Giáo dục nhân quyền trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Giáo dục nhân quyền trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Giáo dục nhân quyền trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Quyền con người là một trong mười phát minh vĩ đại làm thayđổi thếgiớibởinó là những giá trị cao quý kết tinh từ nền văn hóa của tất cả các dân tộctrên toàn thế giới, là tiếng nói chung, mục tiêu chung và phương tiện chung của nhân loạiđể bảovệ, thúc đẩynhân phẩm và hạnh phúc của mọi con người.

Nhằm thực hiện những mục tiêu caođẹpmà quyền conngườihướng tới, LiênHợpQuốc với mục đích hoạtđộngquan trọng là “duy trì hòa bình và an ninh quốc tế…khuyếnkhích việc tôn trọng các quyền con người vàtự do cơbảnchotấtcảmọingười, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo” [27; tr.19], các tổ chức quốc tế, các tổ chức khu vực, các quốc gia trên thế giới, trongđócó Việt Namđã ban hành, ký kết, thực thi nhiều văn bản pháp lý về quyền con người trong đó quan trọng nhất là Tuyên ngôn quốc tế về quyền con ngườiđược Đạihội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948_đánh dấu mốc quan trọng và là cơ sở pháp lýcho công cuộc đấu tranh nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trên phạm vi toàn thế giới. Để cóđược những nhận thức đầyđủ, toàn diệnvề các quyđịnh của các văn bản pháp lý quốc tế về quyền con người và áp dụng, thực thi trong thực tiễn, đòihỏicác tổchức quốc tế, tổchức khu vực, các quốc gia phải thực hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp khác nhau trong đó giáo dục về quyền con người giữ vai trò rất quan trọng.

Mặtkhác, chínhsựthiếu hiểu biếtvề quyền conngườilà mộttrong những nguyên nhân của sự vi phạm nghiêm trọng quyền con người trên phạm vi toàn thế giới nói chung và phạm vi quốc gia nói riêng, là nguồn gốc của bấtổn, bạo lực và chiến tranh gây ra biết bao đau thương cho nhân loại. Do vậy, ngoài sự nhận thức, hiểu biết các quyền mà mình được hưởng, con người còn cầncó khả năngtựthực hiện vàbảovệnhững quyền thiêng liêng của mìnhđồngthời phải cóđủhiểu biếtđể tôn trọng quyềncủangườikhác. TheoTổ chức Ân xá Quốc tế: giáo dục quyền con người là vấn đề cơ bản để giải quyết các nguyên nhân cơbảncủavi phạm nhân quyền, ngăn chặn các vi phạm nhân quyền, chống phân biệtđốixử, thúcđẩy bình đẳng, và tăngcườngsự tham gia của người dân trong quá trình ra quyết định dân chủ và chỉ có conđường giáo dục nhân quyền mới có thể thực hiện được mục tiêuđó.

Vấnđề quyền conngườicó vai trò vô cùng quan trọng nhưvậynên trên cả phạm vi quốc tế và trong từng quốc gia, khu vực đều có những chương trình hànhđộngtích cực nhằmđảmbảothực hiện, thúc đẩyvà bảovệ nhân quyền một cách tốt nhất bằng nhiều cách khác nhau, trong đó giáo dục nhân quyềnđược coi là trọng tâm của vấnđề.Trên phạm vi thế giới, năm 1978 UNESCO đã triệu tập Hội nghị quốc tế về giáo dục nhân quyềntạiViên (Áo)để phát triển hơn nữa những lý do cho việc giáo dục nhân quyền. Tuyênbốcuối cùng của Hội nghị công nhận rằng: “Giáo dục nên làm cho mỗi cá nhân thấy quyền của mình, đồng thời họ cũng phải biết tôn trọng những quyền của người khác”. Năm 1993, Hội nghị thế giới về quyền con người cũng đượctổchức tạiViênvớinộidung: “coi giáo dục, đàotạovà thông tin chungvềquyền con người là thiết yếu cho thúc đẩy và đạt được các quan hệ hài hòa,ổn định trong cáccộng đồngvà thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, khoan dung và hòa bình” [34]. Hộinghị tái khẳngđịnh“các quốc gia có nghĩavụpháp lý…để bảođảmrằng giáo dục là nhằm mục đích tăngcườngsự tôn trọng nhân quyền và các tự do cơ bản và điều này nên được đưa vào các chính sách giáo dục ở cấp độ quốc gia và quốc tế”

Tiếp sau Tuyên bố Viên, Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết 59/113A ngày 10 tháng 12 năm 1994 Tuyên bố về chương trình Thập kỷ giáo dục quyền con người (1995 – 2004) và Nghị quyết số 113B ngày 14 tháng 7 năm 2005 thông qua dự thảo kế hoạch hành động bổ sung cho giai đoạnthứnhất (2005 – 2009) của Chương trình thế giới về giáo dục quyền con người_bảnkế hoạch tập trung vào hệ thống các trường tiểu học và trung học vớiyếutốchính là “tiếpcậngiáodục_dựatrên quyền”. Ngày 20 tháng 11 năm 2011, ỦybanCốvấnHộiđồngNhân quyền LiênHợpQuốc đã đưa ra thảo luậnvề Dựthảo Tuyên ngôn giáo dục nhân quyềncủaLiên Hợp Quốc,kếtquả củachương trình nghịsựvề vấnđề nàyđã đạtđược những thànhtựukhá quan trọng hứa hẹnbảnDựthảo Tuyên ngôn giáo dục nhân quyền của Liên Hợp Quốc sẽ được thông qua trong thời gian sớm nhấtvà đósẽ là cơ sở pháp lý quan trọng và có ý nghĩa to lớn cho chương trình giáo dục quyền con người trên phạm vi toàn thế giới.

Nước ta đã trải qua bao thăng trầm trong lịchsử đấutranh dựng nước và giữnước, trải qua hai cuộc đấutranh khốc liệt giànhđộc lậpdân tộc vàthống nhấtđấtnước, xâydựng đấtnước đi lên con đường Xã Hội Chủ Nghĩa, do đó, hơn hết thảytấtcả các quốc gia trên thế giới, dân tộc ta hiểu rõ quyền con người, độc lậpdân tộc cóýnghĩa lớnlaođếnnhường nào. Trân trọng những thành quả cha ôngđã giànhđược,đấtnướcta càng thêm trân trọng những giá trịnhân quyền caođẹpmà nhân loạihướngtới. Mặtkhác, trong quá trìnhhộinhập toàn cầu, cùngvớicác lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính

trị…nhân quyền là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia, khu vực, do đó, Việt Namđã tham gia, gia nhập nhiều côngước, điềuước quốc tếvềvấnđềquyền con người. Thêm vào đó, theođườnglốilãnhđạo của Đảngvà Nhà nước, Việt Nam đang trên conđườngxây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với mục tiêu quan trọng là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền (Chỉ thị số 41/2004/CT-TTg ngày 2 tháng 12 năm 2004 của Thủ Tướng Chính phủ). Những điều nàyđặtra yêucầu bức thiết đối với

Việt Nam là sự hiểu biết về quyền con người không chỉ trong bộ phận cán bộcác cơ quan nhà nước mà còn đốivớimọi người dân Việt Namđể cóthểtựbảo vệ quyền của chính mình đồng thời tôn trọng quyềncủa ngườikhác qua đó thúc đẩy nhân quyền ở Việt Nam phát triển mang tầm vóc quốc tế.

Để đạtđược mục tiêu trên, nước ta cầnđẩymạnh công tác giáo dục quyền con người nhằm đem kiến thức về nhân quyềnđến mọi người dân, đặc biệt cầntạora một thế hệ mới ở Việt Nam gắn liềnvớitư duy tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền hướng tới xây dựng một nền văn hóa nhân quyền Việt Nam phù hợp với nền văn hóa nhân quyền toàn cầu. Xuất phát từ những vấnđề lý luận và thực tiễn trên đây, việc nghiêncứulàm rõ cơ sởlý luận,đánh giá những thành tựu, ưu điểmđã đạt được và làmrõ những khuyếtđiểm

tồntạicủavấnđề giáo dục nhân quyền;đồngthời xác địnhphương hướng, nội dung, phương pháp tiếp tục thực hiện giáo dục nhânquyền đặcbiệt là giáo dục nhân quyền tronghệ thống giáo dục Đạihọc của Việt Nam trongđề tài “Giáo dục nhân quyền trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”trong giaiđoạnhiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích, nhiệm vụ của Luận văn 3.1. Mục đích của việc nghiên cứu

Mục đích của việc nghiêncứulà đưa ra được mộtcái nhìn có tínhhệthống, khoa học, sâu sắc, toàn diện về giáo dục nhân quyềnvà định hướng cụthể chương trình giáo dục quyền con người cho nhóm đối tượng là thế hệ trẻ ở

Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, đềxuất các giải pháp nhằm tăngcườngcông tác giáodụcquyền conngườinói chung, giáo dục quyền conngườitronghệ thống các trườngđạihọc ởViệt Nam nói riêng.

3.2 Nhiệm vụ của Luận văn

– Phân tích, làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của công tác giáo dục nhân quyền. – Phân tích các quy định về giáo dục nhân quyền trên thế giới và những

quy định của Việt Nam về giáo dục quyền con người.

– Đánh giá thực trạng giáo dục quyền conngườiở nước ta nói chung, giáo dục nhân quyền trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam nói riêng.

– Đưa ra các đề xuất nhằm tăng cường công tác giáo dục quyền con ngườiđặc biệt trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam trong thời gian tới.

4. Phạm vi nghiên cứu đề tài

Là một luận văn thạc sỹ nên phạm vi nghiên cứu xin tập trung vào phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của giáo dục quyền conngườitrong hệ thống các trườngđạihọc ởViệt Nam hiện nay, trên cơ sở đóđề xuấtmộtsốgiải pháp nhằm tăng cường công tác giáo dục quyền con người trong hệ thống các trường đạihọc ở Việt Nam trong tương lai.

5. Cơ sở lí luận và phƣơng pháp nghiên cứu

Cơ sở lí luận dùng để nghiêncứu đề tàinày là chủ nghĩa Mác-Lênin vàtưtưởngHồChí Minh, các tư tưởng, quanđiểmvề luật học tiếnbộvà hiệnđạitrên thế giớiđồngthời dựa trên quan điểm, đườnglốicủa Đảng,chính sách pháp luật của Nhà nước về quyền con người và vấn đề tuyên truyền giáo dục nhân quyền ở nước ta hiện nay.

Phương pháp luậnđược sửdụngđể giải quyết nhữngvấnđề đặtra trong luận văn là: phương pháp biện chứng, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê và phương pháp mô hình hóa.

6. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần cung cấp những tri thức khoa học cơ bản mang tính lý luận về giáo dục quyền con người trong phạm vi hệ thống các trường đại học ở Việt Nam; giúp người đọc nhận thức đầy đủ vàtoàn diện hơn về vấn đề giáo dục nhân quyền_mục tiêu của thế giới ngày nay.

Luận văn ngoài ý nghĩa lý luận còn có thể góp phần làm phong phú hơn kho tàng tư liệu, tài liệu tham khảo về vấn đề giáo dục quyền con người đặc biệt trong hệ thống các trường Đại học ở Việt Nam.

7. Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm ba phần như sau:

Phần mở đầu với những giới thiệu sơ lược về luận văn

Phần nội dung chính với 3 chương chia thành các tiết nhỏ

Chương 1: Giáodụcnhân quyền làmộtnộidung thiếtyếutronghệthống các trường đại học ở Việt Nam.

Chương 2: Thực trạng giáo dục nhân quyền trong hệ thống các trườngđạihọc ở Việt Nam hiện nay.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy giáo dục nhân quyền ở nước ta nói chung, trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam nói riêng.

Giáo dục nhân quyền trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Giáo dục nhân quyền trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Chương 1

GIÁO DỤC NHÂN QUYỀN LÀ MỘT NỘI DUNG THIẾT YẾU TRONG HỆ THỐNG CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

1.1. Lý luận chung về vấn đề giáo dục nhân quyền 1.1.1. Sự cần thiết của Giáo dục nhân quyền

Là mộtvấnđề nhậnđược sựquan tâm hàngđầucủa các cơ quan, tổchức trong phạm vi quốc tế, khu vực và các quốc gia nên thuật ngữ “Giáo dục nhân quyền”(GDNQ) đã trở thànhmộtthuậtngữxuất hiện thường xuyên trong các văn kiện pháp lý của LiênHợpQuốc, các tổchức quốc tế, các tổchức khu vực (Liên minh Châu Âu, Tổ chức các nước Châu Mỹ, Hiệp hội các

quốc gia Đông Nam Á…), bộ giáo dục của các quốc gia từ đó tạo thành cơ sởpháp lý quan trọng cho hoạt động tuyên truyền, GDNQ đồng thời qua đó đưa ra một định nghĩa chung nhất được cộng đồng quốc tế thừa nhận.

Theođó,địnhnghĩa GDNQmộtcách chung nhấtđượcđưara trong Tuyên bố về Thậpkỷgiáo dục quyền con người (TKGDQCN) là“đào tạo, phổbiến và thông tin nhằm xây dựngmộtnềnvăn hóaphổbiếnvềquyền con người thông qua việc truyềnđạtcác kiến thức, cáckỹnăng và tạo nên thái độ nhằm vào:

– Tăng cường sự tôn trọng các quyền con người và các quyền tự do cơ bản; – Phát triển toàn diện cá nhân con người và ý thức tôn trọng con người;

– Thúc đẩy sự hiểu biết, tôn trọng, bình đẳng giới vàsự đoàn kếtgiữa các quốc gia, ngườibảnđịavà các nhóm chủng tộc, quốc gia, dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ;

– Khả năng hoạt động một cách có hiệu quả của tất cả mọi người trong một xã hội tự do;

– Đẩy mạnh các hoạt động của Liên Hợp quốc để giữ gìn hòa bình” [16].

9

Theo cáchđịnhnghĩa trên, GDNQ khôngchỉđơnthuần cungcấpcác kiến thức cơ bản cho con người về quyền của mình vàcơ chế để bảo vệ quyền mà còn nhằmtớimục đích truyềnđạtcáckỹnăng quan trọngđể con người không chỉ hiểu biết mà còn có hành động tíchcực để thực hiệncác quyền của mình, tôn trọng quyền của ngườikhác, thúc đẩyvà bảovệ các quyền con người nói chung cho mọi thành viên trong gia đình nhân loại.

Ngoài ra, thuậtngữGDNQ cũngđược đề cậpnhiều trong các công trình nghiêncứucủacác nhà lý luận và sửdụng nhiều trong thực tiễn hoạtđộng của các nhà hoạt động nhân quyền. Điển hình là định nghĩa GDNQ của bà Nancy Flowers trong cuốn sách mang tên“Hướngdẫn giáo dục nhân quyền”xuấtbản tại đạihọc Minnesota năm 2000, theo đó GDNQ“là tất cảnhững hiểu biết nhằm phát triển kiến thức, kỹ năng và các giátrịcủanhân quyền”. Trong định nghĩa trên, bà Nancy muốn nhấn mạnh vào việc giáo dục quyền con người nhằm đem lại sự phát triển toàn diện của con người trong sựhiểu biếtvềnhân quyền, cách thức thực hiện quyềncủamình và hướngđến những giá trị nhân bản của con người.

Hoặcmộtcáchđơngiản hơn theo nhưđịnhnghĩa GDNQcủaông Shulamith Koenig_người sáng lập Thập kỷ giáo dục nhân quyền toàn dân đó là“để mọi người biết về nhân quyền và đưa ra đòi hỏi về nhân quyền” [44.tr 20]. Theo ông giáodụcnhân quyền là nhằmđưađếnnhững hiểu biếtvềvấnđềnhân quyền chomọingườiđểtừđóhọbiết mình có quyền gì, hiểu những quyền đó và có những đòi hỏi quyền của mình phải được thực thi.

Như vậy, khái niệm GDNQ có nhiều định nghĩa khác nhau xuất pháttừcác văn kiện pháp lý quốc tế, quốc gia, khu vực hay từ các nghiên cứu, lý luận và cả từhoạtđộngthực tiễn trong lĩnhvựcGDNQ, nhưngtựuchunglạicóthểkhái quátmộtđịnhnghĩa chung nhấtvề nộihàmcủakhái niệm này nhưsau “Giáo dục quyền con người là hoạtđộngcó định hướng, cótổchức, có

10

chủ thể của giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục nhằm hình thành lên ởhọtri thức về quyền con người; biếttự mìnhbảovệ quyềncủamình và tôn trọng quyềncủangườikhác phùhợpvớicác yêu cầu, các chuẩn mực pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia và tương lai tiến bộ của nhân loại về quyền conngười”[26].Đâylà mộtđịnhnghĩa thể hiệnđầyđủbảnchất, mục đích của hoạt động giáo dục quyền con người

Quyền conngườilà kếttinh những giá trịcaođẹpcủa nhân loại, con người đã phải trả những cái giá rấtđắtđể giành đượcnhững quyềnấynhưng cómộtthực tế là “cóhàng triệungườisinh rarồichết đi mà khônghề biết

rằnghọlàchủthể củacác quyền conngười…”[44; tr.29]. Mặtkhác, sựvi phạm nghiêm trọng quyền con người là nguyên nhân chính gây lên bao cuộc chiến tranh thảm khốc trong lịchsửnhân loại và lịchsửcủanhiều quốc gia trên thế giới, điển hình là hai cuộc chiến tranh đẫm máu trong thế kỷ XX kéo lùi lịch sử phát triển của nhân loại. Có thể khẳng định sự hiểu biết về quyền là điềukiệnđầutiênđể conngườithực hiện và bảovệquyền của mình, tôn trọng quyềncủa ngườikhác và thúc đẩy các quyền con người trong thực tiễn, tránh những vi phạm về quyềntừ đó bảovệ hòa bình, an ninh thế giới, hướng

tớimột xã hội công bằng, văn minh và phát triển. Điều đó chỉ có thể cóđược thông qua công tác giáo dục về nhân quyền, đem kiến thức về nhân quyền truyềnđạtđến mọi thành viên trong cộng đồng quốc tế để họ có được những kiến thức, hiểu biết, kỹ năng về nhân quyền.

Để bảo vệ những thành quả về quyền con người, nhiều văn kiện pháp lýquốc tế đã thể hiệnquyết tâm của cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ nhân quyền đồng thời nêu lên những biện pháp hữu hiệu để thực thi quyết tâmđóđặc biệt nhấn mạnh biện pháp giáo dục về quyền con người. Điểuhình làngay tronglờimở đầucủa Hiến chương LHQđãkhẳngđịnhquyết tâm “phòng ngừa cho những thếhệ tương lai khỏi thảmhọachiến tranhđãhai

11

lầntrongđờichúng ta, gây cho nhân loại đau thương khôngkể xiết…cần phải thực sự tin tưởng vào những quyền cơ bản, nhân phẩm và giá trị của con người, ở quyền bình đẳng giữa nam và nữ, ở quyền bình đẳng ở các nước lớn vànướcnhỏ”. Muốnđạtđược nhữngđiềutrên, cầnphải có những phương thức nhằm nâng cao hiểu biếtvề quyền con người chomọithành viên trong xã hội, từngườihưởngquyềnđếnnhững conngườithực thi quyền, trong phạm vi rộng, có sự liênkếtgiữa các quốc gia, khu vực trong công tác tuyên truyền, giáo dục về QCN.

Văn kiện quốc tế quan trọngthứhai nhấn mạnhđếnvấnđề nâng cao hiểu biết về nhân quyền cho con người thông qua GDNQ là Tuyên ngôn thếgiới về quyền con người (UDHR), theo đó bản Tuyên ngôn coi GDNQ“phải nhằm giúp con người phát triển đầy đủ về nhân cách và thúc đẩy sự tôn trọng các quyền vàtự do cơbảncủacon người. Giáo dục cũngcầnphải tăng cường sự hiểubiết, lòng khoan dung và tình hữu nghị giữa các dân tộc, các nhóm chủng tộc hoặc tôn giáo, cũng như phải nhằm đẩy mạnh các hoạt động củaLiênHợpQuốc”. Bảntuyên ngônđã chính thức thừa nhận vai trò quan trọng, sựthiếtyếucủa công tác GDNQ, từđónêu ra mục tiêu rõ ràng cho hoạt động này trong sự nghiệp thực thi, tôn trọng và thúc đẩy phát triển nhân quyền hướng đến một nềnvăn hóa nhân quyền rộng rãi và hiện thực.

Công tác GDNQ là nội dung thiếtyếutrong xã hội hiện nay còn vì giáo dục trong đó có GDNQ cũng là một quyền cơ bản của con người. Nhiều văn kiện pháp lý quốc tế đã khẳng định quyền được giáo dục nhất là giáodục vềnhân quyền của con người, cụthể nhưđiều26 của Tuyên ngôn thế giớivề

quyền con người khẳng định “Mọi người đều cóquyềnđược giáo dục…giáo dục phải nhằm phát triển đầy đủ nhân cách con người và tăng cường sự tôn trọng đối với các quyền và những tự do cơ bản của con người”. Bêncạnh đócác công ước quốc tế về quyền con người cũng ghi nhận quyềnđược giáodục

12

nhân quyền của conngườivà những giá trịmà GDNQ mang lại, như Côngước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đã nêu ra nhiệmvụ của các quốc gia thành viên phảiđảmbảoquyềnđượcgiáo dục của người dân vàđưa ra mục tiêu của giáo dục quyền conngườilà hướngvào việc phát triển con người, thúc đẩy sự tôn trọng nhân quyềnở mọi tầng lớpnhân dân; Côngước quốc tế về quyềntrẻ em cũng ghi nhận quyềnđược giáodục của trẻ em trên toàn thế giới;Điều10 Côngước quốc tế về xóa bỏ tấtcả các hình thức phânbiệt đối xử vớiphụ nữ đã quy định phụ nữ có quyền bình đẳng với nam

giới trong lĩnhvựcgiáodục… Như vậy, theo quanđiểmcủa các Côngước quốc tế về quyền con người, GDNQ có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng và thực thi các quyềncụthể được quy định trong các công ước. Được GDNQ thì người dân của các quốc gia thành viênmớicó hiểu biết về quyền mà mìnhđược hưởng qua đó đưa ra những yêu cầu, đòi hỏi các chính phủ của các quốc giađápứngđầyđủquyềncủamình cũng nhưđấutranh chốnglạinhững vi phạm về quyền. Vì vậy có thể khẳng định, GDNQ là một nội dung thiết yếu vìnó cũng chính là một trong những quyền cơ bản của con người.

Ở khía cạnh hiện thực hơn, GDNQ nhằm đưa sự hiểu biết về quyền con người đến từng xã hội, từng gia đình, từng cá nhân trong cộng đồng nhân loạiđể từđóbiến“nhânquyền”thànhvấnđề khôngchỉdành cho các học giả, các nhà nghiên cứu, các nhà chínhtrịmà trởthành hiện thực đốivớitấtcảmọingười, từmộtvấnđề mang tính nhạy cảm, chínhtrịtrở thành mục tiêu chung, khát vọng chung của con người. Có như vậy, Nhân quyềnmớithực sựcóýnghĩa, ngườidânmớithực sựđược trao quyền lực để thực hiện những quyềncủa mình đượchưởng đồng thời có sự hiểu biết để sử dụng cóhiệuquảnhững cơ chế bảo vệ quyềncủa mình để đấutranh chống lại sự vi phạmtừ đónâng cao trách nhiệm của mỗi nhà nước trong công tác quản trị, ngăn ngừa sựlạmdụng nhân quyềnhướngtớixây dựng nhà nước pháp quyềnđảmbảo

13

những quyền tự do cơ bản của con người và xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, tự do và bác ái.

Từnhững lý do trên tái khẳngđịnhGDNQđã và đangdầntrở thành vấnđềthiếtyếucủamỗiquốc gia, khu vực và trên phạm vi thế giới. ĐểGDNQ thỏa mãnđược sự cầnthiết như trên thì công tác GDNQ cần phải cómục tiêucụ thể,nội dung phù hợp vàđảmbảo các nguyên tắc của GDNQ nhưtrình bày dưới đây.

1.1.2. Mục tiêu của Giáo dục nhân quyền

GDNQ mang ý nghĩa vô cùng to lớn trong thời đại ngày nay do đó hoạtđộng này phải có mục tiêu cụ thể trong chiến lược phát triển thế hệ tương laiđólà hướngđếnphát triển con người, hòa bình, dânchủvà tôn trọng Nhànước pháp quyền.Để đạtđược mục tiêu đó, nhiều nhà nghiên cứu, các học giả, những nhà hoạtđộngnhân quyền và giáo dục nhân quyền, các cơ quan chuyên môn đã đưa ra những mục tiêucụthể cho hoạt động GDNQ làm kim chỉ nam cho hoạt động này.

Dưới góc nhìn học thuật, theo quan điểm của bà Nancy Flowers, GDNQ cần phải nhằm mục tiêu cung cấp cho con người những kiến thức về quyền con người, giúp họ nhận biết và hiểu về các quyền mà mình được hưởng, theo đóhoạt động GDNQ cần truyền tải tới con người những hiểu biết về:

– Những giá trịcốhữuthuộc về tấtcả mọingườivà quyền của con người được đối xử trong sự tôn trọng;

– Các nguyên tắc về quyền con người chẳng hạn như tính toàn thể, tính không thể tách rời, tính phụ thuộc lẫn nhau của quyền con người;

– Làm thế nào mà quyền con người thúc đẩy sự tham gia vào quá trình ra quyết định và giải quyết hòa bình các tranh chấp;

– Về lịch sử và sự tiếp tục phát triển của quyền con người;

-Về pháp luật quốc tế, như Tuyên ngôn thế giớivề quyền con người hay về các công ước quốc tế;

14

-Về pháp luật của khu vực, quốc gia, địaphương mà nó củngcốcho phápluật quốc tế vềquyền con người;

– Về việc sử dụng luật về quyền con ngườiđể bảo vệ quyềncon người và kêu gọi những đối tượng vi phạm giải thích về hành vi của mình;

– Về sự vi phạm quyền con người như là tra tấn, diệt chủng hoặc bạo lựcđối với phụ nữ và các quyền lực mang tính xã hội, kinh tế, chính trị, dân tộc;

– Về con người và tổ chức phải có trách nhiệmđể thúc đẩy, bảo vệ vàtôn trọng quyền con người.

Từ những kiến thức được cung cấptừ hoạtđộng GDNQ như trên, con ngườicó những hiểu biếtvề quyền của mình, sửdụng những quyềnđónhưthế nào, trong hoàn cảnh nào, ở đâu, có những cơ chế nàobảođảm, bảovệchohọthực hiện các quyềnđóvà phải làm gì khi có vi phạm.Đólà những kiến thức thiếtyếuđể conngườicó thể thực hiệnđược quyền của mình, đểnhân quyền không còn là cái gì xa lạ đối với người dân mà là hiện thực trong cuộc sống của họ.

Tươngtựnhư quanđiểmtrên, trong cuốn sách Giới thiệuvềGiáo dục nhân quyền, David Shiman đưa ra mục tiêu của giáo dục nhân quyền là dạy về nhân quyền và vì nhân quyền.Mụctiêu làđểgiúpngườihọchiểuvềnhân quyền, các giátrịcủanhân quyền,từđócóthểtrao quyền,tứcthông quađócon người và các cộng đồng tăng cường sự kiểm soát cuộc sống của chính họvà các quyếtđịnhcó tácđộngđếncuộc sốngcủahọ.Mụctiêucủagiáo dục nhân quyền là nhằm hướng tới tương lai con người có thể làm việc được cùng nhau để đưa nhân quyền, công lý và nhân phẩm đến cho tất cả mọi người [47].

Mục tiêu GDNQ không chỉ được xác định trong khía cạnh học thuật mà trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức chuyên môn nó cũng được xác định rõ ràng như trong Hội nghị quốc tế về giáo dục nhân quyền năm 1978 đã ghi nhận mục tiêu của GDNQ là:

15

– Thúc đẩy các quanđiểmvề khoan dung, tôn trọng và đoàn kết vốn cótrong nhân quyền;

– Cung cấp các kiến thức về nhân quyền, cả khía cạnh quốc gia và quốc tế và các thể chế được thiết lập để thực hiện;

– Phát triển các nhận thức của cá nhân về các cách và phương tiện mà qua đócác quyền conngườicó thể đượchòa nhập vào thực tiễnđờisống chính trị, xã hội cả cấp độ quốc gia và quốc tế [13; tr.6].

Để đạt được những mục tiêu lâu dài của GDNQ Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã kêugọithực hiện Thậpkỷgiáo dục quyền conngười(1995-2004) trong đó Chương trình giáo dục nhân quyền thế giới đã xác định mục tiêu cụthể của GDNQ là:

– Thúc đẩy sự phát triển văn hóa nhân quyền;

– Thúcđẩysựhiểu biết chung, dựa trên các văn kiện quốc tế, các nguyên tắc cơ bản và các phương pháp giáo dục nhân quyền;

– Bảo đảm tập trung giáo dục nhân quyền ở cấp độ quốc gia, khu vực vàquốc tế;

– Cung cấp một khuôn khổ tập thể chung cho hành động bởitất cảcác chủ thể thích hợp;

– Đề cao sự cộng tác và hợp tác ở tất cả các cấp;

– Đánh giá và ủng hộ các chương trình giáo dục nhân quyền hiện nay,để làmnổi bật tính hiệu quả của thực tiễn và để cung cấp một sự khích lệ đểtiếp tục và/hoặc mở rộng chương trình và phát triển chương trình mới.

Nhưvậydù nhìn nhậnởkhía cạnh nào thì mục tiêu cuối cùng của GDNQ cũng là thông qua việc cung cấp các kiến thức về quyền con người tới các chủ thể trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người từ đó các chủthể này có nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp trong công tác bảo vệ và thúc đẩy quyền con người của bản thân và tôn trọng quyền của người khác

16

từ đó hình thành ý thức trách nhiệmvớisự tồn tại và phát triển hòa bình của cộng đồng, dân tộc mình và toàn nhân loại [25].

1.1.3. Nội dung Chương trình Giáo dục nhân quyền

Không có một nội dung cụ thể hay chung cho chương trình GDQN của tấtcả các quốc gia, khu vực tuy vậy LiênHợpQuốc cũng cố gắng đưa ra quyđịnh về nội dung GDNQ chung nhất để các chương trình GDNQ của các quốc gia, khu vực, của các tổchức theođótriển khai phùhợpvớiđặcđiểmcủa mình. Theo đó, Nghị quyết của LHQ tuyên bố về TKGDNQ (1995-2004) quyđịnh:“Giáodụcnhân quyền nên bao hàm các quy địnhvề thông tin hơn vànên tạo ra một quá trình toàn diện lâu dài cho tất cả mọi người ở các cấp độtrong sự phát triển và trong tất cả các giai tầng xã hội nghiên cứu tôn trọng nhân phẩmcủangườikhác và cách thức và phương phápbảođảmsự tôn trọng trongtấtcảmọixãhội”[22]. Các chương trình GDNQ khi tiến hành cũng có thể tham khảo Tuyên bố của LHQ năm 1993 trong Hội nghị thế giới về nhân quyềnvề nộihàm của GDNQ rằng:“giáodục nhân quyền nên bao gồm về hòa bình, dân chủ, phát triển và công bằng xã hội cũng như luật nhân

đạo…và nhà nước pháp quyền”[34.tr 79-80].

Nhưvậynộidung của chương trình GDNQ nói chung mang nghĩa rộng, baogồmcác hoạtđộngnghiêncứuvề các giá trịcủa nhân quyền, các kiến thức, kỹnăng thực hành nhân quyền, các hoạtđộngtuyên truyềnphổbiến pháp luậtvề quyền conngườiđếnmọicá nhân trong xã hộinhằmđạtđược mục tiêucủa GDNQ, không phân biệt người học là ai và khi xây dựng chương trình GDNQ cần phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhấtđịnh.

1.1.4. Các nguyên tắc của hoạt động giáo dục nhân quyền

Để đảmbảomục tiêu của hoạtđộngGDNQ, Chương trình Thậpkỷgiáo dục nhân quyền của Liên Hợp Quốc (1995-2004) đã xác định các nguyên tắc của GDNQ như sau:

17

– Thúc đẩy tính phụ thuộc, không thể chia cắt và tính phổ biến của nhân quyền, bao gồm các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và quyền phát triển;

– Thúc đẩysựtôn trọngsựđánh giá khác nhau, và các quanđiểmtrái ngược về sựphân biệtđốixửdựa trên chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chínhtrịhoặc quanđiểmkhác, quốc gia, dân tộc, hoặc nguồngốcxã hội, thể chất hay điều kiện tinh thần và các cơ sở khác;

– Khuyến khích sự phân tích về tính lặp lại và sự xuất hiện các vấn đềnhân quyền (bao gồm nghèo đói, các xung đột, bạo lực và phânbiệt đối xử) dẫn tới những giải pháp phù hợp với các chuẩn mực nhân quyền;

– Trao quyền cho các cộngđồngvà các cá nhânđể xác địnhcác nhu cầunhân quyền và bảo đảm họ đáp ứng những nhu cầu đó;

– Xây dựng các nguyên tắc nhân quyền bao hàmcả bốicảnh văn hóa khác nhau và có tính đến sự phát triển về mặt xã hội, lịch sử ở mỗi quốc gia;

– Thúc đẩy kiến thức và các kỹ năng sử dụng các văn kiện nhân quyền quốc tế, khu vực, quốc gia và địa phương và các cơ chế bảo vệ nhân quyền;

-Sửdụng phương pháp giáo dục cùng tham gia baogồmkiến thức, phân tích có sự phê phán và các kỹ năng hành động thúc đẩy nhân quyền;

– Thúc đẩy môi trường nghiên cứu và giáo dục tự do không bị sợ hãi, khuyến khích tham gia,hưởngthụnhân quyền và phát triểnđầyđủnhân cách cá nhân;

– Liên quan đếnđờisống hàng ngày của những người nghiên cứu, gắn kếthọ vào cuộc đối thoại về các cách và các phương tiện biến đổi nhân quyền từ sự bàytỏ các quy tắc trừu tượng sang tính thực tiễn dựa trên các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa.

1.2. Liên Hợp Quốc với vấn đề giáo dục nhân quyền

1.2.1. Những hoạt động thúc đẩy giáo dục nhân quyền của Liên Hợp Quốc Kếtthúc chiến tranh thế giới thứ II, nhận thấy những mất mát quá lớn

18

mà nhân loạiđã phải trải qua trong hai cuộc chiến tranh vô nghĩa mà một trong những nguyên nhân sâu xa của nó là sựvi phạm nghiêm trọng những quyền cơ bản của con người, các nước đã ngồi lại với nhau và thành lập ra tổchức quốc tế với tên gọi Liên Hợp Quốc với nhiệm vụ quan trọng nhất là duy trì hòa bình, an ninh thế giới. Nhằm thực hiện nhiệm vụ trên một trong những chiếnlượchiệu quả mà LHQ sử dụng là đề caovấn đề nhânquyền, tích cực hoạtđộngthúc đẩyvà bảovệ nhân quyền trên toàn thế giới, LHQđã quyết tâm xây dựng một nền văn hóa nhân quyền toàn cầu và cho phépmọi ngườiđược hưởngcác quyền-giáo dục nhân quyềnở mọicấp độvà cho tấtcả mọi người-xây dựng mối quan hệ hợp tác trên toàn cầu vì nhân quyền-thúc đẩysựkhoan dung trong tư tưởng nhân quyền rộng khắp trên thế giới. Do đó, LHQđặc biệt quan tâmđếnvấnđề giáodụcquyền con người, coiđónhư là một biện phápcốtyếuvà mộtchiếnlược hiệu quả để thúc đẩyvà bảovệ nhân quyền, ngăn chặn những vi phạm nhân quyền và tiến tới xây dựng một xã hội bình đẳng, tự do, hòa bình và vì an ninh con người.

HoạtđộngGDNQđược LHQđề cậptừnăm 1948 thông qua Nghịquyết 2170(III), ĐạihộiđồngLHQ thông qua Nghị quyết này nhằm bàytỏquyết tâm và sựcầnthiết phảitổchức hoạtđộngGDNQ rộng rãi, toàn diện trên phạm vi quốc tế.

Nhằmđạtđượcnhững mục tiêu của hoạt động GDNQ, LHQ đã kêu gọi các Chính phủ, các tổ chức nhân quyền quốc gia, Cao ủy LHQ về vấn đề nhân quyền, Trung tâm nhân quyền LHQ, các tổchức quốc tế (tổchức liên chính phủ, tổchức phi chính phủ), Cơ quan chuyên môn của LHQ (UNICEF,

UNDP, ILO, Trung tâm phát triển các vấn đề xã hội và nhân đạo…) thực hiện Chương trình“Thậpkỷ giáo dục nhân quyền”từnăm 1995đếnnăm 2004 trên phạm vi toàn thế giới, ĐạihộiđồngLHQđã thông qua Nghị quyếtsố48/127 ngày 20/12/1993 (A/RES/48/127) quy định lấy giai đoạn 1995-2004 làThập kỷ giáo dục nhân quyền của Liên hợp quốc.

19

Hiện nay Chương trình“Thậpkỷ giádụcnhânquyền”đãkếtthúc vàthuđược những thànhtựuđáng khíchlệ đólà nóđã được phátđộngtrên phạm vi toàn cầu;hầuhếtcác khu vực đã triển khai chương trình giáo dục nhân quyền để hưởng ứng TKGDNQ; nhiều tổ chức giáo dục đào tạo, thông tin chung về nhân quyền đã tổ chức các hội nghị, các khóa học ngắn về nhân quyềnđể phổbiến kiến thức, kỹnăng, chuẩn mực quốc tế về nhân quyền; nhiều khu vực đã hình thành cơ chế nhân quyền; nhân quyền đã trở thành vấnđề nhận đượcsự quan tâm thích đáng của các chính phủ, các tổ chức quốc gia, khu vực và quốc tế, nhân dân thế giới hiểuvề nhân quyền hơn và sửdụng nhân quyềnđể bảovệ chính mình đồng thời ngăn chặn được các vi phạmvề

quyền trên toànthế giới…

Ngoài ra, LHQ và các cơ quan chuyên môn của mình luôn tích cực trong việc hỗ trợ kinh phí, kỹ thuật, các nguồn lực khác cho hoạt động GDNQ của các quốc gia, các khu vực nhờ đó hoạt động nàytạicác quốc gia, khu vựcđã thu được nhiều thành tựu to lớn.

LHQ còn đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp giáo dục nhân quyền của thế giới thông qua việc ban hành những văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng trong lĩnh vực Nhân quyền nói chung và GDNQ nói riêng, tạocơsởpháp lý và lý luận cho hoạt động GDNQ trên phạm vi toàn thế giới.

1.2.2. Những quy định, chuẩn mực pháp lý quốc tế về giáo dục nhân quyền Là vấnđề mang tính toàncầunên GDNQđược quyđịnhtrong nhiều

văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng và nó được coi là một trong những nghĩa vụ quan trọng của các quốc gia thành viên khi tham gia công ước.

Ngay từ sau khi thành lập, LHQ đã ra Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngƣời năm 1948 và đượcĐạihội đồng LHQ thông qua và tuyên bố theo Nghị quyếtsố217A(III) ngày 10/12 trongđóghi nhận:“ĐạihộiđồngLiên Hợp Quốc tuyên bố bản Tuyên ngôn thế giới về quyền con người là mục tiêu

20

chung cho tất cả các dân tộc và các quốc gia phải phấn đấu đạt tới để nhằm mục đích cuối cùng là mỗi cá nhân, mỗi tổ chức xã hội, luôn luôn ghi nhớ bản Tuyên ngôn bằng giáo dục và giảng dạy sẽ nỗ lực thúc đẩy tôn trọng đối với các quyền vàtự do cơbản”. Tạiđiều26 Tuyên ngônđã khẳngđịnhvai tròcủa hoạtđộnggiáo dục phảihướngtớixây dựngđược mộttrậttựxã hộivàghi nhận quyềnđược giáo dục về quyền conngườicủa tấtcả mọingười:

“Mọi người đềucó quyền được học hành….Giáo dục cần phải hướng tới mục tiêu giúp con người phát triển đầy đủ nhân cách và thúc đẩy sự tôn trọng đối vớicác quyền và tự do cơ bản của con người. Giáodụcphải tăngcường sựhiểu biết, lòng vị tha và tình bằng hữugiữa tất cảcác dân tộc, các nhóm tôn giáo và chủng tộc, cũng như phảiđẩy mạnh các hoạtđộngcủaLiên Hợp Quốc vì mục đích gìn giữ hòa bình” [27; tr.28].

Trong Nghị quyếtsố49/184 của Đại hội đồngLHQ ngày 23/12/1994,

thông báo về TKGDQCN của LHQ đã nêu rõ về GDNQ:“…Giáo dục quyền con người không chỉ đề cập đến quy định thông tin mà còn cần thiết lập một quá trình phát triển lâu dài, toàn diện để mọi người ở mọi trình độ phát triển vàởmọitầnglớpxãhộiđềuhọc hỏicách tôn trọng nhân phẩmcủangười khác và các biện pháp và phương pháp bảo đảm sự tôn trọng đó trong mọi xãhội”[44; tr.32-33].

Ngoài ra GDNQ còn được ghi nhậnở các Công ước quốc tế quyđịnh về những quyền cụ thể của con người:

– Côngước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hộivà văn hóa ghi nhận vấn đề GDNQ dưới góc độ trách nhiệm của nhà nước phảiđảmbảo cho người dân trong đất nước mình được hưởng quyền về GDNQ để họ cóđủ hiểubiếtđảmbảocho việc thực hiện quyền của mình. Điều13 Côngước quyđịnh:

“Các quốc gia thành viên Côngước thừa nhận quyềncủamọingười được học tập. Các quốc gia nhất trí rằng việc giáo dục phảihướngvào việc phát

21

triển đầy đủ nhân cách và ý thức về nhân phẩm, và phải nhằm tăng cường sựtôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người. Các quốc gia cũng nhất trí rằng giáo dục cầnphải giúpmọingườitham gia hiệuquảvào xãhộitựdo, thúc đẩy sựhiểu biết, khoan dung và tìnhhữunghị giữa các dân tộc vàcác nhóm về chủng tộc, sắc tộc hoặc tôn giáo, cũng như nhằm đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động nhằm duy trì hòa bình của Liên Hợp Quốc”

– Côngước quốc tế về quyền dân sự, chínhtrịtuy không quyđịnhcụthể về vấnđề GDNQ nhưng điều 2 của Công ước thông qua Bình luận chung của Ủy ban về các quyền dân sự, chính trị đã đặt ra yêucầucho các quốc gia thành viên bằng nhiều biện pháp trong đó có công tác tuyên truyền, giáo dục nhân quyền giúp chongườidân hiểu các quyền của họđược quyđịnhtrong Côngước. Theo đó, điều2 Côngướcquyđịnh:“Các quốc gia thành viên Côngước camkếttôn trọng vàbảođảmchomọingườidân trong phạm vi lãnhthổvà thẩm quyền tài pháncủamình các quyềnđãđược công nhận trong Công ước này, không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân

tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác.

Trong trường hợp quy định trên đây chưa được thể hiện bằng các biện pháplậppháp hoặc các biện pháp khác, thìmỗiquốc gia thành viên Côngước camkếtsẽ tiến hành các biện phápcầnthiết, phùhợpvớitrìnhtự lập phápnước mình và những quy địnhcủaCông ước này, để ban hành luật vànhững biện phápcầnthiết khác nhằm thực hiện các quyềnđược công nhận trong Công ước này”

Ủy ban về các quyền dân sự, chính trị đã đưa ra Bình luận chung số 3 giải thích về điều 2 như sau: “ Theo quan hệ này, điều hết sức quan trọng làcác cá nhân nên hiểu các quyềncủahọ(và Nghịđịnhthư bổsung, trong trường hợp có) là gì và tất cả các quyền lực hành pháp và tư pháp cũng nhận

22

thức được các nghĩavụmà quốc gia thành viênđãthừa nhận trong Côngước.Để làmđược điềunày, Côngước nênđượcphổbiến bằngtấtcảcác ngôn ngữ chính thức của nước đó và các bước đi nên được tiến hành để làm cho những người có trách nhiệm liên quan hiểu rõ những nội dung như trong một phần việc đào tạo của họ. Việc công khai hóa sự hợp tác giữa các nước tham gia Công ước với Ủy ban cũng nên được khuyến khích” [43; tr.264].

– Côngước về Chống tra tấncũng quyđịnhvề công tác giáo dục cho nhữngngườiliên quanđếncông tác giam giữ, thẩm vấn, cầmtù trong quốc gia thành viên hiểu về quyền không bị tra tấncủa tất cả mọi ngườidân trong bấtkỳhoàn cảnh nào. Theođó, điều10 của Côngướcquyđịnh“ Mỗiquốc gia thành viên phảiđảmbảorằng giáo dục và tuyên truyềnvề nghiêm cấm hành động tra tấn được đưa đầy đủ vào chương trình đào tạo các quan chức thực thi pháp luật, các nhân viên dân sự, quân sự, y tế, công chức và những người khác mà có thể liên quanđếnviệc giamgiữhaycầmtùdướibấtkỳhình thức nào.

Mỗi quốc gia thành viên phải đưa việc nghiêm cấm này vào các quy tắc hoặc hướngdẫnđược ban hànhvề nhiệmvụvà chức năngcủatấtcảđối tượng kể trên.”

– Côngước về quyền của trẻ em quyđịnhquyềnđược giáo dục trongđó cóGDNQ của trẻ em trên toàn thế giới và hướng vào mục tiêu phát triển toàn diệncủatrẻ. Theođó,điều10củaCôngước quyđịnh“Các quốc gia

thành viên thừa nhận quyền của trẻ em được học hành,…. Các quốc gia thành viên phải thúc đẩy và khuyến khíchsự hợptác quốctế trong nhữngvấnđề liên quan đến giáo dục, đặc biệt nhằm đóng góp vào việc xoá bỏ nạn dốt nát và mù chữ trên toàn thế giới vàtạo điều kiệnthuận lợi cho việc tiếp cận các kiến thức khoa học, kỹ thuật và các phương pháp giảng dạy hiện đại. Về mặt này, nhu cầu của các quốc gia đang phát triển phải được đặc biệt chú ý”

23

Và điều 19 Công ước ghi nhận mục tiêu của giáo dục đối với trẻ em “Các quốc gia thành viên nhất trí rằng, việc giáo dục trẻ em phải được hướng tới:

a) Phát triển tối đa nhân cách, tài năng, các khả năng về trí tuệ và thểchất của trẻ em;

b) Phát triển sự tôn trọng các quyền con người và các tự do cơ bản, tôn trọng những nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến chương Liên Hợp Quốc;

c) Phát triển sự tôn trọng đối với cha mẹ của trẻ em, tôn trọng bản sắc văn hóa, ngôn ngữ và các giá trị của bản thân trẻ em, tôn trọng những giá trịquốc gia của đất nước mà các em đang sống và của đất nước là nguyên quán của trẻ em, tôn trọng những nền văn minh khác với nền văn minh nơi mà trẻem sinh ra;

d) Chuẩnbịcho trẻ em sốngmộtcuộc sống có trách nhiệm trong xãhội tự do, theo tinh thần hiểu biết, hòa bình, khoan dung, bình đẳng giưa nam vànữ và tìnhhữunghị giữa các dân tộc, các nhóm chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo và những người gốc bản địa;

e) Phát triển sự tôn trọng đối với môi trường tự nhiên.”

– Công ước về về Loạitrừtấtcả các hình thức Phân biệt đối xử với phụnữcũng ghi nhận quyền bìnhđẳngcủa phụnữvớinam giới trong lĩnh vực giáo dục và trách nhiệm của các quốc gia trong việc thực hiện quyềncủa phụnữ. Theo đó, điều 10 Công ước ghi nhận“Các quốc gia thành viên Công ước phải áp dụngtấtcảcác biện pháp thíchhợpđể xoábỏsự phân biệtđốixửchống lại phụ nữ nhằm bảo đảm cho họ được hưởng các quyền bình đẳng với

nam giới trong lĩnh vực giáo dục…”

Trênđâylà những quyđịnhđặtnềnmóng và là cơ sở pháp lý chung cho hoạt động GDNQ trên toàn thế giới nói chung và cho từng quốc gia, khu vực nói riêng.

24

1.3. Sự cần thiết của hoạt động giáo dục nhân quyền trong hệ thống các trƣờng đại học ở Việt Nam

1.3.1. Giáo dục đại học và vấn đề nhân quyền, giáo dục nhân quyềnở Việt Nam

Giáodục đạihọc, ở hầuhếtcác quốc gia trên thế giới là bậc giáo dục nhằmđàotạonhững conngườitrực tiếp tham gia vào từng lĩnh vực cụthểcủa quá trình vận hành và phát triển đất nước, là bậc giáo dục đào tạo rathếhệ quyếtđịnhtương lai của các quốc gia, do đó, bậc giáo dục cóảnhhưởng sâu sắc tới hướng phát triển của từng quốc gia nói riêng và xu thế phát triển của toàn thế giới nói chung. Chính vì vậy, một trong những chiến lược quan trọng nhằm thúc đẩy và phát triển nhân quyền của các quốc gia, cáctổchức quốc tế là đưa vấnđề GDNQ vào chương trình giáo dục đạihọc để dạyvề nhân quyền cho thế hệ quyết định tương lai của đất nước, tạo ra một thế hệ trẻhiểu về nhân quyền, tôn trọng nhân quyền và hành động vì nhân quyềntừ đó

tạonên một nền văn hóa nhân quyền chung cho toàn nhân loại.

Mộtđấtnước muốn phát triểncầncómộtnềngiáo dục tốt, trongđógiáo dục đại học giữ vai tròđặc biệtquan trọng. Ở Việt Nam, bậc giáo dục đại học có mục tiêu là “nhằm đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng vàbảo vệ tổ quốc”[19]. Các cơsở giáo dục đạihọc luôn phấnđấu để thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 142 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị

quyết nàychỉrõ những mục tiêu của giáo dục như sau:“…Xây dựng chođược một đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật và quản lý kinh tế đông đảo vững mạnh, ngày càng hoàn chỉnhvề trìnhđộvà ngành nghề, vừa có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Đảng, với giai cấp công nhân, với dân tộc, liênhệ chặtchẽvớicông nông,vừacó trìnhđộkhoa học kỹ thuật và

25

nghiệpvụgiỏi, vừanắmvững quy luậtcủatựnhiên và quy luật xã hội, cónăng lực tổ chức và động viên quần chúng, đủ sức giải quyết những vấn đềkhoa học, kỹ thuật và quản lý kinh tế do thực tế nước ta đề ra và có khả năng tiến kịp trình độ khoa học, kỹ thuật tiên tiến trênthế giới”[46]. Như vậy giáo dục đại học ở nước ta là nhằmđàotạomột thế hệ trẻ có đủ kiếnthức chuyên môn và phẩm chất chính trịđạo đức tốt để xâydựng và bảo vệ tổ quốc. Sản phẩm của các trường đại học là những cử nhân về khoa học kỹ thuật, kinh tế,

chính trị, pháp luật, khoa học xã hội…là nguồn nhân lực chínhđể phục vụcho những lĩnh vực cụthể trong công cuộc xây dựng và bảovệ Tổquốc, lànhững con người có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triểncủa đấtnước cũng nhưảnhhưởngđếncuộc sống của người dânnước Việt Nam. Nhưvậygiáo dục đại học là bậc giáo dục có tầm ảnh hưởng to lớn đến tương lai phát triển của đấtnước cũng nhưđờisống nhân dân trongđấtnước đó. Do đó, trong giáo dục đại học, cần thiết phảiđề ra đượcmột chương trình đào tạo bên cạnh việc đápứngđượcyêucầuvề kiến thức chuyên môn còncầnphải có quanđiểmchínhtrịphùhợpvà đạođức tốtđểnhữngsảnphẩm của chương trìnhđào tạo đại học_thế hệ tương laicủa đấtnước không chỉ giỏi về chuyên môn mà còn phải nhằm vào mục đích phục vụ con người, vì con người, hướng đến mục tiêu cao cả là sự phát triển của nhân loại.

Bên cạnh đó, Việt Nam là một đất nước có truyền thống nhân đạo cao cả, tư tưởng về quyền con người đã hình thành từ trong lịch sử dựng nước và giữnước của dân tộc ta và xuyên suốt trên conđườngxây dựng nhà nước pháp quyền trong giai đoạn hiện nay. Tư tưởng đó bắt nguồn từ hiện thực lịch sử dân tộc đó là một nước trải qua hàng nghìn năm Bắc thuộc, rồi lầnlượtbịđôhộbởichủnghĩa thực dân và đế quốc. LịchsửViệt Namđã chỉra rằng quyền conngườiở Việt Namchỉcóđược từkhi nhân dân Việt Nam giànhđược độc lập dướisự lãnh đạo của Đảng cộng sảnViệt Nam và Chủ tịch Hồ

26

Chí Minh trong cách mạng tháng Tám 1945. Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, quyền conngườicủa nhân dân Việt Namđã được trân trọng ghi nhận trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và Hiến pháp 1946, Hiến pháp đầu tiên của nước ViệtNam mới. Tư tưởng gắn liềnđộc lập dântộc, chủ quyền quốc gia, chế độ xã hội do nhân dân làmchủ dướisự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, trong đó có các quyền con ngườiđượctôn trọng và đảmbảođã đi vào Cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng, Hiến pháp và hệ thống pháp luật quốc gia, xuyên suốt các giai đoạn cách mạng, từ khi dântộcViệt Nam giành được độc lậpdân tộc đến nay.

Khôngchỉđềcao quyền conngườitrong pháp luật quốc gia, Việt Nam ngay từ khi thống nhất đất nước, trở thành thành viên của LHQ (1977) đãtham gia nhiều côngướcquốctếvềquyền conngườivà tíchcựcđóng góp vào hoạtđộngbảovệnhân quyền quốctế.Việt Namđã gia nhập cácđiềuướcquốctếvềnhân quyềnđólà: CôngướcquốctếvềNgăn ngừa vàTrừngtrịtộiác diệt chủng; Côngướcquốctếvềloạitrừtấtcảcác hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước quốc tế về Ngăn ngừa và Trừng trị tộiác A-Pac-Thai; Côngướcquốctếvềcác quyền dânsựvà chính trị; Côngướcquốc tếvềcác quyền kinh tế, xãhộivà văn hóa; Côngướcquốctế về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệtđối xử đối với Phụ nữ; Công ước về khôngáp dụng thời hiệu tố tụng đối với Tội phạm chiến tranh và Tội phạm chống

lại nhân loại; Công ước quốc tế về quyền trẻ em; Công ước quốc tế về quyền

của người khuyết tật….Điều này thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Chính phủViệt Nam đối với sự nghiệpbảovệ nhân quyền của toàn thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng.

Khôngchỉdừnglạiở việc tham gia ký kết, Nhà nước ta đãkhông ngừng thể chế hóa các chuẩn mực quốc tế về nhân quyền vào Pháp luật quốc gia, hiện nước ta có khoảng 13.000 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có

27

gần 200 văn bản luật (gồm Bộ luật và Luật) được ban hành mới hoặc sửa đổi bổsung và trên 120 Pháp lệnh, gần850 vănbảncủaChínhphủvà các cơquan của Chính phủ đã được ban hành tính từnăm 1986 đến nay [32].

Cùng với hiện thực rằng nhân quyền hiện nay đã trở thành một vấnđề mang tính toàn cầu, là một trong những yếu tố không thể thiếu trong quanhệ quốc tế. Việt Nam là một thành viên trong cộng đồng quốc tế, do đó muốn hội nhập vào đời sống văn hóa, kinh tế, chính trị quốc tế, Việt Nam cũng cần phải gắnnhân quyền vàomọilĩnh vực đờisống kinh tế, chính trị, xã hộicủa đất nước, luôn luôn phải hiểu về nhân quyền và đề cao nhân quyền.

Thêm vàođólà chủtrương phát triển toàn diện cho conngườiViệt Nam trong đó có nội dung về quyền con người đã trở thành một trong những mụctiêu cơbảncủa Đảng,Nhànướcvà việchạnchếsựlạm dụngvấnđềnhân quyền để thực hiện mục đích phi nhân quyền cần phải dựa trên những nghiên cứu có tính chất chuyên sâu, khoa học về quyền con người, pháp luật về quyền con người và những điều kiệncụthể để thực hiệnquyền con ngườiở ViệtNam.

Vì vậy có thể khẳng định vấn đề quyền con người là một trong những tưtưởng truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta được Đảng và Nhà nước ta kế thừa vàphát huy trong thờiđạingày nay và nhân quyền hiệnđãtrởthànhmộttrong nhữngvấnđềmang tính toàn cầu, dođóthếhệtrẻcủađấtnướccầntiếp tục phát triển truyền thống tốt đẹp của cha ông và bắt kịp xu hướng thời đại thông qua conđườnggiáodụcvềquyền con người,đặcbiệt là giáodụcởbậcđại học_bậc giáo dục đào tạo những con người sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai của đất nước và ảnh hưởng sâu sắc tới cuộc sống của nhân dân trong nước. Tái khẳng định, giáo dục đại học, vấn đề nhân quyền và giáo dục nhân quyền có quan hệ mật thiết với nhau hay giáo dục nhân quyền làmộtnội dung thiết yếu cần đưa vào chương trình đào tạo của các trường đại học để tạo ra một thế

28

hệ trẻ của Việt Nam vừa có kiến thức chuyên môn, vừa ý thức sâu sắc về nhân quyền, xây dựngmộtnềnvăn hóa nhân quyền chothếhệtrẻtừđómọihoạtđộngtừnghiêncứukhoa học,kỹthuật, kinhtế,chính trị, pháp luật, xã

hội…đều nhằm vào mục tiêu phát triển con người, vì lợi ích của con người. Cụthể sự cần thiết đó trong các trường đại học sẽ được trình bày dưới đây.

1.3.2. Sự cần thiết của việc giáo dục nhân quyền trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam

Ngoài những lý do chung nhưđã trình bàyở trên (phần 1.2) cho nhu cầuthiết yếu của hoạt động giáo dục nhân quyền, giáo dục nhân quyền trong hệ thống các trường đại học ở nước ta còn có các lý do cụ thể là:

Hệ thống giáodục đại học ở ViệtNam hiện nay theo kết quả giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện chính sách pháp luật về thành

lậptrường, đầutư và bảođảm chất lượng đàotạođối vớigiáodục đạihọc, tínhđếnnay,cả nướcđã có 409 trường đại học, caođẳng[46],đàotạocác ngành nghề liên quanđếncác lĩnhvựckhoahọctựnhiên và khoa họcxãhội. Sinh viên sau khi tốt nghiệp các trường đại học được gọi là cử nhân, bác

sỹ,kỹsư…vàsẽ hoạtđộngtrong các lĩnh vực cụthể trong công tác vận hành, quản lý và phát triểnđấtnước. Công việc của họsẽ có những ảnh hưởnghoặc trực tiếp, hoặc gián tiếpđếnnhững quyền vàlợiích của người dân trongnướchay nói rộng rasẽcó những liên quan trực tiếp hoặc gián tiếpđếnvấnđềnhân quyền. Vìvậygiáodụcnhân quyền là nộidung thiết yếuđối với tất cảcáctrường đại học ởcácmứcđộ khác nhau,cụthể, theo nghiên cứu của cá nhân, tôi xin trình bày nội dung này theobố cục:Sự cần thiết của hoạt động giáo dục nhân quyền trong cáctrường đại học đào tạo chuyên luật vàsựcầnthiếtcủahoạtđộnggiáodụcnhân quyền trong các trường đại học đào tạo không chuyên luật.

29

* Sự cần thiết của hoạt động giáo dục nhân quyền trong các trườngđại học đào tạo chuyên Luật

Nội dung giáo dục nhân quyền trong các cơ sở đào tạo chuyên luật luônđược đặt ra bởi các nguyên nhân sau:

– Theo ghi nhậncủaVăn phòng CaoủyNhân quyền của Liên Hợp Quốc thì “các chuyên gia pháp lý độc lập đóng vai trò cơ bản trong việc bảo vệ các quyền con người.Họlà những người bảovệ pháp luật nhân quyền quốc tế, đảm bảo rằng nó được thực thi trong quá trình tư pháp và cá nhân có quyền lợi bị vi phạm có thể tìm thấy một biện pháp bảo vệ hữu hiệu trong nước”(OHCHR, 2003), OHCHR cũng cho rằng ngành pháp lý quan trọng chuẩnbịcho việc thực hành trong việcbảovệ và thúc đẩyquyền con người trên thế giới. Ở Việt Nam, vấnđề nàyđược nhận định:“Nhà nước nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục nhân quyền … Nhà nước hiểu rằng giáo dục quyền conngườitrong các trườngđạihọc, đặc biệt là các trườngđạihọc luật, làmộttrong những kênh hiệuquảđể phổbiến kiến thứcvềquyền con người và thông tin về bảo vệ quyền con người và thúc đẩy rộng rãi trong công chúng. Điều này cũngtạo điềukiện cho việc đàotạocác nhà nghiêncứuvàcánbộhoạtđộngtrong lĩnh vực quyền con người ởViệt Nam. Do đó, chất lượnggiáo dục quyền conngườitrong các trườngđạihọcđàotạochuyên ngành luậtảnhhưởngđếnhiệuquảcủaviệc thúc đẩy vàbảovệ quyền con người’’(điềukhoản tham chiếu của nghiên cứu, UNDP, 2011) [10.tr 23].

– Bêncạnh đó Cửnhân luật sau khi ra trường sẽ là nguồn lực chủ yếu phục vụ trong các hoạt động lập pháp, tư pháp và hành pháp của nhà nước, họsẽ trực tiếp tiến hành hoặc tham gia vào các hoạt độngtruytố,xét xử và thi hành án hình sự, là những người có thể đưa ra phán quyết quyết định những quyền cơ bảncủamộtconngườithậm chí quyếtđịnhcả vấnđềliên quan

30

quyền sốngcủangườiđó. Hoặc cửnhân luật có thể trở thành nhữngngườiđứngra để bảovệ quyềnlợicủa nhữngngườibịbuộc tộihoặc có những người tham gia trực tiếp vào việc giải quyết các thủ tục hành chính liên quan

đếnquyềnlợicủacông dân…Dođónhững conngườinàycầnphải có hiểu biết về quyền con người một cách sâu sắc để họ thực sự tôn trọng và bảo đảm các quyền cho công dân trong công tác của mình. Chính vì vậy, sinh viên các cơ sở đàotạochuyên ngành Luậtcần được đàotạomột cách bàibản, đầyđủvề vấnđề quyền conngườiđểhiểuvề nhân quyền, tôn trọng nhân quyềntừđótrong hoạtđộngthực tiễn của mình sau khitốtnghiệpđảmbảogắnvới nhân quyền và vì nhân quyền [23].

-Mặtkhác, giáodụcvề nhân quyền cho sinh viên các trườngđàotạo luật còn giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng cho sinh viên luật khi ra trường, hiểu biếtvề nhân quyền và mốiliênhệ giữa quyền conngườivới pháp luật thực định trong nước, với Nhà nước họ sẽ có cái nhìn đúng đắn vềvấn đề nhânquyền, tôn trọng và bảo vệ nhân quyền trong khuôn khổ tôn trọng pháp luật quốc gia và quốc tế và khi tham gia vào các hoạt động nghề nghiệp hoặc tiếp tục nghiên cứu ở nước ngoài sẽ không bị các thế lực phảnđộng lợi dụng, nhân danh nhân quyềnđể tuyên truyền tưtưởnglệch lạc chống pháchính quyền nhưmộtsốluật sư, luật gia trong thời gian qua (Lê ThịCông

Nhân, Nguyễn Văn Đài, Lê Công Định, Cù Huy Hà Vũ…).

– Các trường đào tạo Luật cũng chính là cái nôi sinh ra các nhà lập pháp của đấtnước, hiểuvề nhân quyền ngaytừtrên ghế nhà trường, các nhà lập pháp của Việt Nam khi tiến hành xây dựng luật sẽ gắn vấn đề nhân quyền vào mọi lĩnh vực của pháp luật, đưa pháp luật Việt Nam trở thành công cụđể bảo vệ và bảođảmcác quyền con người, quyền công dân và ngày càng phù hợp với pháp luật quốc tế.

31

* Giáodụcnhân quyền trong các trườngđạihọc đàotạokhông chuyên luật

Các trường đại học là nơi đào tạo ra những nguồn nhân lực cho xã hội,đó là những cử nhân sẽ tham gia vàotất cảcác vị trí trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đó có thể là những cán bộ công chức làm việc trong bộ máy công quyền của nhà nước, có thể là những nhà kinh doanh, nhà kinh tế hoạch định chiếnlược phát triển kinhtế của quốc gia, có thể là ngườinghiêncứukhoa học, giáo viên, nhà báo, kỹ sư xây dựng, các chiến sĩ, sĩ quan công an,, cảnh

sát…Ởnhững lĩnh vực này, trong hoạt động của họ ít nhiều có liên quan hoặc trực tiếp hoặc gián tiếpđếnvấnđềquyền con người, có thể có những đóng góp tích cực thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền hoặc những hành động tiêu cực xâm phạm quyền và lợi ích của người dân, do đó, cần thiết phải thúc đẩy hoạtđộnggiáo dục nhân quyền trong các trườngđạihọc nàyđể tạotiềnđề hiểu biết nhân quyền, tôn trọng nhân quyền cho sinh viên. Có thể đưa ra mộtvài dẫn chứng cụ thể như sau:

– Sinh viên các trườngđạihọc thuộc chuyên ngành khoa học xã hội, học viên trường Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh nơiđào tạo các cán bộ trung cao cấp, sinh viên Học viện Hành chính Quốc gia nơiđào tạo cửnhân là nguồn cán bộ tương lai là những người đã, đang và sẽ trực tiếp tham gia hoạch định, chỉ đạo thực hiện, giám sát thực hiện chính sách vàpháp luật trong nhiều lĩnh vực trongđócó lĩnh vực liên quanđếnvấnđềquyền con người. Mỗi chính sách của họ đưa ra liên quan đến cuộc sống của hàng triệungườidân, có thể đemđếncho người dâncơ hội được hưởngthụcác quyền con người nhưng cũng có thể xâm phạmđếnnhững quyền cơ bản mà người dân đáng được hưởng. Chính vì vậy, họ cần phảiđược giáo dục vềnhân quyền một cách nghiêm túc, bài bản để ý thức rõđược quyềnvà nghĩa vụ của một công dân, phạm vi trách nhiệm, nghĩa vụ, quyềnlợicủa mình để

32

mộtmặtkhông vi phạm các quyền conngườicủangườidân, mộtmặtcónhững hành động tích cực nhằm thúc đẩy việc tôn trọng và đảm bảo thực hiện các quyền con người của công chúng [1].

– Ở các trường đạihọc đàotạokhối ngành kinh tế cung cấp nguồn nhân lực cho hoạt động kinh tế của đấtnước như trường đạihọc Kinh tế quốc dân,

trườngđạihọcNgoại thương, trườngđạihọc Thương mại…Sinh viên tốt nghiệp các trường này có thể là các chủ doanh nghiệp, là các nhà kinh tế tham

gia hoạch định chiến lược phát triển kinh tế quốc gia…ở các vị trí đó, mặc dùcác hoạtđộngcủa họkhông trực tiếpảnhhưởngđếnquyền và lợiích của người dân nhưng những tác động của nó ít nhiều có liên quan đến vấn đề nhân quyền. Cụthể, nếumộtdoanh nghiệp quan tâmđếnvấnđềphát triển con người thì đó cũng là một động lực quan trọng cho hoạt động thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền của quốc gia, mộtchiếnlược phát triển kinhtế của quốc gia haytừcấpđịa phươngnếulấyquyềnlợicủa ngườidân là trọng tâm thì các

quyền của con ngườisẽđược đảmbảo…Dođóvấnđề giáodục nhân quyền cũng cầnđược đưavào nội dung chương trìnhđàotạo tạicác trường nàyđểtạonhữngýniệm cơ bảnvà thổi vàohọlòng nhiệt huyếtđốivớihoạtđộng thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trên toàn thế giới.

– Đối vớicác trường đại học thuộc khối ngành khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuậtđối tượng đàotạo là những kỹ sư, nhà nghiên cứu khoa học làm việc trong các lĩnh vực về khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật, công việc của họ nhìn bề ngoài chỉ đơn thuần nhằm phục vụ và đáp ứng những yêu cầu về khoa học và kỹ thuật, tuy nhiên nếu các phát minh khoa học không nhằm mục đích phục vụ con người, nhằmđưa đếncuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn cho cuộc sống con người thì đó chỉ là những phát minh không có giá trị. Thếgiới đã có những phát minh khoa học, kỹ thuật như bom nguyên tử, vũ khí hạt

nhân,vũ khí sinhhọc…khi các thế lực phi nhânđạosửdụngđã hủyhoại

33

cuộc sống của hàng triệungườidân, để lạinhữnghậuquả đau lòng cho các thế hệ sau không gì bù đắp được. Đó là những phát minh không vì mục đích phục vụcon người! Chính vì vậy, trong hoạtđộngnghiêncứukhoa học tự nhiên, khoa học kỹthuật cũngcầnhướngtớimục tiêu vìsựphát triển bền vững của con người, lấy con người làm trung tâm. Do đó, hoạt đông giáo dục nhân quyền trong khối các trườngđạihọc chuyên ngành khoa học tựnhiên, khoa học kỹ thuật là cần thiết vì sự phát triển bền vững của con người.

-Đốivớicác trường Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân vấn đề giáo dục nhân quyền cần trở thành một trong những nội dungđào tạo chính bởi:

+ Trường Học viện An ninh nhân dân và Học viện Cảnh sát nhân dân làcác trường đào tạo cán bộ chiến sỹ, sỹ quan công an, cảnh sát tương lai phục vụ trong hoạt động tư pháp của quyền lực nhà nước và trong hoạt động hành pháp của quyền lực nhà nước. Dù ở vị trí công tác nào thì công việc của các cánbộchiến sỹ, sỹquan công an, cảnh sát này cũng trực tiếp và hàng ngày liên quanđếncác quyền conngườivìvậyhoạtđộnggiáo dục quyền con người cho sinh viên các trường Học viện An ninh nhân dân và Học viện Cảnh sát nhân dân là một hoạt động cần thiết và giữ vai trò quan trọng.

+ Các chiến sỹ công an, sỹ quan công an, cảnh sát này vừa là lực lượngđạidiện cho quyền lực nhà nước bảo vệ các quyền con người, bảođảmquyền con người được thực thi trên thực tế vừa là lực lượng chuyên trách có nhiệm vụ đấu tranh phòng chống các hành vi lợi dụng nhân quyền để chống phá nhànước. Chính vì vậy, họphải hiểu sâusắcvề vấnđề nhân quyền, khuônkhổpháp lý của nhân quyền, điềukiện thực hiện nhân quyềnở Việt Nam, phân biệtđượcđâulà nhân quyền và đâulà phi nhân quyềnđể mộtmặtlàm tốt nhiệmvụcủa mình trong công tác bảođảmcác quyền conngườiđược thực thi trên thực tế, mộtmặtluôn luôn tỉnh táo, sáng suốt phát hiện ra âm mưu,

34

thủđoạncủa các thế lực thùđịchlợidụng nhân quyềnđể thực hiện việc chống phá nhà nước, chống phá cách mạng. Điều này đòi hỏi công tác tuyên truyền, giáo dục về nhân quyềnphải đượclàmtốt từtrong quá trình đào tạo tạitrường học tức cầnphải đưa nộidung giáo dục nhân quyền vào trong chương trình đào tạo chính thức của Học viện An ninh nhân dân và Học viện Cảnh sát nhân dân.

+ Bên cạnh đó, lựclượngcông an nhân dân, cảnh sát nhân dân trong quá trình thực thi nhiệmvụcủa mình, do nhiều nguyên nhân, trongđócónguyên nhân là sự thiếu hiểu biết và khiếm khuyết trong nhận thức về vấnđề nhân quyền đã vi phạm thậm chí xâm phạm nghiêm trọng đến các quyền con người của người dân, gâybấtbình trong dư luận và ảnh hưởng không tốt tới hình ảnh của ngành công an nói riêng và bộ máy nhà nước nói chung. Do đó, công tác giáo dục nhân quyềnở Học viện An ninh nhân dân và Học viện Cảnh sát nhân dân có vai trò quan trọng trong việc trang bị kiến thức về nhân quyền và bồi dưỡng thái độ tôn trọng nhân quyền đối với các cán bộ chiếnsỹcông an, cảnh sát tương lai [38].

Như lời phát biểu của Gs.Ts Nguyễn Đăng Dung đăng trên trang 5, Báo

Pháp Luật Việt Nam số 257 (3.665) ngày 26/10/2008: “…việc giáo dục nhân

quyền làcầnthiết chotấtcảcác đốitượngtrong cộngđồng…Tôitin tưởng rằng giáo dục nhân quyền, rấtphùhợpvớitruyền thống nhânđạocủadân tộc, sẽ phát triển nhanh chóng và đem lại hiệu quả thiết thực cho xãhội nếuđược chúng ta quan tâm đúng mức”. Thậtvậyđể cómột đấtnước ViệtNam phát triển toàn diện và hướng đến sự phát triểnbềnvững của con người thì ởcác trườngđạihọc ởViệt Nam_cái nôiđàotạothếhệ tri thức trẻnắmgiữtương lai của đất nước, vấn đề nhân quyềncầnphải được đưa vào giảng dạyđể thế hệ trẻViệt Nam có trách nhiệm trong việc xây dựng một cuộc sống tốtđẹp hướng đếncon người, vì con người và xây dựng một quốc gia giàu mạnh

35

theo như thông điệp của cựu Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Anna đã đưa ra nhân ngày nhân quyền thế giới ngày 10 tháng 12 năm 2000: “Con người càng biết nhiềuvề các quyềncủachính mình thì càng tôn trọng các quyền của những người khác, và như vậy càng có cơ hội chung sống hòa bình. Chỉkhi nào người dân được giáo dục về quyền con người thì lúc đó chúng ta mới có thể hy vọng ngăn chặn những hành vi vi phạm quyền con người cũng nhưngăn chặn xung đột” [30.tr 5].

36

Chương 2

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC NHÂN QUYỀN TRONG HỆ THỐNG

CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Quan điểm, chủ trƣơng, chính sách củaĐảngCộng sản Việt Namvề hoạt độnggiáodụcnhân quyền và cơ sởpháp lýcủaNhànƣớc cho hoạt động giáo dục nhân quyền ở Việt Nam

2.1.1. Quanđiểm,chủ trương, chính sách củaĐảngCộngsảnViệt Nam về hoạt động Giáo dục nhân quyền

Quyền con người là kết tinh những giá trị cao đẹp của nhân loại, bảo vệvà thúc đẩy nhân quyền là mục tiêu phấn đấu của nhân dân thế giới trong đócó nhân dân Việt nam. Bên cạnh đó, QCN cũng là một trong những công cụchủ yếumà các thế lực phản động sử dụng trong âm mưu phá hoại thành quảcách mạng, can thiệp vào công việc nội bộ các nước và thực hiện“diễn biến hòa bình” chống phá các nước Xã hội chủ nghĩa. Nhận thấy tầm quan trọng của vấnđề quyền conngườivà cảnh giác trước các âm mưu của chủnghĩađến quốc lợi dụng vấn đề quyềncon người vào mục tiêulậtđổ Chủ nghĩa Xãhộivà phá hoạiđộc lậpdân tộc vàchủquyền quốc gia của nước ta, Đảng CộngsảnViệt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hộichủnghĩa Việt Nam ta luônđặtnhiệmvụgiữvữngđộc lập, chủquyền của đấtnướctrongvấnđềnhân quyền, luôntỏthiện chísẵnsànghợptác quốc tế vì nhân quyềnđồng thời sẵn sàng đấu tranh quyết liệtvớinhững âm mưu lợi dụng các vấnđề dân chủ, dân tộc, tôn giáo, nhân quyền để chống phá nhà nước ta. Để thực hiện tốt nhiệmvụtrên, Đảngta đã đề ra chương trình hànhđộnggồmnhữngchủtrương, địnhhướnglớntrong công tác đảmbảocác quyền con người, một trong nhữngchủtrương quan trọngđólà nhằm vào công tác tuyên truyền, giáo dục nhân quyền. Chủ trương của Đảng được ghi nhận trong các văn kiện

37

là: Chỉ thị Số 12/CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban bí thư trung ương về vấn đềquyền conngườivà quan điểm, chủtrương của Đảng;Chỉthịsố32/CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 09/12/2003 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ nhân dân; Chỉ thị số 41/2004/CT_TTg ngày 2/12/2004 của ThủtướngChínhphủvềcông tác bảovệ, đấutranh nhân quyền trong tình hình mới; Chỉ thị số 44/CT-TW ngày 20/7/2010 của Ban bí

thư Trung ương Đảng về công tác nhân quyền trong tính hình mới…Theo đó, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về công tác giáo dục nhân quyềnở nước ta hiện nay bao gồm các vấn đề lớn như sau:

* Về chủ thể thực hiện công tác giáo dục pháp luật trong đó có giáo dục pháp luật về nhân quyền:

Chỉ thị số 32/CT/TW quy định: “ Xác định rõ phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong những năm tới, cần tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện thật tốt công tác này để góp phần tạo chuyển biến căn bản về ý thức tôn trọng pháp luật và nghiêm chỉnh chấp

hành pháp luật của cán bộ và nhân dân”. Chỉ thị đã xác định trách nhiệm của công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật nói chung, trong đó có công tác giáo dục về quyền con người (quyền con người trong khía cạnh pháp lý) thuộc vềtoàn bộ hệ thống chính trị, theo đó các cấp, các ngành, các bộ phận trong bộmáy chính trị đều có nhiệm vụ thực hiện công tác này, hay chính là xã hội hóa công tác giáo dục pháp luật.

* Về đối tượnggiáo dục:

– Chỉ thị Số 12/ CT/TW ngày 12/7/1992 chỉ ra“cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục trong nhân dân tađể mọingười hiểu rõ quan điểm, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước về quyền con người, quyền

và nghĩa vụ của công dân…”

38

-Chỉthịsố41/2004/CT_TTg ngày 2/12/2004 nêu lên“…dànhmối quan tâm thường xuyên trong giáodụcđốivớicác tầnglớpnhân dân nói chung và tầnglớpthanh niên, sinh viên, học sinh, đồngbào theođạo, đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng về nhân quyền”

– Chỉ thị số 44/CT-TW ngày 20/7/2010 đưa ra vấnđề “ Nghiêncứuđưa nộidung về nhân quyền vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân”

Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm và tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhân quyền trong nhân dân, học sinh, sinh viên nói chung và các nhóm xã hộinói riêngđể mọitầnglớpnhân dân hiểu rõ quanđiểm, chính sáchcủaĐảngvà pháp luật của Nhà nước, hiểu rõbảnchấttốtđẹpcủa chế độta là vì nhân dân, lấynhân dân làm gốc. Công tác giáo dục nhân quyềnđồngthời cũngcầnvạch trần những âm mưu, thủđoạncủacác thếlực phảnđộnglợidụng ngọncờ nhân quyền chống phá nhà nước và những thành quả cách mạng mà cha ông ta đã phải đánhđổibằng biết bao xương máu. Các chỉ thị cũng nên ratầmquan trọng và sựcầnthiết của hoạtđộng giáo dục nhân quyền.

* Về hình thức giáo dục nhân quyền

Nước ta là quốc gia có nhiều dân tộc, tôn giáo, kếtcấuxã hộigồm nhiều tầng lớp khác nhau cùng đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, mỗidân tộc, tôn giáo, mỗigiai tầng xãhộicó nhữngđặcđiểm riêng, dovậytrong công tác giáo dục quyền con người, Đảngđã chỉđạo:

“cầncónộidung và hình thức tuyên truyền thíchhợpđốivớitừng loạiđối tượng khác nhau như: Công nhân, nông dân, trí thức, văn nghệ sĩ, đồng bào dân tộc thiểusố,đồngbào vùng tôngiáo”[7]. Cácđốitượngkhác nhau cónhận thức khác nhau, quanđiểmkhác nhau, cách tiếpcậnvà khả năng tiếp cậnvớivấnđềnhân quyền khác nhau, không thể cómộtchương trình giáo

39

dục chung cho tất cả các đối tượng do đó chủ trương của Đảng trong việc xây dựng chương trình giáo dục đàotạonhân quyền riêng cho từng nhómđối tượng là cần thiết và phù hợp với yêu cầu của thực tiễn đặt ra.

* Về mục tiêu, ý nghĩa và nội dung của giáo dục nhân quyền

Chỉ thị số 44/CT-TW ngày 20/7/2010 của Ban bí thư Trung ương Đảng về công tác nhân quyền trong tình hình mới đã chỉ ra “Mục đích của công tác tuyên truyền, giáo dục là nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân về công tác bảo vệ, đấu tranh về nhân quyền trong

tình hìnhmới….Nắmvà hiểu rõ quanđiểm,chính sáchcủaĐảng,pháp luật của Nhà nước về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân; về thành

tựuđảmbảoquyền conngườiởViệt Nam vàkếtquảđấutranhvớicác luậnđiệu sai trái; phản bác các luận điệu vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền ởViệt Nam”.Đảngvà nhànướcđãxácđịnhrõmụctiêu,ýnghĩacủacông tác tuyên truyền giáodụcquyền con người,đólà nâng cao nhận thức thống nhất cho các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân về các giá trị cao đẹp của dân chủ và nhân quyền đồng thời nêu cao tinh thần đấu tranh chống lại các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của nhànướcta, chống phá nhànướcta nhằmlậtđổchếđộ,xóa tan thànhquảcách mạng của nhân dân ta. Thông qua hoạt động giáo dục nhân quyền Đảng và nhànước xác định rõ cho nhân dân ta rằng cuộc đấu tranh trên lĩnh vực nhân quyền là cuộc đấu tranh mang tính giai cấp sâu sắc sẽ diễn ra liên tục, lâu dài, quyết liệt và hoạtđộnggiáodụcnhân quyền làmộttrong những vũ khí quan trọng của Đảng, nhà nước và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh ấy.

2.1.2. Cơ sở pháp lý cho hoạt động giáo dục nhân quyền ở Việt Nam HoạtđộngGiáo dục nhân quyềnở nướcta vừa được đảmbảobởihệ

thống các văn kiện pháp lý quốc tế(nhưđã trình bàyở phần 2.2, chương I) mà Việt Namđã ký, phê chuẩn hoặc gia nhập 09 côngước và 02 nghịđịnh

40

thưbổsung côngước trong tổngsố20 côngước và nghịđịnhthưbổsung công ước về nhân quyền do Liên Hợp Quốc ban hành, vừa được bảo đảm thực hiệnbởiquan điểm, chủtrương của ĐảngCộngsảnViệt Nam (nhưđã trình bàyở phần1.1, chương II) và pháp luật của Nhà nước. Mặc dù chưa có một văn bản pháp lý quy định một cách cụ thể, trực tiếp về vấn đề giáo dục nhân quyền, nhưng các nhà hoạt động nhân quyền và các nhà giáo dục nhân quyền có thể tìm thấy cơ sởpháp lý cho hoạt động này trongmộtsố vănbảnpháp luật và dướiluật quyđịnh về vấnđề nhânquyền và hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật nói chung vì giáo dục pháp luật về quyền con người là một bộ phận của hoạt động giáo dục pháp luật. Cụ thể:

– Văn bản pháp lý quan trọng nhất và có hiệu lực cao nhất ghi nhậnvề vấnđề quyền conngườilà Hiến pháp Việt Nam năm 1992 sửa đổibổsung năm 2001: Điều 50 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyđịnh chung về quyền con người theođó:“ Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân vàđượcquy định trong Hiến pháp vàluật”; Các quyền con ngườicụthể được quy định rõ ràng trong Chương I và Chương V của Hiến pháp 1992, theo đó, công dân có các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội.

+ Nộidung các quyền conngườivề nhóm quyền dânsựvà chínhtrịtrong chương I và Chương V Hiến pháp 1992 khẳng định rõ: Trách nhiệmcủa Nhà nước và các cơ quan Nhà nước có trách nhiệmđảmbảothực thi các quyền dân sự, chínhtrịcủangườidân;mọicông dânđềubìnhđẳngtrước pháp luật tronghoạt độngsảnxuất kinh doanh, trong hoạtđộng bầucử, ứng

cử, trong quyềnđượchọc tập, nghiên cứu khoa học… và quyền về bình đẳng giới. Công dân còn có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe,

danh dự, nhân phẩm, có quyền tự do tín ngưỡng…

41

+ Nội dung các quyền con người trong nhóm quyền kinh tế, xã hội vàvăn hóa ghi nhận trong chương V được quy định trong các quyềncụthể của

con ngườilà quyền được làm việc, quyền được học tập…

– Bộ Luật Dân sự 2005 đã cụ thể hóa các quyền về dân sự của người dân được quy định trong Hiến pháp, trong đó các quyền dân sự cơ bản của conngườiđượcquyđịnh từ điều 1đếnđiều 37, theo đó conngườicó các quyền như quyềnvềnhân thân; quyềnbảovệquyền nhân thân; quyềnđối với họ tên; quyền được khai sinh, quyền được khai tử, quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể; quyền kết hôn; quyền bình đẳng

của vợ chồng…

-BộluậtTốtụng Dânsự2004 cũng quyđịnhcụthểcác quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp, trong đó các quyền con người được ghi nhậntừ điều 4 đến điều24 và từ điều 56 đến điều 62, theo đó, các quyền con ngườiđượcghi nhận như quyềnđược bảođảmquyềnbảovệ của đươngsự; quyền quyếtđịnh và tự định đoạt của đương sự; quyềncung cấp chứng cứ vàchứng minh trong tố tụng dân sự; quyền yêucầuTòa ánbảovệ quyền và lợi

ích hợp pháp; quyền của bị đơn; quyền của nguyên đơn…

– Các quyền conngườiởViệt Nam khôngchỉđượcpháp luậtbảođảm thực hiện mà còn được pháp luật bảo vệ thông qua các quy đình về các tội phạm xâm phạm các quyền conngườicơbảnghi nhận trongBộLuật Hìnhsựnăm 1999. Trong đó Chương XII Bộ Luật hình sự quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; Chương XIII quy định các tộixâm phạm quyềntựdo, dânchủcủacông dân.Bấtcứai xâm phạm các quyền cơbảncủacon người, căncứvàoBộluật hìnhsựvà Hiến phápđềubịTòa án nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xử lý nghiêm minh.

– Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 cũng có những quy định về quyền con người nhằmcụthể hóa Hiến pháp. Theo đó, các quyền con người cơ bảncủa

42

công dân phải được đảmbảomọi lúc, mọi nơi; các quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật luôn luôn phảiđược đảmbảotrong mọi hoàn cảnh; quyềnbấtkhả xâm phạmvề thân thể của công dânđược luônđược đảm

bảo;…, các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải có trách nhiệm trong việc tôn trọng và bảođảmcác quyền cơ bảncủa công dân khi tiến hànhtố

tụng,…;các quyền của các bị can, bị cáo, ngườibị tạmgiữ, tạm giam,… cũngđược đảm bảo đầy đủ theo quy định của pháp luật.

– Pháp luật của Nhà nước là hiện thực hóa đườnglốichính sáchcủaĐảng, trong công tác giáo dục nhân quyền, Nhà nước ta cũng có những quyđịnh nhằm thực thi quan điểm, chính sách của Đảng về vấnđề này:

+ Nghị quyếtsố90/UBTVQH11 ngày 21/3/2007 của Ủyban Thường vụ Quốc hội về kế hoạchthực hiện Nghị quyết số 48/NQ/TW ngày 24/5/2005 của BộChínhtrịvề Chiếnlược xây dựng và hoàn thiệnhệ thống pháp luật Việt Namđếnnăm 2010, định hướng đến năm 2020 (giaiđoạn2007 – 2012)đã xác địnhcông tác bảođảmnhân quyền và thực thi nhân quyền là một nhiệmvụquan trọngcầnthực hiện, theođó:“Xây dựng và hoàn thiện pháp luật vềbảo đảm quyềncon người, quyền tự do, dân chủ của công dân. Củng cốcơ sở pháp lý về trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, ban hành kịp thời, đồng bộ và tổ chức thực thi pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; hoàn thiệnchế độ bảo hộ

của Nhà nước đối với các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân…”

+ Nghị quyếtsố61/2007/NQ-CP của Chínhphủngày 07/12/2007vềviệc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32/CT/TW khẳng định chủ trương của Đảng và Nhà nước:“Tiếp tục quán triệt đầy đủ vàsâu sắc hơn nữa về ý nghĩa, vai trò, tầmquan trọngcủacông tác phổbiến, giáo dục pháp luật cho cánbộ,đảngviên và nhân dân theo đúng tinh thầnchỉthịsố32/CT/TW ngày 09

43

tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; xác định rõ phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng”.

– Mục tiêu giáo dục pháp luật của Kế hoạchsố160/KH-BGDĐT của BộGiáo dục và Đào tạo ngày 19/3/2009 về ban hành kế hoạch công tácphổbiến, giáo dục pháp luật năm 2009 của ngành giáo dục được xác định rõ các cơ sở giáodụcvàđàotạophải“chỉđạoviệc giảng dạy các kiến thức pháp luật trong chương trình môn học đạo đức, giáo dục công dân và các môn học có liên quan”, đặc biệt trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp phải “bổ sung nội dung pháp luật phù hợp vào chương trình giáo dục của tất cả các ngành đào tạo”, các vụ, cục, thanh tra, văn phòng, đơn vị thuộc Bộphải“tổchức xây dựng chương trình môn học Pháp luậtđạicương vàgiáo trình dùng chung cho các trườngđạihọc, caođẳngkhông chuyên

luật…; biên soạn giáo trình pháp luật dùng chođàotạotrungcấpchuyên

nghiệp…; biên soạn tài liệu hướng dẫn giáo viên đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy các kiến thức pháp luật trên cơsởkếtquảrà soátnộidung giáodụcpháp luật trong chương trình, sách giáo khoađạođức, giáodục

công dân và hoạtđộngngoàigiờlênlớp…”. Mục tiêu và nhiệmvụmà Kế hoạch 160/KH-BGDĐT đặt ra là cơ sở để các cấp giáo dục thực hiện tốt công tác giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục quyền con người nói riêng.

Những quyđịnhtrênđâyđã tạocơsởpháp lý vững chắc, là nềntảng cho hoạtđộngbảovệ và thúc đẩynhân quyền nói chung và hoạtđộnggiáo dục nhân quyền ở nước ta nói riêng. Cơ sở pháp lý của Nhà nước, quan điểm, chính sách của Đảng chính là những bảo đảm quan trọng cho hoạt động giáo dục nhân quyền trong phạm vi quốc gia nói chung, trong hệ thống các trườngđạihọc nói riêng. Vậycác trườngđạihọc ở nước ta đã sửdụng nhữngbảođảmđóvào công tác giáo dục nhân quyền như thế nào, có hiệu quả hay

44

không, đạtđược những thànhtựugì, còn nhữnghạnchế nào…? Tôi xin giải quyết thắc mắc này trong phần thực trạng giáo dục nhân quyền tronghệthống giáodục đại học ở nước ta dưới đây.

2.2. Thực trạng giáo dục nhân quyền trong hệ thống các trƣờngđại học ở Việt Nam hiện nay

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\GIÁO DỤC NHÂN QUYỀN TRONG HỆ THỐNG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Giáo dục nhân quyền trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Giáo dục nhân quyền trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Giáo dục nhân quyền trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Giáo dục nhân quyền trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Giáo dục nhân quyền trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Giáo dục nhân quyền trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Giáo dục nhân quyền trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *