Hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Minh Hóa
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với người lao động (NLĐ) nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho họ và gia đình trong các trường hợp ốm đau, thai sản, suy giảm khả năng lao động do tai nạn lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở có đóng góp vào quỹ BHXH bắt buộc.
Trong những năm qua, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, hệ thống BHXH Việt Nam từ Trung ương tới địa phương có những bước phát triển đáng kể, hoạt động BHXH được triển khai rộng khắp và đã thu được những kết quả đáng ghi nhận, từng bước đáp ứng được các yêu cầu của nhân dân trong việc đảm bảo ổn định, nâng cao chất lượng cuộc sống và nâng cao hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội.
Huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình nằm trong địa bàn huyện miền núi biên giới, điều kiện kinh tế – xã hội nhìn chung còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn vẫn chiếm tỷ lệ cao so với các huyện trong tỉnh. Mấy năm qua được sự hỗ trợ, đầu tư của Đảng và Nhà nước tỷ lệ nghèo trên địa bàn có giảm, nhưng chưa bền vững. Đời sống nhân dân và cán bộ, viên chức so với mặt bằng chung toàn tỉnh còn thấp. Nhận thức về chính sách BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT) trong nhân dân chưa cao, cho nên việc tham gia BHXH, BHYT chưa được hưởng ứng tích cực. Một số đơn vị đặc biệt là Doanh nghiệp tư nhân hoạt động không hiệu quả, nợ BHXH kéo dài, bên cạnh đó một số chủ sử dụng lao động chưa thật sự quan tâm đến công tác BHXH, BHYT dẫn đến kết quả việc thực hiện nhiệm vụ chính trị nói chung và công tác thu nói riêng còn thấp.
Hiện tại công tác quản lý thu BHXH huyện Minh Hóa còn bộc lộ nhiều hạn chế như công tác thu bảo hiểm xã hội huyện Minh Hóa chưa đạt được kế hoạch giao, năm 2019 kế hoạch thu BHXH huyện đặt ra là 43.909 tỷ đồng, tuy nhiên việc thực hiện thu chỉ đạt 41.993 tỷ đồng, tình trạng nợ động vẫn kéo dài, … việc chấp hành về luật lao động, luật BHXH của một số chủ doanh nghiệp đối với người lao động vẫn còn chưa nghiêm túc, chưa tự giác.
Để khắc phục những hạn chế nói trên, cần nghiên cứu rõ hơn về công tác quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Minh Hóa trong những năm gần đây và qua đó đưa ra những đề xuất giúp cơ quan BHXH huyện có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu BHXH bắt buộc, vì vậy tác giả quyết định chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Minh Hóa” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ.
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý thu Bảo hiểm xã hội huyện Minh hóa tỉnh Quảng Bình đưa ra định hướng và các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội tại huyện Minh hóa, tỉnh Quảng Bình.
– Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc của cơ quan bảo hiểm xã hội;
– Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Minh Hóa giai đoạn 2017 – 2019;
– Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiệncông tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Minh Hóađến năm 2025.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đếncông tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Minh Hóa.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
– Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tại Bảo hiểm xã hội huyện Minh Hóa.
– Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2017 đến 2019 và đưa ra các giải pháp định hướng chiến lược đến năm 2025.
4.1. Phương pháp thu thập thông tin, số liệu
* Dữ liệu thứ cấp
Bao gồm các thông tin, số liệu về nguồn lực, tình hình hoạt động và kết quả hoạt động nói chung và công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Minh Hóa do các bộ phận chức năng của đơn vị cung cấp qua các báo cáo hàng năm. Ngoài ra, để phục vụ nghiên cứu đề tài, tác giả còn tham khảo các loại sách, báo, tạp chí chuyên ngành, giáo trình, cũng như các kết quả của các công trình nghiên cứu đã được công bố có liên quan đến lĩnh vực và vấn đề nghiên cứu.
* Dữ liệu sơ cấp
Nguồn dữ liệu sơ cấp phục vụ nghiên cứu đề tài được thu thập bằng việc tiến hành điều tra khảo sát mẫu, đánh giá mức độ hài lòng từ cá nhân, tổ chức, NLĐ tham gia đóng BHXH bắt buộc trên địa bàn theo bảng câu hỏi được chuẩn bị trước với các nội dung cần nghiên cứu của đề tài.
4.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp
– Phương pháp thống kê mô tả
– Phương pháp so sánh và phân tích theo chuỗi dữ liệu theo thời gian
– Phương pháp xử lý số liệu
– Phương pháp chuyên gia
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Minh Hóa.
6. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM
XÃ HỘI BẮT BUỘC TRONG ĐƠN VỊ BHXH CẤP HUYỆN
1.1. Khái quát về quản lý thu BHXH
1.1.1. Khái niệm, bản chất, vai trò của BHXH
Theo tổ chức lao động thế giới (ILO): BHXH “là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để đối phó với khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”.
Theo Luật BHXH năm 2014 (Luật số: 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014) : BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.
1.1.1.2. Bản chất của chính sách về bảo hiểm xã hội
- BHXH thể hiện tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc
b. BHXH là một công cụ quản lý xã hội, là sự đảm bảo của Nhà nước để ổn định đời sống cho người tham gia BHXH và an toàn xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển. Đồng thời đây là quá trình phân phối lại thu nhập của xã hội.
1.1.1.3. Vai trò của bảo hiểm xã hội
a. BHXH góp phần ổn định đời sống của con người lao động và gia đình khi đã hết tuổi lao động hoặc không còn đủ sức tiếp tục lao động hoặc quá trình làm việc không may gặp phải những rủi ro.
b.BHXH làm gắn bó lợi ích giữa người lao động, người sử dụng lao động đối với Nhà nước.
c.BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội
d.BHXH góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế đất nước, góp phần ổn định chính trị, xã hội…
1.1.2. Quản lý thu bảo hiểm xã hội
1.1.2.1. Quan niệm về quản lý thu BHXH
Từ những nhận định và phân tích về quản lý thu BHXH bắt buộc, tác giả khái quát về quản lý thu BHXH là sự tác động của Nhà nước thông qua các quy định mang tính pháp lý bắt buộc các bên tham gia BHXH phải tuân thủ thực hiện, trong đó cơ quan BHXH thực hiện các nghiệp vụ và các phương pháp đặc thù tác động trực tiếp vào đối tượng đóng để đạt được mục tiêu đề ra.
1.1.2.2. Nguyên tắc quản lý thu bảo hiểm xã hội
Một là: thu đúng, thu đủ, kịp thời
Hai là: tập trung, thống nhất, công bằng, công khai
1.1.2.3. Vai trò của quản lý thu bảo hiểm xã hội
BHXH là một khái niệm rộng và phức tạp, bao gồm thu, chi, các thực hiện các chế độ, chính sách dài hạn, ngắn hạn; đối tượng và phạm vi áp dụng rộng và liên quan đến đời sống của người lao động làm công ăn lương; thực hiện các chế độ BHXH làm đảm bảo đời sống kinh tế cho người lao động có tham gia BHXH được xem như là “đầu ra” của BHXH và thu BHXH là yếu tố “đầu vào” của BHXH, trong đó quản lý thu BHXH là khâu đầu tiên trong việc xác lập mối quan hệ về BHXH giữa người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan BHXH.
Mặt khác, BHXH thực hiện theo nguyên tắc chia sẻ cộng đồng, lấy số đông bù cho số ít nên khi tham gia BHXH, người lao động sẽ được san sẻ rủi ro ốm đau, thai sản, tai nạn lao động. Người lao động khi nghỉ hưu để duy trì cuộc sống, sẽ đỡ gánh nặng về tài chính cho gia đình, góp phần vào ổn định xã hội, bền vững là cơ sở nên một xã hội ổn định, bền vững. Khi người dân có cuộc sống được đảm bảo, sẽ hạn chế được nhiều các tệ nạn xã hội, phân biệt đối xử, giảm bớt về khoảng cách giàu nghèo.
1.1.2.4. Mục đích của quản lý thu bảo hiểm xã hội
Thứ nhất, đảm bảo cho yếu tố “đầu vào” đủ khả năng thực hiện quá trình tái sản xuất xã hội.
Thứ hai, xác lập rõ quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH.
Thứ ba, là không bỏ sót nguồn thu, quản lý chặt chẽ, đảm bảo nguồn thu được sử dụng đúng mục đích; đồng thời làm cho nguồn thu BHXH ngày càng liên tục được tăng trưởng.
Thứ tư, đảm bảo các quy định về thu BHXH được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, khắc phục được tính bình quân nhưng vẫn đảm bảo tính xã hội thông quan việc điều tiết, chia sẻ những rủi ro.
1.2. Nội dung quản lý thu BHXH bắt buộc
1.2.1. Tổ chức bộ máy quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.2.2. Quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.2.3. Quản lý mức thu và phương thức đóng bảo hiêm xã hội
1.2.4. Lập kế hoạch thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.2.5. Tổ chức thu bảo hiếm xã hội
1.2.6. Công tác tuyên truyền, hỗ trợ người đóng bảo hiểm xã hội
1.2.7. Công tác thanh, kiểm tra hoạt động thu bảo hiểm xã hội
1.2.8. Công tác giải quyết khiếu nại
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHXH
a. Hệ thống chính sách pháp luật về BHXH bắt buộc
b. Chính sách tiền lương của Nhà nước
c. Sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương
a. Nhận thức và ý thức trách nhiệm của người tham gia BHXH bắt buộc
b. Năng lực tổ chức, quản lý, điều hành của đội ngũ cán bộ thu BHXH
1.4. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý thu BHXH
1.4.1. Mức độ hoàn thành kế hoạch thu Bảo hiểm xã hội trong năm ()
Đây là tiêu chí đầu tiên và quan trọng nhất để đánh giá quản lý thu Bảo hiểm xã hội.
Công thức tính:
1.4.2. Tỷ lệ nợ đọng Bảo hiểm xã hội ()
Đây là tiêu chí thứ hai để đánh giá quản lý thu BHXH
Công thức tính:
1.4.3. Tốc độ tăng số lượng đối tượng tham gia BHXH ()
Công tác quản lý thu BHXH trong đó công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH tốt sẽ giúp cho cán bộ quản lý thu quản lý chặt chẽ, điều tra nắm rõ số lượng đối tượng tham gia bao gồm số đơn vị và số lao động tham gia BHXH.
Công thức tính:
1.5. Kinh nghiệm quản lý thu BHXH bắt buộc tại một số địa phương
1.5.1. Kinh nghiệm quản lý thu tại Bảo hiểm xã hội huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
1.5.2. Kinh nghiệm quản lý thu tại Bảo hiểm xã hội thành phố Đà Nẵng
1.5.3. Bài học cho công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BHXH BẮT BUỘC TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1. Khái quát Bảo hiểm xã hội huyện Minh Hóa
2.1.1. Giới thiệu chung về Bảo hiểm xã hội huyện Minh Hóa
2.1.2. Bộ máy tổ chức của BHXH Huyện Minh Hóa
2.1.3. Chức năng và nhiệm vụ của BHXH huyện Minh Hóa
2.1.3.1. Nguyên tắc làm việc
2.1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ
2.2. Thực trạng công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Minh Hóa
2.2.1. Tổ chức bộ máy quản lý thu BHXH bắt buộc
Cơ quan BHXH huyện Minh Hóa phân công 04 cán bộ trực tiếp làm công tác thu BHXH. Mỗi cán bộ thu được giao quản lý thu ở một số khu vực đơn vị sử dụng lao động cụ thể nên tránh sự chồng chéo trong thực hiện nhiệm vụ thu. Do vậy dù khối lượng công việc thu rất lớn nhưng bằng trách nhiệm làm việc, sự tâm huyết, nhiệt tình thì cán bộ thu luôn hoàn thành nhiệm vụ đề ra.
2.2.2. Công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
2.2.2.1. Quản lý số đơn vị tham gia bảo hiểm xã hội
Số đơn vị tham gia BHXH tăng dần theo từng năm. Năm 2017 số đơn vị đăng ký tham gia là 177 đơn vị đến năm 2018 đã có 180 đơn vị tham gia, năm 2019 có 203 đơn vị tham gia BHXH tăng 26 đơn vị so với năm 2017.
Các đơn vị tham gia đóng bảo hiểm xã hội chủ yếu năm trong khối HS, Đảng, Đoàn thể chiếm tỉ lệ 51,4% trong năm 2017; 51,1% trong năm 2018 và 45,3% trong năm 2019; Khối DN ngoài quốc doanh trong tổng số cũng chiếm số lượng khá lớn 18,1% trong năm 2017; 19,4% trong năm 2018 và 27,1% trong năm 2019, và các khối còn lại chiếm tỉ lệ nhỏ hơn.
2.2.2.2. Quản lý số lao động tham gia bảo hiểm xã hội
Qua bảng số lao động tham gia BHXH tại BHXH bắt buộc huyện Minh Hóa giai đoạn 2017 – 2019, ta có thể thấy: Số lao động tham gia BHXH bắt buộc có xu hướng giảm từ 3.142 người năm 2017 xuống 3.113 năm 2018 và giảm xuống 3.083 năm 2019.Khối HCSN, Đảng, Đoàn có số lượng người tham gia lớn nhất với 2.178 người trong năm 2019 chiếm 70,6% tổng số người; Khối phường xã, thị trấn có 341 người chiếm 11,1%. Tuy nhiên, Khối DN Nhà nướccó 0,5%, Khối DN có vốn DTNN có 3%, Khối DN Ngoài quốc doanh có 6%, Khối hợp tác xã có 0,1%, Hộ SXKD cá thể, tổ hợp táccó 1%, các đơn vị này chiếm tỷ lệ rất thấp.
2.2.3. Công tác tổ chức thu – nộp BHXH bắt buộc
Qua bảng số liệu có thể thấy nguồn thu chủ yếu của BHXH huyện Minh Hóa là từ khối hành chính sự nghiệp, đảng, đoàn thể; khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và khối phường xã, thị trấn. Còn các khối khác số thu chiếm một tỉ trọng nhỏ.
Kế hoạch giao thu của BHXH huyện Minh Hóa quá các năm sát với thực tế. Kế hoạch thu BHXH và thực hiện tương đối khớp.
2.2.4. Lập kế hoạch thu BHXH bắt buộc
Lập kế hoạch thu có vai trò rất quan trọng trong công tác thu BHXH bắt buộc. Lập kế hoạch là khâu đầu tiên, có tính chất quyết định đến công tác thu BHXH hàng năm của cơ quan BHXH các cấp. Kế hoạch lập ra càng sát với thực tế và phù hợp với tình hình cụ thể của địa phương thì công tác thu càng hoàn thiện và có hiệu quả.
Tại BHXH huyện Minh Hóa, lập kế hoạch thu được tiến hành vào đầu tháng 10 năm trước và được giao cho cán bộ thu thực hiện. Kế hoạch thu được lập chi tiết tới từng đơn vị SDLĐ.
2.2.5. Tình hình thu của Bảo hiểm xã hội huyện Minh Hóa
2.2.5.1. Khối hành chính nhà nước
Qua bảng cho thấy, số đơn vị BHXH cơ bản là ổn định. Tổng quỹ lương tham gia BHXH của khu vực này cũng chiếm tỷ lệ lớn so với các khối khác trên toàn tỉnh và tăng qua các năm, vì thế khu vực này đóng góp số thu BHXH lớn nhất tên địa bàn huyện Minh Hóa. Sự gia tăng không đều giữa các năm do sự biến động về số lao động tham gia BHXH không đều và do sự điều chỉnh tỷ lệ đóng góp theo luật bảo hiểm xã hội thay đổi.
2.2.5.2. Khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN)
Qua bảng cho thấy, số đơn vị BHXH cơ bản là ổn định qua các năm. Do đặc thù của một huyện miền núi nên các doanh nghiệp nhà nước hoạt động không nhiều (chỉ có 2 đơn vị).
2.2.5.3. Khối DN ngoài quốc doanh
Qua bảng cho thấy, số đơn vị BHXH có xu hướng tăng, đặc biệt năm 2019 tăng mạnh so với 2018. Sự biến động này là do tình hình kinh tế chung trong năm 2017 biến động theo chiều hướng có lợi cho doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp được thành lập mới và đi vào hoạt động, một số doanh nghiệp cắt giảm số lao động để tập trung ưu tiên các chính sách cho người lao động.
2.2.5.4. Khối Hợp tác xã
Qua bảng cho thấy, số đơn vị BHXH cơ bản là ổn định, chỉ có năm 2019 tăng so với 2018 là 2 đơn vị, tương ứng tăng 100%. Đây là một con số thấp, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của một xã miền núi.
2.2.5.5 Khối hộ kinh doanh cá thể
Qua Bảng 2.10 cho thấy, số đơn vị BHXH tăng giảm liên tục. Điều này cũng dễ hiểu vì theo quy định của nhà nước, hộ kinh doanh là do một cá nhân, công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.
2.2.5.6 Khối hộ phường xã, thị trấn
Qua Bảng 2.11 cho thấy, số đơn vị BHXH là ổn định, không thay đổi qua các năm. Tuy nhiên số lao động có xu hướng giảm qua các năm, đặc biệt là năm 2019 giảm so với năm 2018 là 9 lao động, tương ứng giảm 2,55%. Tuy nhiên, nhờ chính sách điều chỉnh lương cũng như các bổ sung thêm các chế độ phụ cấp, nên tổng quỹ lương lại tăng lên các năm, năm 2018 tăng 702 triệu so với năm 2017, năm 2019 tăng đột biến là 1.469 triệu so với năm 2018, tương ứng tăng 10,3%. Số phải đóng BHXH cũng có xu hướng tăng lên, năm 2018 tăng 109 triệu so với năm 2017 và năm 2019 tăng 299 triệu so với năm 2018.
2.2.5.7 Khối cán bộ phường xã không chuyên trách
Tình hình thu BHXH khối phường, xã, thị trấn tại BHXH huyện Minh Hóa giai đoạn 2017-2019 thể hiện qua Bảng cho thấy, số đơn vị khối cán bộ phường xã không chuyên trách không thay đổi, có biến động về số lao động năm 2018 tăng 16 người và giảm 4 người năm 2019 tương ứng 7,08% và -1,65%. Do đó, dẫn đến quỹ lương cũng thay đổi 2.043 triệu đồng tương ứng 136,6%, quỹ lương tăng do có sự điều chỉnh mức lương tối thiểu qua các năm.
2.2.5.8. Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DTNN)
Qua bảng số liệu, ta nhận thấy được, tuy khối doanh nghiệp có vốn DTNN chỉ có 1 đơn vị tham gia nhưng số lao động tham gia và tổng quỹ lương phát sinh lớn năm 2017 là 13.174 triệu đồng, năm 2018 tăng 874 triệu đồng và năm 2019 quỹ lương là 15.133 triệu đồng tăng 1.085 triệu đồng so với năm 2018 tương ứng 7,72%.
Nhìn chung, BHXH huyện đã có những phương án thu BHXH đối với từng loại đối tượng, từng khối nhìn chung là tốt.
2.2.6. Công tác tuyên truyền, vận động, phát triển đối tượngBHXH bắt buộc
Qua bảng tổng hợp, ta thấy BHXH huyện Minh Hóa đã cơ bản thực hiện đầy đủ các hoạt động tuyên truyền, vận động tham gia BHXH. Số cuộc tuyên truyền năm 2017 là 6 đợt, giữ nguyên trong năm 2018 và tăng lên 8 đợt trong năm 2019, số cuộc tuyên tuyền đảm bảo có từ 1 đến 2 đợt trong quý. BHXH huyện Minh Hóa đã tập trung mạnh công tác tuyên truyền vào đầu tư phát tờ rơi, tăng đều qua từng năm, cụ thể: năm 2017 có 1.750 tờ rơi, năm 2018 có 2.100 tờ rơi và năm 2019 phát ra 2.500 tờ rơi. Ngoài ra, BHXH huyện Minh Hóa còn phối hợp với Đài truyền thanh – Truyền hình huyện tổ chức tuyên truyền tham gia BHXH trên sóng phát thanh, truyền hình, số đợt tăng lên nhưng vẫn còn hạn chế.
2.2.7. Công tác kiểm tra, giám sát BHXH bắt buộc
Ngay sau khi Nghị định số 21/2016/NĐ-CP về thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành đóng BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp của ngành BHXH có hiệu lực thi hành (từ 01/6/2016), BHXH Việt Nam và BHXH các tỉnh, thành phố đã khẩn trương vào cuộc. Với mục tiêu đảm bảo quyền lợi cho người tham gia và thụ hưởng chế độ BHXH, BHXH huyện Minh Hóa đã đề ra kế hoạch kiểm tra từ đầu năm với nội dung cụ thể, thiết thực.
Định kỳ hàng tháng, hàng quý hoặc đột xuất, BHXH huyện Minh Hóa tiến hành kiểm tra tại các đơn vị có sử dụng lao động, kiểm tra toàn diện về thực hiện chính sách BHXH, BHYT. Nếu phát hiện có sai phạm thì tiến hành lập biên bản giữa 2 bên, nếu kiến nghị và báo cáo BHXH tỉnh và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để khởi kiện nếu những sai phạm đó là lớn, nghiêm trọng.
Công tác kiểm tra thực sự đã làm chuyển biến mạnh mẽ trong cách làm việc và thái độ của các đơn vị SDLĐ với việc tham gia BHXH cho NLĐ.
Nhìn chung, công tác kiểm tra tại BHXH huyện Minh Hóa khá thường xuyên nhưng còn mang tính hình thức.
2.2.8. Tình hình khởi kiện đơn vị và thu hồi nợ BHXH bắt buộc
Từ năm 2017 – 2019, cơ quan BHXH tiến hành công tác khởi kiện doanh nghiệp nợ quỹ BHXH nhưng vẫn chưa giải quyết triệt để.
Từ 01/01/2016, theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, tổ chức công đoàn được giao quyền khởi kiện doanh nghiệp, cá nhân nợ quỹ BHXH. Tuy nhiên, sau hơn 1 năm từ khi quy định có hiệu lực, tổ chức công đoàn vẫn chưa khởi kiện thành công vụ nào. Nguyên nhân là do vướng mắc về pháp lý, bất cập giữa một số quy định trong các Luật, Bộ luật. Hành vi nợ, trốn đóng BHXH là hành vi bị nghiêm cấm trong Luật Bảo hiểm xã hội, do đó, phải xử phạt hành chính theo Luật xử phạt hành chính, nên các cấp Tòa án nhân dân không tiến hành thụ lý hồ sơ khởi kiện do công đoàn thực hiện. Đồng thời, trong quá trình khởi kiện và thi hành án cũng gặp một số khó khăn.
2.2.9. Đánh giá của đối tượng khảo sát về công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Minh Hóa
2.2.9.1. Đánh giá của cán bộ, nhân viên về công tác quản lý thu BHXH
Việc chọn mẫu được tiến hành ngẫu nhiên với tổng số mẫu điều tra là 16 phiếu. Thông tin về mẫu điều tra cán bộ viên chức như đã trình bày ở phần mở đầu.
– Đánh giá của CBVC BHXH về công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH
Qua Bảng 2.17 cho thấy, cán bộ viên chức đánh giá cao với hầu hết các tiêu chí. Kết quả này chứng tỏ rằng những tiêu chí này cũng rất quan trọng, được cán bộ, viên chức đánh giá đồng ý là thuận lợi, dễ thực hiện. Điều này cho thấy, cán bộ viên chức nắm rất rõ thủ tục từ đó có thể tư vấn và làm chủ khả năng của mình trong việc tư vấn, giải thích các thủ tục cho người lao động.
– Đánh giá của cán bộ viên chức BHXH về công tác quản lý thu BHXH
Qua Bảng 2.18 cho thấy,cán bộ viên chức đánh giá cao với hầu hết các tiêu chí, trong đó tiêu chí được đánh giá đồng ý như “Quy định mức đóng BHXH hiện nay là phù hợp” (GTTB = 3,69), “Quy định về phương thức đóng BHXH hiện nay là phù hợp” (GTTB = 3,75)… Kết quả này chứng tỏ những quy định này rất phù hợp với đối tượng tham gia BHXH, cách thức đóng cũng rất phù hợp.
– Đánh giá của cán bộ viên chức BHXH về công tác thanh tra, kiểm tra
Qua Bảng 2.19 cho thấy, cán bộ viên chức đánh giá rất thấp ở các nội dung, GTTB dưới 3. Điều này cho thấy công tác thanh tra kiểm tra đang làáp lực đối với đơn vị sử dụng lao động và cũng chính làáp lực đối với bộ phận làm công tác thanh tra, kiểm tra của bảo hiểm xã hội huyện. Nguyên nhân là do sự am hiểu pháp luật của một bộ phận làm công tác bảo hiểm tại các công ty, doanh nghiệp chưa cao, một phần do chế tài chưa nghiêm dẫn đến các kẻ hở cho cácđối tượng lợi dụng vàođó để trục lợi…
– Đánh giá của cán bộ viên chức BHXH về công tác tuyên truyền BHXH
Qua Bảng 2.20 cho thấy, cán bộ viên chức BHXH đánh giá không cao nội dung tuyên truyền. Điều này cho thấy nội dung tuyên truyền hiện nay chưa thật sự phong phú và đa dạng về thể loại.
2.2.9.2. Đánh giá của doanh nghiệp về công tác quản lý thu BHXH tại BHXH huyện Minh Hóa
Việc chọn mẫu được tiến hành ngẫu nhiên với tổng số mẫu điều tra là 80 phiếu. Trong đó có 76 phiếu hợp lệ và 4 phiếu không hợp lệ. Quy mô chọn mẫu như đã trình bày ở phần mở đầu.
– Đánh giá của doanh nghiệp về công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH
Qua bảng cho thấy, có sự khác nhau trong đánh giá các quy định quản lý đối tượng tham gia.
– Đánh giá của doanh nghiệp về công tác quản lý thu BHXH
Qua bảng 2.23 cho thấy, có sự khác nhau trong đánh giá về quản lý thu BHXH
– Đánh giá của doanh nghiệp về công tác thanh tra, kiểm tra BHXH
Qua bảng 2.24 cho thấy, có sự khác nhau trong đánh giá về quản lý thu BHXH
– Đánh giá của doanh nghiệp về công tác tuyên truyền BHXH
Qua bảng 2.25 cho thấy, có sự khác nhau trong đánh giá về nội dung tuyên truyền về BHXH
2.3. Đánh giá thực trạng công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình
Thứ nhất, trong tổ chức bộ máy quản lý thu BHXH bắt buộc: Xây dựng được đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý thu đều có phẩm chất về mặt đạo đức, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
Thứ hai, trong việc công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc: Các công chức, viên chức, người lao động của BHXH huyện Minh Hóa luôn cố gắng trong quá trình công tác để hoàn thành các chỉ tiêu mà BHXH tỉnh Quảng Bình giao cho.
Thứ ba, công tác quản lý thu nộp: đã phần nào nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các ngành các cấp, đơn vị SDLĐ đặc biệt là khối DN có vốn DTNN trong công tác thực hiện chính sách BHXH.
Thứ tư, trong việc hoàn thành kế hoạch thu BHXH bắt buộc: Các cán bộ và nhân viên của BHXH huyện Minh Hóa đã phấn đấu tích cực thực hiện thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định của pháp luật.
Thứ năm, công tác tuyên truyền: Công tác tuyên truyền đã góp phần định hướng dư luận, tạo sự ổn định về tư tưởng trong các tầng lớp nhân dân về chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước.
Thứ sáu, trong việc nỗ lực giảm số tiền nợ đọng BHXH bắt buộc: BHXH huyện đẩy mạnh hoạt động của tổ thu nợ cấp tỉnh, cấp huyện để tăng thu, giảm nợ đọng.
Thứ bảy, công tác cải cách thủ tục hành chính đã có chuyển biến tốt: BHXH huyện đã từng bước cải cách thủ tục hành chính trong công tác quản lý thu BHXH bắt buộc.
Thứ tám, công tác quản lý, phối hợp: BHXH huyện Minh Hóa cũng đã có sự giám sát, phối hợp giữa các ban ngành liên quan hên địa bàn huyện trong quản lý các đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức SDLĐ và NLĐ, hạn chế phần nào tình trạng trốn đóng, nợ đọng BHXH làm cho hoạt động thu dần đi vào ốn định và phát triến.
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân
– Hạn chế :
* Trong công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
Đối tượng tham gia BHXH có xu hướng giảm; nhiều doanh nghiệp chưa tham gia BHXH.
Nhiều đơn vị cố tình trốn tránh nghĩa vụ trích nộp.
Khu vực ngoài công lập còn có nhiều nhà trẻ mầm non tư thục, cơ sở thể dục thể hình, thể dục thẩm mỹ không ký kết hợp đồng với người lao động nên việc người lao động theo Luật định ở các đơn vị này không đơn giản.
* Công tác quản lý mức thu nộp.
Khi đơn vị SDLĐ thực hiện đóng BHXH không đúng với trên tổng quỹ tiền lương thực tế, ghi hạ mức lương trong HĐLĐ để trích đóng BHXH thấp hơn, do vậy quyền lợi và nghĩa vụ của NLĐ không được đảm bảo. Về căn cứ tính thu BHXH vẫn chưa hợp lý. Nhiều khoản thu nhập ngoài lương thường xuyên vẫn chưa được tính vào để trích thu BHXH.
* Tình hình nợ đọng
Việc nợ BHXH là do doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Số lao động thuê theo thời vụ nên việc đóng bảo hiểm cho NLĐ không được quan tâm.
Hiện tượng trốn tránh và nợ đọng BHXH kéo dài diễn ra ngày càng nhiều mà chưa có các biện pháp, chế tài đủ mạnh để xử lý.
* Công tác tuyên truyền.
Hiện nay, đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền vừa thiếu về tổ chức và biên chế, còn bị hạn chế về chuyên môn.
Công tác truyền thông chưa đa dạng, chưa thường xuyên liên tục.
* Công tác thanh tra, kiểm tra:
Công tác kiểm tra tại BHXH huyện Minh Hóa khá thường xuyên nhưng còn mang tính hình thức, chưa có tính răn đe với những đơn vị sai phạm còn hạn chế, một số đơn vị vẫn còn chậm trễ trong việc đóng nộp BHXH, chây ỳ, trốn đóng, có dấu hiệu nợ đọng kéo dài.
– Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:
* Nguyên nhân khách quan
Do sự bất ổn của kinh tế toàn cầu
Các DNTN phát triển mạnh nhưng quy mô nhỏ, và thiếu ổn định.
Nhận thức về chính sách BHXH của chủ SDLĐ, NLĐ còn kém, chưa chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật.
* Nguyên nhân chủ quan
Hiện nay chế tài chưa đủ mạnh để răn đe.
Nhà nước chưa ban hành các văn bản quy định đối với các cơ quan quản lý nhà nước
Công tác kiểm tra thanh tra tuy đã được thực hiện ngày một nhiều nhưng chưa thường xuyên, thiếu chế tài xử phạt mạnh.
Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước với ngành BHXH còn chưa chặt chẽ, chưa đạt được hiệu quả cao
Công tác thông tin tuyên truyền, giải đáp các chế độ BHXH tuy đã được thực hiện nhưng tần suất tuyên truyền còn ít, không định kỳ.
Trình độ cán bộ làm công tác quản lý thu BHXH còn chưa đồng đều.
Trong các đơn vị doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hoạt động của tổ chức công đoàn chưa thực sự hiệu quả.
Do nhu cầu về việc làm và thu nhập, nhiều người lao động không dám đấu tranh với chủ DN về quyền được hưởng chế độ BHXH.
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN MINH HÓA
3.1. Định hướng hoạt động và giải pháp thực hiện của BHXH huyện Minh Hoá đến năm 2025
3.1.1. Định hướng chung của BHXH huyện Minh Hóa
3.1.2. Định hướng và mục tiêu của công tác thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Minh Hóa đến năm 2025
3.2. Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH tại BHXH huyện Minh Hóa
3.2.1. Quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
Một là, BHXH huyện Minh Hóa phải thường xuyên phân công các bộ theo dõi, kiểm tra, bám sát các đơn vị SDLĐ có đăng kí tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Minh Hóa.
Hai là, các cán bộ thu phải làm tốt công tác hướng dẫn nghiệp vụ, đặc biệt với các đơn vị đăng kí tham gia BHXH bắt buộc lần đầu cơ quan BHXH.
Ba là, tập trung khai thác triệt để đối tượng tham gia mới ở khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các hộ SXKD
3.2.2. Làm tốt công tác quản lý mức thu BHXH
Trong giai đoạn hiện nay, để quản lý tốt nguồn thu BHXH trước hết phải quản lý tốt mức đóng, phương thức đóng về tiền lương, tiền công của NLĐ. Đây là nội dung quan trọng và cũng chính là những tiêu chí bắt buộc NLĐ, NSDLĐ, cơ quan BHXH bắt buộc phải tuân thủ theo đúng quy định khi tham gia BHXH và là căn cứ pháp lý khi giao kế hoạch thu BHXH hằng năm của cơ quan có thẩm quyền.
Mức đóng, phương thức đóng và tiền lương, tiền công NLĐ làm căn cứ đóng BHXH do Nhà nước quy định được thể hiện trong Luật BHXH và các văn bản quy phạm pháp luật.
Các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn huyện Minh Hóa cần thực hiện đúng trình tự, thủ tục tham gia, đóng BHXH.
Cơ quan BHXH huyện cần phối hợp với các đơn vị liên quan để nắm chắc danh sách các đơn vị DN sản xuất có tính chất thời vụ… Để làm được việc này, các đơn vị cần sử dụng phần mền để quản lý như vậy sẽ dễ dàng trong việc thu đúng BHXH.
BHXH huyện Minh Hóa chủ động kiến nghị với BHXH tỉnh trong việc xác định mức tiền lương làm căn cứ thu BHXH của người lao động là mức tiền lương thực nhận mà NSDLĐ trả cho người lao động.
3.2.3. Giải pháp đối với vấn đề nợ, trốn đóng BHXH
– Hàng tháng, phải thông báo kịp thời số tiền phải nộp BHXH đối với các đơn vị để thủ trưởng đơn vị biết và có kế hoạch chuyển tiền. Tiếp tục đôn đốc kiểm tra, thu hồi tất cả các phần nợ mà doanh nghiệp đã khấu trừ từ tiền lương của NLĐ mà vẫn chiếm dụng không chịu nộp cho cơ quan BHXH. Yêu cầu chủ SDLĐ phải có lộ trình cam kết trả nợ cụ thể.
– BHXH huyện Minh Hóa phải tham mưu với UBND huyện thành lập tổ thu nợ liên ngành, phối hợp với các cấp, các ngành thanh tra, kiểm tra các đơn vị trên địa bàn huyện chưa tham gia BHXH, các đơn vị nợ BHXH hoặc chưa đảm bảo đầy đủ các quyền lợi về việc tham gia BHXH cho NLĐ để yêu cầu chủ SDLĐ thực hiện nghĩa vụ theo pháp luật.
– Tổ thu nợ của BHXH huyện cần phải tích cực vào cuộc hơn nữa, chủ động rà soát phân loại các đơn vị nợ đọng để có kế hoạch xử lý cụ thể.
– Định kỳ báo cáo các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp về tình hình thực hiện thu nộp BHXH trên địa bàn.
– Để chống thất thu BHXH, BHXH huyện Minh Hóa cần phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan tổ chức điều tra, khảo sát lại thông tin các doanh nghiệp trên địa bàn, từ đó làm cơ sở tiếp cận, nắm bắt đối tượng, tuyên truyền nhằm khai thác, mở rộng để tổ chức thu BHXH kịp thời hạn chế bỏ sót đối tượng.
– Phối hợp với Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thực hiện các quy định về Luật Lao động như giám sát ký kết hợp đồng lao động, đóng BHXH cho NLĐ…
3.2.4. Giải pháp đối với công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về BHXH
BHXH huyện cần thiết lập bộ phận chuyên trách để hỗ trợ cho các doanh nghiệp, trong việc hiểu biết về pháp luật BHXH và phương thức thu nộp BHXH.
Nội dung tuyên truyền phải căn cứ vào đối tượng để tuyên truyền. Đối tượng nào chưa hiểu về chính sách chế độ nào thì phải tuyên truyền về chính sách chế độ đó.
Hình thức tuyên truyền phải áp dụng đa dạng và phong phú. Nội dung tuyên truyền cần ngắn gọn dễ hiểu, gây được sự chú ý của mọi người.
Cán bộ chuyên quản tại BHXH huyện Minh Hóa không chỉ tích cực đôn đốc thu nộp mà còn là người tuyên truyền các chế độ chính sách cụ thể về BHXH đến từng đơn vị SDLĐ và NLĐ.
BHXH cần phải quan tâm đến việc tuyên truyền về mục đích bản chất nhân đạo của BHXH.
3.2.5. Tăng cường thanh tra, kiểm tra các đơn vị tham gia BHXH bắtbuộc
– Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra liên ngành
– Việc tổ chức phối hợp thanh tra, kiểm tra liên ngành sẽ tránh được hiện tượng chồng chéo, trùng lặp thường xảy ra trong thanh tra, kiểm tra.
– Đặc biệt BHXH huyện Minh Hóa cần phải năng động hơn trong việc xây dựng kế hoạch cùng với các cơ quan nhà nước tiến hành kiểm tra các doanh nghiệp ngoài quốc doanh để kiến nghị, định hướng cho các doanh nghiệp tham gia BHXH bắt buộc.
– BHXH huyện Minh Hóa phải thường xuyên thông báo cho Ủy ban Nhân dân huyện, những doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động trong thời gian dài nhưng không tham gia BHXH bắt buộc để UBND huyện có phương án xử lý theo quy định của pháp luật.
– Tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra, rà soát các đơn vị SDLĐ thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc.
– BHXH huyện phải trực tiếp đối chiếu để thu những đơn vị có dấu hiệu nợ đọng kéo dài, các đơn vị cố tình vi phạm cần nhanh chóng chuyển danh sách lên thanh tra lao động để có các biện pháp xử lý kịp thời.
Phân công cán bộ thường xuyên theo dõi sát sao, bám sát đơn vị SDLĐ để theo dõi biến động về số lao động, tổng quỹ lương và lương thực tế của NLĐ nhằm thu đúng, đủ, kịp thời số tiền đóng BHXH bắt buộc của mỗi đơn vị.
3.2.6. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của BHXH huyện Minh Hóa
– Trước tiên BHXH huyện Minh Hóa phải nâng cao trình độ nghiệp vụ và tác phong làm việc tích cực, hiệu suất cao của các cán bộ chuyên môn.
– Xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ, cán bộ chuyên làm công tác thu nói riêng, có phẩm chất chính trị tốt; vững về lập trường tư tưởng, yên tâm công tác, yêu ngành, yêu nghề; giỏi về chuyên môn nghiệp vụ; nắm chắc chính sách chế độ của Đảng và Nhà nước…
– Tăng cường đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức; đồng thời khuyến khích phong trào tự học bằng nhiều.
– Tiếp tục xây dựng và thực hiện chính sách phù hợp để thường xuyên thay thế, tuyển chọn được những người có đức, có tài…
– Nâng cao kiến thức về tin học cho các cán bộ BHXH.
Tích cực hơn nữa trong công tác giải quyết chế độ BHXH cho NLĐ, không để NLĐ phải chờ đợi.
Xây dựng quy chế giải quyết và xử lý công việc trong công tác thu, trong đó phân định rõ trách nhiệm công việc của đơn vị, cá nhân, phân cấp công tác thu, trách nhiệm của cán bộ chuyên quản thu đối với các đơn vị, doanh nghiệp.
Chuyển đổi tác phong làm việc từ hành chính sang phục vụ, thực hiện cải cách hành chính, niêm yết công khai quy trình và các thủ tục, hồ sơ tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị, đối tượng tham gia BHXH.
Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, viên chức BHXH.
Tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy, UBND huyện và sự giúp đỡ của các cấp ủy đảng, UBND các xã trong quá trình thực hiện công tác thu BHXH.
Phối hợp với các cấp, các ban, ngành rà soát tất cả các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, tổ chức và các cá nhân có thuê mướn, trên cơ sở đó xác định rõ đối tượng bắt buộc tham gia BHXH bắt buộc theo quy định.
Tăng cường công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý và cải cách thủ tục hành chính trong thực hiện chính sách BHXH.
Tăng cường công tác kiểm tra việc thực thi công vụ của cán bộ trong công tác thu BHXH, giải quyết chế độ, chính sách BHXH… thiết lập đường dây nóng để ngăn ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật BHXH và nâng cao trách nhiệm của cán bộ trong thực thi công vụ.
Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật, chính sách về BHXH, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm, nhất là tình trạng trốn đóng, nợ tiền BHXH và các hành vi tiêu cực khác liên quan đến BHXH.
– Đối với Bảo hiểm Xã hội tỉnh Quảng Bình
– Đối với Uỷ ban nhân dân huyện Minh Hóa
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với người lao động (NLĐ) nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho họ và gia đình trong các trường hợp ốm đau, thai sản, suy giảm khả năng lao động do tai nạn lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở có đóng góp vào quỹ BHXH bắt buộc. BHXH không chỉ có ý nghĩa về kinh tế đối với NLĐ mà còn có ý nghĩa nhân văn, nhân đạo sâu sắc thể hiện sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng thông qua nguyên tắc số đông bù số ít, thông qua đó cũng thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước tới các tầng lớp lao động trong xã hội. Với những vai trò to lớn nên ngay từ khi hệ thống BHXH ở nước ta được thành lập, Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho chính sách BHXH được hoàn thiện và phát triển nhanh chóng.
Trong giai đoạn 2017 – 2019, mặc dù có nhiều khó khăn do điều kiện khách quan, khối lượng công việc tiếp tục tăng cao, nhưng các công chức, viên chức, người lao động BHXH huyện Minh Hóa đã có nhiều cố gắng, nỗ lực phấn đấu hoàn thành thắng lợi toàn diện các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao, một số kết quả nổi bật như: mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc; tuyên truyền sâu rộng đến các đơn vị; hoàn thành kế hoạch thu BHXH bắt buộc; quan lý thu hiệu quả; hoàn thành kế hoạch thu BHXH bắt buộc; nâng cao trình độ cho đội ngũ công chức, viên chức, người lao động của BHXH huyện; cải cách thủ tục hành chính; và phối kết hợp với các cơ quan, ban ngành.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, trong lĩnh vực thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Minh Hóa còn nhiều tồn tại, hạn chế như: Đối tượng tham gia BHXH vẫn chưa đạt yêu cầu; nhiều doanh nghiệp chưa tham gia BHXH; đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền vừa thiếu về tổ chức và biên chế, còn bị hạn chế về chuyên môn; tình trạng nợ dộng BHXH còn xảy ra; Số cán bộ thu ít nhưng địa bàn quản lý rộng lớn.
Việc rút ra những nguyên nhân của những thành công và những yếu kém kết với kinh nghiệm quản lý công tác thu BHXH bắt buộc của các địa phương trong nước là hết sức quan trọng giúp tác giả đề xuất những giải pháp sát với thực tế nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Minh Hóa trong thời gian tới.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\DO THI LUYEN


