Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại theo pháp luật

Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại theo pháp luật

“Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đang được đổi mới và ngày càng phát triển, đặc biệt khi nước ta đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)… các quan hệ kinh doanh, thương mại (KDTM) ngày càng đa dạng, phong phú và mang những diện mạo sắc thái mới. Tương ứng với sự đa dạng phong phú của các quan hệ này, các tranh chấp kinh doanh, thương mại (TCKDTM) cũng phát sinh ngày càng muôn màu, muôn vẻ và với số lượng lớn là điều không tránh khỏi. Do đó, khi có những bất đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh doanh thương mại thì việc lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp nào vừa đảm bảo có lợi cho doanh nghiệp, thương nhân như giảm được chi phí giải quyết thấp nhất, thời gian giải quyết nhanh nhất, vừa duy trì được mối quan hệ làm ăn là việc mà các doanh nghiệp, thương nhân cần cân nhắc thận trọng.

Trong kinh doanh, giữa các doanh nghiệp, thương nhân luôn phải có sự liên kết với nhau để cùng nhau mang lại lợi nhuận, thông thường doanh nghiệp, thương nhân ký kết với nhau hợp đồng nhằm xác định quyền và nghĩa vụ trong kinh doanh, thương mại.

Theo quy định pháp luật thì các bên phải thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ đã giao kết trong hợp đồng. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải lúc nào các chủ thể cũng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, các tranh chấp về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh, thương mại là khó có thể tránh khỏi. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia hợp đồng, cũng như tạo điều kiện hoạt động đồng bộ cho toàn bộ nền kinh tế, các tranh chấp đó cần phải được giải quyết kịp thời, đúng đắn. Về nguyên tắc khi tranh chấp trong kinh doanh, thương mại xảy ra, để đảm bảo nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận trong kinh doanh, pháp luật cho phép các bên gặp nhau tự bàn bạc tìm cách giải quyết. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau và có yêu cầu thì tranh chấp kinh doanh, thương mại được giải quyết tại Trọng tài, theo tố tụng trọng tài hoặc tại Tòa án nhân dân, theo thủ tục tố tụng quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS).

Đối với Việt Nam các đương sự thường lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng Toà án sau khi thương lượng, hoà giải không thành. Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp bằng con đường Toà án vẫn còn nhiều vấn đề đáng quan tâm đó là: Vướng mắc từ phía pháp luật chưa phù hợp, dẫn đến việc áp dụng không đạt được tính thuyết phục; hướng dẫn của ngành không thống nhất, quan điểm giải quyết không thống nhất giữa các cấp giải quyết, điều đó làm cho hoạt động xét xử của Toà án gặp nhiều khó khăn vướng mắc. Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài ngiên cứu với chủ đề “Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng”. Thông qua Luận văn này bạn đọc có cái nhìn rõ hơn về vấn đề nêu trên.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

– Mục đích nghiên cứu của Đề tài là trên cơ sở nghiên cứu lý luận, phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn, nắm rõ các đặc điểm của hình thức giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.

– Biết được trình tự giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.

– Phân tích và rút ra được các ưu và nhược điểm của hình thức tố tụng dân sự Tòa án Việt Nam về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.

Để đạt được các mục đích này, Đề tài có các nhiệm vụ sau đây:

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật kinh doanh thương mại. Làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý về tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.

– Giúp người đọc và các doanh nghiệp hiểu được quy trình, cách thức thực hiện của tố tụng dân sự Tòa án về giải quyết các tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại để có thể ứng dụng vào thực tiễn khi có phát sinh tranh chấp.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Đề tài này là công tác giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và các vấn đề liên quan đến Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật tố tụng dân sự và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2013; đồng thời đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả trong công tác giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của Đề tài này là tìm hiểu các qui định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và các qui định của pháp luật có liên quan trên địa bàn thành phố Đà Nẵng qua các năm từ năm 2012 đến năm 2016.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Phương pháp luận của Đề tài dựa trên lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta trong công tác giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Để đạt được những mục tiêu trên thì một số phương pháp đã được áp dụng và được tổng hợp để nghiên cứu đề tài là:

– Phương pháp thực tiễn, tổng hợp đánh giá và nhận định các vấn đề liên quan;

– Phân tích tài liệu, thông tin về Luật Thương mại và thông tin thông qua các vụ án cụ thể tại Tòa án nhân cấp cao tại Đà Nẵng;

– Phương pháp xã hội học pháp luật và luật học so sánh cũng được sử dụng để làm rõ những kết luận, đánh giá thực tiễn.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Đề tài đã khái quát được lịch sử hình thành và quá trình hoàn thiện của công tác giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.

Tại Chương 2 và Chương 3 của Đề tài trên cơ sở lý luận tác giả đã nghiên cứu và phân tích công tác giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam (từ năm 2012 đến năm 2016). Những kết quả nghiên cứu của Đề tài sẽ góp phần giúp các cơ quan tiến hành tố tụng tại thành phố Đà Nẵng nói riêng và các thành phố khác có điều kiện tương tự nói chung có thêm những cơ sở khoa học để từ đó thực hiện tốt hơn các nội dung trong công tác giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam từ thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu trong luận văn này sẽ là một tài liệu làm cơ sở cho các cơ sở đào tạo, nghiên cứu pháp luật sử dụng tham khảo trong quá trình học tập, nghiên cứu, giảng dạy. Đề tài có thể được các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Tòa án, vận dụng trong quá trình giải quyết vụ án đối với các vụ án tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có cơ cấu gồm 3 Chương:

+ Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.

+ Chương 2: Thực tiễn giải quyết, xét xử các vụ án kinh doanh thương mại trong thời gian qua của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

+ Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

HỢP ĐỒNG KINH DOANH, THƯƠNG MẠI THEO

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

    1. 1.1. Khái niệm tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại

Hiện nay, ở Việt Nam chưa có cách hiểu chuẩn xác và thống nhất về khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại (TCKDTM). Việc xác định phạm vi của tranh chấp được coi là TCKDTM chủ yếu căn cứ vào các qui định của pháp luật.

Tuy còn nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm TCKDTM, song nhiều nhà hoa học đã đưa ra khái niệm như sau:

Tranh chấp kinh doanh, thương mại là những bất đồng, xung đột, mâu thuẫn hay bất đồng chính kiến chủ yếu về lợi ích kinh tế, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể có liên quan đến lĩnh vực hợp đồng kinh doanh thương mại hoặc các hoạt động kinh tế khác được pháp luật qui định là tranh chấp kinh tế, thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan tài phán kinh tế.

Qua đó, chúng ta có thể hiểu TCKDTM là một dạng tranh chấp kinh tế được hiểu là sự bất đồng chính kiến hay xung đột về quyền, nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư, các doanh nghiệp với tư cách là chủ thể kinh doanh; là những phát sinh trong các khâu từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi phát sinh trong cả quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội.

Tranh chấp kinh doanh, thương mại có các loại như sau:

– Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.

– Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận .

– Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, sáp nhập, giải thể, chuyển đổi hình thức tổ chức …

– Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định.

    1. Khái niệm giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại

Tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại là hệ quả tât yếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh. Do đó, giải quyết các tranh chấp phát sinh dược coi là đòi hỏi tự thân của các quan hệ kinh tế. Theo hiểu biết chung, giải quyết tranh chấp trong kinh doanh là việc lựa chọn các hình thức, biện pháp thích hợp để giải tỏa các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các bên, tạo lại sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được.

Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường phải đáp ứng các yêu cầu:

– Nhanh chóng, thuận lợi, không làm hạn chế, cản trở các hoạt động kinh doanh.

– Khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên trong kinh doanh.

– Giữ bí mật kinh doanh, uy tín của các bên trên thương trường.

– Kinh tế nhất (ít tốn kém nhất).

    1. 1.2. Đặc điểm pháp lý và các yêu cầu của quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo tố tụng dân sự

– Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại là các vấn đề do các bên tranh chấp tự định đoạt.

– Các bên tranh chấp thương mại thường là chủ thể kinh doanh có tư cách thương nhân hoặc tư cách doanh nghiệp.

– Tranh chấp kinh doanh, thương mại là những tranh chấp mang yếu tố vật chất và thường có giá trị lớn.

Đặc điểm của phương thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án là:

– Phán quyết của Toà án được bảo đảm thi hành bằnh sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.

– Việc giải quyết tranh chấp của Toà án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định mang tính hình thức của pháp luật tố tụng.

– Toà án xét xử theo nguyên tắc công khai.

– Việc giải quyết tranh chấp thông qua quyết định của Toà án có thể qua nhiều cấp độ xét xử. Nguyên tắc này đảm bảo cho quyết định của Toà án được chính xác, công khai, khách quan và đúng pháp luật.

– Toà án giải quyết các tranh chấp theo nguyên tắc xét xử tập thể và theo nguyên tắc đa số.

    1. 1.3. Những nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng tố tụng Tòa án

1.3.1. Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự

1.3.2. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật

1.3.3. Nguyên tắc Tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập chứng cứ

1.3.4. Nguyên tắc hòa giải

1.3.5. Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời

    1. 1.4. Thẩm quyền của các cấp Tòa án tại Việt Nam

1.4.1. Thẩm quyền chung của các cấp Tòa án

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại là quyền và nghĩa vụ của Tòa án nhân dân. Trong hệ thống Tòa án nhân dân, Tòa kinh tế là Tòa chuyên trách có nhiệm vụ và chức năng giải quyết, xét xử các vụ án kinh doanh, thương mại.

Khi xảy ra một tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại, cần xác định rõ nó thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nào, cấp nào. Việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế có ý nghĩa quan trọng trong việc thụ lý, chuẩn bị hồ sơ và giải quyết tranh chấp kinh tế cũng như thi hành quyết định, bản án của Tòa án.

Thẩm quyền của Tòa án là phạm vi quyền hạn của Tòa án trong việc thực hiện pháp luật mà trọng tâm là công tác xét xử các loại vụ án theo quy định của pháp luật.

Thẩm quyền của Tòa án còn là sự phân định quyền hạn giữa Tòa án nhân dân và các cơ quan chức năng khác trong hệ thống các cơ quan Nhà nước.

Qua đó, thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM được hiểu là: Thẩm quyền của Tòa án là phạm vi giới hạn hoạt động của Tòa án và quyền năng pháp lý của Tòa án có mối liên quan chặt chẽ với nhau bao gồm thẩm quyền xét xử, phạm vi, giới hạn xét xử và quyền hạn quyết định của Tòa án.

1.4.2. Thẩm quyền thụ lý theo vụ, việc của Tòa án

1.4.2.1. Những tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

1.4.2.2. Những yêu cầu về kinh doanh, thương mại thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1.4.3. Thẩm quyền thụ lý theo lãnh thổ

Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ được xác định:

– Thứ nhất: Nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở.

– Thứ hai: Theo sự lựa chọn của đương sự.

– Thứ ba: Đối với tranh chấp bất động sản thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi có bất động sản.

“Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
“Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

1.4.4. Thẩm quyền thụ lý theo sự lựa chọn của các bên đương sự

Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn là giới hạn do luật định cho các chủ thể trong việc lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết TCKDTM. Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn là hình thức pháp luật đưa ra các quy định về các Tòa án có thẩm quyền giải quyết và nguyên đơn được lựa chọn theo ý chí của mình. Thực chất của thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn là ngoại lệ của những quy tắc chung về thẩm quyền.

    1. 1.5. Trình tự thủ tục tố tụng giải quyết, xét xử tranh chấp bằng Tòa án theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

1.5.1. Thủ tục xét xử theo trình tự sơ thẩm

1.5.1.1. Khởi kiện và thụ lí vụ án

1.5.1.2. Hoà giải và chuẩn bị xét xử

1.5.1.3. Phiên toà sơ thẩm

1.5.2. Thủ tục xét xử theo trình tự phúc thẩm

1.5.2.1. Kháng cáo, kháng nghị

1.5.2.2. Chuẩn bị xét xử phúc thẩm

1.5.2.3. Phiên toà phúc thẩm

1.5.3. Những trình tự đặc biệt (thủ tục rút gon, giám đốc thẩm, tái thẩm)

1.5.3.1. Thủ tục giám đốc thẩm

1.5.3.2. Thủ tục tái thẩm

CHƯƠNG 2

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT, CÁC VỤ ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI ĐÀ NẴNG

    1. 2.1. Vai trò, vị trí và thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị; giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TAND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng.

Trong đó, phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng là 12 tỉnh Duyên Hải, Miền Trung và Tây Nguyên, gồm có: Quảng Bình, Quảng Trị, Thửa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Kon Tum, Gia Lai và Đăk Lăk.

    1. Thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

Xuất phát từ thực tiễn trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thì thấy một trong những vấn đề bất cập, gây khó khăn, vướng mắc thường gặp và có nhiều quan điểm, hay cách hiểu khác nhau: Đó là việc xác định thẩm quyền, việc xác định tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty liên quan đến hoạt động của công ty, việc xác định người tham gia tố tụng, việc xác minh, thu thập chứng cứ không đầy đủ, việc phạt do vi phạm hợp đồng…. của Tòa án trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại.

Thực tiễn xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về kinh doanh, thương mại không hề dễ dàng bởi các lý do sau:

– Tùy từng thời kỳ phát triển khác nhau mà cơ quan lập pháp quy định một số quan hệ xã hội cần được điều chỉnh bằng quy phạm kinh doanh thương mại;

– Một số quan hệ xã hội khác thì chưa nên không phải cứ có tranh chấp sẽ dễ dàng xác định được quan hệ pháp luật tranh chấp về kinh doanh, thương mại;

– Cùng một quan hệ xã hội nhưng lại thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau;

– Một số văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành về kinh doanh thương mại có quy định phạm vi các giao dịch thuộc phạm vi điều chỉnh nhưng lại quy định một cách chung chung, mang tính mở;

– Một số trường hợp do văn bản quy phạm pháp luật nội dung về kinh doanh thương mại không xác định rõ giao dịch thuộc phạm vi điều chỉnh của mình nên để xác định cần dựa vào luật tố tụng (BLTTDS).

2.1.1. Về xác định thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Khác với việc xác định các quan hệ tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình và lao động chủ yếu dựa vào luật nội dung, sau đó đối chiếu với quy định về thẩm quyền theo vụ việc do BLTTDS quy định để xác định tranh chấp nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về kinh doanh, thương mại lại dựa vào quy định của luật tố tụng.

Về thẩm quyền theo cấp Tòa án, sau khi xác định được tranh chấp kinh doanh thương mại bên trên đối chiếu với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 33 và điểm a khoản 1 Điều 34 BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 để xác định. Theo đó, tất cả các tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 29 đều thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện. Những tranh chấp thuộc các khoản 2, 3 và 4 Điều 29 và trường hợp có đương sự, tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh.

Đối với thẩm quyền của các Tòa chuyên trách thuộc TAND cấp tỉnh, dựa vào quy định của BLTTDS và điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP thì Toà kinh tế có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại Điều 29 của BLTTDS; các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh, nhưng đều có mục đích lợi nhuận.

Mặc dù, quy định của pháp luật tố tụng dân sự về tranh chấp kinh doanh thương mại cũng như thẩm quyền của Tòa án đối với loại tranh chấp này tương cụ thể nhưng qua thực tiễn áp dụng đã phát sinh một số vướng mắc, bất cập.

2.1.2. Việc xác định tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty liên quan đến hoạt động của công ty

Mặc dù, khoản 3 Điều 29 BLTTDS đã quy định “tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty” là tranh chấp kinh doanh thương mại và tiểu mục 3.5. mục 3 Phần I Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP có hướng dẫn rõ qua việc liêt kê các tranh chấp được xác định là “tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty” và “tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau”. Tuy nhiên, cuối mỗi hướng dẫn liệt kê đều quy định thêm “về các vấn đề khác giữa các thành viên của công ty liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty”. Việc không giải thích rõ thế nào là các vấn đề khác liên quan đến hoạt động của công ty trong khi hoạt động của công ty rất đa dạng dẫn đến khó khăn trong thực tiễn áp dụng.

2.1.3. Về phạm vi xét xử và án phí của Tòa án về tranh chấp kinh doanh thương mại

Một sai sót nữa cũng thường gặp trong quá trình giải quyết TCKDTM đó là phạm vi xét xử của Tòa án. Tòa án chỉ giải quyết theo yêu cầu của Đơn khởi kiện của đương sự, không được vượt quá mức yêu cầu, trừ khi đương sự có yêu cầu bổ sung trên cơ sở xem xét tính đúng dắn theo qui định pháp luật và phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.

Về tiền tạm ứng án phí khi có yêu cầu phản tố. Trong vụ án khi có một trong các bên có yêu cầu phản tố thì Tòa án phải thông báo cho đương sự đó nộp tiền tạm ứng án phí và chỉ khi đương sự đó xuất trình Biên lai nộp tiền tạm ứng án phí thì Tòa án mới chấp nhận để xem xét giải quyết trong cùng một vụ án để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của các bên đương sự.

2.1.4. Về xác định thiếu người tham gia tố tụng và thu thập chứng cứ không đầy đủ của Tòa án trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Một vấn đề nữa cũng thường gặp trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án nếu không xem xét kỹ và thận trọng thì cũng dễ dẫn đến bị hủy án; đó là vấn đề xác định tư cách người tham gia tố tụng và xác minh, thu thập chứng cứ.

2.1.5. Về áp dụng phạt vi phạm hợp đồng của Tòa án trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Trong công tác giải quyết án kinh doanh, thương mại, vấn đề chế tài phạt vi phạm hợp đồng cũng thường gặp. Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 (tại Điều 422) và Luật Thương mại 2005 (Điều 300 và 307) thì bên vi phạm hợp đồng chỉ phải chịu phạt vi phạm nếu các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm hợp đồng. Đồng thời theo quy định tại Điều 301 Luật Thương mại 2005 thì mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận nhưng tổng mức phạt không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp vi phạm Hợp đồng dịch vụ giám định. Như vậy mức phạt hợp đồng theo quy định của Luật thương mại năm 2005 trên tinh thần là tự do thỏa thuận nhưng lại bị đặt trong hai mức giới hạn.

Thứ nhất là đặt dưới mức mức phạt 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm.

Thứ hai là mức phạt được tính trên giá trị hợp đồng bị vi phạm.

    1. 2.2. Đánh giá thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật qua thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

2.2.1. Ưu điểm và nhược điểm của việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại bằng tố tụng Tòa án theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

Trong quá trình tiến hành hoạt động thương mại, các bên tham gia (chủ yếu là các thương nhân, tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh) khó tránh khỏi những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ cụ thể. Khi có tranh chấp xảy ra, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình các bên đều muốn giải quyết tranh chấp nhanh chóng, thuận lợi, có hiệu quả và không ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh của mình.

So với các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại khác, giải quyết tranh chấp thương mại tại Toà án theo pháp luật tố tụng dân sự có một số ưu điểm và một số hạn chế sau:

* Về ưu điểm:

+ Cơ quan Thi hành án là một cơ quan chuyên trách và có đầy đủ bộ máy, phương tiện để thi hành các bản án đã có hiệu lực pháp luật.

+ Khi giải quyết tranh chấp tại Toà án, việc giải quyết có thể qua nhiều cấp xét xử, vì thế nguyên tắc nhiều cấp xét xử bảo đảm cho quyết định của Toà án được chính xác, công bằng, khách quan và đúng với pháp luật.

+ Ngoài ra, ta còn thấy thẩm quyền giải quyết của Toà án được mở rộng đến tất cả các ngành kinh tế.

+ Với điều kiện thực tế ở Việt Nam hiện nay, chi phí cho việc giải quyết tranh chấp kinh tế tại Toà án thấp hơn rất nhiều so với việc nhờ đến các tổ chức Trọng tài thương mại hay Trọng tài quốc tế.

* Về hạn chế:

+ Đầu tiên, khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Toà án, các bên phải nắm rõ đươc bản chất, vì việc giải quyết tranh chấp của Toà án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định mang tính hình thức của pháp luật tố tụng, và đặc điểm này đôi khi có thể gây trở ngại cho các bên tranh chấp vì tính chất của hoạt động kinh doanh, thương mại đòi hỏi mọi thủ tục phải rất linh hoạt và mềm dẻo.

+ Một vấn đề nữa của Toà án, đó là nguyên tắc xét xử công khai. Điều này xuất phát từ bản chất của hoạt động xét xử là bảo vệ pháp chế và duy trì công lý đã được pháp luật quy định, xã hội thừa nhận. Mặt khác, hoạt động xét xử công khai của Toà án còn có tác dụng răn đe, cảnh cáo những hành vi vi phạm pháp luật.

+ Mặc dù nguyên tắc xét xử nhiều cấp đảm bảo cho quyết định của Toà án là chính xác, công bằng. Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng sẽ khiến cho vụ việc có thể bị kéo dài, xử đi xử lại nhiều lần, gây bất lợi cho đương sự, nhất là những tranh chấp kinh tế có giá trị lớn đòi hỏi phải giải quyết nhanh chóng, dứt điểm.

+ Khả năng tác động của các bên trong quá trình tố tụng rất hạn chế, đôi lúc nó không thể hiện được hết nguyện vọng của các bên tranh chấp.

+ Các Tòa án luôn bị quá tải công việc, điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng xét xử và làm cho vụ án bị kéo dài.

+ Các Thẩm phán của Tòa án không phải bao giờ cũng chuyên về các vấn đề kinh doanh, thương mại và đủ các kiến thức để giải quyết các tranh chấp đó một cách chuyên nghiệp…

+ Là một thiết chế quyền lực và mặc nhiên hoạt động trong một quốc gia có chủ quyền, Tòa án thường bị chi phối về tính độc lập của nó bởi sự tác động từ nhiều phía.

+ Tính quốc tế của Tòa án không cao.

2.2.2. Một số vấn đề vướng mắc trong quá trình giải quyết, xét xử tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại tại địa phương trong thời gian qua.

2.2.2.1. Vấn đề xác định thẩm quyền giải quyết, xét xử tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại.

2.2.2.2. Vấn đề áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong thực tiễn giải quyết, xét xử tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại

“Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
“Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 3

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

    1. 3.1. Nhu cầu và định hướng hoàn thiện

Mục đích của việc hoàn thiện pháp luật về giải quyết các tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại của Tòa án là nhằm đáp ứng và bảo vệ được quyền tự do kinh doanh, ổn định và định hướng phát triển quan hệ kinh tế phát triển phù hợp với điều kiện của Việt Nam, bắt kịp với những tiến bộ của xã hội, nhằm đưa nền kinh tế đất nước phát triển đúng hướng của những quy luật vốn có của cơ chế thị trường đồng thời phù hợp và phát huy được những đặc điểm riêng có của đời sống kinh tế của thực tiễn các quan hệ kinh doanh ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Việc hoàn thiện pháp luật về những vấn đề có liên quan đến Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM cần đáp ứng những yêu cầu:

Một là, đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế thị trường trong bối cảnh cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền của Việt Nam.

Hai là, bảo được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

Ba là, đảm bảo sự đồng bộ giữa pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng nhằm đảm bảo hiệu lực của pháp luật tố tụng trong giải quyết tranh chấp.

    1. 3.2. Một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết, xét xử tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại

3.2.1. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết, xét xử tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại

3.2.1.1. Về nguyên tắc khởi kiện

Cũng như các hoạt động tố tụng khác, trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại, Tòa kinh tế phải tuân theo các nguyên tắc chung về tố tụng được quy định trong Hiến pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân. Việc thực hiện những nguyên tắc này nhằm mục đích đảm bảo cho hoạt động xác minh thu thập chứng cứ, xét xử của Tòa án chặt chẽ hơn. Tuy nhiên trong thực tế không phải lúc nào việc áp dụng các nguyên tắc của tố tụng Tòa án cũng đảm bảo thực hiện, vì vậy có một số điểm cần phải sửa đổi bổ sung để phù hợp với thực tiễn hơn.

Việc quy định đương sự khi có đơn khởi kiện vụ án kinh doanh, thương mại tại Tòa án phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình, trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán mới tự mình thu thập chứng cứ hoặc trong các trường hợp khác mà pháp luật có quy định. Quy định như vậy là phù hợp, song việc áp dụng nguyên tắc này trên thực tế gặp nhiều khó khăn.

3.2.1.2. Về việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Các quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật Tố tụng Dân sự hiện nay đã đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn giải quyết tranh chấp là tính nhanh chóng và sự bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của họ. Việc vận dụng các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thực tiễn cũng đặt ra những vấn đề, đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền cần phải tiếp tục nghiên cứu, hướng dẫn bổ sung.

Về thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, căn cứ hủy bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Trong trường hợp sau khi xét xử sơ thẩm, đương sự kháng cáo bản án đồng thời có đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT.

Vì vậy, để xác định rõ vấn đề thẩm quyền của Tòa án cấp nào trong việc xem xét yêu cầu áp dụng BPKCTT, Bộ luật TTDS cần thiết bổ sung những quy định rõ ràng, cụ thể hơn. Trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu, Thẩm phán phải xem xét và ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết”.

Tuy vậy, việc quy định thời hạn 48 giờ để Thẩm phán xem xét quyết định có áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không trong nhiều trường hợp có lẽ là quá dài. Đặc biệt là đối với các yêu cầu về việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp như kê biên tài sản đang tranh chấp, cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp, phong toả tài khoản. Sự chậm trễ trong việc ra quyết định áp dụng các biện pháp này dù chỉ là một khoảng thời gian hết sức ngắn cũng đủ để người bị yêu cầu áp dụng các biện pháp này tẩu tán tài sản, thay đổi hiện trạng tài sản hoặc rút tiền từ tài khoản nhằm trốn tránh việc thi hành nghĩa vụ.

Để đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn, về lâu dài trên cơ sở các quy định này các nhà lập pháp Việt Nam có thể phát triển, bổ sung theo hướng cho phép Thẩm phán trong trường hợp khẩn cấp có thể quyết định áp dụng ngay lập tức các biện pháp khẩn cấp nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của đương sự trước khi khởi kiện vụ án.

Về việc nộp các khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá và những vấn đề đặt ra trong thực tiễn áp dụng.

3.2.1.3. Quyền kháng cáo, kháng nghị

Theo pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, một vụ án được xét xử qua cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, bên cạnh đó còn có thủ tục đặc biệt là giám đốc thẩm và tái thẩm. Như vậy, theo nguyên tắc, một vụ án nếu phải xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì nhiều nhất cũng chỉ cần đến ba phiên tòa. Nhưng thực tế lại khác. Pháp luật cần có những quy định rõ ràng, chặt chẽ hơn để tránh tình trạng kháng cáo kháng nghị kéo dài như hiện nay.

Cần bổ sung quy định với những trường hợp không chấp nhận đơn khiếu nại, không kháng nghị giám đốc thẩm thì TAND tối cao, VKSND tối cao phải trả lời, giải thích rõ lý do cho đương sự biết. Làm được điều đó, sẽ giảm rất nhiều các trường hợp khiếu nại tiếp, khiếu nại dai dẳng dù đơn đã bị bác một cách thuyết phục.

Về thời hiệu kháng nghị cũng cần ngắn hơn. Đối với kháng nghị giám đốc thẩm thời hạn kháng nghị là ba năm như hiện nay là quá dài, nên giảm bớt thời gian kháng nghị lại. Nếu rút ngắn thời hạn kháng nghị sẽ hạn chế được tình trạng bản án đã thi hành xong lại có kháng nghị giám đốc thẩm, dẫn đến hủy án, lật án, kéo theo nhiều hệ quả rắc rối. Thông thường, sau phiên tòa phúc thẩm, đương sự thua kiện bức xúc thì họ sẽ khiếu nại giám đốc thẩm ngay.

Ngoài ra, cần nên có chế tài với người làm sai. Pháp luật cũng nên có có quy định về việc này để đảm bảo “người làm sai phải chịu trách nhiệm về cái sai của mình”. Chế tài càng cụ thể thì người có thẩm quyền càng phải nâng cao trách nhiệm, cẩn trọng xem xét kỹ, tránh được những trường hợp kháng nghị thiếu căn cứ thuyết phục.

Đồng thời cũng cần phải có cơ chế giám sát chặt chẽ hơn. “Thực trạng giải quyết khiếu nại xin giám đốc thẩm, có trường hợp chính đáng nhưng cứ phải chờ đợi trong vô vọng, như mò kim đáy bể, có trường hợp lại được chấp nhận quá dễ dàng.

3.2.1.4. Về vấn đề ủy quyền

Nghiên cứu về lý luận và đánh giá thực tiễn trong quá trình thực hiện cho thấy các quy định của pháp luật về đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự còn có những hạn chế, chưa đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giữa các đương sự. Một số vấn đề nảy sinh dẫn tới sự lúng túng khi áp dụng, đương sự không thể hoặc rất khó khăn khi ủy quyền tham gia tố tụng trong trường hợp bị đui, mù, câm, điếc, cụt hai tay v.v…

Do đó, cần thiết phải sửa đổi các quy định về quyền ký đơn khởi kiện của người đại diện theo ủy quyền. Ý chí của người khởi kiện vẫn được thể hiện đầy đủ nếu người đại diện theo ủy quyền ký vào đơn khởi kiện, kèm theo đơn khởi kiện là văn bản ủy quyền hợp lệ có nội dung ủy quyền về việc ký đơn khởi kiện.

Sửa đổi quy định về hình thức ủy quyền trong tố tụng dân sự: Các quy định tại Điều 73 BLTTDS, khoản 2 Điều 142 và Điều 586 BLDS chưa nói rõ việc ủy quyền phải qua công chứng, chứng thực trong những trường hợp nào. TANDTC cũng đã có hướng dẫn tại Nghị quyết 05/2006/NQ-HĐTP về hình thức văn bản ủy quyền phải được công chứng, chứng thực hợp pháp, tuy nhiên đây là hướng dẫn về việc ủy quyền kháng cáo và tham gia tố tụng dân sự tại cấp phúc thẩm mà thôi. Hình thức ủy quyền liên quan đến các loại ủy quyền một lần, ủy quyền riêng biệt hay thẩm quyền đại diện chung.

Vì vậy, cần bổ sung các quy định của pháp luật về hình thức ủy quyền, loại ủy quyền, cần sớm giải thích về hình thức của loại ủy quyền mang tính chuyên biệt (không riêng đối với ủy quyền của Chủ tịch UBND), văn bản ủy quyền tham gia tố tụng phải công chứng, chứng thực trong mọi trường hợp hay không (kể cả văn bản ủy quyền của pháp nhân).

3.2.2. Một số giải pháp khắc phục những thiếu sót, tồn tại trong thực tiễn giải quyết, xét xử của Tòa án

Để công tác giải quyết, xét xử của Tòa án về lĩnh vực các tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại đảm bảo đúng pháp luật và ngày càng được nâng cao, đáp ứng tốt hơn nữa trước yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta, trước hết, các Tòa án nói chung, Toà kinh tế nói riêng phải đề cao tinh thần, trách nhiệm cá nhân và nâng cao hiệu quả công tác; tiếp theo là cần thường xuyên hoặc địnhn kỳ 06 tháng, 01 năm bồi dưỡng, tập huấn để nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ và ý thức trách nhiệm đối với đội ngũ Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân. Tăng cường công tác kiểm tra nghiệp vụ xét xử, công tác thi hành án kinh tế, thương mại và việc chuyển giao bản án, chấn chỉnh kịp thời những thiếu sót trong áp dụng pháp luật. Rà soát lại những trường hợp có án bị huỷ, sửa nghiêm trọng. Yêu cầu Thẩm phán phải kiểm điểm, rút kinh nghiệm bằng văn bản, kiên quyết xử lý đối với những trường hợp vi phạm nghiêm trọng về thủ tục.

Cần sớm có chế độ đào tạo, tuyển dụng riêng biệt cho Thẩm phán, Thư ký mang tính chất chuyên sâu và đòi hỏi ở trình độ cao (có thể là những học sinh có kết quả học tập và hạnh kiểm xuất sắc nhất).

Cần sớm có chế độ đãi ngộ về tiền lương và phụ cấp khác mang tính đặc thù riêng cho ngành Tòa án, làm sao cho các Thẩm phán đủ nuôi gia đình, không phải lo nghĩ, bận tâm về tài chính gia đình.

KẾT LUẬN

Các hoạt động kinh tế luôn có vị trí vai trò đặc biệt quan trọng, nó quyết định sự tồn tại cũng như phát triển của xã hội. Trong hoạt động kinh doanh thường khó tránh khỏi các tranh chấp do nhiều nguyên nhân khác nhau; do vậy, giải quyết các tranh chấp kinh tế cũng là yêu cầu tất yếu. Một trong các phương pháp để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, đảm bảo các quan hệ kinh doanh được ổn định, lành mạnh và phát triển là phương thức khởi kiện đến Tòa án theo thủ tục tố tụng.

Giải quyết TCKDTM còn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc đảm bảo công bằng cho các thành phần kinh tế được tự do cạnh tranh trên cơ sở luật pháp, tạo niềm tin, yên tâm cho người nước ngoài đầu tư kinh doanh vào Việt Nam, khi có tranh chấp đã có pháp luật giải quyết theo luật pháp, giải quyết đúng, giải quyết tốt các tranh chấp kinh tế là góp phần tạo ra kỷ cương trật tự trong kinh doanh, hạn chế một phần tiêu cực, cạnh tranh trái phép, thúc đẩy quan hệ sản xuất phát triển.

Luận văn đã phân tích rõ ràng, cụ thể về vai trò của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM. Qua đó, có cái nhìn khái quát về thực trạng pháp luật của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM ở nước ta hiện nay; phân tích, đánh giá những ưu điểm và tồn tại của hệ thống này. Nêu thực trạng pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM ở nước ta trên cơ sở đó đưa ra một số nhận xét về những bất cập của hệ thống pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM, nhận xét những nguyên nhân của những bất cập đó để có định hướng, kiến nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án nói riêng, pháp luật giải quyết TCKDTM nói chung.

Luận văn cũng đưa ra những giải pháp cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật việc giải quyết TCKDTM của Tòa án trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc các quy định về giải quyết TCKDTM bằng Tòa án trên thế giới để xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM mang bản sắc Việt Nam, phù hợp với chuẩn mực, thông lệ quốc tế.

Việc hoàn thiện khung pháp luật trong việc giải quyết TCKDTM của Tòa án là yêu cầu cần thiết trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và là mục tiêu trong chương trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Đảng và Nhà nước ta. Có thể khẳng định rằng, Nhà nước ta có sự quan tâm nhất định trong vấn đề này, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên như thế vẫn là chưa đủ. Mong rằng vấn đề này sẽ được quan tâm nhiều hơn. Nó phải trở thành ý chí của các bên liên quan. Ý chí của các nhà nghiên cứu là nghiên cứu và kiến nghị thành quả đó đi vào thực tiễn chứ không chỉ dừng lại ở hội thảo. Và ý chí của các thương nhân, doanh nghiệp, đối tượng trực tiếp tham gia vào các tranh chấp phải nỗ lực tìm tòi và có những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu và áp dụng thực tiễn các quy định pháp luật giải quyết TCKDTM. Và quan trong là ý chí của các chủ thể Nhà nước, Nhà nước cần chú trọng hơn nữa vấn đề này, cần lắng nghe và không ngừng hoàn thiện xây dựng pháp luật phù hợp với thực tiễn áp dụng. Vì vậy, chúng ta có thể tin rằng trong tương lai những khiếm khuyết, bất cập về thẩm quyển của Toà án trong việc giải quyết TCKDTM hôm nay sẽ được khắc phục, góp phần vào sự nghiệp phát triển nền kinh tế của đất nước, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

Đồng thời, thông qua Luận văn này, đã khái quát và thể hiện rõ hơn tầm quan trọng của thủ tục tố tụng dân sự trong việc giải quyết các hợp đồng kinh doanh, thương mại, cũng như nắm được trình tự của các thủ tục tố tụng, trình tự giải quyết vụ án, quyền và nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng từ thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng. Điều đó sẽ giúp cho quý bạn đọc có thể hiểu rõ và ứng dụng tốt trong thực tế./.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT KINH TE\THONG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *