Đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn Việt Nam hiện nay

Đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn Việt Nam hiện nay

Đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Nói đếnvai trò củaphụ nữ, không thể không kể đến vai trò của phụ nữởnông thôn. Đây là lực lượng chính trong sản xuất nông nghiệp, quyếtđịnh sựthành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn và là đối tượng chủ yếu đảm nhiệm công việc trong gia đình, nuôi dạy con cái, giữgìn truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Tuy nhiên, cho đến nay, “phụ nữở nông thôn vẫn phải đối mặt với các rào cản trong thực hiện quyền con người. Ở nhiều nước, quyền và lợi ích của phụ nữ ởnông thôn không được ghi nhận trong các luật, các chính sách quốc gia hoặc ngay cả khi đã có quy định trong hệ thống pháp luật thì cũng chưa được thực hiện đầy đủ trênthực tế”[110]. Vì vậy, phụ nữởnông thôn – một trong những nhóm dân cưyếuthế,dễbịtổnthương và chịu nhiều thiệt thòi vẫn phải chịu đựng và tiếp tục đấu tranh chống lại các hình thức phân biệt đối xử dựa trên cơ sở giới.

Công ướcvề xóa bỏmọi hình thức phân biệt đốixửchống lạiphụ nữ

(CEDAW) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1979 là kết quả của cuộc đấutranh lâu dài của nhân loại tiến bộ vì một xã hội công bằng, dân chủ, nhânđạo và văn minh. Đó đồng thời cũng là cột mốc lịch sử quan trọng trên con đườngđấu tranh giải phóng một nửa nhân loại. Đây là văn bản pháp lý quốc tế toàn diện nhất nhằm xóa bỏ mọi hình thức phânbiệt đối xửchống lại phụ nữ, đảmbảo thực tếquyền bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. CEDAW là cơ sởpháp lý quan trọng, là kim chỉ nam cho các hoạt độnglập pháp, hành pháp và tưpháp của các quốc gia thành viên Công ước.

Đặc biệt, Công ước CEDAW đã dành riêng Điều 14 quy định về trách nhiệm của các quốc gia thành viên trong việc quan tâmđến các vấn đề đặcbiệt đặt ra đối với phụ nữ ở nông thôn và vai trò quan trọng của phụ nữ ở nông thôn trong đời sống kinh tế gia đình; quy định cho các quốc gia thành viên có trách nhiệm phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ ở nông thôn.

Trong những năm qua, cùng vớiquá trình đổi mới đấtnước, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, quyềncủaphụnữnói chung và của phụ nữở nông thôn nói riêng luônđược Đảng và Nhà nướcta đặc biệt quan tâm.Điều nàyđược thể hiện rõ trong Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐHđấtnước:“Nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện BĐG trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới”[14] và đượctiếptụckhẳngđịnhtrong các Vănkiện ĐạihộiX, XI, XIIcủa Đảng. Đặc biệt, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã xác định: “Nâng cao trình độmọi mặt vàđờisống vật chất, tinh thầncủaphụ nữ. Nghiên cứu,bổsung và hoàn thiện luật pháp, chính sách đối với lao động nữ, tạo điềukiện để phụ nữthực hiện

tốt vai trò và trách nhiệm của mình. Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội vàxửlý nghiêm minh theo pháp luật các hành vi bạo lực, buôn bán, xâm hại nhân phẩm phụ nữ”[36].

Thể chếhóa quanđiểm, chủtrươngcủaĐảng, nhiều quy định bảo vệ quyền lợi chophụnữđược Nhà nướcghi nhận trong các vănbảnpháp luật như: Hiến pháp, Bộ Luật hình sự, Bộ Luật Tố tụng hình sự, Bộ Luật Lao động, LuậtBầucửđại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Hôn nhân và gia đình, LuậtĐất đai, Luật BĐG, Luật PCBLGĐ. Bên cạnh đó Nhà nước quan tâm ban hành các chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và chính sách đặcthù cho phụ nữở

nông thôn với nhiều chương trình mục tiêu, đề án, dựán… Đối với phụ nữở nông thôn, đối tượng chịu ảnh hưởngnhiều nhất bởi nhữnghủtục,tậpquán lạchậu,tệphân biệt đối xửtrọng nam, khinh nữ; đối tượng dễ bị xâm hại, dễbị tổn thương nhất thì hệ thống chính sách, pháp luật nói trên chính là “chiếc lá chắn” quan trọng bảo vệ quyền lợi cho họ.

Hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho phụ nữở nông thôn được tiếp cận, thụ hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình; được phát huy tài năng và sức lực để cống hiến cho xã hội; tạo điềukiện cho họkhẳng định năng lực vàvị thế trong xã hội, rút ngắn khoảng cách trong quanhệ vớiphần nửa còn lại của xã hội và tiến tớisựbình đẳngvề mọi mặtvới nam giới.Sựđảm bảovềmặtpháp lý đã tạo cho phụ nữ ở nông thôn được tham gia quản lý nhà nước và xã hội, có cơ hội tìm kiếm việc làm, được hưởng sựchăm sóc sức khỏe thích đáng; được lựa chọn những cách sống khác nhau thông qua việc đảmbảo chohọ tiếp cận với các chương trình giáo dục và đào tạo một cách bìnhđẳng,cũng như nhận được các khoản vay, tín dụng nông nghiệp và các

điều kiệnthuận lợi khác về thịtrường… Từđó, giúp họ phát huy khả năng, trí tuệ, vượt lên mọi định kiến về giới, góp phần quan trọng đẩynhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Đồng thời, góp phần thực hiện thắng lợi cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ và quyền bình đẳng của phụ nữ.

Công tác tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về quyền củaphụ nữở nông thôn Việt Namđã có những chuyển biến tích cực. Nhiều biện pháp đặc thù nhằmđảmbảo quyền cho phụ nữở nông thôn được triển khai thiết thực và hiệu quả; công tác tuyên truyền chính sách, pháp luật có nhiềuđổimới về nộidung, phương thức hoạt động; hoạt động tố tụng bảo vệ quyền của phụ nữở nông thônđược tăng cường; việc thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên vàhoạt động hợp tác nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra đối với phụ nữở nông thônđược chú trọng…

Tuy nhiên, bên cạnh đó, hệ thống chính sách, pháp luật về quyền của phụ nữ, trong đó có phụ nữở nông thôn còn chưa thực sựhoàn thiện, nhiều văn bản chưa tính đến yếu tố đặc thùcủa phụ nữở nông thôn. Các chính sách dàn trải với cơ chếkhác nhau, nội dung trùng lắp, nguồn vốn đảm bảo thấp, chi phí cao cho hoạt động sựnghiệp,thủtụcrườm rà.Sựtham gia của phụ nữ ở nông thôn vào quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng chưa được chú trọng,đảm bảo tính thực chất. Việc thực thi chính sách, pháp luật còn nhiều thiếu sót, bất cập. Vịthế, vai trò của phụ nữở nông thôn đã được nâng lên nhưng chưa ngang tầmvới năng lực, phẩm chất và đóng góp củahọ đốivới gia đình, xã hội, với sự phát triển của đất nước. Tưtưởng “trọngnam, khinh nữ”, định kiến giới còn tồn tại khá nặng nề ở nông thôn. Nhận thức của nhân dân, đặc biệt là bản thân người phụ nữ ở nông

thôn về các quyền và lợi ích của mình còn hạn chế… dẫn đến quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ chưa được đảm bảo đầyđủ trên thực tế, giảm khả năng đóng góp của họ vào sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Từ đó, đòi hỏi nhà nước phải cónhững giải pháp hữu hiệu để bảo vệ, thúc đẩy, đảm bảo phụ nữ được tiếp cận và thụhưởng đầyđủ quyền và lợi ích hợp pháp. Để giải quyết được những vấn đề này, cần nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn nhằmđưa ra các luận cứ khoa học, xác đáng, góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật về đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn.

Từnhững lý do trên, tác giả quyếtđịnh lựa chọn đề tài “Đảmbảo quyền của phụ nữ ở nông thôn Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sĩ luật học, chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính (mã số 62.38.01.02)

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

– Mục đích nghiêncứu: Phân tích làm sáng tỏ cơsở lý luận và đánh giáđúng thực trạng đảmbảo quyền của phụ nữở nông thôn Việt Nam, tìm ra những hạn chế, nguyên nhân; trên cơ sở đó đưa ra quan điểm định hướng và đề xuất, luận chứng các giải pháp đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn Việt Nam hiện nay.

– Nhiệmvụ nghiêncứu:Đểđạtđược mụcđích trên, luận án có nhiệmvụ giải quyết những vấn đề sau:

+ Đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, đánh giákết quả nghiên cứu của các công trình, rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.

+ Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về đảm bảo quyền của phụ nữ ởnông thôn Việt Nam: Khái niệm, đặc điểm đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn; nội dung, cơ chế, yếu tố ảnh hưởng đến đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn.

+ Nghiên cứu đánh giá thực trạng xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đảmbảo quyền của phụ nữở nông thôn; chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân củaưu điểm, hạn chế trong thực tiễn đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn Việt Nam hiện nay.

+ Đề xuất các quan điểm và giải pháp phù hợp, khả thi nhằm đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn Việt Nam hiện nay.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu

– Các quan điểmkhoa học liên quan đến đảmbảo quyền của phụnữnói chung, phụ nữ ở nông thôn nói riêng.

– Các côngước quốc tế về quyền con người, quyềncủaphụnữ; các chủtrương, nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về đảmbảo quyền của phụ nữ ở nông thôn.

– Thực tiễn tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đảm bảo quyền của phụnữ ở nông thôn Việt Nam hiện nay.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Phạm vi nội dung: đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn làmột chủ đề rất rộng, bao quát nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng. Trong khuôn khổ quy mô của luận án tiến sĩ luật học, dưới góc độ chuyên ngành Luật Hiến pháp – Luật Hành chính, luận án tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn vềxây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật vềđảm bảo quyềncủa

phụ nữở nông thôn; từ đó, đề xuất các giải pháp đảm bảo quyền củaphụ nữở nông thôn Việt Nam hiện nay.

– Về không gian: Đề tài triển khai nghiên cứu về đảm bảo quyền củaphụ nữở nông thôn trên phạm vi toàn quốc ở Việt Nam.

– Về thời gian: Từ năm 2005 đến nay.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 4.1. Phương pháp luận

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịchsửđể nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nội dung đề tài; vận dụng các quan điểmcủa học thuyết Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhànước và pháp luật, đảmbảo QCN, quyền của phụ nữ; các quan điểm chỉ đạo củaĐảng Cộng sản Việt Nam hiện nay về đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn, vềxây dựng và thực hiện pháp luật trong thời kỳ mới. Luận án vận dụng lý luận về tiếp cận dựa trên quyền, lý thuyết về quyền tự nhiên, quyền pháp lý, lý thuyết nữ quyền,

lý thuyết về giới…

4.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận án sửdụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

– Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp nàyđược sửdụng trong toàn bộ luận án để phát hiện, luận giải thuyết phục các nội dung liên quan đến chủđề luận án áp dụng để phân tích cả tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp.

– Phương pháp thống kê: đươc sửdụng trong chương 1 và 3 của luận án nhằm tập hợp, đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và thực trạng đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn Việt Nam.

– Phương pháp cấu trúc hệ thống: nhằm nhận diện và đánh giá tính hợp lý và hiệu quả của đảm bảo quyền của phụ nữở nông thôn trong mối liên hệ với cơ chếđảm bảo quyền của phụ nữ và quyền con người nói chung.

– Phương pháp so sánh: Phương phápnày được sửdụng nhằm làm rõ nhữngđiểm tương đồng và khác biệt giữa đảm bảo quyền phụnữở nông thôn với đảm bảo quyền củaphụnữởthành thị;để thấy rõ hơn những thành tựu nổi bật trong xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về quyền của phụnữởnông thôn.

– Phương pháp đa ngành, liên ngành luật học: được sửdụng trong toàn bộcác chương của luận án để luận chứng các khía cạnh phức tạp, đa chiều của chủ đềnghiên cứu.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

– Xây dựng được cơ sở lý luận về đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn Việt Nam: Khái niệm,đặc điểm, nội dung, cơ chếđảm bảo quyền của phụ nữở

nông thôn Việt Nam…

– Đánhgiá đượcthực trạng về đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.

– Xác định được những quan điểm định hướng và đề xuất hệ thống các giải pháp có tính toàn diện và khả thi nhằm đảm bảo quyền của phụnữở nông thôn Việt Nam hiện nay.

Đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn Việt Nam hiện nay
Đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn Việt Nam hiện nay

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án

– Về lý luận: Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về đảm bảo quyềncủa phụ nữở nông thôn; góp phần hình thành tưduy đầy đủvề quyền của phụ nữ ởnông thôn và đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn.

– Về thực tiễn:

+ Đề tài cung cấp luận cứkhoa học góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật về đảm bảo quyền cho phụnữở nông thôn. Đồng thời, cungcấpnhững khuyến nghị quan trọng giúp cho công tác tổ chức thực thi chính sách, pháp luật về quyền của phụ nữ ở nông thôn có hiệu quả và chất lượng hơn.

+ Luận án có giá trị tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy ở các cơsởđào tạo có chuyên môn liên quan đến đề tài.

7. Kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận án gồm 4 chương sau:

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu trong luận án

Chương 2. Những vấnđề lýluậnvềđảm bảoquyềncủaphụ nữở nông thôn Việt Nam hiện nay

Chương 3. Thực trạng đảmbảo quyền của phụ nữở nông thôn Việt Nam hiện nay

Chương 4. Quan điểm và giải pháp đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn Việt Nam hiện nay

7

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.2. Nhận xét tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1.2.1. Những nội dung đã sáng tỏ và được luận án kế thừa, phát triển

Số lượng các công trình nghiên cứu gắn với chủ đề luận án rất lớn, phong phú và đa dạng,đượctiếpcậntừnhiềuhướngvớicácmứcđộliên quan khác

25

nhau. Đâylà thuậnlợiđồngthời cũng là thách thứclớn đốivớiviệc triển khai nghiêncứuđềtài luận án.Kếtquảcủacác công trình nghiêncứuđãcung cấp mộtlượngkiến thức quan trọngvềquyền con người, quyềncủaphụ nữnói chung và của phụ nữ ở nông thôn nói riêng, là nguồn tư liệu quý để tác giả tiếp

tục nghiên cứu và phát triển.

Căn cứ tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề luận án, có thể nhận thấy một số nội dung liên quan đến đề tài luận án đã được giải quyết, đạtđược sự thống nhất cao, tác giả có thể kế thừa, phát triển trong quá trình nghiên cứu. Cụ thể:

Trên phương diện lý luận, các vấn đề liên quan đến khái niệm phụ nữ ở nông thôn, nội dung quyền của phụ nữ ở nông thôn cũng đã được các tác giả làm sáng tỏở các góc độ nhất định. Đặcbiệt, cách tiếp cận vềnộidung quyền vớihai nhóm quyền về dân sự, chính trị; về kinh tế, xã hội, văn hóa và nội hàm các biện pháp đặc thù về phụ nữ nông thôn tại Điều 14 CEDAW không còn là vấn đề gây tranh cãi.

Cũng trên phương diện lý thuyết, các công trình đã xây dựng được khái niệm, đặcđiểm, nội dung, cơ chế đảm bảo QCN nói chung và quyền con người trong một số lĩnh vực. Trong đó, nhận thức chung về vị trí, vai trò; các yếu tố đảm bảo quyền của phụnữlà vấn đề đã được khẳng định. Một sốcông trình khoa học xác định rõvịtrí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơquan, tổ chức trong đảm bảo QCN nói chung và quyền của phụ nữ nói riêng.

Trên phương diện thực tiễn, bức tranh thực trạngvề đảmbảoquyền con người, quyền củaphụnữbướcđầuđãcó nhữngđường nét nhấtđịnh.Một số công trình đã đánh giá khá toàn diện những thành tựu trong xây dựng vàtổchức thực hiện hệ thống chính sách, pháp luật về quyền của phụ nữ; chỉ ra được những vấn đề, hạn

chế, bất cập trong thực tiễn thực thi quyềnphụ nữ… Đặcbiệt, một số luận văn, luận án nghiên cứu vềphụ nữở nông thôn dưới các góc độ tiếp cận chuyên ngành xã hội học, chính trị học, triết học, như: vị thế, vai trò, quyền quyếtđịnh của phụ nữ ở nông thôn trong gia đình và ngoài xã hội; nhữngyếutố ảnh hưởng đến đạo đức của phụ nữ

ở nông thôn…

Về phương diện giải pháp, phần lớn các nghiên cứu hướng sự quan tâm đến nhu cầu tìm kiếm các giải pháp đảm bảo quyền cho phụ nữ. Đã có nhiều giải pháp

26

khả thi được đưa ra như: giải pháp về xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật; tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan trong hệ thốngthiết chế đảmbảo QCN; đẩymạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về QCN, quyền của phụ nữ. Một số công trình đưa ra được các giải pháp tương đối thuyết phục về đảm

bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn trong lĩnh vực kinh tế – xã hội…

Kết quảnghiên cứutừcác đề tài, bài viết là nguồn tư liệu quý, là tài liệu tham khảo bổíchđể nghiên cứu sinh kế thừa và phát triển khi nghiên cứu đề tài “Đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn Việt Nam hiện nay”.

1.2.2. Nhữngvấnđề chưađượcgiải quyết thấuđáohoặc chưađượcđặtra nghiên cứu

Vềlý luận, các công trình nghiêncứuchưađưarađượckhái niệm phụnữở nông thôn; chưa chỉ rõ được các đặc điểm của phụ nữ nông thôn; chưa chỉ ra các điều kiện kinh tế – xã hội đặc thù ở vùng nông thôn. Đồng thời, chưa có công trình nào xây dựng được khái niệmđảmbảoquyền của phụ nữ ở nông thôn, chưa chỉ ra được nội dung,cơ chế đảm bảoquyền và các yếu tố ảnh hưởng đến đảm bảo quyềncủa phụ nữở nông thôn.

Về thực trạng, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện thực trạng đảm bảo quyền của phụ nữ ở nôngthôn,đặcbiệt là những quyềndễ bị xâmphạm.

Vềgiải pháp, chưa có công trình nàođưara quanđiểmvà giải phápđảmbảo một cách toàn diện các quyềncủaphụ nữ ở nông thôn

1.3. Những vấn đề đặt ra liên quan đến đề tài luận án

1.3.1. Những nội dung cần nghiên cứu của đề tài luận án

Xuất pháttừsựphân tích thực trạng tình hình nghiên cứu liên quanđến chủđề luận án nêu trên, có thể thấy không gian nghiên cứu dành cho luận án còn hết sức rộng rãi, bao gồm những vấn đề sau:

Thứ nhất, trên cơ sở nền tảnglý luận về đảm bảoQCN, quyền phụ nữ, thực hiện BĐG trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, luận án cần xây dựng khung lý thuyết về khái niệm, đặc điểm, nội dung, cơ chế, yếu tố ảnh hưởng đảm bảo quyền củaphụ nữ ở nông thôn.

Thứ hai, các công trình nghiên cứu đã đánh giá vị trí, vai trò củaphụ nữtrong gia đình và xã hội, trong sự nghiệp CNH, HĐH; những ảnh hưởng của sự gia

27

nhập WTO ở Việt Nam đến phụ nữ ở nông thôn. Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nào đánh giá, xem xét một cách toàn diện về hoạt động xây dựng, hoàn thiện hệthống chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện hệ thống chính sách, pháp luật vềđảmbảoquyền của phụ nữở nông thôn, vì vậy, luận án tập trung làm rõ những thành tựuđãđạtđược;nhữngtồntại,hạnchế vàchỉra nguyên nhân củanhững thành tựu, tồn tại, hạn chế đó.

Thứ ba, từ kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, luận án đưa ra những quan điểm và giải pháp đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn Việt Nam. Cụ thể:

Về quan điểm, đề tài nhấn mạnh yêu cầu cần phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữở nông thôn trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn vàxây dựng nông thôn mới; nâng cao địa vị của phụ nữ, thực hiện BĐG trên mọi lĩnh vực; đảm bảo quyền của phụnữởnông thôn gắnvớiphát huy dân chủvà tăng cường cơ chế tựquản ở cơ sở; đồng thời, phải gắn liền với việc kiên quyết chống lại tư tưởng “trọng nam, khinh nữ”, “phân biệt đối xửvới phụ nữ”, loại bỏ các hủ tục lạc hậu có hại cho phụ nữ.

Về giải pháp, đềtài đưa ra giải pháp nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò vàquyền của phụnữở nông thôn; tiếp tụcxây dựng, hoàn thiện hệthống pháp luật, chính sách đảm bảoquyền củaphụnữởnông thôn; tăngcườngcác biện pháp tổ chức thực hiện pháp luật về đảmbảoquyềncủaphụ nữở nông thôn; đổi mới tổchức và hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền trong đảm bảo quyền của phụ nữ ởnông thôn; tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn lực để đảm bảo quyền của phụnữ ở nông thôn.

1.3.2. Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu của luận án 1.3.2.1. Giả thuyết nghiên cứu

Với kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu và căn cứvào các lý thuyết cóliên quan đến chủ đề nghiên cứu, luận án đặt ra giả thuyết nghiên cứu như sau:

Đảm bảoquyềncủa phụ nữở nông thôn Việt Nam làvấn đề đượcĐảng vàNhà nướcta đặcbiệt quan tâm. Việc xây dựng, hoàn thiện và tổchức thực hiện chính sách, pháp luật nhằm tạo cơ hội chophụ nữở nông thôn được tiếp cận và thụhưởng đầy đủcác quyền trong lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, xă hội và văn hóa là rất cần thiết. Mặc dù vậy, cơ chế đảm bảo quyền của phụ nữ nói chung, phụ nữở

28

nông thôn Việt Nam nói riêngđãđượcđịnhhình nhưng chưa rõ nét. Công tác xây dựng, hoàn thiện và tổchức thực hiện pháp luật còn nhiều hạn chế, bất cập. Hiện nay, phụ nữ ở nông thôn đang phải đối mặt với nhiều rào cản, khó khăn trong thực hiện quyền con người, quyền công dân nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu đểbảo vệ, thúc đẩycác quyền của nhómđối tượngnày. Từđó, đặt ra yêu cầu phải nâng cao hiệu quả đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn, yếu tố quan trọng góp phần nâng cao vị thế, vai tròcủa người phụ nữtrong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới.

1.3.2.2. Câu hỏi nghiên cứu của luận án

– Đảmbảo quyền của phụ nữ ở nông thôn là gì?Có điểmgì khác so với đảm bảo quyền của phụ nữ nói chung? Nội dung, cơ chế, các yếu tố ảnh hưởng đếnđảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn?

– Công tác xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn Việt Nam đạt được những thành tựu gì?

– Thực tếđảmbảo quyền của phụ nữở nông thôn Việt Nam hiện nay đang nảy sinh những vấn đề bất cập gì?

– Nâng cao hiệuquảđảm bảoquyền của phụ nữ ở nông thôn cần xuất pháttừnhững quan điểmmang tính định hướngnào? Các giải pháp cần được áp dụngđểđảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn Việt Nam?

Kết luận chương 1

Sửdụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể, đối với các công trình khoa học ở trong nước có liên quan đến đề tài luận án, tác giả phân thành ba nhóm:

Các công trình nghiên cứu về đảm bảo QCN; các công trình nghiên cứu về đảm bảo quyền củaphụnữ; các công trình nghiên cứu về đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn. Các công trình nghiên cứu trên đâyđã đề cập những vấn đề QCN, đảmbảo QCN, quyền của phụ nữ trong một số lĩnh vực; các nhân tố tácđộngđến việc hình thành và hoạt động của các cơchế đảm bảoquyền; một sốcông trình nghiên cứu, đánh giá khá toàn diệnvề thực trạng đảmbảo QCN trong một số lĩnh vực; chỉ ra

vấn đềbức xúc, những hạn chế, bất cậptrong thực tiễn thực thi quyền phụ nữ… Đặc biệt,các luận văn, luận án nghiêncứu về phụnữở nông thôn dưới các góc độ

29

tiếp cận: pháp luật BĐG; quyền của phụnữ; vị thế, vai trò, quyền quyết địnhcủa phụ nữ ở nông thôn trong gia đình và ngoài xã hội; những yếu tố ảnh hưởng đến đạođức của phụ nữở nông thôn; một số công trình đã đề xuất các quan điểm, giải pháp trong việc đảm bảo QCN, quyền của phụ nữ. Các tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án ở ngoài nước cũng đã nghiên cứu ở nhiềugóc độ, vớicác cách tiếp cận

khác nhauvềQCN, quyềncủa phụ nữ…

Tuy nhiên thực trạng nghiên cứu cũng cho thấy còn nhiềuvấn đề thuộc chủ đềluận án chưađược giải quyết thấu đáo hoặc chưađượcđặt ra trong các công trình nghiên cứu đã công bố.

Trên cơ sở cách nhìn tổng quan tác giả đã xác định rõ các nội dung cơ bản cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án, đặt ra giả thuyết nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu nhằm thực hiện được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luậnán, đảmbảođược giá trị khoa học và thực tiễn của luận án.

30

Chương 2

NHỮNGVẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO

QUYỀN CỦA PHỤ NỮ Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1. Khái niệm, đặc điểm đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn

2.1.1. Khái niệm đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn 2.1.1.1. Nông thôn và phụ nữ ở nông thôn

* Nông thôn

Dưới khía cạnh xã hội học, nông thôn và đô thị là hai khái niệm về mặt nội dung có nhiều đặc điểm có tính đối lập nhau. Các nhà xã hội học đưa ra nhiều cơ sở khác nhau để phân biệt nông thôn và đô thị. Sự phân chia đó có thể dựa trên cơ sởcác lĩnh vực hoạt động của xã hội như lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp,thủcông nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, dịch vụ… hoặc dựa trên các thiết chế

chủ yếucủa xãhộinhư thiết chế kinh tế, văn hóa, giáo dục… hoặc theo các nhóm, các giai cấp, tầng lớp xã hội hay theo bình diện lãnh thổ.

Nhiều năm trước đây, giới nghiên cứu thường nhấn mạnh vào tiêu chuẩn tối thiểu và cần thiết để xác định một xã hội nông thôn. Tuy nhiên, một số nghiêncứuđã phát hiện ra rằng nhiều đặc trưng vốn được gắn cho xã hội nông thôn cũng có thểthấyở thành thị. Thậm chí người ta còn chưa thống nhất được với nhau về những đặc tính bản chất nhằm phân biệt cộng đồng nông thôn với cộng đồng đô thị. Trên thực tế, nông thôn được định nghĩadướidạng một hay nhiều thuộc tính định lượng hay các thuộc tính định tính hoặc cả hai thuộc tính đó. Các vấn đề về phương pháp luận và lý thuyết trongđịnhnghĩavềkhái niệm nông thôn tương tựnhư khiđịnh nghĩa về đô thị và khi sử dụng những kiểu loại nói chung. Tất cả các đặc trưng nghềnghiệp, nhân khẩu học, sinh thái học, xã hội học, tổ chức và văn hóa được dùng nhưđịnh nghĩa thuộc tính về xã hội nông thôn.

Ở Việt Nam, chưa có định nghĩa chính thức về nông thôn, song ở một số văn bản quy phạm pháp luật có sử dụngmộtsố thuật ngữ liên quan đến nông thôn vàđôthị như: Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định về chính quyền nông thôn, chính quyền đô thị; Nghị định số42/2009/NĐ-CP, ngày 7/5/2009 của

31

Chính phủ đưa ra một số tiêu chí để xácđịnhvà phân loại đô thị, theo đó đô thị làvùng có quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4.000 người trở lên; mật độ dân số phùhợpvớiquy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đôthịvà đượctính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn; tỷ lệ laođộng phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động;hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật phải được đầu tưxây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị (đối với khu vực nội thành, nội thị), phải được đầu tư xây dựngđồng bộmạng lướihạ tầng vàđảm bảo yêu cầu bảovệ môi trường và phát triểnđôthị bềnvững (đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị); Thông tư số 54/TT-NNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyđịnh:“vùng/khu vực nông thôn mới Việt Nam XHCN là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thịcác thành phố, thị xã, thị trấn; được quản lý bởi cấp hành chính cơsở là UBND xã”; Khoản 1, Điều 3, Nghị định số 55/NĐ-CP ngày 9/6/2015 củaChính phủ vềchính sách tín dụng phục vụphát triển nông nghiệp, nông thôn quyđịnh:“Nông thôn là khu vực địa giới hành chính không bao gồm địa bàn củaphường, quận thuộc thị xã, thành phố”.

PGS.TS. Vũ Văn Phúc quan niệmvềnông thônmớilà vùng nông thônchứ

không phải là thị tứ, thị trấn…. Nông thôn mới vừa bao hàm chức năng lịch sử vốn có

củanông thôn là vùng nông dân quầntụtrongđơnvịlàng xã vàchủyếulà nông nghiệp,vừacó những thuộc tính khácvớinông thôn truyền thống[64]. Một số nhànghiên cứu khác, khi phân tích đặc trưng văn hoá của xã hội nông thôn truyền thốngđã tổnghợp các đặc trưng cơ bản sau:

– Xã hội nông thôn truyền thống lấynông nghiệp làm gốc, trọng nông ức thương, coi trọng tước vị và kinh nghiệm;

-Đề cao tinh thần cộng đồng, không đề cao sựkhác biệt, đa dạng, cá nhân chịu sự khống chế và giám sát của cộngđồng;

– Tư tưởng cào bằng, không chấp nhận sự nổi trội về mức sống và lối sống;

32

– Những giá trị chung được xã hộikhuyến khích là gìn giữtình làng nghĩa xóm, trọng cội nguồn, tổ tiên, lòng biết ơn công lao của các bậc tiền nhân, phát huy tinh thần tương thân tương ái.

Ngày nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam đặt ra vấn đề xây dựng nông thôn mới một cách toàn diện với những đặc trưng của nông thôn truyền thống và bổ sung nhữngđặc điểm như: Làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống về vật chất và tinh thần của người dân ởnông thôn ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hóa được giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ; chức năngsảnxuất xuất nông nghiệp; chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống dân tộc; chức năng sinh thái[64].

Từ các nghiên cứu trên, có thể hiểu: Nông thôn Việt Nam là vùng/khu vực lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn; được quản lý trực tiếp bởi chính quyền xã; là địa bàn sinh sống của nhiều cộng đồng dân cư, những tộc người khác nhau, chủ yếu lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa cổ truyền, tập quán tốt đẹp và các nghề truyền thống.

* Phụ nữ ở nông thôn

Phụ nữở nông thôn trước hết là một bộ phận trong giới nữ- những người chiếm hơn một nửa nhân loại. Học thuyết Mác-Lênin đã chỉ ra rằng con người làmột sinh vật có bảnchất tựnhiên và bản chất xã hội. Là con người, đàn ông và đàn bà giống nhau, nhưng họ lại khác nhau về đặc điểm của cơthể tựnhiên, đồng thời cũng khác nhau trong cách ứng xử, đối xửdo ảnh hưởng của các mối quan hệ xãhội, văn hóa. Vì vậy, những phân biệt về đặc điểm của giống (sex) khác với những vấn đề về giới (gender) có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Về mặt sinh học, những đặc điểmvề giống (giống cái và giống đực) là tựnhiên, sựphân biệt người đàn ông với ngườiđàn bà là rõ ràng như: hình dáng cơthể, cơ quan sinh dục và chức năng của nó… Những đặcđiểm này là bẩmsinh vàkhông thể thay đổi được. Nhữngđặcđiểm củacơ thể cũng là chung cho đàn ông vàđàn bà,bấtkỳ ở dân tộc, chủng tộc hay địa phương nào trên trái đất. Trải qua bao

33

nhiêu thế kỷ, con người ngày nay có những tiến bộ về chiều cao, cân nặng, tầm vóc cơ thể,kể cảvẻ đẹp ngoại hình. Ở mỗi dân tộc, địa phương, con người cũng có sựkhác nhau về màu da, màu tóc và mắt, chiều cao của sống mũi, bề dày của đôi môi, hình dáng của đôi mắt… nhưng phụ nữở trên toàn thế giới đều giống nhau những nét cơ bản như: mang thai, sinh nở, nuôi con bằng sữa mẹ và thực hiện các thiên chức khác của người phụ nữ. Vềmặtxã hội, có nhiều công trình khoa học, luận án, bài viết trên các tạp chí đề cập tới các vấn đề liên quan đến phụ nữvới tư cách làmột giới trong xã hội. Bàn về khái niệm giới, theo quan điểmcủa tác giả Lê ThịChiêu Nghi “Giới bao gồm các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụnữ vànam giới trong một môi trường xãhộicụ thể, hay nói cách khác, giới làsựkhác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong quan hệ xã hội”[62]. Theo tác giả Lê Ngọc Hùng và Nguyễn Thị Mỹ Lộc:“Giới dùng đểchỉ các đặc điểm, vị trí, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ. Hay nói cách khác, giới là khái niệm dùng để chỉnhững đặc trưng xã hội của nam và nữ”[46].

Có thể thấy khái niệm phụ nữ (giới nữ) một phần bị quy định bởi các yếu tố, tiền đềsinhhọccủagiới tính, đồng thời không mang tính bẩm sinh, di truyền mà bịquyđịnh bởi điều kiện và môi trường sống của cá nhân, được hình thành và phát triển qua hàng loạt các cơ chế bắt chước, học tập, ám thị. Vị trí, vai trò củanữgiới có thể thay đổidướitác độngcủacácyếutốbên trong và bên ngoài, đặc biệt là về điều kiện kinhtế – xã hội. Khi người phụ nữchịu tácđộngcủa môi trường sống, chịu ảnh hưởng của văn hóa làng xã, lúc đó đặc điểm của phụ nữ được bộc lộ qua suy nghĩ, tình cảm và hành vi của mỗi cá nhân, nhóm. Trong bài viết thực trạng vềphụ nữnông dân, nông thôn khi tiến hành xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay, PGS.TS. Nguyễn Linh Khiếu viết:

Phụ nữ ở nông thôn là một cộng đồng người phong phú và đa dạng về sắctộc, tôn giáo,lứatuổi, trìnhđộhọcvấnkhác nhau và sinh sốngởnhững vùng nông thôn khác nhau. Phụ nữ ở nông thôn hoạtđộng chủyếutrong lĩnh

34

vựcnông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, các ngành nghề thủcông truyền thống[64].

Phụ nữ ở nông thôn có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, phụ nữ ở nông thôn luôn là lực lượng đông đảo nhất trong cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động của xã hội nông thôn Việt Nam.

Theo Niên giám thống kê năm 2014, dân sốViệt Nam có khoảng hơn 90 triệu ngườitrongđóở nông thôn là: 66.900.000ngườichiếm (trongđóphụnữởnông thôn chiếm 51%, tương đương 33.030.000 người và chiếm khoảng 72,56% phụ nữ trong cả nước).

Thứ hai, đa số phụ nữở nông thôn lao độngtrong lĩnh vực nông, lâm, ngưnghiệp. Theo số liệu thống kê, hiện có 70,5%phụ nữở nông thôn làm nông nghiệp, 10,2% phụ nữ làm kinh doanh buôn bán, 12,9% phụ nữ làm việc trong một số lĩnh vực khác: công chức, viên chức, công nhân, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp… Tuy nhiên, tỷlệ lao động nữnông thôn tham gia các hoạt động kinh tếtrong từng lĩnh vực này rất nhỏ, không đáng kể[64].

Do đặc điểm lịch sửphát triển kinh tế – xã hội của đất nước, phụ nữ xưa kia cũng như hiện nay vẫn giữ vai trò trụ cột trong sản xuất nông nghiệp. Theo tính toán của các nhà khoa học, lao động nữở nước ta hiện nay sản xuất ra hơn 60% sản phẩm nông nghiệp và là một trong hai chủ thể quan trọng đem lại thu nhập kinh tếcho các hộ gia đình ở nông thôn[64].

Thứ ba,điều kiện kinh tế, laođộngcủa phụ nữở nông thôn gặp nhiều khókhăn. Đa sốphụnữở nông thôn không phải là những laođộnglàm công ăn lương nên nguồn sống không ổn định và độc lập như phụ nữ thành thị. Phụ nữ ở nông thôn thường phải lao động quá sức. Họ vừa là lao động chính, vừa phải thực hiện thiên

chức làm vợ, làm mẹ, làm con dâu trong gia đình…Do vậy, họ thường không cóthời gian để nghỉ ngơi tái sản xất sức lao động. Bên cạnh đó, phụ nữở nông thôn thường bịhạnchế hơn nam giới trong tiếp cận nguồnlực đấtđai,vốnvà các nguồn lực khác, điều này ảnh hưởng đếnvịthế, vai trò của họ, buộc họ phải lệ thuộc nhiều

35

hơn vào nam giới, ảnhhưởng đến tính tựchủtrong việc ra quyết định cho sự phát triển của bản thân cũng như gia đình. Hơn thế, trong điềukiện hội nhập kinh tếquốc tế, do tính chất thường phảigắnliền với gia đìnhcủalao động nữ ở nông thôn nên họ đã bỏ lỡ nhiều cơ hội và thời cơ để tìm kiếm việc làm có thu nhập cao hơn ởđô thị hay thị trường lao động quốc tế.

Thứ tư, trình độ học vấn của phụ nữ ở nông thôn còn thấp. Đa phần có trình độ trung học cơsởvớisố năm đi học trung bình là 7,5 năm/người; vẫn cònmộtsốphụ nữkhông biết chữ. Do đời sống các gia đình nông thôn còn nghèo, nhiều phụnữkhông có điều kiện học tập, giao lưu, thụhưởng các giá trị văn hóa tinh thần, trình độ văn hóavốnđã thấplại không có cơ hội bổ sung, nâng cao, sự hiểu biết xãhội hạnchế, lạc hậu; sự hiểu biết về kinh tế – xã hội hạn chế, ít có điều kiện tiếp cận và nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật, khoa học và công nghệ.

Thứ năm, phụ nữở nông thôn chịu nhiều ảnh hưởng bởi tư tưởng phong kiến, là nạn nhân của những hủ tục, tập quán lạc hậu, tình trạng trọng nam, khinh nữvẫn còntồntạitrong xã hộinông thôn hiện nay; làngườigánh chịu nặngnềnhất những mấtmát, tai họa do hậu quả củacác cuộc chiến tranh mấychục năm qua. Trong gia đình, ngườiphụ nữở nông thôn vừa là người làm kinh tế, vừa là người quản lý kinh tế gia đình nhưng lại không phải là người ra quyếtđịnh quan trọng trong gia đình;họcó trình độhọc vấn,sựhiểu biết thấp hơn dẫn đến vị thế cũng thấp hơn sovớingười chồng. Do tácđộngcủa quá trình đô thị hóa, nhiều nam giới di chuyển lên thành phố tìm kiếm việc làm,để lại cho người phụ nữnhiều gánh nặng gia đình, họ phải đảm nhiệm hầu như toàn bộ công việc nội trợ gia đình, nuôi con cái và chăm sóc người già,ngườiốm,tham gia vào các hoạtđộngsảnxuất nông, lâm ngư nghiệp và những công việc phi nông nghiệp khác; họ phải lao động quá sức, không có thời gian nghỉ ngơi để phục hồi sức lao động, không có điều kiệnđể học tập, giao lưu, tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ. Bên cạnh đó,phụnữở nông thôn còn phải đối mặt với ảnh hưởng của suy thoái môi trường, biếnđổi khí hậu làm thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi, thời vụ, tăng nguy cơ bệnh dịch, ảnh hưởng nghiêm trọngđến năng suất, chất lượng. Nguồn nước mặt khan hiếm trong mùa khô dẫn đến hạn

36

hán nhưng lại quá dư thừa trong mùa mưa gây lũ lụt. Nguồn nước ngầm bị suy giảm đến cạn kiệt khiến phụ nữ gặp nhiều khó khăn hơn trong hoạt động sản xuất và công

việc gia đình… Vì vậy, phụ nữ ở nông thôn là đối tượng dễ bị tổn thương kép, cầnđược quan tâm đặc biệt.

Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Phụ nữ ở nông thôn là một cộng đồng người phong phú và đa dạng về sắc tộc, tôn giáo, lứa tuổi, trình độ; sinh sống ở khu vực lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố,thịxã,thịtrấn; laođộng chủyếutrong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, các ngành nghềthủcông truyền thống.

2.1.1.2. Quyền của phụ nữ ở nông thôn

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA PHỤ NỮ Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *