Dịch vụ chuyển giao công nghệ theo pháp luật Việt Nam hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc cách mạng công nghiệp, khoa học kỹ thuậttừcuốithếkỷXIXđếnthếkỷXXđã trởthành dấu ấnquan trọng, làcộtmốc quan trọng nhất trong lịch sử phát triển của thế giới. Với vai trò là động lực của sự phát triển, cuộc cách mạng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ đã tác động mạnh mẽ
tới định hướng phát triển kinh tế – xã hội của tất cả các quốc gia trên thế giới, nền tảng của cuộc cách mạng này là những phát kiến và những đổi mới công nghệ có tính đột phá trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học và công nghệ, công nghiệp diễn ra trong suốtthếkỷXX vừa qua. Bước sangthếkỷXXI, khoa học và công nghệđã trởthànhđộnglực phát triển hàngđầucủa nhiều quốc gia và dân tộc trênthếgiớivớicuộc cách mạng số, cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra từ những năm 2000. Sau khi đưa tư duy của con người vào trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng dẫn đường và là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu hóa.
Ở Việt Nam, sau 30 nămđổi mới, nền kinh tế đất nước đã phá vỡ được sự trì trệ, phát huy năng lực lao động, sáng tạo mạnh mẽ và dồi dào của con ngườiViệt Nam. Nước ta đã giành được những thành tựu to lớn và rất quan trọng làm chothếvà lực của đấtnước không ngừng tăng lên. Trong thành công đó, không thể không kể đến yếu tố đóng góp quan trọng của khoa học vàcông nghệ. Nhận thức rõ vai trò này, Đạihộiđạibiểu toàn quốc lầnthứXI của Đảng đã xác định “khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượngsảnxuất hiệnđại, bảovệtài nguyên môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình
1
độtiên tiếncủathếgiới”. Cụthểhóa các quanđiểmcủa Đảng,Chiếnlược phát triển khoa học và công nghệ giaiđoạn2011-2020 cũng nhấn mạnh, “Phát triển khoa học và công nghệ cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàngđầu, làđộnglực then chốtđểphát triểnđấtnước nhanh vàbềnvững. Khoa học và công nghệ phải đóng vai trò chủ đạo để tạo bước phát triển đột phá về lực lượng sản xuất, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranhcủanềnkinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước”. [ 37 ]
Trên cơ sởnhữngchủtrương, đườnglốicủa Đảngvà Nhà nước, nền khoa học và công nghệ nước nhà đã có những bước tiến tích cực, gắn bó hơn với sản xuất và đời sống. Tuy nhiên, đứng trước bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinhtếquốc tế, nềnkhoa học và công nghệnước ta vẫncòn khoảng cách khá xa so với các nước phát triển, chưa tạo ra được những năng lực khoa học và công nghệ cần thiết để thực sự trở thành nền tảng và động lực cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trình độ công nghệ của nước ta còn thấp, chậm được đổi mới trong nhiều ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụvà quản lý. Sảnphẩm nghiêncứukhoa học và công nghệ trongnước chưa nhiều, tỷ lệ ứng dụng vào sản xuất và đới sống còn thấp, tình trạng nhập khẩu các thiết bị, công nghệ lạc hậu, không đồng bộ, kém hiệu quả ảnh hưởng xấu đến nǎng xuất lao động. Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ tuy tǎng về sốlượng, nhưng tỷ lệ trên số dân còn thấp so với các nước trong khu vực, chất lượng chưa cao, còn thiếu nhiều cán bộ đầu nghành, chuyên gia giỏi, đặc biệt là các chuyên gia về công nghệ. Quan trọng nhất, khoảng cách từ việc nghiên cứu đến ứng dụng trong thực tiễn còn lớn, việc tiếp nhận công nghệ tiên tiến củanướcngoài chưa cóbước phát triển xứng tầm. Trước bốicảnh đó, việc phát triển thị trường, dịch vụ chuyển giao công nghệ là một nhu cầu tất yếu vàkhách quan.
2
Dịch vụ chuyển giao công nghệ là một khái niệm đã xuất hiện gần đây, nhưng đã nhanh chóngtrởthành vấn đề thời sự, được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, cóýnghĩa quan trọngđốivớisựphát triển kinhtếtrên toàn cầu,đặc biệt là đối với những nước đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá như nước ta. Việc nghiên cứu, hoạch định chính sách, chiến lược để nâng cao hiệu quả trong việc thúc đẩy tiếp nhận và ứng dụng công nghệ tiên tiến nước ngoài vào sản xuất trong nước cũng như việc triển khai đưa công nghệ trong nước vào thực tiễn sản xuất ở từng ngành, từng lĩnh vực và từng khâu trong quy trình hoạt động sản xuất được coi là khâu then chốt bảo đảm sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Mục đíchlớnnhất khi nghiêncứuđềtài“Dịch vụchuyển giao công nghệ theo pháp luật Việt Nam hiện nay” là luận giải được những vấn đề lý luận và thực tiễn cơbảntrong chính sách, pháp luậtvềdịchvụchuyển giao công nghệ tại Việt Nam nhằm nhận thức được đầy đủ hơn những ưu điểm và tồn tại của pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ từ đó đề xuất tiếp tục hoàn thiệncác quy định tương ứng trong pháp luật Việt Nam hiện hành trong thực tiễn, thúc đẩy dịch vụ chuyển giao công nghệ trong thời gian tới.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu
Dựa trên phân tích các cơ sở lý luận về chuyển giao công nghệ, dịchvụchuyển giao công nghệ, thông qua nghiêncứu một số trường hợp cụthể trongáp dụng pháp luậtvề chuyển giao công nghệtạiViệt Nam, luận án rút ra nhữngđiểmbấtcậpcủa quyđịnhhiện hànhvề dịchvụchuyển giao công nghệ. Từđóđưa ra nhữngđề xuấtđể tiếp tục hoàn thiện các quyđịnhcủa pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ, góp phần nâng cao hiệu quả hoạtđộng dịch vụ chuyển giao công nghệ hiện nay ở nước ta.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạtđược mục đích nêu trên, đề tàiluận áncầnthực hiệnđược các
3
nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Thứ nhất, trên cơ sở các luận điểm khoa học phân tích sự cần thiết phải nghiên cứu về dịch vụ chuyển giao công nghệ trong bối cảnh toàn cầu hóa vàhội nhập quốc tế hiện nay.
Thứ hai, nghiên cứu hệ thống quan điểm, quan niệm khoa học trên bình diện quốc tế cũng như của các tác giả Việt Nam, từ đó làm rõnhững vấn đề lýluận chung về dịch vụ chuyển giao công nghệ;
Thứ ba, làm sáng tỏ nội dung những quy định hiện hành của pháp luật về dịchvụchuyển giao công nghệ tạiViệt Nam, đồngthời phân tích nhữngưu điểmvà hạn chế của quy định hiện hành về dịch vụ chuyển giao công nghệở Việt Nam.
Thứtư, nghiêncứuđềxuất giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luậtvềdịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam, thúc đẩy hiệu quả hoạt dộng dịch vụ chuyển giao công nghệ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiêncứucủa đềtài là các quanđiểmkhoa học và những quy định của pháp luật hiện hành về dịch vụ chuyển giao công nghệ, một sốvụ việc điển hình về triển khai dịch vụ chuyển giao công nghệ ở nước ta trong các lĩnh vực khác nhau.
Về mặt nội dung: Luận án nghiên cứu, được tiếp cận dưới góc độ Luật kinh tế.
Về thời gian: Luận án sử dụng số liệu nghiên cứu trong vòng 10 năm, từ năm 2007 đến năm 2017.
Về không gian: Luận án được thực hiện trên phạm vi các tỉnh phía Bắc Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của luận án
Do đâylà một đề tàirộng lớn và phức tạp nên tác giả chỉ thực hiện luận án này trong phạm vi nhữngvấnđềđượcnhìn nhậntừgócđộpháp luậtvềdịchvụchuyển giao công nghệ, mà khôngtậptrung nghiêncứukhía cạnh
4
kinh tế thuần túy của chuyển giao công nghệ. 4. Phương pháp nghiên cứu của luận án
Các phương pháp chung được tác giả Luận án áp dụng để nghiên cứu là:
– Phương pháp nghiên cứu và lý luận về luật học thực định.
– Phương pháp phân tích:được sử dụngđể luận giải nhữngvấn đề lýluận cơ bảncủa dịchvụchuyển giao công nghệ, phân tích các nộidung cơbảncủa sáu loại hình dịchvụchuyển giao công nghệ và hiệuquảcủa chính sách, pháp luật hiện hành trong việc thúcđẩycác dịchvụchuyển giao công nghệ phát triển.
– Phương pháp điều tra xã hội học.
Để hoàn thành Chương 3 của Luận án, này, phương pháp điều tra thực địa được sử dụng để tiếp cận trực tiếp đối tượng điều tra nhằm thu thập các thông tin về nhu cầu và thực trạng cung cấp dịch vụ CGCN.
+ Địa bàn điều tra: Nghiên cứu được tác giả thực hiện tại 2 địa bàn tương ứng với 2 tỉnh/thành phố (Thái Nguyên, Hà Nội)
+ Dung lượng mẫu: 350
+ Đối tượng điều tra thu thập thông tin: bao gồm 100 cán bộ quản lýcông nghệ từ Trung ương đến địa phương; 100 chủ sở hữu công nghệ; 100 chủ thể tiếp nhận công nghệ; 50 chủ thể cung cấp dịch vụ chuyển giao công nghệ.
+ Công cụ điều tra: bao gồm 04 bảng hỏi định lượng có cấu trúc và 04 bảng hỏi phỏng vấn sâu bán cấu trúc tương ứng với 4 nhóm đối tượng khảo sát. (xem Phụ lục 01 của Luận án).
5
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án Những vấn đề mà luận án kế thừa
Những công trình khoa học nêu trênđã phản ánhđược trạng thái, xu hướng cũng như quy mô của các nghiên cứu về lĩnh vực dịch vụ chuyển giao công nghệtạiViệt Nam. Từđó, cóthểđưa đếnmộtsốkếtluận chung đánh giá về những ưu điểm, kết quả đã được làm rõ mà tác giả luận án sẽ tiếp tục kế thừa:
– Các vấn đề như khái niệm, đặc điểm, bản chất, ý nghĩa, nội dung của chế định chuyển giao công nghệ được đúc kết và trình bàykhá đầy đủ, tác giảsẽ tiếp tục kế thừa các vấn đề trên để tiếp tục phân tích sâu sắc hơn lý luận vềcung cấp dịch vụ về chuyển giao công nghệ.
– Luận án ghi nhận kết quả nghiên cứu về thực trạng triển khai các loại dịch vụ chuyển giao công nghệ tại Việt Nam trong các công trình đã thực hiện trước đóvà tiếp tục bổsungđểđưa ra các đềxuất, kiến nghị xây dựng và triển khai các quyđịnhpháp luậtvềdịchvụchuyển giao công nghệởViệt Nam trong thực tiễn.
Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu
– Nghiêncứu để làmrõ hơn nội hàm khái niệm và nội dung pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ mới chỉ được quy định một cách khái quát trong Luật chuyển giao công nghệ, nhưng chưa được cụ thể hóa trong các văn bản dưới luật.
– Tiếp tục nghiên cứu đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, chủ yếu là Luật chuyển giao công nghệ trong thực tiễn, phân tích những ưu điểm và hạn chế trong thực tiến triển khai các dịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam.
– Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, bên cạnh giải pháp về tiếp tục hoàn thiện pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ, luận án tập trungđề xuất một số giải pháp, kiến nghị còn chưa được đề cập hoặc đã đề cập với
6
dunglượngrấthạnchếtrong các công trình trước, nhằm góp phần thúc đẩy dịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam trong thời gian tới.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 6.1. Về mặt khoa học
Luận án này sẽ góp phần hệ thống hóa và làm rõ hơn cơ sở lý luận vàthực tiễnvềdịchvụchuyển giao công nghệ theo pháp luật Việt Nam hiện nay; thông qua việc đánh giá toàn diện về pháp luật và quá trình thực hiện các quy định pháp luật liên quanđến dịchvụ chuyển giao công nghệ, Luận ánchỉra những thành công và hạn chế của pháp luật nước ta điều chỉnh lĩnh vực này và nguyên nhân của những hạn chế đó, đồng thời đề xuất các giải phápcụ thểnhằm đưa Luật chuyển giao công nghệởViệt Nam vào thực tiễn thông qua việc kiến nghị xấy dựng một số văn bản dưới luật cụ thể hóa về hỗ trợ các chủthể cung cấp dịch vụ chuyển giao công nghệ.
6.2. Về mặt thực tiễn
Nội dung của luận án là cơ sởcho các cơ quanlậppháp xem xét, sửa đổi, bổsung, hoàn thiện các quyđịnhcủapháp luậtvềdịchvụchuyển giao công nghệ. Hiện nay, do pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ của Việt Nam chưa điều chỉnh có hiệu quả được lĩnh vực này, dẫn đến lãng phí cơ sởdữ liệu thông tin KH&CN, khó khăn trong việc quản lý kiểm định, giám định, địnhgiá công nghệ, thiếu các hoạt động, hỗtrợvề đánh giá, cảnh báo công nghệ, tính liên kết giữa các đơn vị cungcấpdịchvụCGCNvớinhau và với cơ quan quản lý chưa cao, thiếu nguồn nhân lực quản lý và phát triển dịchvụchuyển giao công nghệ, chưa có hình thức chếtài phù hợpđốivớinhững vi phạm trong các dịch vụ CGCN. Luận án góp phần đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển thị trường khoa học và công nghệ trong quá trình hội nhập kinh tếquốc tế, cần có định hướng và giải pháp cụ thể như: Xây dựng khung pháp lýchosựhình thành và phát triểnthịtrường khoa học và công nghệ phù hợp điều kiện của Việt Nam và thông lệ thế giới; thúc đẩy chuyển giao công nghệ,
7
phát triển dịch vụ môi giới, tư vấn chuyển giao công nghệ, dịch vụ đánh giá,định giá, giám định công nghệ, dịch vụ xúc tiến chuyển giao công nghệ.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, những công trình nghiêncứuliên quanđếnluận ánđãđược côngbố;phân nội dung của luận án được kết cấu gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận và pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ
Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luậtvề dịchvụchuyển giao công nghệ tại Việt Nam
Chương 4: Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ và thúc đẩy dịch vụ chuyển giao công nghệ tại Việt Nam
8
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước và ở ngoài nước
1.1.1. Tình hình nghiên cứu lý luận vềchuyển giao công nghệ và dịch vụchuyển giao công nghệ
1.1.2. Tình hình nghiêncứulý luận pháp luậtvềdịchvụchuyển giao công nghệ
1.1.3. Tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luậtvềdịch vụchuyển giao công nghệ
1.1.4. Tình hình nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luậtvềdịch vụchuyển giao công nghệ
1.1.5. Tình hình nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực hiện pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ
1.1.6. Các nghiên cứu nước ngoàivềdịch vụchuyển giao công nghệ vàpháp luật điều chỉnh dịch vụ chuyển giao công nghệ
1.1.7. Đánh giá tình hình nghiên cứu
Những nghiêncứutrên là các tư liệu tham khảo có giátrịcho tácgiảluận án khi nghiêncứuvề “Dịch vụ chuyển giao công nghệ theo pháp luật Việt Nam hiện nay”. Qua tổng quan nghiên cứu, tác giả có thể đưa ra một sônhận xét sơ bộ về tình hình nghiên cứu như sau:
Những thành tựu trong nghiên cứu mà luận án kế thừa và phát triển:
Một là, có nhiều nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Namđã đề cập đến khái niệm “công nghệ”; “chuyển giao công nghệ”, “dịch vụ”.
Hai là, có một số nghiên cứu đã đề cập đến khái niệm dịch vụ chuyển giao công nghệ, hoặc đi sâu khảo sát tình hình cungcấpmộtloại dịchvụchuyển giao công nghệởViệt Nam. Tuy nhiên, phầnlớncác nghiêncứuđã tập trung vào thực trạng dịch vụ chuyển giao công nghệ sau khi Luật Chuyển giao công nghệ 2006 được ban hành, tới năm 2017, trong khi đạo Luật nàyđã
24
có nhiềuđiểmkhông phùhợpvớihoàn cảnh hiệntạikhi Luật Chuyển giao công nghệ 2017 có hiệu lực.
Các vấn đề còn bỏ ngỏ hoặc chưađược giải quyết thấu đáo cần được tiếp tục nghiên cứu
Cho đến thời điểm hiện tại, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách độc lập và tổng thể về khung pháp luật điều chỉnh về các dịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam từ trước và sau khi Luật Chuyển giao Công nghệ2017 được ban hành, tác động của nó trên thực tế. Đâylà vấn đề còn bỏ ngỏtrong khoa học pháp lý mà đề tài cần nghiên cứu giải quyết.
1.2. Cơ sở lý thuyết
Câu hỏi nghiên cứu:
Luận án được triển khai với các câu hỏi trọng tâm sau đây:
– Thực trạng pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ của Việt Namđã và đang diễn ra như thế nào?
– Cần định hướng và có các giải pháp cụ thể nào để tiếp tục hoàn thiện pháp luật Việt Nam về dịch vụ chuyển giao công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triểnthịtrường khoa họcvà công nghệ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế?
– Giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai thực hiện phápluật về dịch vụchuyển giao công nghệ trong thời gian tới?
Lý thuyết nghiên cứu
Đểthực hiện nghiêncứuđềtài, luận ándựkiếnsẽsửdụng các lýthuyết nghiên cứu sau đây:
– Lý thuyết về dịch vụ theo quy định của Tổ chức thương mại quốc tế(WTO) về các nhóm ngành và tiểu ngành dịch vụ.
– Lý thuyết về dịch vụ thương mại theo quy định hiện hành tại Việt Nam.
25
– Cơ sở lý thuyết pháp luật chuyên ngành: Các lýthuyết pháp lýliên ngành liên quan đến pháp luật dân sự, thương mại, kinh doanh của Việt Nam đề cập đến dịch vụ, dịch vụ thương mại, dịch vụ chuyển giao công nghệ.
Dự kiến kết quả nghiên cứu:
Một là,hệthốngcơ sởlýluận vềdịchvụchuyển giao công nghệ góp phần định hướng, thúc đẩy sự phát triển của các loại dịch vụ này tại Việt Nam trong quá trình hội nhập;
Hai là, khái quát hóa các quan điểm, các quyđịnhcủa pháp luậtđiều chình dịch vụ chuyển giao công nghệ tại Việt Nam
Ba là, nêu được thực trạng thực hiện pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ tại Việt Nam thông qua một số vụ việc điển hình.
Bốnlà,đềxuất những giải phápcụthểnhằm hoàn thiện pháp luật vàthúc đẩy phát triển dịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam.
26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Các nghiên cứu trên thế giới đã tạo ra tầm nhìn tổng quan về khoa học và công nghệ nói chung và hoạt động của các dịch vụ chuyển giao công nghệnói riêng. Ởtrong nước, nhìn chung các nghiêncứuchỉđề cậpđếnvấnđềkhoahọcvà công nghệ vớicác góc tiếp cận: lý luận chungvềkhoa học vàcông nghệ, các dịch vụ chuyển giao công nghệ, vai trò chuyển giao công nghệđốivớikinhtế – xã hộiqua đóđề xuất phương hướng, giải pháp nhằm thúcđẩykhoa học và công nghệ trongnước phát triển, phát triển thị trường khoa
học và công nghệ …Các nghiêncứusâu hơnchủyếuchủyếutậptrungvề vấnđề thực trạng phát triển khoa học và công nghệ, cơ chế chính sách của Nhà nước đối vớikhoa học và công nghệ.Hầuhếtcác nghiêncứu đềuđưa ra những chính sách nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan Nhà nước, nâng
cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực,… với những nghiên cứu khác nhau ởnhững khía cạnh tiếpcậnkhác nhau các nhà nghiêncứuđã khuyến nghịnhững chính sách phù hợp. Tuy nhiên trong số các nghiên cứu trong nước córấtít các công bố đưa ra giải pháp nhằm áp dụng pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ; thúcđẩydịchvụchuyển giao công nghệ vơi hiệuquảcao. Tác giả Luận án kỳ vọng nghiên cứu có hệ thống, toàndiện và đầyđủ về các giải pháp thúc đẩydịchvụchuyển giao công nghệ cũng như tiếp tục hoàn thiện khung pháp luậtvề dịchvụchuyển giao công nghệở Việt Nam trong các chương tiếp theo.

Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT
VỀ DỊCH VỤ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
2.1. Khái niệm về dịch vụ chuyển giao công nghệ2.1.1. Khái niệm chuyển giao công nghệ
2.1.1.1. Thuật ngữ chuyển giao công nghệ
Chuyển giao công nghệ (CGCN) là chuyển giao quyềnsở hữuhoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền CGCN sang bên nhận công nghệ. Trong đó:
– Chuyển nhượng quyền sở hữu công nghệ (bên chuyển giaolà chủ sởhữu công nghệ), khi hợp đồng chuyển giao có hiệu lực pháp luật bên chuyển giao không còn là chủ sở hữu công nghệ;
– Chuyển quyềnsửdụng công nghệ (bên chuyển giao làchủsở hữu công nghệ/hoặc là bên có quyềnsửdụng công nghệ và được quyền tiếp tục chuyển giao), khihợpđồngchuyển giao có hiệu lực pháp luật bên chuyển giao vẫn còn là chủ sở hữu công nghệ, hoặc vẫn có quyền sử dụng công nghệvà được/không được quyền tiếp tục chuyển giao. [44]
Trong thực tế, việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghệ ít diễn ra hoặc nếucó diễn ra thìvề mặtpháp lý cũng ít phức tạp, từđâythuậtngữCGCN được hiểu là chuyển quyền sử dụng công nghệ.
Trên thị trường CGCN đang tồn tại các cụm từ “mua máy móc”, “mua
dây chuyền công nghệ”, “mua công nghệ”… Vậy bản chất của việc “mua máy móc” khác biệt gì với việc “mua dây chuyền công nghệ”, “mua công nghệ”?
Theo quy định tại Điều 428 Bộ Luật Dân sự 2015: Hợp đồng mua bán tàisảnlàsựthoả thuận giữa các bên, theođóbên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trảtiền cho bên bán. Bản chất của việc mua, bán trong trường hợp này là thay đổi
28
quyềnsởhữutừbên bán sang bên mua. Khi bên bán giao tàisảncho bên mua, thì bên bán không còn quyền sở hữu đối với tài sản nữa, nói cách khác khi đó tài sản không còn nằm trong tay bên bán.
Khi “mua máy móc”, ví dụ khi hợpđồngmua bán máy sản xuất bánh mềm cao cấp, có hiệu lực pháp luật thì bên bán không còn quyền sở hữu đối với máy dệt len nữa, lúc này quyền sở hữu máy dệt len thuộc về bên mua.
Khi hợp đồng mua – bán dây chuyền công nghệ, mua bán công nghệ cóhiệu lực pháp luật, thì mặc dù bên bán không còn quyềnsởhữucông nghệ, dây chuyền công nghệ nữa, nhưng công nghệ và bí quyết công nghệ trong “dây chuyền công nghệ” vẫn còn nằm trong tay bên bán.
Điều 480 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định: Hợp đồng thuê tài sản là sựthỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sửdụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê. Bản chất của việc thuê tài sản trong trường hợp này là chuyển quyền sử dụng tài sản.
Khi hợp đồng thuê tài sản có hiệu lực pháp luật, thì quyền sử dụng tài sảnthuộc vềbên thuê, chủsởhữukhông cònnắmtàisảntrong tay và tất nhiên không còn quyền sử dụng tài sản hoặc cho người khác sử dụng tài sản này nữa.
Việc “cho thuê” công nghệ lại có nhữngđiểm khác, khihợpđồng chuyển quyền sử dụng công nghệ có hiệu lực pháp luật thì bên chuyển quyền sử dụng vẫn có quyền sử dụng công nghệ và thậm chí vẫn có quyền cho phép chủ thể khác sử dụng công nghệ. Như vậy, bên sử dụng công nghệ có thể phải cạnh tranh với chính chủ sở hữu công nghệ và các bên khác khi được chủ sởhữu công nghệ cho phép sử dụng công nghệ.
Vìlẽđó, trong hoạtđộngCGCN, ngườita thường dùng thuậtngữ
“CGCN” mà tránh dùng thuậtngữ“mua–bán côngnghệ”. Theo ESCAP (1990), trongbảngốc tiếng Anhhướngdẫndùng thuậtngữ“transfer”, màkhông dùng thuậtngữ“purchase” hay“buy” trong hoạtđộngCGCN. Tham
29
khảo thêm: ESCAP (1990). Booklet 1. pp 5
Theo UNCTAD “CGCN là việc chuyển giao kiến thức có hệ thống đểsảnxuất rasảnphẩm, áp dụngmộtquy trình hoặc thực hiệnmộtdịchvụ”. Theođịnhnghĩa nàybảnchất CGCN là quá trình chuyển giao kiến thức để
sản xuất, áp dụng và thực hiện dịch vụ…[73]
Qua ba loại vấn đề được xem xét trên, trong một định nghĩa hợp lý vềCGCN cóthểsẽchỉcầnnhấn mạnhđếnhai ý:bảnchất của chuyển giao và mục đích của chuyển giao.
Trên khía cạnh pháp luật, Luật chuyển giao công nghệ (2006) quy định:
“CGCN là chuyển giao quyềnsởhữuhoặc quyềnsửdụngmộtphần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền CGCN sang bên nhận công nghệ”.
Như vậy, có thể thấy CGCN là quá trình đưa công nghệ từ môi trường này sang môi trường khác bằng các hình thức khác nhau để sản xuất ra hàng hóa, thực hiện dịch vụ hoặc cho các mục đích khác.
Theo định nghĩa trên đây, một số nội dung được phân tích sâu hơn nhưsau:
– Môi trường: cóthể từkhu vực nghiêncứuvà triển khai (R&D) sang khu vực sản xuất, từ các nước phát triển sang các nước đang/chậm phát triển, từ chủ sở hữu sang bên có nhu cầu, từ bên có quyền sử dụng công nghệ sang bên có nhu cầu
– Các hình thức chuyển giao có thể là Hợp đồng CGCN độc lập; Phần CGCN trongdựán hoặc hợpđồng:Dựánđầutư;Hợpđồngnhượng quyền thương mại;Hợpđồngchuyển giao quyềnsởhữucông nghiệp;Hợpđồng mua bán máy móc, thiết bị kèm theo CGCN;
– Sản xuất ra hàng hóa, như đã phân tích ở trên về thuật ngữ hàng hóa, trong mục này, hàng hóa phải được áp dụng công nghệ được chuyển giao.
2.1.1.2. Đối tượng và mục đích của chuyển giao công nghệ [73]
30
Trong CGCN, cónhững đặc điểm:đối tượngcủachuyển giao và mục đích của chuyển giao.
– Đối tượng của chuyển giao (chuyển giao cái gì?), có thể thấy:
+ Kiến thức (hoặc các hoạtđộngliên quanđếnkiến thức nhưđàotạo nhân lực cho bên tiếp nhận chuyển giao, kỹ năng..)
+ Thông tin;
+ Có thể kèm hoặc không kèm thiết bị;
+ …
Điều 7 Luật CGCN quy định đối tượng công nghệ được chuyển giao là mộtphần hoặc toànbộ:Bí quyết kỹ thuật; Kiến thức kỹ thuậtvềcông nghệđược chuyển giao dưới dạng phương án công nghệ, quy trình công nghệ, giải pháp kỹ thuật, công thức, thôngsốkỹ thuật, bảnvẽ, sơ đồkỹ thuật, chương trình máy tính, thông tin dữ liệu; Giải pháp hợp lý hoá sản xuất, đổi mới công nghệ. Đối tượng công nghệ được chuyển giao có thể gắn hoặc không gắn với đối tượng sở hữu công nghiệp.
– Mục đích của chuyển giao:
+ Để sản xuất, áp dụng quy trình và thực hiện dịch vụ; + Giải quyết vấn đề xã hội và thương mại;
2.1.2. Khái niệm dịch vụ chuyển giao công nghệ
Dịch vụ CGCN (Technology Transfer Services) là một thuật ngữ dùngđể chỉ các hoạt động liên quan đến môi giới CGCN, tư vấn CGCN, đánh giá công nghệ, định giá công nghệ, giám định công nghệ và xúc tiến CGCN.
Theo khoản 12 điều 3 Luật CGCN: Dịch vụ CGCNlà hoạt động hỗ trợquá trình tìm kiếm, giao kết và thực hiện hợp đồng CGCN.
Nội hàm khái niệm dịch vụ chuyển giao công nghệ được pháp
luật điều chỉnh và quy định như thế nào? Luật CGCN quy định tại Điều 45 như sau:
Điều 45. Các loại hình dịch vụ chuyển giao công nghệ
31
1. Môi giới chuyển giao công nghệ2. Tư vấn chuyển giao công nghệ
3. Đánh giá công nghệ
4. Thẩm định giá công nghệ5. Giám định công nghệ
6. Xúc tiến chuyển giao công nghệ
Môi giới chuyển giao công nghệ là hoạt động hỗ trợ bên có công nghệ, bên cần công nghệ trong việc tìm kiếm đối tác ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ.
Tư vấnchuyển giao công nghệ là hoạtđộng hỗ trợcác bên trong việc lựa chọn công nghệ,đàmphán, kýkếtvà thực hiệnhợpđồngchuyển giao công nghệ.
Xúc tiến chuyển giao công nghệ là hoạt động thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ hộichuyển giao công nghệ; cungứngdịchvụquảng cáo, trưng bày, giới thiệu công nghệ;tổchức chợ,hộichợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ. [73]
Đánh giá công nghệ là hoạtđộngxác địnhtrìnhđộ, giá trị, hiệuquảkinh tế và tác động kinh tế – xã hội, môi trường của công nghệ.
Thẩm định giá công nghệ là việc cơ quan, tổchức có chức năng thẩm định giá xác định giá trị bằng tiền của các loại công nghệ theo quyđịnhcủa pháp luật phùhợpvớigiá thịtrườngtạimộtđịa điểm, thờiđiểmnhất định, phục vụ cho mục đích chuyển giao công nghệ theo tiêu chuẩn thẩm định giá.
Giámđịnhcông nghệ là hoạtđộng kiểmtra, xác địnhcác chỉ tiêu của công nghệ đã được chuyển giao so với các chỉtiêu của công nghệ được quyđịnh trong hợp đồng chuyển giao công nghệ.
32
Nội dung của các loại hình dịch vụ chuyển giao công nghệđược trình bày chi tiết tại Mục 3.2 của Luận án, Thực trạng các quy địnhhiện hànhvềdịch vụ chuyển giao công nghệ
2.1.3. Đặc điểm và phân loại dịch vụ chuyển giao công nghệ2.1.3.1. Đặc điểm dịch vụ chuyển giao công nghệ
Theo Lưu Văn Nghiêm (2008), dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấpvớikhách hàng hoặc tàisảncủakhách hàng mà không cósựthayđổi quyền sở hữu. Sản phẩm của dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vịcủasảnxuấtvậtchất. Trên giácđộhàng hoá, dịchvụlàmộthàng hóa vôhình mang lại chuỗi giá trị thỏa mãn một nhu cầu nào đó của thị trường.
Từ đó, cóthể thấy dịch vụ CGCN là một hoạt động kinh tế tăng thêm giá trị vào hàng hóa công nghệ, trực tiếp vào hoạt động CGCN trong việc kết nối bên cung công nghệ và bên cầu công nghệ. [31]
Chất lượng dịch vụ nói chung được hiểu là mức độ hài lòng của khách hàng trong quá trìnhsửdụng dịch vụ. Cũng theo Lưu Văn Nghiêm (2008), chất lượng dịch vụ dựa trên 10 tiêu chí.
1. Dễ tiếp cận: bao gồm khả năng tiếp cận dễ dàng, thời gian chờ dịch vụ không quá lâu, thời gian hoạt động thuận tiện, vị trí thuận tiện cho phương tiện dịch vụ;
2. Độtin cậy: baogồmsựthực hiện thíchhợpvà có độ tin cậy. Thực hiện dịchvụđúng ngaylầnđầu, doanh nghiệp tôn trọng những thôngđiệp truyền thông của mình, đồng thời bảo đảm tính chắc chắn của kết quả, có căn cứ, thực hiện dịch vụ đúng kế hoạch;
3. Tínhsẵnsàng:bảođảm dịchvụkhi nào cũng cóđểthỏa mãn nhu cầu của khách hàng, bao gồm:
33
– Quy chế, thủ tục dịch vụ dễ dàng, thuận lợi. – Giao dịch dịch vụ nhanh chóng.
– Đáp ứng yêu cầu khách hàng trong mọi tình huống.
4. Năng lực: có kỹ năng và kiến thức cần thiết để thực hiện dịch vụ, bao gồm:
– Kiến thức và kỹ năng của nhân viên cung cấp. – Kiến thức và kỹ năng của nhân viên trợ giúp.
– Khả năng nghiên cứu, điều hành của tổ chức.
5. Cưxửlịchsự:tôn trọng, quan tâm, thân thiện của nhân viên cung cấp dịch vụ;.
– Quan tâm đến của cải, tài sản của khách hàng
6. Giao tiếp:hướngdẫncho khách hàng bằnglờinói ngắngọnđểhọhiểu và lắng nghe họ. Chúýđếnphong cách, tháiđộđốivớinhững khách hàng khác nhau, với các nội dung là:
– Giải thích dịch vụ
– Giải thích giá cả của dịchvụ
– Giải thích sự chuyển giao dịch vụ và chi phí.
– Bảo đảm với khách hàng các vấn đề sẽ được giải quyết.
7. Uy tín: bao gồm sự tin tưởng, trung thực làm cho khách hàng hài lòng
8. Sự an toàn: không bị nguy hiểm, không mạo hiểm, đảm bảo an toàn về vật chất, an toàn về tài chính, bí mật.
9. Tính hữu hình hoá: bao gồm những dấu hiệu vật chất của dịch vụ. 10. Sự hiểu biết khách hàng: Hiểu biết nhu cầu của khách hàng gồm Quanđiểm về chất lượng dịch vụ được thể hiện qua sơ đồ:
34
1. Tiếp cận 2. Giao tiếp 3. Tin cậy
Dịch vụ mong đợi
Nhu cầu cá nhân
truyền miệng
Thông tin
Tiêu chíđánh giáchất lượng dịch vụ
4.Sẵnsàng 5. Năng lực 6. Lịchsự
of the
contents
Description
7. Uy tín
8. An Toàn
9.Hữuhình 10. Hiểu biết
Dịch vụ nhận được
nghiệm quá
khứ
Kinh
Chấtlượng
dịchvụnhận
được
Hình 2.1: Tiêu chí chất lượng dịch vụ
Nguồn: Lưu Văn Nghiêm (2008) [31] Dựa trên quan niệm trên đây, về chất lượng của dịch vụ CGCN, cóthể
đánh giá thông qua các tiêu chí:
1. Mức độ dễ tiếp cận đối với tổ chứcmôi giới CGCN và các hình thức xúc tiến CGCN như cungứngdịchvụquảng cáo, trưng bày, giới thiệu công nghệ; tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ.
2. Độtincậycủa hoạtđộngđánh giá công nghệ, địnhgiá công nghệ, giám định công nghệ,đâylà tiêu chí rất quan trọng như đã phân tích trong các mục 2.3, 2.4, 2.5, bởi vì các hoạt động này đòi hỏi sự chính xác vì chúng cóliên quan đến các yếu tố pháp luật, môi trường.
3. Quy chế, thủ tục dịch vụ CGCN dễ dàng, thuận lợi, giao dịchdịch vụCGCN nhanh chóng, đápứngyêucầucủa bên cung công nghệ và bên cầu công nghệ khách hàng trong mọi tình huống.
4. Nănglựccủa nhân viên thực hiện dịchvụCGCNởtấtcảcác loại hình dịch vụ CGCN, bao gồm: môi giới CGCN, tư vấn CGCN, đánh giá công nghệ, định giá công nghệ, giám định công nghệ và xúc tiến CGCN;
5. Giá cảdịchvụCGCN phùhợpvớithịtrường, vớicông nghệđược chuyển giao, xét cho cùng giá dịch vụ CGCN là một yếu tố tác động đến giácủa công nghệ được chuyển giao, giá thành của sản phẩm áp dụng công nghệđược chuyển giao;
35
6. Sự an toàn: đây là tiêu chí cao nhất đánh giá chất lượng của dịch vụCGCN. Trước hếtđảmbảotính bímậtcủa công nghệđượcchuyển giao, trong trường hợp công nghệ được chuyển giao là sáng chế thì ngoài phần các thông tinvềsángchếđược bộc lộcông khai thìtổchức thực hiện dịchvụCGCN phảiđảmbảokhông tiếtlộbímậtvềbí quyết (know-how) của công nghệ, đối với các sáng chế dược phẩm còn phải đảm bảo bí mật về dữ liệu thửnghiệm, trong trường hợp công nghệ được chuyển giao không được cấp bằngđộc quyền sáng chế (patent) thì tổ chức thực hiện dịch vụ CGCN phải giữ bímật toàn bộ công nghệ.
2.1.3.2. Phân loại dịch vụ chuyển giao công nghệ
Phân loại theo quy định của pháp luật
Điều28 Luật chuyển giao công nghệ quy định dịch vụ CGCN bao gồm:
– Môi giới CGCN là hoạtđộng hỗ trợ bêncó công nghệ, bêncầncông nghệ trong việc tìm kiếm đối tác ký kết hợp đồng CGCN.
– TưvấnCGCN là hoạtđộnghỗtrợ các bên trong việc lựa chọn công nghệ, đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng CGCN.
– Đánh giá công nghệ là hoạt động xác định trình độ, giá trị, hiệu quả kinh tế và tác động kinh tế – xã hội, môi trường của công nghệ.
– Định giá công nghệ là hoạt động xác định giá của công nghệ.
– Giám định công nghệ là hoạt động kiểm tra, xác định các chỉ tiêu của công nghệ đã được chuyển giao so với các chỉtiêu của công nghệ được quyđịnh trong hợp đồng CGCN.
– Xúc tiến CGCN là hoạt động thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ hội CGCN; cung ứng dịch vụ quảng cáo, trưng bày, giới thiệu công nghệ; tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ.
Phân loại theo cấu trúc của dịch vụ chuyển giao công nghệ
Cũng như các dịchvụkhác, theo Nguyễn Văn Thanh (2007) cấutrúc
36
của dịch vụ CGCN có đặc điểm sau:
–Dịch vụcốt lõi (dịch vụ cơ bản): là hoạt động tạo ra giá trị thỏa mãn
lợiích cơ bản(chính) của ngườitiêu dùngđốivớidịchvụđó. Đóchính là mục tiêu tìm kiếm của người mua.
– Dịch vụ bao quanh: là những dịch vụ phụ hoặc các khâu của dịch vụđược hình thành nhằm mang lại giá trị phụ thêm cho khách hàng, dịch vụ bao quanh có thể nằm trong hệ thống của dịch vụ cơ bản và tăng thêm lợi ích cốt lõi hoặc có thể là những dịch vụ độc lập mang lại lợi ích phụ thêm.
– Dịchvụ sơ đẳng: bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ bao quanh của doanh nghiệp phải đạt tới một mức độ nào đó và tương ứng người tiêu dùng nhậnđược mộtchuỗi giá trịxác địnhnàođóphùhợpvớichi phí mà khách hàngđã thanh toán. dịchvụsơ đẳnggắnliềnvớicấutrúc dịch vụ, vớicác mức và quy chế dịch vụ của những nhà cung cấp.
– Dịch vụ tổng thể: là hệ thống dịch vụ bao gồm dịch vụ cơ bản, dịch vụbao quanh, dịch vụ sơ đẳng, dịch vụ tổng thể thường khôngổn định, nó phụthuộc vào các thành phần dịchvụhợpthành. Doanh nghiệp cungứngcho khách hàng dịch vụ tổng thể khi tiêu dùng nó, dịchvụ tổngthểthayđổi, lợi ích cũng thay đổi theo.
Quy mô cung ứng dịch vụ không những chi phối đến năng suất mà còn chi phối tới hiệu quả kinh doanh của dịch vụ đó. Nhìn chung quy mô cung ứnglớn, hệthống cung ứng hoạt động liên tục thì năng suất và hiệu quả kinh doanh sẽ cao.
Thực tế kinh doanh dịch vụ đã xác nhận rằng chỉ ở những doanh nghiệp quy mô lớn mới có điều kiện thực hiện chuyên môn hóa phân công lao động theo những ngành hẹp, cho phép đạt năng suất cao, chi phí thấp. Song thực tếrất khó có thể thỏa mãn những điều kiện đó. Bởi quy mô cung ứng dịch vụ vàtính liên tục của nó đều do nhu cầu về dịch vụ của thị trường chi phối.[44]
Phân loại theo hình thức thể hiện của dịch vụ chuyển giao công nghệ
Công viên công nghệ
37
Các nhà khoa học đã có những quan niệm khác nhau khi nghiên cứu cơ sở lý luận về sự hình thành, tổ chức và hoạt động của công viên công nghệ.
Castells và Hall (1994) đã xác định ba nguyên nhân cho việc thiết lập công viên công nghệ, đólà tái công nghiệp hóa (reindustrialization), phát triển khu vực và sức mạnh tổng hợp sáng tạo, đồng thời cũng cho rằng, công viên công nghệ được nhìn nhận như là nơi thích hợp cho sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\DỊCH VỤ CHUYÊN GIAO CÔNG NGHỆ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Dịch vụ chuyển giao công nghệ theo pháp luật Việt Nam hiện nay Dịch vụ chuyển giao công nghệ theo pháp luật Việt Nam hiện nay Dịch vụ chuyển giao công nghệ theo pháp luật Việt Nam hiện nay

