Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, xã hội càng tiến bộ thì con người có xu hướng tiêu dùng trước và chi trả sau thay vì tích lũy sau đó mới tiêu dùng, mua sắm, do đó người ta chấp nhận việc mua chịu từ các vật dụng gia đình đến mua đất mua nhà – đó là xu hướng trên thế giới. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó, dân số Việt Nam ngày đang thuộc thời kỳ dân số vàng, có gần 55 triệu người trong độ tuổi từ 20 tuổi đến 59 tuổi – đây là phân khúc khách hàng có nhu cầu vay tiêu dùng cao. Bên cạnh đó, thị trường cho vay tiêu dùng tại Việt Nam chỉ mới phát triển trong ba năm gần đây và không còn là lĩnh vực mới mẻ đối với người dân Việt Nam. Trong những năm gần đây các công ty tài chính ở Việt Nam còn ít, các NHTM chỉ quan tâm đến khách hàng doanh nghiệp chưa quan tâm đến thị trường bán lẻ và đặc biệt là khách hàng CVTD. Agribank cũng không nằm ngoài xu hướng của các NHTM, hiện nay chỉ tập trung mảng cho vay các khách hàng pháp nhân và chưa chú trọng cho vay tiêu dùng.
Theo đánh giá thì thị trường cho vay tiêu dùng tại Việt Nam là mảnh đất màu mỡ, tiềm năng và sẽ được thúc đẩy nhờ đô thị hóa ngày càng phát triển, thu nhập của người dân ngày càng được cải thiện và sự dịch chuyển của ngành tài chính sang khu vực hộ gia đình. Tuy nhiên, tiềm năng của thị trường CVTD tại Việt Nam hiện vẫn chưa được khai thác hiệu quả. Tính đến ngày 01/04/2019 dân số Việt Nam là 96 triệu dân với 34% người dân sống ở đô thị. Với tốc độ đô thị hóa hiện nay thì dân số ở thành thị sẽ tăng cao và nhu cầu về vay vốn tiêu dùng để phục vụ cho các nhu cầu sinh hoạt còn tăng cao hơn nữa trong những năm tiếp theo. Nhưng, theo kết quả điều tra của Công ty tài chính FE Credit, hiện nay mới chỉ có 15 đến 20% dân số Việt Nam đang sử dụng dịch vụ của các Ngân hàng hoặc các Tổ chức tín dụng. Điều này cho thấy thị trường CVTD là thị trường tiềm năng chưa được khai thác hết.
Như trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, ta đã nhận thấy được CVTD là lĩnh vực lâu nay đang bị các NHTM bỏ quên, bằng chứng là các sản phẩm của CVTD tại các ngân hàng còn ít, quy trình thủ tục phức tạp và không được chú trọng như cho vay doanh nghiệp hay cho vay hộ kinh doanh. Tuy nhiên, trong những năm gần đây khi thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt thì các ngân hàng đang chuyển sang thị trường CVTD vì thị trường cho vay doanh nghiêp, tổ chức đã dần kín. Theo như các bài nghiên cứu đã phân tích thì thị trường CVTD là thị trường tiềm năng và đầy cạnh tranh, mục tiêu hướng đến của nhiều ngân hàng hiện nay là làm thế nào để có được khách hàng vay tiêu dùng đặc biệt là các ngân hàng nhỏ, ngân hàng chi nhánh, ngân hàng bán lẻ. Tại Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng, hoạt động CVTD không được chú trọng như cho vay khách hàng doanh nghiệp, tính đến thời điểm hiện tại doanh số CVTD chiếm tỷ lệ khá thấp, khoản 14% trong tổng dư nợ cho vay và có xu hướng tăng qua các năm nhưng tốc độ tăng khá chậm. Điều này cho thấy hoạt động cho vay tiêu dùng tại Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của chi nhánh cũng như nhu cầu vay vốn của khách hàng. Hiện nay, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có 59 chi nhánh Tổ chức tín dụng với 248 phòng giao dịch với sự đa dạng về loại hình hoạt động và hình thức pháp lý. Các đơn vị này được phân bố đều khắp ở các quận, huyện, tạo thuận lợi trong giao dịch của người dân và doanh nghiệp. Điều này đã tạo ra sự cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực bán lẻ giữa các ngân hàng với nhau. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, tốc độ đô thị hóa của TP Đà Nẵng, người dân từ các tỉnh khác đến Đà Nẵng làm việc và sinh sống lâu dài nên nhu cầu vay vốn tiêu dùng mua đất, mua nhà và phục vụ sinh hoạt,.. ngày càng tăng cao làm cho TP Đà nẵng là thị trường tiềm năng cho hoạt động cho vay tiêu dùng. Chính vì vậy, tác giả nhận thấy cần phải đánh giá một cách toàn diện về hoạt động cho vay tiêu dùng để xác định rõ kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại nhằm đưa ra các khuyến nghị để hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng tại Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng.
Từ những lý luận đã được đề cập trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, cùng với sự cần thiết thực tiễn của hoạt động CVTD của các Ngân hàng thương mại nói chung và thực trạng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng nói riêng. Tác giả quyết định chọn đề tài “Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Phân tích thực trạng cho vay tiêu dùng tại Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng. Từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động CVTD tại Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu giải quyết được 3 vấn đề sau:
– Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại.
– Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng trong thời gian từ 2017-2019.
– Đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng tại Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng.
* Câu hỏi nghiên cứu
– Đặc điểm riêng có của hoạt động CVTD như thế nào?
– Hoạt động CVTD của NHTM bao gồm những nội dung gì?
– Tiêu chí nào dùng để đánh giá kết quả của động CVTD tại NHTM?
– Các nhân tố nào ảnh hưởng đến hoạt động CVTD của NHTM?
– Thực trạng hoạt động CVTD tại Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng trong những năm 2017-2019 như thế nào? Các kết quả đã đạt được và những mặt còn hạn chế là gì? Nguyên nhân là gì?
– Nhân tố nào ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động CVTD tại Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng?
– Cần có những khuyến nghị nào đối với hoạt động CVTD tại Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng?

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Thực tiễn liên quan đến hoạt động cho vay tiêu dùng tại Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
– Về nội dung nghiên cứu: Phân tích các vấn đề liên quan đến hoạt động cho vay tiêu dùng tại Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng.
– Về không gian: Luận văn được nghiên cứu tại Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng
– Về thời gian: Dữ liệu được sử dụng phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng trong khoảng thời gian từ năm 2017 đến năm 2019. Về các khuyến nghị đề tài đề xuất thì áp dụng cho giai đoạn đến năm 2024.
Đề tài vận dụng một số phương pháp sau:
– Phương pháp tổng quan tài liệu: đọc các các luận văn, tài liệu, các bài báo nghiên cứu khoa học, các giáo trình liên quan đến CVTD để hình thành nên cơ sở lý luận về hoạt động CVTD tại NHTM.
– Phương pháp phân tích, so sách, đối chiếu, tổng hợp: dựa trên cơ sở thu thập dữ liệu thứ cấp tại Agibank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng như dư nợ cho vay, số lượng khách hàng, tỷ lệ nợ xấu, kết quả kinh doanh,…sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu để phân tích sự biến động của hoạt động cho vay nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng, mức độ hoàn thành kế hoạch, để đánh giá thực trạng của hoạt động của hoạt động CVTD tại Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng trong thời gian qua.
– Phương pháp quan sát: Quan sát các Cán bộ tại phòng Kế hoạch kinh doanh làm việc từ tiếp cận khách hàng, nhận hồ sơ, kiểm tra trước trong và sau khi cho vay; hỏi các Cán bộ này hoặc khảo sát, phòng vấn nhanh để nắm bắt, hiểu rõ được hoạt động CVTD tại Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng cũng như phong cách làm việc của nhân viên.
– Phương pháp điều tra, khảo sát:
+ Thực hiện khảo sát ý kiến đối với Cán bộ tại Phòng Kế hoạch Kinh doanh nhằm tìm hiểu về quy trình nghiệp vụ cho vay, các sản phẩm, chất lượng công việc, những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng, những đánh giá về thực trạng cho vay tiêu dùng, những hạn chế trong hoạt động cho vay tiêu dùng và cách khắc phục những hạn chế đó. Phỏng vấn trực tiếp các lãnh đạo là Giám đốc và Phó giám đốc phụ trách tín dụng về chiến lược, chính sách về CVTD, các sản phẩm, giá cả, chương trình ưu đãi, quy trình thực hiện,.… Mục đích của việc nghiên cứu các đối tượng này là để tìm hiểu về thực trạng cho vay tiêu dùng
+ Tiến hành phỏng vấn, khảo sát ý kiến của các khách hàng vay tiêu dùng tại Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng bằng phiếu khảo sát và phòng vấn trực tiếp để từ đó đánh giá được mức độ hài lòng của khách hàng, đánh giá được chất lượng sản phẩm, phong cách làm việc của nhân viên,…. Qua đó, có góc nhìn toàn diện hơn về thực trạng cho vay tiêu dùng tại chi nhánh và cũng là cơ sở để đề xuất các khuyến nghị.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
5.1. Về ý nghĩa khoa học:
Đề tài đã góp phần hệ thống hóa các lý luận về hoạt động cho vay tiêu dùng của các NHTM. Đề tài đã đưa ra những phân tích để làm rõ hơn các khía cạnh lý luận về tiêu chí đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng. Các phân tích về thực trạng và các khuyến nghị đưa ra đã đóng góp thêm vào cơ sở dữ liệu của nghiên cứu trong hoạt động cho vay tại Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng.
5.2. Về ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần chỉ ra được những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong công tác cho vay tiêu dùng từ đó giúp hoàn thiện công tác cho vay tiêu dùng tại Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng. Đồng thời cũng có thể ứng dụng tại một số chi nhánh có các điều kiện tương tự như Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng.
Chương 1 : Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại.
Chương 2 : Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng.
Chương 3 : Khuyến nghị hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng.
b. Các luận văn Thạc sĩ được công bố tại trường Đại học kinh tế Đà nẵng có liên quan đến đề tài nghiên cứu
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm cho vay tiêu dùng
Như ta đã biết, cho vay tiêu dùng là một phần của hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại, vậy nên muốn hiểu một cách rõ ràng về CVTD thì trước tiên ta cần phải tìm hiểu về khái niệm cho vay.
Theo Nguyễn Thị Mùi (2005) thì “Cho vay là một hình thức của cấp tín dụng của ngân hàng, là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu của ngân hàng thương mại. Như vậy cho vay chính là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu (NHTM) sang người sử dụng (người vay – khách hàng) sau một thời gian nhất định lại quay về với một lượng lớn hơn giá trị ban đầu. Hay có thể hiểu cho vay như sau: Cho vay là một quan hệ giữa hai chủ thể ( NHTM và người vay), trong đó một bên (NHTM) chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia (người vay) sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn (gốc và lãi) cho bên cho vay vô điều kiện theo thỏa thuận”.
Còn theo theo Luật các tổ chức tín dụng thì: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại rất đa dạng và phong phú với nhiều hình thức khác nhau. Và để quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn tín dụng thì cần thiết phải phân loại cho vay. Cho vay tiêu dùng là khoản vay được phân loại theo tiêu thức mục đích sử dụng vốn của ngân hàng.
Theo Nguyễn Thị Mùi (2005) thì CVTD là “Nhằm giúp người tiêu dùng có nguồn tài chính để trang trải nhu cầu về nhà ở, đồ dùng gia đình và phương tiện đi lại,… ngân hàng thực hiện cho vay tiêu dùng”
Như vậy, ta có hiểu CVTD là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình một khoản tiền để sử dụng vào mục đích phục vụ như cầu đời sống như: Mua đất xây dựng nhà ở, mua đất và nhà ở, sửa chữa nhà ở, mua sắm vật dụng gia đình, mua sắm phương tiện đi lại, chi phí chữa bệnh, chi cho nhu cầu giáo dục, du lich và các dịch vụ khác … trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
1.1.2. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng của ngân hàng nhằm mục đích tài trợ cho những nhu cầu tiêu dùng của cá nhân hoặc hộ gia đình. Người vay sử dụng tiền vay nhằm vào các mục đích không sinh lời, nguồn trả nợ độc lập với việc sử dụng tiền vay, chính vì vậy cho vay tiêu dùng có những đặc trưng và đặc thù riêng khác so với các hình thức cấp tín dụng khác thể hiện qua những đặc điểm sau:
– Quy mô mỗi khoản vay thường nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn: So với các khoản vay của tổ chức pháp nhân hoặc khoản cho vay sản xuất kinh doanh của cá nhân thì giá trị các khoản vay tiêu dùng không lớn do giá cả của các mặt hàng tiêu dùng ở mức vừa phải và có nhiều mức giá từ thấp đến cao cho người tiêu dùng lựa chọn phù hợp. Bên cạnh đó, đa phần các khách hàng vay vốn tiêu dùng đều có sự tích luỹ từ trước cho các tài sản có giá trị lớn và ngân hàng chỉ cho vay phần còn thiếu; và kể các khoản vay tiêu dùng dùng cho mục đích mua đất, mua nhà, sửa chữa nhà ở thì giá trị các khoản vay này cũng không lớn so với quy mô cho vay của ngân hàng. Tuy quy mô các khoản vay tiêu dùng nhỏ nhưng do số lượng khách hàng có nhu cầu vay tiều dùng lớn nên làm cho tổng quy mô cho vay tiêu dùng của ngân hàng lớn.
– Hoạt động CVTD thường có chi phí khá lớn: Bởi vì CVTD có quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay nhiều nên làm cho tổng quy mô cho vay tiêu dùng của ngân hàng lớn, thời gian vay tiêu dùng thường khá dài nên làm cho ngân hàng tốn chi phí quản lý khoản vay, chi phí kiểm tra khách hàng thường xuyên,…..Bên cạnh đó, dù các giá trị các khoản vay lớn hay nhỏ thì nhân viên ngân hàng cũng phải thực hiện đúng và đầy đủ quy trình quy trình cho vay nên chi phí của món vay này tương đương với chi phí của các món vay khác. Mặt khác, do các thông tin về pháp lý, tình hình tài chính, mục đích sử dụng vốn thường không đầy đủ và khó xác minh nên ngân hàng thường tốn nhiều thời gian, chi phí và nhân lực cho công tác thẩm định trước khi cho vay. Điều này làm cho cho vay tiêu dùng trở thành một trong các khoản mục chiếm chi phí cao của ngân hàng.
– Hoạt động CVTD thường có độ rủi ro cao: Hoạt động CVTD của ngân hàng chịu rủi ro liên quan đến thu nhập của người vay và khả năng kiểm soát thông tin về người vay, thông tin người vay thường ít, ngân hàng khó kiểm soát được người vay và khó thu nợ. Nguồn thu nhập để trả nợ vay của khách hàng chịu sự ảnh hưởng từ các yếu tố khách quan như: chu kì kinh tế, mất mùa, dịch bệnh,…. Nếu các yếu tố trên có biến động xấu đều ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ của ngân hàng. Các yếu tố chủ quan như tình trạng sức khỏe, khả năng trả nợ, vấn đề đạo đức,… cũng ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ vay của ngân hàng.
– Lãi suất CVTD còn khá cao so với lãi suất cho vay doanh nghiệp: Lãi suất của các khoản CVTD phần lớn điều cao hơn các khoản cho vay khác của ngân hàng như các khoản vay của doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ việc các khoản cho vay tiêu dùng có chi phí, rủi ro cao trong các loại cho vay của ngân hàng và có thời gian vay dài hơn nên ngân hàng phải tốn các chi phí để thu xếp vốn nên điều này làm cho các khoản vay tiêu dùng thường có lãi suất cao. Cho vay tiêu dùng thường nhạy cảm theo chu kỳ, tăng lên khi nền kinh tế mở rộng và giảm xuống khi nền kinh tế suy thoái. Bên cạnh đó, lãi suất CVTD thường cứng nhắc và ít thay đổi trong thời gian vay.
– Khó kiểm soát được dòng tiền sử dụng và trả nợ vay của khách hàng:
Dòng tiền đi vào dùng để trả nợ vay của khách hàng vay tiêu dùng là từ nguồn thu nhập là chính, còn dòng tiền đi ra là dòng tiền vay vốn từ ngân hàng, hai dòng tiền này không có sự liên quan đến nhau và ngân hàng khó kiểm soát được dòng tiền của khách hàng. Việc khó kiểm soát này ảnh hưởng đến việc thu nợ vay của khách hàng và kiểm soát việc sử dụng vốn đúng mục đích của khách hàng.
– Chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao: Những thông tin về nghệ nghiệp, thu nhập, tình trạng sức khỏe điều do khách hàng tự cung cấp do vậy thường mang tính chủ quan, một chiều, không được kiểm soát, kiểm toán như đối với của khách hàng doanh nghiệp và do đó có thể không chính xác, tiềm ần rủi ro cho ngân hàng. Chính vì vậy, ngân hàng cần phải xác minh các thông tin trên một cách đầy đủ trước khi quyết định cho vay.
1.1.3. Phân loại cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng có thể được phân chia thành nhiều hình thức khác nhau dựa trên cơ sở là đặc điểm của cho vay tiêu dùng kết hợp với các sản phẩm, hình thức cho vay hiện nay của ngân hàng thương mại. Chúng ta có thể phân loại cho vay tiêu dùng theo một số phương thức chủ yếu sau:
a. Căn cứ vào mục đích vay vốn
– Cho vay tiêu dùng cư trú: Là khoản vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua, xây dựng, cải tạo nhà ở cho khách hàng. Đặc điểm của những khoản vay này là quy mô thường lớn và thời gian vay dài. Gắn với khoản vay này ngân hàng điều yêu cầu có tài sản đảm bảo bởi mức độ rủi ro của ngân hàng đối với khoản vay này tương đối cao.
– Cho vay tiêu dùng phi cư trú: Là khoản vay nhằm tài trợ cho nhu cầu cải thiện đời sống như mua sắm phương tiện, đồ dùng, du lịch, học hành, y tế,…. Đặc điểm của những khoản vay này là quy mô nhỏ và thời gian vay ngắn. Mức độ rủi ro của khoản vay này đối với ngân hàng là thấp hơn so với cho vay tiêu dùng cư trú.
b. Căn cứ vào phương thức hoàn trả
– Cho vay tiêu dùng trả góp: Là hình thức cho vay trong đó người đi vay trả nợ (gồm số tiền gốc và lãi) cho Ngân hàng nhiều lần theo những kì hạn nhất định trong thời hạn cho vay. Theo Nguyễn Thị Mùi (2005) thì “Loại cho vay này thường được áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập định kỳ của người đi vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay”. Thông thường đây là những khoản vay có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài. Đây là hình thức cho vay chiếm tỷ trong cao trong doanh số CVTD của NHTM.
– Cho vay tiêu dùng phi trả góp: Là hình thức cho vay trong đó người vay thanh toán nợ vay bao gồm gốc và lãi cho ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn. Thường thì các khoản vay tiêu dùng này chỉ được cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn vay không dài. Hình thức cho vay này giúp ngân hàng tiết kiệm được thời gian, chi phí quản lý và thu nợ.
– Cho vay tuần hoàn: Là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo Nguyễn Thị Mùi (2005) thì “Trong thời hạn tín dụng được thoả thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kì, khách hàng được Ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kì một cách tuần hoàn theo một hạn mức tín dụng”. Hình thức phổ biến của cho vay tuần hoàn này là: Thẻ tín dụng và Thấu chi tài khoản thanh toán.
c. Căn cứ vào thời gian vay vốn
– Cho vay ngắn hạn: cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 năm. Khoản vay tiêu dùng này thường có giá trị nhỏ, phục vụ cho các nhu cầu phi cư trú như: như mua sắm phương tiện, đồ dùng, du lịch, y tế,…. Mức độ rủi ro của khoản vay này đối với ngân hàng là thấp hơn so với cho vay trung – dài hạn.
– Cho vay trung – dài hạn: cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 năm và tối đa 05 năm, cho vay dài hạn là các khoản cho vay có thời hạn cho vay trên 05 năm. Khoản vay tiêu dùng này thường có giá trị lớn, phục vụ cho các nhu cầu cư trú như: mua đất, mua nhà, xây dựng hoặc sửa chữa nhà ở. Mức độ rủi ro của khoản vay này đối với ngân hàng là khá cao.
- Căn cứ vào hình thức bảo đảm tiền vay
– Cho vay tiêu dùng có đảm bảo bằng tài sản: Theo Nguyễn Thị Mùi (2005) thì hình thức này được hiểu như sau: “Cho vay có bảo đảm là việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Trong trường hợp này tài sản bảo đảm tiền vay là tài sản của khách hàng vay, của bên bảo lãnh để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bao gồm tài sản thuộc quyền sở hữu, giá trị quyền sử dụng đất của khách hàng vay, của bên bảo lãnh; tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng của khách hàng vay, của bên bảo lãnh; tài sản hình thành từ vốn vay”. Tài sản đảm bảo được xem như nguồn trả nợ thứ hai trong trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng hoặc không còn khả năng trả nợ thì ngân hàng sẽ xử lý tài sản để thu hồi vốn.
– Cho vay dùng không có đảm bảo bằng tài sản: Theo Nguyễn Thị Mùi (2005) thì hình thức này được hiểu là: “ Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản là việc tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc không có bảo lãnh của người thứ ba. Ngân hàng cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng để xem xét cho vay”. Loại hình cho vay này thường được cấp cho các khách hàng có uy tín, có quan hệ tín dụng hay tiền gửi lâu dài với ngân hàng, tình hình tài chính vững mạnh, minh bạch.
- Căn cứ vào nguồn gốc khoản vay
– Cho vay tiêu dùng gián tiếp: Cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá dịch vụ cho người tiêu dùng. Ngân hàng và công ty bán lẻ kí kết hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp đồng, Ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại hình tài sản bán chịu… Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ và Người tiêu dùng sẽ thanh toán tiền trả góp cho Ngân hàng. Hình thức này có ưu điểm là: cho phép Ngân hàng dễ tăng doanh số cho vay tiêu dùng, giúp Ngân hàng giảm được chi phí trong cho vay và giúp ngân hàng mở rộng các mối quan hệ,…. Bên cạnh đó, nó cũng có những nhược điểm do ngân hàng không tiếp xúc và làm việc trực tiếp với khách hàng, không tiến hành thẩm định đối với từng khách hàng,.. điều này có thể dẫn đến rủi ro khi cho vay.
– Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Cho vay tiêu dùng trực tiếp là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng tiếp xúc trực tiếp và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ khách hàng vay. So với cho vay tiêu dùng gián tiếp, hình thức này có một số ưu điểm là: Hình thức này khá linh hoạt và đảm bảo an toàn cho ngân hàng vì ngân hàng được trực tiếp làm việc với khách hàng, thẩm định và đưa ra quyết định về việc cho vay, bên cạnh đó Ngân hàng có thể giới thiệu thêm các dịch vụ khác liên quan mà không phải thông qua trung gian là các công ty bán lẻ.
1.1.4. Vai trò của cho vay tiêu dùng
Thực tế hiện nay đã cho thấy CVTD đóng vai trò quan trọng mang lại nguồn lợi ích rất lớn cho Ngân hàng, cho nền kinh tế và giúp cho khách hàng thỏa mãn được nhu cầu tiêu dùng của mình. Cụ thể như sau:
– Đối với Ngân hàng thương mại: Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động kinh doanh chủ yếu tạo ra nguồn lợi nhuận cho ngân hàng, giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Trong đó, cho vay tiêu dùng giúp cho ngân hàng đa dạng hóa lĩnh vực cho vay, tăng nguồn thu nhập và phân tán rủi ro. Vì giá trị của mỗi khoản vay khá nhỏ, số lượng khoản vay nhiều nên điều này cũng giúp ngân hàng phân tán được rủi ro so với việc cho vay các khách hàng pháp nhân với giá trị các khoản vay của khách hàng pháp nhân thường lớn. Khoản lãi suất mà cho vay tiêu dùng mang lại khá cao, vì vậy khoản lợi nhuận mà ngân hàng thu được từ hoạt động này là không nhỏ. Bên cạnh đó, việc tiến hành mở rộng, nâng cao chất lượng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng giúp ngân hàng tạo ra một kênh marketing hiệu quả, mở rộng thêm nhiều mối quan hệ và thu hút được thêm nhiều khách hàng. Hoạt động cho vay tiêu dùng sẽ giúp ngân hàng dễ dàng tiếp cận và huy động vốn tiền gửi từ dân cư, khách hàng thường có suy nghĩ vay tiền ở đâu thì gửi tiền tiết kiệm tại đó và ngược lại để thuận tiện cho việc giao dịch. Theo đó, khi khách hàng sử dụng dịch vụ nào đó của ngân hàng và nếu họ cảm thấy hài lòng thì họ hoàn toàn có thể tiếp tục sử dụng các dịch vụ khác và tính truyền thông trong dân cư khá cao, nếu ngân hàng làm tốt việc cho vay thì có thể thông qua đó hoàn quảng bá về chính ngân hàng mình đồng thời thu hút thêm nhiều khách hàng. So song với việc cung cấp sản phẩm cho vay tiêu dùng thì Ngân hàng có thể kết hợp “bán” thêm nhiều sản phẩm, dịch vụ khác cho khách hàng biết đến và sử dụng như: thẻ, dịch vụ chuyển tiền, Internet Banking, Mobile Banking,… Một khách hàng có thể có rất nhiều nhu cầu tuy nhiên không phải ngân hàng nào cũng khai thác và thỏa mãn được tất cả các nhu cầu tiềm năng đó. Chính vì vậy, các NHTM đang có những chính sách ưu đãi hợp lý để khuyến khích khách hàng vay sử dụng thêm các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng mình.
– Đối với khách hàng vay vốn: CVTD đã giúp thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của người dân. Trên thực tế, có một số khoản chi tiêu thiết yếu cho cuộc sống cần phải đáp ứng như mua nhà ở, sửa chữa nhà ở, mua sắm vật dụng gia đình, phương tiện đi lại,… nhưng tình hình tài chính tích lũy không đáp ứng đủ nên cho vay tiêu dùng đã một phần đáp ứng được các nhu cầu đó của khách hàng. CVTD đã giúp cải thiện cuộc sống ngay cả khi tình hình tài chính của khách hàng chưa cho phép. Khi nhu cầu cuộc sống được đáp ứng và cải thiện thì người dân sẽ được thỏa mãn, tái tạo sức lao động, kích thích người dân làm việc tốt hơn. CVTD giúp cho khách hàng vay vốn có cơ hội để làm quen và tiếp cận được với nhiều sản phẩm dịch vụ hơn nữa thông qua việc ngân hàng kết hợp “bán” thêm nhiều sản phẩm, dịch vụ khác cho khách hàng biết đến và sử dụng như: thẻ, dịch vụ chuyển tiền, Internet Banking, Mobile Banking,… điều nay làm cho khách hàng tiếp cận được với các dịch vụ CSKH tốt hơn của ngân hàng, giúp khách hàng vay có thể tiếp cận với các công nghệ hiện đại để bắt kịp với những thay đổi của xã hội.
– Đối với nền kinh tế: Ngân hàng đóng vai trò là trung gian tài chính của nền kinh tế. Là cầu nối giữa người thừa tiền và người thiếu tiền. Nhiệm vụ của ngân hàng là thu hút nguồn vốn từ người thừa vốn bằng các hoạt động huy động vốn và cho người có nhu cầu vay vốn thông qua hoạt động cho vay, lúc này, nguồn vốn dư thừa sẽ không bị ứ đọng và kịp thời cung cấp vốn cho các nguồn có nhu cầu về vốn. Làm cho toàn bộ quá trình sản xuất, trao đối,phân phối, tiêu dùng diễn ra hiệu quả hơn. Như vậy việc mở rộng cho vay đối với khách hàng cá nhân nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng giúp ngân hàng thương mại thực hiện vai trò quan trọng đó là chính sách đổi mới nền kinh tế đất nước. Cho vay còn được xem là công cụ điều tiết lưu thông tiền tệ của NHNN. Cho vay tiêu dùng góp phần kích cầu tiêu dùng, tao điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cho vay tiêu dùng giúp đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, nhu cầu của người dân tăng lên thì lượng hàng hóa dịch vụ cung ứng ra thị trường cũng phải tăng lên để đáp ứng kịp thời nhu cầu này. Các đơn vị doanh nghiệp sẽ phải gia tăng sản xuất, cải tiến thiết bị, cải tiến mẫu mã hàng hóa, từ đó tạo ra nhiều công an việc làm. Đồng thời, gia tăng cạnh tranh trên thị trường giữa các doanh nghiệp sản xuất về mẫu mã, giá cả tạo ra nhiều sự lựa chọn cho khách hàng điều này làm cho nền kinh tế phát triển và năng động hơn. Cho vay tiêu dùng đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của người dân, làm cho đời sống của người dân tốt hơn, điều này làm cho xã hội phát triển lành mạnh hơn – là tiền đề tốt để cho nền kinh tế phát triển.
1.2. HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Mục tiêu của hoạt động cho vay tiêu dùng
Cho vay chính là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng tiền từ ngân hàng sang khách hàng vay và sau một thời gian nhất định sẽ được hoàn trả với một lượng lớn hơn giá trị ban đầu, như vây Ngân hàng sẽ thu được lợi nhuận từ việc cho vay và lợi nhuận này có được phải dựa trên cơ sở là khách hàng trả nợ vay đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng. Qua đây ta thấy được mục tiêu của hoạt động CVTD cũng phải tuân thủ mục tiêu chung của hoạt động cho vay, mục tiêu đầu tiên đó chính là phải hướng đến làm như thế nào để Ngân hàng kiếm được lợi nhuận, mục tiêu thứ hai là Ngân hàng thu được lợi nhuận nhưng phải kiểm soát được rủi ro trong cho vay không để bị mất vốn. Chính vì vậy, tùy thuộc vào từng thời kỳ mà hoạt động CVTD được ngân hàng xác định mục tiêu trọng tâm là tối đa hóa lợi nhuận hay là kiểm soát tốt rủi ro và từ đó có thể được cụ thể hóa thành những mục tiêu sau:
– Tăng trưởng quy mô CVTD: Đây là mục tiêu chủ yếu của mỗi Ngân hàng, tăng trường quy mô cho vay nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Quy mô cho vay tiêu dùng thường được đánh giá qua các chỉ tiêu sau: tốc độ tăng của số lượng khách hàng vay tiêu dùng, tốc độ tăng của dư nợ CVTD, tỷ lệ dư nợ CVTD/tổng dư nợ cho vay.
– Mở rộng thị phần CVTD: Chỉ tiêu này thể hiện sự tương quan so sánh quy mô CVTD với các ngân hàng khác, tỷ trọng CVTD của ngân hàng trong tổng CVTD trên địa bàn. Chỉ tiêu này thể hiện khả năng chiếm lĩnh thị trường CVTD trên địa bàn của ngân hàng đang ở mức cao hay thấp, từ đó ngân hàng sẽ có những chiến lược kinh doanh phù hợp.
– Nâng cao chất lượng dịch vụ CVTD: Chất lượng dịch vụ CVTD là yếu tố quan trọng để làm tăng sự hài lòng của khách hàng, chính vì vậy yếu tố này vô cùng quan trọng. Song song với việc tăng trưởng quy mô, phát triển thị phần CVTD thì ngân hàng phải luôn chú trọng đi kèm với chất lượng dịch vụ nhằm mục đích thông qua việc nâng cao chất lượng dịch vụ đồng thời cũng nâng cao hình ảnh, uy tín, thương hiệu, qua đó tạo ra sự gắn kết lâu dài giữa khách hàng với ngân hàng, quyết định lợi ích lâu dài cho ngân hàng. Ngân hàng cần tạo ra các quy trình cho vay hợp lý bên cạnh đó tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, tăng cường tính bảo mật nhằm ngân cao tiện ích cho khách hàng bên cạnh đó cũng giảm lượng công việc thủ công cho nhân viên ngân hàng.
– Kiểm soát rủi ro: Hoạt động cho vay của ngân hàng nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng điều gắn liền với rủi ro. Gia tăng quy mô cho vay thì đi kèm với nó cũng là gia tăng rủi ro. Chính vì vậy cần phải kiểm soát được rủi ro trong giới hạn cho phép thì sẽ đảm bảo được hoạt động CVTD có hiệu quả, an toàn. Để làm được điều này, ngân hàng cần phải tăng cường việc kiểm soát trước, trong và sau cho vay, thẩm định khách hàng chi tiết, cụ thể và có những phương án xử lý kịp thời tránh xảy ra việc chuyển nhóm nợ xấu. Kiểm soát rủi ro CVTD được đánh giá thông qua chỉ tiêu nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu CVTD của ngân hàng.
– Gia tăng thu nhập từ CVTD: gia tăng thu nhập chính là mục tiêu cuối cùng của cho vay nói chung và CVTD nói riêng. Thu nhập của hoạt động CVTD phụ thuộc vào quy mô cho vay và lãi suất cho vay, quy mô cho vay lớn, lãi suất cho vay tăng thì thu nhập từ CVTD mang lại cho ngân hàng tăng và ngược lại.
Tuy nhiên, không phải lúc nào ngân hàng cũng đạt được toàn bộ các mục tiêu mà mình đã đề ra mà ngân hàng phải có sự lựa chọn và chấp nhận khi hoàn thành được mục tiêu này thì mục tiêu khác không thể hoàn thành được. Tùy thuộc vào mỗi thời kỳ mà ngân sẽ lưa chọn mục tiêu cho phù hợp và đảm bảo an toàn cho ngân hàng.
1.2.2. Những nội dung của hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại
Để nghiên cứu hoạt động cho CVTD tại NHTM có thể được tiếp cận theo nhiều khía cạnh khác nhau như theo tiến trình quản trị bao gồm 3 bước là hoạch định kế hoạch, thực thi giải pháp và kiểm tra đánh giá hoặc theo tiến trình marketting với những đặc trưng theo chính sách 7P. Tác giả nhận thấy tiếp cận hoạt động CVTD tại NHTM theo tiến trình quản trị sẽ giúp phân tích, đánh giá rõ hơn toàn bộ hoạt động CVTD tại NHTM, các giải pháp mà ngân hàng đã triển khai để phát triển hoạt động CVTD chứ không chỉ gói gọn trong các chính sách Marketing của ngân hàng. Các nội dung của hoạt động CVTD tại NHTM bao gồm:
- Hoạch định kế hoạch
Kế hoạch trong hoạt động CVTD của NHTM bao gồm việc đưa ra các mục tiêu cụ thể mà ngân hàng hướng đến, các chích sách trong cho vay và các giải pháp thực hiện kế hoạch đã đưa ra. Kế hoạch trong CVTD có thể bao gồm các nội dung sau: quy mô cho vay, thị phần cho vay, hợp lý hóa cơ cấu cho vay, kiểm soát rủi tro trong cho vay, nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay,…
- Triển khai thực hiện:
Các giải pháp mà các NHTM triển khai bao gồm:
- Nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu nhu cầu của thị trường nhằm xác định nhu cầu của thị trường và giúp ngân hàng thay đổi phương hướng hoạt động của ngân hàng sao cho phù hợp với sự thay đổi của thị trường. Ngân hàng tiến hành nghiên cứu thị trường và xác định thì trường mục tiêu mà ngân hàng hướng đến. Thị trường nghiên cứu của ngân hàng bao gồm thị trường ngân hàng đang hoạt động và thị trường có dự định xâm nhập. Bao gồm các nôị dung sau:
– Nghiên cứu khách hàng: gồm việc nghiên cứu tập tính, thói quen, nhu cầu của khách hàng đối với dịch vụ CVTD của ngân hàng, tính trung thành đối với dịch CVTD mà ngân hàng cung ứng. Trên cơ sở đó ngân hàng nâng cáo khả năng thích ứng của dịch vụ trên thị trường nhằm tăng cường thu hút khách hàng. Bên cạnh đó, Ngân hàng cần phân loại khách hàng đang vay vốn và sẽ vay vốn tại ngân hàng.
– Nghiên cứu các yếu tố tác động đến thị trường: các yếu tố tác động đến thị trường ngân hàng đó là: Môi trường dân cư bao gồm các thông tin về dân cư, sự phân bố địa lý, mật độ dân số, độ tuổi, thu nhập, trình độ văn hóa,.. các thông tin này giúp ngân hàng xác định được cơ cấu nhu cầu từng thời kỳ và dự đoán được những biến động trong tương lai; Môi trường kinh tế bao gồm các thông tin tác động đến sức mua của khách hàng và nhu cầu tiêu dùng như: sức mua của khách hàng phù hợp với nhu cầu hiện tại, giá cả, số tiền tiết kiệm, khả năng vay nợ, suy thoái kinh tế, lạm phát,… thay đổi điều ảnh hưởng đến sức mua của người tiêu dùng qua đó giúp ngân hàng đưa ra những chính sách CVTD hợp lý; Môi trường kỹ thuật, công nghệ đòi hỏi các ngân hàng phải nắm bắt những thay đổi của khoa học công nghệ để áp dụng những thành tự khoa học công nghệ mới vào hoạt động của ngân hàng nhằm phục vụ khách hàng tốt hơn; môi trường chính trị; môi trường văn hóa; môi trường tự nhiên.
– Nghiên cứu khả năng cung ứng dịch vụ CVTD của ngân hàng và của đối thủ cạnh tranh. Phương pháp này giúp ngân hàng bên cạnh việc hiểu rõ khách hàng vay của mình còn có thể hiểu rõ các đối thủ cạnh tranh trên thị trường để đưa ra giải pháp, chính sách phù hợp. Nội dung nghiên cứu gồm: Nghiên cứu số lượng, cơ cấu sản phẩm CVTD mà ngân hàng cung ứng trên thị trường; nghiên cứu ưu thế, các sản phẩm của các ngân hàng.
Các phương pháp nghiên cứu thị trường ngân hàng có thế sử dụng là: Phương pháp điều tra khảo sát: Phỏng vấn trực tiếp, Khảo sát trực tiếp, Khảo sát qua thư điện tử, Khảo sát qua điện thoại, Khảo sát trực tuyến; Phương pháp quan sát hành vi; Phương pháp phỏng vấn nhóm.
- Xác định sản phẩm và làm cho các sản phẩm của ngân hàng có đặc thù riêng phù hợp với nhu cầu thị trường:
Ngân hàng cần hoàn thiện các sản phẩm hiện có của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, bênh cạnh đó các sản phẩm này cũng phải được ngân hàng tạo thương hiệu, bóng dáng riêng để không bị nhầm lẫn với các sản phẩm của ngân hàng khác. Hiện nay, nhu cầu vay tiêu dùng rất đa dạng, phong phú chứ không phải một số sản phẩm vay tiêu dùng truyền thống hiện có của ngân hàng điều này đỏi hỏi ngân hàng phải đa dạng hóa các sản phẩm CVTD của mình để kịp thời đáp ứng nhu cầu của thị trường. Ngân hàng có các sản phẩm vay tiêu dùng phong phú, phù hợp với nhu cầu thì sẽ thu hút được nhiều khách hàng, giúp cho thị trường cho vay của ngân hàng ngày càng phát triển, điều này cũng tạo lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng trên thị trường.
Ngân hàng cần phải thường xuyên thu thập và phân tích các thông tin từ phía khách hàng về chất lượng sản phẩm CVTD mà ngân hàng cung ứng và thông tin về các sản phẩm CVTD từ các ngân hàng khác để có sự cải tiến sản phẩm, đưa ra các sản phẩm tốt nhất, phù hợp nhất đến với khách hàng.
Theo Phan Thị Thu Hà (2007) thì: Sản phẩm dịch vụ ngân hàng chialàm 2 loại: Dịch vụ cơ bản – đây là dịch vụ chính, nếu thay đổi hay loại bỏ dịch vụ cơ bản thì coi như thay đổi ngành nghề. Đó là 3 nghiệp vụ cơ bản của nghề ngân hàng (nghiệp vụ huy động vốn – nghiệp vụ sử dụng vốn – nghiệp vụ thanh toán) và Dịch vụ ngoại vi – đây là dịch vụ mang tính bổ trợ, bổ sung làm tăng thêm giá trị dịch vụ cơ bản và có thể tạo ra sự khác biệt giữa các ngân hàng. Dịch vụ ngoại vi bao gồm các dịch vụ tư vấn cho khách, dịch vụ thông tin theo nhu cầu, dịch vụ két,… Có những dịch vụ ngoại vi không trực tiếp sinh lời, song có tác dụng gây kích thích sự chú ý, thu hút khách hàng, đặt ngân hàng vào sự tương quan so sánh với đối thủ cạnh tranh và làm tăng giá trị cung ứng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng đối với dịch vụ cơ bản. Một điều cần chú ý với dịch vụ ngân hàng là khách hàng không phân biệt đâu là dịch vụ cơ bản đâu là dịch vụ ngoại vi. Họ có phản ứng với tổng thể dịch vụ ngân hàng. Bởi vậy, các ngân hàng cần phải hết sức chú ý đến chất lượng của tổng thể dịch vụ trong cung ứng sản phẩm.
Qua đây, ta thấy được bên cạnh việc phát triển hay đa dạng hóa các sản phầm CVTD tại ngân hàng thì ngân hàng cần song song phát triển tốt các sản phẩm dịch vụ bổ trợ khác để tạo ra sự khác biệt góp phần thõa mãn hơn nhu cầu của khách hàng.
- Chính sách về lãi suất và phí dịch vụ đảm bảo tính cạnh tranh
Ngân hàng phải đảm bảo được rằng chính sách về lãi suất và phí dịch vụ phải có tính cạnh tranh
Theo Nguyễn Thị Mùi (2005) thì “ Giá cả sản phẩm ngân hàng là số tiền (lãi) mà khách hàng hay ngân hàng phải trả để được quyền sử dụng một số vốn trong một thời gian nhất định hoặc số tiền (phí) mà khách hàng phải trả khi sử dụng các dịch vụ do ngân hàng cung cấp”. Do đó, giá của CVTD thể hiện qua lãi suất và phí liên quan. Cụ thể như sau:
– Lãi suất CVTD: Lãi suất cho vay là điều mà khách hàng quan tâm hàng đầu khi cho vay và cũng được ngân hàng chú ý vì đây là doanh thu của khách hàng. Chính vì vậy, ngân hàng cần có những chính sách về lãi suất CVTD hợp lý nhằm thu hút khách hàng nhưng phải phù hợp với chi phí đầu vào và định hướng chiến lược trong từng thời kì của ngân hàng. Ngân hàng cần phải thỏa thuận với khách hàng về nội dung thỏa thuận về lãi suất cho vay bao gồm mức lãi suất cho vay, lãi suất quá hạn, lãi suất chậm trả và phương pháp tính lãi. Mức lãi suất được quy định theo từng kì (ngắn, trung, dài hạn), từng loại khách hàng,… Chính sách về lãi suất có thể linh hoạt nhưng vẫn giới hạn trong biểu lãi suất mà Hội sở chính ban hành để CBTD thông qua việc chấm điểm để áp dụng mức lãi suất phù hợp cho từng đối tượng khách hàng. Còn các nội dung như: lãi suất quá hạn, lãi suất chậm trả và phương pháp tính lãi thông thường được áp dụng theo quy định của ngân hàng nên không thể thay đổi được. Thông thường lãi suất có thể cố định trong suốt thời gian vay (lãi suất cố định) hoặc biến đổi theo từng thời kỳ (lãi suất thả nổi) tùy theo quy chế và thỏa thuận với từng khách hàng để ngân hàng áp dụng. Mức lãi suất là yếu tố hàng đầu để khách hàng lựa chọn vay vốn tại ngân hàng, nên ngân hàng phải có những chính sách về lãi suất phù hợp để thu hút khách hàng.
– Phí liên quan đến CVTD: Các loại phí liên quan đến CVTD được ban hành theo đúng quy định của Ngân hàng nhà nước bao gồm các loại phí sau: Phí trả nợ trước hạn trong trường hợp khách hàng trả nợ trước hạn; Phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng; Phí thu xếp cho vay; Phí cam kết rút vốn kể từ thời điểm HĐTD có hiệu lực đến ngày giải ngân vốn vay lần đầu; Các loại phí khác liên quan đến hoạt động cho vay được quy định cụ thể tại văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Căn cứ biểu phí ban hành ngân hàng nơi cho vay và khách hàng thỏa thuận các loại phí áp dụng. Hiện nay, các NHTM áp dụng rất nhiều các loại phí phạt để hạn chế ngân hàng trả nợ vay trước hạn, các mức phí này khá cao cho nên đây là vấn đề gây lo ngại cho khách hàng khi vay vốn. Ngân hàng cần có những quy đinh về mức phí cụ thể và phải cần thông báo, thỏa thuận rõ với khách hàng trước khi kí kết HĐTD.
- Quy trình CVTD
Để đảm bảo tính an toàn và chuyên nghiệp trong hoạt động các ngân hàng đã xây dựng các quy trình cho vay từ trình tự thực hiện, nhân sự phục vụ, thời gian tác nghiệp,… và được chuẩn hóa một cách chuyên nghiệp và bài bản thành quy trình. Việc quy định một quy trình cho vay và không ngừng hoàn thiện nó rất quang trọng đối với ngân hàng thương mại. Quy trình cho vay hợp lý sẽ giúp ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủ ro tín dụng. Quy trình cho vay có tác dụng làm cơ sở cho việc quản lý phân định quyền, trách nhiệm cho các bộ phận trong hoạt động tín dụng, làm cơ sở để tiết lập hồ sơ, thủ tục vay vốn.
Sản phẩm, dịch vụ ngân hàng sẽ được đánh giá cao khi các khâu được chuẩn hóa và được giải quyết nhanh chóng, đạt hiệu quả tốt. Do đó việc xây dựng và áp dụng những tiêu chuẩn và chuẩn hóa những quy chuẩn là điều cần thiết nhằm làm tăng hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng. So song đó, ngân hàng cần phải cải tiến, rút ngắn quy trình cho vay, đơn giản hóa thủ tục nhằm đảm bảo sự tiện lợi cho khách hàng nhưng vẫn đảm bảo an toàn toàn tuyệt đối trong hoạt động cho vay của ngân hàng.
- Phát triển kênh phân phối sản phẩm:
Phân phối sản phẩm CVTD là việc đưa các sản phẩm CVTD đến người tiêu dùng, do đó cần có hệ thống các kênh phân phối sản phẩm phù hợp với khách hàng, địa điểm, thời gian cung ứng sản phẩm cũng như chất lượng phục vụ. Hiện nay có các kênh phân phối sau: kênh phân phối truyền thống bao gồm chi nhánh và các ngân hàng đại lý; Kênh phân phối hiện đại bao gồm chi nhánh tự động hóa và ngân hàng điện tử.
- Chú trọng Marketing và truyền thông:
Quảng bá và truyền thông được xem là quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh nói chung và tại ngân hàng nói riêng. Truyền thông, quảng bá bao gồm các hoạt động chủ yếu như sau:
– Quảng cáo: là việc việc sử dụng các phương tiện để tuyên truyền các thông tin về sản phẩm CVTD hoặc các hoạt động khác cho các khách hàng được biết. Các kênh quảng cáo cần được đa dạng như: các bài viết trên báo, tạp chí, internet, các ấn phẩm, tờ rơi,…
– Hoạt động giao tiếp: đây là các hoạt động được thực hiện trực tiếp giữa cán bộ ngân hàng và khách hàng qua các buổi gặp gỡ nói chuyện, đối thoại, điện thoại,… Để đạt được hiệu quả trong hoạt động này, các nhân viên ngân hàng đóng vai trò quan trọng. Nhân viên ngân hàng cần xác định được nhu cầu của các khách hàng, bên cạnh đó bắt buộc phải có kỹ năng giao tiếp và kiến thức nghiệp vụ để giải thích và khuyến khích khách hàng tiếp cận và sử dụng các sản phẩm CVTD của ngân hàng.
Hoạt động truyền thông của ngân hàng cần được kết hợp các hoạt động nêu trên để giao tiếp với khách hàng, hoạt động này cần phải duy trì thường xuyên và liên tục
- Kiểm soát rủi ro
Tín dụng nói chung và cho vay nói riêng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của ngân hàng thương mại đồng thời cũng là nghiệp vụ có nguy cơ cao nhất của ngân hàng. Song, không không có cách gì để loại trừ rủi ro tín dụng hoàn toàn mà phải quản lí cẩn thận để giảm thiểu thấp nhất rủi ro xảy ra. Muốn có được những giải pháp hạn chế tối đa xảy ra rủi ro thì các ngân hàng cần phải nắm được các các nguyên ngân cơ bản gây nên rủi ro. Nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng thường do: Khách hàng vay vốn lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính nên không có đủ khả năng thanh toán nợ vay cho ngân hàng; Cán bộ ngân hàng bất cập về trình độ hoặc vi phạm về đạo đức dẫn đến làm khống hồ sơ để cho vay, cho vay không đúng mục đích, thẩm định phương án vay vốn không chính xác; giá trị tài sản bảo đảm không đáp ứng được yêu cầu thu nợ của ngân hàng; Ngân hàng quá chú trọng về mặt lợi tức, đặt kì vọng cao hơn việc cho vay các khoản vay lành mạnh; Các nguyên nhân khác như: người vay cố ý không trả nợ, hoặc các lý do bất khả kháng như người vay chết hoặc mất tích,…Do vậy, để có thể hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất, các ngân hàng có thể cân nhắc áp dụng các biên pháp quản lý rủi ro như sau:
– Sàn lọc, lựa chon khách hàng: Ngân hàng cần lựa chon những khách hàng vay có triển vọng tốt ra khỏi những người vay có tiềm ẩn rủi ro bằng cách tập hợp các thông tin của người vay như: tuổi tác, nghề nghiệp, thu nhập, tài sản, tình trạng hôn nhân, những khoản tiền đã vay,…, trên cơ sở đó tiến hành chấm điểm tín dụng, đáng giá xếp loại khách hàng có triển vọng tốt, xấu để cho vay.
– Theo dõi, giám sát việc sử dụng vốn vay của khách hàng: Nhằm hạn chế việc khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích vay đã cam kết dẫn đến rủi ro, sau khi giải ngân vốn vay cán bộ ngân hàng cần phải thường xuyên kiểm tra đánh giá tình hình sử dụng vốn vay củ khách hàng, việc tuân thủ các điều khoản trong hợp đồng vay nếu phát hiện khách hàng không tuân thủ theo thì có thể áp dụng những biên pháp can thiệp theo như quy định trong hợp đồng vay. Điều này đỏi hỏi hợp đồng vay phải được soạn thảo đầy đủ, rõ ràng, chính xác và chặt chẽ.
– Xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng vay: Đây là một trong những nguyên lý trong việc quản lý rủi ro trong cho vay của ngân hàng, đây là cách để ngân hàng thu thập được thông tin của khách hàng đồng thời việc quản lý rủi ro cũng trở nên thuận lợi và có hiệu quả hơn.
– Bảo đảm tiền vay: Biện pháp bảo đảm hiện nay là tài sản thế chấp. Nếu trường hợp khách hàng không trả được nợ vay cho ngân hàng thì đây chính là nguồn trả nợ thứ 2 của ngân hàng.
- Các hoạt động khác
– Về chính sách chăm sóc khách hàng: cần có những chính sách chăm sóc khách hàng phù hợp để giữ những khách hàng hiện tại như: cập nhật, giới thiệu những sản phầm dịch vụ hiện tại của ngân hàng, trả lời nhanh chóng các khiếu nại, vướng mắc của khách hàng, tặng quà nhân dịp lễ tết,… nếu thực hiên tốt các chính sách chăm sóc khách hàng thì ngân hàng không chỉ giữ chân được cá khách hàng hiện tại mà có thể thu hút thêm được nhiều khách hàng mới.
– Về chất lượng cán bộ: ngân hàng cần đào tạo và phát triển đội ngũ nhân viên về chuyên môn nghiệp vụ, kĩ năng mềm, kĩ năng giao tiếp với khách hàng. Vì đội ngũ nhân viên chính là hình ảnh của ngân hàng, khách hàng có thể đánh giá chất lượng dịch vụ của ngân hàng có tốt hay không điều dựa vào cán bộ ngân hàng. Ngân hàng cũng cần quan tâm đến công tác tuyển dụng và lựa chọn nhân viên tốt, giữ chân được người giỏi.
– Về cơ sở vật chất, công nghệ: ngân hàng cùng cần trang bị một cơ sở vật chất tốt, trang bị đầy đủ thiết bị máy móc và không ngừng nâng cao công nghệ. Việc áp dụng khoa học công nghệ hiện đại nhằm rút ngắn thời gian chờ đợi của khách hàng, đồng thời nâng cao hiệu quả của ngân viên ngân hàng. Bên cạnh đó, cơ sở vật cũng chất giúp ngân hàng tạo lập hình ảnh, tạo sự tin tưởng cho khách hàng.
- Kiểm tra đánh giá:
Ngân hàng cần phân tích, kiểm tra đánh giá định kỳ kết quả thực tế của hoạt động CVTD đang triển khai để đánh giá xem đã đạt được mục tiêu đã đề ra hay chưa, nếu chưa thì xác định được nguyên nhân của những hạn chế qua đó giúp điều chỉnh lại chính sách cho vay, có các biện pháp sửa chữa điều chỉnh sai sót kịp thời.
1.2.3. Tiêu chí đánh giá kết quả của hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại
a. Quy mô cho vay tiêu dùng
Quy mô CVTD được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
– Tốc độ tăng trưởng dư nợ CVTD: Dư nợ CVTD là giá trị các khoản vay tiêu dùng tại một thời điểm nhất định của ngân hàng, chỉ tiêu này phản ánh quy mô CVTD của ngân hàng. Tốc độ tăng trưởng dư nợ CVTD cho thấy sự tăng lên hay thu hẹp của quy mô CVTD qua các thời điểm. Khi tốc độ tăng trưởng dư nợ CVTD càng cao và có xu hướng tăng qua các thời điểm thì cho thấy quy mô cho vay tiêu dùng của ngân hàng đang có xu hướng mở rộng và ngược lại
– Tỷ lệ dư nợ CVTD/Tổng dư nợ cho vay: Chỉ tiêu này cho biết dư nợ CVTD chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ tín dụng. Khi so sánh các tiêu chí này ở các thời kì khác nhau thì cho thấy được sự thay đổi kết cấu dư nơ cho vay tiêu dùng trong tổng dư nợ cho vay. Nếu chỉ tiêu này có xu hướng tăng qua từng thời kỳ thì cho thấy ngân hàng đang tăng trưởng tốt về quy mô CVTD và cho thấy ngân hàng đã chú ý đến tăng trưởng CVTD. Dựa vào chỉ tiêu này, ta có thể đánh giá được tình hình hoạt động CVTD của ngân hàng.
– Tốc độ tăng trưởng khách hàng CVTD: Số lượng khách hàng ở đây chỉ tổng số khách hàng hàng vay tiêu dùng tại khách hàng ở 1 thời điểm nhất định. Số lượng khách hàng thể hiện thông qua số lượng khoản vay tiêu dùng tại ngân hàng. Thông qua việc so sánh số lượng khách hàng tại 2 thời điểm khác nhau cho thấy sự tăng trưởng hay giảm sút quy mô CVTD của ngân hàng.
b. Mức độ kiểm soát rủi ro trong CVTD
Khi đánh giá kết quả của hoạt động CVTD tại ngân hàng bên cạnh đánh giá quy mô CVTD còn cần phải kết hợp đáng giá mức độ kiểm soát rủi ro. Cho vay phải đi kèm với việc tối thiểu hóa mức độ rủi ro thì như vậy các khoản CVTD mới được đánh giá là an toàn. Mức độ kiểm soát rủi ro trong CVTD được thể hiện qua hai chỉ tiêu chủ yếu sau:
– Nợ xấu CVTD: Nợ xấu được dùng để chỉ các khoản nợ không có khả năng thanh toán cả gốc và lãi. Thông thường, một khoản cho vay bị quá hạn từ 91 ngày trở lên được xem là một khoản nợ xấu. Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào điều khoản cụ thể của Hợp đồng tín dụng hoặc theo các chỉ tiêu đánh giá thì Ngân hàng có thể chuyển khoản nợ đó từ nhóm nợ bình thường hoặc nợ cần chú ý lên thành nợ xấu.
- Tỷ lệ nợ xấu CVTD: Chỉ tiêu này được tính bằng nợ xấu CVTD trên tổng dư nợ cho vay. Chỉ tiêu này dùng để đánh giá chất lượng CVTD của ngân hàng. Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả của cho vay càng cao và ngược lại.
- Chất lượng dịch vụ CVTD
Để đánh giá về chất lượng dịch vụ CVTD có thể thực hiện bằng hai hình thức: thực hiện khảo sát đối với khách hàng hoặc ngân hàng tự đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ CVTD của ngân hàng. Nội dung đánh giá bao gồm: Tiện ích của các sản phầm CVTD tại ngân hàng; Thời gian hoàn thành các thủ tục vay; quy trình cho vay; chính sách chăm sóc khách hàng; về thái độ, tác phong, phong cách làm việc của cán bộ ngân hàng; về cơ sở vật chất công nghệ,…
Thực hiện khảo sát đối với khách hàng bằng cách phát phiếu khảo sát đến từng khách hàng khi đến vay tiêu dùng tại ngân hàng. Trên cở sở các phiếu điều tra, Ngân hàng sẽ hệ thống lại các đánh giá về chất lượng hoạt động CVTD tại ngân hàng. Qua đó, giúp ngân hàng biết được mức độ hài lòng của khách hàng về dịch vụ CVTD của ngân hàng. Qua đó, đánh giá được mặt được và hạn chế trong hoạt động CVTD và đưa ra được các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động CVTD của ngân hàng.
Ngân hàng tự đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng bằng cách quan sát thực tế hoạt động cho vay tại ngân hàng; thông qua số liệu kinh doanh hằng năm để đánh giá những kết quả đạt được, chưa đạt được, chất lượng dịch vụ CVTD đang ở mức nào và đã đáp ứng được nhu cầu của thị trường hay chưa.
- Chênh lệch lãi suất đầu vào và lãi suất đầu ra của CVTD:
Chênh lệch lãi suất đầu vào và đầu ra được xác định bằng cách lấy lãi suất cho vay bình quân trừ đi lãi huy động bình quân tính trên tổng số vốn thực tế được sử dụng CVTD, số vốn huy động phải trừ đi một tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN.
Do nguồn vốn được huy động với nhiều với lãi suất khác nhau, và cho vay theo nhiều mức lãi suất khác, cho nên khi tính lãi suất bình quân phải tính trên nhiều mức lãi suất khác nhau để có mức lãi suất bình quân đầu vào và lãi suất bình quân đầu ra được chính xác.
Chỉ tiêu này cho thấy được mức lợi nhuận của việc cho vay mang lại cho ngân hàng. Mức chênh lệch càng cao thì cho thấy lợi nhuận mà các khoản CVTD thu về cho ngân hàng càng cao.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Cũng như các hoạt động cho vay khác của ngân hàng thương mại, hoạt CVTD tại ngân hàng cũng chịu sự tác động của các nhân tố khác nhau. Ngân hàng cần phải xem xét, phân tích kĩ các nhân tố này theo từ thời điểm để có những chính sách phù hợp nhằm phát huy những nhần nhân tố tích cực đến CVTD và hạn chế các nhân tố xấu ảnh hưởng đến hoạt động CVTD. Các nhân tố này có thể chi làm hai nhóm: Các nhân tố bên trong ngân hàng và các nhân tố bên ngoài ngân hàng cụ thể như sau:
1.3.1. Các nhân tố bên ngoài ngân hàng
a. Môi trường kinh tế: Tình hình kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh số cho vay tiêu dùng của ngân hàng. Trong nền kinh tế phát triển, ổn định, các doanh nghiệp hoạt động ổn định tạo ra nhiều công ăn việc làm, người lao động có nguồn thu nhập ổn định để đảm bảo trả nợ vay điều này làm cho nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng lên nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống hằng ngày. Ngược lại, trong một nền kinh tế kém ốn định, suy thoái hoặc lạm phát, người dân thất nghiệp hoặc công việc không ổn định, điều này làm cho thu nhập không ổn đinh nên nhu cầu vay vốn tiêu dùng giảm, khả năng trả nợ của khách hàng đang vay cũng khó khăn hơn.
- Môi trường chính trị – pháp luật: Tình hình hoạt động CVTD của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng bởi tình hình chính trị, pháp luật. Môi trường chính trị ổn định, môi trường pháp lý đồng bộ, nhất quán, cơ sở chính sách mở rộng, các thành phần kinh tế an tâm hoạt động, được hỗ trợ, tạo điều kiện phát triển sản xuất, thu nhập của người lao động tăng; ngược lại, trong môi trường chính trị không ổn định, hoạt động sản xuất, kinh doanh bị đình trệ,…tác động trực tiếp đến thu nhập, nhu cầu vay vốn và khả năng trả nợ của người dân. Bên cạnh đó, một sự thay đổi bất lợi nào đó về thể chế, chính sách sẽ tác động tới hoạt động cho vay của ngân hàng.
- Môi trường dân cư: Môi trường văn hóa – xã hội cũng tác động đến hoạt động CVTD của ngân hàng. Bao gồm các yếu tố như: kết cấu dân số, quy mô dân số, trình độ dân trí của người dân, thái độ, thói quen tiêu dùng của người dân,… Thực tế, tại khu vực tập trung đông dân cư như các thành phố, các đô thị lớn thì trình độ dân trí của người dân cao, công việc và thu nhập ổn định, mức sống cao thì nhu cầu vay tiêu dùng của người dân cao. Ngược lại, tại các vùng nông thôn, tập trung nhiều lao động chân tay, mức sống, thu nhập không cao và có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn chi tiêu thì người dân ở đây không nghĩ đến việc vay vốn để sử dụng cho các mục đích tiêu dùng. Vì vậy hoạt động CVTD của ngân hàng ở các khu vực này không cao và khó phát triển.
- Các chính sách, chủ trương của Chính phủ, Nhà nước: Chính sách của Chính phủ đối với phát triển và tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển hoạt động CVTD. Những chính sách hợp lý và định hướng kinh tế đúng đắn của Nhà nước có thể kích thích nhu cầu tiêu dùng của dân cư, qua đó tạo điều kiện cho ngân hàng phát triển hoạt động CVTD. Nếu định hướng phát triển của nhà nước kích thích phát triển nền kinh tế trong nước, thu hút nhiều vốn đầu tư từ nước ngoài, ….thông qua đó giúp nền kinh tế phát triển, đời sống người dân được cải thiện, nhu cầu về nâng cao đời sống tăng lên, điều này làm cho nhu cầu vay vốn tiêu dùng tăng lên.
- Khách hàng:
- Thu nhập của khách hàng: Mức thu nhập của người đi vay có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu đi vay của họ. Khách hàng chỉ tự tin vay vốn ngân hàng để tiêu dùng khi mà họ có nhu cầu chi tiêu cần thiết và dự kiến thu nhập trong tương lai đủ để thanh toán những khoản nợ đó. Bên cạnh đó, vấn đề thu nhập là điều kiện tiên quyết đầu tiên khi ngân hàng thẩm định và quyết định cho vay.
- Nhu cầu vay của khách hàng: Đời sống con người ngày càng phát triển và được nâng cao thì nhu cầu về hàng hóa cũng có sự khác biệt về việc tiêu dùng hàng hóa dịch vụ từ thỏa mãn nhu cầu thiết yếu đến thỏa mãn các nhu cầu cao cấp. Vấn đề đặt ra đối với các ngân hàng là phát hiện ra nhu cầu của khách hàng để có những sản phẩm cho vay phù hợp. Bên cạnh đó, nhu cầu của khách hàng chính là yếu tố quyết định các hình thức cho vay tiêu dùng của ngân hàng và là nền tảng để ngân hàng xây dựng chiến lược kinh doanh của mình.
- Trình độ văn hóa và đạo đức: Trình độ văn hóa và vấn đề đạo đức cũng có ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng. Người có trình độ và có thu nhập ổn định thì có xu hướng xem việc vay mượn là cách để mức sống được nâng cao hơn. Những người có trình độ và thu nhập thấp thường ngại vay mượn vì họ phải nợ nầng và mang áp lực trả nợ. Bên cạnh đó, vấn đề đạo đức của khách hàng vay có tác động đến hoạt động cho vay của ngân hàng, một số trường hợp ngân hàng có thế gặp phải rủi ro đạo đức trong quá trình cho vay do khách hàng vay chỉ muốn vay mà không muốn trả.
1.3.2. Các nhân tố bên trong ngân hàng
a. Chính sách về CVTD của ngân hàng: Mỗi ngân hàng điều có những chính sách cho vay riêng phù hợp đặc điểm riêng của từng ngân hàng, đây là định hướng quan trọng nhất trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng. Đây chính là hệ thống các chủ trương, định hướng tạo khung hướng dẫn tổng quát giúp cán bộ tín dụng và cấp quản lý định hướng để ra các quyết định tín dụng. Vì vậy, những yếu tố trong chính sách về cho vay tác động đến tăng trưởng tín dụng nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng. Chính sách CVTD của ngân hàng bao gồm các yếu tố: hạn mức vay cấp cho một khách hàng, kỳ hạn của khoản vay, lãi suất cho vay, các hình thức cho vay được thực hiện, quy định về tài sản đảm bảo, cách thức thanh toán nợ, quy định về phí và lệ phí,… các yếu tố này điều tác động trực tiếp đến việc mở rộng CVTD của ngân hàng. Hiện nay, môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng và giữa ngân hàng và các công ty tài chính thì việc xây dựng một chính sách riêng cho khoản mục CVTD sẽ giúp cho ngân hàng mở rộng được quy mô CVTD. Nếu các yêu tố trong chính sách CVTD của ngân hàng đưa ra đúng đắn, linh hoạt, phù hợp với sự thay đổi của môi trường kinh tế xã hội, đáp ứng được nhu cầu đa dạng khác nhau của khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng dễ dàng trong việc mở rộng CVTD, tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Ngược lại, với chính sách cho vay cứng ngắt thì sẽ làm giảm tính cạnh tranh của ngân hàng.
Nếu ngân hàng đinh hướng phát triển hoạt động CVTD thì sẽ đề ra những kế hoạch chi tiết cho việc thu hút khách hàng như: đa dạng hóa danh mục dịch vụ, điều kiện và thủ tục cho vay đơn giản linh hoạt, chính xác, đúng quy định của pháp luật, lãi suất cho vay phù hợp cho từng đối tường khách hàng và từng kỳ hạn vay,….Ngược lại, CVTD không nằm trong định hướng mở rộng cho vay của ngân hàng thì các chính sách cho vay có thể cứng ngắc hơn, điều này làm cho khách hàng sẽ khó tiếp cận với các khoản vay hơn.
b. Quy trình CVTD: Quy trình cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng đều có các quy trình cơ bản giống nhau: Tiếp nhận hồ sơ khách hàng; Thẩm định và phê duyệt; giải ngân tiền vay; Kiểm tra và giám sát xử lý nợ sau cho vay. Tâm lý của khách hàng vay thường muốn nhanh chóng, tiện lợi và không mất nhiều thời gian chi các thủ tục rườm ra, phức tạp. Do đó, nếu quy trình cho vay tiêu dùng của các ngân hàng nhanh chóng và bỏ bớt các thủ tục không cần thiết thì sẽ thu hút được nhiều khách hàng. Ngược lại, quy trình cho vay của ngân hàng nào phức tạp, tốn nhiều thời gian thì sẽ khó thu hút được khách hàng. Do vây, các ngân hàng hiện nay cần cố gắng xây dựng một quy trình và thủ tục cho vay đầy đủ và hợp lý, nhanh chóng và chính xác, đúng quy định của pháp luật.
c. Tính đa dạng và chất lượng của các sản phẩm cho vay: Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng, đặc biệt là trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Ngân hàng muốn có chỗ đứng trên thị trường bán lẻ thì phải nắm bắt được nhu cầu hiện tại của khách hàng từ đó đưa ra các sản phẩm cho vay tiêu dùng hợp lý và các sản phẩm phải được đổi mới liên tục, hoàn thiện và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.
d. Nguồn nhân lực của ngân hàng: Không thể phủ nhận công tác thẩm định tín dụng có tính chất khá phức tạp, đòi hỏi cán bộ ngân hàng phải có kiến thức chuyên môn tốt, am hiểu nghiệp vụ, khả năng tổng hợp, phân tích, phán đoán và nhận diện khách hàng để đưa ra các quyết định hợp lý, chính xác, tránh việc lựa chọn nhầm khách hàng. Chính vì vậy, năng lực chuyên môn của cán bộ ngân hàng ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng khoản vay tiêu dùng của ngân hàng. Ngoài ra, đạo đức nghề nghiệp cũng là một yêu cầu rất quan trọng đối với cán bộ làm công tác tín dụng, có thể nói là còn quan trọng hơn năng lực của cán bộ; phần lớn các tổn thất lớn của các NHTM gần đây đều xuất phát từ vấn đề đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng, điển hình như các trường hợp cán bộ tín dụng gian lận trong khâu nhận và thẩm định, làm giả hồ sơ khách hàng, lừa gạt khách hàng hay kết hợp với khách hàng chiếm dụng vốn của ngân hàng, gây ra rủi ro tín dụng, làm giảm chất lượng công tác kiểm soát rủi ro trong cho vay tiêu dùng của ngân hàng.
e. Cơ sở vật chất, trang thiết bị kĩ thuật, phầm mềm: Đây cũng là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt dộng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng đó. Nếu một ngân hàng được trang bị các công nghệ và các trang thiết bị kĩ thuật hiện đại thì họ có thể tăng tiện ích cho khách hàng và dịch vụ sẽ được khách hàng biết đến nhiều hơn, từ đó thu hút được nhiều khách hàng vay. Việc áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến sẽ giúp ngân hàng quản lý khách hàng một cách dễ dàng hơn, tiết kiêm được phí nhân viên chi phí quản lý bên cạnh đó còn giúp ngân hàng đơn giản hóa thủ tục cho vay.
Trong chương 1 đã giúp hiểu được những cơ sở lý luận cơ bản về hoạt động CVTD của ngân hàng như: khái niệm, phân loại, đặc điểm. Thêm vào đó, luận văn đã hệ thống hóa những nội dung của hoạt động CVTD, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động CVTD của NHTM. Đây chính là cơ sở để phân tích đánh giá thực trạng hoạt động CVTD tại Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH CHỢ MỚI NAM ĐÀ NẴNG
2.1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIÊT NAM – CHI NHÁNH CHỢ MỚI NAM ĐÀ NẴNG
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) được thành lập theo Nghị định số 53-HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Trãi qua mỗi thời kỳ phát triển với những tên gọi gắn với sứ mệnh khác nhau, xuyên suốt 32 năm xây dựng và phát triển, Agribank luôn khẳng định vị thế, vai trò của một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam, đi đầu thực hiện chính sách tiền tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng, luôn đồng hành cùng sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, có nhiều đóng góp tích cực thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội.
+ Ngày 11/5/2000: Agribank Chi Nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng được thành lập và có tên gọi là Chi nhánh Số 2 trực thuộc Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đà Nẵng (cũ), đơn vị hoạt động theo mô hình là một Ngân hàng cấp 4.
+ Đầu tháng 11/2001: Theo Quyết định số 424 QĐ/ HĐQT ngày 26/10/2001 của Chủ tịch Hội đồng quản trị NHNo & PTNT Việt Nam về việc “Hợp nhất Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đà Nẵng và Sở Giao dịch III – NHNo & PTNT Việt Nam tại Đà Nẵng thành Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đà Nẵng và mở rộng Chi nhánh NHNo & PTNT Quận Hải Châu trực thuộc Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đà Nẵng”. Cũng từ đó Chi nhánh số 2 thuộc Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đà Nẵng (cũ) có tên gọi mới là Chi nhánh NHNo & PTNT Chợ Mới với mô hình là Ngân hàng cấp 2 (loại 5) trực thuộc Ngân hàng No & PTNT TP Đà Nẵng.
+ Ngày 03/10/2013: Chi nhánh NHNo & PTNT Chợ Mới đổi tên thành Ngân hàng No&PTNT Việt Nam – Chi Nhánh Chợ Mới Đà Nẵng là chi nhánh loại II, trực thuộc Ngân hàng No & PTNT Việt Nam chi nhánh Đà Nẵng.
+ Ngày 27/09/2019: Theo quyết định số 786/QĐ-HĐTV-TCTL của Hội đồng thành viên Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Đơn vị được đổi tên thành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng là chi nhánh loại II, trực thuộc Agribank Chi nhánh Nam Đà Nẵng.
Qua hơn 20 năm hình thành và phát triển đã đạt được một số thành tựu nhất định. Trong bối cành nền kinh tế tăng trưởng và tình hình cạnh tranh gay gắt từ các Ngân hàng cùng với các chi nhánh trong hệ thống. Agribank Chợ Mới Nam Đà Nẵng đã đạt được kết quả kinh doanh rất ấn tượng
2.1.2. Mô hình tổ chức và chức năng của từng bộ phận
a. Mô hình tổ chức:
Hiện nay, Agribank Chợ Mới Nam Đà Nẵng có trụ sở đóng tại 304 Trưng Nữ Vương, P. Bình Thuận, Q. Hải Châu, Tp. Đà Nẵng. Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh gồm Ban Giám đốc và 2 phòng ban nghiệp vụ là Phòng Kế hoạch Kinh doanh và Phòng Kế Toán – Ngân Quỹ.
- Sơ đồ 2.1. Mô hình tổ chức của Agribank chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng
Giám đốc
Phó giám đốc
Phòng Kế hoạch – Kinh doanh
Phó giám đốc
Phòng Kế toán
– Ngân quỹ
Bộ phận kế toán
Bộ phận ngân quỹ
b. Chức năng của từng bộ phận
Giám đốc:
– Là người chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh, là người có thẩm quyền quyết định cao nhất, giám sát toàn bộ những hoạt động kinh doanh của chi nhánh.
– Là người truyền đạt kịp thời những thông tin cần thiết, những văn bản, chủ trương, chính sách, quy định mới về cho vay huy động, lãi suất, pháp lệnh của Ngân hàng, quy định của ngành và của Nhà nước cho các bộ phận, phòng ban để qua đó các bộ phận thực hiện đúng quy định.
– Xem xét nội dung thẩm định do phòng tín dụng trình lên để quyết định cho vay hay không cho vay và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
– Kí hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay và các hồ sơ do khách hàng và ngân hàng cùng lập.
– Quyết định các biện pháp xử lí nợ, cho gia hạn nợ và thưc hiện các biện pháp xử lí đối với khách hàng.
Phó giám đốc:
Thay mặt giám đốc điều hành về mặt kinh doanh trong phạm vi ủy quyền của giám đốc, chịu trách nhiệm trước giám đốc và trước pháp luật về những công việc mà mình giải quyết khi thay mặt giám đốc điều hành các hoạt động của chi nhánh.
Phòng Kế hoạch Kinh doanh:
Có chức năng giao dịch với khách hàng vay vốn, tìm kiếm khách hàng vay vốn, hướng dẫn khách hàng làm thủ tục hồ sơ xin vay vốn. Phân tích, thẩm định khách hàng vay vốn. Lập tờ trình thẩm định cho vay, soạn thảo hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay và trình duyệt cho vay, giao nhận giấy tờ TSBĐ, giấy nhận nợ, khế ước vay. CBTD kiểm tra quá trình sử dụng vốn của khách hàng sau khi cho vay và có những biến pháp xử lý kịp thời để không gây thiệt hại và rủi ro cho ngân hàng. Chăm sóc các khách hàng hiện tại, tìm kiếm, phát triển các khách hàng mới; cung cấp dịch vụ, sản phẩm đến khách hàng; huy động vốn có kỳ hạn và không kỳ hạn của khách hàng, bán chéo các sản phẩm, dịch vụ khác. Đề xuất, tham mưu xây dựng kế hoạch kinh doanh cũng như phương pháp để phát triển cho Chi nhánh.
Phòng Kế toán Ngân Quỹ: Bao gồm bộ phận kế toán và bộ phận ngân quỹ
Bộ phận kế toán: là bộ phận trực tiếp giao dịch với các khách hàng có nhu cầu sử dụng các dịch vụ liên quan đến tài khoản tiền gửi của khách hàng, ngân hàng điện tử, giải quyết các nhu cầu của khách hàng liên quan đến hoạt động thanh toán, nộp, rút tiền mặt, tư vấn tiếp thị, chào bán, marketing các sản phẩm thẻ, máy POS và các chương trình liên quan, thực hiện nghiệp vụ phát hành thẻ….của cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước; huy động vốn có kỳ hạn và không kỳ hạn của khách hàng, bán chéo các sản phẩm, dịch vụ khác.
Bộ phận Ngân quỹ: Là bộ phận trực tiếp thu chi tiền mặt với khách hàng đối với các khoản tiền trên 1 tỷ đồng, quản lý quỹ tiền mặt, quản lý an toàn kho quỹ theo quy định của NHNN và Agribank, tiếp quỹ đầu ngày và đột xuất nộp tiền, ứng tiền tại Agribank Chi nhánh Nam Đà Nẵng, kiểm soát lượng tiền tại các cây ATM. Bên cạnh đó, phòng ngân quỹ còn trực tiếp quản lý hồ sơ gốc về TSBĐ của khách hàng.
2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh
a. Hoạt động huy động vốn
Bảng 2.1. Cơ cấu nguồn vốn huy động của Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng giai đoạn 2017-2019
ĐVT: Tỷ đồng
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng)
Theo bảng số liệu tổng hợp của Bảng 2.1 ta thấy được Nguồn vốn huy động của chi nhánh có xu hướng tăng qua các năm nhưng tốc độ tăng trưởng khá chậm. Cụ thể: tổng nguồn vốn huy động được của chi nhánh năm 2017 là 585 tỷ đồng, năm 2017 tăng lên và đạt 693 tỷ đồng với tốc độ tăng là 18,46%, năm 2018 đạt 712 tỷ đồng với tốc độ tăng là 2,75%. Nguồn vốn của chi nhánh chủ yếu đến từ nguồn tiền gửi của dân cư, tập trung chủ yếu ở các kỳ hạn từ: 01 tháng đến 06 tháng và kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Điều này cho thấy chi nhánh mặc dù phải sử dụng vốn có mức giá ngày càng cao hơn nhưng lại mang tính ổn định hơn cho hoạt động kinh doanh. Trong điều kiên công tác huy động vốn gặp nhiều khó khăn do sự cạnh trang giữa các tổ chức tín dụng trên địa bàn TP Đà Nẵng, đây là nỗ lực lớn của chi nhánh để đáp ứng sự cân đối vốn. Để đạt được nguồn huy động như trên, Agribank – Chi nhánh Chợ Mới Nam Đà Nẵng đã thực hiện đồng bộ nhiều chính sách huy động vốn hợp lý như: đưa ra các chính sách về lãi suất huy động hấp dẫn hợp lý, phù hợp với từng thời gian và từng giai đoạn, phong cách phục vụ chuyên nghiệp, các chính sách chăm sóc khách hàng phù hợp,… điều quan trọng là chi nhánh luôn tạo được niềm tin đối với khách hàng trên địa bàn.
b. Hoạt động tín dụng
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG
Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt NamHoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt NamHoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt NamHoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt NamHoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt NamHoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt NamHoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam


