Đánh giá cán bộ công chức cấp xã từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

Đánh giá cán bộ công chức cấp xã từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

Đánh giá cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

1. Tính cấp thiết của đề tài

Chính quyền cấp cơ sở (hay còn gọi là chính quyền cấp xã) có một vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền Nhà nước với nhân dân, thực hiện hoạt động quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo thẩm quyền được phân cấp, đảm bảo cho các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được triển khai thực hiện trong cuộc sống. Đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) cơ sở (hay còn gọi CBCC cấp xã) có vai trò hết sức quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành công vụ. Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ CBCC cơ sở. Trong nhiều văn kiện của Đảng đều khẳng định vai trò của cán bộ nói chung và cán bộ cấp cơ sở nói riêng đối với sự nghiệp cách mạng. CBCC cấp xã là những người gần dân nhất, sát dân nhất. Chủ trương, chính sách, pháp luật dù có đúng đắn đến mấy nhưng sẽ khó có được hiệu lực, hiệu quả cao nếu như không được triển khai thực hiện bởi một đội ngũ CBCC cấp xã có năng lực pháp luật tốt. Chính vì đội ngũ CBCC cấp xã có vai trò quan trọng như vậy nên việc xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã vững vàng về chính trị, văn hóa, có đạo đức lối sống trong sạch, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực để thực thi chức năng, nhiệm vụ theo đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và phục vụ nhân dân… là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị.

Đây cũng là một trong những nội dung rất quan trọng của công tác cán bộ. Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của hệ thống chính trị và đội ngũ CBCC cấp xã đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đầu tư xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã có phẩm chất, đạo đức và năng lực ngang tầm sự nghiệp đổi mới mang ý nghĩa như sự đầu tư cho hạ tầng cơ sở trong công tác cán bộ. Do vậy, nâng cao năng lực cho CBCC cấp xã là một yêu cầu bức thiết nhằm góp phần xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã trong sạch, vững mạnh, đủ khả năng thực thi chức năng, nhiệm vụ theo đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, để thực hiện trọng trách là “công bộc” của nhân dân.

Trong quyết định số 1557/QĐ-TTg, ngày 18-10-2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức” nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới công tác đánh giá cán bộ, đánh giá công chức. Việc đánh giá phải căn cứ vào kết quả, hiệu quả công tác của CBCC; thẩm quyền đánh giá thuộc về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan sử dụng CBCC.Chú trọng thành tích, công trạng, kết quả công tác của CBCC.Coi đó là thước đo chính để đánh giá phẩm chất, trình độ, năng lực của CBCC”.

Đánh giá CBCC là khâu quan trọng đầu tiên của công tác quản lý nhân sự trong một tổ chức, có ý nghĩa quan trọng và là cơ sở để quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chế độ, chính sách đối với CBCC cũng như giúp CBCC phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm, tiến bộ không ngừng trong việc nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực và hiệu quả công tác của CBCC.Từ những phân tích nêu trên về tầm quan trọng của khâu đánh giá CBCC trong công tác quản lý CBCC cấp xã ở tỉnh Quảng Nam hiện nay, tôi chọn đề tài “Đánh giá cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” để nghiên cứu, tìm hiểu.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và pháp luật về đánh giá CBCC cấp xã, qua khảo sát, đánh giá thực trạng CBCC cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, luận văn đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện đánh giá CBCC cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng, trên phạm vi cả nước nói chung.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích đề ra, Luận văn có nhiệm vụ:

– Nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm đánh giá CBCC cấp xã mà các địa phương đã làm có hiệu quả để áp dụng trong công tác đánh giá CBCC cấp xã ở tỉnh Quảng Nam.

– Đánh giá thực trạng CBCC cấp xã từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế và xác định nguyên nhân của hạn chế.

– Đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện đánh giá CBCC đáp ứng yêu cầu CCHC ở nước ta hiện nay.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác đánh giá, phân loại CBCC cấp xã hàng năm ở tỉnh Quảng Nam.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác đánh giá CBCC tại 244 (207 xã, 25 phường, 12 thị trấn) đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

Về thời gian: Nguồn số liệu để phân tích thực trạng tác giả lấy trong khoảng thời gian từ 2012 đến 2016 và đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện đánh giá CBCC cấp xã giai đoạn 2017-2025.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về “Đánh giá chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”. Luận văn có kế thừa và phát triển những giải pháp về đánh giá chất lượng đối với cán bộ chủ chốt và công chức ở cơ sở của các công trình khoa học có liên quan.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như:

– Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, xử lý thông tin, phương pháp tổng hợp. Ngoài ra luận văn còn sử dụng, kế thừa thành quả của một số công trình nghiên cứu, bài viết, báo cáo, tài liệu liên quan.

– Phương pháp điều tra xã hội học thông qua 200 phiếu khảo sát.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần hệ thống hóa quy định pháp luật về CBCCvà đánh giá CBCC, xác định những nhân tố tác động đến việc đánh giá CBCCvà chất lượng CBCC; làm rõ ý nghĩa quan trọng của công tác đánh giá CBCC đối với việc nâng cao chất lượng CBCC.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn bổ sung những vấn đề lý luận góp phần làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về “Đánh giá cán bộ CBCC cấp xã từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam”. Luận văn là tài liệu tham khảo có ý nghĩa cho việc nghiên cứu, giảng dạy và nâng cao chất lượng của CBCC cấp xã, đáp ứng yêu cầu của công cuộc CCHC. Kết quả của luận văn còn sử dụng, tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy ở Trường chính trị tỉnh và những người làm công tác cán bộ.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục lục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về đánh giá cán bộ, công chức cấp xã.

Chương 2: Thực trạng đánh giá cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.

Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện đánh giá cán bộ, công chức cấp xã ở nước ta hiện nay.

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ

ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ

1.1. Khái niệm đánh giá cán bộ, công chức cấp xã

1.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã

Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định:“Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cán bộ cấp xã), là công dân Việt Nam, được bầu giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND), Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”.

1.1.2. Khái niệm đánh giá cán bộ, công chức cấp xã

Theo Đại từ điển tiếng Việt thì: “Đánh giá là nhận xét, bình phẩm về giá trị”. Còn dưới góc độ khoa học quản lý về đánh giá thì đó là quá trình thu thập, xử lý thông tin để định lượng tình hình và kết quả công việc giúp quá trình lập kế hoạch, quyết định và hành động có hiệu quả.

Đánh giá CBCC cấp xã là hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền trong kiểm tra, nhận xét CBCC trên cơ sở so sánh, đối chiếu giữa mục tiêu, tiêu chí xác định cho từng CBCC với tình hình thực tế của việc thi hành công vụ từ đó đưa ra các quyết định liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, khen thưởng, kỉ luật và các chế độ khác đối với CBCC cấp xã.

1.2. Nội dung, mục đích và ý nghĩa của đánh giá đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

1.2.1. Nội dung của đánh giá cán bộ, công chức cấp xã

1.2.1.1. Đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong, lề lối làm việc.

1.2.1.2. Đánh giá thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao

1.2.1.3. Đánh giá tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ

1.2.1.4. Đánh giá thái độ phục vụ nhân dân

1.2.2. Mục đích, ý nghĩa của đánh giá cán bộ, công chức cấp xã

1.2.2.1. Mục đích của đánh giá

Thứ nhất, đối với cá nhân CBCC cấp xã: Việc đánh giá giúp người CBCC có nhận thức rõ về bản thân trong thực thi nhiệm vụ.

Thứ hai, đối với chính quyền cấp xã: Giúp người lãnh đạo chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu của CBCC. Thông qua đánh giá CBCC, sẽ nhận thấy những khuyết điểm, hạn chế trong công tác tổ chức bộ máy, phân công công việc, trong kế hoạch hoạt động của cơ quan.

1.2.2.2. Ý nghĩa của đánh giá

Việc đánh giá là hoạt động thường xuyên, một trong chức năng của Nhà nước. Qua đánh giá sẽ góp phần nhìn nhận đúng thực trạng đội ngũ CBCC để từ đó có những giải pháp, biện pháp khắc phục yếu kém trong công tác tổ chức cán bộ, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC.

1.3. Phương pháp, tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức cấp xã

1.3.1. Phương pháp đánh giá

1.3.1.1. Phương pháp đánh giá theo nhận xét

Thực chất của phương pháp này là cách “bình bầu cuối năm”. Cuối năm, mỗi CBCC viết một bản kiểm điểm cá nhân, tự nhận xét, đánh giá về ưu, khuyết điểm của mình trong năm công tác;

1.3.1.2. Phương pháp đánh giá theo tiêu chuẩn và cho điểm

Theo phương pháp này thì ứng với các tiêu chuẩn là một bảng điểm cho một tiêu chuẩn. Thủ trưởng cơ quan đánh giá kết quả làm việc của CBCC sẽ cho điểm đối với mỗi CBCC, sau đó thông báo cho người được đánh giá biết

1.3.1.3. Phương pháp đánh giá theo giao kết hợp đồng

Với phương pháp này thì hằng năm thủ trưởng cơ quan ký kết với mỗi cá nhân CBCC một bản hợp đồng về nhiệm vụ công tác mà CBCC đó phải đảm nhiệm và hoàn thành trong năm.

1.3.1.4. Phương pháp đánh giá của đồng nghiệp

Phương pháp này tiến hành theo hình thức dùng phiếu hỏi ý kiến hay phỏng vấn trực tiếp. Trên cơ sở kết quả tổng hợp phiếu, tổng hợp ý kiến báo cáo và đưa ra ý kiến về mặt công tác hoặc về năng lực, đạo đức CBCC.

1.3.2. Tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức cấp xã

1.3.2.1. Tiêu chí về phẩm chất chính trị

Phẩm chất chính trị là động lực tinh thần thúc đẩy cán bộ, công chức các cấp vươn lên hoàn thành nhiệm vụ với hiệu quả cao nhất.

1.3.2.2. Tiêu chí về phẩm chất, đạo đức

Đạo đức cách mạng là nền tảng, là gốc, là sức mạnh của người cán bộ, công chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn; cây phải có gốc không có gốc thì cây héo; người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, không có đạo đức thì có tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”;

CBCC chính quyền cấp xã là người trực tiếp làm việc và sinh hoạt cùng với người dân. Cho nên đạo đức của người CBCCsẽ có tác động rất lớn đối với người dân, có ảnh hướng rất lớn đối với hiệu quả quản lý Nhà nước của chính quyền cấp xã

1.3.2.3. Tiêu chí về trình độ năng lực

Năng lực cũng là yếu tố rất quan trọng đối với người CBCC. Chính năng lực quyết định hiệu quả công việc của người CBCC.

Năng lực của chủ thể bao gồm nhiều yếu tố nhưng trong đó có 2 yếu tố quan trọng cơ bản tạo thành hai điều kiện cần và đủ cho chủ thể: đó là năng lực pháp luật và năng lực hành vi

1.3.2.4. Tiêu chí về hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ được giao

Thứ nhất là trình độ (trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức quản lý nhà nước, lý luận chính trị).

Trình độ văn hóa: Nó là nền tảng cho nhận thức, tiếp thu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng chủ trương, chính sách trong thực tiễn.

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Được hiểu là trình độ được đào tạo ở các lĩnh vực khác nhau theo cấp độ: Sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học.

Trình độ lý luận chính trị: Lý luận chính trị là cơ sở xác định lập trường quan điểm của CBCCNhà nước nói chung và CBCCchính quyền cấp xã nói riêng. Có trình độ lý luận chính trị giúp xây dựng được lập trường, quan điểm đúng đắn trong quá trình giải quyết công việc của tổ chức, của nhân dân theo đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Trình độ quản lý hành chính nhà nước: Quản lý hành chính Nhà nước là sự tác động mang tính tổ chức lên các quan hệ xã hội.

Thứ hai: sức khỏe (thể chất tâm lý): Sức khỏe của mỗi con người được đánh giá qua nhiều tiêu chí, song tiêu chí cơ bản nhất là thể lực và trí lực. Trí lực được đánh giá thông qua sự minh mẫn linh hoạt trong phản ứng xử lý công việc.

Đánh giá cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Đánh giá cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

1.3.2.5. Tiêu chí về uy tín trong công tác

Uy tín là kết quả của sự phấn đấu rèn luyện gian khổ, bền bỉ của bản thân cán bộ. Đặc biệt với người lãnh đạo cần phải giành lấy uy tín tuyệt đối trong tập thể bằng chính tài năng, đức độ, nghị lực, bằng ảnh hưởng tư tưởng và hành động thực tế của mình chứ không phải bằng danh hiệu và chức vụ hoặc bằng thủ đoạn và tiểu xảo.

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá cán bộ, công chức cấp xã

1.4.1. Yếu tố khách quan

1.4.2. Yếu tố chủ quan

1.5. Kinh nghiệm đánh giá cán bộ, công chức cấp xã tại một số địa phương ở Việt Nam

1.2.1. Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội

1.2.2. Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng

1.5.3. Kinh ngiệm của tỉnh Hưng Yên

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội và thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại tỉnh Quảng Nam

2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội

2.1.1.1. Vị trí và đặc điểm tự nhiên

2.1.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Nam

2.1.2. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Quảng Nam

2.1.2.1. Số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

* Về số lượng (thống kê đến thời điểm tháng 12/2016)

– Tổng số CBCC của UBND cấp xã tỉnh Quảng Nam: 5287 người. Cụ thể: (Xem bảng 2.2)

+ Tổng số cán bộ: 2521 người.

+ Tổng số công chức: 2766 người.

Bảng 2.2. Số lượng CBCC cấp xã tỉnh Quảng Nam phân theo chức danh

Các chức danhThời điểm 31/12/2016
Cán bộ cấp xã2521
Công chức chuyên môn2766
Tổng số5287

(Nguồn: Báo cáo thống kê số lượng, chất lượng CBCC cấp xã, tính đến tháng 12/2016 – Sở Nội vụ tỉnh Quảng Nam)

* Về cơ cấu

Bảng 2.3. Số lượng CBCC cấp xã tỉnh Quảng Nam phân theo cơ cấu, độ tuổi và thành phần dân tộc

Tổng sốGiới tínhDân tộcĐộ tuổi
5287NamNữKinhThiểu sốDưới

30

Từ 31 đến dưới 40Từ 41đến 50Từ 51 đến 60
Số lượng3884140341261161110323321227625
Tỷ lệ %73.526.5782220.844.123.211.9

(Nguồn: Báo cáo thống kê số lượng, chất lượng CBCC cấp xã, tính đến tháng 12/2016 – Sở Nội vụ tỉnh Quảng Nam)

Qua số liệu thống kê cho thấy, đội ngũ CBCC cấp xã tỉnh Quảng Nam có số lượng cơ bản đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý của địa phương.

2.1.2.2. Về trình độ đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Tính đến tháng 12/2016, tổng hợp trình độ đội ngũ CBCC cấp xã tỉnh Quảng Nam như sau:

Trình độ học vấn, chuyên môn (Xem bảng 2.4)

Bảng 2.4. Tổng hợp trình độ chuyên môn của CBCC cấp xã tỉnh Quảng Nam

Tổng sốBậc đào tạo
5287Thạc sỹĐại họcCao đẳngTrung cấpSơ cấp
Số lượng402.9101641895278
Tỷ lệ0.75553.135.85.35

(Nguồn: Báo cáo thống kê số lượng, chất lượng CBCC cấp xã, tính đến tháng 12/2016 – Sở Nội vụ tỉnh Quảng Nam)

Trình độ lý luận chính trị (Xem bảng 2.5)

Bảng 2.5. Tổng hợp trình độ lý luận chính trị của CBCC cấp xã tỉnh Quảng Nam

Tổng sốBậc đào tạo
5287Cử nhânCao cấpTrung cấpSơ cấp
Số lượng103004295682
Tỷ lệ0.195.6781.212.94

(Nguồn: Báo cáo thống kê số lượng, chất lượng CBCC cấp xã, tính đến tháng 12/2016 – Sở Nội vụ tỉnh Quảng Nam)

Trình độ tin học, ngoại ngữ, tiếng dân tộc (Xem bảng 2.6)

Bảng 2.6. Tổng hợp trình độ tin học, ngoại ngữ của CBCC cấp xã tỉnh Quảng Nam

Tổng sốChứng chỉ
5287Tin họcNgoại ngữTiếng Dân tộc thiểu số
Số lượng4.0813.94460
Tỷ lệ77.174.51.13

(Nguồn: Báo cáo thống kê số lượng,chất lượng CBCC cấp xã, tính đến tháng 12/2016 – Sở Nội vụ tỉnh Quảng Nam)

Nhìn chung, đội ngũ CBCC cấp xã đạt chuẩn về văn hóa, chuyên môn, lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị, góp phần phát triển kinh tế – xã hội địa phương. Tuy nhiên, tiếng dân tộc thiểu số của CBCC cấp xã hiện nay chưa đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định. Tuy vậy, đa số CBCC cấp xã có tuổi đời khá trẻ, sẽ là điều kiện thuận lợi để họ tham gia các khóa học tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác.

2.2. Thực tiễn công tác đánh giá cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Quảng Nam

2.2.1. Cơ sở pháp lý về đánh giá cán bộ, công chức

2.2.1.1. Các văn bản của Đảng, Nhà nước

– Quyết định số 286-QĐ/TW ngày 08-02-2010 của Bộ Chính trị về việc ban hành Quy chế đánh giá CB, CC.

– Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

– Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08-11-2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020.

– Quyết định số 11/1998/TCCP-CCVC ngày 05-12-1998 của Trưởng Ban Tổ chức CB Chính phủ ban hành Qui chế đánh giá CC hàng năm.

Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22-10-2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ công chức ở xã phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05-12-2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn.

– Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 09-6-2015 của Chính phủ về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức.

2.2.1.2. Các văn bản của tỉnh Quảng Nam

– Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 12-8-2016 của Tỉnh ủy Quảng Nam về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, kiện toàn tổ chức bộ máy giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2025.

– Quyết định số 1009/QĐ-UBND ngày 29-3-2012 của UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Kế hoạch cải cách hành chính tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2015.

– Hướng dẫn số 21-HD/TCTU ngày 15-10-2014 của Ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Nam về việc kiểm điểm tập thể, cá nhân và đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên hằng năm.

– Hướng dẫn số 06-HD/TCTU ngày 10-10-2016 của Ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Nam về việc kiểm điểm tập thể, cá nhân và đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên.

– Công văn số 4865/UBND-NC ngày 27-10-2015 của UBND tỉnh Quảng Nam về việc tổ chức, triển khai thực hiện việc đánh giá, phân loại CBCC, viên chức hằng năm theo quy định tại Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 09-6-2015 của Chính phủ.

– Hướng dẫn số 1024/HD-SNV ngày 06-11-2012 của Sở Nội vụ tỉnh Quảng Nam về việc đánh giá và xếp loại cán bộ, công chức, viên chức.

– Công văn số 1484/SNV-CCVC ngày 14-10-2016 về việc đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức.

2.2.2. Thực tiễn công tác đánh giá cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Quảng Nam

2.2.2.1. Quy trình đánh giá CBCC cấp xã hàng năm

Triển khai thực hiện quy định của cấp trên về đánh giá CBCC, quy trình đánh giá CBCC cấp xã hàng năm bao gồm các bước:

Bước 1: CBCC tự đánh giá

Bước 2: Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức Hội nghị toàn thể CBCC để đánh giá CBCC, cụ thể như sau:

Bước 3: Thông báo kết quả đánh giá, phân loại CBCC

2.2.2.2. Nội dung đánh giá CBCC cấp xã hàng năm

Từ năm 2012 đến năm 2014, nội dung đánh giá CBCC nói chung và CBCC cấp xã nói riêng thực hiện theo Hướng dẫn số 1024/HD-SNV ngày 06-11-2012 của Sở Nội vụ Quảng Nam, gồm 3 nội dung sau:

– Phẩm chất chính trị.

– Đạo đức lối sống.

– Kết quả thực hiện nhiệm vụ.

* Năm 2015, đánh giá cán bộ với 5 nội dung sau:

Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc.

Năng lực lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

Tinh thần trách nhiệm trong công tác.

Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.

* Đánh giá công chức với 6 nội dung sau:

Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc.

Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

Tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ.

Thái độ phục vụ nhân dân

* Riêng đối với công chức lãnh đạo cấp xã còn được đánh giá theo các nội dung:

Kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý.

Năng lực lãnh đạo, quản lý.

Năng lực tập hợp, đoàn kết công chức.

Đánh giá cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Đánh giá cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

2.2.3. Công tác đánh giá CBCC cấp xã tỉnh Quảng Nam qua kết quả khảo sát

2.2.3.1. Về nội dung đánh giá

– Công tác đánh giá CBCC cấp xã hàng năm được thực hiện ở 244 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh. Hiện nay, qua khảo sát, tỉnh Quảng Nam chưa ban hành hướng dẫn cụ thể về đánh giá CBCC cấp xã;

– Đối với các nội dung đánh giá CBCC cấp xã như hiện nay, có 170/200 (85%) ý kiến được khảo sát cho rằng khi tiến hành đánh giá CBCC thì nên chú trọng đến kết quả công tác trong năm là tiêu chí hàng đầu và quan trọng nhất, làm nền tảng để đánh giá các nội dung khác có liên quan.

– Khảo sát về các tiêu chí khó đánh giá CBCC thì có 90/200 (45%) ý kiến nêu về năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ; 110/200 (55%) ý kiến nêu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống.

– Riêng đối với tiêu chí về thái độ phục vụ nhân dân thì đa số các ý kiến của lãnh đạo xã cho rằng trong thực tế công tác, chỉ có công chức tại Bộ phận một cửa là thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với người dân đến liên hệ công việc, vì vậy, nếu áp dụng để đánh giá cho tất cả CBCC khác là không phù hợp.

2.2.3.2. Về phương pháp đánh giá

Có 85/200 (42.5%) ý kiến cho rằng phương pháp đánh giá CBCC cấp xã như hiện nay là phù hợp, 110/200 (55%) ý kiến đề nghị nên thay đổi phương pháp đánh một cách khoa học, cụ thể, sát với thực tế như:

– Xây dựng thang điểm đánh giá theo từng vị trí công việc.

– Xây dựng bảng mô tả công việc đối với từng chức danh.

– Đánh giá CBCC trên cơ sở kết quả thực thi công việc.

– Lấy ý kiến của nhân dân, khách hàng về mức độ hài lòng đối với quá trình giải quyết công việc của CBCC.

2.2.3.3. Về chủ thể đánh giá

Hiện nay, ngoài các chủ thể (bản thân CBCC, tập thể CBCC, lãnh đạo, người đứng đầu cơ quan) tham gia vào quá trình đánh giá CBCC cấp xã thì chủ thể khác bên ngoài nền hành chính đó là người dân (đối tượng được phục vụ) đến liên hệ, giải quyết công việc tại xã, phường, thị trấn.

Có 120/180 (66.6%) ý kiến trả lời của CBCC được hỏi về sự phù hợp khi người dân tham gia đánh giá CBCC; có 120/180 (66.6%) ý kiến của CBCC cấp xã sẵn sàng để người dân tham gia đánh giá CBCC. Đây sẽ là một trong những điều kiện nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ hành chính công, đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm thỏa mãn nhu cầu chính đáng cho người dân, đối tượng được phục vụ trong nền hành chính.

Về nhu cầu tham gia của người dân vào đánh giá CBCC cấp xã, có 190/250 (76%) ý kiến sẵn sàng tham gia đánh giá CBCC cấp xã nơi họ sinh sống, tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau (sợ gây khó khăn khi đến cấp xã giải quyết công việc;

Có thể thấy rằng, xu hướng người dân muốn tham gia vào đánh giá CBCC là cơ bản. Việc các chủ thể bên ngoài nền hành chính tham gia vào đánh giá CBCC là kênh quan trọng để đảm bảo tính khách quan trong công tác đánh giá.

2.3.4. Nhận xét về công tác đánh giá cán bộ công chức cấp xã tỉnh Quảng Nam

2.3.4.1. Ưu điểm

Đảng bộ và chính quyền tỉnh Quảng Nam luôn xác định đánh giá CBCC nói chung và đánh giá CBCC cấp xã được xác định là khâu ban đầu có tác dụng đặt nền móng có ý nghĩa định hướng và tác động đến toàn bộ các khâu quy hoạch, bố trí, đào tạo, luân chuyển CBCC.

Việc đánh giá CBCC cấp xã đã đạt được kết quả tích cực như: Đảm bảo thực hiện đúng các nguyên tắc trong đánh giá CBCC. Hệ thống văn bản pháp luật về CBCC cấp xã và đánh giá CBCC ngày càng được hoàn thiện…

Đánh giá CBCC cấp xã đã trở thành một công việc thường xuyên, được tiến hành khách quan, dân chủ và tương đối toàn diện, thể hiện tính tự phê bình và phê bình của tập thể đối với cá nhân một cách thẳng thắn, chân thành, có trách nhiệm xây dựng.

2.3.4.2. Những hạn chế, tồn tại

Nội dung đánh giá còn dàn trải, chung chung, không tạo ra động lực để khuyến khích CBCC làm việc.

Một số ít tập thể lãnh đạo chưa nghiêm túc tiến hành thảo luận dân chủ, thẳng thắn phân tích những ý kiến, thông tin khác nhau để đánh giá chính xác CBCC.

Phương pháp đánh giá vẫn chú trọng đến tư tưởng, lập trường,… nên kết quả cuối năm CBCC nào cũng “hoàn thành hoặc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” trong khi thực tế thì không đạt yêu cầu.

Mặt khác, về sử dụng kết quả đánh giá CBCC cho hoạt động quản lý, kết quả đánh giá hàng năm hầu như không được sử dụng trực tiếp và là căn cứ cho các đánh giá khác mà chỉ được lưu hồ sơ lý lịch của CBCC và làm căn cứ để xác định các danh hiệu thi đua.

2.3.4.3. Nguyên nhân

Hiện nay, việc đánh giá CBCC cấp xã vẫn thực hiện theo quy định pháp luật và văn bản hướng dẫn của cấp trên; chưa có văn bản quy định riêng, chưa có bộ khung tiêu chí đánh giá CBCC;

Bên cạnh đó, cấp xã chưa chủ động xác định phương pháp đánh giá riêng cho phù hợp với đặc thù công việc.

Về nhận thức vẫn còn một số cấp ủy đảng và cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc về vị trí, vai trò của cán bộ và công tác cán bộ và việc xây dựng đội ngũ cán bộ.

Một số lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa nhìn nhận ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác CBCC cấp xã đặc biệt là nhận thức về tầm quan trọng của công tác đánh giá, phân loại CBCC và chưa nắm vững nội dung, quan điểm, chủ trương, nguyên tắc của công tác cán bộ.

Trong đánh giá còn nặng về cảm tình, chưa coi trọng tính khách quan và thật sự công tâm, hoặc còn theo mục đích đã định sẵn thể hiện những cá tính (yêu, ghét, định kiến cá nhân, …)

Quy trình đánh giá chưa chú ý thu thập đầy đủ các thông tin cần thiết, qua nhiều kênh để phục vụ đánh giá CBCC, đặc biệt là các thông tin từ người dân.

CHƯƠNG 3

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

CHẤT LƯỢNG ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả, chất lượng đánh giá cán bộ, công chức cấp xã ở nước ta hiện nay

3.1.1. Việc đánh giá cán bộ, công chức cấp xã phải dựa trên sự lãnh đạo thống nhất của Đảng bộ cơ sở về công tác cán bộ

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã và đang đặt ra hàng loạt yêu cầu và đòi hỏi mới đối với mọi tổ chức, mọi người và đặc biệt là đối với đánh giá CBCC gồm nhiều khâu liên hoàn, đan xen nhau, bao gồm việc đánh giá cán bộ, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, đánh giá cán bộ

3.1.2. Việc đánh giá cán bộ, công chức cấp xã phải đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước

Đối với tỉnh Quảng Nam đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TUđã tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ từ các cấp ủy đến đội ngũ cán bộ trong toàn tỉnh;

Các cấp ủy, các ngành, địa phương đã thể hiện quyết tâm cao và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai, thực hiện nghiêm túc;

Công tác cán bộ luôn đảm bảo nguyên tắc “Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ” đi đôi với phát huy trách nhiệm của tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị;

3.1.3. Việc đánh giá cán bộ, công chức cấp xã phải gắn với thực hiện quy chế dân chủ cơ sở

Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ cở đã tạo ra những chuyển biến bước đầu trong lề lối làm việc của chính quyền cơ sở và các CBCC nhà nước từ quan liêu, mệnh lệnh sang dân chủ hóa, sát dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân;

Những mặc còn hạn chế như tỷ lệ cơ sở thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở còn thấp, nhiều cơ sở triển khai chưa tốt, làm hình thức “đầu voi đuôi chuột”, bởi một số ít cơ sở tình hình phức tạp, cán bộ có sai phạm, chưa triển khai quy chế.

3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng đánh giá cán bộ, công chức cấp xã ở nước ta hiện nay

3.2.1. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đánh giá cán bộ, công chức cấp xã

Tuyên truyền, đào tạo, bồi dưỡng các phương pháp đánh giá CBCC cấp xã

Để tạo tính công bằng, khoa học và tiêu chí đánh giá CBCC được khách quan

Khi đánh giá CBCC không thể chỉ xem xét một lúc, một thời điểm, một thời gian ngắn mà cần phải có thời gian, xem xét cả một quá trình phấn đấu, rèn luyện của CBCC.

Nâng cao tính trung thực, tự chủ của mỗi CBCC được đánh giá.

Tăng cường hoạt động phê bình và tự phê bình gắn liền với phát huy dân chủ trong việc đánh giá CBCC.

+ Nâng cao giác ngộ lý tưởng cách mạng, trình độ, kiến thức mọi mặt cho cán bộ, đảng viên

+ Phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, duy trì chặt chẽ và có nền nếp chế độ tự phê bình và phê bình, phát huy tinh thần trách nhiệm, vai trò gương mẫu của cấp ủy, cán

+ Tự phê bình và phê bình tốt phải có chuẩn bị chu đáo, có tổ chức lãnh đạo chặt chẽ

+ Gắn tự phê bình và phê bình với tiến hành kiểm tra, kỷ luật của Đảng.

+ Tăng cường sự giúp đỡ, kiểm tra của cấp trên đối với cơ sở.

3.2.2. Hoàn thiện các quy định về đánh giá cán bộ, công chức cấp xã

3.2.2.1. Hoàn thiện nguyên tắc đánh giá cán bộ, công chức

3.2.2.2. Đổi mới quy định về các tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức; tiếp tục hoàn thiện các tiêu chí phân loại đánh giá CBCC

3.2.2.3. Hoàn thiện quy trình, thủ tục đánh giá cán bộ, công chức.

3.2.3. Tăng cường các điều kiện đánh giá cán bộ, công chức cấp xã

Thứ nhất, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền cơ sở về nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

Thứ hai, trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng theo từng nhóm chức danh, làm cơ sở cho việc sắp xếp bố trí và xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, sử dụng cán bộ.

Thứ ba, cần trẻ hóa đội ngũ cán bộ ở cơ sở, ưu tiên tuyển dụng công chức xã là người ở địa phương,

Thứ tư, cần nghiên cứu đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo, tập trung đào tạo đối tượng là cán bộ chủ chốt.

Thứ năm, tỉnh cần tăng cường kinh phí cho việc đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã

Thứ sáu, bổ sung hoàn thiện quy chế, quy trình đánh giá, nhận xét quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, thực hiện tốt chính sách đối với cán bộ

Thứ bảy, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành và đánh giá chất lượng công việc của CB,CC.

3.2.4. Tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác đánh giá cán bộ, công chức cấp xã

Trước hết, cần nhận thức đúng và nhận thức một cách thống nhất về tầm quan trọng của chính quyền cơ sở, vai trò và mối quan hệ của nó trong hệ thống hành chính Nhà nước và trong mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân.

Cần nghiên cứu, tổng kết công tác quản lý, đánh giá cán bộ công chức trong thời gian qua để đổi mới công tác quản lý, đánh giá cán bộ tốt hơn tránh tình trạng xem nhẹ vai trò, trách nhiệm của cấp xã.

Cần tổng kết đánh giá về cán bộ và công tác cán bộ một cách thường xuyên. Thông qua đó phát hiện những nhân tố mới, những cách làm mới trong công tác cán bộ.Đánh giá thực chất cán bộ và công tác cán bộ, một mặt vừa tìm ra nguyên nhân, khâu quan trọng của vướng mắc, khó khăn trong công tác cán bộ của từng cấp để có giải pháp tháo gỡ, khắc phục khó khăn, phát huy những thành quả đạt được.

Mặt khác, có thể kiểm tra phẩm chất, năng lực của công chức để khẳng định cái đúng, nêu gương những công chức tốt, uốn nắn những sơ hở trong công tác cán bộ, ngăn chặn những biểu hiện lệch lạc, thoái hóa, biến chất của công chức cấp xã.

Kết quả đánh giá chất lượng CBCC là cơ sở để hoạch định, điều chỉnh vị trí việc làm, xây dựng biên chế, cơ cấu, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, hợp lý hóa phân công nhiệm vụ, thực hiện chế độ, chính sách, tinh giản biên chế, khen thưởng và kỉ luật thỏa đáng…

Mạnh dạn thí điểm các mô hình, cách làm mới như tăng cường trí thức trẻ có tài năng về cấp xã, bố trí nguồn dự bị đã tốt nghiệp đại học cho cấp xã, chi trả từ ngân sách tỉnh, khuyến khích các sáng kiến quản lý và đẩy mạnh cải cách hành chính Nhà nước ở cấp.

KẾT LUẬN

Từ kết quả nghiên cứu của luận văn, có thể thấy rằng đánh giá CBCC là khâu quan trọng đối với công tác tổ chức cán bộ nói chung, hoạt động của bộ máy nhà nước nói riêng.

Đánh giá CBCC đúng sẽ tạo cơ sở nền tảng cho đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ, công chức có hiệu quả. Đồng thời, trên cơ sở đánh giá, người lãnh đạo mới có thể đưa ra các hình thức sử dụng đãi ngộ, bố trí, cất nhắc, khen thưởng, kỉ luật đối với CBCC một cách hợp lý.

Từ kết quả nghiên cứu của luận văn cho thấy, công tác đánh giá CBCC cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng, cả nước nói chung còn khá nhiều hạn chế, bất cập gây ảnh hưởng đến chất lượng của đội ngũ CBCC. Ví du như: chưa hình thành đầy đủ phương thức đánh giá CBCC cấp xã theo kết quả thực thi công vụ; một số tiêu chí đánh giá còn cứng nhắc thiếu linh hoạt, chưa phù hợp với môi trường làm việc của CBCC cấp xã ở miền xuôi và miền núi, ở đô thị và ở nông thôn…. Những hạn chế nêu trên khiến công tác đánh giá cán bộ, công chức cấp xã trong những năm vừa qua chưa đạt được kết quả như mong muốn.

Để xây dựng một nền hành chính thông suốt, minh bạch nhằm từng bước chuyển từ một nền hành chính “cai trị” sang nền hành chính “phục vụ”, lấy công dân và các tổ chức làm trung tâm, là đối tượng phục vụ, là khác hàng mà các cơ quan nhà nước có trách nhiệm phải cung cấp các dịch vụ hành chính một cách tốt nhất. Điều đó đồng nghĩa với việc phải tiến hành đổi mới công tác cán bộ nói chung và đổi mới phương pháp đánh giá CBCC nói riêng như kết luận Hội nghị Chấp hành Trung ương lần thứ 9 khóa X: “Đánh giá cán bộ phải đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan, trung thực, toàn diện và công tâm, lấy hiệu quả, chất lượng hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo để đánh giá cán bộ”.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 6\LUAT HANH CHINH\TRAN PHU THO\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *