Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Châu Thành

Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Châu Thành

Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Châu Thành

1. Lý do chọn đề tài:

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một một trong những chính sách xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước đối với người lao động. Chế độ chính sách BHXH không những có ý nghĩa đối với cán bộ, công nhân viên làm việc trong khu vực kinh tế của nhà nước mà còn có ý nghĩa rất lớn đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp. Bởi vì những doanh nghiệp này, nếu chế độ, chính sách BHXH không được thực hiện thì chủ sử dụng lao động sẽ không bị ràng buộc về trách nhiệm đối với người lao động khi người lao động bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp; khi hết tuổi lao động hoặc bị chết; khi sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị thua lỗ phải ngừng sản xuất hoặc phá sản, giải thể… Trong những trường hợp trên, nếu các chế độ, chính sách BHXH được thực hiện thì quyền lợi người lao động theo quy định sẽ được đảm bảo, góp phần ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình họ.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quá trình đổi mới toàn diện trong tất cả các lĩnh vực của đất nước đang diễn ra từng ngày. Nền kinh tế đất nước đang phát triển mạnh mẽ theo định hướng đa thành phần kinh tế. Thực hiện tốt chế độ, chính sách BHXH trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là yếu tố hết sức quan trọng để đảm bảo sự công bằng giữa những người lao động làm việc trong các thành phần kinh tế khác nhau. Đó là sự công bằng về nghĩa vụ đóng góp cho đất nước, cho xã hội cũng như công bằng về các quyền lợi mà họ cần được hưởng từ nhà nước, từ xã hội. Chính sự bình đẳng này sẽ tạo điều kiện thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Nói cách khác, đó là sự thúc đẩy quá trình sản suất phát triển lên một trình độ mới, cao hơn.

Với địa bàn quản lý rộng, số lượng các doanh nghiệp nhiều, đa dạng và ngày càng phát triển đang là một vấn đề khó khăn đặt ra cho cơ quan trong quá trình quản lý hoạt động BHXH.

Tất cả các lý do trên đòi hỏi Cơ quan BHXH Châu Thành phải có một hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) hữu hiệu. Với những lý do trên đây, tôi chọn đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội Châu Thành” là yêu cầu tất yếu.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

– Nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống Kiểm soát nội bộ tại BHXH Châu Thành từ đó xây dựng hệ thống hóa các lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ trong đơn vị hành chính sự nghiệp. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối bộ với hoạt động Bảo hiểm xã hội Châu Thành tỉnh Kiên Giang.

– Kiểm soát chặt chẽ có hiệu quả việc thực hiện chính sách pháp luật về BHXH – BHYT – BHTN trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

– Kiểm soát quá trình thực hiện thực hiện công tác thu – công tác chi – giải quyết chế độ chính sách BHXH – BHYT – BHTN cho người lao động, người dân trên địa bàn huyện Châu Thành,tỉnh Kiên Giang.

– Đảm bảo tuân thủ các quy định và luật BHXH hiện hành một cách khoa học mang lại hiệu quả cao.

– Bảo vệ tài sản, nguồn tiền, nguồn lực để chống thất thoát quỹ, lãng phí…

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

– Đối tượng nghiên cứu: các hoạt động của BHXH, trong đó hoạt động kiểm soát nội bộ:

+ Quản lý thu – quản lý chi – quản lý phôi thẻ BHYT, quản lý quỹ bảo hiểm xã hiểm xã hội.

– Phạm vi nghiên cứu: Bảo Hiểm Xã Hội huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang từ năm 2015 đến năm 2017.

4. Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng các phương pháp:

Phương pháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp so sánh; Phương pháp thống kê toán học; Phương pháp phân tích, dự báo.

Các phương phương pháp này được sử dụng kết hợp hoặc riêng lẽ trong quá trình nghiên cứu.

5. Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị sự nghiệp công lập.

Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo Hiểm Xã Hội huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

Chương 3: Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo Hiểm Xã Hội Huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

6. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH

KIÊN GIANG

1.1. Tổng quan về hoạt động BHXH

1.1.1. Khái niệm

“Bảo hiểm xã hội là một phương pháp lập quỹ dự trữ bằng tiền do những người có cùng khả năng góp một loại rủi ro nào đó đóng góp tạo nên”. Định nghĩa này chỉ mới đề cập đến phương pháp lập quỹ dự trữ bảo hiểm, mà chưa rõ phương thức sử dụng nó.

1.1.2. Quỹ BHXH

Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước nhưng được sự quản lý, chỉ đạo của Nhà nước và các quy định pháp lý.

1.1.3. Các hoạt động cơ bản của Bảo hiểm xã hội

Trong tất cả các hoạt động của Bảo hiểm xã hội , hoạt động thu và chi là hai hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất tại các cơ quan Bảo hiểm xã hội.

1.1.3.1. Hoạt động thu Bảo hiểm xã hội

Tham gia bảo hiểm xã hội là nhiệm vụ, nghĩa vụ của các đơn vị sử dụng lao động nhằm thực hiện quyền lợi cho người lao động . Việc đóng góp vào quỹ Bảo hiểm xã hội của các bên tham gia Bảo hiểm xã hội là tất yếu vì nguyên tắc có đóng có hưởng. Vậy thu từ đóng góp của những người tham gia Bảo hiểm xã hội là nguồn thu chủ yếu quan trọng nhất cho quỹ Bảo hiểm xã hội ở hầu hết các quốc gia.

1.1.3.2 Hoạt động chi Bảo hiểm xã hội

Chi Bảo hiểm xã hội là việc các cơ quan Nhà nước (cụ thể là cơ quan BHXH) sử dụng số tiền thuộc nguồn quỹ Bảo hiểm xã hội để dùng chi trả trợ cấp các chế độ Bảo hiểm xã hội. Quá trình chi trả BHXH phải đảm bảo nguyên tắc chi đúng, chi đủ, chi kịp thời, tức là thuộc đối tượng nào thì chi đối tượng đó, thu ở chế độ BHXH nào thì chi cho chế độ BHXH đó. Đó là điều kiện tiên quyết để thực hiện quá trình chi trả được thuận lợi và đúng với quy định của các văn bản hướng dẫn chi các chế độ Bảo hiểm xã hội do BHXH Việt Nam quy định trong các Điều luật BHXH mà Quốc hội ban hành.

1.2. Tổng quan về hệ thống KSNB trong đơn vị sự nghiệp công lập

1.2.1. Lịch sử phát triển của hệ thống lý luận về KSNB nói chung

Để thực hiện chức năng kiểm soát, nhà quản lý sử dụng công cụ chủ yếu là KSNB của đơn vị. Trong hơn một thế kỷ qua, khái niệm KSNB đã phát triển từ chỗ được xem là một phương pháp giúp cho kiểm toán viên độc lập xác định phương pháp hiệu quả nhất trong việc lập kế hoạch kiểm toán đến chỗ được coi là một bộ phận chủ yếu của hệ thống quản lý hữu hiệu.

1.2.2. Quan điểm về hệ thống kiểm soát nội bộ

Hiện nay, trên thế giới có nhiều cách hiểu về hệ thống KSNB. Có quan điểm cho rằng, hệ thống KSNB là sự tích hợp một loạt các hoạt động, biện pháp, kế hoạch, quan điểm, nội quy, chính sách và nỗ lực của mọi thành viên trong tổ chức để đảm bảo tổ chức đó hoạt động hiệu quả, đạt được mục tiêu đặt ra một cách hợp lý. Có thể hiểu đơn giản, hệ thống KSNB là hệ thống của tất cả những gì mà một tổ chức cần làm để có được những điều muốn có và tránh được những điều muốn tránh. Cũng trên nguyên tắc này, các hệ thống quản lý khác nhau có chuẩn mực quốc tế như ISO, TQM, QA/QC đảm bảo sự hoạt động hiệu quả của một tổ chức đã được xây dựng.

1.2.3. Mục tiêu KSNB trong hoạt động Bảo hiểm xã hội

Như đã biết, quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ tập trung rất lớn là tập hợp từ sự đóng góp của các bên tham gia có sự hỗ trợ của Nhà nước, dùng để chi trả trợ cấp cho các chế độ BHXH và chi phí cho doanh nghiệp quản lý BHXH nên việc quản lý quỹ BHXH phải được thực hiện chặt chẽ và hiệu quả trong hoạt động, muốn vậy đòi hỏi hệ thống KSNB của ngành BHXH phải ngày càng hoàn thiện.

1.2.4. Vai trò của KSNB đối với hoạt động thu chi BHXH

Hệ thống KSNB có vai trò quan trọng và cần được thực hiện ở mọi khâu, mọi quá trình, mọi hoạt động, đặc biệt là với những hoạt động dễ có rủi ro thu, chi tài chính.

1.3. Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ theo INTOSAI 2013

1.3.1. Môi trường kiểm soát

Môi trường kiểm soát là những nhận thức, quan điểm, sự quan tâm và hoạt động của thành viên Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc đối với hệ thống KSNB và vai trò của hệ thống KSNB trong đơn vị.

1.3.2. Đánh giá rủi ro

Việc nhận dạng và đánh giá các rủi ro trong hoạt động BHXH là một bộ phận quan trọng của hệ thống KSNB. Khác với các đơn vị kinh doanh thuần túy, cơ quan BHXH có các rủi ro chủ yếu phát sinh trong hoạt động thu – chi BHXH. Ngoài những rủi ro xuất phát từ chính năng lực và đạo đức của nhân viên trong ngành BHXH, thì rủi ro về thu BHXH, BHYT, BHTN do các đơn vị nợ, trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN, cung cấp thông tin về người lao động không đúng…, rủi ro về chi BHXH do sai sót trong chi trả không đúng đối tượng, đối tượng hưởng BHXH khai man thông tin, giả mạo hồ sơ…

1.3.3. Hoạt động kiểm soát

Hoạt động kiểm soát có mặt xuyên suốt trong tổ chức, ở các mức độ và các chức năng, là những chính sách và thủ tục để đảm bảo cho các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện. Hoạt động kiểm soát bao gồm các hoạt động kiểm soát phòng ngừa và phát hiện rủi ro. Do đó, để cân bằng giữa thủ tục kiểm soát phát hiện và phòng ngừa thông thường là phối hợp các hoạt động kiểm soát để hạn chế, bổ sung lẫn nhau giữa các thủ tục kiểm soát.

1.3.4. Thông tin và truyền thông

Là điều kiện không thể thiếu của hệ thống KSNB, là điều kiện đầu tiên đảm bảo để duy trì và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc hình thành các báo cáo để cung cấp thông tin về hoạt động tài chính và tuân thủ. Đối với hoạt động của BHXH vai trò của thông tin vô cùng quan trọng, do các thông tin của người tham gia BHXH luôn được cập nhật thay đổi thường xuyên, mang tính lâu dài với số lượng thông tin ngày càng nhiều, do đó đòi hỏi tất cả các nghiệp vụ phải lập đầy đủ các chứng từ, sổ sách ghi chép, dữ liệu thông tin lưu trữ đầy đủ. Thông tin được cung cấp một khi được truyền đi phải đảm bảo thích hợp, kịp thời, chính xác.

1.3.5. Giám sát

Công tác giám sát phải thường xuyên và định kỳ cho hệ thống KSNB của BHXH, do cơ quan BHXH hoạt động dựa trên mối quan hệ giữa Người lao động, Người sử dụng lao động và cơ quan BHXH thực hiện công tác an sinh xã hội là một nhiệm vụ quan trọng của quốc gia, quản lý một nguồn quỹ BHXH lớn, do vậy việc giám sát hoạt động luôn được thực hiện nhằm đảm bảo cho hoạt động của BHXH luôn được thực hiện đầy đủ, đúng với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, hạn chế những sai phạm.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH KIÊN GIANG

2.1. Giới thiệu về BHXH huyện Châu Thành

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

BHXH huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày17/7/1995 với chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện chế độ, chính sách BHXH cho NLĐ có tham gia BHXH trên địa bàn huyện Châu Thành.

2.1.2. Chức năng

Bảo hiểm xã hội huyện Châu Thành là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh Kiên Giang, có chức năng giúp ban Ban Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh Kiên Giang tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp, quản lý và sử dụng các quỹ: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; phối hợp thanh tra chuyên ngành việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật và quy định của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

2.1.3. Nhiệm vụ

2.2. Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại bảo hiểm xã hội huyện Châu Thành – tỉnh Kiên Giang

2.2.1. Thực trạng về môi trường kiểm soát

Môi trường kiểm soát có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thu chi BHXH.

2.2.2. Thực trạng về đánh giá rủi ro

– Cơ quan BHXH Châu Thành đang từng bước nỗ lực hoàn thiện bộ máy tổ chức để nâng cao năng lực quản lý điều hành hoạt động BHXH đang trong quá trình mở rộng cho mọi đối tượng tham gia.

– Ban lãnh đạo đã từng bước ý thức được sự cần thiết quản lý các rủi ro và kiểm soát rủi ro đối với các hoạt động thu – chi – quản lý quỹ BHXH.

2.2.3. Hoạt động kiểm soát

* Kiểm soát nội bộ với hoạt động thu

Đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp việc đăng ký tham gia BHXH là bắt buộc vì khi có quyết định tuyển dụng hay ký hợp đồng lao động với người có thẩm quyền thì việc tham gia BHXH được thể hiện trên bảng lương thực tế hiện hưởng. Còn đối với các doanh nghiệp lớn của Nhà nước hay doanh nghiệp nước ngoài và tư nhân khi chủ sử dụng lao động nhận thức được trách nhiệm và quyền lợi khi tham gia BHXH thì họ sẵn sàng phối hợp với cơ quan BHXH đăng ký tham gia BHXH.

Đối với những đơn vị này việc đối chiếu thu nộp BHXH và để xác định số tiền đơn vị phải đóng, số đã đóng, số nộp thừa hoặc số nộp thiếu là rất đơn giản. Ngoài ra trực tiếp làm việc với họ là những cán bộ công chức của cơ quan BHXH có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tinh thông, hướng dẫn, tuyên truyền về quyền lợi tham gia BHXH cho người lao động và chủ sử dụng lao động.

* Kiểm soát nội bộ đối với hoạt động chi

Là một cơ quan sự nghiệp Nhà nước, công việc chủ yếu mang tính chất phục vụ, nên khối lượng giao dịch với người tham gia BHXH hàng ngày tại cơ quan BHXH huyện Châu Thành là rất lớn. Chế độ kế toán ngành BHXH đang áp dụng được ban hành theo quyết định số 51/2007/QĐ-BTC ngày 22/06/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, qua thời gian thực hiện theo quy định của Luật BHXH có nhiều nghiệp vụ mới phát sinh ( như nghiệp vụ thu, chi BHXH tự nguyện, Bảo hiểm thất nghiệp…). Trong công tác lưu trữ chứng từ, cơ quan BHXH thuộc địa bàn cấp nào chịu trách nhiệm quản lý, lưu trữ toàn bộ chứng từ phát sinh tại đơn vị trên địa bàn đó nên thuận lợi khi cần thiết đối chiếu lại rất nhanh. Một số cán bộ kế toán có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao nên chất lượng công tác kế toán có hiệu quả và công tác tổng hợp số liệu báo cáo nhanh chóng.

Hiện nay, việc thực hiện chế độ chi trả tại BHXH huyện Châu Thành được thực hiện xét duyệt trên hệ thống phần mềm. Đối tượng hưởng chế độ ngắn hạn được giao dịch với đơn vị sử dụng lao động nên việc kiểm soát tương đối thuận lợi. Số đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng chủ yếu sống ở các xã, thị trấn, vì vậy chi phí tại các cấp này hàng tháng chiếm tỷ lệ cao.

Thủ tục thanh toán các chế độ cũng thực hiện theo phân cấp quản lý nên khi làm việc trực tiếp với đơn vị sử dụng lao động và người lao động cán bộ BHXH kiểm soát, hướng dẫn và bổ sung kịp thời khi nộp chứng từ thanh toán với cơ quan BHXH.

Một thuận lợi nữa là cán bộ chi trả trực tiếp là các đại lý chi ký hợp đồng với BHXH huyện là người trực tiếp sống tại địa phương nên việc chi trả thuận lợi, đúng đối tượng thụ hưởng.

2.2.4. Thông tin và truyền thông

BHXH huyện Châu Thành đã xây dựng hệ thống ứng dụng CNTT kết nối giữa BHXH huyện Châu Thành với các đơn vị sử dụng lao động để phục vụ cho công tác quản lý, giải quyết chế độ, đảm bảo quyền lợi cho các đối tượng (CV 2684/BHXH-TCCB để triển khai tiếp nhận hồ sơ điện tử theo cơ chế một cửa liên thông và công văn 640/BHXH-TCCB ngày 14/03/2013 về triển khai tiếp nhận hồ sơ điện tử theo cơ chế một cửa liên thông).

Định kỳ chung hàng tháng, Ban Giám đốc luôn có cuộc họp giao ban giữa các phòng chức năng, nắm tình hình hoạt động của từng phòng trong tháng để đề ra hướng chỉ đạo kịp thời. Định kỳ hàng quý, Ban Giám đốc họp giao ban giữa các phòng chức năng để nắm tình hình hoạt động chung trong quý của toàn đơn vị để đề ra hướng chỉ đạo kịp thời và phương hướng công tác sắp tới.

2.2.5. Hoạt động giám sát

Việc kiểm tra giám sát luôn hoạt động thường xuyên thông qua việc lập đoàn kiểm tra của BHXH huyện Châu Thành về mọi mặt hoạt động của các đơn vị sử dụng lao động. Đồng thời BHXH huyện Châu Thành còn chịu sự kiểm tra giám sát của BHXH tỉnh Kiên Giang và Kiểm toán, Thanh tra tỉnh.

2.3. Nhận dạng và phân tích các nguyên nhân dẫn đến các hạn chế

2.3.1. Hạn chế

Sự hạn chế trong các quy định của Pháp luật làm tăng khả năng vi phạm pháp luật về BHXH. Chính sách BHXH của Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay thường xuyên có sự thay đổi, bị lệ thuộc nhiều vào giải quyết nhu cầu xã hội trước mắt. Số lượng các văn bản pháp quy và văn bản hướng dẫn rất nhiều nên không tránh khỏi sự chồng chéo, trùng lập hoặc có những vấn đề không được quy định gây khó khăn cho việc thực hiện chế độ.

Tình trạng vi phạm các quy định về thu BHXH diễn ra ở khá nhiều các đơn vị, điều đó được thể hiện dưới 2 hình thức: trích nộp BHXH chậm, không đúng mức lương hoặc cố tình quên không tham gia BHXH cho người lao động, đóng BHXH cho người lao động theo mức lương tối thiểu, chậm tăng lương…kéo dài thời gian nợ đọng ở một số đơn vị SDLĐ do làm ăn thua lỗ hoặc sản xuất mùa vụ hay đang trên bờ vực phá sản.

Công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến Pháp luật lao động nói chung và pháp luật BHXH nói riêng còn nhiều hạn chế phiến diện, đặc biệt là người lao động trong các DNTN, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác xã, khiến cho có những đối tượng vô tình vi phạm pháp luật về BHXH mà không biết, nhiều lao động chưa hiểu hết quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi tham gia BHXH, đặc biệt chưa thấy rõ được lợi ích của việc tham gia BHXH về lâu dài, do đó không dám đấu tranh với người SDLĐ để đòi hỏi quyền lợi của mình.

2.3.2. Nguyên nhân hạn chế

* Nguyên nhân khách quan

Một số doanh nghiệp có số lao động ít, không muốn tham gia BHXH, có thể thấy rằng một số lao động hiện nay vẫn chưa hiểu được lợi ích của việc tham gia BHXH.

Các đơn vị tham gia BHXH cố tình khai sai số lượng lao động hoặc cố ý ký kết hợp đồng lao động từ 3 tháng trở xuống để giảm số phải nộp BHXH.

Công tác tuyên truyền về BHXH đến các đối tượng chưa được rộng rãi, giải thích rõ ràng lợi ích khi tham gia.

Thông tin để làm căn cứ xét duyệt chi trợ cấp BHXH bị người được hưởng khai man, thiếu chính xác.

* Nguyên nhân chủ quan

Cơ quan BHXH thiếu, hoặc chưa kịp ban hành các nguyên tắc riêng, cơ sở luật pháp thật nghiêm để xử lý việc cố tình không nộp đúng thời hạn quy định, ảnh hưởng đến lợi ích của người lao động.

Ngoài ra còn có nguyên nhân xuất phát từ đạo đức của người chịu trách nhiệm quản lý thu BHXH. Nhân viên có thể thông đồng với các đơn vị nộp BHXH, cho phép họ chậm nộp để thu lợi.

Kỹ năng làm việc của nhân viên xét duyệt mức đóng yếu kém, không cập nhật thông tin khi có sự thay đổi về pháp luật, quy định sẽ không đúng mức lương làm căn cứ nộp BHXH của từng đối tượng tham gia BHXH.

Số lượng người tham gia BHXH rất đông và ngày càng gia tăng, việc kiểm soát thông tin của từng cá nhân rất nhiều khó khăn. Khi có sự thay đổi nếu không cập nhật kịp thời thì sẽ tính toán không đúng số liệu thu BHXH.

Bên cạnh đó, các quy định chế độ chính sách làm căn cứ xét duyệt nếu chưa đầy đủ sẽ là sơ hở để các đối tượng cung cấp thông tin sai lệch, không có thực để hưởng trợ cấp.

CHƯƠNG 3

HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI CHÂU THÀNH – TỈNH KIÊN GIANG

3.1. Quan điểm và phương hướng phát triển của BHXH huyện Châu Thành

3.1.1. Quan điểm phát triển

BHXH – BHYT là hai chính sách quan trọng, là trụ cột chính hệ thống an sinh xã hội phải được từng bước mở rộng, tăng nhanh đối tượng tham gia, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội và phát triển kinh tế – xã hội.

Phát triển ngành BHXH Việt Nam phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước và đồng bộ với phát triển các dịch vụ xã hội. Đầu tư phát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến theo hướng hiện đại, đảm bảo đủ năng lực và áp dụng vào quản lý nhằm tổ chức thực hiện tốt các chế độ chính sách BHXH – BHYT.

Phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 80% lực lượng lao động tham gia BHXH; 35% lực lượng lao động tham gia BHTN và trên 80% dân số tham gia BHYT.

Quản lý, sử dụng đúng qui định và có hiệu quả quỹ BHXH – BHYT nhằm đảm bảo cân đối quỹ BHXH dài hạn, quỹ BHYT cần phải cân đối hàng năm

3.1.2. Phương hướng phát triển

Để bảo đảm tính toàn diện và hệ thống của các giải pháp cũng như sự hài hòa giữa lý luận và thực tiễn, chúng tôi đưa ra hướng phát triển nhưng vẫn phải bảo đảm các nguyên tắc cơ bản sau:

Thứ nhất, cơ quan BHXH là cơ quan Nhà nước, mọi chế độ chính sách BHXH là do Nhà nước ban hành. Vì vậy, các giải pháp đưa ra dưới đây phải đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam. Mặt khác, Việt Nam đi sau các nước trong việc phát triển nền kinh tế thị trường; do đó các giải pháp cần xây dựng trên cơ sở có cân nhắc và kế thừa kinh nghiệm của một số nước trên thế giới. Thí dụ, việc chi trả chế độ BHXH để tránh trường hợp chi không đúng đối tượng thì qui định bắt buộc chi trả qua tài khoản cá nhân không chi bằng tiền mặt; Chi lương hưu chi qua bưu điện; Với điều kiện Việt Nam hiện nay thì phương án chi lương hưu qua bưu điện đã được áp dụng trên nhiều địa phương trong cả nước, mặc dù các đối tượng tham gia còn có tâm lý e ngại vì vậy thời gian đầu cũng còn gặp khó khăn cho việc áp dụng giải pháp này. Tuy nhiên, có thể coi rằng đây là giải pháp tốt mang tính hiệu quả cao.

Thứ hai, so với các nước trên thế giới, BHXH Việt Nam được hình thành muộn hơn cho nên không tránh khỏi những khó khăn ban đầu về nhân lực, công nghệ áp dụng cho ngành như không có đội ngũ chuyên gia về lĩnh vực bảo hiểm để giúp Quỹ BHXH bảo toàn và tăng trưởng. Đồng thời, nhận ra những rủi ro của việc thu chi BHXH sớm có những giải pháp phòng ngừa rủi ro.

Thứ ba, đảm bảo sự cân đối giữa lợi ích đạt được và chi phí bỏ ra nghĩa là chi phí cho việc hoàn thiện hệ thống KSNB sẽ không vượt quá lợi ích thu được từ hoạt động để góp phần giảm thiểu rủi ro thu chi, ngăn chặn việc thu không đủ, chi không đúng đối tượng, giảm chi phí phát hiện các trường hợp sai phạm. Xây dựng hệ thống KSNB hữu hiệu có nghĩa là cần thêm nhân lực và các công cụ hỗ trợ khác, điều này cần cân nhắc giữa chi phí bỏ ra và lợi ích đạt được. Trong khi đó, BHXH Việt Nam là cơ quan hành chính sự nghiệp việc tuyển dụng cũng như việc đầu tư vào bộ phận nào cũng phải có kế hoạch, chỉ tiêu từ cấp trên đưa xuống nên các giải pháp liên quan cần xem xét kỹ.

Thứ tư, tiến hành các giải pháp theo từng mục tiêu trong ngắn hạn và dài hạn. Nguyên tắc`này nhằm bảo đảm đạt được các mục tiêu toàn diện trong điều kiện nguồn lực có giới hạn. Các giải pháp phải được cân nhắc về thứ tự ưu tiên và lộ trình thực hiện. Tùy theo điều kiện về nhân lực, công nghệ thông tin, chính sách và pháp luật mà sắp xếp thời gian để tiến hành các giải pháp cho phù hợp. Thí dụ, việc đưa công nghệ thông tin ứng dụng vào ngành BHXH nên tiến hành thử nghiệm ở một số đơn vị tham gia BHXH ở các thành phố lớn mà đã tồn tại hình thức thanh toán cho người lao động qua ngân hàng như các công ty có vốn đầu tư nước ngoài hay rộng hơn là các công ty ngoài quốc doanh vì đơn vị BHXH ở các thành phố lớn có điều kiện áp dụng công nghệ thông tin tốt hơn rồi sau đó áp dụng toàn diện trên cả nước.

Thứ năm, các giải pháp cần được tiến hành đồng bộ để hỗ trợ lẫn nhau trong từng bước thực hiện. Thí dụ, khi đưa công nghệ thông tin vào quản lý hoạt động BHXH, đào tạo nhân viên là cần thiết phải thực hiện đồng thời. Song song với những biện pháp xử lý sai phạm cần có Luật BHXH và sự kết hợp của các cơ quan ban ngành.

3.1.3. Dự báo

– Tỷ lệ người đóng quỹ bảo hiểm xã hội (BHXH) trên số người hưởng lương hưu giảm nhanh là nguyên nhân chính đang làm thu – chi của quỹ này mất cân đối nghiêm trọng.

– Tỷ lệ nợ BHXH hiện nay luôn chiếm khoảng 4,5 – 5% số phải thu. Đặc biệt ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (chiếm trên 70% tổng số nợ), làm ảnh hưởng đến nguồn thu quỹ BHXH và quyền lợi của người lao động. Một trong những nguyên nhân của tình trạng nợ đọng, chậm đóng BHXH là do Luật BHXH hiện hành quy định lãi chậm đóng bằng mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ Quỹ BHXH trong năm (mức lãi suất này thường thấp hơn nhiều so với lãi suất cho vay của các ngân hàng). Mặt khác, mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH theo quy định còn thấp. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp cố tình nợ, chậm đóng BHXH và chấp nhận chịu phạt để chiếm dụng tiền đóng BHXH.

3.2. Giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại BHXH huyện Châu Thành

3.2.1. Hoàn thiện môi trường kiểm soát

Nâng cao năng lực chuyên môn cũng như năng lực quản lý của đội ngũ viên chức BHXH huyện Châu Thành, có khả năng chủ động, độc lập để xử lý nhiệm vụ được giao; cũng cố cơ cấu tổ chức để đáp ứng phù hợp với nhiệm vụ ngày càng cao của Ngành Bảo hiểm xã hội, đồng thời để dễ áp dụng việc đưa công nghệ thông tin hiện đại vào quản lý; hoàn thiện bộ máy kiểm tra, giám sát hệ thống kiểm soát nội bộ; Mạnh dạn đưa ra những người có năng lực, phẩm chất đạo đức, có tâm, có tầm, có kinh nghiệm…để có thể đảm nhận công việc quản lý BHXH; thường xuyên tiến hành rà soát, đánh giá đội ngủ nhân viên thuộc thẩm quyền quản lý để điều chỉnh bố trí lại phù hợp với thực tế.

3.2.2. Hoàn thiện việc đánh giá rủi ro

Nhằm góp phần hoàn thiện việc đánh giá rủi ro tại cơ quan BHXH huyện Châu Thành theo tác giả cần có cơ chế phân tích đánh giá rủi ro đe dọa đến việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ hoạt động BHXH. Cơ quan BHXH huyện Châu Thành cần có sự quan tâm đáng kể đến việc đánh giá rủi ro.

Xây dựng bộ phận độc lập trong Phòng Thu, Phòng Chế độ chính sách và Phòng Kiểm tra để thường xuyên chịu trách nhiệm theo dõi, phân tích đánh giá các rủi ro phát sinh trong các hoạt động thu chi của đơn vị và đưa ra các phương hướng, giải pháp quản lý, khắc phục các rủi ro, cụ thể là trong các hoạt động thu chi của đơn vị để có thể đánh giá rủi ro một cách khách quan và đầy đủ.

Phối hợp với các sở ban ngành có liên quan ( Phòng LĐTBXH, Phòng thương mại, Chi cục thuế…) để kiểm soát và quản lý được số đơn vị SDLĐ, Doanh nghiệp cũng như số lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Châu Thành; phòng ngừa và hạn chế những rủi ro do điều kiện khách quan về kinh tế – xã hội dẫn đến thất thu BHXH như: do suy thoái kinh tế dẫn đến các Doanh nghiệp làm ăn thua lỗ vì vậy nợ tiền BHXH, do các đơn vị sử dụng lao động trốn đóng BHXH hoặc tham gia nhưng khai giảm số lượng lao động đang làm việc thực tế tại đơn vị.

Quản lý chặt chẽ đối tượng tham gia BHXH nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác thu chi BHXH đảm bảo thu đúng, thu đủ và chi đúng chế độ cho các đối tượng, qua đó hạn chế các trường hợp gian dối trong quá trình hưởng BHXH. Cần triển khai mở rộng hơn việc chi trả trợ cấp BHXH qua dịch vụ tài khoản cá nhân ( thẻ ATM ) hoặc các tổ chức dịch vụ công ích nhà nước đảm bảo tính chuyên nghiệp nhằm tránh rủi ro thất thoát trong việc chi tiền mặt.

3.2.3. Hoàn thiện hoạt động kiểm soát

Do yêu cầu cần thiết là phải xây dựng một nền tài chính BHXH lành mạnh, dân chủ, công khai, minh bạch với tạo lập một quỹ BHXH an toàn, cân đối, ổn định, vững chắc, lâu dài. Để làm được việc này trước hết phải hoàn thiện quy trình thu, chi BHXH nhằm tăng nguồn thu, mở rộng đối tượng tham gia BHXH; tăng cường công tác quản lý các hoạt động thu – chi quỹ BHXH; triệt để tận dụng các nguồn tạm thời nhàn rỗi đưa vào hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH.

3.2.4. Hoàn thiện hệ thống thông tin và truyền thông

Thông tin về các đối tượng tham gia BHXH ngoài việc BHXH có thông tin thì còn có thể phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan để bổ sung và hỗ trợ cho công tác thực hiện BHXH được thuận lợi, các kênh thông tin liên thông có thể tạo lập giữa các cơ quan chức năng như phòng kế hoạch đầu tư, phòng Lao động TBXH, Chi cục thuế, Phòng y tế, các bệnh viện…Thường xuyên kiểm tra, xác minh lại các đối tượng đang hưởng các chế độ trợ cấp tại địa bàn cư trú để giải quyết đúng các chế độ, tránh các rủi ro chi sai không đúng đối tượng.

Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền bằng nhiều hình thức thu hút đến mọi tầng lớp người lao động thông qua báo chí, đài truyền hình, băng rôn cổ động, tổ chức các cuộc thi tiềm hiểu về nghĩa vụ và quyền lợi của người lao động về luật BHXH, BHYT, BHTN…Để người lao động hiểu và ý thức được lợi ích của việc tham gia BHXH.

3.2.5. Nâng cao hiệu quả giám sát về BHXH

Để khắc phục tình trạng các đơn vị sử dụng lao động không tuân thủ các quy định của Nhà nước về BHXH đòi hỏi cần tiến hành nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó cần thiết phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chính sách, pháp luật về BHXH. Thông qua thanh tra, kiểm tra, cơ quan BHXH huyện Châu Thành sẽ đưa ra những tác động phù hợp với những đơn vị sử dụng lao động có hành vi vi phạm pháp luật BHXH nhằm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của các đơn vị vi phạm; góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động về BHXH. Thanh tra, kiểm tra còn có những tác động tích cực trong việc phát hiện, ngăn chặn, phòng ngừa những hành vi vi phạm pháp luật về BHXH.

BHXH huyện Châu Thành cần đưa công tác thanh tra, kiểm tra vào kế hoạch hoạt động hàng năm của cơ quan bên cạnh công tác thu, chi. Cần đưa ra được số lượng cụ thể số đơn vị sử dụng lao động sẽ tiến hành thanh tra, kiểm tra năm kế hoạch.

Bố trí cán bộ viên chức có kinh nghiệm về công tác BHXH để thực hiện kiểm tra, thanh tra tại các đơn vị sử dụng lao động; không sắp xếp cán bộ BHXH có quen biết với chủ sử dụng lao động trong thanh tra, kiểm tra tại đơn vị đó.

Ngoài phương thức thanh tra, kiểm tra thường xuyên định kỳ cần tăng cường kiểm tra, thanh tra đột xuất vì thanh tra đột xuất phản ánh thực tế nhất việc thực hiện BHXH của chủ sử dụng lao động đối với từng người lao động làm việc tại đơn vị.

Phối hợp với thanh tra lao động – thương binh và xã hội, hệ thống kiểm tra của công đoàn để việc thanh tra, kiểm tra được tiến hành nhanh và có hiệu quả.

KẾT LUẬN

Trong thời gian qua ngành BHXH đã khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong đời sống của mỗi người lao động, xứng đáng là trụ cột chính của an sinh quốc gia. Đây là cơ quan thực hiện chính sách BHXH ,BHYT và BHTN được thể chế hóa bằng ba Luật là: Luật BHXH, Luật BHYT và Luật BHTN, có vi phạm điều chỉnh trên toàn quốc. Đối tượng gồm có nhân dân lao động và toàn thể cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Nếu chúng ta thực hiện tốt 3 Luật này thì công tác an sinh xã hội sẽ đạt hiệu quả cao, góp phần giữ vững, ổn định chính trị, xã hội của đất nước.

Do đó hệ thống kiểm soát nội bộ có một vai trò hết sức quan trọng trong ngành BHXH. Qua quá trình nghiên cứu về hệ thống KSNB đối với các hoạt động thu, chi tại BHXH huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Luận văn đã tập trung giải quyết được một số vấn đề sau:

– Luận văn đã tổng kết những lý luận về quản lý và KSNB trong quản lý, những kiến thức chung về KSNB và những hạn chế cố hữu của hệ thống KSNB.

– Nghiên cứu những đặc điểm của các hoạt động thu, chi BHXH để làm căn cứ phân tích vai trò của hệ thống KSNB đối với các hoạt động thu, chi BHXH.

– Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống KSNB đối với các hoạt động thu, chi BHXH tại BHXH huyện Châu Thành, nêu lên những mặt ưu điểm cũng như những mặt hạn chế, nguyên nhân dẫn đến các hạn chế đó, thấy được sự cần thiết phải hoàn thiện.

– Đề ra phương hướng và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB đối với các hoạt động thu, chi BHXH tại BHXH huyện Châu Thành.

Mặc dù đã rất cố gắng trong thực hiện đề tài nhưng với thời gian và khả năng nghiên cứu có hạn trong khi KSNB tại một đơn vị là vấn đề phức tạp do đó luận văn có thể tồn tại một số hạn chế. Vì vậy kính mong Quý Thầy, Cô đóng góp ý kiến và hướng dẫn thêm để luận văn được hoàn thiện hơn.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN 10 NGUOI – KIEN GIANG\2. Dương Minh Tâm K15MAC.KG(R)\2. Dương Minh Tâm K15MAC.KG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *