Địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam dưới góc nhìn ngôn ngữ

Địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam dưới góc nhìn ngôn ngữ

Địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam dưới góc nhìn ngôn ngữ

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trước tiên là một người con xứ Quảng, thêm vào đó là người đang hoạt động trong lĩnh vực du lịch, nay lại được tiếp cận với lý luận của ngôn ngữ học nên người viết luôn tâm niệm sẽ thực hiện đề tài “Địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam dưới góc nhìn ngôn ngữ” như một đóng góp thiết thực vào việc bảo tồn địa danh, phát triển du lịch Quảng Nam bền vững, góp phần quảng bá văn hóa và thương hiệu “người Quảng Nam”.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi xác định các mục tiêu như sau:

– Mô tả bức tranh tổng thể, sinh động về đời sống của cư dân Quảng Nam với những gam màu đặc sắc riêng có, và đây cũng là di sản quý giá cần bảo tồn cho thế hệ mai sau.

– Sử dụng và khai thác các địa danh văn hóa du lịch như “nguồn nguyên liệu” đặc biệt cho ngành Du lịch.

– Nâng cao công tác quảng bá điểm đến qua thương hiệu “xứ Quảng” làm sống lại nét đẹp của một vùng quê Duyên hải Nam Trung bộ trù phú.

– Góp một tài liệu khoa học vào việc nghiên cứu về địa danh nói chung và địa danh văn hóa du lịch nói riêng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ý nghĩa và giá trị biểu trưng của địa danh văn hóa du lịch tỉnh Quảng Nam.

3.2 Phạm vi nghiên cứu: tập trung khảo sát địa danh văn hoá du lịch trên địa bàn thành phố Hội An (bao gồm xã đảo Tân Hiệp) và huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam.

4. Phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp so sánh lịch sử

4.2. Phương pháp thống kê, phân loại

4.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp

4.4. Phương pháp điền dã

4.5. Phương pháp khảo sát bản đồ

5. Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung của luận văn được triển khai thành 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài.

Chương 2: Khảo sát, phân loại và đặc điểm cấu tạo của địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam.

Chương 3: Đặc điểm ý nghĩa và giá trị biểu trưng của địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam.

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

6.1. Các công trình nghiên cứu về địa danh trên thế giới và ở Việt Nam

6.1.1. Các công trình nghiên cứu về địa danh trên thế giới.

6.1.2. Ở trong nước

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA DANH

1.1.1. Khái niệm địa danh

Địa danh là những từ ngữ được con người lựa chọn để định danh cho các đối tượng tự nhiên và nhân tạo. Những đối tượng tự nhiên bao gồm phần lớn liên quan đến địa hình địa mạo tự nhiên như cồn, mũi, hói, hòn, rừng, bãi, gò, hang, sông, vũng, khe, sũng, dốc, trảng, bàu, hố, nổng, suối, đầm, biền, cửa, dòn, eo, bực, dải, hục, rộc, doi, đồi, lạch, nhỏn, vịnh, bộc, cù lao, gành, kinh, lố, lùm, rạn, truông … Những đối tượng nhân tạo liên quan đến các đơn vị cư trú hành chính hoặc dân gian, các công trình văn hóa tôn giáo tín ngưỡng, các công trình dân dụng hoặc quân sự … như tổng, làng, xã, thôn, xóm, ấp, vạn, phổ, phường, giáp, đình, chùa, lăng, miếu, cầu cống, đường sá, đập, trường, chợ, thành lũy, đồn bốt, lô cốt …

1.1.2. Khái niệm địa danh văn hóa du lịch

Luật Du lịch của nước ta cũng đã khẳng định: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình sáng tạo của con người được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch: là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch”.

Địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam dưới góc nhìn ngôn ngữ
Địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam dưới góc nhìn ngôn ngữ

Từ quan điểm về địa danh nói trên và căn cứ vào luật Du lịch, chúng tôi đưa ra khái niệm về địa danh văn hoá du lịch như sau:

“Địa danh văn hóa du lịch trước hết là lớp từ ngữ đặc biệt, được định ra để đánh dấu vị trí, xác lập tên gọi các đối tượng tự nhiên hay nhân tạo, mà các đối tượng này có thể là các dạng địa hình tự nhiên đặc biệt, các danh lam, thắng cảnh, các đơn vị cư trú hành chính dân gian cổ mang đậm sắc thái bản địa, các làng nghề truyền thống – thủ công mỹ nghệ, các công trình kiến trúc nổi tiếng, các công trình mang dấu ấn văn hóa lịch sử của cộng đồng … sở hữu vẻ đẹp độc đáo, thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc, có sức hút đối với du khách trong và ngoài nước”.

1.1.3. Phân loại địa danh

– Dựa vào đối tượng, căn cứ vào tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên có hai nhóm địa danh:

+ Địa danh văn hóa du lịch (VHDL) chỉ các đối tượng tự nhiên.

+ Địa danh văn hóa du lịch chỉ các đối tượng nhân tạo

– Dựa vào ngữ nguyên, địa danh VHDL được chia thành nhóm: có nguồn gốc thuần Việt, có nguồn gốc Hán Việt, có nguồn gốc tiếng Nhật, có nguồn gốc tiếng Chăm, có nguồn gốc hỗn hợp, tồn nghi về nguồn gốc;

– Dựa vào số lượng âm tiết, chia địa danh VHDL thành: đơn âm tiết và đa âm tiết (từ 2 âm tiết trở lên);

1.2. KHÁI QUÁT VỀ QUẢNG NAM

1.2.1. Vị trí địa lý, địa hình Quảng Nam

Danh xưng Quảng Nam ra đời và tồn tại cho đến nay là 543 năm (1471-2014). Trong hơn 5 thế kỷ hình thành, Quảng Nam đã trải qua nhiều thay đổi về tên gọi đơn vị hành chính, về địa giới, và đã diễn ra không ít lần tách ra, nhập vào.

Chính môi trường địa lý tự nhiên và mối quan hệ giữa chúng với các thế hệ tiền chủ nhân của vùng đất, đã góp phần quan trọng tạo nên những sắc thái văn hoá đặc trưng xứ Quảng, tạo nên những sản phẩm du lịch độc đáo và đa dạng.

1.2.2. Khí hậu

1.2.3. Con người Quảng Nam

Từ khí thiêng của xứ sở – những bãi cát trắng phau, màu xanh của ruộng đồng phù sa – của cái mặn mòi vị biển, hòa quyện sự dịu ngọt, hiền hòa của những dòng sông… đã hun đúc trong tâm hồn, đã hình thành phong cách, phẩm chất tốt đẹp của bao lớp người dân Quảng Nam. Đó là: cần cù trong lao động, dũng cảm trong chiến đấu, sống trung thực – nghĩa tình với bạn bè, quảng giao hiếu khách, tinh thần tự tôn dân tộc và lòng yêu nước nồng nàn.

1.2.4. Tổng quan về lịch sử Quảng Nam

http://vpubnd.quangnam.vn/Portals/0/Hinh%20Anh/BanDoHanhChinhTinhQuangNam.jpg

Bản đồ 1.2: Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Nam

(Nguồn: internet)

1.2.5. Tình hình kinh tế xã hội Quảng Nam

Việt Nam nói chung, Quảng Nam nói riêng thì “biển” và “rừng” luôn là hai nguồn tài nguyên thiên nhiên đem lại lợi ích kinh tế lớn. Cù Lao Chàm là quần thể đảo đã một thời vang danh là “cây nêu” của những chuyến tàu giao thương với nước Đại Việt và ngày nay là khu dự trữ sinh quyển – điểm đến hấp dẫn của khách du lịch.

1.2.6. Tài nguyên

a. Tài nguyên đất

b. Tài nguyên rừng

c. Tài nguyên biển

d. Tài nguyên khoáng sản

e. Tài nguyên du lịch

1.2.7. Dân cư

1.2.8. Văn hoá

1.2.9. Phương ngữ Quảng Nam

Những điều kiện địa lý tự nhiên và lịch sử xã hội là những nguyên nhân chính làm nên sự khác biệt của phương ngữ Quảng Nam so với các vùng phương ngữ khác. Về địa lý tự nhiên, Quảng Nam là mảnh đất “phên dậu”, “vai kề núi, lưng tựa biển” nên người dân quen “ăn to nói lớn”, “ăn sóng nói gió”. Trước năm 1975, phương tiện giao thông chưa thuận tiện, phương tiện truyền thông đại chúng như là phát thanh truyền hình, mạng internet … lại càng hiếm. Người dân quen ở một chỗ, ít giao lưu với nhau, ít nghe nhau nói, có người suốt đời không có dịp ra khỏi làng. Chính vì thế hệ thống phương ngữ Quảng Nam gần như được bảo lưu trọn vẹn. Địa hình hiểm trở khiến ngữ thanh của từng địa phương nhỏ rất khác nhau; Chỉ trong một địa bàn Quảng Nam, những bà con vùng núi nói, vùng biển chưa chắc đã nghe và hiểu được.

Thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh trong lịch sử Việt Nam, hẳn đã tác động mạnh mẽ làm nên sự khác biệt đáng kể về ngôn ngữ giữa hai miền Nam – Bắc nước ta. Nguyên nhân này cũng ảnh hưởng tới các phương ngữ xét theo vùng lãnh thổ, Quảng Nam là một trong những địa phương nằm trong phạm vi ảnh hưởng đó.

Phương ngữ Quảng Nam có những đặc điểm riêng như dưới đây:

* Về hệ thống âm đầu:

So với hệ thống âm đầu của tiếng Việt thì trong phương ngữ của tỉnh Quảng Nam vẫn phát âm tương đối đầy đủ các âm vị, đặc biệt là các âm quặt lưỡi [tr], [s], [r] được phát âm rất tốt. Tuy nhiên, vẫn có một điểm khác biệt nhỏ so với hệ thống âm vị chuẩn của tiếng Việt, đó là hiện tượng /v/ được phát âm thành /z/ chẳng hạn như: vịt (con vịt) → dịt, về (về nhà) → dề … Như vậy, trong hệ thống âm đầu của phương ngữ Quảng Nam chỉ còn 21 âm (/v/ và /z/ thành một).

Trong phương ngữ Quảng Nam, âm đệm /-w-/ trong quá trình phát âm bị bỏ qua, ví dụ như: hoa huệ → qua quệ, hoàng → quàng…

* Hệ thống âm chính:

– Nguyên âm trong vần có bán nguyên âm cuối: “ay” → “ai”, “ai” → “ưa”, “au” → “a”, “ây” → “ai”, “âu” → “ao”, “oi” → “ua”, “ao” → “ô”. Ví dụ như: tày đình – tài đình, hái đậu – hứa đạo, tháo nước – thố nước, thói quen – thúa quen, thấu đáo – tháo đố, sưng tấy – sưng tái …

– Các nguyên âm đôi “iê” 🡪 “i”, “ươ” 🡪 “ư”, “uô” 🡪 “u” trong bối cảnh /-p/,/-m/,/-c/, /-ng/, /-u/, /-i/. Ví dụ: hiệp – hịp, khiêm(tốn) – khim, nguội – ngụi…

– Nguyên âm trong vần có chung âm môi: nguyên âm /a:/ (dài) được phát âm thành /ɔ/ ngắn, /ɔ/ ngắn được phát âm thành /o/, /o/ được phát âm thành /∂/ dài, /ă/ phát âm thành /a/ dài. Chẳng hạn như: xe đạp – xe độp, săm lốp – sam lớp, cuộc họp – cuộc hộp, đào sâu – đồ sao, máu cam – má com …

– Nguyên âm trong các vần có âm cuối là các âm mặt lưỡi: “ong” → “ang”, “oc” → “ac”, “ông, ôc” → “ong, oc”, “uô” → “u”, “ươ” → “ư”. Ví dụ như: thòng lọng – thàn lạn, đấm bốc – đám bóc, hộc tốc – học tóc, thống đốc – thóng đóc, thuốc lá – thút loá …

Trong hệ thống âm cuối của tiếng Quảng Nam, các âm đầu lưỡi và mặt lưỡi không phân biệt với nhau. Âm mặt lưỡi được chuyển thành âm đầu lưỡi: /ŋ/ → /n/, âm đầu lưỡi chuyển thành âm mặt lưỡi: /t/ → /k/. Chẳng hạn như: tắt đèn – tắc đèn (không phân biệt được “tắt” với “tắc” (tắc nghẽn)), tập viết – tập viếc, ngang ngạnh – ngan ngạnh (không phân biệt được “ngang” với “ngan” (con ngan), thương yêu – thươn iu …

Nhìn chung, hệ thống âm vị của phương ngữ Quảng Nam có sự biến đổi đặc biệt ở hệ thống nguyên âm, đây chính là nét đặc sắc của vùng phương ngữ này. Hệ thống âm đầu và âm cuối tuy cũng có nét khác biệt so với hệ thống âm vị của tiếng Việt nhưng đó là những sai biệt không mấy đáng kể. Còn hệ thống thanh điệu cũng nằm trong xu thế chung của vùng phương ngữ Nam Trung Bộ (chỉ có 5 thanh, thanh ngã và thanh hỏi nhập làm một).

Trong quá trình điền dã, chúng tôi thỉnh thoảng vẫn nghe một số bậc cao niên của xã đảo Tân Hiệp phát âm thanh ngã và thanh hỏi như thanh nặng: của 🡪 cụa, nữa 🡪 nựa …. (na ná với phương ngữ vùng Thanh Nghệ Tĩnh) (theo ghi âm phỏng vấn tại Bãi Làng xã Tân Hiệp vào ngày 01/09/2014: cụ ông Huỳnh Hanh – chủ tịch Hội người cao tuổi xã Tân Hiệp, cụ ông Nguyễn Từ – Trưởng Ban Trị sự Chùa Hải Tạng, cụ bà Trần Thị Thệ và một số cụ ông, cụ bà tại địa phương…)

Chính hệ thống nguyên âm trong phần vần của tiếng Quảng Nam là nét đặc biệt để cho những người dân vùng khác có thể phân biệt tiếng Quảng Nam với những vùng phương ngữ khác. Ngoài những khác biệt trong hệ thống âm vị, ở Quảng Nam còn có những khác biệt trong ngôn ngữ nói, đó là những từ địa phương làm nên đặc trưng riêng của tiếng Quảng mà khi nghe người Quảng Nam phát âm chúng ta sẽ cảm nhận được thế nào là “rặt Quảng Nam”.

CHƯƠNG 2

KHẢO SÁT, PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA ĐỊA DANH VĂN HÓA DU LỊCH QUẢNG NAM

2.1. KẾT QUẢ THU THẬP ĐỊA DANH VĂN HÓA DU LỊCH (VHDL) Ở QUẢNG NAM

Từ những nguồn tư liệu đã nêu và qua quá trình khảo sát thực tế, chúng tôi đã thu thập được 301 địa danh văn hóa du lịch.

2.2. PHÂN LOẠI ĐỊA DANH VĂN HÓA DU LỊCH QUẢNG NAM

2.2.1. Phân loại theo đối tượng

a. Địa danh văn hóa du lịch chỉ đối tượng tự nhiên

Quảng Nam có 139 địa danh văn hóa du lịch chỉ địa hình tự nhiên chiếm 46%.

b. Địa danh văn hóa du lịch chỉ đối tượng nhân tạo

Chúng tôi đã khảo sát được 162 địa danh VHDL Quảng Nam chỉ đối tượng nhân tạo, chiếm 54% trong tổng số và đây cũng chính là “nguồn nguyên liệu” chủ yếu cho ngành Du lịch hiện nay.

Bảng 2.1 Kết quả phân loại địa danh VHDL Quảng Nam theo tiêu chí tự nhiên – không tự nhiên.

Tiêu chíPhân loại Địa danhSố lượngTỷ lệ %
Tự nhiênĐối tượng tự nhiênSơn danh781392646
Thủy danh6120
Không tự nhiênĐối tượng nhân tạoHành chính cư trú916233
Công trìnhVH tín ngưỡng tôn giáo802740
dân dụng – công ích XH3311
QS – chính trị72
Vùng lãnh thổ không có ranh giới rõ ràng331111
Cộng301301100100

Có thể hình dung sự phân bố các loại hình địa danh theo tiêu chí tự nhiên – không tự nhiên ở biểu đồ 2.1.

Biểu đồ 2.1: Sự phân bố các loại hình địa danh VHDL Quảng Nam

2.2.2. Phân loại theo ngữ nguyên

a. Địa danh VHDL thuần Việt: Số lượng địa danh thuần Việt là 135, chiếm 45% tổng số lượng địa danh Quảng Nam.

b. Địa danh VHDL có nguồn gốc Hán – Việt: Địa danh này có số lượng tổng cộng là 115, chiếm tỷ lệ 38%.

c. Địa danh VHDL có nguồn gốc hỗn hợp: Với 32 địa danh chiếm 10%.

d. Địa danh VHDL có nguồn gốc Chăm: có 11 địa danh gốc Chăm, chiếm tỷ lệ 4%.

e. Địa danh VHDL có nguồn gốc tiếng Nhật

f. Địa danh VHDL tồn nghi về nguồn gốc

Bảng 2.2: Tổng hợp số lượng tên riêng theo ngữ nguyên

SttNguồn gốcĐịa danh VHDL chỉ đối tượng tự nhiênĐịa danh VHDL chỉ đối tượng nhân tạo
Số lượngTỷ lệ %Số lượngTỷ lệ %
1Thuần Việt90644528
2Hán Việt27198854
3Hỗn hợp1292012
4Chăm5464
5Nhật0032
6Tồn nghi5400
Tổng cộng139100162100

2.3. ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO ĐỊA DANH VĂN HÓA DU LỊCH QUẢNG NAM

2.3.1. Quan điểm về lý thuyết định danh, thành tố chung, thành tố riêng và quan hệ giữa hai thành tố

Trên cơ sở các ý kiến của các nhà nghiên cứu và qua thực tế khảo sát, trong luận văn của mình, chúng tôi cùng thống nhất một số quan niệm như sau:

– Chúng tôi sử dụng tên gọi “thành tố chung”.

– Mỗi địa danh gồm hai thành tố, thành tố chung (A) là từ, ngữ danh pháp và thành tố riêng (B) là tên riêng.

– Về vấn đề xem xét địa danh chỉ là tên riêng hay thành tố chung, có thể tuỳ “hoàn cảnh” mà áp dụng linh hoạt.

– Về quan hệ giữa thành tố chung (A) và thành tố riêng (B): A là cái được hạn định và B là cái hạn định. Tuy nhiên, quan hệ giữa A và B không phải là giản lược (A+B) như một tổng số mà A và B luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau, quy định lẫn nhau trong các quan hệ ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp.

2.3.2 Thành tố chung trong địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam

Thành tố chung (A) là những danh từ (hay danh ngữ) dùng để gọi tên và chỉ một lớp sự vật, đối tượng cùng thuộc tính.

Qua thống kê chúng tôi thấy rằng về cấu tạo, thành tố chung có cấu tạo đơn (một âm tiết) có số lượng áp đảo: 29 thành tố trong tổng số 45 thành tố chung, chiếm tỷ lệ 65%.

Thành tố chung cấu tạo hai âm tiết chiếm tương đối với 15 thành tố có tỷ lệ là 35%.

Địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam dưới góc nhìn ngôn ngữ
Địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam dưới góc nhìn ngôn ngữ

2.3.3 Thành tố riêng trong địa danh VHDL Quảng Nam

Trong phức thể địa danh, thành tố riêng là thành tố thứ hai luôn đứng sau thành tố chung (thành tố A) và vị trí của thành tố riêng (thành tố B) trong phức thể địa danh tiếng Việt là đứng sau thành tố chung làm nhiệm vụ hạn định cho thành tố này.

Thành tố riêng gồm những từ, cụm từ có chức năng gọi tên cho từng đối tượng. Ngoài những thành tố riêng được cấu tạo bởi những yếu tố Hán – Việt thì có một số địa danh mang đậm dấu ấn của phương ngữ Quảng Nam – cấu tạo từ những yếu tố thuần Việt.

Số lượng địa danh có thành tố riêng cấu tạo từ một âm tiết (địa danh đơn tiết) tương đối phổ biến, chiếm 27%, với 80 địa danh. Thuộc địa danh đơn tiết chủ yếu là các địa danh thuần Việt.

Các thành tố riêng có cấu tạo đơn này thuộc về các lớp từ khác nhau nhưng phổ biến nhất là danh từ (37 địa danh), tiếp theo là động từ – 9 địa danh, tính từ với 7 địa danh.

Địa danh đa tiết là địa danh có thành tố riêng cấu tạo từ 2 âm tiết trở lên (cấu tạo phức). Với tổng số liệu địa danh thu thập được là 211 thì loại địa danh này chiếm 73%, được chia ra như sau:

Địa danh 2 âm tiết với 160 địa danh, chiếm 53%.

Địa danh 3 âm tiết có 40 địa danh, tỷ lệ là 13%.

Địa danh có 4 âm tiết với số lượng là 12 địa danh, chiếm 4%.

Trong các thành tố riêng có cấu tạo phức, giữa các yếu tố sẽ có các kiểu quan hệ: quan hệ chính phụ, quan hệ đẳng lập và quan hệ chủ vị.

2.3.4. Các phương thức cấu tạo địa danh văn hoá du lịch Quảng Nam

Cách cấu thành địa danh Quảng Nam chủ yếu theo 3 phương thức: Phương thức tự tạo, phương thức chuyển hoá và phương thức vay mượn.

a. Phương thức tự tạo

Phương thức tự tạo là phương thức mà người định danh sử dụng những âm thanh, từ ngữ có sẵn ghép lại để gọi tên các đối tượng trong hiện thực.

a1.Dựa vào các yếu tố, đặc điểm liên quan của bản thân đối tượng để đặt tên

* Gọi theo hình dáng của đối tượng

* Gọi theo kích thước của đối tượng.

* Gọi theo tính chất của đối tượng.

* Gọi theo màu sắc của đối tượng.

* Gọi theo vật liệu xây dựng đối tượng.

a2. Dựa vào sự vật, yếu tố có quan hệ chặt chẽ với đối tượng để đặt tên

* Gọi tên theo một đối tượng cùng loại, gần gũi về hình thức.

* Gọi theo vị trí của đối tượng so với đối tượng khác.

* Gọi theo tên sản phẩm bán trên hoặc cạnh đối tượng.

* Gọi theo tên người nổi tiếng trong vùng.

* Gọi theo tên cây cỏ mọc hoặc trồng nhiều ở đó

* Gọi theo tên cầm thú sống hoặc nuôi ở đó.

* Gọi theo tên vật thể có nhiều ở nơi đó.

* Gọi theo tên công trình xây dựng ở đó.

* Gọi theo nguồn gốc của đối tượng.

* Gọi theo biến cố lịch sử hay danh nhân có liên hệ trực tiếp đến đối tượng.

a3. Kết hợp tên gọi và số để đặt tên địa danh

a4. Ghép các yếu tố Hán Việt để đặt tên

Hầu hết những yếu tố Hán Việt này đều mang ý nghĩa tốt đẹp như: Mỹ, An, Nghĩa, Thuận, Vinh, Thanh, Minh, Tân, Cẩm…chuyển tải những khát vọng về một đời sống bình yên, an lành của người dân bản địa.

* Phương thức ghép

– Ghép chữ đầu của địa danh cấp trên với một yếu tố Hán Việt khác để chỉ địa danh cấp dưới. Ví dụ: huyện Duy Xuyên 🡪 xã Duy Thu + xã Duy Trinh + xã Duy Nghĩa …

Có thể khái quát thành mô hình như sau:

A + x, y…

A + B (+ C+…)

– Ghép chữ sau của địa danh cấp trên với một yếu tố Hán Việt khác để chỉ địa danh cấp dưới. Ví dụ: phường Tân An (HA) 🡪 tổ dân phố Tân Lập + tổ dân phố An Phong.

Mô hình:

A + B

B + x (y, z…)

A + x (y, z…)

* Phương thức tách

– Giữ tên cũ và tách yếu tố đầu của tên cũ rồi thêm yếu tố Hán Việt khác để tạo thành tên mới.

– Giữ tên cũ và thêm vào yếu tố Hán Việt là từ chỉ phương hướng, vị trí.

b. Phương thức chuyển hoá

“Chuyển hoá là phương thức biến một địa danh này thành một hoặc nhiều địa danh khác. Trong quá trình chuyển hoá, địa danh mới có thể giữ nguyên dạng của địa danh cũ, hoặc thêm một yếu tố mới. Sau khi chuyển hoá, địa danh cũ có thể mất đi hoặc cùng tồn tại với địa danh mới”. Hiện tượng chuyển hoá này có thể xảy ra trong nội bộ một loại địa danh mà cũng có thể là từ loại địa danh này chuyển hoá sang các loại địa danh khác.

c.Phương thức vay mượn từ các ngôn ngữ khác

Địa danh ở Quảng Nam không chỉ là những địa danh thuần Việt mà nó còn vay mượn ngôn ngữ của nhiều dân tộc khác, trong đó chiếm số đông là địa danh Hán Việt.

CHƯƠNG 3

ĐẶC ĐIỂM Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ BIỂU TRƯNG CỦA ĐỊA DANH VĂN HÓA DU LỊCH QUẢNG NAM

3.1. ĐẶC ĐIỂM Ý NGHĨA CỦA ĐỊA DANH VĂN HÓA DU LỊCH QUẢNG NAM

3.1.1. Cơ sở lý thuyết về xác định ý nghĩa của địa danh

Chúng tôi đã bắt gặp phương pháp để xác định nghĩa của địa danh trong luận án của Nguyễn Kiên Trường:

– Căn cứ vào ngữ nghĩa của từ nhưng có chú ý đến sự biến đổi của chúng theo thời gian.

– Dùng phương pháp so sánh lịch sử để xác lập mối quan hệ ngữ âm của các đơn vị có liên quan, từ đó phục nguyên dạng cổ của tên gọi trong những trường hợp có thể và cần thiết.

– Bám chắc vào địa bàn đang khảo sát, vận dụng những tri thức có trong địa lý, lịch sử, khảo cổ, văn hóa dân gian.

Phương pháp này theo chúng tôi là mang tính thực tiễn, phù hợp với phương pháp nghiên cứu địa danh ở Việt Nam. Trên cở sở vận dụng các giải pháp đó một cách linh hoạt gắn với thực tế địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam, chúng tôi đưa ra những hướng tiếp cận hợp lý nhất có thể để trình bày về đặc điểm ý nghĩa của địa danh đang khảo sát.

3.1.2. Đặc điểm ý nghĩa của địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam

Nhóm ý nghĩa phản ánh hiện thực khách quan

* Phản ánh tính chất, đặc điểm của bản thân đối tượng qua địa danh VHDL.

* Phản ánh mối quan hệ giữa đối tượng được định danh và các đối tượng liên quan

Nhóm ý nghĩa phản ánh tâm lý, nguyện vọng của chủ thể định danh

* Phản ánh tâm lý, nguyện vọng, tình cảm của chủ thể định danh

* Phản ánh đời sống tín ngưỡng, tôn giáo.

3.2. GIÁ TRỊ BIỂU TRƯNG CỦA ĐỊA DANH VĂN HÓA DU LỊCH QUẢNG NAM

3.2.1. Giới thuyết chung

Để giải mã ngữ nghĩa hình tượng, giá trị biểu trưng nằm sâu trong cấu trúc của các đơn vị phát ngôn cần thiết phải am hiểu tri thức nền liên quan. Để tìm hiểu các giá trị biểu trưng của địa danh văn hóa du lịch cần phải giải mã văn hóa, phải huy động tri thức văn hóa chung, phải có cùng “tiền giả định”.

3.2.2. Một số giá trị biểu trưng của địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam

Từ mối liên hệ ngôn ngữ – văn hóa, những giá trị liên văn hóa của ngôn ngữ ta có thể rút ra những giá trị biểu trưng của địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam như sau:

* Giá trị lịch sử

Địa danh VHDL phản ánh những giá trị lịch sử, thể hiện đầy đủ khách quan quá trình hình thành, phát triển, sát nhập, chia tách, tồn vong của một vùng đất, đồng thời phản ánh làn sóng di dân, lối sống cộng cư của những tộc người, phản ánh hành trình mở cõi dựng nước và công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm … Tất cả những yếu tố này đã làm nên giá trị lịch sử của địa danh văn hóa du lịch.

Chính địa danh là nơi phản ánh quá trình di trú, là “chứng nhân” cho các sự kiện, biến cố lịch sử, là “cái nôi” lưu giữ nguồn gốc của con người sống trên vùng đất hiện tại, là yếu tố quan trọng để tìm hiểu nguồn cội xa xưa. “Ôn cố tri tân” là nhu cầu thường trực của con người và của những du khách nói riêng. Bằng những địa danh văn hóa du lịch này qua việc khám phá giá trị lịch sử của chúng để “sống” tốt hơn với hiện tại vì: “Nếu anh bắn quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn anh bằng đại bác!” (theo nhà thơ Rasul Gamzatov).

* Giá trị văn hóa – nhân văn

Với 46 thành tố chung đã được thống kê và phân loại theo các loại hình đối tượng địa lý khác nhau, chúng ta có thể nhận thấy bức tranh sinh động về các thắng cảnh cũng như các danh lam ở Quảng Nam. Qua các thành tố chung về đối tượng tự nhiên có sự phong phú về các đối tượng địa lý gồm núi, sông, cồn, bãi, hòn, hang… Qua các thành tố chung chỉ đối tượng nhân tạo: đình làng, miếu mạo … Dưới cái nhìn địa văn hóa có thể nói rằng với những gì mà thiên nhiên ban tặng và những gì con người nơi đây tạo ra giúp cho văn hóa Quảng Nam có đầy đủ yếu tố động của một cảng thị, vùng giao thủy – hội nhân và yếu tố tĩnh của vùng “văn hóa lúa nước” gắn với ruộng đồng, làng xã.

Giá trị văn hóa – nhân văn của địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam biểu hiện cụ thể với những nội dung sau:

-Tinh thần hiếu học, đề cao tri thức; Quảng Nam vốn là “đất học vùng văn”. Học trò xứ Quảng thường rất chăm học, cần cù, chịu khó trong học tập, có tinh thần tự giác học tập. Điều đó có thể chứng minh qua các giai thoại về “ngũ phụng tề phi”, “tứ hổ”, tứ kiệt”.

– Quảng Nam – một vùng đất thấm đậm nghĩa tình, người dân luôn mong muốn có cuộc sống thuận hòa, yên ổn, đặc biệt thể hiện qua địa danh văn hóa du lịch. Không gian văn hóa làng Việt (Quảng) với đình làng, các thiết chế tôn giáo, các làng cổ, làng nghề, nhà cổ, giếng nước … là cái nôi của những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể.

Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của cư dân nơi đây khá đa dạng từ tín ngưỡng dân gian đến Đạo giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Bà La môn … với sự có mặt của hầu hết các thể chế tôn giáo: đền, miếu, chùa, nhà thờ, tháp…

Làng nghề thủ công là một phần quan trọng của không gian làng xã cổ truyền ở Quảng Nam. Làng nghề phản ánh các thuộc tính tự cung, tự cấp và khép kín của làng xã nông nghiệp ngày xưa. Làng nghề còn cho thấy tính năng động, sáng tạo của người dân trong quá trình thích ứng với tự nhiên nơi đây. Mặt khác, làng nghề cũng thể hiện rõ yếu tố giao thương buôn bán của trung tâm xứ Đàng Trong gắn với cảng thị Hội An, Đại Chiêm hải khẩu. Làng nghề phát sinh và tồn tại phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố địa hình, địa vật: nguồn nguyên liệu, vị trí thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa …

Các làng nghề của Quảng Nam mang đầy đủ những đặc điểm của một làng nghề truyền thống Việt Nam. Đó là những nguyên tắc nghề nghiệp và các hoạt động tín ngưỡng liên quan đến nghề nghiệp. Nếu cây đa – bến nước là đặc trưng cho làng quê Bắc Bộ, thì giếng nước là nơi chứng kiến bao thăng trầm của làng quê Nam Trung Bộ, ngày nay với nhịp sống hiện đại hình ảnh của giếng làng đã dần lùi vão dĩ vãng. Song chúng vẫn im lìm nằm đâu đó trong vườn của nhà cổ, bên đường của những ngôi làng cổ như gợi nhắc về một thời vàng son

Địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam dưới góc nhìn ngôn ngữ
Địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam dưới góc nhìn ngôn ngữ

Xen lẫn không gian văn hóa làng Việt là những “phố Hoa” với những hội quán, nhà ống, tín ngưỡng liên quan đến nghề nghiệp, phong tục tập quán … đã góp phần làm nên giá trị văn hóa – nhân văn của địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam.

Những hội quán – vừa là nơi thờ cúng, vừa là nơi hội họp bàn chuyện kinh doanh của các tộc người Hoa: Phúc Kiến, Triều Châu, Dương Thương, Quảng Triệu, Hải Nam. Với kiến trúc độc đáo, lại mang ý nghĩa tâm linh song các hội quán của người Hoa không quá nghiêm trang như những ngôi đình, ngôi miếu của người Việt mà luôn mở rộng cửa đón khách thập phương lai vãng với phương châm “tứ hải giai huynh đệ”.

HA-Attr-FujianAssemblyHall1

Hình 3.6: Hội quán Phúc Kiến – Hội An

Những địa danh văn hóa du lịch gắn với người Hoa Minh Hương cùng với những thiết chế tôn giáo của họ, những nhà cổ, giếng trời, mắt cửa, tập tục thờ cúng, văn hóa ẩm thực… làm đa dạng những giá trị văn hóa của Hội An nói riêng và Quảng Nam.

Đền đài, thành quách của người Chăm vẫn còn đó với những thách thức về kỹ thuật xây dựng, nghệ thuật điêu khắc; Tôn giáo riêng, tập tục khác; Những lễ hội, những điệu vũ dân gian, dân ca dân vũ với âm hưởng da diết trầm buồn của một tộc người đã qua rồi thời kỳ huy hoàng nhất của mình … để lại dấu ấn mãnh liệt cho người đương thời sau một lần ghé đến, để rồi trở thành nỗi ám ảnh ngọt ngào về những tháp cổ rêu phong đứng tạc vào sông núi.

Từ những giá trị mà địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam cung cấp hãy giới thiệu quảng bá chúng đến khắp bè bạn năm châu kêu gọi họ đến với xứ Quảng – xứ sở của những giai thoại, của “hành trình di sản”. Đó cũng là ước nguyện tột cùng của chúng tôi – những người thực hiện đề tài này. Để địa danh lan tỏa (vô thức) chúng ta hãy trao truyền (hữu thức) những giá trị văn hóa – nhân văn của chúng từ cộng đồng này sang cộng đồng khác để chúng có thể “hữu xạ tự nhiên hương”.

KẾT LUẬN

Trong quá trình khảo sát địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam, 301 là con số địa danh mà chúng tôi thu thập được. Tuy nhiên, với phạm vi của một luận văn và thời gian hạn hẹp, số lượng địa danh văn hóa du lịch mà chúng tôi chưa thu thập được còn rất nhiều, nhất là địa danh có nguồn gốc từ ngôn ngữ dân tộc thiểu số – cư trú địa bàn phía Tây của Quảng Nam.

Địa danh văn hóa du lịch là một khái niệm mới mà không mới, có chăng với công trình này chúng tôi có điều kiện góp nhặt, thống kê một số địa danh có giá trị đặc sắc, thấm đẫm tinh thần Quảng để làm tiêu điểm quảng bá du lịch dựa trên nền tảng ngôn ngữ và giá trị biểu trưng của chúng.

Số lượng địa danh phân bố khá đồng đều giữa địa danh chỉ đối tượng tự nhiên (139 địa danh) và địa danh chỉ đối tượng nhân tạo (162 địa danh). Với số lượng địa danh đã có, phần nào cung cấp ngữ liệu đầy đủ để chúng tôi tiến hành nghiên cứu, phác thảo một cái nhìn tổng quát về địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam dưới góc nhìn ngôn ngữ.

Quảng Nam có bề dày lịch sử, đặc điểm địa lý, văn hoá, xã hội đa dạng và phức tạp do sự cộng cư, tiếp biến văn hóa của nhiều cộng đồng người qua nhiều thời kỳ. Căn cứ vào địa danh văn hóa du lịch có thể phần nào hiểu được địa lý tự nhiên, hành chính, dân cư và văn hóa nơi đây. Đặc biệt với bối cảnh, không gian địa văn hóa như vậy đã hình thành nên tính cách Quảng: luôn hiếu khách, quảng giao, chào đón mọi người đến với quê hương xứ sở của mình. Đây là ấn tượng tốt đẹp mà bạn bè năm châu sau khi đến Xứ Quảng đã tổng kết.

Kết cấu của địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam theo hai kiểu: cấu tạo đơn và cấu tạo phức. Địa danh có cấu tạo phức chiếm phần lớn số lượng (221 địa danh). Cấu tạo các địa danh văn hóa du lịch không chỉ từ những từ thuần Việt, mà còn cả những địa danh được cấu tạo từ ngôn ngữ của các đồng bào anh em cùng chung sống trên địa bàn. Bên cạnh đó, như một thói quen cố hữu, các địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam được cấu tạo bằng từ gốc Hán Việt. Địa danh có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài chỉ chiếm một lượng rất nhỏ không đáng kể.

Hy vọng của chúng tôi là sau công trình này sẽ có thêm nhiều công trình khác nghiên cứu chuyên sâu khác về từng địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam để có thể làm thành giáo trình giảng dạy về điểm đến cho các sinh viên du lịch, cũng như thêm vào một tài liệu tham khảo cho những hướng dẫn viên, góp phần xúc tiến du lịch. Nếu điều kiện cho phép, trong thời gian đến chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu thêm những địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam liên quan đến nền văn hóa ẩm thực độc đáo xứ Quảng.

Với việc ngày càng xuống cấp, hư hại của khu đền tháp Mỹ Sơn, thêm hiện tượng bồi lở dữ dội tại cửa biển Cửa Đại và các dòng sông, với việc hệ sinh thái đang từng ngày bị xâm phạm của khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm, cùng sự mai một của các làng nghề truyền thống, với làn sóng lai căng những yếu tố ngoại lai, trước quy luật sinh tử của cuộc đời, ngày càng “vắng bóng” những thế hệ đi trước những bậc cao niên học cao hiểu rộng … thì việc tìm hiểu, gìn giữ những địa danh văn hoá du lịch như một việc làm nhỏ góp phần làm cho “di sản” sống mãi trong nhân dân.

“Biết, hiểu và cảm”, chúng tôi đã lần lượt đi qua những cung bậc cảm xúc như vậy khi tìm hiểu, nghiên cứu về những địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam.

Cái giọng Quảng, cái tình Quảng đã theo tôi những dặm dài trên bước đường thiên lý mưu sinh; Nay tôi như trở về tuổi thơ, đắm chìm trong những tích, những chuyện xưa qua những địa danh văn hóa du lịch xứ Quảng. Cho tôi gửi lời tri ân đến “Bà Mẹ quê hương” đến những “người Quảng yêu đất Quảng” và cả những người tuy không phải người Quảng nhưng rất yêu và gắn bó với đất Quảng, đã giúp tôi những cứ liệu tuyệt vời, cho tôi cơ hội thể hiện tình yêu quê hương qua cuốn luận văn này. Mong rằng nó sẽ được chấp nhận như là chút tâm tình nhỏ bé từ một người con xứ Quảng trước bóng dáng lồng lộng của người MẸ QUẢNG NAM! Địa danh văn hóa du lịch Quảng Nam dưới góc nhìn ngôn ngữ

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\LUAN VAN (Xa Doan Hong Thuy)\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *