Giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại theo pháp luật

Luận văn Giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự

Giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh hiện nay, cùng với xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và khu vực, việc cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có hệ thống pháp luật tư pháp của nước ta được đặt ra hết sức cấp thiết. Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004 tại kỳ họp thứ 5, Khóa XI là sự kế thừa và phát triển các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (1989), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (1994) và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (1996). Sự ra đời của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, có thể nói là mốc quan trọng đánh dấu bước phát triển vượt bậc trong việc củng cố và hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng nói chung và pháp luật tố tụng dân sự nói riêng của nước ta.

Ngày 29 tháng 3 năm 2011, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự. Nhìn chung, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự đã quy định đầy đủ và có tính hệ thống hơn so với các Pháp lệnh trước đó các vấn đề về tố tụng dân sự như: các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự; địa vị pháp lý của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, Kinh doanh, Thương mại, lao động; thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc dân sự nói chung, trong đó có các tranh chấp về Kinh doanh, thương mại nói riêng.

Tiếp đó, ngày 25/11/2015 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 mới được thông qua, có hiệu lực ngày 01/7/2016 đã thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, đặc biệt là Nghị quyết số 48-NQ/TW; Nghị quyết số 49-NQ/TW; Kết luận số 79-KL/TW; Kết luận số 92-KL/TW của Bộ Chính trị và Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, thực hiện mô hình tố tụng “xét hỏi kết hợp tranh tụng”; xác định rõ vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng; thực hiện tốt việc tranh tụng xem đó là khâu đột phá của hoạt động xét xử; tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định; khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài, Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó.

Chính từ thực tiễn này, việc chọn đề tài: “Giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” nhằm nêu ra cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại theo pháp luật Tố tụng dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam, từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp. Đây là một đề tài có ý nghĩa lý luận và mang tính thực tiễn cao.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài nhằm góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận về giải quyết các tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng dân sự, phân tích nội dung các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về vấn đề này, những bất cập, vướng mắc được rút ra từ thực tiễn trong việc thực hiện các quy định, nguyên nhân và tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm khắc phục, nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc quy định giải quyết các tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng dân sự ở tỉnh Quảng Nam nói chung và Việt Nam nói riêng.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về giải quyết các tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam;

– Phân tích các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm giải quyết các tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng dân sự, từ đó đối chiếu với lý luận để đánh giá thực trạng pháp luật về vấn đề nghiên cứu;

– Tìm hiểu thực tiễn thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về giải quyết các tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn; xác định những bất cập, vướng mắc trong quá trình thực hiện và rút ra nguyên nhân của tồn tại, vướng mắc;

– Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, luận văn luận giải và đề xuất các kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện và bảo đảm thực hiện các quy định về giải quyết các tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số vấn đề lý luận về giải quyết các tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn; các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về giải quyết các tranh chấp KD, TM; thực tiễn thi hành các quy định này của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Tuy nhiên, trong khuôn khổ giới hạn của luận văn thạc sĩ luật học việc nghiên cứu đề tài chủ yếu tập trung trong các vấn đề sau:

– Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản vềgiải quyết các tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam;

– Nghiên cứu các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM theo ba nội dung: thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo cấp Tòa án và thẩm quyền theo lãnh thổ;

– Tìm hiểu thực tiễn thực hiện các quy định này của Bộ luật tố tụng dân sự tại tỉnh Quảng Nam, những bất cập, vướng mắc trong quá trình thực hiện.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để luận giải mối quan hệ giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng, mối quan hệ giữa kinh tế và pháp luật, vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh quan hệ phát sinh từ hoạt động giải quyết tranh chấp nói chung và giải quyết theo Bộ luật tố tụng dân sự nói riêng.

Trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đường lối đổi mới đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay, luận văn đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện việc giải quyết tranh chấp KDTM theo pháp luật tố tụng dân sự.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Để giải quyết những vấn đề đặt ra, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phân tích, tổng hợp, đánh giá, so sánh, diễn giải, suy diễn lôgíc…

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

  1. 6.1. Ý nghĩa lý luận: Với việc nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề liên quan đến giải quyết các tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng dân sự.
  2. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn
  3. + Luận giải và làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về giải quyết các tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng dân sự như khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc giải quyết các tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng dân sự; Pháp luật về giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại theo tố tụng dân sự.

+ Thực trạng giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.

+ Dự báo những thách thức và các giải pháp bảo đảm thực hiện Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại ở Việt Nam.

+ Đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 về giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại và rút ra những vướng mắc, bất cập cũng như nguyên nhân của các bất cập trên;

+ Đề xuất những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện và bảo đảm thực hiện các quy định về giải quyết các tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng dân sự tại tỉnh Quảng Nam.

7. Cơ cấu của luận văn

Luận văn được kết cấu thành 3 phần: Lời mở đầu, phần nội dung và kết luận chung. Phần nội dung của luận văn được chia làm 2 chương, bao gồm:

Chương 1. Những vấn đề lý luận về giải quyết các tranh chấp KD, TM theo pháp luật Tố tụng dân sự.

Chương 2: Thực trạng giải quyết các tranh chấp KD,TM; Dự báo những thách thức và các giải pháp bảo đảm thực hiện Pháp luật Tố tụng dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT

TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc giải quyết các tranh chấp Kinh doanh, thương mại theo pháp luật Tố tụng dân sự

1.1.1. Khái niệm việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự

Tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ kinh doanh, thương mại vì mục đích lợi nhuận.

1.1.2. Đặc điểm giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự

– Phải là tranh chấp phát sinh trực tiếp từ các hoạt động kinh doanh, thương mại;

– Chủ thể tranh chấp phải là thương nhân, hoặc tổ chức, cá nhân khác hoạt động kinh doanh, thương mại vì mục đích lợi nhuận;

– Nó phản ánh những mâu thuẫn, xung đột về quyền, nghĩa vụ và lợi ích kinh tế giữa các bên tranh chấp.

1.1.3. Ý nghĩa việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự

– Chủ thể của quan hệ giải quyết tranh chấp phải là các bên tranh chấp và bên thứ ba được các bên lựa chọn (nếu có);

– Khách thể của quan hệ giải quyết tranh chấp phải là sự cân bằng, hài hòa về mặt lợi ích giữa các bên tranh chấp;

– Nội dung của quan hệ giải quyết tranh chấp phải là quyền, nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào mối quan hệ này.

1.2. Nguyên tắc của pháp luật

1.2.1. Nguyên tắc bảo đảm pháp chế XHCN trong tố tụng dân sự

1.2.2. Nguyên tắc bình đẳng quyền và nghĩa vụ

1.2.3. Nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án dân sự

1.2.4. Nguyên tắc thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

1.2.5. Nguyên tắc xét xử tập thể

1.2.6. Nguyên tắc xét xử công khai

1.2.7. Nguyên tắc hai cấp xét xử

1.2.8. Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự

1.2.9. Nguyên tắc hòa giải

1.2.10. Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

1.2.11. Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời.

1.3. Cấu trúc của pháp luật về giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại theo tố tụng dân sự

Bước 1: Thụ lý vụ án

Bước 2: Hòa giải vụ án dân sự

Bước 3: Chuẩn bị xét xử

Bước 4: Mở phiên tòa xét xử

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại theo tố tụng dân sự

1.4.1. Sự hoàn thiện của hệ thống các văn bản pháp luật có liên quan

1.4.2. Năng lực đội ngũ cán bộ công chức của Toà án

1.5. Lược sử hình thành và phát triển chế định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng dân sự

Cùng với sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật tố tụng dân sự cũng đã có một quá trình phát triển lâu dài và từng bước đi vào hoàn thiện. Việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về giải quyết các tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng dân sự qua các thời kì lịch sử sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về vấn đề này. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá vào việc bổ sung, hoàn thiện pháp luật về vấn đề này trong giai đoạn hiện nay.

Trong phạm vi đề tài, chúng ta sẽ đi vào nghiên cứu và phân tích các quy định của pháp luật về giải quyết các tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng dân sự theo ba giai đoạn lịch sử đó là: Từ 1945 đến 1994; từ năm 1994 đến năm 2004 và từ năm 2004 đến nay.

1.5.1. Giai đoạn từ 1945 đến năm 1994.

1.5.2. Giai đoạn từ năm 1994 đến 2004.

1.5.3 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay.

Giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI; DỰ BÁO NHỮNG THÁCH THỨC VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

2.1. Thực trạng giải quyết các tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng dân sự

2.1.1. Nguyên tắc của tố tụng dân sự

Nhằm cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 và bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Tổ chức TAND năm 2014, BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung một số nguyên tắc cơ bản của TTDS, thay thế BLTTDS 2004 gồm: Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự; bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự; bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án dân sự; Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng dân sự; Tòa án xét xử tập thể; Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai; bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm; giám đốc việc xét xử; bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án; trách nhiệm chuyển giao tài liệu, giấy tờ của Tòa án; việc tham gia TTDS của cá nhân, cơ quan, tổ chức; bảo đảm tranh tụng trong xét xử; bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự.

  1. 2.1.2. Tranh chấp kinh doanh, thương mại
  2. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhằm làm rõ các tranh chấp về kinh doanh, thương mại phù hợp với Luật Thương mại, Luật doanh nghiệp …, phân biệt giữa tranh chấp thương mại với tranh chấp dân sự.
  3. 2.1.3. Thẩm quyền của Tòa án:

BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền của Tòa án theo hướng tất cả những tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trừ trường hợp theo quy định của luật thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác. Quy định này nhằm tạo điều kiện để Tòa án thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013, tạo cơ chế và điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý; đồng thời, để phù hợp với nguyên tắc “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”.

2.1.4. Thủ tục xét xử sơ thẩm

– Sửa đổi, bổ sung quy định về thủ tục khởi kiện, xác định ngày khởi kiện trên cơ sở pháp điển hóa những văn bản hướng dẫn BLTTDS hiện hành nhằm quy định rõ ràng, cụ thể về thủ tục khởi kiện, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền khởi kiện của mình; 

– Sửa đổi, bổ sung quy định về giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện (Điều 194); theo đó, việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện phải được tiến hành bằng phiên họp;

– Bổ sung căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi cần đợi kết quả của cơ quan có thẩm quyền xem xét kiến nghị của Tòa án về việc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên có liên quan đến việc giải quyết vụ án mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ (điểm e khoản 1 Điều 214); 

– Bổ sung quy định thành phần tham gia phiên hòa giải đối với tranh chấp lao động

– Bổ sung quy định mới về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.  

– Bổ sung quy định mới về căn cứ, thủ tục, thời hạn tạm ngừng phiên tòa trong các trường hợp: Cần phải xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ bổ sung mà không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa; chờ kết quả giám định bổ sung, giám định lại; do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa

– Bổ sung quy định về thủ tục xét xử trong trường hợp vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng (Điều 238).

2.1.5. Thủ tục xét xử phúc thẩm

Bổ sung quy định thủ tục kháng cáo, kháng nghị, thụ lý, xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị trên cơ sở kế thừa các quy định của BLTTDS hiện hành, đồng thời bổ sung quy định cụ thể về thời hạn kháng cáo, ngày kháng cáo, về hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị, việc gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo kháng nghị sau khi xét xử sơ thẩm để phù hợp hơn với thực tiễn xét xử. 

Bổ sung quy định mới về việc đương sự được quyền cung cấp bổ sung những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không cung cấp, giao nộp được vì có lý do chính đáng.

2.1.6. Thủ tục xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm

– Quy định rõ hơn căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm

– Sửa đổi, bổ sung quy định về người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm,

– Bổ sung điều luật mới Điều 330 quy định đương sự được quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ cho người có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

– Sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền giám đốc thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phù hợp với quy định của Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014; 

– Bổ sung quy định Hội đồng giám đốc thẩm có thẩm quyền sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có đủ các điều kiện: Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, rõ ràng; có đủ căn cứ để làm rõ các tình tiết trong vụ án; việc sửa bản án, quyết định bị kháng nghị không gây ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã thi hành được một phần hoặc toàn bộ thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án.

  1. 2.2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng dân sự trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

2.2.1. Tình hình thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo pháp luật Tố tụng dân sự trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Trong năm 2015, toàn tỉnh Quảng Nam có khoảng 4.850 doanh nghiệp đang hoạt động với tổng vốn đăng ký khoảng 32 ngàn tỷ đồng. Cơ cấu ngành nghề kinh doanh chuyển dịch theo hướng tăng các ngành dịch vụ, công nghiệp chế biến, giảm ngành nông lâm nghiệp. Tính toàn giai đoạn 2011-2015, có khoảng 3.186 doanh nghiệp thành lập mới, 440 doanh nghiệp giải thể và 2.328 doanh nghiệp ngừng hoạt động.

Từ đầu năm 2011 đến hết năm 2015, Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (cấp tỉnh và cấp huyện) đã thụ lý giải quyết mới 670 vụ án KDTM theo Điều 29 BLTTDS, trong đó có 578 tranh chấp thuộc khoản 1; 10 tranh chấp thuộc khoản 2; 21 tranh chấp thuộc khoản 3; 61 tranh chấp thuộc khoản 4 BLTTDS. Cụ thể:

Bảng 2.1: Số liệu thụ lý án KDTM của Tòa án cấp sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Loại tranh chấp KDTM20112012201320142015
1. Tranh chấp KDTM4287187 176 86
Mua bán hàng hóa2535385928
Cung ứng dịch vụ1276 18 4
Đại diện, đại lý13 6 
Thuê, cho thuê, thuê mua1 5 2
Xây dựng5310 13 1
Vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt, đường bộ 12 1 
Mua cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ khác  3 2 
Đầu tư, tài chính, ngân hàng 381246049
Bảo hiểm 2 12 2
2. Tranh chấp sở hữu trí tuệ  2 3 5
3. Tranh chấp giữa công ty và thành viên công ty 33 87
4. Tranh chấp khác về KDTM31816 13 11
Tổng = 1+2+3+445108208200109

Nguồn: Thống kê năm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam các năm 2011, 2012, 2013, 2014, 2015.

Bảng 2.2: Số liệu giải quyết án KDTM của TAND cấp sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

NămTổng số thụ lý sơ thẩmTổng số giải quyết sơ thẩmTỷ lệ giải quyết án

(%)

Trong đóCòn lạiTrong đó quá hạn
Công nhận sự thỏa thuậnTỷ lệ

(%)

Tạm đình chỉTỷ lệ

(%)

Đình chỉTỷ lệ

(%)

Xét xửTỷ lệ

(%)

2011544379,62865,112,324,71227,9110
20121269474,65255,355,32122,31617321
201324117371,810158,463,53520,23117,9681
201426822483,612354,983,64620,54721443
201515013690,75238,21410,32921,34130,1143

Nguồn: Thống kê năm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam các năm 2011, 2012, 2013, 2014, 2015.

2.2.2. Thực trạng hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

Dưới đây là số liệu án KDTM đã xét xử sơ thẩm bị kháng nghị, kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm trong những năm gần đây:

Bảng 2.3: Số liệu giải quyết án phúc thẩm của TAND

tỉnh Quảng Nam

NămTổng số xét xử sơ thẩmTổng số thụ lý phúc thẩmGiải quyếtTrong đó
Đình chỉXét xửTrong đó
Y án sơ thẩmHủy án sơ thẩmSửa án sơ thẩm
20111210817232
201216131019423
2013311210010343
201447161028512
201541161028314
Tổng1475448642171114

Nguồn: Thống kê năm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam các năm 2011, 2012, 2013, 2014, 2015.

2.2.3. Nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ án kinh doanh thương mại

* Nguyên nhân khách quan

– Văn bản pháp luật thường xuyên thay đổi; có những quy định mâu thuẫn, chồng chéo nhau chưa được các cơ quan có thẩm quyền kịp thời hướng dẫn, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc nhận thức, áp dụng pháp luật.

– Thực hiện nguyên tắc hòa giải và tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự, BLTTDS quy định “mở” cho phép đương sự có quyền tự thỏa thuận hoặc rút yêu cầu khởi kiện. Trên cơ sở đó, tại cấp phúc thẩm, nếu các đương sự tự thỏa thuận hoặc rút toàn bộ/ một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu khởi kiện độc lập dẫn đến việc hủy bản án, quyết định sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.

– BLTTDS quy định đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh ở bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án. Quy định này đã tạo ra các trường hợp đương sự cung cấp chứng cứ mới ở giai đoạn xét xử phúc thẩm làm thay đổi tình tiết vụ án, dẫn đến việc phải hủy, sửa bản án hoặc quyết định sơ thẩm.

* Nguyên nhân chủ quan

Phần lớn những vụ án có kháng, kiến nghị; hủy, sửa bản án, quyết định sơ thẩm là do nguyên nhân chủ quan từ phía những người tiến hành tố tụng, đặc biệt là Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án. Những vi phạm phổ biến trong quá trình giải quyết tranh chấp KDTM của Tòa án cấp sơ thẩm thường là: giải quyết không đúng, không đầy đủ hoặc vượt quá yêu cầu của đương sự; xác định chưa chính xác tư cách người tham gia tố tụng; không đưa đúng, đưa đủ người có quyền và nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng; thụ lý giải quyết khi đương sự chưa đủ điều kiện khởi kiện; Tòa án không chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia phiên tòa theo quy định của pháp luật; cấp, tống đạt văn bản không đúng quy định tại chương X của BLTTDS; thu thập, đánh giá chứng cứ không khách quan, toàn diện (như: đương sự chỉ cung cấp tài liệu, chứng cứ là bản photocopy không có công chứng, chứng thực nhưng Tòa án vẫn chấp nhận là chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án…); ra quyết định giải quyết sai; tính án phí, tạm ứng án phí chưa chính xác… Những vi phạm này xuất phát từ những nguyên nhân chính sau:

– Một bộ phận cán bộ ngành Tòa án trong đó có cả lãnh đạo, Thẩm phán Tòa án cấp huyện cũng như cấp tỉnh chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong quá trình thụ lý giải quyết án

– Năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Thẩm phán cũng như các Hội thẩm nhân dân chưa đồng đều

– Công tác tập huấn nghiệp vụ, thông báo rút kinh nghiệm, chỉ đạo của cấp trên còn chưa được thực hiện thường xuyên, kịp thời.

– Khối lượng công việc của tòa án quá nhiều, đội ngũ cán bộ biên chế ít, lại còn non trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm trong quá trình giải quyết án, công tác đào tạo, tập huấn lại chưa được chú trọng.

– Bên cạnh đó, các Kiểm sát viên khi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án vẫn còn chưa thật sự sâu sát; trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực nghề nghiệp cũng như mức độ am hiểu pháp luật còn nhiều hạn chế; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm nên đôi lúc Tòa án vi phạm nhưng VKS không phát hiện, hoặc phát hiện nhưng làm ngơ, coi như không biết; cũng có trường hợp VKS nhận định chưa chính xác dẫn đến kháng nghị bản án, quyết định của Tòa nhưng bị Tòa án bác bỏ…

Giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

2.3. Quy định của pháp luật về giải quyết các tranh chấp KD, TM theo loại việc

2.3.1. Tranh chấp phát sinh trong các hoạt động KD, TM giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau

Khoản 1 Điều 29 BLTTDS quy định tranh chấp phát sinh trong hoạt động KD, TM là tranh chấp giữa các cá nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Theo đó, một tranh chấp phát sinh trong thực tiễn được xác định là tranh chấp KD, TM và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án phải hội đủ ba điều kiện sau:

– Một là, các tranh chấp này phát sinh từ hoạt động KD, TM và các hoạt động đó phải có mục đích lợi nhuận.

– Hai là, chủ thể tranh chấp KD, TM là tranh chấp giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh. Theo tiểu mục 3.1 Phần I Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP quy định cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh là cá nhân, tổ chức đã được các cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.

– Ba là, các tranh chấp phải thuộc 14 lĩnh vực được quy định tại khoản 1 Điều 29 Bộ luật TTDS thì mới thuộc thẩm quyền của Tòa án.

2.3.2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa các cá nhân, tổ chức với nhau

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 34 BLTTDS thì: “Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà Kinh tế thuộc Toà án cấp tỉnh. Do đó, tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ được xác định là tranh chấp KD, TM nếu các bên đều có mục đích lợi nhuận. Quy định này giúp phân biệt với quy định tại khoản 4 Điều 25 BLTTDS cũng là những tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ nhưng là tranh chấp dân sự (theo nghĩa hẹp) và thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện hoặc Toà Dân sự thuộc Toà án cấp tỉnh.

2.3.3. Tranh chấp phát sinh trong nội bộ công ty

Đối với tranh chấp KD, TM được quy định tại khoản 3 Điều 29 BLTTDS thì cần phân biệt thành 2 nhóm. Đó là nhóm các tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty và nhóm tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau.

* Nhóm tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty

* Nhóm tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau

2.3.4. Tranh chấp khác về KD, TM mà pháp luật có quy định

Tại khoản 4 Điều 29 BLTTDS các nhà làm luật đã quy định kèm theo một điều khoản mà người ta thường gọi là “điều khoản quét” đó là “những tranh chấp khác về KD, TM mà pháp luật có quy định”. Đây chính là quy định mang tính dự phòng của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội luôn biến động, đặc biệt là các quan hệ KD, TM và các tranh chấp về KD, TM.

2.4. Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM theo cấp Toà án

Việc phân định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM giữa Tòa án các cấp thực chất là sự phân định thẩm quyền giữa Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh. Có thể thấy, việc phân định trên sẽ góp phần bảo đảm cho việc giải quyết các tranh chấp được chính xác và đúng pháp luật, cụ thể đó là:

2.4.1. Giải quyết tranh chấp KD, TM của Tòa án cấp huyện

Thẩm quyền của Tòa án cấp huyện đối với các tranh chấp KD, TM được quy định tại Điều 33 của BLTTDS.

2.4.2. Giải quyết tranh chấp KD, TM của Tòa án cấp tỉnh

Thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh trong việc giải quyết các tranh chấp KD, TM được quy định tại Điều 34 BLTTDS.

2.5. Dự báo những thách thức khi triển khai thi hành Bộ luật TTDS năm 2015

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 ra đời vừa có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 nhưng cũng đã bộc lộ những khó khăn vướng mắc khi áp dụng pháp luật về tố tụng, cụ thể:

Theo khoản 2 Điều 192 BLTTDS năm 2015 quy định khi Tòa án trả lại đơn khởi kiện thì Thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện chức năng kiểm sát. Thực tế qua công tác kiểm sát, khi nhận được thông báo trả lại đơn khởi kiện của Tòa án với các lý do  theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015, không nêu rõ hoặc nêu không đầy đủ các chứng cứ mà người khởi kiện gửi kèm theo đơn khởi kiện, để trên cơ sở đó Tòa án ban hành thông báo trả lại đơn khởi kiện. Đây là trường hợp khó khăn cho Viện kiểm sát trong công tác thực hiện chức năng kiểm sát việc trả lại đơn, bởi vì Viện kiểm sát không nắm được số đơn do Tòa án trả lại và đây là thủ tục trước khi thụ lý, có những trường hợp Tòa nhận đơn nhưng để ngoài không vội ghi vào sổ theo, chỉ khi đương sự có khiếu nại thì Viện kiểm sát mới biết, hoặc có thông báo thì luật cũng không quy định thời hạn sau khi trả lại đơn bao nhiêu ngày thì thông báo cho Viện kiểm sát. Điều đó dẫn đến thực trạng là, có trường hợp, Tòa án không gửi thông báo nên Viện kiểm sát cũng không nắm được vì không có cơ chế để kiểm tra hoạt động trả lại đơn của Tòa án. Thông thường, Viện kiểm sát chỉ nắm được khi người khởi kiện khiếu nại thì Tòa án mới gửi thông báo trả lại đơn khởi kiện cho Viện kiểm sát. Tòa án cho rằng, luật không quy định phải gửi “ngay lập tức” mà “đồng thời” có thể hiểu là Viện kiểm sát cũng là chủ thể được gửi thông báo này như người khởi kiện.

* Đề xuất, kiến nghị:

Nên tạo ra nhiều cơ chế để Viện kiểm sát có thể kiểm tra hoạt động trả lại đơn của Tòa án và phải có trách nhiệm gởi các thủ tục cho Viện kiểm sát để kiểm sát việc giải quyết các vụ án đúng hạn, luật định.

Khoản 3 Điều 194 BLTTDS quy định“Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị, có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có khiếu nại; trường hợp đương sự vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp”. 

Việc quy định như trên nhằm đảm bảo cho VKSND thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án. Tuy nhiên, với quy định như hiện nay sẽ dẫn đến chất lượng của công tác tham gia phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc Tòa án trả lại đơn mà đương sự có khiếu nại. Với thời hạn năm ngày thì Viện kiểm sát không thể kiểm sát đầy đủ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, hơn nữa đây là hồ sơ, tài liệu phô tô còn tài liệu gốc Tòa trả cho đương sự, luật không quy định thời hạn chuyển giao hồ sơ để Viện kiểm sát nghiên cứu là bao nhiêu ngày. Muốn biết được hoạt động trả lại đơn có đúng quy định hay không, Kiểm sát viên phải nghiên cứu toàn bộ tài liệu, chứng cứ gửi kèm theo đơn khởi kiện. Vì vậy, không thể đánh giá được, hoạt động trả lại đơn khởi kiện của Tòa án có chính xác không.

  1. Mặc dù, tại khoản 3 Điều 194 BLTTDS năm 2015 có quy định trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị đối với Thông báo trả lại đơn khởi kiện. Phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có khiếu nại; trường hợp đương sự vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp. Quy định này bổ sung việc Viện kiểm sát được tham gia phiên họp khi có khiếu nại, kiến nghị tức là khi nào có khiếu nại thì Viện kiểm sát mới thực hiện tốt chức năng này và phát biểu kiến nghị (nếu có vi phạm), còn ở giai đoạn gửi Thông báo trả lại đơn khởi kiện vẫn không thể thực hiện đầy đủ chức năng kiểm sát.

* Đề xuất, kiến nghị:

– Cần xem xét thời hạn mở phiên họp để giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Vì trong thời gian 5 ngày thì Viện kiểm sát không thể kiểm sát đầy đủ được các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ.

– Cần quy định rõ thời hạn chuyển giao hồ sơ cho Viện kiểm sát là bao nhiêu ngày?

– Bổ sung quy định trong giai đoạn gởi thông báo trả lại đơn khởi kiện thì Viện kiểm sát vẫn được tham gia khi có khiếu nại, kiến nghị để thực hiện đầy đủ chức năng kiểm sát của mình.

  1. 2.6. Giải pháp bảo đảm thực hiện BLTTDS năm 2015
  2. Thứ nhất, Ngành Trung Ương cần ban hành văn bản hướng dẫn dưới Luật, áp dụng trong pháp luật Tố tụng dân sự.
  3. Thứ hai,Chú trọng và tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật trong nhân dân
  4. Thứ ba, nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp bằng các phương thức khác nhằm giảm tải khối lượng công việc của ngành tòa án
  5. Thứ tư, Tập huấn chuyên sâu, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ ngành Tòa án, Viện kiểm sát.

KẾT LUẬN

Trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế của nước ta đã có sự chuyển biến và phát triển nhanh chóng. Bằng chứng cụ thể là trong thời gian vừa qua các tranh chấp về KD, TM đã tăng nhanh cả về số lượng cũng như tính chất của các tranh chấp ngày càng trở nên phức tạp, đa dạng.

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 mới được thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực ngày 1/7/2016, thay thế Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã khắc phục được nhiều hạn chế và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.

Song, bên cạnh những ưu điểm và mặc dù đã có sự sửa đổi, bổ sung nhưng BLTTDS năm 2015 vẫn còn tồn tại những bất cập, vướng mắc đòi hỏi chúng ta cần phải nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống. Xuất phát từ những lý do đó, tôi đã chọn đề tài: “Giải quyết các tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” để làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về giải quyết các tranh chấp KD, TM cũng như phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề này. Đồng thời, từ thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về giải quyết các tranh chấp KD, TM tôi đã phân tích những bất cập, vướng mắc còn chưa có hướng giải quyết; đánh giá nguyên nhân của những bất cập này để đưa ra những kiến nghị phù hợp nhằm hoàn thiện và bảo đảm thực hiện các quy định về giải quyết các tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng dân sự, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật về vấn đề này.

Với những kiến nghị mang tính trung thực và khoa học, tôi mong muốn đề tài nhận được sự đón nhận của quý thầy cô giáo và các bạn. Bên cạnh đó, do khả năng còn hạn chế, với thời gian nghiên cứu có hạn, quá trình tìm tòi tài liệu còn gặp nhiều khó khăn dù cố gắng của bản thân song đề tài vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được các ý kiến đóng góp để đề tài có thể được hoàn thiện hơn.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT KINH TE\TRAN THI NHU MO\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *