Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Vốn có vai trò hết sức quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để doanh nghiệp có thể hình thành và hoạt động không thể không cóvốn. Vốnđược hình thành ngaytừkhi thành lập doanh nghiệp và là tiềnđềcho các hoạt động của doanh nghiệp. Theo truyền thống, tài sản dùng để góp

vốn thường là các tàisảnhữuhình như tiền, nhà xưởng, máymóc… Tuy nhiên, xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu con người ngày càng cao thì bản thân conngườicàngýthức được giátrịto lớn của các tàisảnvô hình nói chung và tài sản trí tuệ nói riêng. Mặc dù là một loại tài sản vô hình, nhưng tài sản trí tuệ có khả năng tạo ra những giá trị vật chất to lớn, mang lại sức mạnh và thế cạnh tranh vững chắc cho chủ sở hữu. Những tài sản vô hình hiện nay ngày càng khẳng định vai trò là yếu tố cơ bản tạo nên giá trị của doanh nghiệp và tính cạnh tranh của doanh nghiệp trênthịtrường. Vì vậy, trong giaiđoạn hiện nay, các doanh nghiệp đang đặc biệt hết sức chú trọng đến việc tạo ra các tàisảntrí tuệ, cũng như đưa khai thác thươngmạiquyền SHTT thông qua việc góp vốn thành lập công ty bằng loại tài sản này.

Việc đưa quyền SHTT vào góp vốn đã diễn ra rất lâu và trở thành một điều phổ biến ở các quốc gia phát triển. Trong khi đó, ở Việt Nam, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT dù đã được ghi nhận trong pháp luật doanh nghiệp từnhững năm 1990, nhưng trong suốtmộtthời gian dài,sốlượng doanh nghiệp nhận góp vốn bằng loại tài sản này trên thực tế rất khiêm tốn, trong đó, chủ yếu là các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Tuy nhiên, trong vòng 10 nămtrởlạiđâycho thấy, hoạtđộnggóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT ở Việt Nam đã có nhiều thay đổi và chuyển biến tích cực. Trên thực tế, việc sử dụng quyền SHTT để góp vốn thành lập công ty đang ngày càng diễn ra sôi động. Song có một điều không thể phủ nhận đó là, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTTởViệt Nam cũng đang gặp không ítbấtcập như: khó khăn trong việc xác định tính hợp pháp của hoạt động góp vốn; khó khăn trong định giá quyền SHTT… Bên cạnhđó,nhiều trường hợp các cá nhân,tổchức, các

1

doanh nghiệp cũng như các cơ quan quản lý nhà nước cũng đã hết sức lúng túng khi góp vốn cũng như giải quyết các vấn đề phát sinh từ việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT. Trongmộtthời gian dài, các nhà quản lý, các cơquan nhà nước cũng đã phải loay hoay để tìm cách giải quyết cho việc góp vốn bằng các nhãn hiệu “Sông Đà” hay nhãn hiệu “Vinashin”. Việc giải quyết đã cólúc rơi vàobếtắckhi thiếu vắng cơsởpháp lývềgóp vốn thành lập công ty bằng loại tài sản này.

Trongsựphát triển của nềnkinhtếtri thức hiện nay, nhu cầu góp vốn bằng quyền SHTTởViệt Nam đang ngày càng tăng. Tuy nhiên, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT luôn tiềm ẩn các rủi ro pháp lý đối với cảbên góp vốn và bên nhận góp vốn. Vì vậy, với những đặc tính riêng biệt của quyền SHTT so với những loại tàisảngóp vốn khác thì những quyđịnhvềgóp vốn mang tính chất điều chỉnh chung đối với mọi loại tài sản không thực sựphù hợp. Dođó,vớimộthành lang pháp lý khôngđầydủ, rõ ràng và không mang tính chuyên biệt thì các chủthểsẽgặpphải không ít khó khăn trong việc góp vốn thành lập công ty bằng loại tàisảnnày cũng nhưsẽđối diện với không ít các rủi ro. ỞViệt Nam, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT là mộtvấnđềđược rấtnhiềungườiquan tâmởcảkhía cạnh kinh tế và pháp lý, tuy nhiên, số lượng công trình nghiêncứuvềvấn đềnày còn khá khiêm tốn. Vẫn còn không ít vấn đề lý luận và thực tiễn về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT cần được làm rõ hơn, giải quyết sâu hơn, đầy đủ hơn để làmcơ sở cho hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng loại tài sản này cũng như giúp các cơ quan quản lý nhà nước giải quyết các vấn đềphát sinh trên thực tế từ hoạt động này.

Từcác phân tíchởtrên, tác giảđã lựa chọnđềtài“Gópvốnthành lập công ty bằng quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu và làm Luận án Tiến sĩ luật học.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực trạng pháp luậtvềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT, mục đích nghiên cứu

2

của Luận án là đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTTở Việt Nam trong thời gian tới.

Để thực hiện mục đích nghiên cứu nói trên, luận án có các nhiệm vụ cụthể sau:

Thứ nhất, thực hiện tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và xác định rõ cơ sở lý thuyết nghiên cứu, qua đó xác định những vấn đề tiếp tục nghiên cứu trong luận án.

Thứ hai, phân tích và làm rõ các vấn đề lý luận và lý luận pháp luật vềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT.

Thứ ba, phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luậtvềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTTởViệt Nam hiện nay; chỉ ra các ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.

Thứ tư, xây dựng các định hướng; đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT ở Việt Nam.

3.Đối tượngvà phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT; thực trạng pháp luật Việt Namvềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT và thực tiễn thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTTởViệt Nam; pháp luật củamộtsốquốc gia về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Vềnộidung: Luận án nghiên cứu các quyđịnhpháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luậtvềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTTởViệt Nam

Vềkhông gian: Luận án nghiêncứuthực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật vềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTTởViệt Nam trên cơ sở so sánh, đối chiếu với một số quốc gia trên thế giới.

3

Vềthời gian: Luận án nghiêncứu đề tàitrong khoảng thời giantừnăm 2005 đến nay (từ khi Luật SHTT năm 2005 được ban hành).

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đểlàm rõ các vấnđềthuộc nộidung nghiên cứu, luận ánđãsửdụng

phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quanđiểm của Đảngvà Nhà nước ta vềphát triển kinhtếtrong thờikỳđổimới, xây dựngnềnkinhtếthịtrườngđịnhhướng xã hộichủ nghĩa, trongđócó phát triển và bảo hộ hợp pháp về tài sản trí tuệ.

Ngoài ra, đểthực hiện nghiên cứu luận án, tác giảluận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống và có độ tin cậy dưới đây:

(i) Phương pháp nghiêncứutổng hợp, phân tích:được sửdụng nhằm khái quát hóa rút ra những nhận xét, kết luận về các nội dung trong luận án, cụthể, phương pháp nàyđược sửdụngđểlàm rõ các vấnđềlý luậnvềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT; làm rõvềthực trạng, từđókhái quát các vấn đề để đưa ra các đánh giá, giải pháp và kiến nghị phù hợp nhằm hoàn thiện pháp luật và đảmbảoviệc thực hiện pháp luậtvềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT;

(ii) Phương pháp so sánh luậthọc:đượcsửdụng nhằmđốichiếu quyđịnh pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ, với pháp luật các quốc gia để tìm ra những điểm hợp lý trong các quy định pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT, học hỏi kinh nghiệm xây dựng pháp luậtđểhoàn hiện pháp luật về góp vốn bằng quyền SHTT;

(iii) Phương pháp hệ thống hóa: được sử dụng xuyên suốt toàn bộ luận án nhằm trình bày các vấn đề, nội dung trong luận án theo một trình tự, một bố cục hợp lý, chặt chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các vấn đề, nội dungđể đạt được mục đích, yêu cầu đã được xác định cho luận án;

(iv) Phương pháp tiếp cận hệ thống, đa ngành và liên ngành khoa học xãhội nhân văn như lịch sử, kinh tế, luật học nhằm làm rõ bản chất kinh tế, pháp lý của góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT.

4

5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu trước đây liên quan đến vấn đề góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT, luận án đã cónhững đóng góp mới về mặt khoa học như sau:

Thứ nhất, Luận án góp phần hình thành, làm rõ cơ sở lý luận về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT và pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT. Luận án xây dựng khái niệm cũng như chỉ ra được bản chất của việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT; làm rõ các vấn đề lý luận pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT bao gồm khái niệm, nội dung pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT.

Thứhai, Luận án đánh giá có hệ thống thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT ở Việt Nam. Luận án đã phân tích một cách đầy đủ và toàn diện về thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT trên các phương diện: hình thức, chủ thể,đốitượng, hợpđồngthành lập công ty và thỏa thuận góp vốn, định giá quyền SHTT góp vốn và thực hiện góp vốn. Đặc biệt, Luận ánđãphân tích và đánh giá những điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2020 có tácđộngđếnvấnđềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT. Bên cạnh đó, Luận án đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong quá trình thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT.

Thứ ba, luận án đưa ra các định hướng tổng thể và các giải pháp cụ thểnhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật vềgópvốnthànhlậpcông ty bằng quyền SHTT ởViệt Nam. Luận án cập nhật, đềxuấtđịnh hướnghoàn thiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT trong bối cảnh ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, Luận ánđềxuất các giải phápcụ thểnhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Vềmặtlý luận, kếtquảnghiêncứucủa luận án góp phần củngcốvà hoàn thiện cơ sở lý luận về hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền

5

SHTT cũng như hoàn thiện lý luận pháp luậtvềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT.

Về mặt thực tiễn, Luận án là tài liệu tham khảo cho hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luậtvềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT của các cơ quan Nhà nước, cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp. Bên cạnh đó, luận án cũng là nguồn tài liệu hữu ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập về vấn đề này trong các cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phầnmởđầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận ánđược kết cấu 4 chương, bao gồm:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu Chương 2: Lý luận về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí

tuệ và pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ.

Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay.

Chương 4 :Địnhhướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam.

6

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ

CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1. Tình hình nghiên cứu các vấn đềlý luận về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ

1.1.1.1. Nghiên cứu về khái niệm góp vốn và góp vốn thành lập công ty

1.1.1.2. Nghiêncứuvề khái niệm, đặc trưng, vai tròcủagóp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ.

1.1.1.3. Nghiên cứu về góp vốn thành lập công ty bằng quyềnsở hữutrítuệ và các hình thức thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ khác

1.1.1.4. Nghiêncứunộidung pháp luậtvề gópvốnthànhlậpcông ty bằng quyền sở hữu trí tuệ

1.1.2. Các công trình nghiên cứuthực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ

1.1.2.1. Nghiêncứu về thựctrạng pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ

Về hình thức góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ:

Mặc dù, trong các công trình nghiên cứu trực tiếp về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT không nêu rõ cũng như phân tích, đánh giá về các hình thức góp vốn bằng quyền SHTT nhưng thông quanộidung nghiên cứu có thể thấy có hai hình thức góp vốn được nhiều tác giả đề cập đến, đó là góp vốn theo hình thức chuyển quyền sở hữu quyền SHTT và góp vốn theo hình

13

thức chuyển quyền sử dụng đối tượng SHTT14, 16, 22, 25, 42. Theo tác giả Phan Quốc Nguyên32; tr.115, pháp luật hiện hành của Việt Nam chưa phân biệt rõ hai trường hợp góp vốn: thứ nhất là việc góp vốn bằng quyền sở hữu sáng chế; thứ hai là việc góp vốn bằng quyền sử dụng sáng chế. Tác giảĐoàn Thu Hồng22cho rằng, chủthểquyền SHTT khi góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền SHTT có thể góp vốn bằng quyền sở hữu/quyền sửdụngđốivới cácđốitượng SHTT22; tr.80. Đốivới tácgiảTạThịThanh Thủy42, dù không chỉ rõ hình thức góp vốn, tuy nhiên, khi đề cập đến việc chuyển giao tài sản góp vốn, tác giả chỉ đề cập đến một hình thức chuyển giao duy nhất đó là chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn. Điều này đồng nghĩa với việc tác giả chỉ đưa ra một hình thức góp vốn bằng quyền SHTT.

Về chủ thể góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ:

Hiện nay, vẫn còn nhiều quanđiểmchưa thống nhấtvề chủ thể có góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT. Có tác giả cho rằng, chỉ có chủ sởhữu quyền SHTT mới có quyền sử dụng quyền SHTT để góp vốn22. Theo tác giả Đoàn Thu Hồng22, tr.91, pháp luật quy định chủ thể góp vốn đó làchủ sở hữu của các đối tượng quyền SHTT, tuy nhiên, để có thể trở thành chủsở hữu của những đối tượng quyền SHTT, thì một số đối tượng phải tiến hành thủ tục đăng ký xác lập quyền đối với các đối tượng quyền SHTT. Bên cạnhđó, có tác giả lạicho rằng, khôngchỉcó chủsở hữuquyền SHTT mới cóquyền sử dụng quyền SHTT để góp vốn thành lập công ty mà một số các chủthể khác như chủthểnhận chuyển nhượng quyềnsửdụng các đối tượng quyền SHTT, chủ thể có quyền sử dụng trước đối tượng sở hữu công nghiệp và chủ thể nhận chuyển quyền sử dụng các đối tượng quyền SHTT16, tr.45.

Về đối tượng góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ góp vốn:

Về đối tượng góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT hiện nay vẫn còn có một số quan điểm chưa thực sự thống nhất. Có tác giả cho rằng, quyền SHTT góp vốnchỉcó thể là các quyền tài sản, còn các quyền nhân thân thì

14

không thể góp vốn22. Tuy nhiên, bên cạnh đó, có quanđiểmcho rằng, khôngchỉcó quyền tàisảnmà ngaycảquyền nhân thângắnvới tài sản (quyền công bố tác phẩm) cũng có thể sử dụng để góp vốn thành lập công ty

16. Bên cạnh đó, không phải đối tượng nào của quyền SHTT đều có thể góp vốn. Một số các công trình nghiên cứu trong nước và ở nước ngoài cóđề cậpđến một số các điều kiệnđối vớiquyền SHTT góp vốn thành lập công ty. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài thường tập trung nghiên cứu về các điều kiệnđể quyền SHTTđược coi là vốnđể từđóxác địnhcác đốitượng của quyền SHTT có thể góp vốn hoặc không được sử dụnggóp vốn99. Trong khi đó, các công trình nghiên cứu trong nước chủ yếu xem xét điều kiện của quyền SHTT góp vốn ở phương diện các đặc trưng của quyền SHTT như khảnăng chuyển giao, thờihạnbảo hộ22, tr.69, tính hợp pháp của quyền SHTT

42, tr.31. Hầuhếtcác tác giả đềuthống nhất với quan điểm, quyền SHTT chỉ có thể góp vốn khi quyềnđó cóthể chuyển giao16, 22, 14, 36. Vìvậy, quyền SHTT khôngđược chuyển giao hoặc hạnchế chuyển giao thìkhông thể góp vốn hoặc việc góp vốn phải đảm bảo điều kiện của việc chuyển giao quyền SHTT.

Về địnhgiá quyền SHTT góp vốn thành lập công ty:

Có nhiều phương pháp định giá quyền SHTT được các nhà nghiên cứu đưa ra. TheoTổchức SHTTThếgiới (WIPO) có 4 phương phápđịnhgiá quyền SHTTđólà phương pháp dựa vào thu nhập, phương pháp dựa vào chi phí, phương pháp dựa vào thị trường và phương pháp tùy chọn dựa vào giá cả44, tr.140-141. Tác giả David H.Luthy82, tr.4đưa ra hai phương pháp chung đểđo lường vốn trí tuệ: Phương pháp đánh giá thành phần theo từng thành phần vàphương pháp đolườnggiá trị tài sản trítuệvềmặttài chínhởcấptổchức màkhông tham chiếu các thành phần cá nhân của vốn trí tuệ. Tác giả Kelvin King

70chia phương pháp định giá thành ba loại chính: Phương pháp định giá dựa trênthịtrường; phương phápđịnhgiá dựa trên chi phí; phương phápđịnhgiá

15

dựa trên ước tính về lợi ích trong tương lai. Nhìn chung, các công trình nghiên cứuvềđịnhgiá quyền SHTTđãlàm rõđượccác phương phápđịnhgiá cũng như đánh giáđượcưu và nhượcđiểmcủa các phương phápđịnhgiá quyền SHTT. Ở trong nước, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 06/2014/TT-BTCđưa ra ba cách tiếp cận để định giá tài sản vô hình nói chung và quyền SHTT nói riêng, bao gồm: Cách tiếp cận từ thị trường; cách tiếp cận từ thu nhập; cách tiếp cận từ chi phí. Đây là ba cách tiếp cận phổ biến được sử dụng để định giá quyền SHTT trên thế giới hiện nay. Bên cạnh đó, các vấn đề liên quan về định giá nhưquyền định giá và trách nhiệm pháp lý khi định giá sai quyền SHTT đã được đềcậpđếntrong công trình nghiêncứucủamộtsốtácgiảnhư tácgiảVõ Linh Giang18, tácgiảNguyễn Quang Duy17, tácgiảHoàng Lan Phương34, tác giả Dương Thị Thu Nga30,

Về thực hiện góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ:

Hầuhếtcác công trình nghiên cứu về góp vốn ít nhiềuđềucóđề cập đến trình tự, thủ tục góp vốn thành lập công ty nói chung3, 14, 16, 22,

28. Trong khi đó, sốlượng công trình nghiêncứuvề trình tự, thủ tục góp vốn bằng quyền SHTTlạikhá khiêm tốn, như Luận văn thạc sĩ của tác giảĐoàn Thu Hồng22, tác giả Đào Thị Dung16, tác giả Hà Thị Doánh14. Về trình tự, thủ tục góp vốn bằng quyền SHTT, các công trình nghiêncứu đều có sự thống nhất khi xác định có 4 bước cơ bản bao gồm: thỏa thuận góp vốn,địnhgiá quyền SHTT góp vốn, chuyển giao quyền SHTT góp vốn, cấpgiấy chứng nhận góp vốn.

Tuy nhiên, mộtsốtác giả cho rằng, trình tự, thủ tục góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT vẫn còn nhiều diểm chưa hợp lý. Theo tác giảĐoàn Thu Hồng22, Luật Doanh nghiệp không quy định về trình tự, thủ tục chuyển giao tài sản góp vốn sau khi tiến hành xong thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, điều này có nghĩa là về trình tự thủ tục này, sẽ tuân theo những quy định của luật SHTT. Điều đó, làm giảm tính hiệu lực của các vănbảndẫn

16

đến hệ thống pháp luật này khó tra cứu và khó thực hiện đồng bộ. Bên cạnhđó, tác giả LêĐức Hiền và Trương Quốc Hưng18cho rằng, quyđịnhcủa pháp luật về giao nhận nhãn hiệu khi góp vốn còn cứng nhắc. Quyềnsở hữu công nghiệp là tài sản vô hình nên không thể giao và nhận tàisảnnày như tài sảnhữu hình. Do vậy, việc áp dụng như thế là cứng nhắc, vì tại thờiđiểmlập biênbảngiao nhận nhãn hiệunổitiếng, tên thương mại, bí mật kinh doanh, bản thân chúng là tàisảnvô hình, không có hình thái vật chất thì các bên giao như thế nào, nhận như thế nào?

Về hợp đồng thành lập công ty và thỏa thuận góp vốn bằng quyền SHTT:

Hợp đồng góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT được đề cậpđến trongmộtsốcác công trình nghiêncứuở các mức độkhác nhau12, 13

14, 16, 22, 25, 56…Trong công trình nghiêncứucủa mình, tác giảNgô Huy Cương đã tập trung nghiêncứucácvấnđềlí luận cơ bảnvề hợpđồngthành lập công ty, thực trạng pháp luật Việt Nam và việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT. Ở Việt Nam, đâylà mộtcông trình nghiêncứukhá toàn diệnvềcả phương diện lýluận và thực tiễn liên quan đến hợp đồng thành lập công ty. Theo tác giả, cóhaiđiều cơbản mà hợp đồng thành lập công ty cần phải có, đó là: (i) góp vốn với hai nội dung bao gồm hình thức góp vốn và quyền lợi trong công ty; (ii) tên gọi của công ty. Tác giả nhận định rằng “chỉ trong khoảng ba điều khoản cơ bản của hợp đồng thành lập công ty, chúng ta đã thấy pháp luật Việt Nam còn bỏ ngỏ quá nhiều và chưa đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của kinh tếthị trường”. Tác giả Tạ Thị Thanh Thủy [42] khi nghiên cứu về góp vốn bằng tài sản trí tuệ cũng đã đề cập đến một loại hợp đồng đó là hợp đồng góp vốn. Theo tác giả, khi các bên muốn thỏa thuậnvềviệc góp vốn nhưng không thành lập công ty hoặc công ty chưa thành lập thì hợp đồng góp vốn sẽ là cơsở pháp lý quan trọng để các bên có thể đưa ra Tòa án giải quyết nếu có tranh chấp. Có 8 nội dung cơ bản được tác giả đề cập đến bao gồm: tên, địa chỉ của

Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam hiện nay

các bên; thông tin cơ bảnvềtàisảngóp vốn (quyền SHTTđược góp vốn); thời hạn góp vốn; giá trị tàisảngóp vốn (quyền SHTTđược gópvốn);tỷlệvốn góp; quyền và nghĩa vụcủa các bên; quyền củangườithứba đốivới quyền SHTT được góp vốn; trách nhiệm của các bên khi vi phạm hợp đồng. Theo tác giả NguyễnThịThu Hà 20, góp vốn là mộtđiềukhoản rấtquan trọng, nó như là một“linhhồn” trong hợp đồng thành lập công ty hay trong bản điều lệ của doanh nghiệp20; tr.35. Tác giả nhận định rằng, hiện tại pháp luật chưa có quyđịnhcụthểvềloại hợpđồnggóp vốnđểthành lập doanh nghiệp. Bên cạnhđó,tác giảcòn cósựphân biệt giữa hợpđồnggóp vốn và hợp đồng thành lập công ty, cũng như xác định các nội dung cần có của hợp đồngthành lập công ty và hợp đông góp vốn. Theo tác giả, trong hợpđồng thành lập công ty, góp vốn chỉ là một nội dung cơ bản và quan trọng; ngoài ra hợp đồng còn phải chứa các nội dung khác như quy định về tên gọi công ty, cơ cấutổchức của công ty, quyền và nghĩa vụcủa các thành viên công ty…còn hợp đồng góp vốn chỉ quy định các vấn đề có liên quan đến vốn nhưgiá trị vốn góp, thời hạn góp, thời hạn rút vốn…[20 ; tr.48]

1.1.2.2. Nghiêncứuvề thực tiễn thực hiện pháp luậtvềgópvốnthành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

Theo tác giả Phạm Đức Quảng36, Luật doanh nghiệp và Luật SHTTđã thừa nhận việc góp vốn bằng giá trị quyền SHTT. Tuy nhiên, thực tế các văn bản hướng dẫn thi hành, đặc biệt là các công văn do cơ quan thuế ban hành lại không thừa nhận việc góp vốn bằng giá trị quyền SHTT.

Nói về thực tiễn góp vốn bằng quyền SHTT, tác giả Tạ Thị Thanh Thủy

42nhận định rằng thực tế giám sát cho thấy nhiều thương hiệu nổi tiếng đãđược địnhđoạttươngđốidễdàng nhưng không theomộtquytắcnàocả vàthường là do quyếtđịnhcủa cấpcó thẩm quyền phê duyệt giátrịdoanh nghiệp. Tác giả cho rằng việc góp vốn bằng thương hiệu/ nhãn hiệu là một hiện tượngđãvà đang diễn ra, nhưngđếnnay vẫn chưa có quyđịnhnào

18

hướng dẫncụthể việc địnhgiá và ghi nhận giá trịnày. Cólẽ vì thế mà mỗi doanh nghiệp, mỗi công ty kiểm toán có cách nhìn, cách “ứng xử” khác nhau, tạosựthiếuđồngbộtrong hoạtđộngnày.Mặtkhác, theo tác giả, góp vốn bằng quyền SHTT là thực tế đang diễn ra khá sôi động, đi trước các quy định của pháp luật.

Theo tác giả Đoàn Thu Hồng22, ở Việt Nam hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu và quyền sử dụng nhãn hiệu đang được diễn ra phổ biến và sôi động hơn cả. Còn hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu đối với các đối tượng là các giải pháp kỹ thuật hay các quy trình chưa được phổ biến. Ở Việt Nam hiện nay, do chưa có văn bản nào quyđịnhriêngvềviệc góp vốn bằng quyền SHTT, nên việc góp vốn thường được lập hợp đồng như các loại hợp đồng góp vốn thông thường. Các bên sẽ xác định giá trị nhãn hiệu hàng hóa theo thỏa thuận và theo đó lập hợp đồnggóp vốn, trongđóquyđịnhrõtỷlệgóp vốn là bao nhiêu và nghĩa vụ, quyền lợi các bên như các loại hợp đồng thương mại thông thường. Khó khăn xảyra là việc các doanh nghiệp thực hiện góp bằng quyền SHTT, vốn chưađược định giá, song lại ghi trong giấy đăng ký kinh doanh là“góp vốnbằng tiền”. Và chính “hành động góp vốn bằng tiền nhưng lại không có tiền” này sẽgây rắc rối cho hệ thống kế toán; đồng thời, gây ra rất nhiều vướng mắc nếu doanh nghiệp góp vốn muốn rút vốn, hay doanh nghiệp nhận vốn góp không muốn tiếp tục hợp tác.

TácgiảHoàng Lan Phương35đãnhấn mạnh cácvấnđềmà doanh nghiệp cần lưu ý khi góp vốn bằng quyền SHTT. Trong đó tác giả đặc biệt lưu ýđến khả năng doanh nghiệp có thể mất nhãn hiệu khi góp vốn bằng nhãn hiệu vàvấn đề doanh nghiệp sẽ gặp phải nếu muốn giảm vốn điều lệ tương đương với giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu đã được góp vốn khi được thành lập chưa đủ 3 nămkểtừngày câp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cũng như khó khăn trong việc định giá quyền sở hữu nhãn hiệu, quyền sử dụng nhãn hiệu.

19

1.1.3. Các công trình nghiên cứu các định hướngvà giải pháp hoàn thiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ

Hoàn thiện pháp luậtvềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTTđược đánh giá là mộttrong nhữngnộidung cănbảntrong các công trình nghiên cứu về góp vốn bằng quyền SHTT hiện nay. Tuy nhiên, để có thể đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luậtvềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT phù hợp đòi hỏi phải xác định được các định hướng tổng thể phùhợp với các thể chế, chính sách, cũng như sự phát triển của kinh tế – xã hộiởViệt Nam hiện nay. Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu gần như chưa đề cậpđếnvấnđề này. Chủ yếu, trong hầuhếtcác công trình nghiêncứuởViệt Nam hiện nayđềutrực tiếp đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luậtvềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT. Vấnđề hoànthiện pháp luậtvềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT được đưa ra trong các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung ở một số nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất,về đốitượnggópvốnthànhlậpcông ty bằng quyền SHTT. Theo tác giả Tạ Thị Thanh Thủy 42cần ghi nhận khái niệm thương hiệu vàlàm rõ sự khác biệt giữa thương hiệu và nhãn hiệu trong pháp luật thực định. Tác giả Nguyễn Quang Duy17kiến nghị cầnbổsung quyđịnh về chuyển nhượngsảnnghiệp thươngmạiViệc địnhgiá sảnnghiệp thươngmạikháphức tạp, nên cầnsửdụngcả cách thức địnhnghĩa môtả các đặc trưng chủyếu và cả cách thức liệt kê.

Thứ hai,về địnhgiá quyền SHTT sử dụngđể góp vốn. Về chủthểcóquyềnđịnhgiá quyền SHTT, Tác giả Lê Đức Hiền và Trương Quốc Hưng

21cho rằng, trong thời gian tới, Luật Doanh nghiệp năm 2014 cầnđược sửađổi theo hướng đối với các tài sản trí tuệ, trong đó có nhãn hiệu khi góp vốn phải dotổchức thẩmđịnhgiá chuyên nghiệpđịnhgiá.Đồngquanđiểmvới tác giả Lê Đức Hiền và Trương Quốc Hưng, tác giả Hoàng Lan Phương34cũng cho rằng, đối với việc định giá các tài sản trí tuệ nói chung, việc định giá

20

này nên trao chomộttổchức địnhgiá chuyên nghiệpđểđảmbảođược tính chính xác tối đa khi tiến hành định giá. Trong khi dó, tác giả Võ Linh Giang

18kiến nghị quy định về tổ chức định giá chuyên nghiệp cần được thaythếbằng Hội đồng về góp vốn như pháp luật của Cộng hòa Pháp đã quy định.

Về trách nhiệm pháp lý khi định giá sai quyền SHTT, tác giả Võ Linh Giang18kiến nghị, Luật nên quy định cả trách nhiệm dân sự và hình sựđốivới những chủthểcó hành viđịnhgiá không chính xác giátrịcủa tài sảngóp vốn. Tácgiảcũng cho rằng pháp luật nênđặtra trách nhiệm đối vớitổchứcđịnhgiá khiđịnhgiá sai quyền SHTT.Đồngquanđiểm nói

trên, tác giả Hoàng Lan Phương34cũng đề xuất pháp luật cần quy định chế tài đối với các tổ chức định giá khi định giá tài sản trí tuệ cao hoặc thấp hơn giátrịthựctếcủa tàisảntrítuệđó.Theo tácgiảNguyễn Quang Duy

17, Luật Doanh nghiệp cần phảidựliệu thêm trường hợp khi doanh nghiệp phá sản, nếu tài sản định giá sai thì quyền lợi của các chủ nợ sẽ giải quyết nhưthếnào vàđồngnghĩa với việc này, thì aisẽlàngườiđứngra chịu về phần định giá sai này để cho các cổ đông, thành viên, tổ chức định giá và cả chủ nợ biết được quyền và lợi ích của mình sẽ được thực hiện nhưthếnào. Ngoài ra,vềphầnđịnhgiá tàisảnđốivới những tàisảnvô hình cũng cần được pháp luật quy định cụ thể những đối tượng nào có thể định giá được đối với loại tài sản này.

Thứ ba,vềthực hiện gópvốnbằng quyền SHTT. Tác giảLê Đức Hiền và Trương Quốc Hưng21đề xuấtđốivới tàisảnkhông đăng ký quyềnsởhữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn cóxác nhận bằng biên bản. Nhãn hiệunổitiếng, tên thương mại, bí mật kinh doanh và các quyền tài sản khác xác lập quyền sở hữu không qua thủ tục đăng ký thìchỉcần lập hợpđồnggóp vốn bằng biên bản, mà không cần làm biên bản giao nhận tài sản”.

21

1.1.4. Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu

Qua việc nghiêncứucác công trình khoa học đã được côngbốcó liên quanđếnđề tài “Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, tác giả có một số đánh giá như sau:

Thứ nhất, đã có một số lượng lớn các công trình nghiên cứu liên quan đếnđề tài ở nhiều phương diện và nội dung tiếp cận khác nhau. Qua các công trình nghiên cứu đã cho thấy được vai trò và tầm quan trọng của loại tài sản góp vốn là quyền SHTT. Bên cạnhđó,đãđưarađượcmộtcái nhìn tổng quan nhấtvềthực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT.Mộtsốcác giải pháp, kiến nghịđượcnêu ra trong các công trình nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực trong việc hoàn thiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT ở Việt Nam hiện nay.

Thứ hai,một số vấnđề đã được các công trình nghiên cứu một cáchđầyđủ và toàn diện, đạt được sự thống nhất cao và đề tài có thể tiếp thu mà không cần trở lại để phân tích, làm sáng tỏ thêm. Cụ thể: lý luận về góp vốn và góp vốn về thành lập công ty; lý luận về quyền SHTT; kết quả nghiêncứu về một sốkhía cạnh của góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT như phương pháp định giá quyền SHTT, các hình thức thương mại hóa quyền SHTT,…

Thứ ba, dù có một số lượng khổng lồ các công trình nghiên cứu có liên quan, tuy nhiên, chođếnhiện nay vẫn chưa có công trình nghiêncứunào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT trên cả phương diện lý luận, thực tiễn. Qua đó, làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu vốn hóa đối với tài sản trí tuệ trong nền kinh tế tri thức hiện nay.

1.1.5. Những vấn đề luận án tiếp tục triển khai nghiên cứu

Trong phạm vi của luận án, tác giả tiếp tục nghiên cứu và tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo quy định của pháp luật, bao gồm:

22

(i) Nghiêncứucác vấnđềlý luậnvềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT baogồmxây dựng khái niệm góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT phù hợp vớibảnchất và đặc trưng của tàisảngóp vốn; nhận diện bản chất của hành vi góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT thông qua việc so sánh góp vốn bằng các loại tài sản khác và các hoạt động thương mại hóa quyền SHTT.

(ii) Làm rõ nội dung pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT bao gồm các hình thức góp vốn; chủ thể góp vốn; đối tượng góp vốn; hợp đồng thành lập công ty và thỏa thuận góp vốn; định giá quyền SHTT góp vốn; thực hiện góp vốn.

(iii) Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện pháp luật Vệt Nam về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT; chỉra các ưu điểm cũng như hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân.

(iv) Đềxuấtđịnhhướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệuquảthực hiện pháp luậtvềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT trên cơ sở thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật.

1.2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 1.2.1. Lý thuyết nghiên cứu

Để thực hiện nghiêncứuđề tài luận án, tác giả sửdụng các lý thuyết nghiên cứu sau đây:

* Lý thuyếtvề tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp: Tàisảntrí tuệ là nhữngsảnphẩm của hoạt động trí tuệ, là mộtyếutố quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của doanh nghiệp và đất nước. Khác với những tài nguyên khác như lao động, vốn, tiền, đấtđai…, tàisảntrí tuệ là nguồn tài nguyên không giới hạn mà mỗi doanh nghiệp đều có thể tạo ra. Sự tăng trưởng của tài sản trí tuệ là kết quả của hoạt động sáng tạo không ngừng nghỉ của con người. Các chuyên gia thương hiệu cho rằng, chúng ta đang sống trong môi trường của những tài sản trí tuệ, tài sản vô hình. Những sản phẩm càng có nhiều tài sảntrítuệcàng có giá bán cao. Chẳnghạnnhư cácsảnphẩm của Apple,

23

chúng ta phải trả thêm tiền cho bằng sángchếcông nghệ,bảnquyền phát minh, thương hiệu… Hiện nay, sự tăng trưởng, sự phát triển, sự bền vững của tài sản vô hình có giá trị lớn hơn rất nhiều so với tốc độ phát triển của tài sản hữuhình mà chúng ta vô tình khôngđể ý. Đâylà thiệt thòirấtlớnđốivới doanh nghiệp. Bởivậy, để kinh doanh tàisảntrí tuệ có hiệu quả, trước hết, doanh nghiệp cần có những hiểu biết nhấtđịnhvề loại tàisảnnày. Doanh nghiệp cần phải coi trọng tài sản trí tuệ và có chiến lược kinh doanh, quảntrịthích hợp với tài sản trí tuệ.

Thông qua hoạt động kinh doanh tài sản trí tuệ, doanh nghiệp không chỉthu hồi vốn chi phí đầu tư để tạo dựng và phát triển, bảo vệ tài sản trí tuệ, màcòn làm cho giá trị của tài sản trí tuệ ngày càng tăng cao. Tuy nhiên, tài sản trí tuệchỉthực sựphát huynếucómộtthể chế bảohộquyền SHTT mang tínhđầyđủ và hiệu quả. Để thực hiệnđược điềuđó, hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật SHTT cần phải lập ra những nguyên tắc bảo hộ rõ ràng, có khả năng ngăn chặn cũng như phòng ngừa các hành vi cố ý xâm phạm.

* Lý thuyết về góp vốn trong kinh doanh: Góp vốn là vấn đề then chốt trong hoạt động kinh doanh. Xétvề mặtpháp lý, góp vốn là hành vi pháp lýmà theo đó, ngườigóp vốn chuyển giao quyềnsở hữutàisảncủa mình cho người kinh doanh để đổi lại những lợi ích từ việc góp vốn. Thực tế, việc góp vốn hay hùn vốn là việc nhiều người cùng góp nguồn lực của mình để tạo nên mộtnguồn lực chung lớn hơn nhằm thực hiệnýtưởngkinh doanh mang lại mục đích sau cùng là lợi nhuận. Thông qua hành vi góp vốn, mối quanhệpháp lýđược tạolập, ngườigóp vốn có nghĩa vụphải chuyển giao những quyền tàisảncủa mình sang cho thương nhân. Việc dịch chuyển quyềnsở hữu này có thể được thực hiện thông qua giao kết hợp đồng thành lập công ty của các cổ đông, thành viên góp vốn.

Trong khoa học pháp lý hiệnđại, nhữngđốitượngđược chuyển giao trong quanhệ góp vốnđể thành lập doanh nghiệp là tri thức, danh tiếng,

quyềnlợi…, đặc biệtlà các sáng chế ứng dụng trong khoa học, y tế, kỹ thuật

24

không những phát triển, mà còn đemlạirấtnhiều lợi nhuận. Tuy xuất hiện với dạng thức mới, nhưngbảnchấtlạichính là quyền tàisảnhay nói cách khác, chúng là tài sản vô hình. Về cơ bản, tàisảnvô hình là tài sản không cóđặc tính vật lý, có thể chuyển giao, khai thác giá trịsửdụng và trịgiá được bằng tiền. Ngày nay, pháp luật dân sự một số quốc gia còn xem lợi ích, thông tin là tài sản. Bằng hành vi góp vốn các thành viên, các cổ đông sáng lập đã tạorasảnnghiệp banđầucho công tyđể đổilạiquyền lợi của mình trong công ty. Đặc điểm của góp vốn bằng quyền SHTT cũng dựa trên đặc tính phi vật lý của tài sản. Đó là việc chuyển giao sẽ không thể xảy ra nếu không tạo lập một hình thức vật chất nhằm chứa đựng giá trịtài sản đem góp vốn (ghi nhận việc góp vốn thành lập công ty).

* Lý thuyết về quyền sở hữu trí tuệ: Quyền SHTT đề cập đến các quyền hợp pháp được trao cho các chủ thể sáng tạo để bảo vệ thành quả sáng tạo của họ trong một khoảng thời gian nhất định. Theo đó, mọi cá nhân đều có quyền tự nhiên đối với sáng tạo trí tuệ của họ và cần được công nhận là tài sản của họ dù hữu hình hay vô hình. Việc ghi nhận quyền SHTT có thể xem xét ở hai khía cạnh: (i) đó là sự bảo vệ dành cho các thành quả của sự lao động sáng tạo trí tuệ; (ii) đây là một công cụ được sử dụng nhằmbù đắpcác khoản chi phí,đầutưvề tiền bạc và công sức mà chủ thể sáng tạo đã bỏ ra vì nó cho phép các chủ thể sángtạođộc quyềnsửdụngđốitượng SHTT trongmộtkhoảng thời gian. Việc trao những độc quyền như vậy là hợp lý vì chúng được coi làđộnglực cần thiếtđểnhững người sáng tạođầu tưthời gian và tiền bạc vào các sángtạocủa họ và chia sẻ chúng. Vì vậy, trong khoảng thời gian nhấtđịnh, chủ thể sángtạođược phépđộcquyền khai thác vàsửdụng tàisảntrítuệ của mình. Quyền SHTT có thể nhìn nhận dưới góc độ kinh tế hoặc pháp lý. Là một loại tài sản vô hình nhưng đóng góp một vai trò rất lớn vào sự phát triển của mỗiquốc gia, vì vậy, cần thiết lậpmộtcơ chế bảohộcũng nhưthương mại hóa đối với tàisảntrí tuệ này.

25

* Lý thuyết về quyền tự do kinh doanh: Quyền tự do kinh doanh là khảnăng của con người theo ý chí nguyện vọng và vì lợi ích của mình quyếtđịnh cách thức thực hiện các hoạt đọngsảnxuất, kinh doanhtừđầutư, sảnxuấtđến tiêu thụ sản phẩm để tạo ra lợi nhuận. Điều 23 khoản 1 của Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền năm 1948 nói rằng: “Ai cũng có quyềnđược làmviệc, được tựdo lựa chọn việc làm, được hưởngnhữngđiềukiện làm việc công bằng và thuận lợivà được bảovệ chống thất nghiệp”. Từ đó cho thấy, chủ thểhưởng quyền cóthể tựdo lựa chọn những hình thức kinh doanh mình muốn và vận hành nó như nghề nghiệp của mình. Nó cũng mang tinh thần của “quyềntựdo kinh doanh” khi “kinh doanh” được coi là mộtnghề nghiệp không vi phạm pháp luật.

Vốn là điều kiện tiên quyết có ý nghĩa quyết định đến quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Để tiến hànhbấtcứhoạtđộngsảnxuất, kinh doanh nào từ sản xuất đến cung ứng dịch vụ, doanh nghiệp cũng cần phải cóvốn. Về mặt kinh tế, vốn là phương tiện kinh doanh. Các hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau có cách nhìn nhận và quyđịnhkhác nhau về tài sảnđược coi là vốn gópđể thành lập doanh nghiệp. Phạm vi rộng, hẹpcủa những loại tài sản được coi là vốn góp vào thành lập doanh nghiệp có thể ảnh hưởngđếnquyềntựdo kinh doanh,hạnchế hay thúcđẩyviệc khởi nghiệp của cá nhân.

1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu 1: Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT là gì? Vì sao phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT? Nội dung pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT như thế nào?

Giả thuyết nghiên cứu: Nhận thức lý luận về bản chất và vai trò của góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa thực sự đầy đủ và thống nhất. Cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT, theo đó nội dung pháp luật phải

26

chứa đựng các nội dung cần thiết để đảm bảo quyền tự do kinh doanh, quyền khai thác thương mại đối với tài sản trí tuệ của chủ thể quyền SHTT cũng nhưhạn chế các rủi ro trong việc khai thác thương mại loại tài sản này.

Câu hỏi nghiên cứu 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT như thế nào? Thực tiễn thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT gặp những thuận lợi và khó khăn gì?

Giả thuyết nghiên cứu: Pháp luật Việt Nam đã chứa đựng một số các nội dung cơ bảnđiềuchỉnh hoạtđộnggóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT. Tuy nhiên, pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT còn thiếu sót và chưa thực sựphù hợp với thực tiễn cũng như yêu cầu phát triển trong nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế, khiến cho việc thực hiện pháp luật trên thực tế gặp phải những khó khăn, vướng mắc.

Câu hỏi nghiên cứu 3: Cần những định hướng và giải pháp như thế nàođể hoànthiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về góp vốn bằng quyền SHTT ở Việt Nam hiện nay?

Giảthiết nghiêncứu: Hoàn thiện pháp luật là yêu cầucấpthiếtđặtra hiện nay trên cơ sở thực trạng pháp luật cũng như nhu cầu, dự báo về việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT và sựphát triển kinhtế- xã hội ởViệt Nam. Việc xây dựng định hướng và giải pháp hoàn thiện cần dựa trên cơchế, chính sách quốc gia liên quanđếnSHTT, sựphát triển của kinhtế- xãhộicũng nhưđặc trưng của tàisảngóp vốn nhằmđảmbảotínhđồngbộ, thống nhất; tínhkhảthi của pháp luậtvềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trên thực tế.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

1. Góp vốn thành lập công ty và góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT là vấn đề đã được nhiều công trình khoa học nghiên cứu ở những phương diện và giácđộkhác nhau.Mỗicông trình nghiêncứutrong và ngoài nước, ít nhiều đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của góp vốn thành lập công ty

27

bằng loại tài sản này trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Kết quả nghiên cứu của các công trình này được coi là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng đểtác giả luận án kế thừa và tiếp tục triển khai trong quá trình nghiên cứu đề tài góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo quy định của pháp luật.

2.ỞViệt Nam,đãcó những công trình nghiêncứuvềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT.Mặcdùsốlượng các công trình khá khiêm tốn nhưng những công trình này ít nhiều đã có những đóng góp nhấtđịnh trong việc làm rõ các quyđịnhcủa pháp luật hiện hành liên quanđếngóp vốn bằng quyền SHTT cũng như đã đưa ra được những đánh giá về thực tiễn thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng loại tàisảnnày. Tuy nhiên, bên cạnhđócó thể nhận thấy,mộtsốvấnđề vềlý luận và thực tiễn liên quanđến góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT vẫn còn chưa đượcnghiên cứu, làm rõ, một số vấnđề đã được đặtra nhưng lại chưa được giải quyết thấu đáo.

3.Để thực hiện có hiệuquảviệc nghiêncứuđề tài luận án, tác giảcho rằng, cùng với việc kế thừa và phát triển các kếtquả nghiêncứutrong các công trình nghiêncứu đã được công bố, cũng cần xác định rõđược cơ sở lýthuyết nghiên cứu, trong đó, có các lý thuyết nghiên cứu áp dụng, đặt ra các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu, đặc biệt là xác định đúng định hướng nghiên cứu của đềtài.

28

Chương 2

LÝ LUẬN VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY BẰNG QUYỀN SỞ

HỮU TRÍ TUỆ VÀ PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG

TY BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

2.1. Lý luận về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ2.1.1. Khái niệm góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ2.1.1.1. Khái niệm góp vốn thành lập công ty

Cũng như các hiện tượng kinh tế khác, sự ra đời của công ty là một yêu cầutấtyếukhi mà nềnsảnxuất hàng hóa phát triểnđếnmộtmức độnhất định. Khi nền kinh tế sản xuất hàng hóa phát triển, những doanh nghiệp nhỏvới vốn đầu tư thấp sẽ gặp nhiều bất lợi trong khi môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Bên cạnh đó, trong hoạt động kinh doanh thường gặp không ít các rủi ro.Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu về vốn kinh doanh, nâng caovịthếcạnh tranh trênthịtrường cũng như chia sẻcác rủi ro trong hoạt động kinh doanh, đòi hỏi các chủ thể kinh doanh phải liên kết với nhau. Khi hai hay nhiềungườicùng góp vốnđểthành lậpmộtdoanh nghiệp, đểtiến hành hoạt động kinh doanh kiếm lời chia nhau thì có nghĩa là họ đã thành lập mộtcông ty47, tr.112. Theo Bộ luật dânsựcủa Pháp, công tyđược thành lập bởi hai hoặc nhiều người trên cơ sở hợp đồng về việc đóng góp tài sản của họ vào hoạtđộngkinh doanh nhằm chia sẻ lợi nhuận hoặc thu lợi55, điều 1832. Ở phương diện pháp lý có thể hiểu rằng công ty là một thực thể pháp lýđược hình thành trên cơ sở thỏa thuận đóng góp tài sản của các chủ thể kinh doanh, được ghi nhận bởi luật pháp để tiến hành hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi, cũng như chia sẽ các rủi ro. Có thể nhận định rằng, công ty ra đờilàkếtquảcủa việc thực hiện nguyên tắc tựdo kinh doanh, tựdo kết ước và tựdo lập hội. Trên cơ sởsựthỏa thuận giữa các bên, công tyđược

29

hình thành. Lý thuyết hợp đồng xem công ty được thành lập theo hợp đồng tưnhân, trong đó vai trò của nhà nước bị giới hạn trong việc thực thi hợp đồng

56. Vì lẽ đó, công ty được xem một bản hợp đồng giữa vô số các bên, trongđó, góp vốn vừa là tiền đề, vừa là nội dung của thỏa thuận thành lập công ty.

Đểmộtcông ty thành lập và hoạtđộng,vốn làđiềukiện tiên quyết. Ban đầu, vốn được hình thành từ vốn góp của các thành viên. Đó là số tiền hoặc tàisảnmà công ty nhậnđượctừcổđông83.Từviệc chuyển giao tiền hoặc các tài sản khác của các thành viên, cổ đông sáng lập vào công ty, nguồn vốn đầu tiên sẽ thiết lập. Một công ty bắt đầu thành lập sẽ không thểhoạtđộngnếukhông có vốn. Dođó,vốn hình thành trên cơsởhoạtđộng góp vốn của các thành viên,cổđông sáng lập chính là cơsởđểđảm bảo cho các công ty mới thành lập tiến hành hoạtđộngsảnxuất, kinh doanh của mình. Vì lẽ đó, góp vốnđượcxem là nghĩa vụ cơ bản của thành viên, cổđông sáng lập trên cơsởcam kếtbanđầucủa các thành viênđểthành lập công ty. Góp vốn thườngđượccác nhà nghiêncứuxem xétdướihai khía cạnh pháp lý và kinh tế:

Ở khía cạnh kinh tế, góp vốn là việc các thành viên đóng góp tài sản của mình vào công ty nhằm mục đích kinh doanh và thuđượclợi nhuậntừhoạt độngkinh doanh. Với việc góp vốn, nguồn vốn banđầucủa công tyđược hình thành nhằm đảm bảo chi phí hoạt động của công ty và đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ.

Ởkhía cạnh pháp lý, góp vốn cóthểhiểu là hành vi chuyển giao tài sản, nói cách khác là hành vi chuyển các quyền đối với tài sản là vốn gópđểđổilấyquyền lợiđốivới doanh nghiệp 28, tr.25. Khiđưatàisảnvàođểgóp vốn, quyềnsởhữutàisảnhoặc quyềnhưởngdụng chuyển dịchtừchủ thể góp vốn sang công ty, đổi lại, chủ thể góp vốn sẽ được nhận được những lợi ích nhấtđịnhtươngứngvới phần vốn góp của mình. Hành vi

30

chuyển dịch tài sản để đổi lấy quyền lợi này không giống như hành vi mua bán hay cho thuê tài sản, bởi lẽ, mục đích cuối cùng khi chuyển dịch tài sản trong hành vi góp vốn không phải là thu được một khoản tiền nhất định, màcái chủ thể hướng tới ở đây chính là lợi nhuận lâu dài từ việc khai thác, sửdụng nguồn vốn tương ứng với phần vốn góp cũng như quyền sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu đối với công ty. Từ phương diện này, khái niệm góp vốn có thể tiếp cận theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

Theo nghĩa rộng, góp vốn cóthểhiểu là việc các chủthểthỏa thuận chuyển quyềnsởhữu, quyềnsửdụng hợp pháp tàisảnthuộcsởhữuhoặc quyềnsửdụng hợp pháp của mình nhằm hình thành công ty hoặc tăng vốn điều lệ cho công ty, đổi lại, các chủ thể sẽ có các quyền và nghĩa vụ khi công ty được hình thành hoặc đối với công ty nhận góp vốn cũng như phải chịu các trách nhiệm pháp lý phát sinh từ thỏa thuận này.

Theo nghĩa hẹp, góp vốn ở đâyđược định nghĩa là “việc góp tài sản” cónghĩa là có hành vi chuyển dịch quyềnsởhữu, quyềnsửdụng hợp pháp tài sản từ bên góp vốn sang bên nhận góp vốn. Từ hành vi này, tài sản công ty sẽđược hình thành hoặc tăng thêm.

ỞViệt Nam, khái niệm góp vốnđược ghi nhậntừkhá sớm trong pháp luật doanh nghiệp và đã có những thay đổi qua các thời kỳ. Theo Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp 2005:“Gópvốn là việc đưa tàisảnvào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty”. Còn Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: “Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty. Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốnđiềulệcủa doanh nghiệp đã được thànhlập”. Tương tự, Luật Doanh nghiệp 2020 cũng quyđịnh“Gópvốnlà việc góp tàisảnđểtạo thành vốnđiềulệcủa công ty, baogồmgóp vốnđểthành lập công ty hoặc góp thêm vốn điều lệ của công ty đã được thành lập” (Khoản 18 Điều 4). Có

31

thể thấy, khái niệm góp vốn được ghi nhận trong pháp luật Việt Namđã được tiếp cận theo nghĩa hẹp.

Góp vốn baogồmhai hình thức: góp vốnđểthành lập công ty và góp thêm vốnđiềulệcủa công ty đã thành lập. Ởkhía cạnh kinh tế, góp vốnđểthành lập công ty hay góp thêm vốnđiềulệvào công ty đã thành lậpđềulàviệc chủ thể góp vốn đưa tài sản vào công ty để đổi lấy lợi ích và quyền đối với công ty, tuy nhiên, hệ quả pháp lý của hai hành vi này lại khác nhau. Cụthể, nếunhư việc góp thêm vốnđiềulệcủa công ty đã thành lập nhằm mục đích tăng cường nguồn vốn cho công ty đã có sẵn thì góp vốn thành lập công ty nhằmtạora mộtthực thểpháp lýđộc lập. Thực thểpháp lý này cókhảnăng tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ, nghĩa là có năng lực hành vi và có tài sản riêng để bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó. Bên cạnhđó, trên cơ sở thỏa thuận góp vốn thành lập công ty, các thỏa thuận khác liên quanđếnviệc hình thành vàtồntạicủa công ty cũngđượcxác lập. Do đó, góp vốn thành lập công ty không phải là một thỏa thuận riêng rẽ như việc góp vốn vào công ty đã thành lập mà thỏa thuận này được nằm trong các văn bản pháp lý của công ty. Ở nghĩa rộng hơn, thỏa thuận góp vốn thành lập công ty có thể hiểu là thỏa thuận thành lập công ty hay nói một cách khác đó chính làhợp đồng thành lập công ty giữa các chủ thể góp vốn. Vì lẽ đó, góp vốn thành lập công ty không chỉ đơn thuần là việc đóng góp tài sản hay việc chuyển dịch tàisảntừthành viên sang công ty mà thực chấtđólà sựthỏa thuận của các chủ thể về việc đóng góp tài sản của mình để hình thành một thực thể pháp lýmới cũng như các quyền và nghĩavụcủa các phát sinhtừviệc đóng góp tài sản của các thành viên và đối với thực thể pháp lý mới được hình thành.

Vì các lẽ nói trên, góp vốn thành lập công ty có thể hiểu là việc các chủthể thỏa thuận đóng góp tài sản của mình để hình thành công ty, nhằm đổi lấy quyền sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu đối với công ty.

2.1.1.2. Khái niệm góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ

32

Để thành lập công ty, thì nghĩa vụ căn bản của các thành viên đó là nghĩa vụgóp vốn. Theo tác giảNgô Huy Cương12, khi đã giaokếthợpđồng thành lập công ty và cam kết góp vốn, thành viên đã tự ràng buộc mình thành người thụ trái hay con nợ của công ty. Do đó, trong một khoảng thời gian nhất định, thành viên, cổ đông góp vốn có nghĩa vụ thanh toán phần vốn góp theo camkếtban đầu. Việc thanh toán phần vốn góp cóthểbằng tiền, hiện vật,

quyền sử dụng đất hay quyền SHTT…

SHTTđềcập đếnthành tựu của laođộngsáng tạo trítuệvà thành quảđầutư, được xem làmộtquyền theo luật pháp của các quốc gia trongđócóViệt Nam. Theo Luật SHTT năm 2005 sửa đổi, bổsung qua các năm 2009, 2019 thì“quyềnSHTT là quyền của tổchức, cá nhânđốivới tàisảntrí tuệ, baogồmquyền tác giảvà quyền liên quanđếnquyền tác giả, quyềnsởhữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”119; Điều 4.

Ở khía cạnh dân sự, quyền SHTT được hiểu là các quyền hợp pháp của các chủ thể đốivới các tàisảntrí tuệ được pháp luật ghi nhận và bảohộ. SHTTđề cập đến các độcquyền mà các chủthểđượchưởngtheo luật pháp trong hoạtđộngsángtạotrítuệvà hoạtđộngđầutư của họ. Thông thường, nhà nước trao chongườisángtạosựđộcquyềnđốivới thành tựu trí tuệ vàthành quả dầu tư của họ trong một thời gian nhất định.

Ở khía cạnh thương mại, quyền SHTT là một loại tàisảnvô hình. Đó là kếtquả của lao động sáng tạo trí tuệ và thành quả đầu tư. Cũng như các loại tài sản hữu hình, quyền SHTT được bảo vệ bởi luật pháp quốc gia, có giá trị

và giá trị sử dụng. Giá trị của một số bằng sáng chế, nhãn hiệu… có thể cao hơn nhiều so với tài sản hữu hình. Tuy nhiên, nếu như tất cả các quyền SHTT baogồmquyền nhân thân và quyền tàisảnđềucó thể xem xétở khía cạnh dân sự, thì khía cạnh thương mại chỉ dành cho các quyền tài sản. Bởilẽ, các quyền nhân thân thườnggắnliền với chủ thể tạora các đốitượng SHTT vàkhông thể chuyển giao cũng như góp vốn cho các chủ thể khác. Trong khi đó

33

các quyền tàisảnthuộc quyền SHTT là các quyền cóthểtrịgiáđược bằng tiền và có thể chuyển giao trong các giao dịch dân sự. Vì vậy, quyền tài sản thuộc quyền SHTT có đủ các điều kiện để được coi là một loại tài sản và cóthể dùng để góp vốn như các loại tài sản thông thường.

Theo lý thuyết về vốn là tài sản trí tuệ, quyền SHTT có thể trở thành vốn của công ty. Nguồn gốc của khái niệm vốn trítuệtrongthếkỷXX có liên quan với Taylor và cuốn sách của ông, Nguyên tắc quản lý khoa học 95, từnăm 1911, trong đó, ông viết về kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng của nhân viên. Sau đó, ý tưởng về vốn trí tuệ cũng đã được tìm thấy trong các tác phẩm của Chamberlin57và Robinson91, ngườiđã nhấn mạnh rằng, các khảnăng của công ty, bí quyết kỹ thuật, nhãn hiệu, nhãn hiệu, bằng sáng chế, v.v. là chìa khóa cho thành công kinh doanh. Trong hoạt động kinh doanh, thương mại, độc quyền SHTTđược công nhận làmộtloại tài sản. Vớikhảnăng chuyển giao và trị giá được bằng tiền, độc quyền SHTT được xác định là tài sảncóthểdùngđểgóp vốn. Tác giảKolakovic nhận định trongnềnkinhtếhiện đại, tài sản vô hình không được công khai trong bảng cân đối kế toán rất quan trọngđốivới hoạtđộngcủa công ty, vì chúng có thể làm tăngđáng kểgiá trị tài sản hoặc giá trị thị trường của công ty [72; tr. 925]. Lý thuyết này dựa trên niềm tin rằng sự giàu có của công ty phụ thuộc vào vốn con người, cơ cấuvà quan hệ, và giá trịđược tạora bằng cách chuyểnđổivốnđầutưthànhmộthình thức khác. Vì vậy, khi thành lập công ty, các thành viên, cổđông sáng lập có thể thanh toán phần vốn góp hoặc cổ phần của mình không phải bằng tiền hoặc hiện vật hay quyền sử dụng đất mà có thể là quyền SHTT.

Sử dụng quyền SHTT để góp vốn thành lập công ty đã diễn ra từ khá lâu trên thế giới. Bên cạnh đó, cũng đã có những công trình nghiên cứu về vấn đềgóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có một văn bản pháp lý nào đưa ra khái niệm góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT, đồng thời các công trình nghiên cứu về vấn đề này

34

cũng chưa đưa ra được khái niệm mang tính đặc trưng của việc góp vốn thành lập công ty bằng loại tài sản. Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT cũng như góp vốn thành lập công ty bằng các loại tài sản khác có thể xem xétở hai khía cạnh kinh tế và pháp lý:

Ở khía cạnh kinh tế, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT là việc các chủthểthỏa thuận đóng góp các quyền tàisảnthuộc quyền SHTT vào công tyđể tạothành nguồn vốn cho công tysẽ được hình thành, nhằmđảm bảo cho hoạt động của công ty cũng như đảm bảo cho các khoản nợ của công tyđó,đổilại, việc góp vốn bằng loại tàisảnnày cũng buộc ngườigóp vốn phảiđảmbảocho công ty quyền khai thác tàisảnđể đemlạicác lợi ích phát sinhtừđó. Bên cạnh đó, vớiđặc trưng của quyền SHTT, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT còn giúp cho các công ty mới thành lập nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, giảm thiểu chi phí để tạo ra và phát triểnđối tượng SHTT.

Ởkhía cạnh pháp lý, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT là việc chủ thể góp vốn chuyển giao tài sản góp vốn là quyền SHTT, kèm theođó là các thỏa thuận liên quan đến tài sản góp vốn bao gồm quyền SHTT góp

vốn, giá trịcủa tàisảngóp vốn, phạm vi gópvốn…cũngnhư các quyền và nghĩa vụphát sinhtừhành vi chuyển giao quyền SHTT. Vì vậy, theo nghĩa rộng, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT chính là sự thỏa thuận của các bên, nhằm chuyển giao quyền tài sản thuộc quyềnSHTT để đổi lấyquyền sở hữuhoặc đồngchủsở hữucông ty. Tuy nhiên, dođặctrưng tínhđộc quyền, tính lãnh thổ triệt để, tính kịp thời mà việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT có những giới hạn nhất định về phạm vi không gian và thời gian góp vốn.

Với cách hiểu và phân tíchởtrên, cóthểđưa ra khái niệm:“Gópvốn thành lập công ty bằng quyền SHTT được hiểu là sự thỏa thuận của các bên, theo đó, chủsởhữu quyền SHTT chuyển giao các quyền tàisảncủamình

35

trong phạm vi thời gian và không gian được bảo hộ để đổi lấy quyền chủ sởhữu hoặc đồng chủ sở hữu đối với công ty sẽ thành lập”.

2.1.2. Đặc trưng của góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ

Thứnhất, gópvốnthànhlậpcông ty bằng quyền SHTT làmộthình thức góp vốn bằng quyền tài sản.

Trong quyền SHTT chứa đựng các quyền nhân thân và các quyền tài sản. Quyền nhân thân gắn liền với cá nhân sáng tạo ra các đối tượng SHTT, trong khi đó, các quyền tài sản được dành cho các cá nhân, tổ chức sở hữu đối với đốitượng SHTT. Việc sửdụng quyền SHTTđểgóp vốn khôngđồngnghĩa với việc chuyển giao toàn bộ các quyền đối với đối tượng SHTT. Chủ sở hữu quyền SHTTchỉcóthểsửdụng các quyền tàisảnđểgóp vốn. Các quyền nhân thân vẫn thuộc vềngườisángtạora các đốitượng SHTT. Dođó,bên nhận góp vốn khitrởthành chủsởhữuquyền SHTT vẫn phải tôn trọng vàđảm bảo các quyền nhân thân của tác giả đối với đối tượng SHTT, cũng nhưphải có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ về tài sản đối với tác giả (nếu có).

Như vậy, góp vốn bằng quyền SHTT thực chất là việc góp vốn bằng các quyền tàisảnthuộc quyền SHTT. Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT không làm mất đi quyền SHTT của các chủ thể khác đối với cùng một đối tượngSHTT.

Thứ hai, đối tượng của góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT làmột loại tài sản vô hình.

Xuất phát từ đặc tính vô hình của quyền SHTT mà quyền sở hữu loại tài sản này không mang tính tuyệt đối. Điều này xuất phát từ nguyêntắc bảo hộđối với quyền SHTT, đó là ngoài việc đảm bảo lợi ích của các chủ thể tạo ra đốitượng còn phảiđảmbảosựhài hòa cân bằng lợi ích cá nhân và lợi ích công cộng. Vì vậy, bên cạnh các chủ sở hữu quyền SHTT và các chủ thể khác được chủ sở hữu cho phép sử dụng quyền SHTT thì các tổ chức, cá nhân khác trong một số trường hợp vẫn được phép sử dụng mà không cần có sự đồng ý

36

của chủsởhữuloại tàisảnnày. Cóthểthấy, đốivới loại tàisảnnày chủsởhữu chỉ có quyền chiếm hữu về mặt pháp lý mà không thể chiếm hữu về mặt thực tế.Bên cạnh đó, với tính chất vô hình của quyền SHTT mà đối tượng góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT sẽ không bị hao mòn theo thời gian sử dụng, mà giá trị tăng hay giảm của loại tài sản này thường phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty. Mặt khác, không phải tất cảcác đốitượng của quyền SHTT đềuđược sửdụngđểgóp vốn. Xuất pháttừcác đặc trưng cũng như vai trò của đốitượng quyền SHTT nênmộtsốđối tượng của quyền SHTT bị hạn chế góp vốn. Chẳng hạn, chỉ dẫn địa lý là đối tượng không được phép chuyển giao, do đó, quyền SHTT đối với chỉ dẫn địa lý cũng không được sử dụng để góp vốn.

Thứba, gópvốnthànhlậpcông ty bằng quyền SHTT bịgiớihạnbởi phạm vi không gian và thời gian.

Sở dĩ như vậy là bởi quyền SHTT bị giới hạn về thời gian và không gian bảo hộ. Mặc dù pháp luật ghi nhận và bảo hộ quyền SHTT nhưng độc quyền SHTT chỉ thuộc sở hữu của chủ sở hữu trong một thời hạn nhất định

(hay còn gọi là thời hạn bảo hộ). Ví dụ, bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực từngàycấpvà kéo dàiđến hếthai mươi nămkểtừ ngày nộp đơn;bằng độc quyền giải pháp hữu ích có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dàiđến hết mười năm kểtừngàynộpđơn119;Điều93. Hếtthờihạnbảohộ, cho dùđộc quyền SHTT còn hay không còn giá trị sử dụng thì quyền sở hữu đối với tài sản này sẽ chấm dứt, độc quyền SHTT sẽ không còn và tài sản SHTT sẽ trở thành tài sản công cộng, bất kỳ chủ thể nào đều có quyền sử dụng. Vì vậy, trong hoạt độnggóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT cần phải lưuýrằng văn bằng bảo hộ cấp cho đối tượng đó đã hết thời hạn bảo hộ hay chưa, nếu còn thì thời hạn bảo hộ còn lại là bao lâu. Thời hạn góp vốn sẽ không được phép vượt quá thời hạn bảo hộ của đối tượng góp vốn.

37

Bên cạnh giới hạn về thời gian, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT cònbịgiớihạnbởiphạm vi không gian. Tàisảngóp vốn là quyền SHTTchỉđượcghi nhận vàbảohộtrong phạm vi quốc gia cụthể. Thông thường, các đối tượng của quyền SHTT sẽ được bảo hộ tại các quốc gia nhất định. Độcquyền SHTTchỉbảohộchomộtchủthểduy nhất trong phạm vi một quốc gia cụ thể. Vì lẽ đó, chỉ khi sử dụng quyền SHTT để góp vốn thành lập công ty trong phạm vi lãnh thổ quốc gia bảo hộ thì độc quyền SHTT mới được bảo vệ. Nói cách khác, ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia bảo hộ, chủ thểgóp vốn không còn được xác định là chủ sở hữu hợp pháp của quyền SHTT và khôngthểđòihỏibấtcứsựbảovệnàođốivớiđốitượng SHTT. Do đó, việc sửdụngđộc quyền SHTTđểgóp vốn thành lập công ty ngoài phạm vi quốc gia bảo hộ cóthểkhiến cho việc sửdụng quyền SHTT không còn hợp pháp và có thể phát sinh các tranh chấp. Ví dụ, ở Việt Nam, “Legende coffee” là mộtnhãn hiệuđãđược đăng kýbởiCông tycổphần tập đoàn Trung Nguyên và gắn liền với sản phẩm thương mại được xem là cao cấp nhất của công ty này. Tuy nhiên, ở Mỹ, nhãn hiệu “Legende coffee” đã được đăng kýbởi Alexander Nguyễn, không thuộc sở hữu của công ty Trung Nguyên. Điều này có nghĩa là, công ty Trung Nguyên chỉ có quyền sử dụng độc quyền nhãn hiệu “Legende coffee” đểgóp vốn trong phạm vi lãnhthổViệt Nam [43]. Như vậy, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT chỉ được diễn ra trong phạm vi quốc gia, mà ởđó, đối tượngSHTTđược bảo hộ. Điềunàysẽđảm bảo cho đối tượng SHTT được bảo vệ trong phạm vi quốc gia góp vốn cũng nhưđảmbảođượctính hợp pháp của tàisảngóp vốn, tránhđược các tranh chấp phát sinh.

Thứ tư, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT luôn bị hạn chế vềtỷ lệ vốn SHTT trong tổng số vốn góp.

Vốn SHTT là mộtphần quan trọng của vốn công ty, nhưng tàisảnnày chỉ có thể phát huy hiệu quả của nó nếu được phân bổ hợp lý với tài sản hữu

38

hình. Mặc dù, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT là yêu cầu tất yếu trong sự phát triển của nền kinh tế tri thức, tuy nhiên, việc chấp nhận góp vốn bằng loại tài sản này lại tiềm ẩn rất nhiều rủi ro về mặt pháp lý như rủi ro vềtính hợp pháp của quyền SHTT góp vốn, rủi ro về giới hạn quyền SHTT, rủi rovềchuyển nhượng quyền SHTT góp vốn và rủi rovềđịnhgiá quyền SHTT. Vì vậy, đểbảotoàn vốn cũng nhưbảo vệlợi ích của các chủnợcủa công ty, một số quốc gia hiện nay có quy định về hạn chế tỷ lệ vốn góp bằng quyền SHTT trong tổngsốvốn góp. Trong trường hợp pháp luật quốc gia không có quy định về hạn chế số vốn góp bằng quyền SHTT, thì thực tế cho thấy rằng, không cómộtcông ty nào chấp nhận 100% vốn góp là quyền SHTT để thành lập công ty.

Thứ năm, việc định giá tài sản góp vốn thành lập công ty là quyền SHTT khó có thể áp dụng các phương pháp của định giá các tài sản hữu hình và khócó thể định giá một cách chính xác quyền SHTT góp vốn.

Việc sử dụng các tài sản phi tiền tệ nói chung và quyền SHTT nói riêng đểgóp vốn cần phảiđượcđịnhgiáđểxácđịnhgiátrịcủa tàisảngóp vốn cũng nhưtỷlệgóp vốn của chủthểgóp vốn. Tuy nhiên,đểtính toánđượcgiátrịquyền SHTTmộtcách chính xác làđiềukhôngdễdàng.Đốivới các tài sản hữu hình nói chung, phương pháp thị trường là phương pháp được áp dụng phổbiến thì phương pháp này lại không được khuyến khích sử dụng khi định giá tài sản vô hình nói chung và quyền SHTT nói riêng do thiếu các điều kiện để áp dụng phương pháp này. Bên canh đó, một số các phương pháp chỉ áp dụng đối với quyền SHTT nói riêng mà không thể áp dụng đối với các tài sản hữu hình

khác như phương pháp chi phí… Ngoài ra, có rất nhiều các yếu tố khác nhau chi phốiđến địnhgiá quyền SHTT góp vốn như vai trò của quyền SHTTđối với hoạt động của bên nhận góp vốn, thời hạn bảo hộ còn lại của quyền SHTT

góp vốn… Do đó, cùng một đối tượng SHTT góp vốn nhưng giá trị của quyền

39

SHTT có thể được định giá khác nhau khi góp vốn vào các công ty khác nhau và thường rất khó để có thể định giá chính xác một quyền SHTT.

Thứ sáu, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT chịu sự điều chỉnh của pháp luật doanh nghiệp và pháp luật SHTT.

Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT là mộtkhía cạnh trong pháp luật doanh nghiệp. Vì vậy, việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT phải theo tuân theo các quyđịnhcủa pháp luật doanh nghiệpvềgóp vốn bao gồm chủ thể góp vốn, đối tượng góp vốn, trình tự thủ tục góp vốn… Bên cạnh đó, với cácđặc trưng của tàisảngóp vốn là quyền SHTT thì việc góp vốn thành lập công ty bằng loại tàisảnnày còn phải dựa trên các quyđịnh của pháp luật SHTT, chẳng hạn như xác định quyền sở hữu hợp pháp đối với quyền SHTT, đối tượng bị hạn chế góp vốn, thủ tục chuyển giao quyền sở

hữu cho bên nhận góp vốn…

2.1.3. So sánh góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ với góp vốn thành lập công ty bằng các loại tài sản khác

Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT là một trong các hình thức góp vốn được pháp luật hầu hết các quốc gia công nhận. Xuất pháttừ các đặc trưng của đốitượng góp vốn là quyền SHTT mà hình thức góp vốn này cónhững điểm khác biệt so với góp vốn thành lập công ty bằng các đối tượng tài sản khác như:

(i)Vềđốitượng:Đốitượng của góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT là mộtloại tàisảnvô hình, việc góp vốn bằng loại tàisảnnày không loại trừ việc sử dụng của chủ thể khác. Trong khi đó, đối với các loại tài sản khác dođặc tínhhữuhình và chỉcómộtmà khi chủthểnày đã sửdụng thìchủ thể khác sẽ không thể sử dụng. Bên cạnh đó, nếu như sử dụng các loại tài sản khác để góp vốn thì giá trị tài sản sẽ thường bị giảm sút do sự hao mòn vềđặc tính vật lí thì đối với góp vốn bằng quyền SHTT, giá trị tài sản góp vốn không bị hao mòn theo thời gian sử dụng.

40

(ii)Về hình thức: Việc góp vốn bằng các loại tài sản khác chỉ có thể thực hiện theomộthình thức chuyển quyềnsởhữuhoặc chuyển quyềnsửdụng (đối với quyền sử dụng đất) tài sản góp vốn. Tuy nhiên, đối với quyền SHTT, việc góp vốn cóthểtheo hai hình thức chuyển quyềnsởhữuquyền SHTT hoặc quyền sử dụng đối tượng SHTT.

(iii) Về thời hạn góp vốn: Nếu như các tài sản hữu hình hay các quyền tài sản khác, pháp luật không quy định giới hạn về thời hạn sở hữu đối với tài sản đóthì quyền SHTT bị giới hạn trong thời hạn bảo hộ. Do đó, đối với các tài sảnhữuhình, ngaycảkhi tàisảnđókhông còn giá trịthì quyềnsởhữuđối với tàisảnđócũng khôngbịmấtđi thìđốivới quyền SHTT khihếtthời hạnbảohộ,quyềnsởhữucũngsẽbịchấm dứt.Vì vậy, việc góp vốn bằng các loại tàisảnkhác thường khôngbịgiớihạnvềthời gian, trong khiđógóp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTTsẽbịgiới hạn bởithời hạn bảo hộ của quyền SHTT góp vốn

(iv) Vềphạm vi không gian góp vốn:đốivới hầuhếtcác loại tài sản khác, việc góp vốn bằng các loại tàisảnnày khôngbịgiới hạn bởiphạm vi không gian thì việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTTchỉđược diễn ra trong phạm vi quốc gia mà đối tượng SHTT được bảo hộ.

(v) Vềchuyển giao tàisảngóp vốn: góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT chịu sựđiềuchỉnh của cảpháp luật doanh nghiệp và pháp luật về SHTT. Vì vậy, thủ tục chuyển giao tài sản góp vốn là quyền SHTT cho bên nhận góp vốn phải tuân theo pháp luật SHTT. Chẳng hạn, ở Việt Nam đối với các loại tài sản hữu hình, việc chuyển giao loại tài sản góp vốn này phải bằng hình thức vănbảnnhư hợpđồngchuyển quyềnsởhữu, hợpđồngchuyển quyềnsửdụng hay biênbảngiao nhận tàisảngóp vốn thìđốivới quyền SHTT, ngoài việc chuyển giao phải thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, đối với một số đối tượng của quyền SHTT như sáng chế, kiểu sáng

41

công nghiệp thì hợp đồng này còn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước cóthẩm quyền.

2.1.4. So sánh góp vốn thành lập công ty bằng quyềnsở hữutrí tuệ với các hình thức khai thác thương mại khác của quyền sở hữu trí tuệ

Khôngchỉlà một trong các hình thức góp vốn theo pháp luật doanh nghiệp, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT còn là một hoạtđộng khai thác thương mại quyền SHTT.

Với việc góp vốn thành lập công ty bằng hai hình thức chuyển quyềnsởhữu quyền SHTT và chuyển quyền sử dụng đối tượng SHTT, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT có nhiềuđiểmtươngđồngvới các hình thức thương mại khác của quyền SHTT như chuyển nhượng quyền SHTT, chuyển quyềnsửdụngđốitượng SHTT (hay còn gọi là li-xăngđốitượng SHTT), nhượng quyền thương mại. Việc nhận diện đúng hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT là cơ sở để đảmbảoquyền lợi cho các chủ thể góp vốn cũng như tránh được các tranh chấp phát sinh.

(i) So sánh gópvốnthànhlậpcông ty bằng quyền sởhữutrítuệtheo hình thức chuyển quyền sở hữu và chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ

Về tính chất:

Chuyển nhượng quyền SHTT là việc chủsởhữuquyền SHTT chuyển quyềnsởhữumột, mộtsốquyền nhân thân và quyền tàisảnthuộc quyền SHTT của mình cho các cá nhân, tổ chức khác.

Sự tương đồng giữa hai hình thức này đó chính là khi góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT hay chuyển nhượng quyền SHTT thì quyền sở hữu quyền SHTTsẽđượcchuyển sang cho bên nhận góp vốn hoặc bên nhận chuyển nhượng. Tuy nhiên bản chất của chuyển nhượng quyền SHTT chính là việc chủ sở hữu bán các quyền tài sản của mình cho chủ thể khác để thu lại một khoản tiền nhất định. Trong khi đó, bản chất của góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT là việc chuyển giao quyền SHTTđểnhận lại

42

quyền chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu đối với công ty nhận góp vốn. Giátrịquyền SHTT mà chủthểgóp vốn tươngứngvớitỷlệnhấtđịnhtrong

tổngsốvốn góp củatấtcảcác thành viên. Chủthểgóp vốnsẽđượcnhận quyền chủsởhữucủa công ty tươngứngvớitỷlệvới vốn góp vàđược hưởnglợi nhuận tươngứngtỷlệvốn gópđó.Như vậy, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT không chỉ đơn thuần là việc “trao đổi ngang giá” hay“ mua đứt bán đoạn” như chuyển nhượng quyền SHTT.

Về ưu điểm và hạn chế:

Khi sử dụng quyền SHTT để góp vốn thành lập công ty có nghĩa làlợi ích kinh tế của chủ sở hữu khi khai thác thương mại loại tài sản này sẽphụthuộc vào hoạtđộngcủa công ty.Nếucông ty hoạtđộngkhông hiệu quảthìsẽảnhhưởngrấtlớnđếnlợi ích của chủthểgóp vốn bằng loại tài sảnnày. Trong khiđó,thay vìsửdụngđểgóp vốn,nếuchuyển nhượng quyền SHTT thì chủsởhữusẽkhông phải lo lắngvềcác hoạtđộngkhai thác đối với loại tài sản này sau khi đã chuyển nhượng. Bên cạnh đó, trong trường hợp nếu chủ sởhữukhông códồidào kinh phí đầu tư cho việc tạo ra cácđốitượng mới thì việcsửdụng quyền SHTTđểgóp vốn thành lập công ty không phải là hình thức tối ưu. Một điểm hạn chế nữa của góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT đó chính là về đối tượng quyền SHTT sử dụng để góp vốn. Ngoài một số đối tượng bị hạn chế theo quy định của pháp luật, một số trường hợp khác, do tính chất, đặc điểm và khả năng khai thác đối tượng đó nên thực tế rất hiếm có trường hợp các công ty nhận góp vốn bằngđối tượng này. Trong khi đó, đối với chuyển nhượng quyền SHTT, trừ các trường hợp hạn chế theo quy định, các đối tượng còn lại đều có chuyển nhượng một cách thuận lợi và nhu cầu nhận chuyển nhượng cácđối tượng cũng lớn hơn nhiều so với nhận góp vốn.

Tuy nhiên, bên cạnh nhữnghạnchếnói trên, khôngthểphủ nhận đượcưuđiểm của hình thức khai thác thươngmạiquyền SHTT này. Nếu

43

xét về khả năng khai thác lâu dài các đối tượng SHTT thì đây có thể xem làmột hình thức đáng để các chủ thể lựa chọn. Chưa kể đến, nếu công ty nhận góp vốn khai thác có hiệu quả và tiếp tục phát triển tốt đối tượng SHTT thì giá trị quyền SHTT cũng ngày càng tăng lên.

(ii) So sánh gópvốnthànhlậpcông ty bằng quyềnsởhữutrítuệtheo

hình thức chuyển quyềnsửdụngđốitượngsởhữutrítuệvớili–xăngđối tượng SHTT và nhượng quyền thương mại.

Về tính chất:

Li-xăngđốitượng SHTT là việc chủsởhữucho phép các tổchức, cá nhân khác được phép sử dụng đối tượng SHTT thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình.

Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyềntựmình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây: (i) Việc mua bán hàng hóa, cungứng dịch vụđược tiến hành theo cách thức tổchức kinh doanh do bên nhượng quyền quyđịnhvàđược gắnvới nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền; (ii) Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh110, điều 284.

Xétvềmức độphổbiến, hoạtđộngsửdụng quyền SHTTđểgóp vốn thành lập công ty khôngphổbiến như hoạtđộngli-xăng quyền SHTT hay nhượng quyền thươngmạinhưng trên thực tế, những hoạtđộngthương mại hóa quyền SHTT nàylạirấtdễbịnhầm lần. Điềunày xuất pháttừđiểm

chung giữa các hoạt động này đó chính là việc các bên góp vốn, bên giao li –

xăng và bên nhượng quyền cho phép bên nhận góp vốn, bên nhận li–xăng hay bên được nhượng quyền được sử dụng đối tượng SHTT trong một khoảng

44

thời gian và không gian nhất định, đồng thời sẽ nhận được những lợi ích nhất định từ việc chuyển quyền đó.

Tuy nhiên, các hoạt động này cũng có sự khác biệt tương đối. Đối với góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo hình thức chuyển quyền sử dụng, lợi ích mà bên góp vốn hướng tới là quyềnsở hữu hoặcđồng chủsởhữuđối với công ty. Khisửdụng quyền SHTTđểgóp vốn, quyền SHTT của chủsởhữu sẽ bị chuyển hóa thành phần vốn góp trong công ty và chủ sở hữu sẽ được hưởngphần lợi nhuận tươngứngvới phần vốn góp của mình vào công ty. Trong khiđó,mụcđích của bên giao li-xăng hay bên nhượng quyền khi cho phépsửdụng đốitượng SHTTđểnhận lấy mộtkhoản tiền nhấtđịnh.Thông thường, phí li-xăng hay nhượng quyền thương mại sẽ được các bênấn định một mức cụ thể. Tuy nhiên, nhiều trường hợp hiện nay không li-xăng theo phương pháp thông thường như vậy.Mộtsố trường hợp các bên thỏa thuận với nhau, theo đó, bên nhận quyền được phép sử dụng quyền SHTT và bên chuyển quyền đượcnhậnmộtkhoản phí chuyển quyền tươngứngtheomộttỷlệnhấtđịnh tính trên lợi nhuận của công ty. Trường hợp này, trên thựctế,nhiều chủthểthường gọi đây là hành vi “góp vốn”, nhưng thực chất bản chất của hành vi này

lại là li-xăng. Bởi lẽ, li-xăng quyền SHTT hay nhượng quyền thương mại thực chất là việc chủ sở hữu “cho thuê” các quyền SHTT của mình.

Đốivới hoạtđộnggóp vốn thành lập công ty và hoạtđộngnhượng quyền thương mại, ngoàisựkhác biệt nói trên, mộtđiểmkhông tươngđồng cóthểnhận thấyrấtrõ giữa hai hoạtđộngnày chính là vềđốitượng.Đối tượng của hoạtđộngnhượng quyền thươngmạirộng hơn nhiều so vớiđối tượng của hoạt động góp vốn. Khi nhượng quyền thương mại, quyền sử dụng

đốitượng SHTT như nhãn hiệu, bí mật kinh doanh, sángchế…chỉlà một phần của hợp đồng nhượng quyền, kèm theo đó, bên nhượng quyền đồng thời phải chuyển giao cách thức, bí quyết tiến hành kinh doanh, khẩu hiệu kinh

doanh, thiết kế địa điểm kinh doanh…Bên cạnh đó, khi nhượng quyền thương

45

mại, bên nhượng quyền còn có trách nhiệmhỗtrợ, kiểm soátđốivới bênđược nhượng quyền. Điều này không xảy ra trong hoạt động góp vốn, bởi lẽ, khi góp vốn bằng quyền SHTT, công ty nhận góp vốn có quyền sử dụng đối tượng SHTT theo thỏa thuận góp vốn mà không phải chịusựkiểm soát vàcũng không có quyền yêu cầu sự hỗ trợ nào từ bên góp vốn.

Về ưu điểm và hạn chế:

Đối với các quyền SHTT rất ít đối tượng có thể giữ nguyên giá trị hoặc giá trị tăng dần mà thông thường giá trị sẽ giảm dần theo thời gian bởi vì liên

tục cácđối tượng SHTT mới hơn, tốt hơn, hiện đại hơn sẽ được ra đời. Khiđó, nhữngđốitượng SHTT trước đótrởnên cũ và lỗi thời, đồngnghĩa với việc giátrịquyền SHTT vớiđốitượngđósẽbịgiảm đi hoặc cóthểkhông còn giá trị. Do đó, việc khai thác thương mại một đối tượng SHTT thông qua

hình thức li – xăng đối tượng SHTT hay nhượng quyền thương mại có khi chỉ

tồn tại trong một thời gian nhất định. Như vây, lợi ích kinh tế của chủ sở hữu sẽ bị giảm sút. Tuy nhiên với việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền sửdụngđốitượng SHTT, giá trịtàisảncóthểgiảm sút nhưng không làm ảnh hưởngđếnquyền lợi của chủthểgóp vốn. Quyền lợi của chủthểgóp vốn trong trường hợp này chỉ bị ảnh hưởng bởi hoạt động của công ty. Đây là ưuđiểmnhưng cũngđồngthời là hạnchếcủa việc góp vốn thành lập công ty

bằng quyền SHTT so với hình thức li–xăngđốitượng SHTT hay nhượng quyền thương mại. Bởi lẽ, trong trường hợp công ty hoạt động hoạt động hiệu quả, giá trị quyền SHTT có thể giảm sút hoặc mất đi nhưng lợi ích kinh tế của chủ thể góp vốn có thể tăng lên. Tuy nhiên, điều ngược lại có thể xảy ra, khiđó, chủ thể góp vốn sẽ không nhận được bất kỳ lợi nhuận nào từ khai thác tài

sản của mình. Trong khi đó, đối với việc li –xăng đối tượng SHTT và nhượng quyền thương mại, chủsởhữuquyền SHTTsẽđược nhận ngaymộtkhoản

tiền mà không phảiphụthuộc vào hoạtđộngkinh doanh của bên nhận li–xăng hay bên được nhượng quyền.

46

2.1.5. Vai trò của góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ

Hiện nay, vai trò của góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT được thể hiện qua các phương diện sau:

Thứ nhất, việc ghi nhận góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT sẽthu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ.

Một xu thế chung trên thế giới hiện nay đó là, các công ty lớn không chỉmuốn phát triển ởtrong phạm vi quốc gia của mình, mà còn muốnmởrộng thịphần sang các lãnhthổquốc gia khác trênthếgiới. Tuy nhiên, việc tiếp cận với một thị trường mới, một nền văn hóa mà mình không hiểu rõ sẽ khiến cho chủthểkinh doanhgặpkhông ít khó khăn và rủi ro. Vì vậy, hiện nay, nhiều công ty nước ngoài lựa chọn hình thức thuận lợi và hiệu quả hơn, đó làliên doanh, thông qua các phương thức nhưđầutư góp vốn với các công ty mà sản phẩm, dịch vụ của họ đã có chỗ đứng trên thị trường trong nước, nhưtrường hợp Công ty liên doanh P/S, Công ty liên doanh Colgate – Sơn Hải; haysửdụng công nghệ, nhãn hiệu của mìnhđểgóp vốn với các công ty tại

quốc gia mà công tyđómuốnmởrộngthịtrường… như trường hợp Hãng Siemen của Đức đãsửdụng nhãn hiệu của mình để góp vốn vào một số các doanh nghiệpđiệntửởViệt Nam. Qua đócho thấy, nếucómộthành lang pháp lý đầy đủ điều chỉnh về góp vốn bằng quyền SHTT cũng như cơ chế bảo hộquyền SHTT tốtsẽlà cơsởđểthu hút hoạtđộngđầutư và chuyển giao công nghệ cho các công ty nhận góp vốn ở các quốc gia sở tại.

Thứhai, gópvốnthànhlậpcông ty bằng quyền SHTT tăngkhảnăng cạnh tranh trên thị trường của chủ thể kinh doanh mới và khả năng tiếp cận thị trường nước ngoài của các chủ thể kinh doanh.

John Stuart, cựu Chủ tịch Quaker đã từng nói rằng“Nếuphải chia tách doanh nghiệp, tôisẽnhườnglạichobạntoànbộ bấtđộngsản, tôi sẽchỉlấy thương hiệu và nhãn hiệu, chắc chắn tôisẽhơnbạn”. Quađócóthểthấy, SHTT có vai trò lớn nhưthếnàođốivới các chủthểkinh doanh nói chung,

47

nhất là đốivới các doanh nghiệp mới thành lập. Cóđược quyền SHTT khi mới bắt đầu thành lập công ty sẽ có lợi thế rất lớn cho công ty mới thành lập trên thị trường. Bởi lẽ, một công ty mới thành lập để có thể xây dựng một chỗđứngtrênthịtrường và đểcạnh tranh với các đốithủ cósẵntrênthịtrường hoặc thịtrường mới, khôngthểkhác, công tyđóphảitạora và phát triển

quyền SHTT như nhãn hiệu, tên thương mại, sáng chế… cho riêng mình. Đây là những yếu tố để tạo nên sức canh tranh trên thị trường cho các công ty. Tuy nhiên, điều này sẽ không hề dễ dàng đối với một công ty mới thành lập. Có thểsẽ mất một khoảng thời gian rất dài cũng như phải bỏ ra một khoản chi phí rất lớn để công ty mới thành lập đưa sản phẩm dịch vụ của mình tiếp cận được với người tiêu dùng và để người tiêu dùng có thể tin tưởng sử dụng sản phẩm dịch vụ của mình. Vì vậy, việc nhận góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT sẽgiúp các công ty trong việc rút ngắn thời gian, giảm bớt chi phí để tiếp cận thịtrường cũng như chi phí để tạo ra hay mua lại các quyền SHTT. Chẳng hạn, với viêc nhận góp vốn thành lập công ty bằngmộtnhãn hiệuđãquen thuộc với công chúng, công ty sẽ giảm thiểu được một cách đáng kể các chi phí cho việc quảng bá sản phẩm đến công chúng hay với việc nhận góp vốn bằng một sáng chế liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty sẽ giảm thiểu rất nhiều chi phí để tạo ra một sáng chế hay một khoản phí rất lớn phải trả cho việc sử dụng sáng chế thuộc sở hữu của một chủ thể khác.

Thứ ba, sử dụng quyền SHTT để góp vốn thành lập công ty vừa là hình thức khai thác thương mại hiệu quả quyền SHTT, đồng thời sẽ giúp cho việc phát triển đối tượng quyền SHTT cũng như làm tăng giá trị của quyền SHTT.

Mặc dù có nhiều hình thức khác nhauđểkhai thác quyền SHTT, tuy nhiênđểkhai thác mộtcách lâu dài và hiệuquảloại tàisảnnày thì việc sửdụng quyền SHTT để góp vốn thành lập công ty có thể xem là một hình thức tối ưu. Với các hình thức khai thác thương mại khác của quyền SHTT, cóthểmanglạilợi íchtứcthời. Nhưng những lợi ích nàysẽkhó cóthểlâu dài do

48

đốitượng của quyền SHTT thườngchỉcó chukỳsốnghữuhạn. Mộtđối tượng mới ra đời có thể làm mất đi giá trị của đối tượng cũdù đối tượng đó

vẫn được bảo hộ. Vì vậy, thay vì việc li – xăng hay chuyển nhượng, việc góp vốn bằng quyền SHTTsẽmanglạicho chủthểgóp vốnmộtlợi ích lâu dài. Bên cạnh đó, trong quá trình sử dụng đối tượng của quyền SHTT, các công ty nhận góp vốn sẽ tập trung phát triển đối tượng quyền SHTT tốt hơn. Do đó, đốivớibấtkỳcông ty nào quản lý tốt tàisảntrítuệthì giá trịtàisảnđósẽtăng theo thời gian. Trong khi đó, đối với việc góp vốn thành lập công ty bằng các tàisảnhữuhình, giá trịtàisảngóp vốn thườngsẽbịgiảm đi theo thời gian dođặctính vật lý của tài sản. Tuy nhiên, việc sửdụng quyền SHTT không những không làm giảm sút đi giá trị của tài sản góp vốn mà còn có thểlàm tăng giátrịcủa đốitượng góp vốn. Với việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT, thông qua hoạt động và quảng bá của công ty, đối tượngđó sẽ ngày càng trở nên phổ biến rộng rãi hơn.

2.2. Lý luận pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyềnsởhữu trí tuệ

2.2.1. Khái niệm pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyềnsở hữu trí tuệ

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam hiện nay Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam hiện nay Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam hiện nay Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam hiện nay Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam hiện nay Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam hiện nay Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam hiện nay Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam hiện nay Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam hiện nay Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam hiện nay Góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *