Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam

Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam

Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt, chúng ta đang nỗ lực xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Muốn xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền XHCN thì bên cạnh việc xây dựng, ban hành một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, điều quan trọng hơn là phải đưa pháp luật vào thực tế xã hội để mọi thành viên trong xã hội, trong đó có đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS), hiểu được những nguyên tắc, quy định pháp luật; từ đó, sửdụng pháp luật như một công cụ để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể, cộng đồng và của mỗi người dân. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam luôn luôn đặt pháp luật ở vị trí thượng tôn, yêu cầu mọi công dân phải sống, làm việc theo pháp luật; đòi hỏi phải đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) cho các tầng lớp nhân dân nhằm trang bị cho họ những kiến thức, hiểu biết nhất định vềpháp luật.

Đồng bào dân tộc (ĐBDT) Khmer là một bộ phận cấu thành hữu cơ của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, cư trú tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằngsông Cửu Long (ĐBSCL), trải rộng trên phạm vi cả 13 tỉnh thuộc khu vực này. ĐBSCL nằm ở cực Nam của Tổ quốc, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về mặt địa chính trị và an ninh quốc phòng của đất nước: phía Đông Bắc giáp Thànhphố HồChí Minh, phía Đông và phía Nam giáp Biển Đông, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây giáp biển Đông và vịnh Thái Lan. Dân tộc Khmer là một trong số những dân tộc có dân số tương đối đông, có truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc với sự phong phú về phong tục, tập quán, lối sống, tôn giáo và lễ nghi. Trong những năm qua, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, ĐBDT Khmer đã và đang có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp xây dựng kinh tế – xã hội, phát triển đất nước nói chung, vùng ĐBSCL nói riêng. Tuy nhiên, trình độ dân trí nói chung, trình độkiến thức, hiểu biết pháp luật nói riêng của ĐBDT Khmer còn tương đối thấp. Thiếu kiến thức, hiểu biết pháp luật khiến cho ĐBDT Khmer gặp nhiều khó khăn trong việc bảo vệ quyền con người, thực hành và phát huy các quyền dân chủ, trong tiếp cận các chương trình mục tiêu, chính sách pháp luật dành cho đồng bào DTTS,

2

trong sử dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của đồngbào. Tình trạng đó đã và đang là lực cản đối với ĐBDT Khmer trong hội nhập và phát triển kinh tế – xã hội.

Bên cạnh đó, ở các vùng có đông ĐBDT Khmer thuộc khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia, các thế lực thù địch vẫn có những âm mưu thâm độc, chống phá cách mạng nước ta bằngchiến lược “diễn biến hòa bình”, bằng chiêu bài “dân chủ – nhân quyền”, lợi dụngtình trạng trình độhiểu biết pháp luật của ĐBDT Khmer cònthấp đểtuyên truyền, kích động, tạo những nguyên cớ làm mất ổn địnhtình hình an ninh, chính trị, kinh tế, xã hội, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mâu thuẫn giữa các tôn giáo… Hệ quả là vẫn còn hiện tượng một sốngười dân Khmer lén lút qua lại khu vực biên giới và bị các thế lực thù địch lợi dụng; từ đó, đe dọa độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam. Thực tế đó đòi hỏi phải đẩy mạnhgiáo dục pháp luật (GDPL) cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL.

GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL là một biện pháp hữu hiệu nhằm trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật, làm hình thành lối sống và làm việc theo pháp luật cho ĐBDT Khmer; giúp đồngbào hiểu rõ về các quyền con người, quyền công dân, về ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia…; góp phần bảo đảm nâng cao hiệu quả công tác quản lý xã hội bằng pháp luật trong vùng. Tuy nhiên, công tác GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL trong những năm qua còn bộc lộ những hạn chế, bất cập trên nhiều mặt, từ việc xác định mục tiêu GDPL, xây dựng đội ngũ báo cáo viên (BCV), tuyên truyền viên (TTV) pháp luật, lựa chọn nội dung, phương pháp cho đến hình thức GDPL cho đối tượngnày. Công tác GDPL cho ĐBDT Khmer ở ĐBSCL tuy đã được chútrọng, nhưngchưa được đặt ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ quản lý xã hội bằng pháp luật, chưa được tiến hành thường xuyên; còn thiếu trọng tâm, trọng điểm, thiếu sự gắn kết nhịp nhàng, phối hợp đồng bộ, hiệu quả giữa các cơ quan, tổ chức, giữa các cấp, các ngành có liên quan ở vùng ĐBSCL. Do vậy, chất lượng, hiệu quả của công tác này chưa đáp ứngyêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới – thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Tình hình nêu trên đòi hỏi Nhà nước, các cơ quan hữu quan ở khu vực ĐBSCL phải tăng cường hơn nữa công tác GDPL cho ĐBDT Khmer trên địa bàn,

3

trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật để giúp đồng bào nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, biết sử dụng pháp luật như là một phương tiện quan trọng để giải quyết những sự kiện, công việc có liên quan đến pháp luật, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của bản thân, gia đình và cộng đồng. Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 14/2012/QH13 đã quy định về PBGDPL cho nhân dân ở vùng DTTS, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, hải đảo… [62, Đ. 17]. Điều đó nói lên sự quan tâm thiết thực của Đảng, Nhà nước ta đối với đồngbào DTTS, trong đó có ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL. Vấn đề quan trọng hơn đang được đặt ra là làm thế nào, cần có những giải pháp gìđểđưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về GDPL cho đồng bào DTTS, trong đó có ĐBDT Khmer, đi vào thực tiễn cuộc sống, nâng cao hiểu biết pháp luật cho đồngbào.

Từ cách đặt vấn đềở trên, tác giả đưa ra một số giả thiết nghiên cứu sau đây: i) Giữa chất lượng, hiệu quả công tác GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL và ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật, khả năng sử dụng pháp luật để tiếp cận, bảo vệcác quyền con người, quyền công dân, nâng cao chất lượng cuộc sống của ĐBDT Khmer có mối liên hệ nhân quả tất yếu với nhau; do đó: ii) Nếu thực hiện tốt GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL thì ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật của họsẽ nghiêm chỉnh hơn, hạn chế được tình trạng vi phạm pháp luật và phạm tội xảy ra trong cộng đồng; giúp ĐBDT Khmer có khả năng tốt hơn trong việc sử dụng pháp luật đểtiếp cận, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nâng cao chất lượng cuộc sống; đồng thời, iii) Thực hiện tốt GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam, bảo đảm an ninh, quốc phòng, phát triển bền vững kinh tế – xã hội trên địa bàn.

Như vậy, việc GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL đang là một yêu cầu khách quan, có tầm quan trọng và mang tính cấp thiết trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng ĐBSCL, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay. Đó cũng là lý dotác giả chọn vấn đề “Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam” làm đềtài luận án tiến sĩ luật học, chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Mục đích của luận án: Trên cơ sở phân tích lý luận, thực tiễn GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL, Việt Nam; luận án đề xuất quan điểm, giải pháp bảo đảm GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL, Việt Nam hiện nay.

Đểhoàn thành mục đích đặt ra, luận án phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, phân tích cơ sở lý luận của hoạt động GDPL cho ĐBDT Khmer ởvùng ĐBSCL, bao gồm: khái niệm, đặc trưng, vai trò, mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp và hình thức GDPL cho ĐBDT Khmer; những yếu tố ảnh hưởng tới công tác GDPL cho nhóm đối tượng này.

Thứ hai, khảo sát, đánh giá đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội ở vùng ĐBSCL có ảnh hưởng đến công tác GDPL cho ĐBDT Khmer; thực trạng công tác GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL trong những năm qua trên phương diện những thành tựu, kết quảđạt được cũngnhư các tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng đó; từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm phục vụcho việc đềxuất, xây dựng các giải pháp bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quảcủa công tác này.

Thứ ba, trên cơ sở các quan điểm có tínhchất chỉ đạo, đềxuất, luận giải tính khả thi của một số giải pháp bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn tiếp theo.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án

– Đối tượngnghiên cứu của luận án: Luận án nghiên cứu về GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL, Việt Nam dưới góc độLý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật. Đây là đềtài có đối tượngnghiên cứu tương đối rộng; song luận án chỉ nghiên cứu GDPL cho đối tượng là người dân thuộc dân tộc Khmer ởvùng ĐBSCL, không nghiên cứu GDPL cho đối tượngcán bộ, công chức người dân tộc Khmer.

– Phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn theo không gian, thời gian và tính chất nghiên cứu. Theo không gian, phạm vi khảo sát thực tiễn vấn đề nghiên cứu của luận án chỉ giới hạn 13 tỉnh thuộc vùng ĐBSCL, Việt Nam. Theo thời gian, khảo sát GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL trong thời gian từ năm 2008 đến nay. Về tính chất nghiên cứu, luận án tập trung nghiên cứu sâu về nghiệp vụ GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án được triển khai nghiên cứu dựa trên phương pháp luận Triết học Mác – Lênin, bao gồm các quan điểm về lý luận nhận thức; dựa trên tư tưởng HồChí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, về vai trò của GDPL cho các đối tượngxã hội; chính sách, pháp luật của Nhà nước về GDPL nói chung, GDPL cho đồngbào DTTS nói riêng. Bên cạnh đó, tác giả cũng tham khảo các quan điểm, kết quảnghiên cứu về GDPL cho các đối tượngxã hội của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan tới các nội dung của luận án.

Đểhoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử và lôgíc, phương pháp thống kê, so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa… để nghiên cứu các vấn đề lý luận; sử dụngphương pháp điều tra xã hội học (XHH) để thu thập các thông tin, số liệu thực tế phục vụ việc đánh giá thực trạng, nguyên nhân của vấn đềnghiên cứu và luận chứng các giải pháp mà luận án nêu ra. Cụ thể:

– Sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử và lôgíc đểnghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đềtài luận án; khái quát những vấn đề lý luận, thực tiễn đã được nghiên cứu ở trong nước và ở nước ngoài có liên quan đến đềtài luận án; từ đó, nhấn mạnh những vấn đềđặt ra mà luận án cần tiếp tục nghiên cứu (chương 1).

– Sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống hóa, khái quát hóa, phương pháp so sánh đểnghiên cứu cơ sở lý luận về GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL; tìm hiểu công tác GDPL tại một số nước trên thếgiới nhằm rút ra bài học kinh nghiệm đối với GDPL cho ĐBDT Khmer (chương 2).

– Sử dụng phương pháp điều tra XHH và các phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp lịch sử và lôgíc đểkhảo sát, đánh giá thực trạng GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL giai đoạn 2008 – 2014 (chương 3).

– Sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử và lôgíc, hệ thống hóa, khái quát hóa đểđềxuất các quan điểm chỉ đạo, luận chứng tínhkhảthi của các giải pháp đảm bảo nâng cao hiệu quả GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL, Việt Nam (chương 4).

5. Những đóng góp khoa học mới của luận án

Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu tương đối toàn diện, có hệ thống về GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL hiện nay; bởi vậy, luận án có một số đónggóp khoa học mới sau đây:

– Luận án luận giải, đưa ra khái niệm, chỉ ra được các đặc trưng của GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL, Việt Nam; xác định và làm rõ được các yếu tốcấu thành GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL, gồm mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp và hình thức GDPL; đồng thời, luận án cũng chỉ ra được các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL.

– Từ việc khảo cứu GDPL cho người dân tại một số nước trên thế giới, luận án đã rút ra được các bài học kinh nghiệm có thể vận dụng cho Việt Nam.

– Dựa trên kết quả điều tra XHH và các nguồn tài liệu có sẵn, luận án đã phân tích, đánh giá, chỉ ra được kết quả, hạn chế, nguyên nhân của những két quảvà hạn chế trong GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL.

– Luận án đưa ra xuất được các quan điểm và đề xuất hệ thống các giải pháp toàn diện bảo đảm GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án đề cập và phân tích một trongnhững vấn đềcó tầm quan trọng và mang tính cấp thiết nhưng chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống – vấn đềGDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL, Việt Nam. Kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn đạt được của luận án góp phần làm phong phú thêm lý luận vềGDPL cho một đối tượngxã hội cụ thể; đồngthời, bổ sung thêm nhữngluận cứkhoa học và thực tiễn cho việc xây dựng, hoàn thiện lý luận về GDPL cho đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung, ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL nói riêng.

Luận án là tài liệu khoa học có giá trị để các cơ quan hữu quan của các tỉnh thuộc vùng ĐBSCL (Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, các huyện, thành phố, thịxã, các xã, phường, thị trấn thuộc các tỉnh; Hội đồngphối hợp (HĐPH) công tác PBGDPL các cấp) sử dụng phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, triển khai các giải pháp cụ thể nhằm tiếp tục đẩy mạnh GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình nghiên cứu của tácgiảđã công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu thành 4 chương, 12 tiết.

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ

NHỮNG VẤN ĐỀĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC

1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến giáo dục pháp luật nói chung

10

1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu về giáo dục pháp luật cho các nhóm đối tượng cụ thể

14

1.1.3. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam

1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

1.2.1. Các công trình nghiên cứu về giáo dục pháp luật nói chung

1.2.2. Các công trình nghiên cứu về giáo dục pháp luật cho các đối tượng cụ thể

1.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐỀ TÀI VÀNHỮNG VẤN ĐỀĐẶT RA CẦN ĐƯỢC TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.3.1. Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Từ kết quả khảo cứu công trình nghiên cứu của các tác giả, nhà khoa học ởtrong nước và ngoài nước có liên quan đến chủ đề GDPL, có thể rút ra một số nhận xét, đánh giá có giá trị tham khảo cho đề tài luận án như sau:

Thứ nhất, trên phương diện lý luận, những cuốn giáo trình, sách chuyên khảo, bài báo khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về GDPL từ các góc độluật học, giáo dục học, xã hội học… đã làm rõ nhiều luận điểm, luận cứ khoa học và thực tiễn về GDPL, vận dụng khá sáng tạo lý luận về GDPL đểluận giải, nhận xét, đánh giá về GDPL trên từng lĩnh vực, địa bàn và gắn với các nhóm đối tượngxã hội cụ thể, cụ thể là:

– Những cuốn sách, đề tài, công trìnhnghiên cứu ở mức độnhất định đã đềcập đến việc xây dựng ý thức pháp luật và lối sống theo pháp luật của con người Việt Nam; đến các thành tố của GDPL, như mục đích, mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp và hình thức GDPL… Đồng thời, đã đề cập, nghiên cứu vai trò, đặc điểm GDPL cho một số đối tượng cụ thể.

– Các công trình nghiên cứu về ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL là những tài liệu hữu ích đối với đềtài luận án khi đánh giá ảnh hưởng của những phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, lễ nghi, các giá trị văn hóa Khmer đối với hoạt động GDPL cho ĐBDT Khmer. Tuy nhiên, các công trình khoa học đó không đề cập đến vấn đềGDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL.

– Những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, kết quả của các cuộc Hội thảo quốc tế đã chỉ ra nhiều vấn đề quan trọng về lý luận GDPL nói chung, về GDPL cho những đối tượng cụ thể, trong đó có người DTTS nói riêng. Đó là những tài liệu tham khảo quan trọng giúp tác giả luận án nghiên cứu các vấn đề lý luận về GDPL, về các thành tố của GDPL; tìm kiếm những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ của các nghiên cứu sinh, học viên nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào học tập tại Việt Nam cũng là nguồn tài liệu tham khảo giúp tác giả luận án đánh giá đặc thù của GDPL cho các đối tượng cụ thể, trong đó có đồng bào các DTTS ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào – quốc gia gần gũi về mặt địa lý và có mối quan hệ truyền thống tốt đẹp với đất nước Việt Nam chúng ta.

Như vậy, nhìn từ những công trình nghiên cứu về GDPL nói chung, GDPL cho các nhóm đối tượng xã hội nói riêng, có thể thấy, đó đều là những tài liệu tham khảo có giá trị về mặt lý luận cho đềtài luận án của tácgiả. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn đề GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL; để lại “khoảngtrống” trên diễn đàn khoa học Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật mà tác giả mong muốn đi sâu nghiên cứu.

Thứ hai, trên phương diện thực tiễn, một số án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ ở mức độkhác nhau đã nghiên cứu, đánh giá thực trạng GDPL cho các đối tượng ở những địa bàn cụ thể, chỉ ra được những ưu điểm cũng như hạn chế, bất cập của công tác này, nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó, các nhân tố tác động đến GDPL. Từ đó, các tác giả đã nêu lên được những phương hướng, quan điểm và các giải pháp chủyếu bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả GDPL chocác đối tượngxã hội. Mặc dù vậy, chưa có công trình nào khảo sát thực tiễn một cách toàn diện GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSL.

1.3.2. Những vấn đề đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu

Từ sự tổngquan tình hình nghiên cứu nêu trên, tác giả xác định được những vấn đềđặt ra cần được tiếp tục triển khai, đi sâu nghiên cứu, làm rõ trong quá trình thực hiện đềtài luận án “Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam”, gồm:

– Về lý luận:

+ Phân tích khái niệm GDPL cho ĐBDT Khmer; làm rõ đặc trưng, vai trò của GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL, Việt Nam;

+ Luận giải các thành tố của GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL, gồm mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp và hình thức GDPL phù hợp với đặc điểm của ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL, Việt Nam;

+ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL, bao gồm các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan;

+ Tìm hiểu GDPL cho các cộng đồng DTTS tại một số nước trên thế giới; từđó, rút ra những bài học kinh nghiệm có ý nghĩa tham khảo đối với GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL, Việt Nam.

– Về thực tiễn:

+ Đánh giá thực trạng GDPL cho ĐBDT Khmer vùng ĐBSCL, chỉ ra kết quả, hạn chế, phân tích nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó dựa trên kết quả điều tra XHH;

+ Rút ra những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn GDPL cho ĐBDT Khmer ởvùng ĐBSCL, Việt Nam;

– Về quan điểm, giải pháp:

+ Đềxuất, phân tích các quan điểm bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quảgiáo dục pháp luật cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL, Việt Nam;

+ Đềxuất, phân tích các giải pháp đồng bộ, toàn diện, khả thi nhằm bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL.

Tiểu kết chương 1

Sự tổngquan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy chủđềGDPL là một nội dung quan trọng của Luật học, được nhiều tác giả, nhà khoa học nước ngoài quan tâm nghiên cứu. Trên bình diện nghiên cứu lý luận về GDPL, nhiều cuốn giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, các luận án tiến sĩ luật học đã tập trung nghiên cứu, phân tích khái niệm, vai trò của GDPL, các yếu tố cấu thành GDPL, như chủthể, đối tượng, nội dung, phương pháp, hình thức GDPL… Trên bình diện nghiên cứu ứng dụng thực tiễn cũng đã có các công trình luận án, luận văn đi vào nghiên cứu công tác GDPL chonhững đối tượngxã hội cụ thể, như CBCC nhà nước, đồng bào các DTTS… Một điều có thể khẳng định chắc chắn là chưa có công trình nào nghiên cứu về GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL, Việt Nam từ phía các tác giả nước ngoài.

Sự tổngquan tình hình nghiên cứu trong nước cho thấy, vấn đềGDPL nói chung, GDPL cho từng nhóm đối tượngxã hội cụ thể và gắn với những địa bàn nhất địnhnói riêng đã được nhiều tácgiảđề cập, phân tích tương đối đa dạng,

 

Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam
Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Việt Namtriển và Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn

phong phú trên cả phương diện lý luận và thực tiễn; thể hiện trongcác đềtài khoa học, sách chuyên khảo, tham khảo, bài báo đăng trên các tạp chí khoa học và cũng là đềtài của nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ luật học. Cũng đã có một vài công trình luận văn thạc sĩ luật học đi vào nghiên cứu về vấn đề GDPL cho người Khmer ở Nam Bộ, song, được thực hiện từ thời điểm trước năm 1998 hoặc sự nghiên cứu mới chỉ khu biệt ở một địa phương cụ thể trong vùng chứ chưa mở rộng ra toàn vùng ĐBSCL, Việt Nam.

Tuy nhiên, từ thời điểm năm 1998 (năm đánh dấu sự quan tâm mạnh mẽ và sự chỉ đạo sâu sát của Nhà nước ta đối với công tác PBGDPL) đến nay chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào đi vào phân tích, đánh giá, luận giải một cách toàn diện, có hệ thống vấn đề GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL, Việt Nam. Vẫn cònnhiều vấn đềđặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu, làm rõ cả trên phương diện lý luận, thực tiễn và tìm kiếm các giải pháp bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác này. Đó cũng là lý do tác giả chọn vấn đề“Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam”làm đềtài luận án tiến sĩ.

24

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER

2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG, VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER

2.1.1. Khái niệm giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer

Giáo dục pháp luật là quá trình hoạt độngcó mục đích, có tổ chức, có kếhoạch, theo nội dung và thông qua những phương pháp, hình thức nhất định từ phía chủ thể GDPL, tác động đến đối tượngtiếp nhận GDPL nhằm làm hình thành và phát triển ở họ hệ thống tri thức pháp luật, trình độ hiểu biết về pháp luật; làm hình thành tình cảm, thói quen và hành vi xử sự tích cực theo pháp luật [70, tr.54]. GGDPL là lĩnh vực hoạt động bao gồm tất cả các giai đoạn như định hướng GDPL, xây dựng chương trình, kế hoạch, xác định nội dung GDPL, phương pháp và hình thức GDPL; triển khai thực hiện chương trình GDPL; kiểm tra, đánh giá kết quảGDPL; sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm về GDPL…

Giáo dục pháp luật cho ĐBDT Khmer trong giai đoạn hiện nay là một trong những yêu cầu có tính khách quan, cấp thiết, là một loại hoạt động có ý nghĩa xã hội đặc biệt quan trọng, hướng tới cung cấp, trang bị cho đồng bào những kiến thức, hiểu biết nhất định về pháp luật; từ đó, làm hình thành ở họ ý thức tôn trọng pháp luật, biết tuân thủ, chấp hành, sử dụng pháp luật một cách chủ động, tích cực và đúng đắn; góp phần phát huy vai trò, hiệu lực của pháp luật nói chung, văn bản pháp quy của các cấp chính quyền nói riêng trong thực tiễn đời sống kinh tế – xã hội của ĐBDT Khmer; đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Đểcó thể đưa ra khái niệm GDPL cho ĐBDT Khmer thì nhất thiết phải đềcập đến các khía cạnh sau:

Thứ nhất, GDPL là hoạt động thể hiện sự tương tác giữa chủ thể GDPL và đối tượngGDPL. Theo nguyên tắc đó, GDPL cho ĐBDT Khmer cũng là hoạt động được thực hiện thông qua sự tác độngqua lại giữa chủ thể và đối tượng. Chủ thểGDPL ởđây chính là các cơ quan, ban, ngành, tổ chức, đoàn thể của các tỉnh ởĐBSCL có chức năng, nhiệm vụ thực hiện GDPL, như Sở Tư pháp các tỉnh, Phòng Tư pháp các huyện, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam các tỉnh trong vùng và

25

các tổ chức thành viên… Đối tượng tiếp nhận GDPL ở đây chính là ĐBDT Khmer đang sinh sống ở vùng ĐBSCL.

Thứ hai, GDPL cho ĐBDT Khmer là hoạt động có định hướng, có mục đích, bao hàm những tác động tự giác, tích cực, tuân theo kế hoạch đã được xác định của chủ thể GDPL lên đối tượng GDPL là ĐBDT Khmer tương ứng với các nội dung cụ thể. Tính có định hướng, có mục đích trong hoạt động của chủ thể GDPL mang tính khách quan, phản ánh những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống về kiến thức, hiểu biết pháp luật của ĐBDT Khmer, được chủ thể GDPL truyền đạt, chuyển hóa nó thành nhu cầu tự thân của đối tượng là ĐBDT Khmer. Quá trình GDPL cho ĐBDT Khmer chỉ thực sự đạt được mục tiêu, hiệu quả đề ra khi đồng bào thực sựtự giác, tích cực biến những yêu cầu pháp luật khách quan thành nhu cầu nội tại của bản thân mỗi người dân trong cộng đồng dân tộc Khmer.

Thứ ba, quá trình GDPL cho ĐBDT Khmer luôn tuân theo nội dung, chương trình PBGDPL cụ thể, dựa trên các phương pháp GDPL khoa học, hiện đại và các hình thức GDPL phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế, văn hóa, lối sống của ĐBDT Khmer nhằm hiện thực hóa một cách tối ưu mục tiêu GDPL cho họ. GDPL cho ĐBDT Khmer mang những đặc điểm chung của quá trình GDPL cho các đối tượngxã hội khác, như cũng có kế hoạch, nội dung, phương pháp, hình thức GDPL; song, chúng phải được đặt trong sự phù hợp, tương thích với các yêu cầu về kiến thức, hiểu biết pháp luật và những đòi hỏi về giải quyết các vấn đề, sự kiện, hiện tượng pháp lý xảy ra trong cuộc sống, lao động, sinh hoạt hàng ngày của ĐBDT Khmer;

Ngoài ra, hoạt độngGDPL cho ĐBDT Khmer cũng phải phù hợp với các đặc điểm văn hóa, lối sống, phong tục tập quán, truyền thống tôn giáo, tín ngưỡng của đồngbào. Điều đó đòi hỏi các chủ thể GDPL phải tìm ra được cách tiếp cận hoạt độngGDPL phù hợp với ĐBDT Khmer trên tất cả các phương diện, từ nội dung, phương pháp cho đến hình thức GDPL cho họ.

Thứ tư, trong nội dung GDPL cho ĐBDT Khmer, ngoài việc cung cấp, trang bị những kiến thức, hiểu biết pháp luật cần thiết như cho mọi công dân nói chung, các chủ thể GDPL còn phải rất chú trọng trang bị cho ĐBDT Khmer những kiến thức, hiểu biết về các lĩnh vực pháp luật có liên quan mật thiết với cuộc sống, lao động của họ, các văn bản pháp quy do các cấp chính quyền địa phương ban hành...

26

Ngoài ra, nội dung GDPL phải thật cụ thể, rõ ràng; phương pháp phải truyền đạt dễhiểu, dễ nhớ; hình thức GDPL phải hấp dẫn, sinh động, phù hợp với truyền thống văn hóa, tôn giáo, tập quán lao động, sinh hoạt, học vấn của ĐBDT Khmer. Đây là sự khác biệt cơ bản giữa GDPL cho ĐBDT Khmer so với GDPL cho các đối tượng xã hội khác.

Thứ năm, GDPL cho ĐBDT Khmer, suy cho cùng, phải đạt được mục tiêu, hiệu quả mà chủ thể GDPL đặt ra và cũng là những tiêu chí để đánh giá chất lượng công tác này. Mục tiêu, hiệu quả của GDPL cho ĐBDT Khmer phải được đánh giá qua việc ĐBDT Khmer đạt được những mục tiêu cụ thể gì từ quá trình này. Mục tiêu của GDPL cho ĐBDT Khmer được nhìnnhận trên ba tiêu chí: mục tiêu vềnhận thức, mục tiêu về thái độ và mục tiêu về hành vi.

Từ sự phân tích các khía cạnh nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa: GDPL cho ĐBDT Khmer là hoạt động có định hướng, có tổ chức, do các chủ thể GDPL tiến hành theo chương trình, nội dung, phương pháp và hình thức nhất định phù hợp với truyền thống văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, tập quán sản xuất, sinh hoạt của đồng bào; làm hình thành ở họ ý thức pháp luật, tình cảm pháp luật và hành vi phù hợp với các yêu cầu của pháp luật hiện hành; góp phần xây dựng, củng cố ý thức vềquyền con người, quyền công dân của ĐBDT Khmer để họ có thể tiếp cận, bảo vệcác quyền đó một cách hiệu quả.

2.1.2. Các đặc trưng của giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long

Giáo dục pháp luật cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL là một bộ phận của GDPL nói chung, nghĩa là nó cũng phải tuân theo các quy luật chung của quá trình GDPL cho các đối tượngxã hội khác, phải đáp ứngcác yêu cầu về mục tiêu, chủthể, đối tượng, nội dung, phương pháp và hình thức GDPL. Bên cạnh đó, GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL còn có những nét đặc trưng riêng xuất phát từcác đặc điểm về trình độdân trí, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống của ĐBDT Khmer; từ những đặc thù về địa bàn cư trú, cơ cấu các nhóm tuổi, vị thế xã hội của mỗi nhóm xã hội cụ thể trong cộng đồng dân tộc Khmer. Theo tinh thần đó, GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL có những đặc trưng cơ bản sau:

27

Thứ nhất, giáo dục pháp luật cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL là GDPL cho một cộng đồng xã hội có cơ cấu lứa tuổi khác nhau, bao gồm nhóm thiếu niên, thanh niên, trung niên và cao niên. Nhóm người lớn (trung niên và cao niên) có nhiều đặc điểm về tâm lý, nhân cách, học vấn, hiểu biết xã hội, quan hệ xã hội, lối sống, kinh nghiệm thực tế, công việc… khác biệt so với nhóm thanh thiếu niên (học sinh phổ thông). Sự “chín chắn” ở nhóm người lớn nhiều khi lại gây bất lợi đối với hiệu quả GDPL cho chính nhóm lứa tuổi này. Nếu như nhóm học sinh phổ thông chỉ có mỗi nhiệm vụ chủ yếu là học, có khả năng tập trung cao, có thể tiếp thu kiến thức, hiểu bài nhanh và có trí nhớ tốt, dẫn đến kết quả học tập, tiếp thu kiến thức pháp luật cao hơn; thì nhóm đối tượngngười lớn lại khó có thể tập trung vào việc tiếp nhận nội dung pháp luật khi tham dự GDPL do họ thường bị phân tâm bởi nhiều yếu tố ngoại cảnh, như công chuyện gia đình, lao động sản xuất, quan hệ xã hội…; trí nhở đã bị giảm sút, sự chủ quan, bệnh lười biếng.v.v. Mặt khác, vì thói quen của đối tượngngười lớn thường cho rằng mình đã biết nội dung GDPL rồi, nên thái độ của họ đối với GDPL là “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”, trong khi thực tếkhông hẳn là họ đã biết đúng, biết đủcác quy địnhpháp luật liên quan đến cuộc sống, lao độnghàng ngày. Với vị thế và tâm thế đó, họ tham dự các hoạt động GDPL một cách miễn cưỡng, đối phó, thường viện cớ bận công việc gia đình, làm ăn… đểthoái thác tham dự GDPL. Kết quả là, chất lượng GDPL cho nhóm đối tượngngười lớn trong ĐBDT Khmer có thể không được như mong muốn của các nhà GDPL. Các chủ thể GDPL cho ĐBDT Khmer cần phải thấu hiểu đặc trưng này trong quá trình GDPL cho nhóm đối tượngngười lớn đểcó sự phân loại đối tượng phù hợp trước khi tiến hành GDPL cho họ.

Thứ hai, giáo dục pháp luật cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL hướng tới cung cấp, trang bị cho đồng bào những thông tin, kiến thức về những lĩnh vực pháp luật thiết yếu, gần gũi và phù hợp với mục tiêu, nhu cầu giải quyết những vấn đềpháp lý nảy sinh trong cuộc sống của họ. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, luôn đặt pháp luật ở vị trí thượng tôn nên với tư cách là những công dân, ĐBDT Khmer rất cần đến thông tin, kiến thức pháp luật để có thể “sống, làm việc theo pháp luật”. Thông tin, kiến thức pháp luật cần cho ĐBDT Khmer không chỉ bao gồm các bộ luật, luật, pháp lệnh, nghị định, các loại văn bản QPPL khác do Nhà nước ban hành; các văn bản pháp quy của chính quyền địa

28

phương, như nghị quyết của HĐND các cấp, các quyết định của UBND các cấp, các chương trình, kế hoạch của các sở, ban, ngành; mà còn bao gồm cả thực tiễn đời sống pháp luật trên địa bàn các tỉnh trong vùng ĐBSCL. Ngoài ra, cần trang bị cho ĐBDT Khmer những kỹ năng cần thiết để họ có thể vận dụngpháp luật vào việc giải quyết các sự kiện, vấn đề pháp luật xảy ra trong thực tế cuộc sống.

Thứ ba, hoạt động GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL được thực hiện thông qua các phương pháp GDPL có tính đặc thù, phù hợp. Về nguyên tắc, chủ thểGDPL phải căn cứ vào mục tiêu, nội dung và đối tượng của GDPL để lựa chọn và sử dụngphương pháp GDPL phù hợp. GDPL cho ĐBDT Khmer có những nét đặc thù về mục tiêu, nội dungvà đối tượngnên các chủ thể GDPL cần chủ động tìm ra các phương pháp GDPL tối ưu, phù hợp nhất. Tùy theo từng nội dung GDPL cụ thể, chủ thể phải có sự tìm tòi, vận dụng linh hoạt, sáng tạo phương pháp GDPL sao cho sinh động, hấp dẫn, cuốn hút ĐBDT Khmer bằng cách đặt các câu hỏi, nêu những tình huống, sự kiện pháp luật cụ thể, thường xảy ra trong cộng đồng dân tộc Khmer,

tạo sự tranh luận, thảo luận sôi nổi nhằm tìm hướng giải quyết các vấn đề đặt ra.

Thứ tư, giáo dục pháp luật cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL được thực hiện bằng những hình thức GDPL đa dạng, phong phú. Trong GDPL nói chung có thể sử dụng rất nhiều hình thức GDPL. Mỗi hình thức lại được các chủ thể GDPL sử dụngphù hợp với mục tiêu, đối tượngtiếp nhận khác nhau, như tuyên truyền miệng về pháp luật; GDPL qua các phương tiện thông tin đại chúng; thi tìm hiểu pháp luật; biên soạn tài liệu PBGDPL; trợ giúp pháp lý; tư vấn pháp luật; bồi dưỡng kiến thức pháp luật… Tùy thuộc vào mục tiêu, nội dung GDPL cũng như những đặc thù về nhóm tuổi, địa bàn cư trú của ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL để lựa chọn hình thức GDPL phù hợp với từng nhóm đối tượng trong cộng đồng dân tộc Khmer. Ở mức độnhiều, ít khác nhau, nhiều người dân tộc Khmer đã có được vốn kiến thức, hiểu biết pháp luật nhất định. Ngoài ra, ĐBDT Khmer còn tự tìm hiểu thêm thông tin pháp luật từ các kênh thông tin khác nhau nhằm bổ khuyết và phục vụ cho nhu cầu cuộc sống.

Thứ năm, giáo dục pháp luật cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL là GDPL cho một cộng đồngdân tộc có truyền thống văn hóa giàu bản sắc, có ngônngữ(tiếng nói và chữ viết) riêng. Đối với các hình thức GDPL thông qua tiếp xúc trực tiếp (tọa đàm, hội thảo, nói chuyện pháp luật, tập huấn chuyên đề, bồi dưỡng kiến

29

thức pháp luật cho người dân Khmer) thì bất đồng ngôn ngữ vẫn là một trở ngại lớn, là nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, bất cập trong GDPL cho ĐBDT Khmer. Đây là một đặc trưng riêng có của GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL. Vềphía chủ thể GDPL, nhiều BCV, TTV pháp luật là người Kinh đã cố gắng học tiếng Khmer, nhưng vốn từ vựng ngôn ngữ Khmer của họ chưa đủđểchuyển tải các thông tin, kiến thức pháp luật cho ĐBDT Khmer, nhất là những thuật ngữ pháp luật chuyên ngành. Về phía đối tượngGDPL, hiện nay vẫn còn một bộ phận đáng kểngười dân Khmer chưa thông thạo tiếng Việt nên khó tiếp thu các nội dung GDPL. Điều đó đòi hỏi các cơ quan chức năng của các tỉnh thuộc vùng ĐBSCL phải tìm ra những giải pháp hữu hiệu để khắc phục sự bất cập này.

2.1.3. Vai trò của giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer

Cũngnhư GDPL cho các đối tượng xã hội khác, GDPL cho ĐBDT Khmer ởvùng ĐBSCL có vai trò rất quan trọng, thể hiện trên các điểm sau:

2.1.3.1. Giáo dục pháp luật góp phần cung cấp, trang bị, nâng cao kiến thức, hiểu biết pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer

Một trongnhững đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN là pháp luật luôn được đặt ở vị trí thượngtôn, không một cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào có thể đứngngoài hay đứng trên pháp luật. “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” [63, khoản 1, Đ. 8]. Nhà nước xây dựng, ban hành pháp luật là đề điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhà nước, tập thể và công dân. Muốn cho pháp luật được thực hiện một cách đầy đủ, nghiêm túc trong thực tế xã hội, phát huy được đầy đủvai trò, chức năng của nó thì pháp luật phải được thẩm thấu vào trong nhận thức và bộc lộra thông qua hành vi pháp luật hợp pháp của mỗi thành viên trong xã hội. Tuy nhiên, pháp luật khôngthể tự nó đến được với mỗi người,mà phải thông qua GDPL. Đó chính là phương thức truyền tải, chuyển giao những thông tin pháp luật, nội dung các nguyên tắc, quy định pháp luật đến với đông đảo CBCC nhà nước và các tầng

lớp nhân dân; giúp họ nắm bắt, hiểu biết pháp luật một cách nhanh chóng, kịp thời mà không mất quá nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu, học tập. GDPL chính là phương thức hỗ trợ tích cực, là con đườngnhanh chóng và hiệu quảđểtrang bị, nâng cao kiến thức pháp luật chocác đối tượngxã hội.

30

Đối với ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL, vì nhiều nguyên nhân về lịch sử, địa lý, kinh tế, xã hội mà trình độdân trí về pháp luật còn nhiều hạn chế. Có những người dân Khmer chỉ biết rất ít hoặc hầu như không biết đến các quy định pháp luật, trong đó có các quy định về quyền con người, quyền công dân. Thiếu hiểu biết pháp luật về quyền con người, quyền công dân thì ĐBDT Khmer khó có thể tiếp cận, bảo vệ quyền con người, quyền công dân của mình. Muốn trang bị kiến thức pháp luật cho ĐBDT Khmer thì phương thức chủ yếu mà các cơ quan chức năng phải triển khai là GDPL cho họ. Điều đó nói lên một trong những vai trò hết sức quan trọng của GDPL là góp phần cung cấp, trang bị, nâng cao kiến thức, hiểu biết pháp luật cho ĐBDT Khmer.

2.1.3.2. Giáo dục pháp luật góp phần xây dựng, củng cố tình cảm, niềm tin của đồng bào dân tộc Khmer đối với pháp luật

Pháp luật chỉ có thể được mọi người dân thực hiện nghiêm chỉnh và thực sựphát huy hiệu lực, hiệu quả khi họ tin tưởng vào các nguyên tắc, quy định của pháp luật. Chỉ khi nào người dân nhận thức đúng đắn, đầy đủ các nguyên tắc, quy định của pháp luật thì họ mới có thể thực hiện pháp luật một cách tự giác mà không cần một biện pháp cưỡng chế nào từ phía Nhà nước. Từ vai trò cung cấp thông tin, nâng cao trình độkiến thức, hiểu biết pháp luật cho các tầng lớp nhân dân, GDPL góp phần xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với pháp luật.

Theo lôgíc của vấn đề nêu trên, hoạt động GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL có vai trò quan trọng là góp phần xây dựng, củng cố niềm tin của đồng bào đối với pháp luật. Trong thực tế cuộc sống, có những người tuy có kiến thức, hiểu biết pháp luật nhưng lại không có niềm tin đối với pháp luật nên họ sẵn sàng bất chấp pháp luật, lợi dụng khe hở của pháp luật để mưu đồ lợi ích riêng. Nguyên nhân là vì họ thiếu niềm tin vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật, không có tình cảm trách nhiệm pháp lý. Khi ĐBDT Khmer tin tưởng vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật thì không cần tới một biện pháp tác độngnào từ phía các cơ quan chức năng đểthực hiện pháp luật. Có niềm tin vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật, mỗi người dân Khmer sẽ biết cách thực hiện hành vi pháp luật phù hợp với các yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật một cách độc lập, tựnguyện, tự giác.

31

Đểhoạt độngGDPL cho ĐBDT Khmer góp phần xây dựng, củng cố niềm tin của đồngbào đối với pháp luật thì cần giáo dục tình cảm công bằng, tình cảm trách nhiệm và tình cảm không khoan nhượng đối với các hành vi phạm pháp, phạm tội. Giáo dục tình cảm công bằng là giáo dục cho ĐBDT Khmer biết đánh giá các QPPL, biết cách xác định các tiêu chuẩn về tính công bằng của pháp luật để tựđánh giá hành vi của mình, biết cách xử sự trong quan hệ với người khác và với chính bản thân mình dựa trên các QPPL. Giáo dục tình cảm trách nhiệm là giáo dục cho ĐBDT Khmer ý thức về nghĩa vụ pháp lý của họ. Giáo dục tình cảm trách nhiệm là làm cho người dân Khmer nhận thức được rằng, mọi việc làm, mọi hành vi của họ đều phải dựa trên cơ sở pháp luật và trong khuôn khổ các quy định pháp luật. Giáo dục tình cảm không khoan nhượng với các hành vi phạm tội là giúp người dân Khmer biết chủ động, tích cực đấu tranh với tội phạm. Việc xây dựng, củng cố niềm tin của ĐBDT Khmer đối với pháp luật càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các thế lực phản động, thù địch vẫn đang thực hiện các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta, gây chia rẽ giữa các dân tộc, tôn giáo trên địa bàn.

2.1.3.3. Giáo dục pháp luật góp phần nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật, thực hiện hành vi pháp luật hợp pháp cho đồng bào dân tộc Khmer

Ý thức tự giác chấp hành pháp luật của ĐBDT Khmer chỉ có thể được nâng cao khi GDPL được tiến hành thường xuyên, kịp thời, hiệu quả, có tính thuyết phục, góp phần hình thành, củng cố tình cảm tốt đẹp, niềm tin của đồng bào đối với pháp luật, ngày càng nâng cao hiểu biết của họ về các văn bản QPPL, các sự kiện, hiện tượngpháp luật xảy ra trong đời sống xã hội; từ đó, nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của ĐBDT Khmer. Ý thức pháp luật là yếu tố định hướng cho hành vi pháp luật của mỗi người dân Khmer, ý thức pháp luật tốt là cơ sở để hình thành ởmỗi người dân trong cộng đồng dân tộc Khmer động cơ thực hiện hành vi pháp luật hợp pháp.

Sự hiểu biết pháp luật, nhận thức đúng đắn bản chất, vai trò xã hội của pháp luật, nắm bắt được các quyền con người, quyền công dân… sẽ là cơ sở, nền tảng đểĐBDT Khmer thêm tin tưởng vào chính sách, pháp luật của Nhà nước, sự quản lý, điều hành của các cấp chính quyền địa phương trong vùng ĐBSCL. Hơn thế nữa, có kiến thức, hiểu biết pháp luật ở một trình độ nhất định, có niềm tin đối với pháp

32

luật, ĐBDT Khmer mới có ý thức tự đánh giá, đối chiếu hành vi của mình với các nguyên tắc, quy định của pháp luật khi tham gia vào các quan hệ xã hội; tự mình có thể tiếp cận hoặc bảo vệ quyền con người, quyền công dân một cách hiệu quả, phù hợp với các nguyên tắc luật định, nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.

Giáo dục pháp luật giúp củng cố niềm tin sâu sắc của ĐBDT Khmer vào sựcần thiết phải tuân theo một cách tự nguyện các quy định của pháp luật là những yếu tố quan trọng làm hình thành hành vi pháp luật tích cực. Những tình cảm công bằng, tình cảm trách nhiệm, tình cảm không khoan nhượng với các hành vi phạm

tội… là những yếu tố tâm lý, tư tưởng không thể tách rời hành vi pháp luật chủ động, tự giác và tích cực. Phải nhờ vào động lực thôi thúc nội tâm, những tình cảm và niềm tin vững chắc vào pháp luật thì mới có thể hình thành được hành vi pháp luật hợp pháp, tự nguyện và tích cực trong ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL. Điều đó nói lên một trong những vai trò hết sức quan trọng của hoạt độngGDPL cho ĐBDT Khmer là góp phần nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật, thực hiện hành vi pháp luật hợp pháp cho ĐBDT Khmer ở vùng ĐBSCL.

2.2. CÁC THÀNH TỐ CỦA GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG, VIỆT NAM

Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *