Chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành từ năm 1985, là công cụ sắc bén của Nhà nước trong quản lý xã hội, phòng ngừa và đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức và công dân, góp phần có hiệu quả trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trải qua 30 năm thi hành, Bộ luật hình sự có nhiều lần sửa đổi, bổ sung (vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997, 1999 và 2009), gần đây nhất là Bộ luật hình sự năm 2015 nhưng chưa được thi hành. Việc liên tục sửa đổi, bổ sung nhằm giúp BLHS ngày càng hoàn thiện đáp ứng nhu cầu thực tiễn, nhiều quan hệ xã hội mới nảy sinh trong đời sống xã hội cần được các quy phạm pháp luật của BLHS điều chỉnh, nhiều quan hệ xã hội có sự biến đổi đòi hỏi luật phải điều chỉnh cho phù hợp.
Một trong những nội dung quan trọng của luật hình sự đó là vấn đề cấu thành tội phạm, việc xem xét cấu thành tội phạm giúp xác định một hành vi do một chủ thể nào đó thực hiện có xâm hại khách thể được luật hình sự bảo vệ hay không, quan hệ xã hội đó có chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật hình sự hay không, chủ thể thực hiện hành vi có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không… Việc xác định chính xác các yếu tố cấu thành tội phạm giúp việc truy cứu TNHS đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm cũng như không làm oan người vô tội. Trong các yếu tố cấu thành tội phạm, chủ thể của tội phạm là yếu tố có vai trò quan trọng, tuy không phải là yếu tố đầu tiên được xem xét trong cấu thành tội phạm nhưng lại là yếu tố có tính chất xuất phát điểm của các yếu tố khác. Không có con người với tư cách là chủ thể của hành vi, chủ thể của hoạt động thì không có hành vi nguy hiểm cho xã hội, không phải xem xét đến các yếu tố của mặt chủ quan, không có khách thể nào bị nguy hiểm cho xã hội tác động đến. Không có chủ thể của tội phạm thì cũng không diễn ra các hoạt động tố tụng có liên quan. Chủ thể của tội phạm có những đặc điểm, dấu hiệu chung trên cơ sở những quy định có tính bắt buộc của luật hình sự. Luật hình sự quy định cụ thể những đặc điểm, dấu hiệu này mà chỉ khi thỏa mãn các dấu hiệu đó thì một người mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Việc xác định chủ thể của tội phạm góp phần quan trọng trong việc xác định người phạm tội, tội phạm, khung hình phạt và truy cứu TNHS đối với một cá nhân nhất định.
Xác định được tầm quan trọng của chủ thể của tội phạm như vậy, các nhà làm luật đã không ngừng nghiên cứu và hoàn thiện hơn pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm. BLHS Việt Nam hiện hành nhìn chung đã quy định tương đối đầy đủ về chủ thể của tội phạm. Tuy nhiên, xã hội ngày càng phát triển nên những quy định của pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm dần phát sinh những bất cập, vướng mắc không thể áp dụng hoặc áp dụng không phù hợp. Vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về việc quy định trong chủ thể của tội phạm như các vấn đề về năng lực chịu TNHS, độ tuổi chịu TNHS, nhân thân của người phạm tội trong các loại tội phạm thông thường và các tội phạm đặc biệt.
Thành phố Đà Nẵng là một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của khu vực miền Trung, Tây nguyên. Thành phố có diện tích tuy không lớn nhưng dân số càng lúc càng tăng với nhiều thành phần lao động khác nhau, các mối quan hệ xã hội phức tạp kéo theo mức độ tội phạm ngày càng tăng, số lượng các loại án hình sự diễn ra ngày càng nhiều và với tính chất phức tạp. Trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm cũng phát sinh nhiều vướng mắc và nhiều quan điểm áp dụng khác nhau.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn như trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sỹ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, tác giả đặt ra các mục đích cần phải đạt được là nghiên cứu các vấn đề lý luận của chủ thể tội phạm, các quy định của pháp luật hình sự hiện hành về chủ thể của tội phạm; nghiên cứu việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm tại thành phố Đà Nẵng; từ đó, đưa ra những vướng mắc và khó khăn trong việc áp dụng các quy định của chủ thể tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam và những kiến nghị nhằm khắc phục.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, tác giả đặt ra nhiệm vụ cần giải quyết như sau:
– Nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam.
– Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể trong hoạt động áp dụng pháp luật ở thành phố Đà Nẵng.
– Nghiên cứu các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm. Dựa trên thực tế áp dụng tại thành phố Đà Nẵng tìm ra những vướng mắc, khó khăn trong quá trình áp dụng, từ đó đề xuất một số quan điểm quy định cụ thể hơn về chủ thể của tội phạm.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng và chống tội phạm, quan điểm và đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về chính sách hình sự.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn đã có sự kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, như khảo sát thực tiễn, thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh, phương pháp điều tra xã hội học, …
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn thạc sĩ là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện có hệ thống dưới góc độ pháp luật TTHS về chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong quá trình học tập và nghiên cứu của học viên, làm phong phú thêm lý luận khoa học luật hình sự về chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam đã được nhiều tác giả đề cập trong các bài viết trên sách, báo, các bài luận văn. Tuy nhiên, tác giả dựa trên lý luận và thực tiễn từ thành phố Đà Nẵng từ năm 2012 đến 2016 để nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nhằm áp dụng thống nhất và phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế của pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được cơ cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể trong hoạt động áp dụng pháp luật ở thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỦ THỂ
CỦA TỘI PHẠM THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Tội phạm trước hết là một hành vi. Chính vì thế, tội phạm bao giờ cũng được thực hiện bởi chủ thể xác định. Không thể có hành vi xuất hiện ngoài thế giới khách quan mà không có chủ thể. Các tác động trong thế giới vật chất gây ra những thiệt hại đáng kể như sấm sét, lũ lụt, núi lửa, động đất… xảy ra tự nhiên thì không được coi là hành vi.
Theo quan điểm truyền thống thì: Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng có năng lực TNHS và đạt độ tuổi do luật hình sự quy định [45, tr.56].
Chủ thể của tội phạm hiện nay trên thế giới được thừa nhận rộng hơn vừa là cá nhân vừa có thể là pháp nhân. Việc các quốc gia quy định chủ thể của tội phạm chỉ là cá nhân hay vừa là cá nhân vừa là pháp nhân nó phụ thuộc vào quan điểm pháp luật, nhu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như trình độ phát triển của mỗi quốc gia. BLHS Việt Nam năm 2015 cũng đã quy định chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại, việc quy định chủ thể tội phạm là pháp nhân thương mại đã góp phần đưa pháp luật hình sự của nước ta hội nhập với quốc tế và là một bước phát triển mới của pháp luật hình sự Việt Nam.
- 1.1.2. Các loại chủ thể của tội phạm
Trước đây, khi chưa ban hành BLHS năm 2015, theo quan điểm truyền thống của pháp luật hình sự, chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam chỉ có thể là cá nhân và chủ thể đặc biệt. Có nhiều quan điểm khác nhau về loại chủ thể của tội phạm. Tuy nhiên, theo tác giả hiện nay có 3 loại chủ thể của tội phạm. Đó là: cá nhân, pháp nhân thương mại và chủ thể đặc biệt.
- 1.1.3. Chủ thể trong cấu thành tội phạm
Chủ thể của tội phạm là một cá nhân có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình và có độ tuổi chịu TNHS. Khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình gọi chung là năng lực lỗi và độ tuổi chịu TNHS là hai dấu hiệu của chủ thể của tội phạm, đây là hai dấu hiệu bắt buộc của CTTP.
Trong ba loại dấu hiệu của chủ thể tội phạm, dấu hiệu có tính chất chung cho tất cả các tội phạm – năng lực lỗi và tuổi chịu TNHS được mô tả chung trong các điều luật phần chung của BLHS với hai cách mô tả khác nhau.
Luật hình sự không trực tiếp quy định năng lực lỗi mà chỉ quy định tuổi chịu TNHS và tình trạng không có năng lực lỗi, qua đó gián tiếp quy định năng lực lỗi.
Việc xác định chủ thể của tội phạm rất quan trọng trong việc xác định CTTP. Một hành vi không thể được coi là tội phạm nếu chủ thể thực hiện hành vi không phải là chủ thể của tội phạm.
- 1.2. Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm
- 1.2.1. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về năng lực chịu trách nhiệm hình sự
- 1.2.2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tuổi chịu trách nhiệm hình sự
- 1.2.3. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về pháp nhân thương mại
- 1.2. Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm

CHƯƠNG 2
THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VỀ CHỦ THỂ TRONG HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG
Theo thống kê của các cơ quan pháp luật gần đây cho thấy rằng tình hình vi phạm pháp luật ngày càng tăng. Các loại vi phạm không những tăng về số lượng các vụ việc mà còn tăng cả về số lượng chủ thể tham gia.
Tình trạng vi phạm trong lĩnh vực kinh tế càng ngày càng tăng, các loại tội phạm mới cũng xuất hiện với những hình thức tinh vi, quy mô rộng hơn thể hiện rất rõ. Trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội… tình hình vi phạm cũng xảy ra rất phức tạp, trong đó tội phạm là loại hình vi phạm nghiêm trọng nhất xảy ra khá phổ biến. Số người vi phạm và số vụ việc tăng lên đáng kể, một số tội phạm nghiêm trọng như cướp giật, giết người, buôn bán và sử dụng ma tuý, mại dâm… tăng mạnh và có nhiều vụ án quan trọng. Đặc biệt là tội phạm có tổ chức ngày càng nhiều, có tính tái phạm cao, như các băng nhóm bảo kê nhà hàng… với hình thức thanh toán nhau rất tàn bạo.
Với đặc điểm kinh tế – xã hội ngày càng phát triển nên số lượng người phạm tội cũng tăng cao, tội phạm ngày càng tinh vi, gian xảo và phức tạp hơn đặc biệt là các tội phạm về ma túy, tội phạm sở hữu, xâm phạm tính mạng, sức khỏe ngày càng tăng cao và có tính chất nguy hiểm hơn.
- 2.1.1. Tình hình về nhân thân người phạm tội tại thành phố Đà Nẵng
Nhân thân người phạm tội được hiểu là tổng thể tất cả các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội, trong sự kết hợp với các điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó. Đây là một bộ phận cấu thành tất yếu và rất quan trọng của cơ chế hành vi tội phạm. Nhân thân người phạm tội theo pháp luật hình sự bao gồm các đặc điểm về tuổi, về năng lực chịu TNHS và cả các chủ thể đặc biệt như quốc tịch, giới tính, nghề nghiệp, dân tộc, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, người nghiện ma túy…. [26, tr.29]
- 2.1.2. Tình hình người phạm tội là chủ thể đặc biệt
Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, chủ thể đặc biệt của tội phạm nằm ở một số tội phạm chức vụ như tội tham ô, tội nhận hối lộ và một số tội phạm về dâm ô. Theo thống kê tại TAND thành phố Đà Nẵng, từ năm 2012 đến năm 2016, các loại tội do chủ thể đặc biệt thực hiện chủ yếu ở các tội: Tội hiếp dâm; Tội hiếp dâm trẻ em; Tội dâm ô đối với trẻ em; Tội tham ô tài sản; Tội nhận hối lộ; Tội lạm dụng chức vụ; Tội lạm dụng quyền hạn trong khi thi hành công vụ; Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Từ năm 2012 đến năm 2016 có 104 người phạm tội thực hiện hành vi tội phạm là chủ thể đặc biệt được tác giả mô tả tại phụ lục số 4, (chiếm tỷ lệ: 1.5% số bị cáo thực hiện hành vi phạm tội).
Có thể thấy tội phạm do chủ thể đặc biệt thực hiện trên địa bàn TP Đà Nẵng không đáng kể, tuy nhiên các tội phạm thực hiện đối với trẻ em ngày càng gia tăng, nguy hiểm và có tính chất phức tạp.
- 2.2. Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua
- 2.2.1. Thực trạng xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự
- 2.2.2. Thực trạng áp dụng Điều 14 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (Điều 13 BLHS năm 2015)
- 2.2.3. Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể đặc biệt
- 2.3. Đánh giá việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm tại thành phố Đà Nẵng
- 2.3.1. Thuận lợi
- 2.2. Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua
Việt Nam đang từng bước sử dụng án lệ như một bước đột phá trong việc quyết định hình phạt một cách thống nhất đối với cùng một hành vi phạm tội, cùng một chủ thể tội phạm.
Thuận lợi trong việc xác định độ tuổi chịu TNHS, các bộ luật cơ bản như Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự được pháp điển hóa kịp thời đảm bảo ngày càng đồng bộ, phù hợp và toàn diện.
Hệ thống lưu trữ hồ sơ người phạm tội tại thành phố Đà Nẵng rất khoa học tạo điều kiện thuận lợi trong việc trích lý lịch bị can người phạm tội, xác định nhân thân người phạm tội chính xác.
Các cơ quan THTT ngày càng được hoàn thiện, các yêu cầu về mặt pháp lý của hồ sơ các vụ án hình sự ngày càng chặt chẽ, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người phạm tội được thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật.
Các công cuộc vận động, tuyên truyền pháp luật ngày càng được chú trọng.
Ngoài ra, thành phố Đà Nẵng là thành phố phát triển mọi mặt về kinh tế, chính trị, xã hội. Thành phố luôn chú trọng về các vấn đề an sinh của người dân. Có chính sách quản lý hồ sơ nhân khẩu khoa học, tạo điều kiện rất thuận lợi trong việc xác định nhân thân người phạm tội cũng như nhiều chính sách khác cũng là một phần nguyên nhân làm giảm thiểu tình hình tội phạm.
- 2.3.2. Khó khăn
Thực tiễn cho thấy vẫn còn những vấn đề của hệ thống pháp luật hiện tại gây khó khăn cho vấn đề xác định tuổi chịu TNHS, nhân thân người phạm tội còn thiếu tính đồng bộ, tính phù hợp cũng như kỹ thuật lập pháp.
Khung hình phạt đối với từng loại tội khá rộng nên dễ dẫn đến việc tùy nghi trong việc quyết định hình phạt đối với một chủ thể tội phạm nhất định.
Ngoài ra, đối với việc xác định tuổi chịu TNHS, sự không phù hợp thể hiện ở việc với quy định tuổi chịu TNHS theo pháp luật hiện hành dẫn đến một số trường hợp mặc dù thực hiện hành vi phạm tội rất nguy hiểm, đặc biệt nguy hiểm, gây ra những hậu quả rất lớn thậm chí là đặc biệt lớn vẫn không bị áp dụng chế tài hình sự hoặc áp dụng chế tài không tương xứng làm cho toàn xã hội bức xúc, gây dư luận không tốt và làm cho nguy cơ tội phạm ở lứa tuổi đó gia tăng.
Các cơ quan quản lý Nhà nước về quản lý hộ tịch, lý lịch cá nhân nhiều nơi vẫn chưa nhận thức đầy đủ về giá trị của các loại giấy tờ mà mình có trách nhiệm cấp cho công dân, dẫn đến việc cấp tùy tiện không đúng theo trình tự thủ tục, không có căn cứ.
Việc quản lý sổ sách có liên quan đến xác định chủ thể, nhân thân người phạm tội vẫn chưa đảm bảo yêu cầu.
Nhà nước chưa xây dựng được hệ thống mạng quản lý dữ liệu cá nhân công dân gây khó khăn cho việc xác định nhân thân của một người.
Trong hoạt động giải quyết vụ án hình sự, một số người THTT chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa của việc xác định chủ thể tội phạm, nhân thân người phạm tội.
Trong xã hội hiện nay vẫn còn một bộ phận dân cư sống lang thang, không nhà không cửa, không lai lịch nhân thân. Những đối tượng này gây ra không ít vụ việc xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm sở hữu của người khác… gây bất an trong nhân dân.
- 2.3.3. Mức độ ảnh hưởng của việc xác định chủ thể tội phạm trong việc xác định TNHS, quyết định hình phạt và tác động của xã hội của vấn đề chủ thể tội phạm trong thời gian qua
Việc xác định nhân thân người phạm tội như thế nào có ảnh hưởng rất quan trọng trong việc xác định TNHS và quyết định hình phạt của người phạm tội. Mức độ chính xác càng cao thì việc xác định TNHS và quyết định hình phạt đối với một người phạm tội càng chính xác, không có trường hợp bỏ lọt tội phạm, gây oan sai hoặc không đảm bảo các quyền luật định của người phạm tội do việc xác định chủ thể tội phạm không đúng.
Việc áp dụng nhân thân người phạm tội trong việc quyết định hình phạt gây ra nhiều ý kiến, bức xúc trong dư luận xã hội. Cụ thể là cùng một hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội cũng giống nhau nhưng ở mỗi nơi, tùy HĐXX mà mức hình phạt dành cho người phạm tội khác nhau. Điều này gây nhiều xôn xao trong dư luận xã hội và ảnh hưởng đến hoạt động tố tụng của các Cơ quan tư pháp, gây mất lòng tin trong nhân dân.
Bên cạnh đó, hành vi phạm tội do người CTN gây ra cũng gây ra nhiều dư luận trong xã hội, nhiều nhóm đối tượng trong xã hội cho rằng cần giảm độ tuổi chịu TNHS, cũng có nhiều nhóm xã hội cho rằng cần phải áp dụng các biện pháp khác để giáo dục người phạm tội CTN mà không trừng phạt như hiện nay.
Do vậy, việc chủ thể của tội phạm có tác động và sức ảnh hưởng rất lớn cho xã hội cũng như là một yếu tố quan trọng để các cơ quan tư pháp xác định người phạm tội và quyết định hình phạt đối với họ phù hợp và chính xác, đảm bảo sự công bằng, tính nghiêm minh và khoan hồng của Nhà nước.

CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ CHỦ THỂ CỦA TỘI PHẠM
Trong thời gian qua, tình hình tội phạm hình sự ở nước ta đang gia tăng nghiêm trọng cả về số lượng và tính chất. Tình hình tội phạm hình sự gia tăng dẫn đến hệ quả làm tăng chi phí xã hội và giảm chất lượng cuộc sống. Tính chất tội phạm nghiêm trọng đòi hỏi Nhà nước phải tăng cường nhân lực và phương tiện phòng, chống.
Theo các chuyên gia, các nhà hình sự học đánh giá tình trạng tội phạm hóa đang diễn ra trong một bộ phận dân số. Những đối tượng phạm tội khi đã có tiền án, thậm chí chỉ là tiền sự, khả năng cải tạo và tái hòa nhập tương đối thấp. Chính điều này dẫn đến hậu quả: Tỉ lệ tái phạm sẽ càng cao và càng nghiêm trọng hơn. Càng nhiều người phạm tội, xã hội càng có nhiều tội phạm.
Tội phạm là chế định quan trọng và chủ yếu của luật hình sự. Việc hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể tội phạm là một trong những nội dung rất quan trọng.
BLHS năm 1999 được Quốc hội khóa X thông qua ngày 21/12/1999 trên cơ sở kế thừa truyền thống của pháp luật hình sự Việt Nam, phát huy thành tựu của BLHS năm 1985 (đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997). Sau hơn 14 năm thi hành, BLHS năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã có những tác động tích cực đối với công tác phòng, chống tội phạm, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân.
Ngày 27/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua BLHS số 100/2015/QH13 năm 2015 cùng Nghị quyết thi hành Bộ luật số 109/2015/QH13. Ngày 18/12/2015, Chủ tịch nước đã ký Lệnh số 33/2015/L-CTN công bố Bộ luật và Nghị quyết này.
Với tinh thần sửa đổi toàn diện,BLHS 2015 gồm có 26 chương với 426 điều, được thiết kế thành 03 phần, Phần thứ nhất: Những quy định chung (gồm 12 chương, từ Điều 01 đến Điều 107); Phần thứ hai: Các tội phạm (gồm 14 chương, từ Điều 108 đến Điều 425); và Phần thứ ba: Điều khoản thi hành (gồm 01 điều là Điều 426). BLHS 2015 đã có nhiều điểm quan trọng được quy định chặt chẽ, đặc biệt là quy định về TNHS của pháp nhân và quy định giới hạn các trường hợp chịu TNHS của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.
- 3.1.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Theo thống kê, tìm hiểu, những đối tượng phạm tội thường xuyên lợi dụng lứa tuổi chưa đủ tuổi chịu TNHS đặc biệt là các đối tượng từ 12 đến 13 tuổi, là lứa tuổi phần nào đã ý thức được hành vi của mình và một số gia đình hiện nay cũng lơ là trong việc quản lý nhóm lứa tuổi này. Mặt khác, theo tác giả, tình hình thanh thiếu niên hiện nay phát triển về mặt nhận thức nhanh hơn so với lứa tuổi trước đây.
Việc đề ra một quy định pháp luật thì điều quan trọng nhà làm luật phải chú ý đến đó là “thực tiễn xã hội”. Vì đơn giản là các quy định của pháp luật suy cho cùng là để đảm bảo cho trật tự xã hội diễn ra một cách bình thường và hướng đến sự phát triển tích cực. Pháp luật hình sự cũng vậy, sự ra đời của pháp luật hình sự được xem là một bước pháp chế quan trọng trong việc ổn định xã hội.
Như đã phân tích ở trên về thực trạng người CTN phạm tội ngày càng nhiều và gia tăng các tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Đặc biệt là hiện nay tội phạm do trẻ vị thành niên phạm tội dưới 14 tuổi ngày càng có chiều hướng gia tăng, và mức độ nghiêm trọng ngày càng cao (như đã đề cấp ở trên). Thêm vào đó do tình hình kinh tế – chính trị – xã hội nước ta hiện nay có nhiều thay đổi như: Sự nhận thức về hành vi trái pháp luật của lứa tuổi vị thành niên ngày càng được nâng lên. Do vậy khi mà sự phát triển về tâm sinh lý của con người ngày càng cao thì cũng đồng nghĩa với việc phải xem xét, xác định lại tuổi chịu TNHS, vì tuổi chịu TNHS dựa trên cơ sở này.
Do đó, có thể nói các quy định về tuổi chịu TNHS của 13 năm trước hiện nay không được xem là phù hợp với trình độ phát triển của con người hiện tại. Thêm vào đó các biện pháp giáo dục, cải tạo đối với trẻ vị thành niên hiện nay tuy đã tăng cường rất nhiều cho công tác này nhưng hiệu quả của nó đem lại thì không đáng kể, tội phạm trẻ vị thành niên vẫn ngày càng gia tăng theo hướng nghiêm trọng hơn.
Do những lý do trên, thiết nghĩ chúng ta nên dùng biện pháp mạnh hơn không chỉ nhằm tác động đến chính người phạm tội là các trẻ vị thành niên, mà còn có sự tác động mạnh mẽ và sâu rộng đến toàn xã hội, các bậc phụ huynh… để từ đó họ cũng có trách nhiệm có nghĩa vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, pháp luật chung tay phòng ngừa tội phạm trẻ vị thành niên. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị có thể là: Nên giảm độ tuổi chịu TNHS xuống ở mức là 15 tuổi. Như vậy mới đáp ứng được tính phát triển khách quan của sự vật, hiện tượng của những đòi hỏi xã hội trong giai đoạn hiện nay. Chứ không nên cứ đánh giá vấn đề quy định tuổi chịu TNHS trên cơ sở tính nhân đạo của nhà nước XHCN một cách phiến diện và rập khuôn.
Vì vậy, có thể giảm độ tuổi chịu TNHS theo điều 12 BLHS 1999, Điều 21 BLHS năm 2015 xuống: Người từ đủ 15 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm, người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi chịu TNHS đối với tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý và đặc biệt nghiêm trọng. Hoặc cũng có thể chọn phương án là: Nên quy định thêm trường hợp ngoại lệ ở điều 21 BLHS, là đối với những người đủ 13 tuổi chưa đủ 14 tuổi mà phạm nhiều tội và các tội đó đều rơi vào trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý thì họ phải chịu TNHS về hành vi phạm tội đó. Có như vậy thì mới đáp ứng được nhu cầu thực tiễn đặt ra, để đấu tranh phòng chống tội phạm được ngày càng hoàn thiện hơn.
Tóm lại, với hai phương án trên thì tác giả theo phương án là nên quy định trường hợp ngoại lệ ở điều 21 BLHS. Vì xét về tình hình hiện tại thì lứa tuổi của người chưa thành niên dưới 14 tuổi phạm tội (theo số liệu cung cấp ở trên) thì tăng 8 % so với năm 2010 và mức độ nghiêm trọng là rất lớn, và gây không ít phẫn nộ trong xã hội. Tuy nhiên, do chưa thực sự hoàn toàn phát triển về tâm sinh lý do đó chỉ giới hạn việc truy cứu TNHS đối với họ ở số lượng tội phạm, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, của những thiệt hại do tội phạm đó gây ra đối với xã hội. Để làm cơ sở truy cứu TNHS đối với người từ 13 tuổi đến dưới 14 tuổi.
Khi quy định như vậy thì chúng ta cũng cần phải xem xét sửa đổi các điều luật, lý luận hình sự, tội phạm có liên quan để nhằm giải quyết triệt để các vấn đề.
Ngoài ra, đối với việc xác định độ tuổi chịu TNHS, tác giả còn đề xuất như sau:
Như phân tích ở trên về việc một đứa trẻ sinh ra sau 1 hoặc 2 năm bố mẹ hay người thân thích mới đi khai sinh cho con, và khai sinh tăng hoặc giảm cho con 1 tuổi thì khi đứa trẻ này phạm tội hay là nạn nhân của tội phạm (đặc biệt là các tội phạm như tội hiếp dâm trẻ em, tội giao cấu với trẻ em, tội dâm ô với trẻ em… mà cấu thành ở các tội này đòi hỏi dấu hiệu độ tuổi là dấu hiệu bắt buộc để xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội) thì việc xác định độ tuổi của người phạm tội và nạn nhân để xác định TNHS và hậu quả của hành vi nguy hiểm cho xã hội nhiều trường hợp dẫn đến bắt nhầm người hay bỏ lọt tội phạm. Do vậy, theo tôi trường hợp này khi không có sự thống nhất về tuổi theo thực tế và giấy khai sinh thì cần có sự xác định về mặt sinh học hay cải sửa giấy khai sinh, hộ tịch để xác định chính xác tuổi của người CTN là tội phạm hay là nạn nhân của tội phạm cho đúng, phù hợp với quy định của pháp luật, từ đó tránh tình trạng xử oan hay bỏ lọt tội phạm. Với những hướng hoàn thiện trên thì chúng tôi cho rằng việc áp dụng Luật về tuổi chịu TNHS của chủ thể của tội phạm trong thực tế sẽ đạt được hiệu quả hơn.
- 3.1.2. Hoàn thiện vấn đề năng lực trách nhiệm hình sự trong tình trạng chủ thể say do dùng rượu hay dùng chất kích thích mạnh khác
Luật hình sự nước ta không loại trừ TNHS đối với người phạm tội do say rượu hoặc do dùng chất kích thích mạnh khác. Vì trước đó họ là chủ thể có năng lực TNHS và khi uống rượu hoặc sử dụng chất kích thích là chủ thể tự đặt mình vào tình trạng “say” nên họ có lỗi. Chính vì chủ thể có năng lực TNHS khi đặt mình vào tình trạng say và như vậy cũng có nghĩa là chủ thể đã tự tước bỏ năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi của mình, tự đặt mình vào tình trạng năng lực trách nhiệm hạn chế hoặc bị loại trừ. Mặc dù tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chủ thể bị mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.
Điều 14 BLHS năm 1999 quy định: “Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu TNHS”.
Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc dùng chất kích thích khác không những không được loại trừ TNHS mà trong một số trường hợp, nhà làm luật còn quy định đây là tình tiết định khung tăng nặng TNHS (Điểm b Khoản 2 các Điều 202 Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; Điều 208 Tội đua xe trái phép; Điều 212 Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy BLHS năm 1999).
Việc buộc một người phải chịu TNHS về việc thực hiện tội phạm trong tình trạng say rượu hoặc say những chất kích thích mạnh khác là phù hợp với thực tế khách quan, có ý nghĩa tác động giáo dục mạnh mẽ không chỉ đối với người đó mà còn đối với những người khác, có tác dụng ngăn ngừa việc lạm dụng rượu sẽ dẫn đến thực hiện tội phạm, thể hiện thái độ nghiêm khắc, sự lên án đối với hiện tượng tiêu cực này của Nhà nước ta.
Điều 13 BLHS năm 2015 quy định: “Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu TNHS”.
Đối với BLHS năm 2015 về cơ bản vẫn kế thừa quy định tại Điều 14 của BLHS năm 1999, trong đó bổ sung hai điểm mới: thay cụm từ rất chung chung trong BLHS năm 1999 “phạm tội trong tình trạng say” bằng các dấu hiệu cụ thể, mang đặc điểm pháp lý, đó là “phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”; bổ sung trường hợp phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do “dùng bia”, bảo đảm phù hợp với thực tiễn.
Tuy nhiên, có thể thấy rằng điều 14 BLHS hiện nay và Điều 13 BLHS năm 2015 còn có nhiều khúc mắc trong vấn đề lý luận như có nên truy cứu TNHS đối với những người say bệnh lý, những người không có lỗi đối với tình trạng say của mình hay vấn đề xác định năng lực TNHS đối với người say? Do vậy, để giải quyết vấn đề này cá nhân tôi kiến nghị là cần xây dựng một văn bản hướng dẫn cụ thể về vấn đề này, văn bản đó cần có các nội dung theo hướng sau:
Văn bản cần có hướng dẫn cụ thể về trường hợp người phạm tội say như thế nào (say thường hay say do bệnh lý…). Nếu là say bệnh lý hay say mà người say không có lỗi đối với tình trạng say của mình thì không truy cứu TNHS. Có thể xem say bệnh lý là một loại bệnh khác dẫn đến mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Nếu biết mình bị say bệnh lý mà vẫn uống thì sẽ vẫn bị truy cứu TNHS.
Văn bản phải xác định tính có hay không có năng lực trách TNHS, năng lực TNHS hạn chế…? Thiết nghĩ rằng, để dễ dàng cho việc áp dụng và đảm bảo tính logic của vấn đề thì chúng ta nên có quy định trong văn bản hướng dẫn đối với tính chịu TNHS của những người say rượu hoặc say các chất kích thích khác theo hướng: phải xem việc truy cứu TNHS của những người say rượu hay say các chất kích thích khác theo hướng là một ngoại lệ truy cứu TNHS, tức là quy tội khách quan hợp pháp, chứ không nên theo hướng là họ có năng lực TNHS trước khi họ đặt mình vào tình trạng say để suy ra việc họ cũng sẽ có năng lực TNHS tại thời điểm họ đã say và thực hiện hành vi phạm tội.
Văn bản cần có sự phân loại đối với tình trạng say do dùng rượu khác với việc say do dùng chất kích thích mạnh khác (ma túy, heroin, thuốc lắc…), và xác định rõ việc một người lợi dụng việc say rượu hay say các chất kích thích mạnh khác để làm động cơ phạm tội thì phải coi là tình tiết tăng nặng TNHS. Tóm lại, để hoàn thiện quy định đối với Điều 14 BLHS hiện hành và Điều 13 BLHS năm 2015 thì chúng ta cần phải xây dựng một văn bản hướng dẫn chi tiết cho điều này theo hướng vừa nêu ở trên.
- 3.1.3. Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể đặc biệt của tội phạm
3.1.3.1. Bổ sung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do người thực hiện tội phạm mắc bệnh câm, điếc, mù
3.1.3.2. Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể các tội liên quan đến hành vi giao cấu
Cùng với việc phổ biến, tuyên truyền, tập huấn BLHS 1999, Liên ngành tư pháp trung ương (Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao) cũng đã ban hành 10 Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành một số quy định của BLHS 1999. Hội đồng thẩm phán TANDTC cũng đã ban hành một số Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định của Phần chung cũng như quy định về các tội phạm cụ thể của BLHS 1999. Chính vì vậy, hoạt động áp dụng các quy định của BLHS 1999 trong đấu tranh phòng, chống tội phạm đã đạt được nhiều kết quả.
- Tăng cường ban hành an lệ để giải quyết thống nhất:
Việc áp dụng án lệ ngoài ý nghĩa giải quyết một vụ án cụ thể còn thiết lập ra một tiền lệ để xử những vụ án tương tự sau này, do đó, sẽ tạo bình đẳng trong việc xét xử các vụ án giống nhau, giúp tiên lượng được kết quả của các vụ tranh chấp, tiết kiệm công sức của các Thẩm phán, Người tham gia tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng, tạo ra sự công bằng trong xã hội. Án lệ là khuôn thước mẫu mực để các thẩm phán tuân theo vì được đúc kết, chọn lọc kỹ và mang tính chuyên nghiệp. Khi ấy thẩm phán chỉ cần đối chiếu để đưa ra phán quyết, tránh chuyện mỗi người nhìn nhận, đánh giá vấn đề một kiểu. Từ đó tránh được chuyện dư luận xã hội cho rằng việc xét xử của tòa án là không bình đẳng. Đồng thời, áp dụng án lệ còn giúp các đơn vị khi đàm phán, soạn thảo và ký kết hợp đồng giao dịch dân sự, thương mại biết phòng tránh rủi ro…
3.3. Nâng cao năng lực của cán bộ
Trong điều kiện và tình hình mới hiện nay đòi hỏi cán bộ TGTT phải có năng lực công tác, tinh thông nghiệp vụ, có đạo đức nghề nghiệp. Qua thực tiễn ở nước ta và các nước đều cho thấy đạo đức và phẩm chất của lực lượng phòng, chống tội phạm là yếu tố quyết định nhất đối với việc phòng, chống tội phạm hiệu quả.
Để thực hiện tốt các quy định về chủ thể chịu TNHS được quy định trong BLHS, cùng việc hoàn thiện các quy phạm pháp luật hình sự thì việc nâng cao năng lực của cán bộ trong các cơ quan THTT, người THTT là hết sức quan trọng. Trong quá trình các cơ quan THTT, người TGTT có năng lực công tác tốt, nghiệp vụ chuyên sâu, đạo đức nghề nghiệp trong sáng sẽ đảm bảo việc hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, tránh được tình trạng oan sai trong việc xử lý tội phạm.
- 3.4. Các giải pháp khác
- 3.4.1. Tăng cường công tác phối hợp của 03 cơ quan liên ngành: Công an, Viện kiểm sát, Tòa án trong việc xử lý các vấn đề về chủ thể tội phạm
- 3.4.2. Nhận thức, đánh giá mối quan hệ giữa các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt
- 3.4. Các giải pháp khác
Chủ thể của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành nên cấu thành tội phạm (khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm), mỗi yếu tố mang trong nó những ý nghĩa nhất định, nếu thiếu một trong bốn yếu tố đó, thì một hành vi không thể bị coi là tội phạm. Chủ thể của tội phạm trong khoa học luật hình sự là một vấn đề lớn và phức tạp, nó liên quan không chỉ đến Khoa học luật hình sự, mà còn đến cả tội phạm học, tâm lý học, sinh học, khoa học điều tra hình sự… do đó, quy định của luật hình sự đối với chủ thể của tội phạm trong các BLHS Việt Nam từ trước đến nay không ngừng được bổ sung, hoàn thiện theo hướng phù hợp với tình hình thực tế và các quy định của pháp luật quốc tế.
Việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự trong việc quyết định hình phạt và xác định người phạm tội có vai trò rất lớn và gần như là quan trọng nhất đối với các nhà áp dụng pháp luật. Qua phân tích tình hình chủ thể tội phạm và việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, tác giả đã khái quát, đánh giá mức độ áp dụng pháp luật về chủ thể của tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cũng như một số tồn tại, vướng mắc trong quá trình áp dụng. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng cũng như nghiên cứu một số trường hợp trên địa bàn cả nước, tác giả nhận thấy việc quy định và áp dụng pháp luật hình sự về chủ thể tội phạm còn nhiều vướng mắc: Trong việc xác định độ tuổi chịu TNHS; Quyết định hình phạt đối với người phạm tội bị câm, điếc, mù…; Việc xác định hành vi phạm tội đối với chủ thể đặc biệt hoặc xác định hành vi phạm tội, xác định nhân thân người phạm tội để quyết định hình phạt trong trường hợp người phạm tội “say rượu bệnh lý”…
Căn cứ vào tình hình thực trạng phạm tội của thanh thiếu niên hiện nay và hậu quả của những hành vi này đối với xã hội, kiến nghị nên quy định trường hợp ngoại lệ tại điều 12 BLHS. Và căn cứ thực trạng xung đột về việc xác định tuổi của chủ thể trên thực tế và giấy khai sinh thì kiến nghị nên sử dụng phương pháp giám định y học để giải quyết.
Trên cơ sở đó, tác giả đã nêu ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định chủ thể của tội phạm như sau:
Về vấn đề say rượu bệnh lý và không có lỗi trong tình trạng say của mình nên không truy cứu TNHS đối với họ.
Về vấn đề xác định năng lực TNHS của người say rượu hay say các chất kích thích khác ở điều 14 BLHS 1999, thì nên có sự điều chỉnh ở cơ sở lý luận truy cứu TNHS đối với những người này theo hướng quy tội khách quan hợp pháp. Do vậy, thiết nghĩ nên xây dựng một văn bản pháp luật để hướng dẫn chi tiết điều 14 BLHS, trong văn bản ấy sẽ giải quyết tất cả các vấn đề liên quan đang gây tranh cải theo hướng như đã đề xuất, kiến nghị ở trên.
Vấn đề chủ thể đặc biệt: đối với một số tội phạm hiện nay như tội hiếp dâm theo điều 111, nên quy định chủ thể phải là nam giới.
Ngoài ra, nên có sự xem xét đối với những chủ thể phạm tội mà bản thân họ có những khuyết tật như bị bệnh điếc, mù, câm… nên bổ sung tình tiết giảm nhẹ cụ thể trong luật cho những người này khi họ phạm tội.
Đảm bảo được tính phù hợp, tính thống nhất của pháp luật hình sự cũng như việc áp dụng pháp luật liên quan đến yếu tố chủ thể của tội phạm, tác giả đã nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình trên cơ sở thực tiễn xét xử tại TAND thành phố Đà Nẵng cũng như một số trường hợp trên địa bàn cả nước. Các số liệu được sử dụng trong luận văn được tác giả phân tích dựa trên cơ sở số liệu hằng năm của TAND thành phố Đà Nẵng. Mặc dù vậy, không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Rất mong được sự quan tâm của Thầy hướng dẫn cũng như Hội đồng.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HINH SU\DINH THI KIM HANH\SAU BAO VE


