Giải pháp nâng cao độ bao phủ bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Krông Bông tỉnh Đắk Lắk
Bảo hiểm y tế (BHYT) là một chính sách xã hội quan trọng, mang ý nghĩa nhân đạo và có tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc được Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng, luôn đề cao trong hệ thống chính sách An sinh xã hội (ASXH), nó vừa là mục tiêu vừa là nhu cầu tất yếu của một xã hội phát triển. Để tạo nên một lưới an sinh xã hội bền vững thì chính sách BHYT toàn dân là mục đích mà các quốc gia hướng tới trong đó có Việt Nam. Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản thể hiện sự quyết tâm đạt được mục tiêu đề đó như: Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới; Quyết định số 546/QĐ-TTg ngày 29/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao chỉ tiêu thực hiện bao phủ bảo hiểm y tế giai đoạn 2022 -2025.
Với mức đóng góp không cao nhưng khi không may mắc bệnh, kể cả những bệnh hiểm nghèo, phải chi phí lớn, người tham gia BHYT sẽ được khám chữa bệnh (KCB) chu đáo, không phân biệt giàu, nghèo. Trong những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành và sửa đổi nhiều chính sách quan trọng về hệ thống BHYT, từ đó đã tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho sự phát triển chính sách BHYT.
Tuy nhiên, việc tổ chức triển khai thực hiện BHYT theo hộ gia đình trong thời gian qua trên toàn quốc đã gặp một số khó khăn nhất định, nên đã ảnh hưởng rất lớn đến công tác phát triển đối tượng. Việc phát triển đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình gặp trở ngại xuất phát từ một số nguyên nhân như sau: công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia BHYT theo hộ gia đình chưa thực sự quyết liệt; nhiều gia đình chỉ chọn tham gia BHYT cho những người ốm, người bị bệnh mạn tính, chưa có ý thức mua cho toàn bộ thành viên trong gia đình đề phòng khi ốm đau và chia sẻ rủi ro cho người khác, ngay bản thân trong hộ gia đình các thành viên chưa có trách nhiệm đối với nhau; do điều kiện kinh tế, thu nhập của người dân còn thấp nên việc phải tham gia cho tất cả các thành viên trong hộ gia đình là rất khó khăn; thái độ phục vụ của một số y, bác sĩ đối với bệnh nhân có thẻ BHYT còn thiếu tận tình, chất lượng khám chữa bệnh của một số cơ sở KCB BHYT chưa cao nên một bộ phận không nhỏ người dân có tâm lý thích khám chữa bệnh theo dịch vụ hơn là KCB BHYT…
Trên địa bàn huyện Krông Bông, số người tham gia BHYT tăng dần qua các năm, mức tăng trung bình từ 1% đến 2%. Tuy nhiên, đối tượng tham gia BHYT tại huyện chủ yếu là đối tượng ngân sách nhà nước đóng, hỗ trợ đóng chiếm đa số. Tình hình hiện nay viện phí gia tăng, nếu người dân không có BHYT để đi KCB thì sẽ không đảm bảo điều kiện chăm sóc sức khỏe, bệnh tật gia tăng, ảnh hưởng đến ASXH. Do đó nhà nước và nhân dân phải có trách nhiệm để mọi người dân được hưởng chính sách BHYT theo tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII. Với trọng trách của cơ quan BHXH là trụ cột chính của ASXH quốc gia, có trách nhiệm tổ chức thực hiện, nghiên cứu các giải pháp để hỗ trợ người dân tham gia BHYT.
Xuất phát từ các lý do nêu trên, việc nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao độ bao phủ bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Krông Bông tỉnh Đắk Lắk” là rất cần thiết mở rộng độ bao phủ BHYT, đảm bảo thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân của cả nước và ở địa phương, góp phần đảm bảo sự công bằng về chăm sóc sức khỏe cho mọi người khi chẳng may ốm đau, bệnh tật.
Phân tích thực trạng phát triển BHYT HGĐ trên địa bàn huyện Krông Bông trong thời gian vừa qua nhằm đề xuất một số giải pháp để phát triển BHYT HGĐ trên địa bàn huyện Krông Bông trong thời gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
– Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về phát triển BHYT HGĐ;
– Phân tích thực trạng phát triển BHYT HGĐ trên địa bàn huyện Krông Bông thời gian qua;
– Đề xuất một số giải pháp nâng cao độ bao phủ của BHYT HGĐ trên địa bàn huyện Krông Bông trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Công tác phát triển BHYT HGĐ trên địa bàn huyện Krông Bông, các yếu tố ảnh hưởng phát triển BHYT HGĐ trên địa bàn huyện Krông Bông.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
– Phạm vi nội dung: Nghiên cứu phát triển BHYT HGĐ trên địa bàn huyện Krông Bông; Kết quả đạt được cũng như những hạn chế và tồn tại trong công tác phát triển BHYT HGĐ. Qua đó, đưa ra những giải pháp nhằm phát triển BHYT HGĐ trên địa bàn huyện Krông Bông.
– Phạm vi không gian: Được nghiên cứu tại huyện Krông Bông.
– Phạm vi thời gian: Các số liệu được thu thập từ năm 2021 đến năm 2023.
– Phương pháp thu thập số liệu:
+ Phương pháp thu thập thông tin: Được thu thập dựa trên những tài liệu, số liệu đã được công bố trên sách, báo, tạp chí, niên giám thống kê, các báo cáo tổng kết của địa phương và trên các trang thông tin điện tử chính thức của các cơ quan, tổ chức. Các số liệu được tham khảo qua các báo cáo hàng tháng, hàng quý, hàng năm của BHXH huyện Krông Bông, BHXH tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021 – 2023.
+ Phương pháp xử lý số liệu: – Sau khi thu thập được xử lý để loại bỏ những tài liệu kém tin cậy, tính toán lại các số liệu cần thiết để phục vụ quá trình nghiên cứu.
– Phương pháp phân tích số liệu:
+ Phương pháp thống kê mô tả: dùng để xử lý và phân tích các con số của các hiện tượng số lớn để tìm hiểu bản chất và tính quy luật trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể. Phương pháp này kết hợp với phân tích đồ họa đơn giản như các đồ thị mô tả dữ liệu, biểu diễn các dữ liệu thông qua đồ thị, bảng biểu diễn số liệu tóm tắt; tạo nền tảng để phân tích định lượng về số liệu về thực trạng phát triển BHYT HGĐ trên địa bàn huyện Krông Bông. Để từ đó hiểu được hiện tượng và đưa ra quyết định đúng đắn và tìm ra các giải pháp về phát triển BHYT HGĐ trên địa bàn huyện Krông Bông.
+ Phương pháp thống kê so sánh: So sánh các chỉ tiêu biến động theo thời gian và không gian. Cụ thể, biến động về số hộ gia đình, số người, số lượt tham gia BHYT, số thu, chi BHYT; so sánh kết quả đạt được qua các năm trong giai đoạn phân tích.
+ Phương pháp phân tích tổng hợp: trên cơ sở những kiến thức đã được tích lũy về BHYT HGĐ, kết hợp với quá trình tham khảo tài liệu chuyên ngành, tạp chí BHXH để phân tích, đánh giá… về vấn đề nghiên cứu.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, Đề án gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển BHYT HGĐ.
Chương 2: Thực trạng phát triển BHYT HGĐ trên địa bàn huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lăk.
Chương 3: Giải pháp nâng cao độ bao phủ BHYT HGĐ trên địa bàn huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Y TẾ
1.1. TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Y TẾ HỘ GIA ĐÌNH
1.1.1. Khái niệm về bảo hiểm y tế hộ gia đình
BHYT là chính sách an sinh xã hội ưu việt của Đảng và Nhà nước, mang ý nghĩa nhân văn, nhân đạo và có tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc. BHYT do Nhà nước tổ chức thực hiện không vì mục đích lợi nhuận, nhằm huy động sự đóng góp của cộng đồng, chia sẻ rủi ro bệnh tật và giảm bớt gánh nặng tài chính của mỗi người dân khi ốm đau, bệnh tật, tai nạn…
Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT số 46/2014/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 13/6/2014 thì BHYT là “hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện”. Đối tượng tham gia BHYT được sắp xếp theo 6 nhóm dựa vào chủ thể phải trả tiền mua BHYT: Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng; Nhóm do cơ quan bảo hiểm xã hội đóng; Nhóm do ngân sách nhà nước đóng; Nhóm do ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng; Nhóm tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình; Nhóm do người sử dụng lao động đóng. Cũng theo quy định này thì hộ gia đình được định nghĩa là “bao gồm toàn bộ người có tên trong sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú”. Điều này cũng có nghĩa tất cả các thành viên trong gia đình đều phải mua BHYT, nói cách khác là 1 thành viên trong gia đình chỉ có thể có thẻ BHYT nếu tất cả những thành viên khác trong gia đình cùng mua.
Cụ thể, khoản 2 Điều 38 Luật Cư trú sửa đổi khoản 7 Điều 2 Luật BHYT năm 2008 (đã được sửa đổi vào các năm 2013, 2014, 2015 và 2018) như sau:
Hộ gia đình tham gia BHYT là những người cùng đăng ký thường trú hoặc cùng đăng ký tạm trú tại một chỗ ở hợp pháp theo quy định của pháp luật về cư trú. Hiện nay, Luật BHYT hiện nay đang quy định: Hộ gia đình tham gia BHYT bao gồm toàn bộ người có tên trong sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú.
1.1.2. Khái niệm phát triển bảo hiểm y tế hộ gia đình
Theo từ điển Bách khoa toàn thư: Phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ chưa tốt đến hoàn hảo về mọi mặt. Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn.
Phát triển BHYT có thể hiểu là sự phát triển BHYT một cách đầy đủ và toàn diện đảm bảo được sự ổn định, mở rộng đối tượng phát triển, nguồn quỹ tăng trưởng, chế độ hưởng, chế lượng KCB BHYT ngày càng tăng lên và được đảm bảo. Chính sách BHYT ngày càng được hoàn thiện.
Với góc độ quản lý người tham gia, phát triển BHYT HGĐ là quá trình mở rộng đối tượng tham gia, nâng cao tỷ lệ dân số tham gia, tức là chỉ đơn thuần là phát triển về số lượng và tỷ lệ người tham gia.
Về góc độ quản lý quỹ BHYT, phát triển BHYT HGĐ là quá trình bảo tồn và tăng trưởng của quỹ BHYT HGĐ.
Như vậy, thì phát triển BHYT HGĐ là sự kết hợp giữa tăng về đối tượng tham gia và nâng cao chất lượng dịch vụ BHYT HGĐ.
Vì vậy có thể nói: Phát triển BHYT HGĐ là việc phát triển đối tượng tham gia BHYT HGĐ nhằm tăng tỷ lệ bao phủ của BHYT, trên cơ sở đó phát triển các dịch vụ liên quan đến BHYT, bảo đảm cân đối quỹ KCB BHYT HGĐ.
1.1.3. Vai trò của bảo hiểm y tế hộ gia đình
BHYT HGĐ có những vai trò cụ thể như sau:
Thứ nhất, việc tham gia BHYT HGĐ nhằm từng bước thực hiện mục tiêu cộng đồng cùng chia sẻ rủi ro với người bệnh với mức độ thấp nhất là các thành viên trong cùng gia đình chia sẻ cho nhau và mức độ cao nhất là thực hiện BHYT toàn dân. Thực tế cho thấy khi để người dân tự nguyện tham gia BHYT họ chỉ mua thẻ BHYT cho những người có bệnh tật hoặc có nguy cơ mắc bệnh cao, những người mạnh khỏe trong gia đình thì không, thậm chí khi người bệnh nhập viện thì người nhà mới đi mua thẻ BHYT, từ đó dẫn đến mất cân đối quỹ BHYT.
Thứ hai, sức khỏe là vấn đề rất nhiều rủi ro, không ai có thể biết trước ốm đau, bệnh tật đến với mình khi nào. Có những người không tham gia, khi bị bệnh trở thành gánh nặng cho gia đình bởi chi phí KCB quá lớn khi không có BHYT chi trả. Nhất là những gia đình lao động nhỏ, thu nhập ở mức trung bình (không phải hộ cận nghèo, hộ nghèo) nên việc tham gia BHYT HGĐ là tự trang bị “phao cứu sinh” cho bản thân và gia đình. Vì quỹ BHYT đã chi trả phần lớn chi phí trong quá trình điều trị cho những người bệnh có thẻ BHYT.
Thứ ba, việc tham gia BHYT HGĐ nhằm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho tất cả các thành viên trong hộ gia đình, phù hợp với mục tiêu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe toàn dân mà Đảng và Nhà nước đang hướng tới. Trong khi nhiều người dân chưa có ý thức trong việc chăm sóc sức khỏe thông qua chính sách BHYT thì việc ràng buộc tham gia BHYT HGĐ là giải pháp khả thi để đảm bảo phần lớn người dân được hưởng lợi từ chính sách BHYT, nhất là trong điều kiện hiện nay, tình hình dịch bệnh, ô nhiễm môi trường diễn biến hết sức phức tạp, khả năng bệnh tật, rủi ro thường gặp phải trong cuộc sống hằng ngày.
Thứ tư, tham gia BHYT HGĐ giảm gánh nặng tài chính cho người đóng BHYT. Nếu như tham gia BHYT theo quy định trước đây thì mọi người đều đóng một mức như nhau là bằng 4,5% mức lương cơ sở (hiện nay là 1.800.000 đồng), quy định mới về tham gia BHYT HGĐ thì chỉ người đầu tiên đóng bằng số tiền trên, mức đóng BHYT được giảm dần theo số lượng thành viên tham gia theo mức đóng bằng 70%, 60%, 50% và 40% so với người đầu tiên, người dân được đóng BHYT theo phương thức 03 tháng, 06 tháng hoặc 12 tháng một lần cho số tiền tham gia BHYT hằng năm. Nếu trong gia đình có một người mắc bệnh nặng thì số tiền tham gia BHYT của cả hộ không thể bù đủ cho chi phí KCB của thành viên bị bệnh.
Thứ năm, mục đích của quy định BHYT HGĐ là rất rõ, vừa để tăng tỷ lệ bao phủ BHYT, vừa để cộng đồng có trách nhiệm với người bệnh. Chẳng may trong gia đình có người ốm đau thì chính những người thân trong gia đình phải có trách nhiệm tham gia BHYT để chia sẻ với những người thân của mình sau đó mới đến cộng đồng.
Như vậy, việc tham gia BHYT HGĐ là cần thiết và đúng đắn. Để BHYT HGĐ sớm đi vào đời sống của người dân thì công tác tuyên truyền về BHYT HGĐ phải được tăng cường, đẩy mạnh cải cách hành chính, giảm thiểu những thủ tục không cần thiết tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi tham gia BHYT.
1.1.4. Ý nghĩa của phát triển bảo hiểm y tế hộ gia đình
BHYT góp phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu của chính sách an sinh xã hội. Vì BHYT phục vụ người dân, người có hoàn cảnh khó khăn, giúp đỡ lẫn nhau. Ngoài ra, BHYT còn nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng, đảm bảo cho người tham gia BHYT và các thành viên trong gia đình họ những khả năng để đề phòng, ngăn ngừa bệnh tật, phát hiện sớm bệnh tật để chữa trị và khôi phục sức khỏe.
Góp phần trong việc thực hiện chủ trương xã hội hóa lĩnh vực y tế, huy động các nguồn lực tài chính cho y tế đồng thời phát triển đa dạng các thành phần tham gia KCB. Đối tượng tham gia BHYT được lựa chọn cơ sở KCB và được quỹ BHYT thanh toán với mức tương đương.
Nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro và ý tưởng nhân văn cao cả của nó đã loại trừ mục tiêu lợi nhuận thương mại của cộng đồng những người tham gia BHYT. Do vậy BHYT không có khoản thu lợi nhuận và không có mục đích lợi nhuận.
Phương thức đoàn kết, tương trợ chia sẻ rủi ro phải được thực hiện bằng sự điều tiết nhằm cân bằng mang tính xã hội. Việc lập ra quỹ KCB và từng bước mở rộng phạm vi đối tượng tham gia là từng bước mở rộng phạm vi cân bằng chia sẻ rủi ro chính là quy trình phân phối lại giữa người khỏe mạnh với người ốm đau, người trẻ với người già và đặc biệt là người giàu với người nghèo. Do vậy đối tượng tham gia BHYT không ngừng được mở rộng, phát triển và định hướng cho những đối tượng khác nhau, không phân biệt giữa người lao động có thu nhập cao với người lao động có thu nhập thấp, giữa người đi làm việc với người thất nghiệp.
BHYT là một trong những nguồn cung cấp tài chính ổn định cho các cơ sở y tế: Trong những năm qua, nguồn thu viện phí do quỹ BHYT thanh toán chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn chi thường xuyên của các cơ sở y tế (khoảng trên 60%). Nguồn thu này đã góp phần cho các cơ sở y tế chủ động trong việc phục vụ người bệnh nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Vì vậy hiện nay ngoài cơ sở y tế công lập ký hợp đồng với cơ quan BHYT còn có cả các cơ sở y tế dân lập.
BHYT là một phạm trù phát triển của xã hội, đóng vai trò quan trọng không những với người tham gia, các cơ sở y tế mà còn là nhân tố quan trọng trong việc thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác y tế nhằm huy động nguồn tài chính ổn định, phát triển đa dạng các thành phần KCB.
1.2. NỘI DUNG NÂNG CAO ĐỘ BAO PHỦ BẢO HIỂM Y TẾ HỘ GIA ĐÌNH
Nội dung độ bao phủ BHYT HGĐ bao gồm nhiều yếu tố ảnh hưởng mang tính quyết định tới sự phát triển và không phát triển của BHYT HGĐ. Nội dung bao gồm:
1.2.1. Về số lượng người tham gia BHYT HGĐ
Để bảo đảm nâng cao độ bao phủ BHYT HGĐ cần bảo các yêu cầu sau:
– Giữ vững độ bao phủ BHYT HGĐ.
– Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng số lượng tham gia BHYT HGĐ hàng năm.
Tuy vậy, để thực hiện được cần phải có lộ trình phù hợp và phải làm tốt công tác tuyên truyền để người dân hiểu việc tham gia BHYT là nghĩa vụ và qu ền lợi thiết thực.
Để tăng tỷ lệ bao phủ BHYT HGD, cần phải thực hiện đồng bộ các biện pháp như tăng cường công tác chỉ đạo điều hành và sự phối hợp, chung ta vào cuộc của cả hệ thống chính trị; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn, tổ chức triển khai các văn bản quy phạm pháp luật về BHYT phù hợp với vùng miền, nhóm đối tượng.
1.2.2. Phát triển cơ cấu tham gia bảo hiểm y tế hộ gia đình
Phát triển phù hợp với năng lực quản lý của cơ quan BHXH và phù hợp với định hướng phát triển kinh tế, xã hội chung của đất nước. Như vậy, về cơ chế chính sách cần có cơ chế chính sách chung, áp dụng phạm vi cả nước. Việc mở rộng độ “bao phủ” của chế độ chính sách phải căn cứ vào phát triển kinh tế – xã hội nhằm thu hút mọi người dân hiểu được vai trò của BHYT HGĐ đối với bản thân và gia đình họ.
Nội dung phát triển cơ cấu tham gia BHYT HGĐ: Phân tích việc tham gia BHYT HGĐ qua báo cáo của BHXH huyện, phân tích lý do không tham gia BHYT HGĐ của các hộ dân, các thành viên trong gia đình.
1.2.3. Phát triển về chất lượng cung cấp dịch vụ bảo hiểm y tế hộ gia đình
1.2.3.1. Tổ chức dịch vụ thu
Tổ chức dịch vụ thu BHYT là người trực tiếp tuyên truyền chính sách BHYT đến với người dân, là người gần dân nhất. Do đó, Tổ chức dịch vụ thu phải là người có đầy đủ những kiến thức, kỹ năng trong tuyên truyền vận động, đồng thời phải có uy tín trong cộng đồng dân cư để có thể tiếp cận và truyền tải một cách chính xác, ý nghĩa nhất chính sách BHYT đến người dân.
Việc tổ chức đào tạo nhân viên thu để trang bị kiến thức cơ bản cho Tổ chức dịch vụ thu về chính sách BHYT; quyền lợi, nghĩa vụ của người tham gia; trình tự, thủ tục hồ sơ tham gia và thụ hưởng chế độ BHYT. Đồng thời, củng cố kiến thức và chất lượng hoạt động của nhân viên thu trong việc thực hiện thu BHYT HGĐ, từ đó phát huy hiệu quả trong hoạt động của mạng lưới Tổ chức dịch vụ thu, góp phần nâng cao tỷ lệ người dân tham gia BHYT.
Đồng thời mở rộng và đa dạng hóa mạng lưới Tổ chức dịch vụ thu BHYT, bảo đảm cho người dân có thể mua BHYT tại bất kỳ Tổ chức dịch vụ thu BHYT nào trên phạm vi cả nước theo quy định của Luật BHYT.
Việc đánh giá chất lượng phục vụ của Tổ chức dịch vụ thu được thể hiện qua sự phát triển số lượng người tham gia BHYT hàng năm qua hệ thống Tổ chức dịch vụ thu.
1.2.3.2. Cơ sở KCB BHYT
Khả năng đáp ứng được nhu cầu tiếp cận dịch vụ y tế thuận lợi và có chất lượng của các cơ sở KCB BHYT được thể hiện qua tốc độ tăng số lượt người KCB BHYT hàng năm tại các cơ sở. Tuy nhiên, một trong những vướng mắc lớn nhất của quá trình thực hiện chính sách BHYT trong nhiều năm qua là những hạn chế trong khả năng đáp ứng của các cơ sở KCB ở một số địa phương đối với nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người tham gia BHYT và thủ tục trong KCB BHYT, cụ thể như:
– Mạng lưới chăm sóc ban đầu chưa thỏa mãn nhu cầu tiếp cận dịch vụ tế thuận lợi và có chất lượng. Ở khu vực nông thôn, trạm y tế xã là điểm tiếp cận gần dân nhất, nhưng đa số y – bác sĩ ở xã ít có thời gian và thiếu điều kiện (chuyên môn, trang bị kỹ thuật, thuốc) để chăm sóc, KCB cho người có BHYT.
– Thủ tục KCB BHYT, quy trình chuyển tuyến còn phiền hà, thẻ BHYT chỉ có giá trị tại các cơ sở y tế có ký hợp đồng KCB BHYT đã làm giảm đi phần nào ý nghĩa và giá trị khi tham gia BHYT.
– Khám, chữa bệnh vượt dẫn tới sự quá tải ở tuyến trên (bệnh viện tỉnh, đặc biệt là các bệnh viện trung ương) đã phần nào làm ảnh hƣởng đến chất lượng dịch vụ y tế và sự tốn kém của người tham gia BHYT phải gánh chịu các chi phí không chính thức và chi phí cơ hội lớn ở tuyến trên; những chi phí này thường lớn hơn so với chi phí được BHYT chi trả. Đây cũng là nguyên nhân chính làm cho người dân không muốn tham gia BHYT, với nhiều người, BHYT chỉ thực sự có giá trị khi bị mắc bệnh nặng hoặc phải vào điều trị nội trú.
Những hạn chế đó dẫn tới sự chưa hài lòng của các bên tham gia BHYT, nhất là làm giảm niềm tin của người dân đối với chính sách BHYT, làm ảnh hưởng đến ý định tham gia BHYT của người dân.
Như vậy, nâng cao chất lượng phục vụ cũng như chất lượng công tác KCB ở bất kỳ cơ sở KCB nào từ trung ương đến địa phương được thể hiện: Phát triển đội ngũ cán bộ y tế, tức là đội ngũ y, bác sỹ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, cán bộ quản lý trong ngành y tế ngày càng nhiều, đáp ứng được yêu cầu KCB có xu hướng ngày càng tăng của người tham gia BHYT HGĐ. Trong điều kiện ô nhiễm môi trường, dịch bệnh có chiều hướng phức tạp luôn đòi hỏi đội ngũ cán bộ y tế phải phát triển tương ứng không chỉ về số lượng mà cả chất lượng. Yếu tố này cũng có tác động rất lớn đối với sự phát triển BHYT HGĐ, bởi vì, nếu không đủ cán bộ y tế, chất lượng KCB của đội ngũ y, bác sỹ thấp thì người tham gia sẽ không mặn mà hưởng ứng, họ sẽ tìm đến các kênh KCB khác để tham gia.
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Y TẾ HỘ GIA ĐÌNH
1.3.1.1. Yếu tố tự nhiên
Điều kiện tự nhiên của từng địa phương cũng tác động không nhỏ đến việc phát triển BHYT HGD. Các địa phương có điều kiện tự nhiên và xã hội có nhiều ưu đãi việc thành lập, hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn tốt hơn, từ đó tác động đến quá trình tham gia BHYT. Bởi người dân có nguồn thu nhập ổn định sẽ có điều kiện phát triển BHYT HGĐ cho chính họ và người thân… Trong khi đó, một số địa phương, đặc biệt là các tỉnh miền núi như Kom Tum, Đăk Lăk, Đăk Nông… điều kiện tự nhiên hạn chế, các doanh nghiệp trên địa bàn vừa và nhỏ.
Dân số Đắk Lắk phân bố không đều trên địa bàn các huyện, tập trung chủ yếu ở thành phố Buôn Ma Thuột, thị trấn, huyện lỵ, ven các trục Quốc lộ 14, 26, 27 chạy qua như Krông Búk, Krông Pắk, Ea Kar, Krông Ana. Các huyện có mật độ dân số thấp. Đắk Lắk là tỉnh có nhiều dân tộc cùng chung sống, mỗi dân tộc có những nét đẹp văn hoá riêng. Điều này, ảnh hưởng đến việc nâng cao tỷ lệ bảo phủ bảo hiểm y tế hộ gia đình.
1.3.1.2. Yếu tố kinh tế – xã hội
Điều kiện phát triển kinh tế xã hội có ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn thu BHXH, BHYT, BHTN nói riêng và chính sách an sinh xã hội của toàn Ngành BHXH nói chung, khi kinh tế xã hội kém phát triển thì các doanh nghiệp đang hoạt động sẽ bị giảm sút, đồng thời khi nền kinh tế đi xuống, sẽ có thêm nhiều phá sản, ngừng hoạt động dẫn tới người lao động sẽ bị mất việc làm, tình trạng thất nghiệp tràn lan, bùng phát. Khi kinh tế xã hội phát triển nhiều dự án xây dựng, nhà máy mở rộng đầu tư. Một số doanh nghiệp lớn mở rộng quy mô sản xuất tại các khu công nghiệp; các làng nghề truyền thống cũng ngày càng phát triển tạo việc làm cho nhiều lao động. Đây là điều kiện thuận lợi để mở rộng, góp phần giúp người dân tham gia BHYT HGĐ.
1.3.2.1. Chiến lược phát triển của ngành BHXH
BHXH và BHYT là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước. Phát triển ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam phù hợp với định hướng phát triển hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại, hội nhập quốc tế; hướng tới bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế toàn dân theo lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội; kết hợp hài hoà các nguyên tắc đóng – hưởng; công bằng, công khai, minh bạch; chia sẻ và bền vững. Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, doanh nghiệp và của mỗi người dân. Ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại, chuyển đổi số đi đôi với phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao và hoàn thiện hệ thống tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế đảm bảo tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả, hiện đại là những yếu tố then chốt cho sự phát triển bền vững của ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam; góp phần nâng cao sự hài lòng của người dân, tổ chức, doanh nghiệp. Tăng cường hợp tác quốc tế để có thêm nguồn lực, kinh nghiệm trong việc thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.
Với những quan điểm đó, ngành đã có chiến lược tổng thể:
– Phát triển ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả nhằm thực hiện tốt các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; từng bước mở rộng bền vững diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế toàn dân.
– Nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng tài chính các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo đúng quy định của pháp luật và nguyên tắc tập trung thống nhất, công khai, minh bạch, đảm bảo an toàn.
– Đầu tư các quỹ bảo hiểm thực hiện theo đúng quy định của pháp luật bảo đảm an toàn, bền vững, hiệu quả.
– Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của Bảo hiểm xã hội Việt Nam theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cải cách, hiện đại hóa ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam, đảm bảo thực hiện đúng quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phù hợp tình hình thực tiễn.
– Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số. Nâng cao hiệu quả hoạt động trên nền tảng hiện đại, tích hợp, liên thông, xử lý tập trung, bảo đảm an toàn thông tin mạng; tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới nhằm phục vụ tốt hơn người dân, doanh nghiệp tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; đồng thời góp phần thực hiện Chương trình Chuyển đổi số quốc gia của Chính phủ.
1.3.2.2. Nguồn nhân lực của ngành BHXH
Trong những năm qua ngành BHXH đã không ngừng phát triển và đạt được những kết quả to lớn trong việc thực hiện chính sách BHXH, BHYT, BHTN hướng tới mục tiêu “BHXH cho mọi người lao động và Bảo hiểm y tế toàn dân” nhằm đảm bảo An sinh xã hội theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020 và cải cách chính sách BHXH theo tinh thần Nghị quyết số 28/NQ-TW ngày 23/5/2018, Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành TW khóa XII về cải cách chính sách BHXH nhằm “Phát triển hệ thống BHXH linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc đóng – hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển hệ thống thực hiện chính sách BHXH tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, tin cậy và minh bạch”. Để đạt được mục tiêu đó BHXH Việt Nam đã không ngừng nỗ lực đổi mới, kiện toàn hệ thống tổ chức, đặc biệt là nâng cao đạo đức công vụ, nghề nghiệp và thực hiện chuyển đổi tác phong làm việc từ hành chính thụ động sang phục vụ đây là nhiệm vụ trọng tâm, nhằm đáp ứng yêu cầu của Ngành. Trong đó, đặc biệt chú trọng tới công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, từ đó, góp phần xây dựng đội ngũ công chức, viên chức Ngành BHXH chuyên nghiệp, có đủ phẩm chất, trình độ và năng lực, đáp ứng yêu cầu tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT, BHTN phục vụ nhân dân và hội nhập quốc tế cùng với sự gia tăng của người tham gia và người thụ hưởng BHXH, BHYT, BHTN, BHXH Việt Nam luôn chú trọng đến việc phát triển, đào tạo nguồn nhân lực của ngành.
1.3.2.3. Công nghệ
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế về an sinh xã hội đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới và khu vực, ngành BHXH xác định cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm đáp ứng được các yêu cầu tổ chức, thực hiện chính sách BHXH, BHYT trong tình hình mới. Những năm qua, BHXH Việt Nam đã triển khai mạnh mẽ ứng dụng công nghệ thông tin, theo đó đã xây dựng các phần mềm nghiệp vụ bao phủ hầu hết các hoạt động của Ngành.
BHXH Việt Nam đã hoàn thành cung cấp 100% dịch vụ công mức độ 4 cho tất cả các TTHC của ngành; thực hiện chi trả cho khoảng 48% số người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH, trợ cấp thất nghiệp qua tài khoản cá nhân ở khu vực đô thị… Với việc triển khai kết nối, tích hợp, cung cấp 15 dịch vụ công trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Toàn ngành BHXH Việt Nam đang có gần 30 hệ thống ứng dụng CNTT quản lý các quy trình nghiệp vụ, với hơn 20.000 tài khoản công chức viên chức thường xuyên truy cập, khai thác và sử dụng để thực hiện các nghiệp vụ của ngành. Theo đó, gần như tất cả các hoạt động của ngành, cũng như các giao dịch của người tham gia, người dân, đơn vị, doanh nghiệp với cơ quan BHXH đã được thực hiện trên môi trường số; người dân, doanh nghiệp có thể giao dịch với cơ quan BHXH mọi lúc mọi nơi.
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Y TẾ HỘ GIA ĐÌNH
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LẮK
2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BHXH HUYỆN KRÔNG BÔNG
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Thực hiện Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 của Chính phủ, ngày 15/6/1995 Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam có Quyết định số 18/QĐ-BHXH-TCCB về việc thành lập BHXH tỉnh Đăk Lăk. Ngày 29/07/1995, Giám đốc BHXH tỉnh Đăk Lăk ban hành Quyết định số 01 QĐ/TC-CB về việc thành lập Bảo hiểm xã hội huyện Krông Bông.
Là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh đặt tại huyện, có chức năng giúp Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện theo quy định.
BHXH huyện Krông Bông có trụ sở tại Tổ dân phố 1, thị trấn Krông Kmar, huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk.
Tính đến tháng 12/2023, BHXH huyện có 11 lao động, trong đó có 5 nam, 6 nữ.
2.2.2. Chức năng, nhiệm vụ và cao cấu bộ máy
2.2.2.1. Vị trí, chức năng
Bảo hiểm xã hội huyện là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh đặt tại huyện, có chức năng giúp Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện theo quy định.
Bảo hiểm xã hội huyện chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh và chịu sự quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Bảo hiểm xã hội huyện có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và trụ sở riêng.
Không tổ chức đơn vị Bảo hiểm xã hội huyện tại đơn vị hành chính là thành phố trực thuộc tỉnh, nơi có trụ sở Bảo hiểm xã hội tỉnh đóng trên địa bàn.
2.2.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn
– Xây dựng trình Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh kế hoạch dài hạn, ngắn hạn về phát triển bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn và chương trình công tác hàng năm; tổ chức thực hiện kế hoạch, chương trình sau khi được phê duyệt.
– Phối hợp với các phòng, ban liên quan tham mưu cho Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện xây dựng, ban hành nghị quyết, kế hoạch chỉ đạo tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện.
– Thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến các chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.
– Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ theo phân cấp của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Bảo hiểm xã hội tỉnh, cụ thể:
+ Cấp, quản lý mã số bảo hiểm xã hội; cấp sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế cho người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quản lý, sử dụng phôi sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế theo đúng quy định;
+ Xác định, khai thác, phát triển, quản lý người tham gia và hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế. Tổ chức thu hoặc ký hợp đồng ủy quyền cho tổ chức dịch vụ thu các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế đối với các tổ chức và cá nhân tham gia. Từ chối việc đóng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế không đúng quy định của pháp luật. Kiểm tra việc đóng nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng lao động. Thực hiện các giải pháp nhằm hạn chế tình trạng trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo phân cấp của Bảo hiểm xã hội tỉnh;
+ Giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội huyện; Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính cấp huyện; theo dõi tăng, giảm số người hưởng chế độ bảo hiểm xã hội;
+ Tiếp nhận hồ sơ giải quyết việc tính thời gian công tác cho người lao động có thời gian công tác trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 (bao gồm trường hợp người lao động không còn hồ sơ gốc thể hiện thời gian làm việc trong khu vực nhà nước và điều chỉnh làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm) theo phân cấp của Bảo hiểm xã hội tỉnh;
+ Chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; từ chối chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế không đúng quy định;
+ Tiếp nhận khoản kinh phí từ ngân sách Nhà nước chuyển sang để đóng, hỗ trợ đóng cho người tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội tự nguyện;
+ Quản lý, sử dụng, hạch toán kế toán các nguồn kinh phí và tài sản của Bảo hiểm xã hội huyện theo phân cấp;
+ Tổ chức ký hợp đồng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế với các cơ sở khám, chữa bệnh có đủ điều kiện theo quy định hiện hành; thực hiện tạm ứng, giám định chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, thanh quyết toán chi khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội Việt Nam đối với các cơ sở khám, chữa bệnh được phân cấp ký hợp đồng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế; thanh toán trực tiếp chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế cho người có thẻ bảo hiểm y tế; bảo vệ quyền lại của người tham gia bảo hiểm y tế và chống lạm dụng, trục lợi chế độ bảo hiểm y tế;
+ Tổ chức thực hiện các hoạt động hỗ trợ, giải đáp, tư vấn chính sách pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; khảo sát, đo lường sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện.
– Giải quyết các khiếu nại, kiến nghị, phản ánh về việc thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế đối với các tổ chức, cá nhân tham gia và các cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế theo quy định.
– Thực hiện chương trình, kế hoạch cải cách hành chính; công tác kiểm soát thủ tục hành chính và công tác pháp chế theo chỉ đạo, hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội tỉnh. Tổ chức triển khai hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN vào hoạt động của Bảo hiểm xã hội huyện.
– Tổ chức thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định.
– Thực hiện số hóa hồ sơ, giấy tờ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính và số hóa hồ sơ, tài liệu hành chính, nghiệp vụ; thực hiện công tác lưu trữ hồ sơ, tài liệu hành chính, nghiệp vụ; hồ sơ của người tham gia và hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế (gồm cả giấy và điện tử) theo quy định.
– Hướng dẫn việc thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho các tổ chức, cá nhân tham gia.
– Chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội trên địa bàn, các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế để giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định. Phối hợp với các đơn vị có liên quan trình Ủy ban nhân dân cấp huyện xây dựng kế hoạch giao chỉ tiêu phát triển người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và phát triển người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên cơ sở kế hoạch được giao.
– Đề xuất, kiến nghị, phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế. Tham gia đoàn thanh tra, kiểm tra do Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh thành lập.
– Có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn. Gửi văn bản kiến nghị khởi tố kèm theo chứng cứ, tài liệu có liên quan đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tại cấp huyện để xem xét, khởi tố theo quy định của pháp luật khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định của Bộ luật Hình sự.
– Đề nghị các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương thực hiện điều tra lại các vụ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo phân cấp quản lý
D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE CUONG DE AN 2024/ Giải pháp nâng cao độ bao phủ bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Krông Bông tỉnh Đắk Lắk
Giải pháp nâng cao độ bao phủ bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Krông Bông tỉnh Đắk Lắk

