Đấu tranh phòng chống tội cướp giật tài sản ở nước ta hiện nay

Đấu tranh phòng chống tội cướp giật tài sản ở nước ta hiện nay

Đấu tranh phòng chống tội cướp giật tài sản ở nước ta hiện nay

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Một trong những tƣ tƣởng lớn của ĐảngCộng sản Việt Namđƣợc thể hiện ở “Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (bổ sung, phát triển năm 2011) và trong“Chiến lƣợcphát triển kinh tế – xã hội 2011- 2020” là tƣ tƣởng xây dựng xã hội ta trở thành một xã hội: “Dân

giầu, nước mạnh, dân chủ, công bng, văn minh;…”[20-tr70,76,99,100].Tuy khái niệm“văn minh” chƣa đƣợc cụ thể hóa trong các văn kiện của Đảng, song điều chắc chắn không thể đảo ngƣợc là hành vi cƣớp giật tài sản vốn đã không phù hợpvới xã hội dân chủ, công bằng bình thƣờng, càng không thể phù hợp và không thể tồn tại trongmộtxã hội dân chủ, công bằng, văn minh mà Đảng ta, nhân dân ta muốn xây dựng.

Vì thế, đấu tranh phòng, chống tội cƣớp giật tài sản ở nƣớc ta hiện nay làmột đòi hỏi cấp bách, có ý nghĩa cƣơng lĩnh và chiến lƣợc.

Mặt khác, thựctếđời sốngxã hội ở nƣớc ta những năm qua, dùở thời kỳ“bao cấp” hay thời kỳ kinh tế thị trƣờngđịnhhƣớngxã hội chủ nghĩa,đều phải đối mặt với những hành vi phản văn minh nhƣ cƣớp giật tài sản, tuy mức độ ở hai thời kỳ là rất khác nhau.

Qua mộtsố công trình nghiên cứu tội phạm học cho thấy, trong cơsốhành vi phạm tội hàng năm ở nƣớc ta, tức là trong danh sách những tội danh có đời sốngthực tế xét theo từng năm, thì tội cƣớp giật tài sản hiện hữuở mọi giai đoạn phát triển của xã hội ta. Thế nhƣng, nếu chỉ xét những tội danh có mức độphạm tội cao hơncả,đƣợc ấn địnhtừ 4 con sốtrở lên, thì ở thời kỳ“bao cấp”,tội cƣớp giật tài sản chƣa xuất hiện trong nhóm này. Sang thời kỳ kinh tế thị trƣờng, tính từ năm 1989 trở đi, tội cƣớp giật tài sản luôn luôn hiện hữutrong nhóm“những tội danh có mức độphạm tội cao hơncả” ở Việt

2

Nam. Lấy3 năm là mộtgiai đoạn để xem xét, thì trong giai đoạn 2001–2003, trung bìnhmộtnăm, tòa án các cấp đã phải xét xử sơ thẩm hình sự 2.646bịcáo phạm tội cƣớp giật tài sản. Các giai đoạn tiếp theo, con số này cóbiến độngnhƣ sau:

– Giai đoạn 2004 – 2006 là 3.485 bị cáo;

– Giai đoạn 2007 – 2009 là 5.346 bị cáo;

– Giai đoạn 2010 – 2012 là 4.600 bị cáo.

Nhƣ vậy, nhìn tổng thể, đây là loại tội phạm vừa có mứctăng lớn vàluôn luôn chiếmtỉ trọng không nhỏ trong tình hình tội phạmở nƣớc ta, trên

dƣới 4% từ khi nƣớc ta chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng. Tổngsố tộiphạm

cƣớp giật tài sản trong 12 năm từ năm 2001-2012 lên tới 49.783 bị cáo. Đây chỉ là những con số đã đƣợc phát hiện và đƣợc đƣa ra xétxửsơ thẩm, nhƣng trong thựctếcòn có rất nhiều vụkhông đƣợc phát hiện, vì nhiều lý do khác nhau, tức là phần ẩn của tình hình tội cƣớp giật tài sản luôn luôn hiện hữu.

Tội cƣớp giật tài sản không chỉ xâm phạmsở hữucủa ngƣời khác, mà còn gây ra những tổn thất nhiều mặt cho xã hội. Những phí tổnhữu hình vàvô hình của xã hội khó có thể tính đƣợc một cách chính xác. Chất lƣợng cuộc sống giảm, sự đi lại, làm việc, nghỉ ngơi, giải trí của ngƣời dân sẽ phải thận trọng, cảnh giác, nghĩa là hạn chế hơn. Ngoài những tác hại tức thời, hiện hữu nó còn để lại những hậu quả xã hội sâu sắc về nhiều mặt. Vì thế, ngay trong ý thức lập pháp hình sự ở nƣớc ta, tội cƣớp giật tài sản không thể là loại tội ít nghiêm trọng, mà chỉ có thể là loại tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, hoặcđặc biệt nghiêm trọng.

Với mức độphạmtộitrên thựctếnhƣ vậy của tội cƣớp giật tài sản cho phép khẳng định rằng, việc nghiên cứu loại tội phạm này dƣới góc độtội phạm học không chỉ là cấp thiết, mà còn đủcơsởthựctếđể đƣợc tiến hành nghiên cứu.

Mặt khác, việc thực hiện đề tài luận án đang nói ở đây còn có mộtđộng lực mới, đã và đang hiện hữuở nƣớc ta.Đó là sự phát triển của lý luận tội

phạm học Việt Nam những năm qua,đặc biệt khi xu hƣớng nghiên cứu liên ngành tội phạm học và khoa học về quyền con ngƣời đƣợc xúc tiến mạnh mẽ. Những kết quả nghiên cứunày đã mở ra nhiều khả năng mới đểnhận thức thiết thực hơn, bản chất hơnvề những vấn đề cơ bản của tội phạm học màluận án có thể sử dụng làm cơ sở lý luận.

Tóm lại, việc nghiên cứu đề tài “Đấu tranh phòng, chống tộicƣớp giật tài sản ở nƣớc ta hiện nay” là rất cấp thiết để góp phần cùng với các công trình nghiên cứu tƣơng tự khác, tạo thành một chỉnh thể,đồngbộnhững hànhđộng cụ thểvà thiết thực trong quá trình thực hiện Cƣơng lĩnh xây dựng đất

nƣớc và chiến lƣợc phát triển kinh tế – xã hội do Đảng ta đề ra vì mục tiêu xây

dựng xã hội; Dân giầu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh…. 2. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu

2.1. Phƣơng pháp luận nghiên cứu

Những năm gần đây ở nƣớc ta, trong các cơ sở đào tạo luật, kể cả Đại

học và Sau đại học, loại đề tài “Đấu tranh phòng, chống…”mộttội phạmcụthể nào đóđã đƣợc thựchiện không ít. Hơn nữa, trên phạm vi lập pháp, nhiều

“Luật phòng, chống … cũngđãđƣợc ban hành. Vì thế đã xuất hiện yêu cầu làm rõ cơsở lý luận hay cơsở lý thuyết về phòng, chống tộiphạm. Đâyrõ ràng là yêu cầu làm rõ vấn đề phƣơng pháp luận nghiên cứu đề tài loại đã nêu. Về vấn đề này, nghiên cứu sinh thấy cần phải thể hiện quan điểm rõ ràng nhƣsau:

Nói “Đấu tranh phòng, chống tội…” là nói theo nhu cầu của thựctế đời sống xã hội. Nhu cầu này có từ khi xuất hiện tội phạm trong xã hội loài ngƣời

và cho đến nay, loài ngƣời đã tạo dựng đƣợcmộthệ thống các khoa học làm vũ khí lý luận cho cuộc đấu tranh với tình hình tội phạm ( tài liệu nƣớc ngoài nói “ Đấu tranh với tình hình tội phạm”, còn tiếng Việt nói “ Đấu tranh phòng, chống tội phạm” nào đó. Nội dung của hai cách nói là đồng nhất). Hệthống này bao gồm các khoa học pháp lý hình sự nhƣ khoa học luật hình sự;

khoa học luật tố tụng hình sự; khoa học điều tra tội phạm; tội phạm học …

Trong lĩnh vực đào tạo Sau đại học ở nƣớc ta,hệ thống các khoa học pháp lý hìnhsự đƣợc thừanhận và đƣợc phân làm hai chuyên ngành với hai mã số khác nhau để tiến hành nghiên cứu các đề tài luận văn và luận án.

Đề tài “Đấutranh phòng, chống tội cướp giật tài sản ở nước ta hiện nay” mà nghiên cứu sinh đƣợc phép thực hiện thuộc chuyên ngành Tội phạm học và Điều tra tội phạm, theo quy định trƣớc đây và Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm theo quy định mới.Điều đócó nghĩa rằng, phạm vi nghiên cứu hay cơsở lýthuyết (lý luận) của đề tài phải là tội phạm học. Và đƣơng nhiên phải là Tội phạm học Việt nam, đồngnghĩa với Tội phạm học mác-xit. Nói

nhƣ vậy đểkhẳng định rằng, cơ sở lý luận (hay cơsở lýthuyết) của đề tài này không thể vừa là tội phạm học, vừa là khoa học điều tra tội phạm. Khẳngđịnh cơsởlý thuyết của đề tài này là tội phạm học.Điều đóhoàn toàn không cónghĩa rằng, đề tài này loại trừ những thành quả của các khoa học pháp lý hình sự khác, mà ngƣợc lại, nó thu hút tất cả, kể cả những thành quả của các khoa học không thuộc lĩnh vực pháp lý hìnhsự nhƣ Hiến pháp học, Nhân quyền

học v.v…. Nó thu hút tất cả vì mục đích phòng ngừa tội phạm,chứkhông phải vì mục đích phát hiện và điều tra tội phạm nhƣ của khoa học điều tra tội phạm, hoặc vì mục đích quy phạm hóa hành vi nhƣ của khoa học luật hình sự

v.v….

Tội phạm học Việt nam nói chung và các đềtài nghiên cứu trong lĩnh vực này nói riêng cómộtcơ sởphƣơng pháp luận vững chắc và nhất quán. Đó

là chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và hệ thống các quanđiểm của Đảng và Nhànƣớcta vềtội phạm và đấu tranh phòng, chống tộiphạm. Riêng đối với đề tài Luận án đangđƣợc đề cậpở đây, vấn đề phƣơng pháp luận cũng thật rõ ràng. Đó là sự vận dụng những thành tựu, những tƣ tƣởng của tội phạm học Việt nam vào việc giải quyết nhữngvấn đề cụ thể dođề tài đặt ra. Nói cách khác, những vấn đề nhƣ tình hình tội cƣớpgiật tài sản với

cấu tạo phần ẩn –phần hiện của nó; nguyên nhân và điều kiện của tội cƣớp giật tài sản; phòng ngừa tội cƣớp giật tài sản; mối quan hệ giữa tình hình tội

phạm và hành vi phạm tội v.v…. đều phải đƣợc làm rõ nhờ khuôn mẫu chung mà tội phạm học Việt nam đãkhái quát hóa đƣợc trên cơ sở của chủ nghĩa Mác-Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.

Ngoài ra còn phải nói thêm rằng, trong những năm vừa qua, thành tựu nghiên cứu liên ngành, đa ngành trong khoa học xã hội do Viện Hàn lâm khoa học xã hộiViệt nam khởi xƣớng, đã tạora mộtkhả năng mới cho phát triển

tội phạm học, đặc biệt là kết quả nghiên cứu liên ngành Nhân quyền học với Tội phạm học. Những thành tựu này cũng đƣợc Luận án sử dụng làm cơ sở

phƣơng pháp luận để giải quyết một số vấn đề thích ứng do đề tài đặt ra. 2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu

Ngoài phép biện chứng của chủ nghĩa duy vật đƣợc sử dụng là phƣơng pháp chủ đạo, luận án này còn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu đặc

trƣngtộiphạm học.Cụ thể,đó là phƣơng pháp nhƣ quy nạp, diễn dịch; mô tả; so sánh; phân tích; tổng hợp; thống kê; lịch sử; hệ thống; nghiên cứu hồ sơ và điều tra xã hội học. Để thực hiện có hiệu quả mục đích nghiên cứu, luận án kết hợpchặt chẽ giữa các phƣơng pháp trong suốt quá trình nghiên cứu của toàn bộ nội dung luận án. Tuỳ thuộc vào khách thể và đối tƣợng nghiên cứu của từng chƣơng, mục trong luận án, tác giả vận dụng, chú trọng các phƣơng pháp khác nhau cho phù hợp.

3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu. 3.1. Mục đích nghiên cứu.

Mục đích nghiên cứu của luận án này cũng giống nhƣ mục đích của tội phạm học. Đó là thiết lập một cách có cơ sở khoa học một hệ thống các biện pháp phòng ngừa tội cƣớp giật tài sảnở nƣớc ta phùhợpvới đặc thù Việt Nam.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Để đạt đƣợcmục đích đã nêu trên, các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

đƣợc xác định cụ thể nhƣ sau:

3.2.1. Nghiên cứu tài liệu

– Tìm, thu thập và nghiên cứu những tài liệu trong nƣớc vềpháp luật hình sự, về quyền con ngƣời và về tội phạm học, đặc biệt là về nhữngvấn đề liên quan đến đề tài luận án;

– Tìm, thu thập và nghiên cứu những tài liệu ngoài nƣớc về pháp luật hình sự, về quyền con ngƣời và về tội phạm học, đặc biệt là về nhữngvấn đề liên quanđến đề tài luận án;

3.2.2. Nghiên cứu thực tế

– Tìm, thu thập, xử lý, phân tích, so sánh nhữngsốliệu thống kê thƣờng xuyên của mộtsốcơ quan tƣ pháp, đặc biệt là sốliệu thống kê của Tòa án nhân dân Tối cao và các sốliệu từ kết quả các phiếu điềutra xã hội học vềtình hình tội cƣớp giật tài sản.

– Thu thập các bản án xét xử sơ thẩm hình sự về tội cƣớp giật tài sản, xử lý, phân tích, so sánh theo các tiêu chí tội phạm học cần thiết;

– Tìm hiểu những biện pháp phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng ngừa tội cƣớp giật tài sản nói riêng ở mộtsố địa bàn cụ thể.

3.2.3. Tổng hợp kết quả nghiên cứu thành luận án

– Mô tả và đánh giá tình hìnhtội cƣớp giậttài sản ở nƣớc ta hiện nay, có so sánh các giai đoạnkhác nhau trên cơ sở hƣớngdẫn của lý luận tội phạm học Việt nam; So sánh đánh giá tình hình tội cƣớp giật tài sản ở các tỉnh, thành phố trên toàn quốc.

– Tìm hiểu, phân tích và xác định các nguyên nhân và điều kiện phạm tội

cƣớp giật tài sản ở Việt nam trên cơsở lýluận về cơ chế hành vi phạm tội mà tội phạm học Việt nam đã mô hình hóa thành công thức S-X-R;

– Đánh giá thực trạng các biện pháp phòng ngừatội cƣớp giậttài sản đãvà đang đƣợc áp dụng ở nƣớc ta;

– Thiết kế hệ thống các biện pháp phòng ngừa tội cƣớp giật tài sản trên cơsở kết quả các bƣớcnghiêncứu đã thựchiện và dựa trên lý luận tội phạm học về phòng ngừa tội phạm với hai nội dung chính là ngăn chặn và loại trừ tội phạm.

3.3. Phạm vi nghiên cứu

– Về mặt nội dung, đề tài luận án đƣợc giới hạn trong phạm vi tội phạm học;

– Về thời gian, Luận án tiến hành thu thập và nghiên cứu số liệu thống kêtrongmƣời hai năm,từ năm 2001 đến năm 2012 và nghiên cứu 220 bản án hìnhsự sơ thẩmvề tội cƣớp giật tài sản trong giới hạn những năm gần đây; Phân tích 2.000 phiếu khảo sát, điều tra xã hội học năm 2010 theo phƣơng pháp nghiên cứu của tội phạm học Việt nam.

-Về mặt không gian, đề tài Luận án đƣợcthực hiện trên phạm vi toàn quốc.

3.4. Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu của mộtkhoa học nhƣ tộiphạm học chẳng hạn, cũng nhƣ đối tƣợng nghiên cứu của mộtđề tài Luậnán tiến sỹ, về bản chất là đồngnhất. Vì thế, khi nóiđốitƣợng nghiên cứu mà không đặt nó trong mối liên hệ không thể tách rời với khách thể nghiên cứu, thì thực sự là vôđịnh. Để tránh tình trạng vôđịnhấy, luận án này chỉ ra rằng, đối tƣợng nghiên cứu của đề tài luậnán ở đây đƣợc nói đến trongmốiliên hệ biện chứng với khách thể nghiên cứu của đề tài. Khi khách thể nghiên cứu của đề tài đƣợc xác định là tình hình tội cƣớp giật tài sản ở nƣớc ta, thì đối tƣợng nghiên cứu chỉ có thểtìm trongđóvà nó không thể là gì khác ngoài quy luật của sự phạm tội cƣớp giật tài sản trong những giai đoạn, thời kỳnhất địnhở đất nƣớc ta. Quy luật này đƣợc biểu hiện ở những phạm trù, khái niệm thay thế nhƣ bảnchất, nguyên nhân, điều kiện, mối liên hệ hoặc cơ cấu của tình hình tội phạm.

 

4. Những điểm mới của luận án 4.1. Điểm mới về phƣơng pháp

– Luận án có áp dụng phƣơng pháp xác địnhhệ đặc điểmchuyên biệt để đánh giá mức độphạm tội cƣớp giật tài sản đối với 63 đơn vịhành chính ở

nƣớc ta. Đặc tả mứcđộphạm tội theo các cấp độkhác nhau, để nhận thấy nhữngđặc điểmtƣơngđồngvềkinhtế – xã hội, quản lý nhà nƣớc ở các địa

phƣơng, đã tác động vào ngƣời phạm tội gây ra tình hìnhtộiphạm cƣớp giật tài sản nhƣ hiện nay.

– Luận án kết hợp nhuần nhuyễn, đan xen giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình luận giải tình hình tộiphạm, nguyên nhân điều kiện, nhân thân

ngƣời phạm tội và các giải pháp phòng ngừa tội cƣớp giật tài sản. 4.2. Điểm mới về quan điểm tiếp cận

Về vấn đềnguyên nhân của tội cƣớp giật tài sản, về phòng ngừa tình hình tội cƣớp giật tài sản, luận án triển khai áp dụng quan điểm tiếp cận mới, có bản chất mác-xít nhƣ sau:

– Nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm chính làviệc nghiên cứu quy luật của sự phạm tội; Nguyên nhân và điều kiện của tình

9

hình tội phạm làđối tƣợngnghiên cứu của tội phạm học; Nguyên nhân của tình hìnhtộiphạm làsựtácđộngqualạigiữa cácyếutốtiêucựcthuộc môi

trƣờng sống và các yếu tố tâm-sinh lý tiêu cực thuộc cá nhân con ngƣời trong những hoàn cảnh, tình huống nhấtđịnhđãdẫntớiviệc thực hiệnmộthành vi nguy hiểm cho xã hội mà pháp luật hình sự quy định là tội phạm; Nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm phải đƣợc thực hiện thông qua việc làm rõ các yếu tốlàm phát sinh tình hình tội phạm ởmôi trƣờng sống và ở chính bản thân ngƣời phạm tội trong các tình huống khác nhau.

– Luận án tiếp cận các biện pháp phòng ngừa tội phạmdƣới góc độtội phạm học theo hai nội dung chính bao gồm: Biện pháp loạitrừtội phạm và biện pháp ngăn chặn tội phạm.Theo đó, biện pháp loại trừtội phạm là các biện pháp màĐảngvà Nhà nƣớc,các tổchức, đoàn thểxã hội và mọi công dân tiến hành nhằm triệt tiêu các yếu tố làm phát sinh tội phạm trong xã hội, nhằm nâng cao mọi mặt của đời sống xã hội và loại trừcác yếu tốtiêu cực ảnhhƣởngxấu đến sự hìnhthành nhân cách của từng cá nhân. Còn Biện pháp ngăn chặn tội phạm thì có các địa chỉ tác động rõ ràng, vốn đang tồn tại trong xã hội.

4.3. Điểm mới mang tính tổng thể của luận án

Thứ nhất: Luận án là công trình nghiên cứu có tính chuyên sâuvề tội phạm học của tội cƣớp giật tài sản.

Thứ hai: Luận án đƣợc thực hiện theo tinh thần Nghị quyết XI của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ trƣơng kiên trì và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, áp dụngđể giải quyết ba vấn đề lớn đƣợc đặt ra từtình hình tội cƣớp giật tài sản ở Việt Nam. Đó là:

– Áp dụng lý luận nhận thức Mác-xit để nhận diện và đánh giá thực trạng của tình hình tội cƣớp giật tài sản ở Việt Nam trong hơn 20 năm qua;

10

– Vận dụng lý luận Mác-xít về nguyên nhân, điều kiện, tức là về quan hệnhân-quả, để chỉ ra những yếu tố làm phát sinh tình hình tội cƣớp giật tài sản ở Việt nam một cách triệt để, đồng bộ và hệ thống;

Kết hợpkết quả nghiên cứu thực tiễnở Việt Nam và lý luận tội phạm học Mác- xít về nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, luận án đã kiến giải

đƣợc hệ thống các biện pháp phòng ngừa tội cƣớp giật tài sản mộtcáchđầy đủ và biện chứng.

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 5.1. Về mặt khoa học

Luận án có thể đƣợc sử dụnglàm tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học pháp lý hình sự.

5.2. Về mặt thực tiễn

Luận án đƣợc sử dụngnhƣ một cơ sở thực tế cho các cơ quan lập pháp xem xét để chỉnh sửa những quy định vềtội cƣớpgiật tài sản, cho cơ quan tiến hành tố tụng, các tổ chức xã hội, các cấp có thẩm quyền những biện pháp ngăn chặn và loại trừ tội cƣớpgiật tài sản và cho mọicông dân những giải pháp đấu tranh phòng, chống tội cƣớp giật tài sản.

6. Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo, Luận ánđƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng. Cụ thể nhƣ sau:

CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nƣớc.

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc. 1.3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu.

Kết luận

CHƢƠNG 2. TÌNH HÌNH TỘI CƢỚP GIẬT TÀI SẢN Ở NƢỚC TA THỜI GIAN QUA

11

2.1. Đánh giá về phần ẩn của tình hình tội cƣớp giật tài sản. 2.2. Phần hiện của tình hình tội cƣớp giật tài sản.

2.2.1.Mức độvà diễn biến củatình hình tội cƣớp giật tài sản ở nƣớc ta hiện nay.

2.2.2. Cơ cấu của tình hình tội cƣớp giật tài sản.

2.2.2.1. Cơ cấu theo đơn vị hành chính – lãnh thổ. 2.2.2.2. Cơ cấu theo thủ đoạn gây án.

2.2.2.3. Cơ cấu theo hình phạt.

2.2.2.4. Cơ cấu theo đặc điểm nhân thân ngƣời phạm tội. 2.2.2.5. Cơ cấu theo giới tính.

2.2.2.6. Cơ cấu theo độ tuổi.

2.2.2.7. Cơ cấu theo dân tộc ít ngƣời.

2.2.2.8. Cơ cấu theo ngƣời nƣớc ngoài.

2.2.2.9. Cơ cấu theo nhân thân ngƣời bị hại.

2.2.3. Đánh giá tính chất của tình hình tội cƣớp giật tài sản. Kết luận

CHƢƠNG 3.NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI

CƢỚP GIẬT TÀI SẢNỞ NƢỚC TA

3.1. Các yếu tố tiêu cực thuộc môi trƣờng sống.

3.1.1. Các yếu tố tiêu cực thuộc môi trƣờng gia đình.

3.1.2. Các yếu tố tiêu cực thuộc môi trƣờng nhà trƣờng

3.1.3. Các yếu tố tiêu cực thuộc môi trƣờng xã hội với nhà nƣớc là chủthể quản lý.

3.1.3.1. Những yếu tố chủ quan đối với chủ thể quản lý.

3.1.3.2. Những yếu tố khách quan đối với chủ thể quản lý. 3.2. Những yếu tố tiêu cực thuộc chủ thể hành vi phạm tội. 3.2.1. Những yếu tố thuộc ý thức cá nhân.

12

3.2.2. Những yếu tố thuộc lối sống cá nhân. 3.3. Những yếu tố tình huống

Kết luận

CHƢƠNG 4.HỆ THỐNG CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA TỘI

CƢỚP GIẬT TÀI SẢN Ở NƢỚC TA

4.1. Dự báo tình hình tội cƣớp giật tài sản. 4.1.1. Cơ sở dự báo.

4.1.2. Nội dung dự báo.

4.2. Các biện pháp phòng ngừa tội cƣớp giật tài sản. 4.2.1. Các biện pháp loại trừ tội cƣớp giật tài sản.

4.2.1.1. Các biện pháp kinh tế. 4.2.1.2. Các biện pháp xã hội.

4.2.1.3. Các biện pháp văn hóa. 4.2.1.4. Các biện pháp giáo dục. 4.2.1.5. Các biện pháp quản lý.

4.2.1.6. Các biện pháp pháp lý. 4.2.1.7. Các biện pháp tổ chức.

4.2.2. Các biện pháp ngăn chặn tội cƣớp giật tài sản.

4.2.2.1.Các biện pháp ngăn chặn không cho tội phạm xẩy ra.

4.2.2.2. Các biện pháp ngăn chặn không cho tội phạm thực hiện đến cùng.

4.2.2.3.Các biện pháp ngăn chặn không cho tái phạm.

Kết luận chƣơng 4 và kết luận chung.

13

CHƢƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nƣớc

1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong những năm qua, tội phạm nói chung và tội cƣớp giật tài sản diễn biến hết sức phức tạp và có xuhƣớnggia tăng nhanh. Nhiều nhà khoa học đã có những công trình nghiên cứusâu ởnhững gócđộvà phạm vi khác nhau phát huy tác dụng và đóng góp tích cực về mặt lý luận tội phạm học và góp phần quan trọng trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm và tình hình tội cƣớp giật tài sản hiện nay.

Tuy nhiên, các công trình trƣớc đóđƣợc nghiên cứu ở những góc độkhác nhau với mục đích, phạm vi, nhiệmvụkhác nhau. Có những công trìnhđó ý nghĩa cung cấp lý thuyến cơ bản, đại cƣơngvề tội phạmhọc và cung cấp hệ thống tri thức cần thiết về tội phạm và phòng ngừa tội phạm. Trang bị cho

ngƣời học, ngƣời nghiên cứu hệ thống tri thức về tình hình tội pham, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, nhân thân ngƣời phạm tội, phƣơng pháp nghiên cứu, dự báo tình hìnhtộiphạm vàkế hoạch hóa hoạt động

29

phòng, chống tình hình tội phạm. Có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về các nội dung của tội phạm học mang tính lý thuyết và có nhiều công trình nghiên cứu về mộtloại tình hình tội phạmcụ thể.Trong đó, có mộtsốcông trình nghiên cứudƣới góc độtội phạm học có nhiều vấn đề liên quan đến đềtài luận án “ Đấu tranh phòng, chống tội cƣớp giật tài sản ở nƣớc ta hiện nay”.

Tội cƣớp giật tài sản là loại tộiphạm mang tính truyền thống.Ở mọi quốc gia,từ thời xa xƣa đãcó nhiều biện pháp chống lại loại tội phạm này, bên cạnhđónhữngnƣớc có nền tội phạm học phát triển thì vấn đề phòng ngừa tội phạm cũng nhƣ tội phạmcƣớp giật tài sản đƣợc nghiên cứu rất sâu sắc và từ kết quả nghiên cứu đóđã có nhiều chính sách để phòng ngừa tội phạm.

Vấn đề lý luận tội phạm học những năm gần đây đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm. Các nhà tội phạm học nƣớc ngoài cũng nhƣ các nhà tội phạm học trong nƣớc còn có nhiều quan điểmkhác nhau về khái niệm, thuật ngữ của tội phạm học. Ngành tội phạm học ở nƣớc ta đƣợc tiếp thu và kế thừa những thành quả tri thức tội phạm học của các nƣớc trên thế giới. Các nhà tội phạm học trong nƣớc đƣợc đào tạo ở những quốc gia khác nhau, vì vậy cũng ảnh hƣởngcác quan điểm khác nhau về lý luận tội phạm học. Luận án này sử

dụng quanđiểmcủa các nhà khoa học tại Viện Nhà nƣớc và pháp luật làm cơsở lý luận và nghiên cứu.

Thực tế, có nhiều chuyên án, nhiều đề tài liên quan đến đấu tranh phòng chống tội cƣớp giật tài sản nhƣng chƣa có đề tài nào mang tính chuyên sâu vàtoàn diện, đầy đủdƣới góc độtội phạm học. Hầu hết, các đề tài nghiên cứu của lực lƣợngcông an nghiên cứu để đấu tranh chống tộicƣớp giật tài sản

dƣới góc độ Điều tra tội phạm, đƣa ra các biện pháp ngăn chặn thuộc lĩnh vực hoạt động truy xét.

30

Đấu tranh với tội cƣớp giật tài sản hiện nay chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Hàng năm Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao tổng kết đánh giá về tình hình tội phạmthì vấn đề tội phạmmới luôn

đƣợc cho là những loại tội phạm nguy hiểm, còn đối với tội cƣớp giật tài sản vẫn chỉ đƣợc coi là những tội phạm không gây chết ngƣời, không nghiêm trọng. Nhƣng thựctế,loại tội phạm này đang lộng hành trên khắp mọimiền của tổquốc, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, hạn chế chất lƣợng cuộc sống và hạn chế sự phát triển mọi mặt của đời sống nhân dân.

Hiện nay tình hình cƣớp giật tài sản đang có diễn biến hết sức phức tạp,

nhƣng chƣa có đề tài nghiên cứu về đấu tranh phòng chống tội cƣớp giật tài sản dƣới góc độtộiphạm học ở cấp độchuyên sâu, điều đómộtlần nữa khẳng định yêu cầu bức thiết phải nghiên cứu nhằm đƣa ra các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội cƣớp giật tàisản mộtcách chủ động có tính chiến lƣợc để tội phạm cƣớp giật tài sản không trở thành đại nạn.

31

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Phân tích mộtsốcông trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã nghiên cứu ở nhữngthời gian trƣớc, những công trình nghiên cứu có tính tƣơng đồng về tính chất hành vi, về sự tác động của môi trƣờng sống gây ra tình hình tội phạmcƣớp giật tài sản. Qua đó, thấy đƣợcnhững giá trịcủa các công trình đó, thấy đƣợccác công trìnhđƣợctiếp cận ở góc độLuật hình sự, Điều tra tội phạm và các giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác điều tra là chủ yếu.Điều đó, hƣớngtác giả nghiên cứu luận án “Đấu tranh phòng, chống tộicƣớp giật tài sản” theo một cách tiếp cận khác, đólà tiếp cận dƣới góc độtộiphạm học.

Công tác phòng, chống tội cƣớp giật tài sản hiện nay đang là bài toán cần phải đi tìm lời giải đáp. Có thể các ngành các cấp chƣa quan tâm đúng mứcvềloại tộiphạm này, dođó cần phải có những biện pháp mang tính chủ động loại trừ. Qua nghiên cứu cho thấy thực tế công tác chống tội cƣớp giật tài sản hiện nay chủ yếu do lực lƣợng công an trựctiếp điềutra và phát hiện. Đây đó, vài nơi cũng có sự tham gia của quần chúng nhân dân. Song, lực lƣợng Công an cũng chƣa hoàn thành tốt nhiệm vụ này. Các luận văn, các chuyên án chủ yếu nghiên cứu dƣới góc độhoạt độngđiều tra, chƣa mang tính chủ độngđấu tranh phòng ngừa tội phạm. Thựctế, vẫn tồn tại sốvụán không phát hiện và không đƣợc xử lý theo pháp luật còn chiếm tỷ lệ cao. Nhìn chung, sốvụcƣớp giật tài sản đangở mứcđộ cao, chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số tội phạm trên toàn quốc.

Bằng những phƣơng pháp khoa học và nghiên cứu đấu tranh phòng, chống tộicƣớp giật tài sản dƣới góc độ tội phạm học, tác giả mong muốnđóng góp vào công cuộc phòng chống tội phạm nói chung và phòng chống tội

cƣớp giậtnói riêng đạt kết quả cao đem lại sự bình yên cho nhân dân .

32

CHƢƠNG 2

TÌNH HÌNH TỘI CƢỚP GIẬT TÀI SẢN Ở NƢỚC TA

TRONG THỜI GIAN QUA

2.1. Đánh giá về phần ẩn của tình hình tội cƣớp giật tài sản

2.1.1. Đánh giá về loại tội phạm ẩn của tình hình tội cƣớp giật tài sản

Dựa vào nguyên lý của nhận thức luận chủ nghĩa Mác– Lênin, căn cứtheo lý luận chung về tình hình tội phạmở Việt Nam và qua thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạmở nƣớc ta, cho thấy chắc chắn còn có một phần ẩn của tình hình tội phạm cƣớp giật tài sản.

Sốliệu của các cơ quan chức năng nhƣ cơ quan điều tra, truy tố, xét xử

đƣa vào thống kê hình sự tội phạm cƣớp giật tài sản chỉ là một phần trong số tội phạm thực sự đã xảy ra, những con số này còn đƣợc gọi là Phần hiện của tình hìnhtộiphạm. Nhƣ vậy, còn mộtphần tội phạmđã thực hiện nhƣng vìnhiều lý do khác nhau đã không bị phát hiện, xử lý hoặc chƣa đƣợc đƣa vào thống kê hìnhsự đóchính là Phần ẩn của tình hình tội phạm:“Phầnẩn của tình hìnhtộiphạm là tổng thể các hành vi phạm tội (cùng các chủ thể các hành vi đó) đã xảy ra trong thực tế, song không đƣợc phát hiện, không bị xửlý theo quy định của pháp luật hìnhsự hoặc không có trong thống kê tội phạm”[62- tr 74]

Có hai loại tội phạm ẩn, tội phạmẩn khách quan và tội phạmẩn chủquan. Có thể hiểu tội phạm ẩn khách quan là những tội phạm đã xảy ra trong thực tế, song các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụán hìnhsự không có thông tin về chúng.Tội phạmẩn chủ quan đƣợc khái quát là toàn bộ các tội phạm đã xảy ra mà thông tinvềchúng đã đƣợc các chủ thể trực tiếp đấu tranh

33

chống tộiphạmnắmđƣợc,song vì những lý do khác nhau, các tội phạmđótrong một thời gian nhất định hoặc vĩnh viễn không bị xử lý hoặcxử lýkhông đúng quy định của pháp luật.[62- tr333]

Với tính chất hành vi của tội cƣớp giật tài sản là lợi dụng sơ hở của

ngƣời bịhại để cƣớp giật chiếmđoạt tài sản, sau đó nhanh chóng tẩu thoát để che giấu hành vi phạm tội của mình, dođókhi thực hiện hành vicƣớpgiật bọn chúng thƣờng sửdụng nhiều thủ đoạn, tinh vi xảo quyệt và liều lĩnh nhằm nhanh chóng tránhđƣợc sự phát hiện của ngƣời khác và của cơ quan chức năng. Trong khi đó, nền kinhtế ở nƣớcta những năm gần đây đang trên đà phát triển, xe máy đã trở thành phƣơng tiện thông dụng và dễ dàng có thể có đƣợctrongđời sống của nhân dân, vì vậy bọn tộiphạm cũngdễ dàng có

đƣợc mộtchiếc xe máy để làm phƣơng tiện cƣớp giật tài sản. Để dễ dàng trốn thoát khỏi sự truy bắt của mọingƣời, bọn cƣớp giật tài sản thƣờngsử dụng

phƣơng tiện thực hiện tội phạm bằng xe máy, cùngvới thủ đoạntháo biển số xe hoặclắp biển sốxe máy giả để ngƣời bị hại hoặc những ngƣời biết sự việc không thể có thông tinvề kẻ cƣớp giật, đồng thời bọn chúng thƣờng nhằm vào các đối tƣợng là phụ nữđể cƣớp giậtvìphụ nữít có khả năngđuổibắt. Sau khi cƣớp giật đƣợc tài sảnbọn chúng tăngtốcđộxe máy để tẩu thoát. Bằng nhữngthủ đoạn và sự chuẩn bịcho việc trốn thoát sau khi thực hiện tội phạmcƣớp giật tài sản nhƣ vậy, cho nên có rất nhiều vụcƣớp giật không bị phát hiện, không bịxử lý trƣớc pháp luật, phần tội phạmđã thực hiện đóchính là Phần ẩn của tình hình tội phạmcƣớp giật tài sản. Nguyên nhân dẫn đến tình hình tội phạmẩn của tội cƣớp giật tài sản mô tả nhƣ trên đƣợc xếp vào loại tội phạm ẩn khách quan, có lý do ẩn từ phía chủ thể của hành vi.

Trong thực tế, rất nhiều vụ cƣớp giật tài sản ngƣời bị hại không trình báo công an. Họ không trình báo công an không phảisợ bịtrả thù, không sợ bị liên lụy, không sợ ảnh hƣởnguy tín cá nhân nhƣ những tội do quan hệbất

34

chính, cũng không phải ngƣời bịhại muốn giấu hành vicƣớp giật của tội phạm, trong nhiều trƣờnghợpcó nhiều ngƣời bị hại còn muốn cho nhiều biết, họđã phổ biến cho những ngƣời thân của họvề việchọbịcƣớp giật nhƣ thế nào, ở khu vực nào, trong tình trạng ra sao, để cho những ngƣời thân, những

ngƣời sống xung quanh có những thông tin về hiện tƣợng cƣớp giật, từ đó có biện pháp tự đề phòng. Loại tình hình tội phạmẩn của tội cƣớp giật cólý do xuất phát từ phía ngƣời bịhại không tố giáctộiphạm với các cơ quan pháp luật gọi là tội phạm ẩn tự nhiên hay còn gọi là tội phạm ẩn khách quan.

Ngoài ra, còn có một loại tội phạmẩn nữa làtội phạmẩn chủquan, loại tội phạmẩn này rất khó xác định. Nếu nhƣ các phƣơng pháp xác địnhtội

phạm ẩn cũngchỉcho một con sốtƣơng đốithìđối với loại tộiphạmẩnchủ quan lại càng khó tiệm tiến đến điểmchính xác, vì nhiều nguyên nhân xuất phát ngay từ những ngƣời có trách nhiệm phải thực hiện việc đấu tranh phòng chống tội phạm. Một ví dụ: gần đây tại tỉnh Bình Dƣơng chúng ta vẫn thƣờng nghe, đọc trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng về nhóm“ hiệp sỹ” bắt

đƣợc rất nhiều tên tội phạm cƣớp giật tài sản, họ đã phản ánh tại cuộc gặp mặt với báo chí trong bệnh xá công an tỉnh Bình Dƣơng, “hiệp sĩ” Nguyễn Tăng Tiến cay đắng thốt lên rằng anh bị cản trở rất nhiều trong việcbắt cƣớp,bởi có sự liên quan giữa tội phạm với công an viên địa phƣơng, chính quyền địa

phƣơng dƣờng nhƣ luôn cản trở,“thậm chícó ngƣời gọi tôi lên ra lệnh cho tôi chỉ đƣợc bắt cƣớp ở đƣờngnày, đƣờng kia chứ không đƣợc bắt ở nơi này nơi nọ. Có đợt bắt cƣớp kêu, gọi điện hoài nhƣng công an phƣờng không tới hỗ trợ. “Ngƣời ta” ghét tôi vì tôi hay bắt, phá những nhómcƣớp giật có “quan hệ” với công an viên địa phƣơng.” [40]

Sự tốcáo công an có quan hệ với những nhómcƣớp giật của anh Nguyễn Tăng Tiến là một bằng chứng cụ thể của nguyên nhân tồn tại loại tội phạm ẩn chủ quan, mặc dù đây chỉ là một vídụcụthể ở mộttỉnh, nhƣng hiện

35

tƣợng này không chỉ xảy ra ở tỉnh Bình Dƣơng mà nó có thể xảy ra ở nhiều nơi trên đất nƣớc Việt Nam cũng nhƣ trên toàn thế giới.

Tình trạng tội phạm không bị phát hiện cũng gây những tác hại sâu sắc. Nhiều kẻ cƣớp giật tài sản đangcố gắngtạo vỏbọc lƣơng thiện nhƣng cái “án không tuyên” đeo đẳngsuốtđời nếu không bị phát hiện, “đâmlao phải theo lao”, họ tiếp tục phạm tội và lây nhiễm tội ác sang ngƣời khác, kể cả gia đình mình. Ngoài ra, do không bị phát hiện nên bọn chúng không phải chịubất kỳmộttác động nào của xã hội và pháp luật, tự bản thân chúng không thấy sợ vì những hành vi phạm tội do chúng gây ra, điều đóđãtạo môi trƣờng tâm lýđể bọn chúng nuôi dƣỡng ý đồ thực hiện hành vi phạm tội tiếp theo.

2.1.2. Đánh giá về một số thông số ẩn của tội cƣớp giật tài sản

Độ ẩn, lý do ẩn, thời gian ẩn và vùng ẩn là các tiêu chí chung của phạm trù tình hình tộiphạmẩnnói chung và của tình hìnhẩn của tộiphạm

cƣớp giật tài sản nói riêng.

“Việc xác địnhđộẩn của từng loại tội phạm hoặc từng nhóm tội phạm cần phải dựa vào mứcđộbộclộcủa sựphạm tội và các quanhệ của nó với

các chủ thể khác có liên quan nhƣ ngƣời bị hại, nhân chứng vv…”[25-tr37].

Theo nghiên cứu của viện nghiên cứu Nhà nƣớc và pháp luật, các nhàkhoa học đã đƣa ra mức độ ẩn của tình hình tội phạm có bốn cấp độ. Theo đó,độẩn của tình hình tội phạmcƣớp giật tài sản đƣợcxếp loại ở cấp độII, tức làthuộc nhóm những tội phạmbị ẩn khuất thứ 2, nó đƣợc xếp loại mức độẩn thứ II vì lý do từ phíabịhại không tố giác tội phạm với cơ quan chức năng để bảo vệ quyền lợi của mình đã bị xâm hại. Thực tế, ngƣời bị hại trong các vụ án cƣớp giật tài sản không trình báo với cơ quan chức năng, vì lý do không tin

tƣởng vào công an sẽ tìm thấy lại tài sản cho họ và khi đi trình báo, công an tiếp nhận thông tin có thái độ hững hờ, cho rằng hành vi phạm tội cƣớp giật không chết ngƣời và nhiều lúc, nhiều nơi công an còn gây cho họcảmgiác

36

nhƣ chính họ phạm tội, cho nên ngƣời bị hại cũng không muốn mất thời gianđi trình báo công an. Một lý do nữa ngƣời bịhạikhông trình báo công an vì tài sản của họbịcƣớp giật không lớn, theo phân tích 220 bản án hìnhsự sơthẩm về tội cƣớp giật tài sản từ năm 2005 – 2010 cho thấy các tài sản bị chiếmđoạt có giátrịkhông lớn, vídụ nhƣ điện thoại, túi xách của những ngƣời đi bộ, đi xe máy, đi xeđạp, khoảng 90% các vụcƣớp giật tài sản có trịgiá từ200.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Hiện tƣợng ngƣời bị hại không tố giác tội phạm với các cơ quan pháp luật rất phổ biến.

Việc xác địnhtỷlệ ẩn của tình hình tộiphạm có thể khẳng địnhlà chỉmang tính tƣơng đối, tuy nhiên những thông số đó cũng cho chúng ta hình dungđƣợc bức tranh của tình hìnhtộiphạmẩn trong mộtthời gian, không gian xác định. Từ những năm đầu thập kỷ 60của thếkỷ20 các nhà tội phạm học ở nhữngnƣớc cóbề dầy đấu tranh phòng, chống tộiphạm và các nhànghiên cứu về tội phạm học ở nƣớc ta những năm gần đây đã rút ra đƣợc một sốphƣơng pháp xác định tỉ lệ ẩn của tội phạm. Phƣơng pháp điều tra xã hội học bằng phiếu thăm dò ngƣời bịhại, bằng phiếu thăm dòbịcan, phƣơng pháp phân tích tổng hợp và phƣơng pháp thực nghiệm.

Theo điều tra xã hội học bằng phiếu thăm dòbịcan phạm tội trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, huyện Từ Liêm, quận Đống đa trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2010, có 200 phiếu hợp lệ, trong đó các bị can trả lời có2.247 lần phạm tội cƣớp giật tài sản trong đó có 1.063 lần không bị phát hiện và không bịxử lývà 1.184lần bịphát hiện và bị đƣa ra xét xử. Nhƣ vậy cóthể tính tỷ lệ ẩn của tình hìnhtộiphạm cƣớp giật là khoảng 1:1, tức là cứ cómột vụ đƣợc phát hiện xử lý còn một vụ không đƣợc phát hiện.

Ngoài ra, xác định tỉ lệ ẩn của tội cƣớp giật tài sản bằng phƣơng pháp phân tích 220 bản án, cho thấy có 314 bịcáo đã khai họ thực hiện hành vi

cƣớp giật tài sản tổng cộng khoảng 2500vụ nhƣng chỉ bịđƣa ra xét xử

37

khoảng gần 1200 vụ, còn lại khoảng 1300 vụ không bị đƣa ra xét xử, mặc dùhọkhai rõ địa điểm,thời gian thực hiện phạm tội nhƣng Cơ quan điều tra không tìmthấy ngƣời bịhại vàngƣời bịhại cũng không đến trình báo tại cơquan Công an, do đó phải đình chỉ khởi tố vụ án, đình chỉ khởi tố bị can.

Tội cƣớp giật tài sản đƣợc cho rằng có mứcđộẩn ở cấp độthứ 2, vì căn cứvào khả năngbộc lộhành vi của chính loại tội phạm này, xem xét dƣới góc độtính chất của hành vi “nhanh chóng tẩu thoát” nhằm không để lại dấu vết, không bị phát hiện và hầu hết các vụ cƣớp giật tài sản bị phát hiện sau khi bọn chúng đã thực hiện hành vi tội phạm nhiều lần. Nhƣng xét về sốlƣợng tội phạn cƣớp giật tài sản không bị phát hiện theo tỷ lệnghiên cứu thì tội cƣớp giật tài sản là một trong số có mức độ ẩn nhiều nhất.

Điều đángquan tâm về tình hình tội phạm ẩn của tội cƣớp giật tài sản là

trƣớc khi bịbắt hay bịphát hiện bọn chúng đã thực hiện rất nhiều vụ cƣớp giật nhƣng không bịcơ quan chức năng phát hiện, chính vì thế phần ẩncủa tình hìnhtộicƣớp giật tài sẽ rất lớn. Ví dụ: Theo bản án Hình sự sơ thẩmsố154/2008/ HSST ngày 25/08/2008 do Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm xét xửvụNguyễn Trung Kiên phạm tội cƣớp giật tài sản, cho thấy trƣớc khi bịbắt Kiên đã thực hiện 16vụcƣớp giật tài sản chót lọt và khi xét xử cũngchỉ bịxử01 vụ, còn 15vụkhác không tìmđƣợc ngƣời bịhại và cũng không bị đƣa ra xét xử, điềuđóđồng nghĩa với việc là ngƣời có hành vi cƣớp giật không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của họ. Hoặc ví dụ nhƣ theo bản án Hình sự sơ thẩmsố122/2008/HSST ngày14/04/2008 do Tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử vụ Phan Tiến Tùng là ngƣời chƣa thành niên phạm tội

cƣớpgiật tài sản, trƣớc khi bịbắt Tùng đã thực hiện 14vụcƣớp giật tài sản

nhƣng cũng chỉ bị đƣa ra xét xử 01 vụ, mặc dù 14vụkhác hành vi phạm tội của Tùng không khác nhau, vẫn phƣơng thức phạm tội cũ và thủ đoạn phạm tội giống nhau. Hoặc vídụVKSND Hà Nội xác định, Bùi Mạnh Chiến,

38

Nguyễn Văn Trung (cùng ở quận Hai Bà Trƣng) liên tục gây ra hàngloạt vụ

cƣớp giật tài sản ở khu vực trung tâm Hà Nội. Trƣa 12/8/2009, cảnh sát tuần tra tại ngã ba Phan Đình Phùng – Phùng Hƣng, phát hiện Chiến và Trung có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra hành chính. Nhiều sợi dây chuyền vàng bịđứt

đƣợc tìm thấy trong ngƣời hai thanh niên này. Quá trình điềutra vụ án, cơ quan công an chỉ xác định đƣợc 6 bị hại trong tổng số khoảng 30 vụ mà chúng khai nhận. [94] Qua đó cho thấy hành vi phạm tội cƣớp giật tài sản chƣa đƣợc phát hiện kịp thời và chƣa đƣợc xử lý theo pháp luật còn ở mức độ rất cao.

Bộ luật hình sự Việt Namcó tất cả274 loại tội phạm, trongđó tội phạm

cƣớp giật tài sản đã chiếm khoảng 4% tổng số tội phạm, đây là mộttỷlệ lớn và tƣơng ứngvới tỷ lệ này còn tồn tại những con sốvề tội phạmẩn rấtlớn. Nếu theo kết quả tính tỷlệ tội phạmẩn của tội cƣớp giật tài sản có tỷlệ1:1,

nhƣ vậy tội phạm ẩn của tội cƣớp giật tài sản cũng vào khoảng 4% tổng số tội phạm phải xét xử. Tổngsốtộiphạm cƣớp giật tài sản từ năm 2001 đến năm 2012 là 40.747 bị cáo nếu tỷlệ tội phạmẩn của tội cƣớp giậttài sản là 1:1 thì có thể sốtội phạmcƣớp giật tài sản ẩn cũng có một con sốtƣơng đƣơnglà40.747 .

Các nhà khoa học cho rằng, tội phạmẩncủa tội cƣớp giật tài sản ở mức độẩn thấphơn sovới mộtsốtội phạm khác nhƣ tội hiếp dâm, tội tham ô, tội

cố ý làm trái, lạm dụngchức vụ quyền hạn…. đólà xem xét dƣới góc độ tính chất hành vi của các loại tội phạmđểkết luận và đƣa ra các cấp độvề mứcđộẩn của tội phạm. Xét về mức độ ẩn của tội cƣớp giật tài sản trên phƣơng diện lý luận tính chất hành vi, nó chỉ ở mức độII, tức là thuộc nhóm những tội phạmbịẩnkhuất thứ 2, nhƣng xét về số lƣợng thực tế, có thể khẳng định loại

tội cƣớp giật tài sản sẽ là một trong những tội đứng đầu về số lƣợng tội phạmẩn.

39

Tội cƣớp giật tài sản có tỷ lệ các vụ phạmtội chƣa đƣợc điềutra, xử lý còn khá cao. Cơ quan điều tra chỉ điềutra xử lýđƣợc 35% sốvụphạm tội xảy ra, còn tới 65% sốvụchƣa đƣợc điều tra xử lý, cơ quan điều tra đã thống kê và tiến hành điều tra nhƣng không làm rõđƣợc ngƣời bịhại, mặc dù các bịcan, bị cáo khai họđãphạm tội cƣớp giật nhiều lần, thậm trí có những bị can bịkhai họ đã thực hiện 16lần ở nhữngđịađiểmvà thời gian rõ ràng, nhƣng do cơ quan điều tra không chứng minh đƣợc hành vi phạmtộicủa họ, trong khi đó pháp luật hìnhsự Việt Nam quy định nghĩa vụchứng minh hành vi phạm tội của tội phạm là của cơ quan điều tra. Do đó, nhiều vụtộiphạm không bị đƣa ra truy tố trƣớc pháp luật vàvụán đã đình chỉ điều tra. Nhƣ vậy vẫn còn một tỷ lệ tội phạm nhất định không phải chịu trách nhiệm hìnhsựvềhành vi phạm pháp do chính họ gây ra.“Công tác điều tra khám phá các vụ án

cƣớp giậttài sản tuy đạt đƣợc những biện pháp nhất định, songtỷlệ nhữngvụán bị rơi vào bế tắc vẫn còn nhiều(45,01%)” [ 59- tr4]

Tội phạm cƣớp giật tài sản trong nhiều trƣờng đã là bƣớc đệm cho những lần sau phạm tội nguy hiểm và tàn bạo hơn về mức độ, tính chất. Do không bịxử lý kịp thời, xử lý nghiêm khắc, thời gian ẩn lâu nên đã tạo điều kiện cho

tội phạmcƣớp giật tài sản lôi kéo thêm nhiều kẻ khác cùng phạm tội, hình thành các băng nhóm hoạt độngngày càng nguy hiểm, liều lĩnh, táo bạo vàcoi thƣờng pháp luật.

Sốtộiphạm cƣớp giật tài sản năm sau tăng hơn năm trƣớc, nếu làm một phép toán so sánhđơngiản sẽcho mộtkết luận là tội phạmẩn của tội cƣớp giật tài sản cũng gia tăng tƣơng đƣơng. Khi tội phạmcƣớp giật tài sản vẫn còn ẩn khuất, vẫn còn “rình rập nằm trong bóng tối” thì mối hiểm nguy càng khó lƣờng. Chúng ta phải nhận diện đƣợc tình hình ẩn của tội cƣớp giật tài sản vì tội phạm ẩn là mộtvấnđề trong nội dung của tình hình tội phạm, tồn

40

tại tội phạmẩn sẽ là mộttrong những lý do hạn chế các biện pháp hữuhiệu để đấu tranh phòng chống tội phạm.

Vấn đề tội phạmẩn lâu nay chƣa đƣợc quan tâm nếu không nói là các cơquan chức năng còn né tránh. Vì nhiều nguyên nhân: có thể do khoa học về

tội phạmẩnở nƣớc ta hiện nay chƣa đạt ở mức chuyên sâu, còn nhiều quan điểmtrái chiều, chƣa thống nhất, điều kiện nghiên cứu còn khó khăn và ít nhàkhoa học tâm huyết với nó. Đây là một sự thiếu hụt nghiêm trọng côngcụ đấu tranh phòng chống tội phạm.

2.2. Phần hiện của tình hình tội cƣớp giật tài sản

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Đấu tranh phòng chống tội cướp giật  tài sản ở nước ta hiện nay
Đấu tranh phòng chống tội cướp giật tài sản ở nước ta hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *