Đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn ngành khí tượng thủy văn
Đấu thầu là một hoạt động của nền kinh tế thị trường, nó tuân theo các quy luật khách quan của thị trường như quy luật cung- cầu, quy luật giá cả- giá trị.Thông qua hoạt động đấu thầu, Bên mời thầu có nhiều cơ hội để lựa chọn những nhà thầu phù hợp với mình, mang lại hiệu quả cao nhất với giá cả cạnh tranh nhất.Đồng thời nhà thầu có nhiều cơ hội để cạnh tranh nhằm đạt được các hợp đồng để có thể cung cấp các hàng hóa sản xuất ra, cung cấp các kiến thức mà mình có hoặc các dịch vụ mà mình có khả năng đáp ứng nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Thông qua đấu thầu, các hoạt động kinh tế đều được kích thích phát triển như các ngành sản xuất trực tiếp, các ngành công nghiệp phụ trợ, chế biến, xây dựng, tư vấn vv…. Với việc nhiều nhà thầu đứng vai trò tổng thầu để kết hợp được các nhà chế tạo, nhà sản xuất, các chuyên gia tư vấn nhằm thực hiện các gói thầu quy mô lớn, tổng hợp nhiều lĩnh vực đã làm cho hoạt động kinh tế được diễn ra theo hướng chuyên môn hóa sâu và đa phương hóa rộng.
Hoạt động đấu thầu được áp dụng vào Việt Nam trong khoảng thời gian trên 10 năm trở lại đây, nó đã đóng góp những thành tựu to lớn cho sự phát triển kinh tế của đất nước. Bên cạnh những mặt tích cực mà hoạt động đấu thầu mang lại còn tồn tại những mặt tiêu cực như tình trạng đấu thầu thiếu minh bạch, thiếu công bằng, thông đồng giữa bên mời thầu và nhà thầu hoặc giữa các nhà thầu với nhau, vv … vẫn diễn ra khá phổ biến, tình trạng này đi ngược lại với chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về hoạt động đấu thầu.Do vậy, việc đi sâu nghiên cứu hoàn thiện chính sách về đấu thầu và quản lý nhà nước về đấu thầu là điều hết sức cần thiết cho quá trình phát triển kinh tế bền vững, đặc biệt là phương pháp đấu thầu mua sắm hàng hoá theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ.
Quá trình thực hiện Luật Đấu thầu đã bộc lộ một số hạn chế, tồn tại như: phạm vi điều chỉnh chưa bao trùm hết các hoạt động mua sắm sử dụng nguồn lực của nhà nước (như các hoạt động mua sắm vì mục đích công nhưng không hình thành dự án, các hoạt động đầu tư ra nước ngoài sử dụng vốn nhà nước, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện các dự án hợp tác công tư PPP, dự án có sử dụng đất…); một số nội dung chưa được quy định trong Luật hoặc có quy định chưa rõ ràng gây khó khăn trong quá trình thực hiện, một số quy định mang tính quy trình còn phức tạp, các quy định mang tính chế tài xử lý các hành vi vi phạm còn chưa đủ mạnh, chưa đủ sức răn đe, vv…
Để thực hiện tốt hoạt động đấu thầu mang lại sự minh bạch cũng như hiệu quảthì cơ sở pháp lý phải chặt chẽ, chế tài phải đủ mạnh, các quy định phải phù hợp với tình hình thực tế. Xuất phát từ yêu cầu đó và thực tế về hoạt động đấu thầu mua sắm hàng hóa ở Việt Nam, việc nghiên cứu, phân tích cơ chế quản lý đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ ở Việt Nam có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn.
Vì lý do trên, do vậy tác giả đã lựa chọn đề tài “Đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn ngành khí tượng thủy văn” thực hiện trong luận văn thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ ở ngành khí tượng thủy văn hiện nay; để từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ ở Việt Nam trong thời gian tới
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
Nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ;
– Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ ở Việt Nam hiện nay
– Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ ở ngành khí tượng thủy văn;
– Kinh nghiệm quốc tế trong đấu thầu mua sắm hàng hóa ở một số quốc gia trên thế giới theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ
– Đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ ở Việt Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là : (i) Các quan điểm, học thuyết pháp lý, lý thuyết về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ; (ii) Pháp luật của một số quốc gia, Quy chế đấu thầu mua sắm hàng hóa của các tổ chức quốc tế; (iii) Pháp luật hiện hành của Việt Nam về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ.
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ ở Việt Nam hiện nay và qua đó đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ ở Việt Nam trong thời gian tới.
Về thời gian, đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ ở Việt Nam từ thời điểm Luật đấu thầu 2013 chính thức có hiệu lực.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Để nghiên cứu có hiệu quả những vấn đề do đề tài đặt ra, luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và các quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận kể trên, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể, đó là phương pháp tiếp cận hệ thống đa ngành, liên ngành (kinh tế, luật học); phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp luật học so sánh; phương pháp thống kê. Để thực hiện có hiệu quả mục đích nghiên cứu, luận văn kết hợp chặt chẽ giữa các phương pháp trong suốt quá trình nghiên cứu của toàn bộ nội dung luận án.Tuỳ thuộc vào đối tượng nghiên cứu của từng chương, mục trong luận án, tác giả vận dụng, chú trọng các phương pháp khác nhau cho phù hợp. Các phương pháp đó được vận dụng cụ thể trong luận án như sau:
Trong Chương 1, từ cách tiếp cận hệ thống đa ngành, liên ngành kinh tế luật, tác giả sử dụng phương pháp phân tích để khái quát những vấn đề lý luận về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ;
Trong Chương 2, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp luật học so sánh; phương pháp thống kê để đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ ở ngành khí tượng thủy văn và ở Việt Nam hiện nay;
Trong Chương 3: bằng phương pháp tổng hợp, phân tích tổng hợp phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ ở Việt Nam trong thời gian tới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6. Ý nghĩa lý luận
Luận văn tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ ở Việt Nam hiện nay, Luận văn đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ ở Việt Nam trong thời gian tới.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về đấu thầu và pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hoá theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hoá theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ ở ngành khí tượng thủy văn và ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về đấu thầu mua sắm hang hoá theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ ở Việt Nam hiện nay.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẤU THẦU VÀ
PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU THẦU MUA SẮM HÀNG HÓA
THEO PHƯƠNG THỨC MỘT GIAI ĐOẠN, MỘT TÚI HỒ SƠ
Theo hiểu biết chung, đấu thầu mua sắm hàng hóa là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng mua sắm hàng hóa trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế. Đây cũng là cách tiếp cận của Luật đấu thầu số 43/2013/QH12 ngày 26 tháng 11 năm 2013 của Việt Nam (Điều 4, khoản 12).
Thứ nhất, về phạm vi, phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ được áp dụng trong các trường hợp các gói thầu mua sắm hàng hóa có quy mô nhỏ, có giá trị trong hạn mức, áp dụng đối với gói thầu mua sắm hàng hóa tương tự thuộc cùng một dự án, dự toán mua sắm và không đòi hỏi chuyên biệt điều kiện kỹ thuât.
Thứ hai, do được áp dụng rộng rãi đối với hầu hết các hình thức lựa chọn nhà thầu như đã nói trên nên hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu;
Thứ ba, việc mở thầu theo phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ sẽ được tiến hành một lần đối với toàn bộ hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất. Theo đó, quy trình đánh giá đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất sẽ được thực hiện trong thang điểm đánh giá tổng thể.
Thứ tư, do việc mở thầu được tiến hành trong một giai đoạn nên chỉ có một Biên bản mở thầu duy nhất và đồng thời là cơ sở pháp lý duy nhất để chuyển sang giai đoạn xét thầu theo các quy định của pháp luật quốc gia hoăc theo quy định của các tổ chức quốc tế (đối với đấu thầu quốc tế);
Thứ năm, tuy mở thầu theo phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ sẽ được tiến hành một lần đối với toàn bộ hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất, song khi đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất thì bước đánh giá về kỹ thuật vẫn mang tính quyết định. Chỉ những hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất đã vượt qua đánh giá về kỹ thuật mới được xem xét để đánh giá về tài chính, thương mại.
– Nguyên tắc khách quan, minh bạch
– Nguyên tắc thống nhất
– Chia các gói thầu phù hợp với tính chất, quy mô Dự án mua sắm hàng hóa
– Thông báo phù hợp, công khai
– Nguyên tắc bảo đảm cạnh tranh và không phân biệt đối xử
– Nguyên tắc trung lập
– Nguyên tắc bảo đảm về hình thức của hồ sơ đấu thầu
– Nguyên tắc bảo mật thông tin trong quá trình đấu thầu
– Nguyên tắc bảo lãnh, bảo hành và bảo hiểm thích đáng
Pháp luật quốc gia và quy định của các tổ chức quốc tế về mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ đều quy định rất chặt chẽ, chi tiết về chủ thể, trình tự, thủ tục đấu thầu. Về phương diện cấu trúc, pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ có các bộ phận sau:
Một là, bộ phận pháp luật về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của Chủ đầu tư, Bên mời thầu, nhà thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ.
Hai là, bộ phận pháp luật về hình thức lựa chọn nhà thầu theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ, cụ thể:
Ba là, bộ phận pháp luật về đánh giá hồ sơ dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ
Bốn là, bộ phận pháp luật về hợp đồng và bảo đảm thực hiện với nhà đầu tư được lựa chọn trong đấu thầu mua sắm hàng hóa
Năm là, bộ phận pháp luật về trách nhiệm pháp lý của các bên và giải quyết kiến nghị và tranh chấp trong đấu thầutheo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT MUA SẮM HÀNG HÓA THEO PHƯƠNG THỨC MỘT GIAI ĐOẠN, MỘT TÚI HỒ SƠ THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÀNH KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN
- 2.1. Thực trạng pháp luật về đấu thầu trong mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ ở Việt Nam hiện nay
- 2.1.1. Thực trạng các quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của người có thẩm quyền, chủ đầu tư, Bên mời thầu, nhà thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ
- 2.1. Thực trạng pháp luật về đấu thầu trong mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ ở Việt Nam hiện nay
– Quy định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ
– Quy định trách nhiệm của chủ đầu tư trong mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ
– Quy định trách nhiệm của bên mời thầu trong mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ
– Quy định các trách nhiệm của bên tham gia dự thầu, nhà đầu tư theo quy định của Luật này.
- 2.1.2. Thực trạng các quy định pháp luật về hình thức đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ
Hình thức đấu thầu rộng rãi
Hình thức đấu thầu hạn chế
Hình thức chỉ định thầu
- 2.1.3. Thực trạng các quy định pháp luật về kế hoạch và quy trình lựa chọn nhà thầutrong đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ
Kế hoạch và quy trình lựa chọn nhà thầu
Quy trình lựa chọn nhà thầu
- 2.1.4. Thực trạng các quy định pháp luật về phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ yêu cầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ
Căn cứ vào phương thức đầu thầu một giai đoạn, một túi hồ sơ, Điều….Luật đấu thầu 2013 cũng quy định rõ phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ yêu cầu theo các tiêu chuẩn như sau:
Tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ yêu cầu đối với gói thầu mua sắm hàng hóa bao gồm:
– Tiêu chuẩn đánh giá về năng lực và kinh nghiệm
– Tiêu chuẩn đánh giá về kỹ thuật
– Tiêu chuẩn xác định giá đánh giá (đối với trường hợp áp dụng phương pháp giá đánh giá):
Tiêu chuẩn đánh giá về năng lực và kinh nghiệm
– Sử dụng tiêu chí đạt, không đạt để xây dựng tiêu chuẩn đánh giá về năng lực và kinh nghiệm, trong đó phải quy định mức yêu cầu tối thiểu để đánh giá là đạt đối với từng nội dung về năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu. Cụ thể như sau:
– Kinh nghiệm thực hiện các gói thầu tương tự về quy mô, tính chất kỹ thuật, điều kiện địa lý, địa chất, hiện trường (nếu có); kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính có liên quan đến việc thực hiện gói thầu;
– Năng lực kỹ thuật: Số lượng, trình độ cán bộ chuyên môn chủ chốt, công nhân kỹ thuật trực tiếp thực hiện gói thầu và số lượng thiết bị thi công sẵn có, khả năng huy động thiết bị thi công để thực hiện gói thầu;
– Năng lực tài chính: Tổng tài sản, tổng nợ phải trả, tài sản ngắn hạn, nợ ngắn hạn, doanh thu, lợi nhuận, giá trị hợp đồng đang thực hiện dở dang và các chỉ tiêu cần thiết khác để đánh giá về năng lực tài chính của nhà thầu;
Việc xác định mức độ yêu cầu cụ thể đối với từng tiêu chuẩn quy định tại Điểm này cần căn cứ theo yêu cầu của từng gói thầu. Nhà thầu được đánh giá đạt tất cả nội dung nêu tại Điểm này thì đáp ứng yêu cầu về năng lực và kinh nghiệm.
– Tiêu chuẩn đánh giá về kỹ thuật
Sử dụng tiêu chí đạt, không đạt hoặc phương pháp chấm điểm theo thang điểm 100 hoặc 1.000 để xây dựng tiêu chuẩn đánh giá về kỹ thuật, trong đó phải quy định mức điểm tối thiểu và mức điểm tối đa đối với từng tiêu chuẩn tổng quát, tiêu chuẩn chi tiết khi sử dụng phương pháp chấm điểm. Việc xây dựng tiêu chuẩn đánh giá về kỹ thuật dựa trên các nội dung về khả năng đáp ứng các yêu cầu về hồ sơ thiết kế, tiên lượng mời thầu, uy tín của nhà thầu thông qua việc thực hiện các hợp đồng tương tự trước đó và các yêu cầu khác nêu trong hồ sơ mời thầu.
– Tiêu chuẩn xác định giá đánh giá (đối với trường hợp áp dụng phương pháp giá đánh giá)
- 2.1.5. Thực trạng các quy định pháp luật về hợp đồng với nhà thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ
Hợp đồng ký kết giữa chủ đầu tư và nhà thầu phải tuân thủ theo Mẫu hợp đồng quy định trong Hồ sơ mời thầu, Hồ sơ yêu cầu. Chủ đầu tư căn cứ quy mô, tính chất của gói thầu có thể bổ sung các điều, khoản liên quan trong hợp đồng theo quy định của pháp luật chuyên ngành nhưng phải đảm bảo tính logic, thống nhất và chặt chẽ của toàn bộ hợp đồng, tránh làm hạn chế quyền nhà thầu.
Về điều kiện giao kết hợp đồng, Điều 64, Luật đấu thầu 2013 có quy định:
– Tại thời điểm ký kết, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất của nhà thầu được lựa chọn còn hiệu lực.
– Tại thời điểm ký kết, nhà thầu được lựa chọn phải bảo đảm đáp ứng yêu cầu về năng lực kỹ thuật, tài chính để thực hiện gói thầu. Trường hợp cần thiết, chủ đầu tư đối với dự án, bên mời thầu đối với mua sắm thường xuyên, đơn vị mua sắm tập trung hoặc đơn vị có nhu cầu mua sắm đối với mua sắm tập trung tiến hành xác minh thông tin về năng lực của nhà thầu, nếu vẫn đáp ứng yêu cầu thực hiện gói thầu thì mới tiến hành ký kết hợp đồng.
Về nguyên tắc, chủ đầu tư và nhà thầu có thể lựa chọn các loại hợp đồng cụ thể sau: (i) trọn gói; (ii) theo đơn giá cố định; (iii) theo đơn giá điều chỉnh (khoản 1, 2 và 3 Điều 62 Luật đấu thầu 2013).
Điểu 65 Luật đấu thầu 2013 có quy định các yêu cầu về trình tự, thủ tục, nội dung và hình thức của hợp đồng với nhà thầu như sau:
– Sau khi lựa chọn được nhà thầu, chủ đầu tư đối với dự án, bên mời thầu đối với mua sắm thường xuyên, đơn vị mua sắm tập trung hoặc đơn vị có nhu cầu mua sắm đối với mua sắm tập trung và nhà thầu được lựa chọn phải tiến hành ký kết hợp đồng thực hiện gói thầu. Đối với nhà thầu liên danh, tất cả thành viên tham gia liên danh phải trực tiếp ký, đóng dấu (nếu có) vào văn bản hợp đồng. Hợp đồng ký kết giữa các bên phải tuân thủ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;
– Một gói thầu có thể được thực hiện theo một hoặc nhiều hợp đồng; trong một hợp đồng có thể áp dụng một hoặc nhiều loại hợp đồng quy định tại Điều 62 của Luật đấu thầu 2013. Trường hợp áp dụng nhiều loại hợp đồng thì phải quy định rõ loại hợp đồng tương ứng với từng nội dung công việc cụ thể;
– Hợp đồng được ký kết giữa các bên phải phù hợp với nội dung trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất, kết quả thương thảo hợp đồng, quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu;
– Giá hợp đồng không được vượt giá trúng thầu. Trường hợp bổ sung khối lượng công việc ngoài hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu dẫn đến giá hợp đồng vượt giá trúng thầu thì phải bảo đảm giá hợp đồng không được vượt giá gói thầu hoặc dự toán được phê duyệt; nếu dự án, dự toán mua sắm gồm nhiều gói thầu, tổng giá hợp đồng phải bảo đảm không vượt tổng mức đầu tư, dự toán mua sắm được phê duyệt.
Theo Điều 63 của Luật đấu thầu 2013, hồ sơ hợp đồng bao gồm nhưng không hạn chế bởi các văn bản sau đây: (i) Văn bản hợp đồng; (ii) Phụ lục hợp đồng gồm danh mục chi tiết về phạm vi công việc, biểu giá, tiến độ thực hiện (nếu có); (iii) Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu.Tùy theo quy mô, tính chất của gói thầu, hồ sơ hợp đồng có thể bao gồm một hoặc một số tài liệu sau đây: (i) Biên bản hoàn thiện hợp đồng; (ii) Văn bản thỏa thuận của các bên về điều kiện của hợp đồng, bao gồm điều kiện chung, điều kiện cụ thể; (iii) Hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất và các tài liệu làm rõ hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất của nhà thầu được lựa chọn; (iv) Hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu và các tài liệu sửa đổi, bổ sung hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu; (v) Các tài liệu có liên quan (nếu có).
Việc giải quyết tranh chấp trong đấu thầu tại Tòa án được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.Khi khởi kiện, các bên có quyền yêu cầu Tòa án tạm dừng ngay việc đóng thầu; phê duyệt danh sách ngắn; phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư; ký kết hợp đồng; thực hiện hợp đồng và các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác theo quy định của pháp luật.
* Đánh giá chung
Qua khảo sát, đánh giá và phân tích các quy định của Luật đấu thầu 2013 và các văn bản hướng dẫn về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ, cho phép đi đến một số nhận định sau:
- Nâng cao tính minh bạch trong hoạt động đấu thầu
- Khắc phục nhiều lỗ hổng trong hoạt động đấu thầu
- Thêm nhiều hỗ trợ cho doanh nghiệp
Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia là tổ chức sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng điều tra cơ bản, dự báo, thông tin tư liệu khí tượng thủy văn, quan trắc môi trường không khí và môi trường nước, quan trắc định vị sét, giám sát biến đổi khí hậu phục vụ phòng, chống thiên tai, phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng trên phạm vi cả nước; tổ chức thực hiện các dịch vụ công khác theo quy định của pháp luật. Mạng lưới Khí tượng thủy văn rải đều trên mọi miền đất nước. Các hoạt động của ngành khí tượng thủy văn ở mỗi quốc gia đều nhằm đảm bảo an toàn về tính mạng và tài sản của cộng đồng dân cư, phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng của đất nước. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, cũng như trước yêu cầu đòi hỏi xã hội ngày càng cao, ngành khí tượng thủy văn cần nhanh chóng đổi mới, nhất là trong lĩnh vực mua sắm máy móc, thiết bị phục vụ cho công tác dự báo, cảnh báo thiên tai. Thực tế công tác mua sắm hàng hóa tại ngành khí tượng thủy văn theo phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ tại ngành khí tượng thủy văn được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
| Hình thức Gói thầu | Đấu thầu rộng rãi | Đấu thầu hạn chế | Chỉ định thầu | Chào hàng cạnh tranh | Mua sắm trực tiếp | Tự thực hiện |
| Phi tư vấn | X | X | X | X | ||
| Tư vấn | X | |||||
| Xây lắp | X | X | X | X | ||
| Mua sắm hàng hóa | X | X | X | X | X |
- 2.2.1. Quy trình đấu thầu rộng rãi, hạn chế đối với gói thầu phi tư vấn, xây lắp, mua sắm hàng hóa, hỗn hợp theo phương thức 1 giai đoạn 1 túi hồ sơ
* Thứ nhất, Chuẩn bị lựa chọn nhà thầu:
* Thứ hai, Tổ chức lựa chọn nhà thầu:
* Thứ ba, Đánh giá hồ sơ dự thầu:
* Phê duyệt và công khai kết quả lựa chọn nhà thầu:
- 2.2.2. Chỉ định thầu
* Chỉ định thầu rút gọn:
* Chỉ định thầu thông thường:
- 2.2.3. Chào hàng cạnh tranh
* Chào hàng cạnh tranh rút gọn:
* Chào hàng cạnh tranh thông thường:
- 2.2.4. Mua sắm trực tiếp
* Chuẩn bị lựa chọn nhà thầu:
* Nhà thầu chuẩn bị và nộp hồ sơ đề xuất theo yêu cầu của hồ sơ yêu cầu.
- 2.2.5. Tự thực hiện
Chuẩn bị phương án tự thực hiện và dự thảo hợp đồng hoặc thỏa thuận giao việc: Hồ sơ về phương án tự thực hiện được lập bao gồm yêu cầu về phạm vi, nội dung công việc, giá trị, thời gian thực hiện, chất lượng công việc cần thực hiện và dự thảo hợp đồng hoặc thỏa thuận giao việc. Trường hợp gói thầu do đơn vị hạch toán phụ thuộc thực hiện thì trong phương án thực hiện phải bao gồm dự thảo hợp đồng. Trường hợp tổ chức trực tiếp quản lý, sử dụng gói thầu không có đơn vị hạch toán phụ thuộc thì trong phương án thực hiện phải bao gồm dự thảo về thỏa thuận giao việc cho một đơn vị thuộc mình thực hiện.
Hoàn thiện phương án tự thực hiện và thương thảo, hoàn thiện hợp đồng hoặc thỏa thuận giao việc:Thương thảo về những nội dung chưa đủ chi tiết, chưa rõ hoặc chưa phù hợp, thống nhất trong phương án tự thực hiện, dự thảo hợp đồng hoặc thỏa thuận giao việc và các nội dung cần thiết khác.
Ký kết hợp đồng hoặc thỏa thuận giao việc:Tổ chức trực tiếp quản lý, sử dụng gói thầu tiến hành ký kết hợp đồng với đơn vị phụ thuộc hoặc ký thỏa thuận giao việc với đơn vị được giao để tự thực hiện gói thầu.

PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU THẦU MUA SẮM HÀNG HÓA THEO PHƯƠNG THỨC MỘT GIAI ĐOẠN, MỘT TÚI HỒ SƠ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Luật Đấu thầu là yếu tố có tính thuyết phục là một minh chứng thể hiện sự quyết tâm của Nhà nước ta trong việc nâng cao địa vị pháp lý, tăng cường tính công khai, minh bạch của công tác đấu thầu tại Việt Nam khi đã là thành viên của WTO. Đặc biệt từ trước đến giờ ngay cả sau khi đã có nhiều sự thay đổi trong Luật đấu thầu 2013 thì cũng không ít ý kiến vẫn còn nghi ngờ về tính minh bạch trong quá trình thực hiên đấu thầu mua sắm hàng hoá theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ. Do đó dưới đây là những phương hướng cũng như giải pháp nhắm đảm bảo các gói thầu sẽ được thực hiện theo đúng nội dung pháp luật đã đề ra, đi đúng đường lối chính sách của Đảng và nhà nước.
Theo luật Đấu thầu mới, đề xuất kỹ thuật, năng lực và kinh nghiệm sẽ là những yếu tố được xét đến đầu tiên, thay vì ưu tiên các nhà thầu bỏ giá thấp nhất như trước đây. Luật đấu thầu 2013 cũng đã mở rộng trường hợp áp dụng một giai đoạn, một túi hồ sơ (Căn cứ Điều 28 Luật đấu thầu 2013)
Để Luật Đấu thầu khắc phục được nhiều tồn tại trong thực tiễn, để Luật là công cụ quản lý, có hiệu lực trong lĩnh vực đấu thầu, cần có những quy định về nội dung mang tính nguyên tắc về đấu thầu, để từ đó có thể cụ thể hóa các điều của luật này. Vấn đề cạnh tranh nếu hiểu rộng ra thì đó là làm sao chúng ta chọn được những đơn vị có đủ điều kiện và thực hiện tốt; “đấu thầu phải đảm bảo nguyên tắc là công khai, minh bạch, công bằng và đảm bảo cạnh tranh, hiệu quả kinh tế”. Từ đây nó sẽ được cụ thể hóa vào những nội dung trong toàn bộ hoạt động đấu thầu theo quy định của Luật này.
- Xoá bỏ sự khép kín hiện nay và tạo ra được sự cạnh tranh lành mạnh là yếu tố cốt lõi để làm nên sự lành mạnh trong đấu thầu. Nhưng dù chỉ định thầu, đấu thầu hạn chế, hay đấu thầu rộng rãi quốc tế, các vấn đề mà chúng ta đặt ra quy định cấm, thực ra đã có trong các quy chế, nhưng gần như chúng ta thực hiện không đúng hoặc không thể thực hiện được. Điều quan trọng nhất là bằng hình thức nào và bằng cách nào để chúng ta đấu thầu rộng rãi hay chỉ định thầu mà chọn ra cho được những đơn vị, nhà thầu có đủ năng lực, có đủ uy tín trong việc thực hiện hợp đồng.
- Cần quan tâm là tiêu chí về kỹ thuật, năng lực kinh nghiệm và năng lực tài chính, chứ không chỉ là chênh lệch về giá chào thầu. Các văn bản luật trước đây cũng đã quy định theo hướng đó. Tức là, khi đánh giá hồ sơ dự thầu bao giờ cũng có hai bước. Đó là đánh giá về mặt kỹ thuật để xác định hồ sơ dự thầu đáp ứng các yêu cầu về mặt kỹ thuật trước, và sau đó mới đánh giá về mặt tài chính thương mại.
- Nghiên cứu lại tiêu chí đánh giá và xếp hạng nhà thầu trong để có hạn chế các hành vi gian lận giữa nhà thầu và tổ chấm thầu
Theocác quy định trong quy chế đấu thầu hiện tại cũng như các quy định khác thì việc thông báo mời thầu nhằm mục tiêu làm sao cho việc đấu thầu được khách quan, chống được khép kín trong đấu thầu.Tuy nhiên, nếu như việc công khai đấu thầu mà không thực sự khách quan, dù có công khai, thì ngăn chặn tiêu cực trong quá trình đấu thầu rất khó thực hiện.
Về hình thức cần phải quy định rõ nên tách riêng thành hai khoản:
Một khoản chúng ta quy định về vấn đề đăng tải thông tin trước khi đấu thầu, trong này có các nội dung đó là: Kế hoạch đấu thầu, thông báo về mời thầu đối với đấu thầu rộng rãi, danh sách nhà thầu được mời tham gia đấu thầu, rồi văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu. Các thông tin này rất cần cho đơn vị dự thầu, nên viết nội dung thành một khoản riêng.
Khoản thứ hai, nên quy định vấn đề cần phải đăng tải thông tin sau khi đấu thầu, kết quả đấu thầu. Đó là kết quả lựa chọn nhà thầu, thông tin về xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu và các thông tin liên quan khác. Các thông tin này rất cần cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, đặc biệt là cho nhân dân có điều kiện giám sát việc đấu thầu. Trong thực tế, mặc dù Luật giám sát quy định quyền, trách nhiệm của nhân dân trong việc giám sát mua sắm trang thiết bị, nhưng người dân lại cho rằng họ không được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, cho nên họ có muốn giám sát cũng không có điều kiện để giám sát.
Kiến nghị qua bước thứ nhất là sơ tuyển tiêu chuẩn kỹ thuật, khi nào các nhà thầu nộp đầy đủ hồ sơ, chúng ta niêm phong toàn bộ hồ sơ tài chính để xét sau.Sau đó mới yêu cầu các tổ chuyên gia của bên mời thầu tính giá dựa vào kỹ thuật, dựa vào giá cả thị trường, dựa vào tất cả các yếu tố để tính giá kế hoạch.Giá này dùng để so sánh giá của các nhà thầu để chọn ra giá hợp lý nhất. Như vậy, trúng thầu không chỉ lệ thuộc hoàn toàn vào giá, mà còn lệ thuộc nhiều vào phương án kỹ thuật, về năng lực, khả năng và nhiều yếu tố khác tổng hợp lại thành điểm tổng hợp. Làm được vậy sẽ ngăn chặn được các hành vi thông thầu giữa các nhà thầu với nhau, ngăn chặn được hành vi gian lận của nhà đầu tư với nhà tư vấn và nhà thầu. Hiện nay, mối quan hệ của ba chủ thể này trong đấu thầu rất khó kiểm soát.
- 3.2.2. Tiêu trí đánh giá xếp hạng nhà thầu
Nên xây dựng công thức có tính đến hệ số kết hợp giữa điểm về kỹthuật và điểm về tài chính thương mại, chứ không nên tách bạch hai bước như hiện nay, thì sẽ lựa chọn nhà thầu chính xác hơn. Cụ thể ta có thể tính theo cách như sau:
+ Bước một: chấm điểm kỹ thuật gồm: kinh nghiệm, đề xuất kỹ thuật, năng lực pháp lý. Nhà thầu nào đạt trên 700/1000 điểm thì được xét bước hai.
+ Bước hai: chấm điểm tài chính là giá chào thầu và điều kiện thương mại: Điểm tài chính bằng giá dự thầu thầu chia cho giá dự thầu đang xét và nhân với 1000.
- 3.2.3. Hạn chế các hành vi gian lận giữa nhà thầu và tổ chấm thầu
Để bảo đảm tính ngẫu nhiên trong việc mở các hồ sơ dự thầu, nhằm ngăn chặn hành vi gian lận này, nghị định hướng dẫn của chúng ta nên quy định thứ tự mở thầu, thực hiện theo kết quả bốc thăm.
Thêm vào đó công tác đào tạo và bồi dưỡng năng lực đấu thầu cũng vô cùng quan trọng:
- Nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác đấu thầu từ trung ương đến địa phương. Thường xuyên mở các lớp đào tạo cơ bản, nâng cao nghiệp vụ về đấu thầu.
- Phải thực hiện nghiêm các điều kiện đối với cá nhân tham gia hoạt động đấu thầu: cá nhân khi tham gia hoạt động đấu thầu phải có chứng chỉ đào tạo về đấu thầu và phải có trình độ chuyên môn, năng lực, kinh nghiệm, ngoại ngữ phù hợp với yêu cầu của gói thầu; kiên quyết không cho cá nhân tham gia hoạt động đấu thầu khi không đủ các điều kiện theo quy định. Phải xử lý nghiêm Chủ đầu tư, Bên mời thầu sử dụng cá nhân không đủ điều kiện tham gia hoạt động đấu thầu.
- Xiết chặt việc cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động đấu thầu cho các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng về đấu thầu. Tăng cường thanh tra, kiểm tra đột xuất đối với các cơ sở đào tạo về đấu thầu, công khai thông tin về các cơ sở đào tạo không đạt chất lượng trên trang điện tử về đấu thầu.
- Thanh tra, kiểm tra thường xuyên các cơ sở đào tạo về đấu thầu, để phát hiện các cơ sở đào tạo không đảm bảo chất lượng, không có tên trong danh sách cơ sở đào tạo về đấu thầu trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia từ đó có biện pháp xử lý kịp thời, loại bỏ những cơ sở đào tạo không đảm bảo chất lượng, những cơ sở đào tạo chui. Công khai thông tin về các cơ sở đào tạo kém chất lượng trên các phương tiện thông tin đại chúng. Kiên quyết, xử lý, cấm hoạt động đối với các cơ sở đào tạo không đảm bảo chất lượng.
Kiến nghị về việc xử phạt:
Theo Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì việc xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu thời gian qua chủ yếu là phạt cảnh cáo, yêu cầu nghiêm túc kiểm điểm, yêu cầu rút kinh nghiệm, với hình phạt như vậy chưa mang tính răn đe. Kiến nghị không cho cá nhân, tổ chức thường xuyên để xảy ra vi phạm pháp luật về đấu thầu mà mức vi phạm chưa đến truy cứu trách nhiệm hình sự.
Hiện tại, các quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong đấu thầu hiện hành còn mang nặng tính hình thức như phạt cảnh cáo, yêu cầu bồi thường, phạt tiền,vv.., chưa có tính răn đe đối với cá nhân, tổ chức tham gia đấu thầu. Luật đấu thầu sửa đổi giao Chính phủ quy định chi tiết về xử lý vi phạm; Do vậy, kiến nghị chế tài xử lý sai phạm cần bãi bỏ chế tài xử lý phạt “cảnh cáo, rút kinh nghiệm, nghiêm túc kiểm điểm” vì hình thức phạt này không mang tính răn đe; đồng thời phải có quy định cụ thể về mức phạt tiền tương ứng với từng trường hợp sai phạm và phải tăng nặng các khung hình phạt so với quy định hiện hành để đảm bảo có tính răn đe.
Kiến nghị đăng tải thông tin đối với cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật về đấu thầu; đăng tải hình phạt đối với từng cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật về đấu thầu trên trang thông tin điện tử về đấu thầu.
Pháp luật về đấu thầu hiện hành và pháp luật về đấu thầu sửa đổi chưa có quy định đối với cá nhân, tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát về hoạt động đấu thầu có sai phạm nhưng không phát hiện được sai phạm hoặc phát hiện sai phạm nhưng cố tình bao che, báo cáo không trung thực. Do vậy, kiến nghị Chính phủ bổ sung chế tài xử lý vi phạm đối với cá nhân, tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát về đấu thầu này.
Kiến nghị Chính phủ thành lập nhiều hơn các cuộc thanh tra, kiểm tra đột xuất đối với các chủ đầu tư, hạn chế các cuộc thanh tra, kiểm tra có kế hoạch trước.
Kiến nghị Chính phủ nghiên cứu tách cơ quan thanh tra, kiểm tra độc lập, không trực thuộc chủ đầu tư hoặc không chịu sự quản lý của Chủ đầu tư.
Đấu thầu ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các hoạt động của nền kinh tế từ đấu thầu để lựa chọn nhà thầu xây lắp đến lựa chọn nhà thầu tư vấn, cung cấp dịch vụ, đặc biệt là trong lĩnh vực mua sắm hàng hóa. Đất nước càng phát triển thì hoạt động đấu thầu diễn ra càng sôi nổi, càng cạnh tranh. Để hoạt động đấu thầu mua sắm hàng hóa dù bằng phương thức nào, một túi hồ sơ hay hai túi hồ sơ, một hay hai giai đoạn thì vấn đề quan trọng nhất là đạt hiệu quả phù hợp với đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước thì cần phải tăng cường quản lý nhà nước về đấu thầu mua sắm hàng hóa trong khu vực công. Kết quả nghiên cứu trong Luận văn đã góp phần:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động đấu thầu mua sắm hàng hóa bằng phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ ở Việt Nam. Luận văn đã phân tích cơ sở khoa học và quy trình, nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu thầu mua sắm hàng hóa; nghiên cứu kinh nghiệm quản lý đấu thầu và những thực trạng còn bất cập của một số gói thầu thực tế tại Việt Nam.
- Đề tài đã đánh giá khách quan thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu mua sắm hàng hóa ở Việt Nam, đánh giá những mặt được, những mặt chưa được trong công tác quản lý đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương pháp một giai đoạn một túi hồ sơ, từ đó phân tích những nguyên nhân, tồn tại trong công tác quản lý đấu thầu. Trên cơ sở những nguyên nhân, tồn tại đó, đề tài đã đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về đấu thầu nói chung và phương pháp một giai đoạn, một túi hồ sơ nói riêng.
Do vậy, trong thời gian tới, nhất là khi luật đấu thầu năm 2013 đã có hiệu lực, để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu thầu mua sắm hàng hóa dù là bằng hình thức nào cũngcần có nhiều công trình nghiên cứu sâu hơn đối với đấu thầu theo phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ, bởi vì yếu tố con người vẫn là vấn đề nhức nhối và chưa thể có những giải pháp mang tính trực tiếp ngay được, cần phải theo dõi thêm để tổng quát và tìm ra những giải pháp tình thế.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT KINH TE\NGUYEN THI HIEP\SAU BAO VE


