Giáo dục kỹ năng phòng chống tệ nạn xã hội cho sinh viên

GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI CHO SINH VIÊN

GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI CHO SINH VIÊN

Chương 1: Cơ sở lý luận giáo dục kỹ năng phòng chống tệ nạn xã hội cho sinh viên

    1. Một số khái niệm

1.1.1.Giáo dục

Theo Dewey John (1997), Giáo dục là quá trình học tập và truyền lại kiến ​​thức và kỹ năng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Giáo dục có thể tồn tại ở nhiều dạng khác nhau: giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu, cũng như các chương trình giảng dạy chính thức của trường. Trong bối cảnh của một chương trình giáo dục chính quy, giáo dục là sự trao đổi giữa người học và giáo viên với mục đích hoàn thành bài giảng, khóa học và môn học. Giáo dục còn là hướng dẫn, định hướng giúp người học phát triển năng lực tư duy. Giáo dục tốt sẽ giúp mang lại những công dân tốt cho xã hội, trong khi giáo dục không có hiệu quả, giáo dục không đúng cách có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho thế hệ tương lai [1].

Giáo dục có những tính chất căn bản như:

Tính dân tộc: Giáo dục là kho báu quốc gia. Mỗi quốc gia có một lịch sử và văn hóa độc đáo, điều này ảnh hưởng đến cách thức giáo dục được cung cấp và các loại hình giáo dục hiện có. Tính dân tộc là một yếu tố quan trọng trong giáo dục, vì mục đích của giáo dục hay phương pháp giảng dạy đều phản ánh văn hóa của đất nước.

– Tính mục tiêu: Giáo dục được thiết kế để giúp sinh viên hoặc sinh viên đạt được mục tiêu nhất định trong học tập và trong cuộc sống. Những mục tiêu này có thể là việc đạt được kiến thức mới, phát triển kỹ năng hoặc trở thành một công dân có ý thức đạo đức.

– Tính đa dạng: Giáo dục có nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau, từ việc truyền đạt kiến thức đến việc khám phá và tìm hiểu. Nó cũng có thể được thực hiện trong nhiều môi trường khác nhau, bao gồm cả trong lớp học, trực tuyến hoặc trong tự nhiên.

– Khả năng thích nghi: Giáo dục giúp sinh viên hoặc sinh viên học cách thích nghi với thế giới xung quanh và các tình huống mới. Điều này bao gồm cả khả năng giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo và khả năng thích nghi với thay đổi.

– Tính hệ thống: Giáo dục là một hệ thống được thiết kế để cung cấp các kỹ năng, kiến thức và giá trị cho các thế hệ tương lai. Nó được quản lý và hướng dẫn bởi các chính sách giáo dục, các cơ quan quản lý giáo dục và các nhà giáo dục.

– Tính phổ biến và vĩnh hằng: Giáo dục là một phần quan trọng của tất cả các hình thái xã hội và trong suốt lịch sử. Việc chăm sóc, dạy dỗ, đào tạo con người, giúp truyền lại các giá trị xã hội cho thế hệ sau là vô cùng cần thiết. Những giá trị này bao gồm học hỏi về xã hội, văn hóa và tâm linh để giới trẻ có thể tham gia vào mọi mặt của đời sống xã hội. Đây là lý do tại sao giáo dục tồn tại và sẽ tiếp tục như vậy, bất kể bối cảnh xã hội hay lịch sử.

– Tính xã hội – lịch sử: Giáo dục có mối quan hệ với trình độ phát triển của xã hội và điều này được thể hiện rõ qua sự điều tiết của xã hội đối với giáo dục. Giáo dục nảy sinh trên một cơ sở kinh tế – xã hội nhất định nên phải chịu sự quy định của các quá trình xã hội trong xã hội đó. Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua những hình thái kinh tế – xã hội khác nhau nên các nền giáo dục tương ứng cũng khác nhau. Khi các quá trình xã hội thay đổi, xuất phát từ sự thay đổi về trình độ sản xuất, tính chất của quan hệ sản xuất xã hội dẫn đến sự thay đổi về chính trị – xã hội, tư tưởng và cơ cấu xã hội. Vì vậy, toàn bộ hệ thống giáo dục tương ứng với hình thái kinh tế – xã hội đó cũng phải thay đổi. Chẳng hạn, lịch sử loài người phát triển qua 5 giai đoạn và có 5 nền giáo dục tương ứng với 5 giai đoạn phát triển của xã hội, đó là giáo dục công xã nguyên thủy, giáo dục chiếm hữu nô lệ, giáo dục phong kiến, giáo dục tư bản chủ nghĩa và giáo dục xã hội chủ nghĩa.

Bản chất của giáo dục – nghĩa là không ngừng thích ứng với những nhu cầu thay đổi của xã hội – là một dấu hiệu cho sự phát triển của nó. Chính vì vậy, đổi mới giáo dục luôn là cần thiết để giáo dục luôn cập nhật và đáp ứng nhu cầu của giai đoạn hiện nay. Đây là lý do tại sao điều quan trọng là phải học hỏi từ các quốc gia và các giai đoạn khác để cải thiện giáo dục cho thế hệ của chúng ta.

– Tính giai cấp: Trong một xã hội có giai cấp, hiển nhiên giáo dục cũng sẽ mang tính giai cấp nhất định. Tính giai cấp của giáo dục là sự phản ánh lợi ích giai cấp của những người thực hiện nó. Nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền giáo dục đề cao dân chủ và nhân văn, nhằm giúp mọi thành viên trong xã hội trưởng thành và phát triển hài hòa. Nhà trường của chúng ta là công cụ của chế độ chuyên chính vô sản định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu chung là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho đất nước. Giáo dục tạo cơ hội và điều kiện để mọi người được học tập, phát triển toàn diện về nhân cách, trở thành những công dân tích cực, có cống hiến, những người lao động sáng tạo.

Như vậy, giáo dục là một quá trình học tập liên tục mà có thể xảy ra trong các cơ sở giáo dục truyền thống như trường học, đại học, trung tâm đào tạo, hoặc trong cộng đồng, với gia đình và những người xung quanh chúng ta. Bởi vậy mà người ta vẫn coi giáo dục và học tập là sự nghiệp cả đời. Giáo dục cũng có thể bao gồm việc phát triển kỹ năng cá nhân, như sự tự tin, khả năng tư duy, tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề. Đồng thời, quá trình giáo dục giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thế giới xung quanh, về chính mình và về những người xung quanh chúng ta, cũng như đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp chúng ta đạt được sự nghiệp và thành công trong cuộc sống.

GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI CHO SINH VIÊN
GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI CHO SINH VIÊN

1.1.2.Khái niệm kỹ năng sống

Theo Sommerville Kerry (2007), Kỹ năng là khả năng áp dụng kiến thức và hiểu biết của con người để thực hiện một cái gì đó, có thể là công việc kỹ thuật, tình cảm, chuyên môn, giao tiếp, sinh tồn, v.v. [2]

Theo WHO (1993): Kỹ năng sống là năng lực tâm lý xã hội,là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống. Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh. Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần và xã hội. Kỹ năng sống là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội này [32].  

Theo UNICEF (1995): Kỹ năng sống là khả năng phân tích tình huống và ứng xử, khả năng phân tích các ứng xử và khả năng tránh được các tình huống. Các kỹ năng sống nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức “cái chúng ta biết” và thái độ, giá trị “cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng” thành hành động thực tế “làm gì và làm cách nào” là tích cực nhất và mang tính chất xây dựng [32].

UNESO (2003) quan niệm: Kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày. Đó là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với tư cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hằng ngày [32].

Theo nhóm biên soạn tài liệu giáo dục kỹ năng sống của Vụ giáo dục thể chất mà chủ biên là Nguyễn Võ Kỳ Anh thì: “Kỹ năng sống là khả năng có được những hành vi thích nghi và tích cực, cho phép chúng ta xử trí một cách có hiệu quả các đòi hỏi và thử thách của cuộc sống thường ngày” ..[11, 3]

Phân tích các quan niệm trên cho thấy: quan niệm của WHO nhấn mạnh đến khả năng của cá nhân có thể duy trì trạng thái tinh thần và biết thích nghi tích cực khi tương tác với người khác và với môi trường của mình. Quan niệm này mang tính khái quát nhưng chưa thể hiện rõ các kỹ năng cụ thể. Quan niệm của UNESCO là quan niệm rất chi tiết, cụ thể, có nhấn mạnh thêm kỹ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ. Còn quan niệm của UNESCO nhấn mạnh rằng kỹ năng không hình thành, tồn tại một cách độc lập mà hình thành, tồn tại trong mối tương tác mật thiết có sự cân bằng với kiến thức và thái độ.

Kỹ năng mà một con người có được phần lớn cũng nhờ có được kiến thức như là chúng ta muốn có kỹ năng thương lượng thì phải biết nội dung thương lượng. Việc đề cập thái độ cũng là một góc nhìn hữu ích vì thái độ có tác động mạnh mẽ đến kỹ năng, nếu ta luôn có thái độ kỳ thị thì sẽ không thực hiện tốt kỹ năng biết thể hiện sự tôn trọng với người khác. Kỹ năng sống khuyến khích thái độ tích cực, phòng chống và giảm thiểu các hành vi nguy cơ. Nó giúp con người phát huy sức mạnh nội lực để có thể làm chủ được cuộc sống của mình và sống khỏe mạnh, hạnh phúc, có mục đích , có ý nghĩa.

Như vậy, có nhiều cách biểu đạt khái niệm kỹ năng sống với quan niệm rộng hẹp khác nhau tùy theo cách tiếp cận vấn đề. Trong đề tài này, tác giả dựa vào khái niệm của UNESCO để đưa ra khái niệm KNS vì theo tác giả khái niệm này phù hợp với việc nghiên cứu giáo dục KNS cho sinh viên THCS trong nhà trường: “KNS là khả năng đáp ứng và đối phó với những nhu cầu, thách thức của cuộc sống hằng ngày của mỗi người, và là khả năng cần thiết đối với sinh viên để các em có thể tự tin trong cuộc sống hàng ngày.”

1.1.3.Giáo dục kỹ năng sống

Giáo dục kỹ năng sống là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến sinh viên nhằm giúp sinh viên có những kiến thức về cuộc sống, có những thao tác, hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ xã hội, giúp cho nhân cách mỗi sinh viên được phát triển đúng đắn đồng thời thích ứng tốt nhất với môi trường sống.Việc giáo dục những kỹ năng cuộc sống chính là sự bổ sung về kiến thức và năng lực cần thiết cho các cá nhân thanh thiếu niên sinh viên để họ có thể hoạt động độc lập và giúp họ chủ động tránh được những khó khăn trong thực tế đời sống.

Đối với sinh viên, nhất là sinh viên bậc trung học cơ sở, giáo dục kỹ năng sống là môn học trang bị những tri thức giúp sinh viên hình thành những kỹ năng sống cần thiết, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của con người với môi trường sống. Thông qua hoạt động Giáo dục kỹ năng sống sẽ trang bị thêm cho sinh viên những kỹ năng tự chủ, kỹ năng từ chối, khả năng tự đưa ra quyết định và thích nghi, biết chấp nhận, hóa giải được những tác động tiêu cực trong cuộc sống chung quanh.

Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh thì Giáo dục kỹ năng sống là hoạt động giúp người học có khả năng về tâm lý xã hội để phán đoán và ra quyết định tích cực, nghĩa là để “nói không với cái xấu: [25,4]. Nhưng giáo dục KNS cho trẻ không phải là đưa ra những lời giải đơn giản cho những câu hỏi thông thường mà giáo dục KNS phải nhằm hướng đến thay đổi hành vi. Giáo dục KNS cho sinh viên là giáo dục những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội nhằm giúp các em có thể chuyển tải những gì mình đã biết (nhận thức), những gì mình cảm nhận (thái độ) và những gì mình quan tâm (giá trị) thành những khả năng thực thụ giúp sinh viên biết làm gì và làm như thế nào (hành vi) trong những tình huống khác nhau của cuộc sống [24,59].

Công tác giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên chỉ đạt được kết quả tốt khi nó có sự tác động đồng thời của các lực lượng giáo dục: Nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội.

Như vậy, giáo dục kỹ năng sống là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến sinh viên nhằm giúp sinh viên có những kiến thức về cuộc sống, có những thao tác, hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ xã hội như quan hệ của cá nhân với xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người chung quanh và của cá nhân với chính mình, giúp cho cá nhân mỗi sinh viên được phát triển đúng đắn đồng thời thích ứng tốt với môi trường sống.

1.1.4. TNXH và giáo dục phòng chống TNXH cho sinh viên

1.1.4.1. Khái niệm tệ nạn xã hội

Tệ nạn xã hội là một trong những biểu hiện của sai lệch chuẩn mực xã hội. Sai lệch chuẩn mực xã hội là hành vi không phù hợp với những chuẩn mực ứng xử của cộng đồng xã hội, đó là những hành vi không được cộng đồng chấp nhận. Sai lệch chuẩn mực xã hội có thể được hiểu là sự vi phạm các chuẩn mực hoặc các quy tắc xử sự chung đã được chấp nhận của một nhóm xã hội hay của một xã hội nhất định.

Theo từ điển Tiếng Việt, tệ nạn xã hội được định nghĩa là hiện tượng xã hội có tính phổ biến, lan truyền, biểu hiện bằng những hành vi lệch chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức, pháp luật hiện hành, trái với thuần phong mỹ tục, đi ngược lại tiến bộ xã hội, ảnh hưởng xấu đến lối sống là mạnh và gây hậu quả nghiêm trọng trong đời sống cộng đồng. Tệ nạn xã hội được coi là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến xuất hiện tội phạm, những đối tượng nguy hiểm cho xã hội. Tệ nạn xã hội cần phải được bài trừ trong cuộc sống của xã hội văn minh, tệ nạn xã hội bao gồm: mại dâm, nghiện ma tuý, cờ bạc, mê tín dị đoan, vv.

Tệ nạn xã hội là cơ sở phát sinh tình trạng phạm tội, là một trong những nguồn gốc của tội phạm. Phòng chống tệ nạn xã hội là nhiệm vụ của toàn xã hội, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, bằng những biện pháp đồng bộ, tích cực và triệt để.

Dưới góc độ pháp lý, tệ nạn xã hội được hiểu là hiện tượng tiêu cực có tính lịch sử cụ thể, biểu hiện bằng những hành vi vi phạm pháp luật và sai lệch các chuẩn mực, có tính lây lan, phổ biến, gây nguy hiểm cho xã hội và được quy định trong pháp luật hình sự, pháp luật hành chính và các chuẩn mực đạo đức xã hội.

Tệ nạn xã hội nguy hiểm cho xã hội, gây tâm trạng xã hội nặng nề. Tính chất nguy hiểm của tệ nạn xã hội thể hiện ở việc lây lan nhanh và gây ra thiệt hại về mọi mặt cho các quan hệ xã hội. Tệ nạn xã hội gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, văn hóa, đạo đức, tâm lý xã hội… gây bất ổn cho đời sống xã hội. Thiệt hại do tệ nạn xã hội đem lại có khi là những thiệt hại về vật chất có thể tính toán được, có khi là những thiệt hại về sức khỏe công đồng, về an toàn, an ninh xã hội, có khi là những thiệt hại khôn lường khó tính toán được (hậu quả về chính trị, văn hóa, tư tưởng, tổ chức), thậm chí nếu không được quan tâm giải quyết thỏa đáng sẽ làm tiêu mòn sinh lực xã hội. Tính phổ biến và lây lan nhanh nên tệ nạn xã hội nguy hiểm cho xã hội hơn nhiều so với một số hành vi vi phạm pháp luật ít có tính phổ biến và lây lan nhanh.[8]

1.1.4.2. Khái niệm phòng chống TNXH

Phòng chống TNXH là ngăn chặn, phòng chống TNXH và có biện pháp kiểm soát các hành vi liên quan hoặc có thể dẫn đến TNXH. Phòng chống là sử dụng các biện pháp quản lý với các mức độ khác nhau để kiểm soát các hoạt động, hiện tượng liên quan đến TNXH, thông qua nhiều hình thức từ đấu tranh phòng chống các biểu hiện tiêu cực từ cá nhân, tổ chức, gia đình và xã hội đến ngăn chặn phát sinh TNXH. [8]

Việc phòng chống có ý nghĩa lớn trong quản lý TNXH, đòi hỏi sự cộng đồng trách nhiệm các bên liên quan. Trách nhiệm đó thuộc về:

  • Cá nhân: Cá nhân nhận thức tốt công tác phòng chống TNXH sẽ giúp cho bản thân và những người xung quanh nhận diện được các loại TXNH đang tồn tại, có ý thức và hành vi đúng đắn để tránh xa các loại TNXH. Đồng thời, chính cá nhân là nhân tố tích cực trong việc đề phòng, ngăn chặn, tuyên truyền về tác hại xấu của TNXH cho những người xung quanh và cộng đồng.
  • Gia đình: Mỗi gia đình có ý thức phòng chống TNXH giúp gia đình ổn định, phát triển bền vững, góp phần cho sự phát triển lành mạnh của xã hội.
  • Các cơ quan, tổ chức: Nhận thức được vai trò trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong công tác ngừa TNXH sẽ có sự phối kết hợp trong công tác tuyên truyền, phối hợp, góp phần thành công công tác quản lý, giáo dục phòng chống TNXH.
  • Đối với xã hội: Thực hiện tốt công tác phòng ngựa TNXH, sẽ giảm thiểu những hậu quả nặng nề do TNXH gây ra, góp phần đem lại sự phát triển ổn định, bền vững, an toàn cho đời sống nhân dân, cho sự phát triển của đất nước.

Tóm lại, công tác phòng chống TNXH là trách nhiệm của mọi cá nhân, gia đình, cơ quan tổ chức và toàn xã hội.Sự kết hợp này mang tính liên hệ chặt chẽ mới có thể đem lại hiệu quả cao trong công tác quản lý TNXH hiện nay.

1.1.4.3. Khái niệm giáo dục phòng chống TNXH cho sinh viên

Hoạt động giáo dục phòng chống TNXH cho sinh viên có thể hiểu theo hai cấp độ:

– Theo cấp độ vĩ mô: Là loại hình giáo dục đặc thù của ngành Giáo dục nhằm thực hiện các chính sách, giải pháp, các công cụ chỉ đạo, tổ chức các hoạt động, điều phối các nguồn lực, triển khai các hình thức, nội dung, biện pháp tác động có hệ thống, có phương pháp, có chủ định đến các tổ chức giáo dục, nhà trường, đến các đối tượng sinh viên nhằm phòng chống, ngăn chặn các TNXH ảnh hưởng, nảy sinh, lan rộng trong sinh viên, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục, hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách người học trên tất cả các mặt đức, trí, thể, mĩ.

– Theo cấp độ vi mô: Hoạt động giáo dục là hoạt động của nhà giáo dục được tổ chức theo kế hoạch chương trình giáo dục nhằm hình thành nhân sinh quan, phẩm chất đạo đức, đồng thời bồi dưỡng thị hiếu thẩm mĩ và phát triển thể chất của sinh viên thông qua hệ thống tác động sư phạm tới tư tưởng, tình cảm, lối sống của sinh viên, kết hợp với các biện pháp giáo dục gia đình và xã hội phòng chống, ngăn chặn ảnh hưởng của các TNXH, các hành vi tiêu cực, sai lệch chuẩn mực xã hội nhằm phát huy mặt tốt, khắc phục mặt hạn chế, tiêu cực trong suy nghĩ và hành động của các em.

Hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động của thầy và hoạt động của trò, hai hoạt động này có sự gắn bó chặt chẽ, mật thiết với nhau. Những hoạt động này giúp cho sinh viên nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, có thái độ đúng đối với mọi người và bản thân, tạo sự miễn nhiễm đối với TNXH. Trong quá trình đó, sinh viên phát triển năng lực nhận thức, nắm được các yếu tố của văn hóa lao động trí óc và chân tay, hình thành những cơ sở thế giới quan và nhân sinh quan đúng đắn.

1.2. Quan điểm Đảng về phòng chống tệ nạn xã hội cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay

1.2.1.Quan điểm định hướng của Đảng về phòng chống tệ nạn xã hội

Trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước đã triển khai nhiều chủ trương, chính sách và biện pháp nhằm ngăn chặn, giảm thiểu các tệ nạn xã hội. Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đặt ra mục tiêu “Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh, phòng, chống tệ nạn xã hội”. Để thực hiện hiệu quả công tác này, Đảng quyết định cần “thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống tệ nạn xã hội, kiểm soát ma túy, mại dâm; tăng cường công tác phòng chống, đẩy mạnh cai nghiện tự nguyện, giảm cai nghiện bắt buộc; hỗ trợ người sau cai nghiện, mại dâm và nạn nhân buôn bán trở về hòa nhập cộng đồng”; “Kiên quyết xử lý nghiêm theo pháp luật các tệ nạn xã hội, các hành vi bạo lực, mua bán, xâm hại phụ nữ, trẻ em”.

Nếu nhìn vào thực tế, mặc dù đã có sự nỗ lực đồng bộ từ cấp ủy, chính quyền, các ngành và tầng lớp nhân dân, công tác phòng chống tệ nạn xã hội vẫn đối mặt với thách thức khi tình hình tệ nạn xã hội vẫn có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là trong bối cảnh tận dụng công nghệ cao, đặc biệt là qua không gian mạng (tuyên truyền, tổ chức, trao đổi, liên lạc…).

Tại các tọa đàm, đại biểu đã tổ chức đánh giá thực trạng công tác phòng chống tệ nạn xã hội từ các bộ, ngành và địa phương, đồng thời thảo luận về những vấn đề cụ thể và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Cục Phòng chống tệ nạn xã hội (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) báo cáo rằng hiện nay, tình trạng mại dâm trá hình, biến tướng trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự vẫn phức tạp. Mại dâm dưới hình thức “hợp đồng”, nhận con nuôi, bố nuôi (sugar baby – sugar daddy) ngày càng phổ biến. Các đối tượng sử dụng các phương tiện thông tin, mạng xã hội để mưu lợi, đăng hình ảnh tiếp thị, thỏa thuận địa điểm thực hiện hành vi mua bán dâm.

Về tệ nạn ma túy, tình hình vẫn phức tạp, gia tăng về số lượng và mức độ nguy hiểm, đặc biệt là với đối tượng sinh viên, sinh viên, nhân viên nhà hàng, khách sạn và lái xe. Điều này đặt ra thách thức lớn trong việc kiểm soát và giảm thiểu ảnh hưởng của ma túy đối với cộng đồng.

Ngoài ra, với sự hồi phục mạnh mẽ sau đại dịch COVID-19, nguy cơ mua bán người và đưa người lao động ra nước ngoài bất hợp pháp tăng cao, đặc biệt là thông qua mạng xã hội. Các đối tượng tận dụng thủ đoạn trực tuyến để dụ dỗ, lừa gạt, và tuyển mộ lao động Việt Nam sang các nước làm việc.

Chính phủ đã đưa ra nhiều biện pháp và quy định pháp luật để đối phó với những thách thức này. Chương trình phòng, chống mại dâm giai đoạn 2021-2025 và các thông tư, quyết định liên quan đã được ban hành để hướng dẫn triển khai công tác này. Ngoài ra, có các quy định mới về cai nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện, và quản lý ngân sách để hỗ trợ các hoạt động cai nghiện ma túy.

Tuy nhiên, vấn đề vẫn là thách thức, và đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các bộ, ngành và địa phương, cũng như sự tận tâm và quả cảm từ toàn bộ hệ thống chính trị và cộng đồng. Những biện pháp cần phải ngày càng linh hoạt và có hiệu quả cao hơn để đối mặt với sự biến động và sáng tạo của các tệ nạn xã hội trong thời đại ngày nay.

1.2.2. Quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác phòng, chống và kiểm soát tệ nạn trong tình hình mới

Trước hết, cần thiết lập sự đồng thuận trong quan điểm, mọi chính sách xã hội nên hướng đến việc xây dựng nền văn hóa mới và con người mới theo tinh thần xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu là lợi ích của con người trong cả ngắn hạn và dài hạn. Đầu tư cho văn hóa xã hội mang lại lợi ích to lớn, không chỉ về mặt kinh tế mà còn về giá trị tinh thần, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho mỗi sinh viên và cộng đồng.

Để đạt hiệu quả cao, cần phải thuyết phục mọi tầng lớp và ngành nghề, tập trung đầu tư cả về vật chất và tâm huyết vào việc xây dựng đời sống văn hóa mới, đặc biệt là ở cấp cơ sở như gia đình, tổ dân phố, và khu phố. Mục tiêu xây dựng đời sống văn hóa cơ sở cần được nghiên cứu sâu rộng, có định hướng cụ thể, và được triển khai theo từng chuyên đề, nội dung, và công việc cụ thể để đảm bảo tính hữu ích và thực hiện được.

Ngoài ra, cần tiếp tục thúc đẩy chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, và thể dục thể thao, nhằm khai thác mọi tiềm năng và thu hút nguồn lực để phát triển văn hóa-xã hội. Quá trình xã hội hóa không chỉ nhằm giảm gánh nặng cho Nhà nước mà còn nhằm kích thích sức sáng tạo và đóng góp tích cực từ cộng đồng.

Điều tra và quy hoạch phát triển văn hóa-xã hội cần được thực hiện một cách hợp lý, đặc biệt là tăng cường đầu tư vào cơ sở vật chất văn hóa ở cấp quận và tạo điều kiện cho phong trào văn hóa cơ sở phát triển mạnh mẽ. Đồng thời, giải quyết những vấn đề trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống văn hóa cơ sở và trật tự an ninh xã hội, thông qua nâng cao dân trí, thực hiện chính sách xã hội, và tăng cường giám sát và quản lý của Nhà nước.

Vấn đề cần được đặc biệt chú trọng là sự quan tâm và chỉ đạo thường xuyên của cấp ủy Đảng, sự tham gia của toàn xã hội, và vai trò quan trọng của các đoàn thể và cán bộ đảng viên để duy trì và phát triển phong trào văn hóa, đảm bảo an ninh trật tự và giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc.

1.3. Các văn bản pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội cho sinh viên, sinh viên hiện nay

1.3.1.Các văn bản về phòng chống TNXH

  • Pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội số 10/2003/PL-UBTVQH 11 ngày 17 tháng 3 năm 2003 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về phòng, chống mại dâm
  • Nghị định Số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình
  • Luật Số 67/2020/QH14 ngày 13/11/2020 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính
  • Luật số 73/2021/QH14 ngày 30/3/2021 phòng, chống ma túy
  • Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
  • Nghị định số 105/2021/NĐ-CP ngày 04/12/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật phòng, chống ma túy
  • Nghị định số 120/2021/NĐ-CP ngày 24/12/2021 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn
  • Thông tư số 124/2018/TT-BTC ngày 20/12/2018 Quy định về quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện hỗ trợ đối với người cai nghiện ma túy tự nguyện
  • Quyết định số 1452/QĐ-TTg ngày 31/8/2021 phê duyệt Chương tình phòng, chống ma túy giai đoạn 2021-2025
  • Nghị định số 62/2012/NĐ-CP ngày 13/8/2012 quy định căn cứ xác định nạn nhân bị mua bán và bảo vệ an toàn cho nạn nhân, người thân thích của họ
  • Thông tư số 35/2013/TT-BLĐTBXH ngày 30/12/2013 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định sô 09/2013/NĐ-CP ngày 11/01/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống mua bán người.
  • Thông tư số 84/2019/TT-BTC ngày 27/11/2019 quy định nội dung, mức chi cho công tác hỗ trợ nạn nhân và nội dung, mức chi chế độ hỗ trợ nạn nhân quy định tại Nghị định số 09/2013/NĐ-CP ngày 11/01/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống mua bán người
  • Quyết định số 525/QĐ-LĐTBXH ngày 05/5/2021 của Bộ LĐTBXH Ban hành Kế hoạch thực hiện công tác hỗ trợ nạn nhân bị mua bán giai đoạn 2021 – 2025 và định hướng 2030
  • Thông tư liên tịch số 24/2012/TTLT-BLĐTBXH-BNV-BTC ngày 22/10/2012 Quy định thành lập, giải thể, tổ chức hoạt động và chế độ chính sách đối với Đội Công tác xã hội tình nguyện tại xã, phường, thị trấn

1.3.2.Các văn bản về giáo dục phòng chống TNXH cho sinh viên, sinh viên

Xác định nội dung GD phòng chống TNXH cho SV trường cao đẳng, đại học là yêu cầu quan trọng của quá trình GD tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên bậc hiện nay. Nội dung giáo dục cần căn cứ vào tình hình anh ninh, trật tự, văn hóa xã hội thực tế tại các địa phương để lựa chọn và cần căn cứ vào các văn bản chỉ đạo của Nhà nước, phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với các thông tư hướng dẫn về quản lý giáo dục đạo đức, lối sống hiện hành để thực hiện, như: Nghị định số: 80/2017/NĐ-CP, ngày 17/7/2017 của Chính Phủ quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, chống bạo lực học đường; Quyết định số: 5886/QĐ-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngày 28/12/2017 về việc ban hành chương trình hành động phòng, chống TNXH trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên giai đoạn 2017-2021; Thông tư số 32/TT-BGDĐT của Bộ trưởng BGD&ĐT, ngày 15/9/2020 quy định về các hành vi sinh viên không được làm cũng như hướng dẫn khen thưởng và thi hành kỷ luật SV các trường trung học quy định tại điều 37, điều 38 của chương V của Thông tư này. Những nội dung sau cần quan tâm:

– Nâng cao nhận thức của sinh viên về tác hại của TNXH trong học đường; giúp sinh viên nhận diện các dấu hiệu của TNXH, hiểu được những nguyên nhân dẫn đến TNXH.

– Bồi dưỡng và rèn luyện cho sinh viên tính kỷ luật, tính tự giác, ý thức thức hiện nội quy, quy định của nhà trường, các quy định của pháp luật; Bồi dưỡng các kỹ năng tự bảo vệ bản thân và bạn bè khỏi nguy cơ vướng vào các loại TNXH.

– Phát huy và tự hào về những truyền thống tốt đẹp gia đình, nhà trường, làm mục tiêu phấn đấu trong hành động.

– Tạo không gian thân thiện để sinh viên vui chơi, giao lưu với bạn bè, rèn luyện thể chất qua hoạt động thể dục thể thao, sinh hoạt tập thể nhằm tạo các mối quan hệ gắn bó, đoàn kết và yêu thương bạn bè trong môi trường nhà trường.

Trong quá trình thực hiện, cần vận dụng các nội dung hoạt động cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng lớp, từng trường, từng địa phương, phù hợp với khả năng thế mạnh của đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên và sinh viên trong tổ chức các nội dung hoạt động.

Nội dung hoạt động giáo dục phòng chống TNXH chú trọng đến sự linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm tâm-sinh lý lứa tuổi, với năng lực, hứng thú, nguyện vọng của các em tránh giáo dục theo kiểu giáo điều, mệnh lệnh không phù hợp với lứa tuổi sinh viên .

Nội dung giáo dục GDPN TNXH là nội dung giáo dục có tính kết hợp vừa hình thành và phát triển nhân cách cho sinh viên vừa góp phần hình thành tư tưởng, chuẩn mực đạo đức xã hội, nếp sống lành mạnh, phòng tránh và có bản lĩnh để không bị vướng vào TNXH cho sinh viên.

1.4. Nội dung hoạt động giáo dục phòng chống tệ nạn xã hội cho sinh viên các trường trung học phổ thông

      1. 1.4.1. Mục tiêu hoạt động giáo dục phòng chống TNXH cho sinh viên

Các nhà nghiên cứu giáo dục học và xã hội học đều khẳng định: phòng chống các tệ nạn xã hội cho học sinh chính là làm cho môi trường giáo dục trong sạch, lành mạnh vì sự phát triển của nhà trường cũng như sự phát triển xã hội, đồng thời, sự tồn tại và phát triển của giáo dục luôn luôn chịu sự chi phối của trình độ phát triển xã hội. Điều đó có nghĩa là không thể tách rời giáo dục khỏi đời sống xã hội, giáo dục có bản chất xã hội và là sự nghiệp của toàn xã hội. Chỉ có sự tham gia của toàn xã hội mới đảm bảo cho giáo dục phát triển có chất lượng và hiệu quả trong công tác phòng ngừa tệ nạn xã hội của nhà trường. Vì thế, để công tác phòng chống tệ nạn xã hội xâm nhập vào trong nhà trường, vào sinh viên có hiệu quả thì nhà trường với tư cách là một thể chế giáo dục chuyên nghiệp cần đưa ra các biện pháp giáo dục kết hợp với các lực lượng giáo dục trong cộng đồng như cha mẹ sinh viên, các tổ chức đoàn thể, chính quyền, xã hội…

Vì vậy, mục tiêu cơ bản và xuyên suốt hoạt động giáo dục phòng chống tệ nạn xã hội cho sinh viên là giáo dục sinh viên biết cách nhận biết các tệ nạn xã hội từ đó các kỹ năng phòng chống. Bên cạnh đó để giáo dục, phòng chống các tệ nạn xã hội cho học sinh là cần huy động toàn xã hội tham gia vào công tác giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nhà trường, bảo vệ học sinh tránh xa khỏi những tệ nạn xã hội.

Sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với cộng đồng cũng nhằm phát huy cao độ tiềm lực của cộng đồng, khơi dậy tính chủ động, tích cực, sự năng động của mọi tầng lớp nhân dân tạo ra những nguồn lực phong phú đa dạng để thúc đẩy sự nghiệp giáo dục của nhà trường phát triển nhanh mạnh và vững chắc, phục vụ kịp thời những yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương và đất nước. Cùng với đó, sự phối hợp giữa hai lực lượng này cũng để xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế, các tầng lớp nhân dân và của từng sinh viên đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế – xã hội lành mạnh thuận lợi trong giáo dục sinh viên.

Huy động các lực lượng xã hội tham gia đấu tranh, ngăn ngừa tệ nạn xã hội, bảo vệ học sinh là con đường để thực hiện dân chủ hoá giáo dục. Nhằm biến hệ thống giáo dục từ một thiết chế hành chính cô lập thành một thiết chế giáo dục của dân, do dân, vì dân. Khi giáo dục không còn bó hẹp trong giới hạn trách nhiệm của nhà trường, thì vai trò và sự tham gia của các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể, các tổ chức quần chúng và các lực lượng xã hội sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh không khí dân chủ trong giáo dục, tạo thêm động lực để nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường, những tiêu cực, tồn tại trong giáo dục cũng được hạn chế, môi trường giáo dục trở nên trong sạch và lành mạnh hơn.

Phối hợp với các lực lượng xã hội trong đấu tranh phòng ngừa tệ nạn xã hội còn nhằm mục đích mở cửa nhà trường với xã hội bên ngoài, tạo sự gắn bó giữa nhà trường với xã hội, để nhân dân có thể xây dựng, giám sát kiểm tra nhà trường trong giáo dục học sinh.

      1. 1.4.2. Nội dung hoạt động giáo dục phòng chống TNXH cho sinh viên

Nội dung của giáo dục phòng chống TNXH rất đa dạng và phong phú. Căn cứ vào hư­ớng dẫn của Bộ GD&ĐT, tình hình cụ thể của mỗi trường, thực tiễn từ mỗi địa ph­ương, tùy thuộc vào mỗi loại hình trường… có thể tiến hành giáo dục phòng chống TNXH theo những nội dung chính sau:

– Cung cấp kiến thức về giáo dục phòng chống TNXH cho sinh viên .

– Hình thành kỹ năng phòng chống TNXH cho sinh viên .

– Hình thành thái độ đối với công tác giáo dục phòng chống TNXH cho sinh viên

      1. 1.4.3. Phương pháp và hình thức hoạt động giáo dục phòng chống TNXH cho sinh viên

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\BÀI ĐẠI HỌC\KHO SỐ 1\Giáo dục kỹ năng phòng chống tệ nạn xã hội cho sinh viên

Giáo dục kỹ năng phòng chống tệ nạn xã hội cho sinh viên Giáo dục kỹ năng phòng chống tệ nạn xã hội cho sinh viên Giáo dục kỹ năng phòng chống tệ nạn xã hội cho sinh viên Giáo dục kỹ năng phòng chống tệ nạn xã hội cho sinh viên

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *