Đánh giá kiến thức và kỹ năng thực hành về xử trí phản vệ của điều dưỡng bệnh viện vinmec đà nẵng năm 2024
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Dị ứng Thế giới (WAO 2020), Phản vệ là một phản ứng quá mẫn toàn thân nghiêm trọng thường khởi phát nhanh và có thể gây tử vong [18]. Phản vệ nặng được đặc trưng bởi sự tổn hại có thể đe dọa đến tính mạng xảy ra ở đường thở, hô hấp và hoặc tuần hoàn [18]. Có thể xảy ra mà không có các đặc điểm da điển hình hay sốc tuần hoàn [18]. Sốc phản vệ qua trung gian IgE được coi là cơ chế cổ điển và thường gặp nhất [18]. Các dị nguyên thường gặp nhất trên toàn thế giới là thực phẩm, nọc côn trùng và thuốc và nó phụ thuộc vào các độ tuổi, khu vực địa lý và lối sống [18].
Trên toàn thế giới, tần suất phản vệ là khoảng 50–112 đợt/100.000 người/ năm và có tỷ lệ lưu hành suốt đời là 0,3–5,1% [15]. Tỷ lê người bị dường như tăng lên. Nó xảy ra thường xuyên nhất ở thanh thiếu niên và phụ nữ [15]. Trong số những người đến bệnh viện với sốc phản vệ ở Hoa Kỳ khoảng 0.3% chết [15].
Trong năm 2022, Trung tâm DI & ADR Quốc gia có 847 cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong cả nước đã gửi báo cáo ADR. Trong đó, thành phố Đà Nẵng là địa phương có công tác báo cáo ADR hiệu quả nhất với số báo cáo đạt 663,3 báo cáo/1 triệu dân [8]. Trong năm 2022 Trung tâm DI & ADR Quốc gia cũng đã xử lý 48 phản hồi khẩn liên quan tới an toàn thuốc: Gồm có 23 case tử vong, 5 case chưa hồi phục và 4 case chuỗi báo cáo mà phản ứng có hại xảy ra với cùng một lô thuốc trong một thời gian ngắn và 16 phản hồi bằng công văn cung cấp thông tin về an toàn thuốc cho các cơ quan quản lý của Bộ Y tế [8]. Tại Bệnh viện Vinmec Đà nẵng năm 2022 có 52 báo cáo phản ứng có hại của thuốc trong đó 5 trường hợp (9.6%) ở mức nhập viện/kéo dài thời gian nhập viện của người bệnh. Năm 2023 có 66 báo cáo (tăng 14% so với năm 2022) trong đó 6 trường hợp (9.1%) ở mức nhập viện/kéo dài thời gian nhập viện của người bệnh và 1 ca đe dọa tính mạng 9 (1.5%).
Nghiên cứu tại Ấn độ năm 2020 tại khoa nhi về dị ứng thức ăn: 90% có kiến thức đúng và 95% tự tin có khả năng xử trí dị ứng thức ăn và 91% nhân viên y tế mong muốn có thêm kiến thức thông qua các buổi đào tạo định kỳ [16].
Theo nghiên cứu của Hoàng Thị Giang (2022) trên 245 điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Times City cho thấy 62,1% Điều dưỡng đã xử trí đúng phác đồ của Bộ Y Tế đưa ra [3].
Nhận thấy tầm quan trọng của việc dự phòng và xử trí cấp cứu phản vệ, hằng năm Bệnh viện Vinmec Đà Nẵng có nhiều lớp tập huấn phổ biến, hướng dẫn Thông Tư 51/2017/TT-BYT và lớp đào tạo cấp cứu ngừng tuần hoàn cho nhân viên y tế. Tuy nhiên Bệnh viện Vinmec Đà Nẵng chưa có nghiên cứu nào về kiến thức và kỹ năng thực hành xử trí phản vệ của đội ngũ điều dưỡng viên. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Đánh giá kiến thức và kỹ năng thực hành về xử trí phản vệ của điều dưỡng bệnh viện vinmec đà nẵng năm 2024” nhằm mục tiêu:
Mục tiêu 1: Đánh giá kiến thức và kỹ năng thực hành về xử trí phản vệ của điều dưỡng Bệnh viện Vinmec Đà Nẵng.
Mục tiêu 2: Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức và kỹ năng thực hành về xử trí phản vệ của điều dưỡng Bệnh viện Vinmec Đà Nẵng.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
KHÁI NIỆM PHẢN VỆ
Thuật ngữ “phản vệ” lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1901 bởi Charles Richet và Paul khi thử nghiệm trên động vật. Khái niệm “phản vệ” theo Charles Richet và Paul nhanh chóng được công nhận trên lâm sàng [11].
Năm 2003, Tổ chức Dị ứng Thế giới (WAO) đã thống nhất sử dụng thuật ngữ “anaphylaxis” cho biến cố phản vệ sau khi sử dụng thuốc, bất kể phản vệ thông qua cơ chế nào và sốc phản vệ là giai đoạn cuối nghiêm trọng nhất của các phản ứng dị ứng [18].
Năm 2006, Viện Dị ứng và Bệnh Truyền nhiễm Quốc gia Hoa Kỳ/Mạng lưới Dị ứng Thực phẩm và Sốc phản vệ (NIAID/FAAN) định nghĩa về phản vệ và đưa ra một số tiêu chí chẩn đoán: Sốc phản vệ là một phản ứng dị ứng nghiêm trọng liên quan đến nhiều hệ thống cơ quan (ví dụ: da, đường hô hấp và/hoặc đường tiêu hóa). Nó có thể bắt đầu rất nhanh và các triệu chứng có thể nghiêm trọng hoặc đe dọa tính mạng [18].
Năm 2010, Học viện Dị ứng, Hen suyễn và Miễn dịch học Hoa Kỳ (AAAAI/ACAAI) định nghĩa phản vệ: Một phản ứng toàn thân cấp tính đe dọa tính mạng với nhiều cơ chế, biểu hiện lâm sàng và mức độ nghiêm trọng khác nhau do sự giải phóng đột ngột các chất trung gian từ dưỡng bào và bạch cầu ái kiềm [18].
Năm 2011, Tổ chức Dị ứng Thế giới (WAO) định nghĩa phản vệ: Một phản ứng quá mẫn toàn thân hoặc toàn thân nghiêm trọng đe dọa tính mạng [18].
Năm 2016, Hiệp hội Miễn dịch học và Dị ứng Lâm sàng Úc (ASCIA) định nghĩa: Bất kỳ bệnh khởi phát cấp tính nào có các đặc điểm da điển hình (nổi mề đay hoặc ban đỏ và/hoặc phù mạch), cộng liên quan đến các triệu chứng tiêu hóa nghiêm trọng về hô hấp và/hoặc tim mạch và/hoặc kéo dài; hoặc Bất kỳ khởi phát cấp tính nào của hạ huyết áp hoặc co thắt phế quản hoặc tắc nghẽn đường hô hấp trên mà được coi là có thể bị sốc phản vệ, ngay cả khi không có các đặc điểm da điển hình [18].
Ngày 29/12/2017, Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành “Thông tư 51/2017/TTBYT: Hướng dẫn phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ” cũng đưa ra định nghĩa sau: “Phản vệ là một phản ứng dị ứng, có thể xuất hiện ngay lập tức từ vài giây, vài phút đến vài giờ sau khi cơ thể tiếp xúc với dị nguyên gây ra các bệnh cảnh lâm sàng khác nhau, có thể nghiêm trọng dẫn đến tử vong nhanh chóng” [1] .
Năm 2019, Tổ chức phân loại quốc tế về bệnh tật của Tổ chức Y tế Thế giới lần thứ 11 (WHO ICD) định nghĩa: “Sốc phản vệ là một phản ứng quá mẫn toàn thân nghiêm trọng, đe dọa tính mạng, đặc trưng bởi sự khởi phát nhanh chóng với các vấn đề về đường hô hấp hoặc tuần hoàn có khả năng đe dọa tính mạng và thường, mặc dù không phải lúc nào cũng liên quan đến những thay đổi ở da và niêm mạc” [18].

Do có sự khác nhau về các định nghĩa phản vệ, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, Sốc phản vệ có thể xảy ra mà không liên quan đến da hoặc sốc tim mạch, biểu hiện như vậy thường gặp trong trường hợp sốc phản vệ gây tử vong. Các dấu hiệu ở da không xuất hiện trong 10–20% các phản ứng sốc phản vệ và điều này có thể dẫn đến sự chậm trễ trong việc nhận biết sốc phản vệ [18].
Năm 2020, Tổ chức Dị ứng Thế giới (WAO 2020) đã cập nhật định nghĩa mới: “Phản vệ là một phản ứng quá mẫn toàn thân nghiêm trọng thường khởi phát nhanh và có thể gây tử vong. Phản vệ nặng được đặc trưng bởi sự tổn hại có thể đe dọa đến tính mạng xảy ra ở đường thở, hô hấp và / hoặc tuần hoàn. Có thể xảy ra mà không có các đặc điểm da điển hình hay sốc tuần hoàn” [18].
CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY SỐC PHẢN VỆ
Các nguyên nhân thông thường nhất của sốc phản vệ
Các dị ứng nguyên thông thường gồm có thuốc (ví dụ penicillin), thức ăn (tôm cua sò hến, quả hạch, trứng, lòng trắng trứng), các nốt đốt côn trùng (insect stings) (các nọc độc của hymenoptera (sâu bọ cánh màng) và các vết cắn (rắn), các tác nhân trong mục đích chẩn đoán (chất cản quang) và những tác nhân vật lý và môi trường (latex, thể dục, và lạnh) [9].
Các phản ứng phản vệ thường xảy ra trong bệnh viện
- Phản vệ (anaphylactic): Penicillins/ cephalosporins, latex.
- Dạng phản vệ (anaphylactoid): thuốc cản quang (radiocontrast dye), AINS, các chất nha phiến (opiates), các chất gây mê, các phản ứng truyền máu.
- Trong phòng hồi sức (ICU): các chất cản quang dùng bằng đường tĩnh mạch, các kháng sinh, AINS, aspirin và những thuốc khác, là những nguyên nhân có khả năng nhất [9].
Các nguyên nhân thường gặp trong phản vệ trong phòng mổ
Khoảng 80% các phản ứng phản vệ là do hoặc là các chất làm giãn cơ (ví dụ succinylcholine, rocuronium, và atracurium) hay tiếp xúc với latex, nhưng cũng có những nguyên nhân khác [9].
Curares là nguyên nhân của choáng phản vệ trong 60% các trường hợp [9].
Propofol và thiopental: tỷ lệ bị phản ứng dị ứng đối với thuốc thông dụng nhất propofol được ước tính là 1/60.000 lần cho thuốc. Tỷ lệ bị phản vệ là 1/30.000 lần cho thuốc và có thể do sự hiện diện của sulfur trong hợp chất [9].
Colloids: Dextran và gelatin có tỷ lệ phản ứng dị ứng khoảng 0,3%. Hetastarch là colloid an toàn nhất [9].
Morphine và meperidine: phản ứng được thấy là do sự phóng thích histamine không phải do miễn dịch [9].
Aprotinin, heparin và protamine: phản ứng dị ứng với aprotinin (Trasylol) xảy ra 1% các bệnh nhân, nhưng sự tiếp xúc trở lại làm gia tăng nguy cơ. Những phản ứng dị ứng đối với heparin chuẩn (unfractionated heparin) là hiếm, và đối với heparin có trọng lượng thấp (low-molecular-weight heparin) lại còn hiếm hơn. Phản ứng thông thường nhất đối với heparin là giảm tiểu cầu gây nên bởi heparin (heparin-induced thrmbocytopenia), không có nguồn gốc miễn dịch. Những bệnh nhân trước đây đã tiếp xúc với protamine, ví dụ những bệnh nhân sử dụng NPH insulin, có nguy cơ cao nhất bị phản ứng dị ứng, khoảng 0,4-0,76% [9].
Các thuốc gây tê tại chỗ: dị ứng với các thuốc gây tế tại chỗ có nối amide (ví dụ bupivacaine, lidocaine, mepoivacaine, ropivacaine) là rất hiếm. Những phản ứng dị ứng thật sự đối với các thuốc gây tê tại chỗ với nối ester (procaine, chloroprocaine, tetracaine, benzocaine) cũng hiếm hoi [9].
CƠ CHẾ PHẢN VỆ
Giai đoạn 1: Giai đoạn nhạy cảm
Khi cơ thể tiếp xúc với chất gây dị ứng lần đầu tiên sẽ xảy ra phản ứng ở tế bào lympho TH2 (tế bào trình diện kháng nguyên). Những tế bào miễn dịch này tương tác với các tế bào lympho khác (gọi là tế bào B) để tạo ra một lượng lớn kháng thể IgE. IgE lưu thông trong máu và liên kết với một thụ thể IgE cụ thể (FcεRI Fc) trên bề mặt tế bào mast và bạch cầu ái kiềm, cả hai đều liên quan đến phản ứng viêm cấp tính [9].
Những thí dụ của những phản ứng dị ứng qua trung gian IgE gồm có thuốc (penicillin), thức ăn (củ lạc, tôm cua sò hến), các nốt đốt côn trùng (ví dụ ong), latex, nhiễm kz sinh trùng, dị ứng nguyên trong không khí ( phấn hoa, các bào tử, dust mites) [2].
Giai đoạn 2: Giai đoạn sinh hóa của bệnh
Khi cơ thể tiếp tục tiếp xúc với cùng một chất gây dị ứng, những chất gây dị ứng đó sẽ liên kết với các phân tử IgE trên bề mặt tế bào mast hoặc bạch cầu ái kiềm. Liên kết chéo giữa các thụ thể IgE và FcεRI Fc xảy ra khi có nhiều hơn một thụ thể IgE cụ thể tương tác với các phân tử gây dị ứng và kích hoạt tế bào mast và bạch cầu ái kiềm. Sự kích hoạt này trải qua một quá trình gọi là thoái hóa, giải phóng histamine và các chất trung gian gây viêm (như Leukotrienes, Prostaglandin…) vào các mô xung quanh [2].
Giai đoạn 3: Giai đoạn sinh lý bệnh
Khi các chất trung gian hóa học được giải phóng gây ra một số phản ứng như giãn mạch, kích thích thần kinh, tiết chất nhầy và co cơ trơn. Điều này dẫn đến một phản ứng dị ứng không đoán trước được và nghiêm trọng với nhiều biểu hiện lâm sàng sau đây: Hạ huyết áp, tim đập nhanh, và trụy tim mạch. Co thắt phế quản. Các triệu chứng ngoài da: đỏ bừng (flushing), mày đay, và phù nề mạch (angioedema). Các triệu chứng dạ dày ruột gồm có đau bụng, nôn và mửa, và ỉa chảy. Choáng phản vệ (choc anaphylactique) là dạng trầm trọng nhất của phản vệ (anaphylaxie) [2].
TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
Các triệu chứng sốc phản vệ thường bắt đầu trong vòng 15 phút sau khi tiếp xúc và liên quan đến da, đường hô hấp trên hoặc dưới, hệ thống tim mạch và/hoặc đường tiêu hóa. Một hoặc nhiều khu vực có thể bị ảnh hưởng, và các triệu chứng không nhất thiết phải tiến triển từ nhẹ (ví dụ như nổi mày đay) đến nghiêm trọng (ví dụ như tắc nghẽn đường dẫn khí, sốc khó điều trị), mặc dù mỗi bệnh nhân biểu hiện cùng một phản ứng với tiếp xúc tiếp theo [9].
Các triệu chứng từ nhẹ đến nặng bao gồm đỏ bừng, ngứa, nổi mề đay, sổ mũi, buồn nôn, đau quặn bụng, tiêu chảy, cảm giác nghẹt thở hoặc khó thở, đánh trống ngực, và chóng mặt [9].
Các dấu hiệu quá mẫn bao gồm hạ huyết áp, nhịp tim nhanh, nổi mề đay, phù mạch, thở khò khè, thở rít, tím tái và ngất. Sốc có thể tiến triển trong vòng vài phút, và bệnh nhân có thể co giật, không đáp ứng, và tử vong. Trụy tim mạch có thể xảy ra mà không có triệu chứng hô hấp hoặc các triệu chứng khác [9].
Phản ứng giai đoạn cuối có thể xảy ra từ 4 đến 8 giờ sau khi phơi nhiễm hoặc sau đó. Các triệu chứng và dấu hiệu thường ít nặng hơn ban đầu và có thể bị giới hạn ở mày đay; tuy nhiên, chúng có thể nghiêm trọng hơn hoặc gây tử vong. Do đó, những bệnh nhân có phản ứng phản vệ nên được quan sát trong cơ sở điều trị bệnh ở giai đoạn cấp tính trong vài giờ sau phản ứng ban đầu [9].
Bảng 1. 1. Triệu chứng phản vệ
| Cơ quan | Biểu hiện |
| Da, niêm mạc | Ban đỏ, ngứa, mày đay, phù mạch, ban dạng sởi Ngứa, đỏ, phù nề xung quanh mắt, xung huyết kết mạc, chảy nước mắt Ngứa môi, lưỡi, vòm miệng và vành tai, sưng môi, lưỡi Ngứa bộ phận sinh dục ngoài, gan bàn tay, gan bàn chân |
| Hô hấp | Ngứa mũi, sổ mũi, chảy nước mũi, nói khàn Ngứa họng, co thắt thanh quản, nói khó, thở khò khè, ho khan từng cơn. Tím tái Suy hô hấp |
| Tiêu hóa | Đau bụng, nôn, buồn nôn, khó nuốt, tiêu chảy Đại tiểu tiện không tự chủ |
| Tim mạch | Đau ngực Mạch nhanh, nhịp chậm (ít xảy ra), loạn nhịp, hồi hộp đánh trống ngực Hạ huyết áp, ngất Suy tuần hoàn |
| Thần kinh | Bất tỉnh thoáng qua, lo lắng, khó chịu (ở trẻ em thường: dễ bị kích thích, ngừng chơi, bám cha mẹ) Đau đầu, thay đổi nhận thức, hoa mắt, chóng mặt, lẫn lộn, giảm thị lực |
| Triệu chứng khác | Thay đổi vị giác: Cảm giác có vị kim loại trong miệng Đau quặn, ra máu âm đạo do co bóp tử cung ở phụ nữ |
CHẨN ĐOÁN
Tiêu chuẩn lâm sàng chẩn đoán phản ứng phản vệ (WAO) 2020
Bệnh cảnh lâm sàng 1: Không cần yếu tố dị nguyên [18]
- Khởi phát cấp tính (vài phút đến vài giờ) với sự hiện diện đồng thời của triệu chứng da, mô niêm mạc hoặc cả hai VÀ ÍT NHẤT CÓ MỘT:
- Suy hô hấp (khó thở, thở khò khè-co thắt phế quản, ↓ PEF, ↓ oxy máu)
- ↓ HA hoặc các TC của rối loạn chức năng cơ quan (như ↓ trương lực, ngất, đại tiện không tự chủ)
- Các TC tiêu hóa nặng như đau bụng quặn dữ dội, nôn mửa nhiều lần, đặc biệt là sau khi tiếp xúc với các dị nguyên không phải thức ăn.
Bệnh cảnh lâm sàng 2: Cần yếu tố dị nguyên [18]
- Khởi phát cấp tính của hạ HA hoặc co thắt phế quản hay liên quan đến thanh quản
- Sau khi tiếp xúc với một dị nguyên đã biết hoặc có khả năng cao là dị nguyên đối với bệnh nhân đó (vài phút đến vài giờ)
- Ngay cả khi không có tổn thương da điển hình
Tiêu chuẩn chẩn đoán theo Bộ Y tế Việt Nam 2017
Bệnh cảnh lâm sàng 1: Không cần yếu tố dị nguyên [1]
- Triệu chứng cấp tính (vài phút-vài giờ) có triệu chứng da- niêm (nổi mề đay, ngứa, phù mạch…) kèm ít nhất 1 trong 2 các triệu chứng sau:
- Hô hấp: Khó thở, khò khè, rít thanh quản, giảm oxi máu.
- Tuần hoàn: Tụt huyết áp hoặc triệu chứng kết hợp với rối loạn chức năng cơ quan đích
Bệnh cảnh lâm sàng 2: Cần yếu tố dị nguyên [1]
- Có ít nhất 02 trong các triệu chứng sau, xuất hiện nhanh sau khi tiếp xúc với một chất có thể là dị nguyên
- Da niêm Nổi mề đay, ngứa, phù mạch, ngứa
- Hô hấp Khó thở, khò khè, thở rít, giảm oxi máu
- Tuần hoàn Tụt huyết áp hay hậu quả tụt HA: ngất, Giảm trương lực, tiểu không tự chủ..
- Tiêu hóa Đau quặn bụng, nôn ói
Bệnh cảnh lâm sàng 3: Cần yếu tố dị nguyên nghi ngờ [1]
- Tụt huyết áp đột ngột (vài phút đến vài giờ) sau khi tiếp xúc với một chất nghi ngờ mà người bệnh đã từng bị dị ứng
- NL: HAmax30% HA nền của bn
- TE: ↓ >30% HA max hoặc ↓ HAmax so với tuổi (↓ HAmax < 70mmHg).
Chẩn đoán phân biệt:
- Các trường hợp sốc: sốc tim, sốc giảm thể tích, sốc nhiễm khuẩn.
- Tai biến mạch máu não.
- Các nguyên nhân đường hô hấp: COPD, cơn hen phế quản, khó thở thanh quản (do dị vật, viêm).
- Các bệnh lý ở da: mày đay, phù mạch.
- Các bệnh lý nội tiết: cơn bão giáp trạng, hội chứng carcinoid, hạ đường máu.
- Các ngộ độc: rượu, opiat, histamin [1].
PHÂN LOẠI PHẢN VỆ THEO MỨC ĐỘ CỦA TRIỆU CHỨNG
Thông tư số 51/2017/TT-BYT ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Y Tế) 17, PV được chia thành 4 mức độ [1].
- Nhẹ (độ I): Chỉ có các triệu chứng da, tổ chức dưới da và niêm mạc như mày đay, ngứa, phù mạch [1].
- Nặng (độ II): có từ 2 biểu hiện ở nhiều cơ quan:
Mày đay, phù mạch xuất hiện nhanh.
Khó thở nhanh nông, tức ngực, khàn tiếng, chảy nước mũi.
Đau bụng, nôn, ỉa chảy.
Huyết áp chưa tụt hoặc tăng, nhịp tim nhanh hoặc loạn nhịp [1].
- Nguy kịch (độ III): biểu hiện ở nhiều cơ quan với mức độ nặng hơn như sau:
Đường thở: tiếng rít thanh quản, phù thanh quản.
Thở: thở nhanh, khò khè, tím tái, rối loạn nhịp thở.
Rối loạn ý thức: vật vã, hôn mê, co giật, rối loạn cơ tròn.
Tuần hoàn: sốc, mạch nhanh nhỏ, tụt huyết áp [1].
- Ngừng tuần hoàn (độ IV): Biểu hiện ngừng hô hấp, ngừng tuần hoàn.
XỬ TRÍ CẤP CỨU PHẢN VỆ
Xử trí phản vệ nhẹ (độ I)
- Sử dụng thuốc Methylprednisolon hoặc Diphenhydramin uống hoặc tiêm tùy tình trạng người bệnh [1].
- Tiếp tục theo dõi ít nhất 24 giờ để xử trí kịp thời [1].
Xử trí cấp cứu phản vệ mức độ nặng, nguy kịch (độ II, III)
- Ngừng ngay tiếp xúc với thuốc hoặc dị nguyên (nếu có)
- Tiêm hoặc truyền Adrenalin (theo phác đồ)
- Cho người bệnh nằm tại chỗ, đầu thấp, nghiêng trái nếu có nôn.
- Thở oxy: người lớn 6-10l/phút, trẻ em 2-4l/phút qua mặt nạ hở.
- Đánh giá tình trạng hô hấp, tuần hoàn, ý thức và các biểu hiện ở da, niêm mạc của người bệnh.
- Thiết lập đường truyền adrenalin tĩnh mạch với đường truyền thông thường nhưng với kim tiêm to (cỡ 14 hoặc 16G) hoặc với catheter tĩnh mạch và một đường truyền tĩnh mạch thứ hai để truyền dịch nhanh.
- Hội ý với đồng nghiệp, tập trung xử lý báo cáo cấp trên, hội chẩn với bác sĩ chuyên khoa cấp cứu, hồi sức và/ hoặc chuyên khoa dị ứng [1].
Phác đồ sử dụng adrenalin và truyền dịch
- Mục tiêu: nâng và duy trì ổn định HA tối đa của người lớn lên ≥ 90mmHg, trẻ em ≥ 70mmHg và không còn các dấu hiệu về hô hấp như thở rít, khó thở; dấu hiệu về tiêu hóa như nôn mửa, ỉa chảy [1].
- Thuốc adrenalin 1mg = 1ml = 1 ống, tiêm bắp:
- Trẻ sơ sinh hoặc trẻ < 10kg: 0,2ml (tương đương 1/5 ống).
- Trẻ khoảng 10 kg: 0,25ml (tương đương 1/4 ống).
- Trẻ khoảng 20 kg: 0,3ml (tương đương 1/3 ống).
- Trẻ > 30kg: 0,5ml (tương đương 1/2 ống).
- Người lớn: 0,5-1 ml (tương đương 1/2-1 ống).
- Theo dõi huyết áp 3-5 phút/lần.
- Tiêm nhắc lại adrenalin liều như khoản 1 mục IV 3-5 phút/lần cho đến khi huyết áp và mạch ổn định.
- Nếu mạch không bắt được và huyết áp không đo được, các dấu hiệu hô hấp và tiêu hóa nặng lên sau 2-3 lần tiêm bắp như khoản 1 mục IV hoặc có nguy cơ ngừng tuần hoàn phải:
- Nếu chưa có đường truyền tĩnh mạch: Tiêm tĩnh mạch chậm dung dịch adrenalin 1/10.000 (1 ống adrenalin 1mg pha với 9ml nước cất = pha loãng 1/10). Liều adrenalin tiêm tĩnh mạch chậm trong cấp cứu phản vệ chỉ bằng 1/10 liều adrenalin tiêm tĩnh mạch trong cấp cứu ngừng tuần hoàn. Liều dùng:
- Người lớn: 0,5-1 ml (dung dịch pha loãng 1/10.000=50-100µg) tiêm trong 1-3 phút, sau 3 phút có thể tiêm tiếp lần 2 hoặc lần 3 nếu mạch và huyết áp chưa lên. Chuyển ngay sang truyền tĩnh mạch liên tục khi đã thiết lập được đường truyền.
- Trẻ em: Không áp dụng tiêm tĩnh mạch chậm.
- Nếu đã có đường truyền tĩnh mạch, truyền tĩnh mạch liên tục adrenalin (pha adrenalin với dung dịch natriclorid 0,9%) cho người bệnh kém đáp ứng với adrenalin tiêm bắp và đã được truyền đủ dịch. Bắt đầu bằng liều 0,1 µg/kg/phút, cứ 3-5 phút điều chỉnh liều adrenalin tùy theo đáp ứng của người bệnh.
- Đồng thời với việc dùng adrenalin truyền tĩnh mạch liên tục, truyền nhanh dung dịch natriclorid 0,9% 1.000ml-2.000ml ở người lớn, 10-20ml/kg trong 10-20 phút ở trẻ em có thể nhắc lại nếu cần thiết.
- Khi đã có đường truyền tĩnh mạch adrenalin với liều duy trì huyết áp ổn định thì có thể theo dõi mạch và huyết áp 1 giờ/lần đến 24 giờ.
- Xử trí tiếp theo [1].
- Hỗ trợ hô hấp, tuần hoàn
- Nếu không nâng được huyết áp theo mục tiêu sau khi đã truyền đủ dịch và adrenalin, có thể truyền thêm dung dịch keo (huyết tương, albumin hoặc bất kỳ dung dịch cao phân tử nào sẵn có).
- Thuốc khác:
- Methylprednisolon 1-2mg/kg ở người lớn, tối đa 50mg ở trẻ em hoặc hydrocortison 200mg ở người lớn, tối đa 100mg ở trẻ em, tiêm tĩnh mạch (có thể tiêm bắp ở tuyến cơ sở).
- Kháng histamin H1 như Diphenhydramin tiêm bắp hoặc tĩnh mạch: người lớn 25-50mg và trẻ em 10-25mg.
- Kháng histamin H2 như ranitidin: ở người lớn 50mg, ở trẻ em 1mg/kg pha trong 20ml Dextrose 5% tiêm tĩnh mạch trong 5 phút.
- Glucagon: sử dụng trong các trường hợp tụt huyết áp và nhịp chậm không đáp ứng với adrenalin. Liều dùng: người lớn 1-5mg tiêm tĩnh mạch trong 5 phút, trẻ em 20-30µg/kg, tối đa 1mg, sau đó duy trì truyền tĩnh mạch 5-15µg/phút tùy theo đáp ứng lâm sàng. Bảo đảm đường thở tốt vì glucagon thường gây nôn.
- Có thể phối hợp thêm các thuốc vận mạch khác: dopamin, dobutamin, noradrenalin truyền tĩnh mạch khi người bệnh có sốc nặng đã được truyền đủ dịch và adrenalin mà huyết áp không lên.
- Theo dõi [1].
- Trong giai đoạn cấp: theo dõi mạch, huyết áp, nhịp thở, SpO2 và tri giác 3-5 phút/lần cho đến khi ổn định.
- Trong giai đoạn ổn định: theo dõi mạch, huyết áp, nhịp thở, SpO2 và tri giác mỗi 1-2 giờ trong ít nhất 24 giờ tiếp theo.
- Tất cả các người bệnh phản vệ cần được theo dõi ở cơ sở khám, chữa bệnh đến ít nhất 24 giờ sau khi huyết áp đã ổn định và đề phòng phản vệ pha 2.
- Ngừng cấp cứu: nếu sau khi cấp cứu ngừng tuần hoàn tích cực không kết quả.
PHÒNG NGỪA PHẢN VỆ
Theo Thông tư 51/2017/TT-BYT, trước khi kê đơn thuốc hoặc chỉ định sử dụng thuốc, bác sĩ, người kê đơn thuốc hoặc nhân viên y tế có thẩm quyền phải khai thác kĩ tiền sử dị ứng thuốc, dị nguyên của người bệnh [1].
Bảng 1. 2. Nội dung khai thác tiền sử dị ứng

Tất cả thông tin liên quan đến dị ứng, dị nguyên phải được ghi vào sổ khám bệnh, bệnh án, giấy ra viện, giấy chuyển viện. Khi đã xác định được thuốc hoặc dị nguyên gây phản vệ, bác sĩ, nhân viên y tế phải cấp cho người bệnh thẻ theo dõi dị ứng ghi rõ tên thuốc hoặc dị nguyên gây dị ứng, cần giải thích kĩ và nhắc người bệnh cung cấp thông tin này cho bác sĩ, nhân viên y tế mỗi khi khám chữa bệnh [1].
Bảng 1. 3. Mẫu thẻ theo dõi dị ứng

Các chỉ định làm test da cũng như kỹ thuật làm test da như test lẩy da và test nội bì cũng được quy định rất rõ theo phụ lục VIII và phụ lục IX của thông tư [1].
QUY TRÌNH ĐIỀU DƯỠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH PHẢN VỆ
Nhận định tình trạng người bệnh
- Đánh giá tình trạng hô hấp [5], [17].
- Tần số, biện độ, kiểu thở
- Dấu hiệu suy hô hấp: tím tái, co kéo cơ hô hấp, vật vã, hốt hoảng…
- Đánh giá tình trạng tuần hoàn máu
- HA, mạch, nhịp tim
- Dấu hiệu giảm tưới máu tạng (cơ quan): Da lạnh, ẩm, xanh tái, nổi vân tím. Đái ít, vô niệu. Vật vã, kích thích, lờ đờ, chậm chạp, hôn mê, lú lẫn…
- Nhận định các biểu hiện triệu chứng của nguyên nhân gây ra PV
- Đau ngực, vã mồ hôi
- Nôn ra máu, đại tiện phân đen hoặc phân lỏng nhiều nước
- Toàn thân có biểu hiện tình tạng nhiễm trùng, nhiễm độc…
- Tiền sử bệnh
- Hỏi bệnh sử (qua người bệnh, người nhà…)
- Hỏi tiền sử tiếp xúc dị nguyên và tiền sử dị ứng thuốc
Chẩn đoán điều dưỡng
- Nguy cơ suy tuần hoàn cấp liên quan đến giãn mạch ngoại vi
- Nguy cơ suy hô hấp liên quan đến co thắt phế quản và thiếu oxy
- Người bệnh lo sợ, hoảng hốt liên quan đến các phản ứng của dị nguyên gây ra.
- Nguy cơ suy thận liên quan đến tụt HA làm giảm tưới máu thận
- Rối loạn chức năng hoạt động của não liên quan đến thiếu oxy não
- Các chăm sóc cơ bản: ăn uống, vệ sinh, theo dõi [5], [17].
Lập kế hoạch chăm sóc
Qua nhận định, ĐD cần phân tích, tổng hợp các dữ liệu để xác định nhu cầu cẩn thiết của bệnh nhân, từ đó lập ra những kế hoạch chăm sóc cụ thể đề xuất những vấn đề ưu tiên, thứ tự thực hiện các vấn đề cho từng trường hợp cụ thể.
Tăng cường tuần hoàn tới các cơ quan [5], [17].
- Cầm máu (nếu chảy máu)
- Nằm đầu thấp để đảm bảo tuần hoàn não
- Hồi phục khối lượng tuần hoàn: truyền dịch, truyền máu, chuẩn bị và phụ giúp bác sĩ đặt catheter tĩnh mạch trung tâm để bù nước, điện giải và đánh giá tiến triển của sốc.
- Theo dõi đáp ứng với dịch truyền và đề phòng quá tải tuần hoàn.
Làm thông thoáng đường hô hấp [5], [17]
- Hút đờm dãi, đặt canuyn đề phòng tụt lưỡi.
- Cho thở oxy theo y lệnh
- Phụ giúp bác sĩ đặt nội khí quản, thở máy trong các trường hợp sốc nặng.
- Theo dõi màu sắc da niêm mạc, tần số thở, kiểu thở
- Ghi nhận và trình các kết quả xét nghiệm khí máu động mạch
Thực hiện y lệnh [5], [17]
- Thuốc và các xét nghiệm đầy đủ và chính xác
- Đặt sonde tiểu để theo dõi lưu lượng nước tiểu, tiên lượng sốc
- Đặt sonde dạ dày trong trường hợp nghi ngờ mất máu do chảy máu dạ dày để theo dõi, điều trị và nuôi dưỡng.
Theo dõi liên tục các thông số sau [5], [17]
- Theo dõi HA 15 phút/lần cho đến khi HA đạt 90/60 mmHg. Sau đó theo dõi 3 giờ/lần cho đến khi mạch và HA trở về bình thường và ổn định.
- Áp lực tĩnh mạch trung tâm 15 phút/lần khi làm xét nghiệm và 1 – 3 giờ/lần trong quá trình điều trị
- Theo dõi đề phòng trụy mạch
- Nhịp thở: để phát hiện và xử lý suy hô hấp kịp thời
- Đo thân nhiệt 2 – 3 giờ/lần
- Theo dõi nước tiểu từng giờ. Nếu có nước tiểu và nước tiểu tăng dần là tốt
Chăm sóc toàn thân, nuôi dưỡng và giáo dục sức khỏe [5], [17]
- Chăm sóc về tinh thần: nhẹ nhàng, ân cần để BN yên tâm
- Vệ sinh thân thể cho BN tại giường
- Hướng dẫn BN và người nhà những chăm sóc khi về gia đình
Giảm lo lắng và sợ hãi [5], [17]
- Để BN nằm nơi yên tĩnh, thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông
- ĐD luôn có mặt để theo dõi, động viên BN
- Giải thích và trấn an BN
- Giữ ấm hoặc hạ nhiệt cho BN.
- Thực hiện kế hoạch chăm sóc cần ghi rõ giờ thực hiện các hoạt động chăm sóc. Các hoạt động chăm sóc cần được tiến hành theo thứ tự ưu tiên trong kế hoạch chăm sóc, các hoạt động theo dõi cần được thực hiện đúng khoảng cách thời gian trong kế hoạch, các thông số cần được ghi chép đầy đủ, chính xác và báo cáo kịp thời.
Đảm bảo tuần hoàn [5], [17]
- Tư thế : người bệnh nằm đầu thấp, chân cao
- Adrenalin: là thuốc quyết định thành công điều trị (liều lượng, đường tiêm theo y lệnh của bác sĩ). Trong khi chờ y lệnh của bác sĩ, ĐD tiêm ngay Adrenalin theo phác đồ
- Thực hiện y lệnh thuốc : thuốc chống dị ứng và các thuốc khác
- Đặt đường truyền tĩnh mạch, truyền dịch theo y lệnh
- Đo áp lực tĩnh mạch trung tâm, chuẩn bị dụng cụ và hỗ trợ bác sĩ làm thủ thuật.
Đảm bảo hô [5], [17]
- Tư thế nằm nghiêng an toàn nếu người bệnh nôn, hôn mê
- Hút đờm dãi, đặt canuyl miệng nếu người bệnh tụt lưỡi
- Bóp bóng Ambu nếu người bệnh ngừng thở hoặc thở yếu
- Cho thở oxy mũi 4 lít/phút
- Hỗ trợ đặt nộ khí quản và thở máy nếu suy hô hấp hoặc sốc nặng: chuẩn bị dụng cụ đạt nội khí quản, chuẩn bị máy thở.
Loại bỏ, cách ly nguyên nhân [5], [17]
- Khi người bệnh có dấu hiệu bồn chồn, lo lắng, hoảng hốt, ĐD phải lập tức cho ngừng ngay các chất tiếp xúc như thức ăn, quả và thức uống hoặc thuốc tiêm truyền…
- Nếu nguyên nhân qua đường tiêu hóa: rửa dạ dày, dùng than hoạt hoặc sorbitol.
Thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng theo y lệnh [5], [17]
Xét nghiệm cơ bản: điện tim, công thức máu, điện giải đồ, ure, creatinine, đường máu, khí máu động mạch
Lập bảng theo dõi [5], [17]
- Tùy theo tình trạng cụ thể của người bệnh
- Mạch, HA và các dấu hiệu tưới máu ngoại biên: 15 phút/lần đến khi HA lên 90/60 mmHg, sau đó 3 giờ/lần đến khi HA ổn định.
- Nhịp thở, SpO2 : 15 – 30 phút/lần khi đang suy hô hấp
- Cân bằng nước vào ra và theo dõi cân nặng : hàng ngày
- Sự bài tiết: đặt ống thông tiểu để lưu ống thông và theo dõi lượng nước tiểu 1 giờ/lần, đến khi HA ổn định, nếu nước tiểu ít, vô niệu trong 6 giờ là tiên lượng xấu, phải thông báo ngay cho bác sĩ.
- Đặt ống thông dạ dày: để theo dõi xuất huyết tiêu hóa (nếu có) và nuôi dưỡng người bệnh nếu người bệnh không ăn được đường miệng.
- Theo dõi tình trạng ý thức của người bệnh
Phòng bệnh và giáo dục sức khỏe
- Thông báo cho người bệnh và người thân biết: người bệnh bị sốc phản vệ, và chất gây sốc phản vệ.
- Cung cấp cho người bệnh và người nhà biết nguyên nhân, các biểu hiện cũng như diễn biến của sốc phản vệ.
- Dặn dò người bệnh và người nhà phải báo cáo tiền sử dị ứng nhất là tiền sử dị ứng thuốc.
- Hướng dẫn người bệnh loại bỏ tất cả những nguyên nhân gây dị ứng và sốc, tránh tiếp xúc với các tác nhân gây dị ứng, nếu SPV do thuốc phải thông báo cho bác sĩ biết mỗi khi khám bệnh.
- Không tự ý dùng thuốc khi chưa có chỉ định của bác sĩ.
- Tuyệt đối không sử dụng, tiếp xúc với các loại thuốc đã gây SPV trong tiền sử.
- Đối với nhân viên y tế:
- Phải cảnh giác với tất cả những người bệnh có nguy cơ sốc: trước tiên tiêm truyền kháng sinh và làm test cho người bệnh phải hỏi kỹ tiền sử dị ứng thuốc.
- Khi tiêm truyền cho người bệnh luôn phải có hộp thuốc phòng chống sốc bên cạnh [5], [17].
Đánh giá
- Người bệnh sốc phản vệ được chăm sóc tốt khi tình trạng lâm sàng của người bệnh được cải thiện, kiểm soát.
- Phát hiện sớm các dị nguyên, cách ly hiệu quả các dị nguyên
- Người bệnh được theo dõi chặt chẽ không để xảy ra các biến chứng
- Người bệnh và gia đình yên tâm hợp tác điều trị [5], [17].
THỰC TRẠNG CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Nghiên cứu trên thế giới
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, nghiên cứu năm 2013 trên tổng 1172 người tham gia khảo sát có 84,7% trả lời đúng các câu hỏi về triệu chứng của sốc phản vệ. Mặc dù 62,6% trong nhóm biết chính xác các bước điều trị phản vệ, 44,7% trong số họ đồng ý sử dụng adrenalin nếu họ nghi ngờ đối tượng bị sốc phản vệ. Mọt phần ba chỉ định đường dùng adrenalin thích hợp. 85,2% người tham gia đồng ý giới thiệu bệnh nhân đến phòng khám dị ứng [10].
Tại Ấn Độ năm 2015, H.S. Drupad và H. Nagabushan đã tiến hành nghiên cứu trên 265 đối tượng, Trong số 151 (56,9%) đối tượng trả lời đúng rằng adrenalin là thuốc đầu tay để điều trị sốc phản vệ, 40 (26,4%) đối tượng trả lời đúng liều adrenalin và 25 (16,5%) đối tượng chọn tiêm bắp là đường dùng thích hợp nhất [14].
Nghiên cứu tại Hàn Quốc năm 2020 (nhận thức của NVYT sau khi được đào tạo 1 khóa học 90 phút về phản vệ và hen), điểm nhận thức tăng từ 51,7 % lên đến 91,7%). Nghiên cứu cho thấy nâng cao nhận thức của NVYT về sốc phản vệ thông qua giáo dục và đào tạo là một hoạt động đơn giản và mang lại hiệu quả cao [12].
Nghiên cứu tại Ấn độ năm 2020 tại khoa nhi về dị ứng thức ăn (90% có kiến thức đúng và 95% tự tin có khả năng xử trí dị ứng thức ăn, 91% NVYT mong muốn có thêm kiến thức thông qua các buổi đào tạo định kỳ [16] .
Nghiên cứu tại Việt Nam
Trước khi ban hành thông tư 51/2017 về chẩn đoán và xử trí phản vệ Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu về kiến thức thái độ hành vi của nhân viên y tế về phản vệ. Qua các nghiên cứu cho thấy rằng ĐD thiếu kiến thức về PV cũng như thiếu tự tin trong xử trí, chăm sóc bệnh nhân khi có phản vệ.
Nghiên cứu của Tạ Thị Anh Thơ (2010) đã tiến hành nghiên cứu trên 140 ĐD làm việc tại các khoa lâm sàng của bệnh viện K và cho thấy 17% ĐD nhận thức không đúng khi coi các chế phẩm máu không nằm trong nguyên nhân PV, trên 60% trả lời sai về các biểu hiện tuần hoàn, hô hấp của PV, 25% trả lời sai về các nguyên tắc ngừng tiếp xúc dị nguyên và cho bệnh nhân nằm tại chỗ trong xử trí PV, 36,4% không trả lời đúng về thời gian theo dõi huyết áp, và 72,1% trả lời sai về nồng độ kháng sinh thử test 9 [7].
Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thanh Vân (2013) tại Bệnh viện Bắc Thăng Long kết quả cho thấy trên 90% ĐD có kiến thức đúng về nguyên nhân gây sốc phản vệ, các biện pháp dự phòng và cách xử trí. Hầu hết NVYT (>90-100%) ĐD có kiến thức để nhận biết triệu chứng biểu hiện của SPV, cách sử dụng, liều dùng Adrenalin ở người lớn. Tuy nhiên, tỷ lệ phát hiện đúng các triệu chứng đầu tiên của SPV còn thấp (56,2%) và tỷ lệ ĐD hiểu sai về liều lượng Adrenalin ở trẻ em (38%), đặc biệt còn 47,4% ĐD cho là vẫn thử test kháng sinh với người bệnh đã bị dị ứng với kháng sinh đó 8 [6].
Sau khi ban hành thông tư 51/2017 về chẩn đoán và xử trí phản vệ Tại Việt Nam. Các khóa đào tạo tập huấn được tiến hành liên tục, bên cạnh đó các hệ thống y tế tư nhân phát triển mạnh mẽ nên nghiên cứu về kiến thức thái độ hành vi của nhân viên y tế về phản vệ cũng có sự thay đổi tích cực
Nghiên cứu Lê Bá Ngọc Thạch 2020 Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác trên 90 điều dưỡng. Cho thấy Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức về phòng, chẩn đoán và xử trí sốc phản vệ là: 52% điều dưỡng trả lời đúng khái niệm phản vệ; 64,4% điều dưỡng hiểu biết về nguyên nhân gây sốc phản vệ; 21,1% điều dưỡng liệt kê đủ 5 nhóm biểu hiện chính của sốc phản vệ độ II. 8,9% liệt kê đúng các triệu chứng gợi ý sốc phản vệ; 94,4% biết cần phải ngừng tiếp xúc với dị nguyên khi phát hiện sốc, đặt người bệnh nằm đầu thấp và theo dõi dấu hiệu sinh tồn 3 – 5 phút một lần. 90,0% điều dưỡng biết liều lượng tiêm Adrenalin, 74,7% điều dưỡng biết cần theo dõi người bệnh 24h sau khi người bệnh ổn định. 43,3% điều dưỡng biết cả ba biện pháp phòng sốc phản vệ [4].
Nghiên cứu gần đây của Hoàng Thị Giang (2022) tại bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City trên 245 điều dưỡng. Kết quả cho thấy Điểm trung bình kiến thức chung về phản vệ trong nghiên cứu là 8 điểm. Hầu hết các ĐD đều tự tin vào khả năng xử trí bệnh nhân phản vệ của mình (83,3%). Tỷ lệ cao các ĐD (90,2%) đã từng gặp bệnh nhân bị phản vệ nhưng có ít hơn (71%) trong số họ đã từng xử trí bệnh nhân bị phản vệ; chỉ 62,1% ĐD đã xử trí đúng phác đồ của Bộ Y Tế đưa ra. Các ĐD có kiến thức tốt với điểm trung bình là 8 điểm, thái độ tích cực tham gia học hỏi các kiến thức về phản ứng phản vệ, mưc độ tuân thủ thực hành ở mức cao là 8 điểm [3] .
Kết luận: Các Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa kiến thức,thái độ, thực hành của ĐD. Đối tượng thực hành nhận biết phản vệ đạt khả năng xử trí phản vệ cao hơn so với những người thực hành nhận biết phản vệ chưa đạt. Nghiên cứu cho thấy vấn đề đào tạo, tập huấn là vẫn đề có tính cấp thiết và lâu dài
KHUNG LÝ THUYẾT CHO NGHIÊN CỨU
Dựa theo ASK, mô hình đánh giá toàn diện năng lực nhân sự
ASK là viết tắt của Attitude (thái độ) – Skill (kỹ năng) – Knowledge (kiến thức), tạo thành mô hình tiêu chuẩn nghề nghiệp được nhiều doanh nghiệp trên thế giới áp dụng [13].
Mô hình ASK được phát triển vào năm 1956 bởi Benjamin Bloom – nhà tâm lý học giáo dục người Mỹ [13].
Ngày nay, ASK đã được sử dụng phổ biến và chuẩn hóa thành mô hình đánh giá năng lực nhân sự đầy đủ, gồm 3 yếu tố [13].
Các yếu tố trong mô hình ASK
Phẩm chất/ thái độ – Attitude: Nhóm thuộc về phạm vi tình cảm, cảm xúc. Là những trạng thái tinh thần, nhận thức và hành vi của nhân sự khi tiếp nhận và xử lý công việc.
Kỹ năng – Skills: Là năng lực ứng dụng kiến thức để hoàn thành công việc. Với các cấp độ như: bắt chước, ứng dụng, vận dụng và vận dụng sáng tạo.
Kiến thức – Knowledge: Là yếu tố thuộc về năng lực tư duy của mỗi cá nhân. Kiến thức bao gồm những dữ liệu thông tin, sự hiểu biết có được nhờ quá trình giáo dục, tự trải nghiệm hoặc tự học [13].
Năng lực không mang tính chung mà khi nói đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói đến năng lực thuộc về một hoạt động cụ thể nào đó [13]. Trong hoạt động Y tế và trong vấn đề chăm sóc, xử trí phản vệ của khối Điều dưỡng
Dựa theo thông tư 51/2017/TT-BYT và WAO (2020)
Kiến thức về phản vệ: bao gồm các kiến thức về khái niệm, nguyên nhân, triệu chứng, cơ chế, các thuốc sử dụng trong xử trí bệnh nhân, liều lượng thuốc, các kiến thức về phòng ngừa và xử trí bệnh nhân phản vệ rất cần thiết, là cơ sở cho những thực hành đúng khi tiến hành cấp cứu bệnh nhân [18], [1].
Mức độ tuân thủ thực hành: Thực hành xử trí phản vệ là những hành động mà ĐD làm khi bệnh nhân bị các triệu chứng của phản vệ, từ các xử trí ban đầu, sử dụng thuốc cũng như các theo dõi, đánh giá người bệnh theo thông tư 51/2017/TT-BYT của Bộ Y Tế và guidelines năm 2020 của tổ chức dị ứng thế giới (WAO)
Tìm hiểu kiến thức và thực hành của điều dưỡng với phản vệ tại bệnh viện nhằm xác định mối liên quan giữa các yếu tố qua đó tìm được các biện pháp phù hợp để nâng cao năng lực cho điều dưỡng.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu:
Điều dưỡng viên tại các khoa lâm sàng của Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Đà Nẵng.
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Điều dưỡng viên có hợp đồng lao động chính thức.
- Điều dưỡng đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Điều dưỡng đang đi học, nghỉ thai sản, đang nghỉ ốm trong thời gian thu thập số liệu.
Số lượng mẫu nghiên cứu
- Cỡ mẫu:

Trong đó:
P: tỷ lệ ước tính
d: độ chính xác tuyệt đối mong muốn
Z: Z score tương ứng với mức ý nghĩa thống kê mong muốn, thường lấy 95% – 95% CI, 2-side test Z = 1.96
n: cỡ mẫu khi quần thể >10.000, N=151 (tổng số điều dưỡng toàn bệnh viện)
Nếu cỡ dân số quần thể dưới 10.000, cỡ mẫu cho xác định một tỷ lệ được hiệu
chỉnh: Nh = n/(1+(n/N))=110
Cỡ mẫu: 110 nhân viên y tế của các khoa lâm sàng: khoa Nội tổng hợp, khoa Nội Thần Kinh. Khoa Ngoại Tổng hợp, khoa Sản, khoa Nhi, khoa Hồi sức cấp cứu, Chẩn đoán hình ảnh.
Phương pháp chọn mẫu
Chon mẫu toàn bộ Điều dưỡng viên tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Đà Nẵng
THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 05/2024 đến tháng 10/2024.
Địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Đà Nẵng. Địa chỉ: Ngã ba đường Nguyễn Hữu Thọ & 30/4, Hải Châu, Đà Nẵng.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024/ Đánh giá kiến thức và kỹ năng thực hành về xử trí phản vệ của điều dưỡng bệnh viện vinmec đà nẵng năm 2024
Đánh giá kiến thức và kỹ năng thực hành về xử trí phản vệ của điều dưỡng bệnh viện vinmec đà nẵng năm 2024 Đánh giá kiến thức và kỹ năng thực hành về xử trí phản vệ của điều dưỡng bệnh viện vinmec đà nẵng năm 2024


