các loại thuế như thuế thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp…
Ngoài ra thanh toán thẻ giúp tạo ra một môi trường sống văn minh hơn, hiện đại hơn, phục vụ tối đa nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân, tạo tiền đề cho việc hội nhập ra thế giới, bắt kịp xu hướng của các quốc gia phát triển.
Trong quá trình vận hành hoạt động của ngân hàng, việc nhận diện, đánh giá và kiểm soát rủi ro đóng vai trò quan trọng nhằm tối đa hóa việc khai thác các cơ hội. Kiểm soát rủi ro phải đảm bảo được mục tiêu tối thiểu hóa chi phí quản lý rủi ro và tối đa hóa khả năng giảm thiểu tác động bất lợi của rủi ro. Điều này góp phần đạt được các mục tiêu kinh doanh được đề ra của NHTM.
Rủi ro tác nghiệp
Theo Hiệp ước Basel II: “Rủi ro tác nghiệp là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngân hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng”[10].
RRTN có thể do 4 nguyên nhân chính: Con người – công nghệ – quy trình – các yếu tố khách quan khác. Như vậy, RRTN tiềm ẩn trong hầu hết các hoạt động của ngân hàng, nhưng trên thực tế, chủ yếu là xuất phát do con người, những người làm công việc tác nghiệp trực tiếp.
Việc các nhân viên ngân hàng vi phạm dẫn đến RRTN có thể được lý giải bởi nhiều nguyên do khác nhau. Có thể là do đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, họ cố tình vi phạm, gian dối để trục lợi cho cá nhân hoặc người thân.
Các RRTN do nhân viên ngân hàng phổ biến thường gặp như sau:
- Thực hiện các nghiệp vụ, nhiệm vụ không được uỷ quyền hoặc phê duyệt vượt quá thẩm quyền cho phép.
- Không tuân thủ theo quy định, quy trình nghiệp vụ của NHTM, NHNN và các văn bản pháp luật hiện hành.
- Không tuân thủ các quy định, quy trình của hệ thống hỗ trợ, hệ thống thanh toán, không hỗ trợ kịp thời hoặc hỗ trợ không hiệu quả, có hành động gây khó khăn cho bộ phận nghiệp vụ.
- Không chấp hành nội quy cơ quan, Hợp đồng lao động và các văn bản pháp luật đối với người lao động tại nơi làm việc như: An toàn lao động, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng…
- Có hành vi lừa đảo và/hoặc hành động phạm tội, cấu kết với đối tượng bên ngoài gây thiệt hại cho ngân hàng.[10]
Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là các thiệt hại do việc khách hàng vay không thanh toán đầy đủ tiền gốc và tiền lãi của khoản vay.
Tín dụng là hoạt động chủ yếu mang lại lợi nhuận lớn nhất của một NHTM, vì vậy, việc xác định RRTD là một việc làm vô cùng quan trọng, đòi hỏi NH phải phân tích và kiểm soát RRTD một cách hiệu quả. Bởi nếu RRTD xảy ra thì tổn thất vô vùng lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả kinh doanh của NHTM, làm giảm lợi nhuận của NH một cách đáng kể.
Trong dịch vụ thẻ, RRTD thường xuất hiện trong trường hợp chủ thẻ mất khả năng thanh toán hoặc không thanh toán đầy đủ các khoản mà họ đã chi tiêu bằng thẻ tín dụng. Khi ngân hàng chấp nhận phát hành thẻ cho KH đồng nghĩa với việc NH cam kết sẽ cho vay tiền. Trường hợp chủ thẻ không có khả năng thanh toán hoặc cố ý không thanh toán thì NH sẽ bị mất vốn.
RRTD xảy ở thẻ tín dụng và cho vay thấu chi qua thẻ; khi chủ thẻ đã sử dụng và gặp phải tai nạn bất ngờ, hoặc chủ thẻ bị phá sản, mất việc làm, không có thu nhập để hoàn trả nợ cho ngân hàng. Mặt khác, khoản vay tín chấp nên áp lực trách nhiệm của khách hàng cũng giảm, chây ỳ, cố tình không trả được nợ.
Rủi ro do giả mạo
Rủi ro gian lận, giả mạo có thể được hình thành trong tất cả các mặt kinh doanh thẻ của NHTM, từ hoạt động phát hành đến hoạt động thanh toán thẻ.
Rủi ro giả mạo có thể bao gồm nhiều hình thức khác nhau như: đơn xin phát hành thẻ giả mạo, thẻ ngân hàng giả, sao chép băng từ, thông tin trên thẻ, giả mạo liên quan đến ĐVCNT như nhân viên ĐVCNT tạo hóa đơn giả…. Trong số đó, thẻ giả là rủi ro nguy hiểm nhất mà hầu hết các chủ thể đều quan tâm. Để làm giả được thẻ ngân hàng đòi hỏi các đối tượng phạm tội phải hết sức tinh vi và đầu tư công sức. Từ việc đánh cắp các thông tin trên thẻ, các đối tượng sẽ dùng đó làm căn cứ để giả mạo, nhằm mục đích xâm nhập vào TK của chủ thẻ và tiến hành chiếm đoạt tiền trong TK. Một khi rủi ro giả mạo xảy ra thì NH phát hành thẻ ngoài việc gánh tổn thất sẽ phải chịu trách nhiệm đối với chủ thẻ. Như vậy, có thể thấy rủi ro giả mạo rất khó để kiểm soát được, NH nên tập trung vào việc hạn chế tối đa rủi ro giả mạo xảy ra cũng như có phương án phản ứng cụ thể kịp thời khi rủi ro giả mạo xảy ra.
Rủi ro về công nghệ
Rủi ro về công nghệ phát sinh khi có các sự cố liên quan đến xử lý dữ liệu hoặc kết nối, bảo mật hệ thống cơ sở dữ liệu và an ninh trong hệ thống quản lý thẻ. Khi sự cố xảy ra thì sẽ ảnh hưởng đến quá trình giao dịch của rất nhiều khách hàng, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng. Những tổn thất do rủi ro về công nghệ sinh ra thường khó có thể kiểm soát và có quy mô rất lớn. Vì vậy, khi tham gia vào HĐKD dịch vụ thẻ, các chủ thể phải nỗ lực để đảm bảo cho hệ thống được hoạt động một cách liên tục và chuẩn xác.
Nguyên nhân chính sinh ra các rủi ro về công nghệ thường do sự lạc hậu của trình độ công nghệ so với tốc độ phát triển của dịch vụ thẻ. Ngoài ra, còn có các nguyên nhân như: vị trí địa lý (vùng sâu, vùng xa…), điện yếu/mất điện….
Nghiệp vụ phát hành thẻ của ngân hàng bao gồm việc quản lý và triển khai toàn bộ quá trình phát hành thẻ, sử dụng thẻ và thu nợ khách hàng. Mỗi một phần đều liên quan rất chặt chẽ đến việc phục vụ khách hàng và quản lý rủi ro cho ngân hàng. Các tổ chức tài chính, ngân hàng phát hành thẻ phải xây dựng các quy định về việc phát hành, sử dụng thẻ và thu nợ.
- Đối tượng phát hành thẻ
+ Các Tổ chức/các nhân có nguyện vọng và đáp ứng các điều kiện sử dụng thẻ theo quy định điều khoản dịch vụ của ngân hàng.
+ Các Tổ chức, cá nhân xin phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dưới sự uỷ quyền và/hoặc bảo lãnh của các tổ chức, công ty như các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế.
- Đối tượng xin phát hành thẻ:
+ Tổ chức, công ty: người sử dụng thẻ phải là đại diện hợp pháp của tổ chức, công ty đó.
+ Cá nhân: Có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự.
- Năng lực tài chính:
Các chủ thẻ xin cấp và sử dụng thẻ tín dụng trên cơ sở tín chấp phải có đủ năng lực tài chính để trả nợ khoản tín dụng đã sử dụng cùng lãi và phí phát sinh.
Chủ thẻ có thế chấp, cầm cố hoặc ký quỹ thì không phải đáp ứng các yêu cầu trên.
Đối với thẻ ghi nợ, chủ thẻ cần phải mở và duy trì số dư trên tài khoản tiền gửi.
- Quy trình phát hành thẻ
Quy trình phát hành thẻ bao gồm các bước sau:
Ngân hàng phát hành
Chủ thẻ
Tài khoản thẻ
(1)
(2)
(3)
(4)
Sơ đồ 1.1: Quy trình Phát hành thẻ
(1) Khách hàng nộp hồ sơ yêu cầu phát hành thẻ cho ngân hàng phát hành. Ngân hàng phát hành yêu cầu khách hàng hoàn chỉnh hồ sơ phát hành thẻ với đầy đủ thông tin theo quy định.
(2) Ngân hàng phát hành kiểm tra tính chính xác, hợp lệ của các thông tin trên hồ sơ yêu cầu phát hành thẻ do khách hàng khai báo. Tham khảo, đối chiếu với các thông báo phòng ngừa rủi ro (nếu có) của các cơ quan khác và các cơ quan hữu quan.
(3) Sau khi hồ sơ được chấp nhận, ngân hàng mở tài khoản thẻ cho khách hàng, thu phí phát hành thẻ, lập hồ sơ quản lý thẻ, xác định hạng thẻ và loại thẻ, xác định hạn mức tín dụng đối với thẻ tín dụng, tiền hành mã hoá thẻ, xác định số PIN và in thẻ.
(4) Ngân hàng tiến hành giao thẻ cho khách hàng một cách an toàn và đảm bảo bí mật. Chủ thẻ nhận thẻ và ký vào giấy giao nhận thẻ và băng chữ ký ở mặt sau của thẻ.
Sau khi đã giao thẻ cho khách hàng, ngân hàng thực hiện:
+ Quản lý thông tin khách hàng
+ Quản lý hoạt động sử dụng thẻ của khách hàng: Giải quyết mọi yêu cầu liên quan đến việc sử dụng thẻ của khách hàng, thực hiện cập nhật vào hệ thống toàn bộ các giao dịch sử dụng thẻ của khách hàng,…
+ Thực hiện thu nợ khách hàng (đối với thẻ tín dụng): Định kỳ ngân hàng sẽ gửi cho khách hàng bản sao kê toàn bộ giao dịch sử dụng thẻ của chủ thẻ trong kỳ. Sau đó thực hiện thu nợ theo số tiền đã thông báo trên sao kê.
+ Cung cấp dịch vụ cho khách hàng
+ Tổ chức thanh toán bù trừ với các tổ chức thẻ quốc tế.
+ Triển khai hoạt động phát hành thẻ, ngoài việc hưởng phí phát hành thẻ thu được từ chủ thẻ, thu lãi phạt do nộp thanh toán sao kê chậm, các ngân hàng còn được hưởng khoản phí trao đổi do ngân hàng thanh toán thẻ chia sẻ từ phí thanh toán thẻ thông qua các tổ chức thẻ quốc tế. Đây là phần lợi nhuận cơ bản của các tổ chức tài chính, ngân hàng phát hành thẻ. Trên cơ sở nguồn thu này, các tổ chức tài chính, ngân hành phát hành thẻ đưa ra được những chế độ miễn lãi và ưu đãi khác cho khách hàng để mở rộng khách hàng sử dụng thẻ cũng như tăng doanh số sử dụng thẻ
Nội dung nghiệp vụ thanh toán thẻ
- Việc thanh toán thẻ khi có giao dịch phát sinh diễn ra như sau (Sơ đồ 1.2):
(1)Chủ thẻ dùng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt tại các ĐVCNT. ĐVCNT khi nhận được thẻ từ khách hàng phải kiểm tra tính hợp lệ. Nếu hợp lệ ĐVCNT sẽ cung cấp hàng hoá, dịch vụ hoặc tiền mặt cho khách hàng.
(2) ĐVCNT giao dịch với ngân hàng: gửi hoá đơn thanh toán thẻ cho ngân hàng thanh toán.
Hoá đơn thanh toán thẻ được lưu tại ngân hàng thanh toán thẻ dùng làm chứng từ gốc để kiểm tra và giải quyết khiếu nại (nếu có).
(3) Ngân hàng thanh toán ghi có vào tài khoản của ĐVCNT.
(4) Thanh toán với tổ chức thẻ quốc tế và các thành viên khác.
Cuối mỗi ngày ngân hàng tổng hợp toàn bộ dữ liệu các giao dịch phát sinh từ thẻ do ngân hàng khác phát hành và truyền dữ liệu cho TCTQT.
(5) TCTQT báo có cho NHTT. TCTQT sau khi nhận được dữ liệu từ NHTT sẽ tiến hành ghi có cho ngân hàng. Dữ liệu mà TCTQT truyền về bao gồm những khoản NHTT đã trả, những khoản phí phải trả cho TCTQT, những giao dịch bị tra soát.
(6) TCTQT truyền dữ liệu cho ngân hàng phát hành.
(7) TCTQT báo nợ cho NHPH.
(8) Trên cơ sở đó NHPH gửi sao kê cho chủ thẻ.
(9) Chủ thẻ thanh toán nợ cho NHPH: Sau khi nhận được sao kê chủ thẻ sẽ phải tiền hành trả tiền cho những khoản hàng hoá dịch vụ mà mình đã tiêu dùng.
6-gửi dữ liệu
4-gửi dữ liệu
CHỦ THẺ
ĐƠN VỊ CHẤP NHẬN THẺ
NGÂN HÀNG PHÁT HÀNH
NGÂN HÀNG THANH TOÁN
TỔ CHỨC THẺ QUỐC TẾ
1-mua hàng hóa dịch vụ hoặc ứng tiền mặt
2-hóa đơn thanh toán
7-báo nợ
5-báo có
3-Tạm ứng
8-Sao kê
9-Thanh toán
Sơ đồ 1.2: Nghiệp vụ thanh toán thẻ
Trong một số trường hợp ĐVCNT phải liên hệ với NHPH hoặc TCTQT (thay mặt NHPH) để xin cấp phép thanh toán thẻ tín dụng. Cấp phép thanh toán là việc NHPH thẻ trực tiếp hoặc thông báo TCTQT chuẩn bị giao dịch thẻ bằng cách cung cấp số cấp phép hoặc có yêu cầu xử lý thích hợp đối với giao dịch xin cấp phép.
Đối với giao dịch phải xin cấp phép, ĐVCNT phải xin cấp phép tự động hoặc liên hệ NHPH để xin cấp phép theo quy định. Các giao dịch phải xin cấp phép gồm:
+ Toàn bộ các giao dịch ứng tiền mặt
+ Các giao dịch thực hiện bằng máy EDC
+ Đối với các giao dịch thường, nếu số tiền của giao dịch bằng hoặc lớn hơn hạn mức thanh toán của ĐVCNT
+ Ngoài ra trong quá trình thanh toán thẻ còn phát sinh nghiệp vụ tra soát, khiếu nại và đòi bồi hoàn.
Các thiết bị có liên quan
Thanh toán bằng thẻ là một hình thức thanh toán hiện đại, sử dụng chủ yếu bằng máy móc thiết bị. Các loại thiết bị hỗ trợ có nhiều nhưng hiện nay chủ yếu là các loại sau:
- Máy chà hoá đơn
Máy chà hoá đơn là một thiết bị dùng để in lại những thông tin cần thiết được dập nổi trên thẻ lên hoá đơn như: Số thẻ, tên chủ thẻ, ngày hiệu lực của thẻ… Hoá đơn được xem như bằng chứng xác đáng về việc tiêu dùng của chủ thẻ đồng thời là cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp giữa các đối tượng liên quan (nếu có).
- Máy cấp phép tự động
Máy cấp phép tự động là một thiết bị đọc từ được kết nối với mạng ngân hàng chấp nhận thẻ và các ngân hàng phát hành thẻ trên thế giới. Nó được dùng để cấp phép và xử lý trực tuyến các giao dịch thẻ tại ĐVCNT.Các giao dịch tài chính nhờ vậy mà được thực hiện và ghi lại trên tài khoản chủ thẻ tại ngân hàng phát hành thẻ.
Máy được cấu tạo đặc biệt có bộ phận đọc giải băng từ trên thẻ. Việc đọc này còn giúp cho việc kiểm tra tính chất thật giả trên thẻ. Trên thiết bị có màn hình hiển thị các thông tin vừa đọc và có bàn phím để nhập số tiền xin cấp phép. Sau khi truyền thông tin đi, máy sẽ nhận trả lời trực tiếp từ trung tâm xử lý cấp phép. Máy này giúp cho các giao dịch được thực hiện suốt 24giờ/ngày.
- Máy rút tiền tự động ATM
Hệ thống giao dịch tự động ATM cũng phục vụ cho hoạt động thanh toán thẻ thông qua việc ứng tiền mặt cho chủ thẻ quốc tế.
Máy ATM gồm một số bộ phận cơ bản: Màn hình, bàn phím để thực hiện các thao tác lệnh rút tiền, chuyển tiền…, khe để đưa thẻ vào máy, khe nhận tiền từ máy đưa ra, khe nhận hoá đơn giao dịch… Muốn rút tiền, chủ thẻ phải đưa thẻ vào máy và nhập đúng số PIN. Máy sẽ không hiện số PIN lên màn hình để đảm bảo bí mật và an toàn. Nếu chủ thẻ nhập sai số PIN, máy sẽ báo lỗi trên màn hình và không thực hiện lệnh rút tiền.
Trước đây khi muốn rút tiền, người ta phải đến ngân hàng trước giờ đóng cửa, nhưng từ khi ATM ra đời và làm việc 24giờ/ngày thì khách hàng có thể rút tiền mặt, chuyển khoản, kiểm tra số dư tài khoản của mình… vào bất cứ lúc nào. Do tính tiện lợi mà máy ATM ngày càng được sử dụng rộng rãi và phát triển ra trên toàn thế giới. Ngày nay rất nhiều ngân hàng phát triển hệ thống ATM chung với các công ty tài chính khác. Hệ thống này mang tính chất khu vực, quốc gia hay quốc tế.
Môi trường hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng thương mại
Hoạt động kinh doanh thẻ của NHTM chịu sự ảnh hưởng của môi trường xung quanh bao gồm: bên ngoài và cả bên trong.
- Môi trường bên ngoài bao gồm tất cả các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến HĐKD của NHTM. NH không thể kiểm soát được các nhân tố này nhưng chúng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh doanh của NH. Môi trường bên ngoài được phân chia thành:
+ Môi trường vĩ mô: gồm các yếu tố nằm ngoài NH, tác động đến NH ở phạm vi rộng và ảnh hương đến mọi hoạt động của NH. Môi trường vĩ mô bao gồm môi trường kinh tế, chính trị, văn hoá – xã hội, tự nhiên, dân số và công nghệ…
+ Môi trường vi mô: gồm các yếu tố bên trong ngân hàng, có tác động trực tiếp đến việc hoàn thành kế hoạch kinh doanh của ngân hàng. Môi trường vi mô bao gồm: Khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp…
+ Môi trường kinh doanh quốc tế: là môi trường đa chiều bao gồm các yếu tố như rủi ro chính trị, sự khác biệt về văn hóa, rủi ro trao đổi, các vấn đề pháp lí và thuế…
- Môi trường bên trong bao gồm các yếu tố: tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng, khả năng tài chính, hệ thống công nghệ, nhân sự của ngân hàng… Ngoài ra còn có các chiến lược kinh doanh cũng như văn hóa kinh doanh của ngân hàng.
Phân tích môi trường bên trong là việc xác định và đánh giá các yếu tố thuộc về mỗi ngân hàng nhằm xác định được ưu thế cũng như hạn chế của NH đó, làm cơ sở để xây dựng kế hoạch phân tích, đánh giá tổng hợp về các yếu tố của môi trường bên trong ngân hàng.
Các yếu tố trên của mỗi ngân hàng khác nhau là không giống nhau và nó còn thay đổi theo thời gian. Các ngân hàng sẽ dễ dàng bị mất đi các ưu thế sẵn có trong kinh doanh của chính mình nếu không phân tích được bản chất của các nguồn lực cũng như đánh giá đúng nguồn lực đó.
Đánh giá quy mô kinh doanh dịch vụ thẻ
Phân tích quy mô kinh doanh dịch vụ thẻ là quá trình nghiên cứu, đánh giá quy mô kinh doanh dịch vụ thẻ của chủ thể phát hành thẻ với khách hàng thông qua số lượng thẻ phát hành, tần suất giao dịch, quy mô mỗi lần giao dịch, sự gia tăng về mạng lưới hoạt động, tăng số lượng sử dụng thẻ, mạng lưới máy ATM mở rộng, gia tăng điểm chấp nhận thẻ…
Quy mô hoạt động kinh đoanh dịch vụ thẻ của một NHTM cho thấy sự đầu tư và phát triển của hoạt động kinh doanh loại hình này. Quy mô càng lớn cho thấy sự đầu tư và chú trọng phát triển của ngân hàng đó càng cao. Quy mô ngày càng gia tăng cho thấy hoạt động kinh đoanh dịch vụ thẻ ngày càng phát triển và đem lại hiệu quả đáng kể cho ngân hàng.
Đánh giá chất lượng dịch vụ thẻ
Đánh giá chất lượng dịch vụ thẻ là quá trình nghiên cứu, đánh giá mức độ hài lòng và thỏa mãn của khách hàng khi sử dụng dịch vụ thẻ của ngân hàng, cũng như sự trung thành của khách hàng với ngân hàng và sự tiến bộ về hành vi, thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ công nhân viên ngân hàng. Việc nghiên cứu phân tích chất lượng dịch vụ thẻ nhằm mục đích đánh giá, xem xét việc:
+ Khách hàng hài lòng khi sử dụng dịch vụ NH không?
+ Nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ cho phép duy trì số lượng khách hàng cũ, xây dựng khách hàng trung thành và phát triển khách hàng mới,
+ Giúp chi nhánh nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng.
NH cần phải quan tâm đến những đánh giá phản hồi của khách hàng để từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ nhằm gia tăng sự hài lòng của khách hàng.
Đánh giá hoạt động kiểm soát rủi ro
Trong hoạt động kinh doanh thẻ, kiểm soát rủi ro được thực hiện một cách liên tục và có hệ thống thông qua việc tuân thủ các quy trình, quy định của mỗi ngân hàng. Việc đo lường các loại rủi ro này và duy trì ở mức thấp nhất có thể giúp ngân hàng kiểm soát tốt hoạt động kinh doanh thẻ của mình.
Rủi ro trong kinh doanh dịch vụ thẻ tại các NHTM thường xảy ra ở 3 loại rủi ro là rủi ro tác nghiệp, rủi ro tín dụng, rủi ro về công nghệ. Rủi ro do giả mạo có tần suất xuất hiện ít hơn. Việc kiểm soát rủi ro thường xuyên được kiểm tra để hạn chế tôi đa khả năng xảy ra, tránh đem lại tổn thất cho ngân hàng và các KH sử dụng dịch vụ.
Đánh giá thu nhập từ hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ
Thu nhập từ hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của ngân hàng bao gồm hai loại:
- Thu nhập trực tiếp từ dịch vụ thẻ gồm nguồn thu từ các loại phí: phí phát hành, phí thường niên, phí rút tiền mặt, phí chuyển khoản, phí ứng tiền mặt thẻ tín dụng, phí chiết khấu POS, phí duy trì tài khoản, phí thu từ thẻ của ngân hàng khác giao dịch tại ATM, các loại phí khác…
- Thu nhập gián tiếp từ dịch vụ thẻ gồm nguồn thu từ lãi cho vay qua thẻ tín dụng quốc tế. Mỗi ngân hàng thương mại có từng định hướng kinh doanh khác nhau theo từng thời kỳ. Mức thu nhập từ hoạt động kinh doanh dịch vụ nói chung và kinh doanh dịch vụ thẻ nói riêng thường được xác định là nguồn thu quan trọng trong việc gia tăng kết quả kinh doanh của ngân hàng.
Quy mô hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ
- Số lượng thẻ phát hành
Hiện nay, một KH có thể sử dụng nhiều loại thẻ cùng một lúc, tuy nhiên, KH chỉ sử dụng một vài chiếc thẻ thường xuyên (thường là từ 1-3 chiếc thẻ) với tần suất lớn hơn. Như vậy, có trường hợp mặc dù KH phát hành được thẻ, nhưng KH chưa hẳn đã sử dụng chiếc thẻ này làm thẻ để thường xuyên giao dịch. Chính vì lý do này mà các NH đều đặt ra mục tiêu tăng số lượng thẻ phát hành nhưng đồng thời phải tăng số lượng KH sử dụng thẻ. Có như vậy, mới đảm bảo được nguồn thu từ các loại phí liên quan đến dịch vụ thẻ, cũng như tăng cường khả năng bán chéo các sản phẩm liên quan đến dịch vụ thẻ.
Ngày nay, môi trường cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng trở nên gay gắt. Để có thể gia tăng được nền KH, NH sẽ dùng mọi biện pháp phù hợp để truyền thông, quảng bá, giới thiệu sản phẩm đến KH, đồng thời, tổ chức các chương trình ưu đãi, chính sách khuyến mãi đến KH sao cho đạt được mục tiêu là ngày càng phát triển được số lượng thẻ phát hành và sử dụng.
Tiêu chí này càng cao chứng tỏ dịch vụ thẻ của NH ngày càng phát triển. Dịch vụ thẻ phát triển làm cho nguồn thu từ dịch vụ thẻ tăng lên, gia tăng lợi nhuận cho NH. Việc xem xét chỉ tiêu này giúp đánh giá được mức độ hiệu quả của tình hình HĐKD dịch vụ thẻ của NH.
Chính vì vậy, việc phát triển số lượng thẻ cũng như phát triển nền khách hàng là một trong các tiêu chí quan trọng mà NH nào cũng tập trung hướng đến.
Số lượng giao dịch tại các máy ATM, POS
Tiêu chí này phản ảnh số lần khách hàng sử dụng dịch vụ tại các máy ATM, POS của ngân hàng trong một thời gian nhất định. Số lượng giao dịch càng lớn thể hiện mức độ ưa thích của khách hàng trong việc sử dụng dịch vụ thanh toán thẻ của ngân hàng. Theo thời gian, nếu số lượng này tăng dần lên cho thấy khả năng phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng ngày càng tốt, ngược lại, chứng tỏ khả năng phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng đang có dấu hiệu đi xuống.
Doanh số thanh toán thẻ
Doanh số thanh toán thẻ là tổng giá trị các GD được thanh toán qua thẻ tại các ĐVCNT và tổng lượng tiền mặt được rút tại các máy ATM. Chỉ tiêu này phản ánh mức độ thu hút khách hàng và tiềm năng nâng cao được thị phần thẻ của các NHTM trên thị trường.
Giá trị tiêu chí này càng cao cho thấy một lượng lớn khách hàng lựa chọn NH để sử dụng các tiện ích của dịch vụ thanh toán thẻ. Chỉ tiêu này tăng qua các năm thể hiện sự phát triển của ngân hàng và ngược lại, nếu chỉ tiêu này giảm chứng tỏ ngân hàng hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ có phần kém hiệu quả.
Số lượng máy ATM và máy POS
Dịch vụ thẻ không thể hoàn thiện nếu thiếu đi mạng lưới hệ thống máy ATM và POS. Chính các công cụ này tạo nên các tiện ích cho dịch vụ thẻ. Mạng lưới càng rộng và thuận tiện, việc đáp ứng cho quá trình sử dụng thẻ càng cao, KH càng cảm thấy tiện lợi và dễ dàng hơn khi sử dụng thẻ của ngân hàng đó. Như vậy, việc phát triển mạng lưới ATM, POS và các điểm thanh toán thẻ là đòi hỏi tất yếu nếu muốn phát triển dịch vụ thẻ.
Tốc độ tăng trưởng của chỉ số này càng cao cho thấy khả năng phát triển dịch vụ thanh toán thẻ càng tốt. Ngược lại, số lượng máy ATM/POS giảm thì dịch vụ thẻ thanh toán cũng hoạt động kém phát triển.
Chất lượng dịch vụ thẻ
Chất lượng dịch vụ thẻ thể hiện mức độ hài lòng, thỏa mãn của KH khi sử dụng dịch vụ thẻ của ngân hàng và sự trung thành của KH với NH. Đồng thời, chất lượng dịch vụ thẻ cũng cho thấy được chất lượng của các yếu tố liên quan đến quá trình hình thành dịch vụ thẻ như: cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng.
- Chất lượng dịch vụ thẻ được đánh giá qua nhiều tiêu chí bao gồm:
- Điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho hoạt động thanh toán thẻ (hệ thống ATM, POS, hệ thống đường truyền…);
- Trình độ công nghệ
- Mức độ uy tín, độ bảo mật hệ thống thông tin khách hàng và thông tin thanh toán thẻ;
- Dịch vụ chăm sóc khách hàng: thái độ phục vụ khách hàng, cách phản ứng các sự cố, thắc mắc
- Tiêu chuẩn phục vụ khách hàng: thời gian phát hành thẻ, thủ tục giao dịch…
- Các chính sách về phí và lãi suất ….
Kiểm soát rủi ro trong kinh doanh dịch vụ thẻ
Trong hoạt động kinh doanh thẻ, kiểm soát rủi ro được thực hiện một cách liên tục và có hệ thống thông qua việc tuân thủ các quy trình, quy định của mỗi ngân hàng. Việc đo lường các loại rủi ro này và duy trì ở mức thấp nhất có thể giúp ngân hàng kiểm soát tốt hoạt động kinh doanh thẻ của mình.
Rủi ro trong kinh doanh dịch vụ thẻ thường xảy ra ở 3 loại rủi ro là rủi ro tác nghiệp, rủi ro tín dụng và rủi ro về công nghệ. Các rủi ro do giả mạo hiện nay được kiểm soát khá tốt, công nghệ ngày càng được nâng cao khiến việc giả mạo gặp nhiều khó khăn hơn.
- Rủi ro tác nghiệp
Trong những năm qua, khi hoạt động kinh doanh thẻ phát triển, khối lượng giao dịch tăng cao thì các trường hợp rủi ro, do lỗi tác nghiệp của nhân viên ngân hàng xảy ra khá phổ biến. Những sự cố về nghiệp vụ phát sinh trên tất cả các khâu của dịch vụ thẻ như tiếp nhận, xử lý thông tin khách hàng, cài đặt chương trình, hạch toán, thu nợ sao kê, tiếp quỹ, tra soát, bồi hoàn…
Tiêu chí để đánh giá rủi ro tác nghiệp trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ là số lượng lỗi tác nghiệp trong dịch vụ thẻ. Việc theo dõi số lượng lỗi phát sinh nhằm kiểm soát được rủi ro tác nghiệp có thể xảy ra, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu số lượng lỗi tương tự trong tương lai.
- Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ phổ biến là các lỗi khách hàng để nợ quá hạn không thanh toán. Tiêu chí được sử dụng để kiểm soát rủi ro tín dụng là dư nợ quá hạn, nợ xấu, nợ có khả năng mất vốn đối với cho vay thấu chi tài khoản và cho vay thẻ tín dụng.
- Rủi ro về công nghệ
Rủi ro về công nghệ được đánh giá qua tần suất xảy ra các lỗi: lỗi đường truyền từ các đối tác viễn thông, lỗi do hệ thống kết nối NAPAS liên ngân hàng, máy ATM mất điện đột ngột khi khách đang rút tiền ATM đã xử lý giao dịch, quá thời gian nhận tiền mà khách hàng không nhận tiền nên máy đã thu lại, máy ATM chưa được bảo trì, bảo dưỡng đúng quy định…
Thu nhập từ hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ
Bất kỳ ngân hàng nào khi tham gia vào hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ đều đặt mục tiêu gia tăng lợi nhuận, giảm thiểu tối đa rủi ro có thể xảy ra, tăng cường vị thế cạnh tranh trên địa bàn. Thu nhập từ hoạt động kinh doanh thẻ có thể liệt kê theo các nguồn như: thu từ phí phát hành, phí thường niên các loại thẻ nội địa, thẻ quốc tế; thu từ POS tính trên doanh số thanh toán; thu từ ATM các loại phí rút tiền, phí chuyển khoản, … ngoài ra nguồn thu ẩn mình trong đó chính là thu nhập từ huy động vốn.
Thu nhập từ hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ được đánh giá qua 2 tiêu chí là:
- Số dư tiền gửi trên tài khoản thẻ: Số dư tiền gửi trên tài khoản thẻ cũng là mổ khoản huy động vốn có lợi cho NHTM, số dư này càng lớn thì NH càng có khả năng mở rộng thêm các hoạt động kinh doanh mang lại thu nhập cao hơn cho NH bởi khoản chi phí phải trả bao gồm lãi là rất thấp. Ngoài ra số dư tiền gởi tăng góp phần làm tăng quy mô hoạt động của ngân hàng.
- Thu nhập từ hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ: Sự gia tăng từ nguồn phí thu được từ dịch vụ thẻ qua các năm chứng tỏ các NHTM đã tăng số lượng KH đến phát hành thẻ và sử dụng dịch vụ thẻ. Đây là kết quả phản ánh thu nhập từ HĐ kinh doanh dịch vụ thẻ.
Các nhân tố bên ngoài
- Sự ổn định của môi trường hoạt động kinh doanh
Môi trường hoạt động kinh doanh đó là môi trường kinh tế trong nước, trong khu vực và trên thế giới, môi trường này càng ổn định sẽ giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh gặp được nhiều thuận lợi. Càng ngày, với sự phát triển văn minh đô thị, việc sử dụng tiền mặt trong lưu thông ngày càng được hạn chế. Ngược lại, các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt lại được ưa chuộng và phát triển. Các NH nắm bắt được xu hướng này đã chú trọng tập trung phát triển ra nhiều dịch vụ thanh toán mới hiện đại.
Như vậy, nền kinh tế ngày càng đi lên, mức sống của dân cư được cải thiện, KHCN phát triển sẽ thúc đẩy việc phát triển dịch vụ thẻ. Từ đó, thu hút sự chú ý và đầu tư của các tổ chức thẻ trên thế giới, gia tăng sự đầu tư vào dịch vụ thẻ tại thị trường Việt Nam.
- Văn hoá tiêu dùng
Văn hoá tiêu dùng hay nhìn nhận khía cạnh khác đó là thói quen của khách hàng, là một nhân tố rất quan trọng trong việc ảnh hưởng đến sự phát triển HĐKD dịch vụ thẻ tại mỗi địa phương. Sở dĩ như vậy, là do văn hoá tiêu dùng của khách hàng sẽ hình thành môi trường cho các hoạt động thanh toán thẻ phát triển.
Trong một môi trường chi tiêu chủ yếu bằng tiền mặt thì sẽ có rất ít cơ hội cho kinh doanh thẻ và dịch vụ thẻ phát triển. Nguyên lý này đúng ở chiều ngược lại. Mặc dù có ảnh hưởng lớn đến HĐKD dịch vụ thẻ nhưng rất khó để thay đổi thói quen của người dân. Việc này đòi hỏi thời gian và là cả một quá trình cải tiến của toàn xã hội.
- Trình độ dân trí
Trình độ dân trí tỷ lệ thuận với mức độ phát triển của dịch vụ thẻ. Trình độ dân trí cao giúp cho dịch vụ thẻ ngày càng phát triển và ngược lại. Chính vì vậy, ở địa phương nào có trình độ dân trí cao cộng với mức thu nhập dân cư ổn định sẽ tạo tiền đề thuận lợi cho các NHTM ở đó phát huy được hiệu quả của HĐKD dịch vụ thẻ.
Hiện nay, không phải tất cả mọi người dân Việt Nam đều biết đến NH cũng như các sản phẩm dịch vụ mà NH cung cấp. Vì vậy, các kiến thức cơ bản về dịch vụ thẻ như cách sử dụng cũng như cách quản lý hoàn toàn xa lạ với họ. Điều này tiềm ẩn nguy cơ bộ phận người dân này sẽ có thể tiếp cận nhiều nguồn thông tin không chính thức, nên sinh ra tâm lý e ngại, không muốn sử dụng thẻ và dịch vụ thẻ của ngân hàng. Đây là thách thức đối với các NHTM, làm chậm lại quá trình phát triển của dịch vụ thẻ.
- Môi trường xung quanh
Môi trường xung quanh được kể đến bao gồm môi trường pháp lý, môi trường công nghệ, môi trường cạnh tranh…cũng là tác nhân ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của NHTM.
Hiện nay, Chính phủ và NHNN đã ban hành nhiều văn bản chế độ quy định chính sách áp dụng trong lĩnh vực kinh doanh thẻ. Điều này đã tác động đến sự phát triển của thị trường kinh doanh thẻ, tạo ra hành lang pháp lý cho thị trường thẻ hoạt động đúng hướng. Các quy định, chính sách này càng chặt chẽ, phù hợp với thực tế bao nhiều thì sẽ làm giảm được rủi ro có thể xảy ra trong quá trình kinh doanh dịch vụ thẻ bấy nhiêu.
Ngày nay, công nghệ 4.0 đang phát triển tiến tới là 5.0, khiến cho việc giả mạo thẻ trở nên tinh vi hơn, gia tăng rủi ro đối với HĐKD dịch vụ thẻ. Chính vì vậy, NH nào càng tập trung đầu tư vào công nghệ, tăng cường tính bảo mật cho sản phẩm, mang lại sự an toàn xuyên suốt quá trình giao dịch sẽ đem lại niềm tin cho KH, khiến KH có cảm giác an tâm khi sử dụng thẻ. Như vậy, sẽ ngày càng thu hút được nhiều KH đến với NH và sử dụng thêm các sản phẩm dịch vụ của NH.
Việc mở rộng thị trường nói chung và thị trường thẻ nói riêng của mỗi NHTM chịu sự ảnh hưởng lớn của môi trường cạnh tranh. Môi trường cạnh tranh càng gay gắt càng buộc các NHTM phải đầu tư công sức tìm kiếm hướng đi mới để tạo ra được sản phẩm thẻ tốt nhất để cung cấp cho KH. Có như vậy, NH mới thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ, đạt được hiệu quả kinh doanh tối ưu.
Các nhân tố bên trong
- Năng lực Công nghệ
Công nghệ luôn là yếu tố hàng đầu trong xu thế hoạt động NHTM hiện nay. Ngày nay, sự chạy đua cạnh tranh về sản phẩm dịch vụ giữa các NHTM đã và đang trở nên khốc liệt hơn, với sự cung ứng đầy đủ về sản phẩm thì nay các khách hàng không chỉ quan tâm đến mặt tiện lợi mà họ ngày càng chú trọng hơn đến yếu tố công nghệ trong đó. Một sản phẩm ra đời trên thành tựu khoa học công nghệ cao như thẻ ngân hàng đòi hỏi phải hội tụ đầy đủ các yếu tố có thể đáp ứng được các tiêu chuẩn không chỉ trong nước mà còn là quốc tế. Sự chính xác, an toàn, tiện lợi, nhanh chóng là yếu tố then chốt trong quá trình kinh doanh dịch vụ thẻ. Cho nên, ngân hàng buộc phải đảm bảo xây dựng được một hệ thống công nghệ với những ứng dụng tiên tiến nhất bắt kịp xu hướng quốc tế nếu muốn vận hành hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ một cách có hiệu quả.
- Năng lực tài chính
Kinh doanh thẻ buộc ngân hàng phải đầu tư lắp đặt hệ thống các trang thiết bị hiện đại với công nghệ mới nhất. Chi phí cho việc đầu tư này là không hề nhỏ. Ngoài chi phí cho hoạt động Matketing, nó còn bao gồm nhiều loại chi phí khác nhau từ chi cho phát triển hạ tầng, chi mua sắm, lắp đặt, chi cho vận hành, chạy thử, chi cho bảo trì, bảo dưỡng định kỳ…. Vì vậy, đòi hỏi ngân hàng phải có nguồn tài chính đủ mạnh mới có thể bắt kịp được xu hướng trên thế giới áp dụng vào hệ thống của mình để phục vụ hoạt động kinh doanh.
- Chiến lược phát triển sản phẩm
Một sản phẩm được chú trọng đề ra chiến lược để liên tục cải tiến chất lượng sẽ là một sản phẩm làm hài lòng đại đa số khách hàng. Để có được một sản phẩm có chất lượng như vậy đòi hỏi phải có một chiến lược rõ ràng và cụ thể. Việc hoạch định chiến lược sẽ đem lại hiệu quả cao cho công việc.
Một ngân hàng bất kỳ nếu xây dựng được cho mình một chiến lược phát triển sản phẩm thẻ trong ngắn hạn cũng như dài hạn thì khả năng đạt được thành công trong HĐKD dịch vụ thẻ là rất lớn. Từ chiến lược phát triển chung sẽ đi sâu cụ thể thành các chiến lược như chiến lược marketing, chiến lược tiếp thị sản phẩm….
- Chất lượng dịch vụ thẻ
Với một danh mục sản phẩm khá tương đồng giữa các NHTM như hiện nay, thì việc tăng cường chất lượng các tiện ích liên quan đến dịch vụ thẻ sẽ là yếu tố đóng vai trò quyết định cho việc cạnh tranh có thành công hay không.
Chất lượng dịch vụ thẻ bao gồm nhiều nội dung. Tại thị trường Việt Nam hiện nay tập trung vào yếu tố an toàn và bảo mật trong quá trình sử dụng dịch vụ thẻ. Việc ngày càng phát sinh nhiều vụ việc liên quan đến giả mạo, lừa đảo thẻ ngân hàng đã ít nhiều làm mất đi lòng tin của khách hàng vào việc thanh toán qua thẻ.
- Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nhân tố then chốt trong mọi tiến trình, là chìa khóa quyết định sự thành bại của mọi hoạt động. Kinh doanh dịch vụ thẻ có thể phát triển mạnh mẽ hay không là tùy thuộc vào đội ngũ nhân viên chuyên trách, chịu trách nhiệm trực tiếp vào việc vận hành quá trình phát hành và sử dụng thẻ. Những kinh nghiệm, kiến thức và sự năng động, sáng tạo của đội ngũ này sẽ góp phần tạo thêm những tiện ích, những loại thẻ đa dạng, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Thông qua thái độ giao tiếp, phong cách giao dịch và không gian bán hàng giúp tạo được uy tín, thiện cảm với khách hàng, giúp tăng số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ thẻ.
- Quản lý và kiểm soát rủi ro
Trong quá trình vận hành hoạt động của ngân hàng, việc nhận diện, đánh giá và kiểm soát rủi ro đóng vai trò quan trọng nhằm tối đa hóa việc khai thác các cơ hội. Việc kiểm soát rủi ro phải đảm bảo được mục tiêu tối thiểu hóa chi phí quản lý rủi ro và tối đa hóa khả năng giảm thiểu tác động bất lợi của rủi ro. Điều này góp phần đạt được các mục tiêu kinh doanh được đề ra của NH.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động kinh doanh thẻ của NHTM, trong đó làm rõ các khái niệm liên quan đến thẻ, đặc điểm thẻ và hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ, quy trình phát hành và thanh toán thẻ.
Bên cạnh đó, chương 1 cũng đề cập đến vai trò của thẻ, hoạt động kinh doanh thẻ của NHTM đối với nền kinh tế xã hội, với NHTM và đối với khách hàng.
Nội dung chương 1 cũng đã khái quát các nhân tố ảnh hưởng cũng như các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của NHTM, từ đó làm cơ sở để chương 2 đi vào phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình và đề xuất những khuyến nghị trong chương 3.
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ THẺ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH QUẢNG BÌNH
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam được thành lập ngày 26 tháng 4 năm 1957 với tên gọi Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam.
Ngày 24 tháng 6 năm 1981, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam.
Vào ngày 14 tháng 11 năm 1990, Ngân hàng được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Đến ngày 01 tháng 5 năm 2012, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam tiến hành cổ phần hóa và đổi tên thành Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (tên viết tắt BIDV).
Từ ngày thành lập đến nay là một chặng đường dài không ít thăng trầm nhưng cũng đầy vinh quang mà bao thế hệ cán bộ BIDV đã cùng nhau trải qua, để tạo dựng nên một Ngân hàng thương mại với bề dày lịch sử lâu đời nhất trong hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam và đang tiến những bước vững chắc để hội nhập và nâng cao vị thế trong khu vực.
Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình (tên viết tắt BIDV Quảng Bình) là một thành viên trong hệ thống BIDV được thành lập theo Quyết định số 105/NH/QĐ ngày 26/11/1990 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. BIDV Quảng Bình là đơn vị trực tiếp hoạt động kinh doanh và cũng là đại diện pháp nhân của ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, được quản lý và sử dụng vốn, tài sản, các nguồn lực của BIDV và các nguồn vốn huy động, tiếp nhận và đi vay theo quy định của pháp luật để thực hiện nhiệm vụ được giao.
Hiện nay, BIDV Quảng Bình là một trong những NHTM có thị phần lớn trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, đồng thời là một chi nhánh hạng I của BIDV. BIDV Quảng Bình là chi nhánh trong nhiều năm liền được Ngân hàng TMCP ĐT&PT Việt Nam công nhận là đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đặc biệt trong năm 2014, BIDV Quảng Bình vinh dự được Đảng và Nhà Nước trao huân chương độc lập hạng nhì và được tặng danh hiệu đơn vị kinh doanh xuất sắc đứng đầu cụm Bắc Trung Bộ
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ THẺ
Hoàn thiện hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát Triển Việt Nam Hoàn thiện hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát Triển Việt Nam


