Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam

Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài

Ngày nay,dướinhận thứccủacác nhà kinh doanh trênthếgiới, tàisảncủa mỗi một doanh nghiệp không chỉ còn là các tài sản hữu hình mà còn là các tài sản

vô hình như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết kỹ thuật,… Trong sốcác tài sản vô hìnhđó,với xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức như hiện nay, quyền sở hữu trí tuệ mà đặc biệt là quyền sở hữu công nghiệp trong đó có nhãn hiệuđược các doanh nghiệp và các nhà làm luật đặc biệt quan tâm.

Cùngvớisựtìm tòi, sáng tạo,đổimớivềcông nghệsảnxuất, các doanh nghiệp ngày càng tạo ra được các sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, tiện ích cho người tiêu dùng. Ban đầu, để phân biệt hàng hóa, dịchvụdo mình làm ra với các hàng hóa, dịch vụ của những chủ thể kinh doanh khác, các doanh nghiệp đã gắn lênmỗiloại hàng hóa, dịchvụcủamình nhãn hiệuđặctrưng riêng có. Khi hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp ngày càng được nhiều người tiêu dùng biết đến và sửdụng thì cũngđồngnghĩavớiviệc doanh thucủadoanh nghiệpsẽkhông ngừng tăng lên, thị phần doanh nghiệp ngày càng lớn, uy tín doanh nghiệp ngày càng được khẳng định. Chính từ đó, nhãn hiệu của hàng hóa, dịch vụ không còn chỉ đơn thuần là dùngđểphân biệtnữamà giátrịcủanóđãđượcđịnhhình trong tâm trí người tiêu dùng, trong cácđốithủcạnh tranh và nó cóthểđịnhgiáđượcbằng tiền mặt. Thế giới đã được biết đến những nhãn hiệu nổi tiếng, mang lại cho doanh nghiệp sởhữunhãn hiệumộtgiátrịtàisảnkhổnglồnhư nhãn hiệu Amazon có giá 415,9tỉUSD, Google (323,6tỉUSD), Apple (352,2 tỉUSD), Alibaba (152,5tỉUSD),

Facebook (147,1tỉUSD), McDonald’s (129,3tỉUSD)1,…CònởViệt Nam, rất nhiều nhãn hiệu nổi tiếng cũng được nhắc đến như Viettel (6.016 tỉ USD)2, Vinamilk (2.4 tỉ USD)3, …

1Hà Thu, Amazon là thương hiệu giá trị nhất thế giới, truy cập ngày 10/5/2021 https://vnexpress.net/amazon- la-thuong-hieu-gia-tri-nhat-the-gioi-4123362.html

2 Đạt trên 6 tỉ USD, giá trị thương hiệu Viettel tăng 32 bậc, truy cập ngày 10/5/2021

http://www.danvan.vn/Home/Tap-doan-Cong-nghiep-Vien-thong-Quan-doi-VIETTEL/13415/Dat-tren-6-ty- USD-gia-tri-thuong-hieu-Viettel-tang-32-bac

3 Xuân Hương, Vinamilk vào 4 bảng xếp hạng toàn cầu về giá trị và sức mạnh thương hiệu, truy cập ngày 10/5/2021

2

Trong rất nhiều thương vụ, giá trị của nhãn hiệu lại được định giá cao hơn các tài sản cố định khác của doanh nghiệp. Thí dụ, công ty Bia Huế (Huda) được thành lậpvào năm 1990,dướitêngọinhà máy Bia Huế. Vào giữa những năm 90, các công ty bia địa phương đều lâm vào tình trạng khó khăn, Bia Huế tìm lối thoát bằng cách liên doanh góp 50%vốnvớitậpđoàn Carlsberg (Đan Mạch) năm 1994. Sau gần 2 thập kỷ hoạt động dưới dạng liên doanh, liên kết, tới cuối năm 2011, Carlsberg lộ rõ ý đồ thâu tóm khi mua lại phần vốn của đối tác Việt Nam là UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, để từ một đơn vị liên doanh trở thành công ty 100% vốn nước ngoài. Mức giá bán là 1.800 tỷ đồng, trong đó giá trị thương hiệu khoảng 1.100 tỷđồng còn 700 tỷ đồng là giá trị hữu hình của doanh nghiệp như sản phẩm, lao động,

nhân công4…. Tất cả những điều này đều thể hiện giá trị to lớn mà nhãn hiệu mang

lại cho chủ sở hữu nhãn hiệu, từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết là vừa phải bảo vệ nhãn hiệu không bị xâm phạm vừa phải mở rộng thị trường sử dụng sản phẩm, dịch vụ đểtăng doanh thu và đặc biệt là quảng bá nhãn hiệu một cách rộng rãi đến người tiêu dùng. Tuy nhiên, không phải lúc nào chủ sở hữu nhãn hiệu cũng có đủ năng lực về

tài chính, nhân sự, thời gian …để cùng lúc làm được các điều này. Do đó, một giải pháp được các chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng đó là tiến hành chuyển giao quyền sửdụng nhãn hiệu cho những doanh nghiệp mà mình tintưởngthông quahợpđồng chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu (cònđượcgọilàhợpđồngli-xăng nhãn hiệu). Với việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu của mình, bên chuyển giao sẽcó được một số lợi ích cơ bản như: mở rộng được thị trường tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ của mình mà không cần phải tốn nhiều tiền của, công sức đầu tư xây dựng mạnglướichi nhánh, văn phòngđạidiệntạinhiều nơi (trongnướccũng như trên thế giới); tăng doanh thu cho bên chuyển giao; nhãn hiệu được quảng bá ra nhiều thịtrường và được người tiêu dùng biết đến nhiều hơn; có khả năng bảo vệ nhãn hiệu cho sản phẩm của mình tốt hơn trước các hành vi xâm phạm nhãn hiệu bởi bên nhận chuyển giaosẽlà “tai mắt” cho bên chuyển giao trong việc thu thập các thông tin

https://www.qdnd.vn/kinh-te/cac-van-de/vinamilk-vao-4-bang-xep-hang-toan-cau-ve-gia-tri-va-suc-manh- thuong-hieu-670680

4 Những thương hiệu Việt bán mình sau nổi danh, truy cập ngày 10/5/2021. https://vietnamnet.vn/vn/kinh- doanh/nhung-thuong-hieu-viet-ban-minh-sau-noi-danh-163693.html

3

liên quan đến việc xâm phạm nhãn hiệu…Bên nhận chuyển giao sẽ được hưởng lợi rất lớn từ việc hàng hóa, dịch vụ của mình được phép gắn nhãn hiệu của bên chuyển giao. Tuy nhiên,vẫncòn không ítchủsởhữunhãn hiệu màđặcbiệt là doanh nghiệpởViệt Nam chưa nhậnthức đầyđủvềgiátrịcủanhãn hiệu vàlợiích của việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu. Phần lớn doanh nghiệp sẵn sàng đầu tưsốtiềnrấtlớncho thiếtbịhay công nghệ mới, song cònrấtkhiêmtốnkhiđầutưcho việc xây dựng, bảo vệ và quảng bá nhãn hiệu.

Nguyên nhândẫnđếnnhữnghạnchế,bấtcậptrong hoạtđộngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu là do cácvấnđềlý luậnvềchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu chưa được xây dựng, phân tích và làm sáng tỏ như: khái niệm về quyền sởhữucông nghiệpđốivớinhãn hiệu; khái niệm,đặcđiểmquyềnsửdụng nhãn hiệu; khái niệm,đặcđiểmchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu; khái niệm,đặc

điểm hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu; … Bên cạnh đó, một số quy định củapháp luậtvềchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu vàhợpđồngchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cũng còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế về các vấn đề như:

phạm vi chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; những giới hạn trong chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu; hình thức chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu;đối tượnghợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu; hình thứccủa hợpđồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; chủ thể trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụngnhãn hiệu; nội dung của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu;đăng kíhợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu; hiệulựccủahợpđồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; giới hạn trong hợp đồng chuyển giao quyền

sửdụng nhãnhiệu; …Không những vậy, thực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu trong cả nước đã và đang nảy sinh một số vấn đề cần phải giải quyết như:vềviệc thực hiệnhợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu trong trường hợp bên chuyển giao là doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản, giải thể;vềviệc xácđịnhgiátrịcủanhãn hiệu tronghợpđồngchuyển giao quyềnsử

dụng nhãn hiệu; về việc kiểm soát chất lượng của sản phẩm bởi bên được cấp li –xăng nhãn hiệu để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm của bên nhận chuyển quyền khôngđảmbảochất lượng;vềviệc dùng quyềnsửdụng

4

nhãn hiệuđể gópvốn vào công ty khác; về vấnđề xác địnhquyền sởhữu đối với “giá trị vô hình” tăng lên của nhãn hiệu sau khi các bên chấm dứt hợp đồng chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu;vềviệc áp dụng quyđịnhkhôngđượccó cácđiều

khoản hạn chế bất hợp lý quyền của bên được chuyển quyền; …

Ngoài ra, trongbốicảnhhộinhập sâu rộngvềkinhtếquốctếnhư hiện nay, việc Việt Nam kí kết các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với các quốc gia vàvùng lãnh thổ cũng đòi hỏi chúng ta phải sửa đổi pháp luật về sở hữu trí tuệ mà đặc biệt là pháp luậtvềchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệuđểđảmbảotính tương thích với các Hiệp định đã được kí kết, từ đó thể hiện sự nghiêm túc trong thực thi Hiệp định của Việt Nam với các đối tác. Bên cạnh đó, khoa học pháp lý của nước ta tuy có rất nhiều công trình nghiên cứu về quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sởhữucông nghiệp nói riêng nhưng chưa có công trình nào nghiêncứumộtcách chuyên biệt, toàn diện, sâu sắc ở tầm luận án tiến sĩ về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu. Dođó,cácvấnđềlý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệucầnphảiđược phântích, đánh giá và làm sángtỏ,từđóđềxuất các giải pháphữuích, thiết thực nhằmtạođiều kiện cho hoạt động chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu được phát triển an toàn,đưa lại nhiều lợi ích cho các chủ thể kinh doanh và xã hội.

Trên cơ sở những phân tích nêu trên, tácgiả lựa chọn thực hiện đề tài “Chuyểngiao quyềnsửdụng nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam”đểlàmđềtài luận án tiến sĩ.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc xây dựng mô hình lí thuyết cũng như phân tích, đánh giá toàn diện và mang tính hệ thống cơ sở lý luận về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu vàhợpđồngchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, đánh giá thực trạng pháp luật lẫn thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam trong mối tương quan so sánh với pháp luậtcủamộtsốquốc gia trênthếgiớivềchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, từ đó tác giả đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chuyển giao

5

quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam.

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cơbản như sau:

– Xây dựng, phân tích và làm sángtỏđược các khái niệm,đặc điểmvề nhãn hiệu, về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, về quyền sử dụng nhãn hiệu, về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu.

– Xây dựng, phân tích và làm sángtỏđượckhái niệm,đặcđiểm,vai trò của hợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu cũng như phân loạihợpđồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu.

– Phân biệthợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệuvớihợpđồng chuyển nhượng nhãn hiệu; phân biệthợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu với hợp đồng chuyển nhượng tên thương mại; Phân biệt hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu với hợp đồng nhượng quyền thương mại;

– Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam trongmốitương quan so sánhvớipháp luậtcủamộtsốquốc gia trênthếgiớivềchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu thông quahợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu,đồngthờichỉrađượcnhững nguyên nhân cơbảnlàm phát sinh một số hạn chế, bất cập trong thực tiễn thực thi.

– Xây dựng phương hướng và đề xuất những giải phápcụ thể cótính khả thi cao góp phần hoàn thiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án cóđốitượngnghiêncứulà nhữngvấnđềlý luậnvềchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu và hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam; quy

6

định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

-Vềnộidung nghiên cứu:Đềtài nghiêncứu vềchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu trong hệ thống pháp luậtsở hữutrítuệViệt Nam hiện hành; quy định pháp luậtcủamộtsố quốc gia trên thế giới về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu.

-Vềkhông gian nghiên cứu:Đềtài nghiêncứuthực tiễn thực hiện pháp luật vềchuyển chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu thông quahợpđồngchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.

– Về thời gian: Đề tài nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam từ năm 2006 đến nay.

4. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận án, tác giả sử dụng đến các phương pháp chủ yếu như:

– Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng để tìm kiếm, tập hợp lại toàn bộ các tài liệu có liên quan đến đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quátrình nghiên cứu thực hiện luận án đặc biệt là trong chương 1 và chương 2.

– Phương pháp phân tích: Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt trong tất cả các chương của luận án để giúp làm rõ các vấn đề lý luận cũng như các vấn đềpháp lý lẫn thực tiễn trong quá trình nghiên cứu.

– Phương pháp thống kê, so sánh luật học, đánh giá và phương pháp pháp lýđiển hình: Phương pháp này chủ yếu được sử dụng cho chương 2 và chương 3 nhằm giúp cho luận án có được cái nhìn đa chiều, toàn diện, đúng đắn và sâu sắc về vấnđề cần nghiên cứu từ đó rút ra được những kết luận, giải pháp có tính chính xác cao và khoa học, thể hiện rõ tư duy, tính mới, tính sáng tạo và cách lập luận của tác giả.

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

– Ý nghĩa khoa học: Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu chuyên biệtđầu tiên trong cả nước về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam, do đó, kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung và hoàn thiện những

7

vấn đề lý luận khoa học pháp lý về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cũng nhưhợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu làm phong phú thêm kiến thức khoahọcpháp lý chuyên sâuvềlĩnhvựcsởhữutrí tuệ.Điềunàyđượcthểhiện thông qua việc luận án xây dựng, phân tích và làm sáng tỏ các khái niệm, đặc điểm vềnhãn hiệu,vềquyềnsởhữucông nghiệpđốivớinhãn hiệu,vềquyềnsửdụng nhãn hiệu,vềchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu; xây dựng, phân tích và làm sáng tỏ được khái niệm, đặc điểm, vai trò của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cũng như phân loại hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam trong mối tương quan so sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, đồng thời chỉ ra được những nguyên nhân cơ bản làm phát sinh một số hạn chế, bất cập trong thực tiễn thực thi; đề xuất những giải pháp cụ thể có tính khả thi cao góp phần hoàn thiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu và nâng cao hiệu quảthực hiện pháp luật về chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu thông quahợpđồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam.

-Ýnghĩa thực tiễn: Luận án cóthểđượcsửdụngđểlàm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảngdạyvàhọctậpkhoahọcluậttạicác cơsởđàotạo, nghiêncứuluật. Luận án cóthểđượcsửdụngđểlàm tài liệu tham khảo cho các thương nhân trong quá trình kinh doanh, các cơ quan thực thi pháp luật về sở hữu trítuệ để giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn hiện nay.

Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam
Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam

6. Những đóng góp mới của luận án

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật và thực tiễn về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, luận án có những đóng góp mới như sau:

-Hệthống hóa, xây dựng, phân tích,bổsung, phát triển cơsởlý luậnvềchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam, bao gồm: Khái niệm về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu; khái niệm, đặc điểm về quyền sử dụng nhãn hiệu; khái niệm, đặc điểm về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; Khái niệm, đặcđiểm,vai tròcủahợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu cũng như phân loạihợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu; Phân biệthợpđồngchuyển

8

giao quyềnsửdụng nhãn hiệuvớihợpđồngchuyển nhượng nhãn hiệu; Phân biệt hợp đồngchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệuvớihợpđồngchuyển nhượng tên thương mại; Phân biệthợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệuvớihợpđồng nhượng quyền thương mại. Khái quát được pháp luật về chuyển giao quyền sửdụng nhãn hiệu của Liên minh châu Âu và một số quốc gia trên thế giới cũng nhưkhái quátđượcquá trình hình thành và phát triểncủapháp luậtvềchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam.

– Phân tích, đánh giá và làm sáng tỏ thực trạng pháp luật Việt Nam cũng nhưquy định của pháp luật ở một số quốc gia trên thế giới về vấn đề chuyển giao quyền sửdụng nhãn hiệu và chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu thông quahợpđồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, cụ thể: phạm vi chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; những giớihạntrong chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; hình thức chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu;đốitượnghợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu; hình thức của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; chủthể trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; nội dungcủahợp đồng chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu; đăng kíhợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu; hiệu lực của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; giới hạntronghợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu;… Phân tích, đánh giáthực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam nhưvềviệc xácđịnhgiátrịcủanhãn hiệu tronghợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu; về việc thực hiện hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu trong trường hợp bên chuyển giao là doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản, giải thể; về việc kiểm soát chất lượng của sản phẩm đối với bên nhận chuyển giao quyền sửdụng nhãn hiệu;vềvấnđềgiải quyết tranh chấp trong quanhệhợpđồngchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; về vấn đề xác định quyền sở hữu đối với “giá trị vôhình” tăng lên của nhãn hiệu sau khi các bên chấm dứt hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; về việc áp dụng quy định không được có các điều khoản hạn chếbất hợp lý quyền của bên được chuyển quyền.

– Đề xuất những giải pháp cụ thể có tính khả thi cao góp phần hoàn thiện pháp luật vềchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu thông quahợpđồngchuyển giao quyềnsử

9

dụng nhãn hiệu và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phầnlờicam đoan, danhmụccáctừviết tắt,mụclục,mởđầu,tổng quan tình hình nghiên cứu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm có03 chương, cụ thể như sau:

Chương 1. Khái quát chung về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Chương 2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luậtvềchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam

Chương 3. Phươnghướngvà giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệuquảthực hiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam

10

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Các công trình nghiêncứukhoahọcđãđượccông bố liên quanđếnđề tài luận án

1.1.1. Luận án, luận văn

Luận án tiếnsỹLuậthọccủaNguyễn Thanh Tâm (2005)về“Quyềnsởhữu

công nghiệp dưới góc độ thương mại – những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Đại học Luật Hà Nội.

Trong luận án, tác giả đã tìm hiểu và phân tích những vấn đề lý luận về quyền sở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại. Theo đó, tác giả đã tìm hiểu và phân tích khái quát về quyền sở hữu công nghiệp, trong đó chú trọng đến việc khái quát sự phát triển của quyền sở hữu công nghiệp, khái niệm quyền sở hữu công nghiệp. Bên cạnhđó,tácgiảcũng nghiêncứuvềtính thươngmạicủaquyềnsởhữucông nghiệp, những nội dung cơ bản của quyền sở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại. Bên cạnhđó,tácgiảđãtìm hiểu và phân tích nhữngnộidung cơbảncủa quyềnsởhữucông nghiệpdướigócđộthươngmạitheo pháp luật hiện hành của Việt Nam. Theo đó, tác giả đã đề cập và phân tích các nội dung: quyền sử dụng vàchuyển giao quyềnsởhữucông nghiệp theo pháp luật hiện hànhcủaViệt Nam; quyền chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soátđộcquyền liên quan tới quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện hành; quyền được thực thi quyềnsởhữucông nghiệp nhằmbảovệlợiích thươngmạicủachủthểquyềnsởhữu công nghiệp theo pháp luật hiện hành của Việt Nam. Đồng thời, tác giả đưa ra mộtsốđịnhhướngchủyếucủaviệc hoàn thiện pháp luậtvềsởhữucông nghiệp dưới góc độ thương mại và đề xuất một số giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật vềsở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại ở Việt Nam.

Trong Luận án này, có một số luận điểm có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của luận án. Cụ thể:

+ Tại trang 43, tác giả cho rằng, bên cạnh việc sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp trong hoạtđộngkinh doanh,chủthểquyềnsởhữucông nghiệp còn tiến hành việc chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp thông qua hợp

11

đồngli–xăng (licence) hoặc chuyển giao quyềnsởhữuđốitượngsởhữucông nghiệp.

+ Tại trang 62, tác giả cho rằng mặc dù một số văn bản pháp luật ở nước ta đãquy định việc các bên tham gia doanh nghiệp có thể góp vốn bằng giá trị quyền sởhữucông nghiệp nhưngvẫnchưa có vănbảnnàohướngdẫncụthểviệc góp vốn vào doanh nghiệp bằng giá trị quyền sở hữu công nghiệp.

+ Tại trang 65, tác giả cho rằng các văn bản pháp luật của Việt Nam không cósựphân biệt giữa hai loại hoạtđộngchuyển giao quyềnsởhữuđốitượngsởhữu công nghiệp và chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp.

Luận án tiến sỹ Luật học của Vương Thanh Thúy (2011) về “Dấu hiệu mang chức năng trong pháp luậtvềnhãn hiệu. Quyđịnhcủapháp luật và thực tiễn áp dụng tại Hoa Kỳ, Châu Âu và Việt Nam”, Đại học Luật Hà Nội.

Luận án đã trình bày phần khái quát chung, trong đó tác giả đề cập đến: lịch sửphát triển của nhãn hiệu, các văn bản quy định về nhãn hiệu (bao gồm một số Điềuước quốc tế, pháp luật về nhãn hiệu tại Hoa Kỳ, Châu Âu và Việt Nam), một số vấnđềcơbảnvềnhãn hiệu như vai tròcủanhãn hiệu,điềukiệnbảohộnhãn hiệu vànhững loạidấuhiệu cóthểđượcbảohộbảohộnhãn hiệu, giới thiệuvềdấuhiệu mang chức năng trong pháp luật về nhãn hiệu; bên cạnh đó, tác giả trình bày vấn đềvềdấuhiệu mang chức năng theo pháp luật và thực tiễn tại Hoa Kỳ, theođó,dấu hiệu mang chức năng theo pháp luật về nhãn hiệu Hoa Kỳ có thể được chia thành hai loại là dấu hiệu hữu ích và dấu hiệu thẩm mỹ. Mỗi loại dấu hiệu có những đặc trưng riêng, do đó, cách thức áp dụng để xác định chúng cũng không tương tự. Tác giảđã trình bàycụthể, chi tiết những cách hiểu, cách áp dụng các tiêu chí để xácđịnh, phân loại dấu hiệu này qua các phán quyết của Tòa án và các quy định thành văn trong pháp luật nhãn hiệu. Ngoài ra, để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề, một số quanđiểm trái chiều cũng như các ý kiến phản bác của các nhà phân tích và các chuyên gia sở hữu trí tuệ đối với các quy định chính thống về vấn đề cũng đã được tác giảnêu ra và phân tích; Bên cạnhđó,tácgiảviếtvềnhững vấnđềliên quanđếndấu hiệu mang chức năng trong pháp luật về nhãn hiệu tại Châu Âu. Theo đó, dấu hiệu mang chức năng cũng được nhìn nhận tại Châu Âu với vai trò là một công cụ hữu

12

ích góp phần phân định và cân bằng các quyền sở hữu trí tuệ khác nhau cũng nhưthúcđẩymộtnềncạnh tranh lành mạnh và phát triển.Vềphân loại, cácdấuhiệu mang chức năng tại khu vực này cũng được chia làm hai loại cơ bản là dấu hiệu hữuích và dấu hiệu thẩm mỹ, tuy nhiên tại Châu Âu điều này không được quy định trực tiếp trong pháp luật về nhãn hiệu như ở Mỹ mà được sử dụng bởi những thuật ngữkhác, vấn đề mà những quy định liên quan điều chỉnh cũng chính là vấn đề về dấu hiệu mang chức năng. Nội dung về dấu hiệu mang chức năng tại Châu Âu được tác giả thể hiện bao gồm những vấn đề chính sau: đặc trưng của các loại dấu hiệu mang chức năng, cơ sở hình thành và phát triển của các loạidấuhiệu này, một số chính sách cơ bản được áp dụng; đồng thời, một số câu hỏi liên quan đến một số tồn tại, chưa được giải quyết hoặc chưa được giải quyết triệt để tại các tòa án Châu Âu cũngđượctácgiảnêu và bình luận trongnộidungcủachương 3; Bên cạnhđó,tácgiảcũngđềcậpđếncác quyđịnhvà nhữngvấnđề thựctiễncủadấuhiệu mang chức năng trong pháp luật về nhãn hiệu tại Việt Nam, trong đó tác giả nhận định trong hệthống pháp luậtvềsởhữutrítuệViệt Nam chưa có quyđịnhvềdấuhiệu mang chức năng; Đặc biệt, tác giả so sánh những điểm khác biệt giữa dấu hiệu mang chức năng trong pháp luật về nhãn hiệu của Hoa Kỳ và Châu Âu, phân tích tổngkếtvềnộidungcủadấuhiệu mang chức năng,đưaramộtsốkiến nghị cho Việt Nam. Tóm lại, luận ánđãkhảo sát khung pháp lý và thực tiễn áp dụngtạiHoaKỳvàChâu Âu về dấu hiệu mang chức năng, đề xuất kiến nghị về việc quy định dấu hiệu này trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam từ kinh nghiệm được rút ra của Hoa Kỳ, Châu Âu và trên nền tảng kinh tế, xã hội đặc trưng của Việt Nam.

Luận án trên cómộtsốphầnnộidung quan trọng có liên quanđếnphạm vi nghiêncứucủaluận án như khái quátvềlịch sửphát triển nhãn hiệu(từtrang 21đến trang 22); hệ thống hóa các văn bản pháp luật quy định về nhãn hiệu bao gồm cácđiềuướcquốctế,pháp luậtvềnhãn hiệu của Hoa Kỳ, pháp luậtvềnhãn hiệu củaLiên minh châu Âu và Việt Nam(từtrang 22đếntrang 37); phân tích làm rõcác vai trò của nhãn hiệu (từ trang 37 đến trang 41).

Luận án tiếnsỹLuậthọccủaPhan Ngọc Tâm (2011)về“Bảohộnhãn hiệu nổitiếng – nghiêncứuso sánh giữa pháp luật Liên minh Châu Âu và Việt Nam”,Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh.

13

Luận án giới thiệu bức tranh tổng quát về nhãn hiệu với tư cách là nền tảng lýluận cơbảncủacơchếpháp lývềbảohộnhãn hiệunổitiếng như: tổng quanvề

nhãn hiệu (đưa ra khái niệm, chức năng, đặc điểm của nhãn hiệu,…), pháp luật vềnhãn hiệu, các nguyên tắc cơbảncủapháp luậtvềnhãn hiệu, nhãn hiệunổitiếng (đưa ra cơsởlý luận, khái niệm,đặcđiểmcủanhãn hiệunổitiếng, những thách thức đối với việc bảohộnhãn hiệunổitiếng trong bối cảnh toàn cầu hóa; Tác giảtậptrung trình bày và phân tích khung pháp lývềbảohộcác nhãn hiệunổitiếng nhìn từ gốc độ quốc tế, khu vực và quốc gia, trong đó tác giả tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật Liên minh Châu Âu và Việt Nam; Bên cạnh đó, tác giả tập trung phân tích, so sánh giữa pháp luật Liên minh Châu Âu và Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, phân tích và làm rõ việc áp dụng cũng như vì sao phải áp dụng các quyđịnhđó.Việc so sánh nàyđượcthực hiệnchủyếugiữa pháp luật Liên minh Châu Âu và Việt Nam, tuy nhiên, trongmột sốtrường hợp, quy định pháp luật vàán lệ của các quốc gia khác ví dụ như Hoa Kỳđược dẫn chiếunhằm giải thích vàlàm rõ các vấn đề trình bày và lập luận. Việc so sánh, phân tích được tiến hành với bavấnđềcơ bản:thứnhất làvấnđềxácđịnhnhãn hiệunổitiếng,thứhai là các nguyên tắc pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, thứ ba là phạm vi bảo hộ đối với nhãn hiệunổitiếng; Cuối cùng, tácgiảtiếptụcnhững phân tích và đánh giá hoạtđộng thực tế của bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam, đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Namvềbảohộnhãn hiệunổitiếng trongbốicảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới. Những đề xuất này được hình thành là do dựa trên những kết quả phân tích, so sánh giữa hệ thống pháp luật Liên minh Châu Âu và Việt Nam và cácnềntảng lý luận cơbảnvềnhãn hiệunổitiếng và khuôn khổpháp lý quốctếvềbảohộnhãn hiệunổitiếng. Tóm lại, tácgiảthông qua việc nghiên cứu, phân tích, so sánh, đánh giá giữahệthống pháp luật Liên minh ChâuÂu và Việt Nam trong bối cảnh pháp lý quốc tế nói chung và trong hệ thống pháp luật quốc gia cụ thể để đưa ra những kiến nghị phù hợp nhằm củng cố và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng.

Luận án trên cómộtsốphầnnộidung quan trọng có liên quanđếnphạm vi nghiêncứucủaluận án như nghiêncứutổng quanvềnhãn hiệu, trongđótácgiả

14

đưa ra khái niệm về nhãn hiệu “là bất kỳ dấu hiệu nào có thể nhận biết được gồm từngữ, tên gọi, chữ cái, con số, biểu tượng, thiết kế, hình vẽ hay bất kỳ sự kết hợp nào của chúng, và kiểu dáng hay bao bì hàng hóa được sử dụng hoặc sẽ được sử dụng trong thương mạiđể xác định vàphân biệt hàng hóa hay dịch vụ của chủ thể này với hàng hóa hay dịch vụ của chủ thể khác”; bên cạnh đó tác giả cũng đã đề cập vàphân tích đặc điểm, chức năng của nhãn hiệu (từ trang 37 đến trang 44); giới thiệu chung pháp luật về nhãn hiệu phân tích các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về nhãn hiệu (từ trang 52 đến trang 55).

Luận văn thạc sỹ Luật học của Đặng Thị Thu Huyền (2004) về “Pháp luật vềnhãn hiệu hàng hóa theo quy định của Việt Nam và Cộng Hòa Pháp”, Đại học Luật Hà Nội.

Luận văn đã tìm hiểu và phân tích những vấn đề tổng quan về nhãn hiệu hàng hóa, theo đó tác giả đưa ra khái niệm nhãn hiệu hàng hóa, phân loại nhãn hiệu hàng hóa và phân biệt nhãn hiệu hàng hóavớimộtsốdấuhiệu khácgắnvớihàng hóa, dịchvụ.Bên cạnhđó,tácgiảviếtvềquyềnsởhữunhãn hiệu hàng hóa theo quyđịnh của pháp luật Việt Nam và Cộng hòa Pháp, theo đó tác giả tập trung tìm hiểu và phân tích các quyền và nghĩa vụ cơ bản của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa; bảo hộnhãn hiệu hàng hóa chốngđộcquyền và cạnh tranh không lành mạnh. Cuối cùng, tácgiảđánh giá thực tiễnbảohộquyềnsởhữunhãn hiệu hàng hóaởViệt Nam và kinh nghiệm bảo hộ của Cộng hòa Pháp, đưa ra phương hướng và đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa của Việt Nam.

Trong luận văn này, có một số luận điểm có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của luận án. Cụ thể:

+Từtrang 11 đến trang 13, tác giả đưa ra và phân tích khái niệm nhãn hiệu hàng hóa theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của Cộng hòa Pháp, từđó rút ra khái niệm về nhãn hiệu hàng hóa: “Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu cókhảnăng phân biệt hàng hóa hoặc dịchvụcủamộtngườivớihàng hóa hoặc dịch vụ của người khác. Dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu hàng hóa bao gồm từngữ, tên người,chữcái,chữsố,chữviết tắt, cácyếutốhình,tổhợpmầusắc hoặc các dấu hiệu khác”.

15

+ Từ trang 68 đến trang 69, tác giả cho rằng có nhiều phương pháp xác định giátrịnhãn hiệu. Việcđịnhgiá làsựkếthợpchặtchẽgiữabộphận tài chính vàMarketing. Tuy nhiên, tác giả cho rằng không có một phương pháp chung tổng quátáp dụng chomọinhãn hiệu cũng như không có 1 giátrịđúng chomộtnhãn hiệu hàng hóa. Phương pháp và kết quả của việc định giá nhãn hiệu hàng hóa tuỳ thuộc rất nhiều vào ngườiđịnhgiá,đốitượng định giá,và cảđốitượng sử dụngkết quảđịnh giá.

Các nhàđịnhgiá nhãn hiệu hàng hóađặtra 7yếutốđểxácđịnhgiátrịcủa một nhãn hiệu :

– Thứ nhất thị phần được coi là yếu tố đầu tiên để xem xét về uy tín của nhãn hiệu. Nhãn hiệu có thị phần lớn nhất thì được điểm thị phần cao nhất .

-Thứhai làsựổnđịnh,nhãn hiệu duy trìđượcsựưa chuộng và lòng trung thành của khách hàng trong thời gian dài thì có giá trị hơn.

– Thứ ba là thị trường, nhãn hiệu ở thị trường này có thể tạo nhiều giá trị hơn nhãn hiệu ở thị trường khác do khả năng tạo ra doanh số tốt hơn.

– Thứ tư là tính quốc tế, nhãn hiệu có mặt trên thị trường thế giới sẽ có giá trị hơn, có khả năng phát triển mở rộng thị trường tốt hơn nhãn hiệu quốc gia hay khu vực.

-Thứnăm là xu hướng,đólàkhảnăngcủamộtnhãn hiệu hàng hóa duy trìtình trạng hiện có trong tư tưởng của người tiêu dùng .

– Thứ sáu là sự hỗ trợ, nhãn hiệu được quản lý và hỗ trợ liên tục bởi công ty trong thời gian dài có giá trị hơn nhãn hiệu hàng hóa không có sự đầu tư từ đầu hay có đầu tư nhưng là đầu tư nhỏ, lẻ, không có tổ chức.

– Cuối cùng là sự bảo hộ, yếu tố này liên quan đến vấn đề pháp lý. Nhãn hiệu đăng ký độc quyền và được bảo hộ có giá trị cao hơn các nhãn hiệu đang bị tranh chấp.

Luận văn thạc sỹ Luật học của Hoàng Lan Phương (2011) về “Pháp luật Việt Nam về thương mại hóa quyền Sở hữu trí tuệ”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Luận văn đã tìm hiểu và phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ. Cụ thể, tác giả đã đưa ra khái niệm về quyền sở hữ trí tuệ, chỉ rõ các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ; đưa ra định nghĩa về thương mại hóa quyềnsởhữutrí tuệ,chỉra cácđốitượngcủaquyềnsởhữutrítuệcóthểđược

16

thươngmạihóa (trongđócó nhãn hiệu) cùng cácđiềukiệnđểthươngmạihóa quyền sở hữu trí tuệ; chỉ ra các hình thức để thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có đề cập đến hình thức chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu. Ben cạnh đó, tác giả tìm hiểu và phân tích pháp luật về thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ. Cụ thể, tác giả đã tìm hiểu và phân tích các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Namvềthươngmạihóa quyềnsởhữutrí tuệ.Tạiphần này, tácgiảđãchỉra vàphân tích quyđịnhcủapháp luật Việt Namvềchuyển quyềnsửdụngđốitượng quyền sở hữu công nghiệp (trong đó có nhãn hiệu), đồng thời chỉ rõ những bất cập của pháp luật Việt Nam về thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ. Cuối cùng, tác giảtìm hiểu và đánh giá thực trạng về thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ.

Trong luận văn này, có một số luận điểm đáng chú ý có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của luận án. Cụ thể:

+Từtrang 32 chođếntrang 35củaluận văn, tácgiảđãkhẳngđịnhviệc chuyển quyền sử dụng đối với nhãn hiệu cũng là một trong những hình thức thương mạihóa quyềnsởhữutrí tuệ,từ đótácgiảđưara các hình thức chuyển quyềnsửdụng đối với nhãn hiệu.

+ Từ trang 44 cho đến trang 47, tác giả đề cập đến các phương pháp định giáquyềnsởhữutrí tuệ, trongđógồmcác phương phápđịnhgiádựatrên chi phí, phương pháp định giá dựa trên thu nhập, phương pháp định giá dựa trên thị trường.

+Từtrang 69đếntrang 72, tácgiảđềcậpđếnquyđịnhcủapháp luật Việt Nam về chuyển quyền sử dụng đối với quyền sở hữu trí tuệ.

+ Tại trang 87, tác giả cũng đề cập đến bất cập chung trong quy định của pháp luật Việt Nam về chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu trí tuệ song chưa chỉ rõ đó lànhững bất cập gì.

+ Từ trang 93 cho đến trang 102, tác giả nhận định hiện có nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định về định giá quyền SHTT, nhưng các quy phạm lại không thống nhất với nhau (thậm chí còn mâu thuẫn với nhau), như vậy cho đến thời điểm này chưa cómộtvănbảnquy phạm pháp luật thống nhất quyđịnhviệcđịnhgiáquyền SHTT.

17

+ Tại trang 129 khi đưa ra giải pháp cho thực trạng được nêu từ trang 93 đến trang 102, tácgiảcho rằng việc quyđịnhvềđịnhgiá quyền SHTT cũngcầnphảiđược thống nhất trong một văn bản quy phạm pháp luật. Việc cần có 1 văn bản pháp luật về định giá quyền SHTT là một quy định hết sức cấp thiết hiện nay để đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của thực tiễn.

Luận văn thạcsỹLuậthọccủaBùiThịMinh (2015)về“HợpđồngLi-xăng nhãn hiệu hàng hóa trong thương mại quốc tế theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Luận văn trình bày tổng quanvềnhãn hiệu và li xăng nhãn hiệu hàng hóa, theođótácgiảtìm hiểu và phân tích các khái niệmvềnhãn hiệu, chức năng của nhãn hiệu, phân loại nhãn hiệu; tìm hiểu và phân tíchhợpđồngli xăng nhãn hiệu hàng hóa, các loại li xăng nhãn hiệu phổ biến cũng như vai trò của li xăng nhãn hiệu hàng hóa. Bên cạnh đó, tác giả tìm hiểu và phân tích quy định pháp luật của một sốquốc gia trên thế giới về hợp đồng li xăng nhãn hiệu hàng hóa, đồng thời tìm hiểu và phân tích một số quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng li xăng nhãn hiệu hàng hóa. Cuối cùng, tácgiảđánh giá thực trạng giao kết, thực hiệnhợpđồngli xăng nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam, đồng thời đề xuất một số giải pháp để khắc phục bất cập về hợp đồng li xăng nhãn hiệu tại Việt Nam.

Trong luận văn này, có một số luận điểm có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của Luận án, cụ thể:

+ Từ trang 6 cho đến trang 9, tác giả tìm hiểu và phân tích một số khái niệm về nhãn hiệu hàng hóa. Song việc nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở mức độ tổng hợpcác khái niệmvềnhãn hiệu hàng hóachứchưađưarađượcmộtkhái niệm riêng biệt, toàn diện về nhãn hiệu hàng hóa.

+Từtrang 16đếntrang 20, tácgiảtìm hiểu khái niệmvềli xăng nhãn hiệu hàng hóa và phân loại li xăng nhãn hiệu hàng hóadựatrênmứcđộvà phạm vi quyềnhạnvà trách nhiệmcủabên li xăng;đồngthời tácgiảcũng nêu các vai tròcủa hợp đồng li xăng nhãn hiệu hàng hóa.

+ Từ trang 24 đến trang 33, tác giả tìm hiểu một số quy định pháp luật của một sốquốc gia trênthếgiớivềhợpđồngli xăng nhãn hiệu, tuy nhiên tácgiảkhông

18

đánh giá và cũng không chỉ ra những điểm tương đồng hoặc khác biệt giữa những quy định về hợp đồng li xăng nhãn hiệu ở các quốc gia này so với quy định về hợpđồng li xăng nhãn hiệu tại Việt Nam; đồng thời tác giả cũng chưa đưa ra được các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi xây dựng quy định về hợp đồng li xăng nhãn hiệu hàng hóa.

+ Từ trang 33 đến trang 43, tác giả tìm hiểu quy định của pháp luật Việt Nam về hợpđồng li xăng nhãn hiệu hàng hóa. Theo đó, tác giả chia phần này thành 04 nội dung: i) chỉ ra cơ sở pháp lý của hợp đồng li xăng nhãn hiệu hàng hóa, theo đótác giả tóm lược các văn bản quy phạm pháp luật mà Việt nam đã ban hành để điều chỉnh về vấn đề li xăng nhãn hiệu hàng hóa; ii) chỉ ra các đặc điểm của hợp đồng li xăng nhãn hiệu, bao gồm: hình thức hợp đồng li xăng; phân loại hợp đồng li xăng; nội dung hợp đồng li xăng; iii) tìm hiểu về các điều khoản hạn chế li xăng trong hợpđồngli xăng nhãn hiệu hàng hóa; iv)vấnđềđăng kýhợpđồngli xăng nhãn hiệu hàng hóa.

+Từtrang 47 đến trang 50, tácgiảđánh giá thực trạng giaokếthợpđồngli xăng nhãn hiệu hàng hóaở ViệtNam khi phải giaokếtvớiđốitác nước ngoàivềcác khía cạnh:chủthểgiaokếthợpđồng;đăng kýhợpđồngđượcgiao kết; nội dung hợp đồng được giao kết.

+Từ trang 50 đến trang 53, tácgiảđánh giá thực trạng thực hiện hợp đồng li xăng nhãn hiệu về các khía cạnh: thanh toán giá trị hợp đồng; vi phạm về phạm vi quyền; vi phạmvềkiểm soát chấtlượnghàng hóa; các biện pháp giải quyết tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng.

+Từtrang 59đếntrang 70, tácgiả đưara các nhóm giải phápđểkhắc phục bấtcậptrong việc giaokếtvà thực hiệnhợpđồngli xăng nhãn hiệu. Theođó,tác giả chia ra thành 03 nhóm giải pháp: i) giải pháp khắc phục các thủ tục hành chính; ii) giải pháp khắc phục bất cập trong các quy định của pháp luật; iii) giải pháp khắc phục bất cập từ nhận thức của xã hội.

1.1.2. Bài viết trên các tạp chí khoa học

Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Hạnh Lê về “Pháp luật Liên minh châu Âu vềhợp đồng Li – xăng nhãn hiệu và một số bài học kinh nghiệm”, Tạp chí Nghiên cứu

lập pháp, số 05 (261), T3/2014, Tr.56 – 64.

19

Bài viếtgồmcó 03 phần, phầndẫnnhập, phầnnộidung và phầnkếtluận. Trong phần nội dung, từ trang 57 đến trang 64, tác giả đề cập đến 03 vấn đề về hợpđồng li – xăng nhãn hiệu trong pháp luật Liên minh châu Âu, đồng thời cũng chỉ ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Cụ thể: i) về cách thức điều chỉnh nội dung cơbản của hợp đồng li xăng nhãn hiệu, theo tác giả, nội dung của hợp đồng li – xăng nhãn hiệu trong pháp luật Liên minh châu Âu được quy định tại khoản 2 Điều 8 Chỉthị 2008/95/EC của Nghị viện châu Âu và khoản 2 Điều 22 Quy chế 207/2009 của Hội đồng Liên minh châu Âu. Theo đó, nội dung hợp đồng li – xăng nhãn hiệu bao gồmcácnộidung cơbảnlà: thờihạnli xăng, loại hình, cách thứcsửdụng nhãn hiệu được li xăng, phạm vi lãnh thổ li xăng và vấn đề về chất lượng sản phẩm/dịch vụđượcsảnxuất/cungứngbởibên nhận li xăng. Tácgiảđánh giá việc quyđịnh nhưvậylàhợplý,đãthểhiệnsựtôn trọng quyềntựdođịnhđoạtcủacác bên, không mang tính chất bắt buộc. Đồng thời tác giả cũng đưa ra quy định tại Khoản 1Điều144 LuậtSởhữutrítuệvà cho rằngmộtsốnộidungđượcquyđịnhtạiquyđịnh này là không cần thiết; mặt khác quy định tại Khoản 1 Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ sử dụng cụm từ “phải có”, tức ám chỉ bất cứ một hợp đồng li xăng nhãn hiệu này cũng bắt buộc phải có các nội dung được liệt kê tại Khoản 1 Điều 144 Luật Sởhữu trí tuệ. Tác giả đánh giá, việc quy định như vậy có thể xem là không hợp lý vìđi ngược lại với nguyên tắc chung của pháp luật dân sự. ii) Về nội dung không cho phép thỏa thuận trong hợpđồngli xăng nhãn hiệu, tác giả cho rằng pháp luật liên minh châu Âu không liệt kê các điều khoản hạn chế bất hợp lý quyền của bên được chuyển quyền, đặc biệt là các điều khoản không xuất phát từ quyền của bên chuyển quyền như quyđịnhtạiKhoản 2Điều144 LuậtSởhữutrítuệViệt Nam mà quyđịnh theo hướng “danh sáchđóng”, cónghĩa là các bên chỉ được thỏa thuận trong hợp đồng những gì phù hợp với quyền của bên chuyển quyền, còn những nội dung nào không xuất phát từ quyền này đều bị coi là bất hợp lý. Mặt khác, trong thực tiễn xétxửcác tranh chấp phát sinhtừhợpđồngli xăng nhãn hiệutạichâu Âu thì cơquan xét xử được áp dụng các học thuyết (học thuyết lý lẽ hợp lý (rule of reasons); họcthuyếtthịtrường thống nhất (unified market);họcthuyếttồntạivà thực thi (existence v.exercise);họcthuyếtđốitượngđặctrưng (specific subject matter)để

20

xem xétmộtđiềukhoản tronghợpđồngli xăng nhãn hiệu có vi phạm pháp luật cạnh tranh hay không. Iii) Vấnđề pháplý liên quan đến việc đăng ký hợp đồng li xăng nhãn hiệu. Tác giả cho rằng, quy định liên quan đến việc đăng ký hợp đồng li xăng nhãn hiệu tại Việt Nam có hai điểm khác biệt so với pháp luật Liên minh châuÂu:Mộtlà, pháp luật Việt Nam không đề cập đến lợi ích của cơ chế đăng kýhợpđồng li xăng nhãn hiệu ở khía cạnh liên quan đến vấn đề từ bỏ nhãn hiệu của chủ sởhữu; Hai là, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam không quy định rõ ràng về khái niệm “bên thứ ba” tại Khoản 2 Điều 148 Luật Sở hữu trí tuệ.

Bài viếtcủatácgiảHồThúy Ngọcvề“Phápluậtvềhợpđồngchuyển giao quyềnsở hữucông nghiệpcủaViệt Nam và HoaKỳdướigóc nhìn so sánh”,Tạp

chí Nhà nước và pháp luật, số 7/2014, Tr.67 – 73.

Ngoài phầnđặtvấnđề,phần tổng quanvềpháp luậthợpđồngchuyển giao quyền sở hữu công nghiệp của Hoa Kỳ và phần kết luận, nội dung quan trọng nhất củabài viết là so sánh pháp luậtvềhợpđồngchuyển giao quyềnsởhữucông nghiệp của Việt Nam và Hoa Kỳ được đề cập trong mục 2 từ trang 69 đến trang 73 của bài viết. Để so sánh, tác giả đã dựa trên 07 tiêu chí, cụ thể: i) về hình thức hợpđồng, tác giả cho rằng có sự tương đồng giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật Hoa Kỳ trong việc quy định hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp chỉ cóhiệulựckhi đãđược đăngkýtạicơ quan quản lý nhà nướcvềquyền sở hữu công nghiệp; đồng thời, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối với các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp sẽ có hiệu lực theo sự thỏa thuận của các bên, và chỉ có giá trịpháp lý đối với người thứ ba nếu hợp đồng đó được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền; ii) Về đối tượng được chuyển giao của hợp đồng, tác giả cho rằng pháp luật Hoa Kỳ cho phép chuyển giao nhữngđốitượngchưa đăng ký như nhãn hiệu, sáng chế, trong khiđópháp luật Việt Nam không quyđịnhvềviệc chuyển giao nhữngđốitượngchưa đăng ký, nhưnglạichỉrõ việc chuyển giao phảiđược thực hiện từ chủ sở hữu quyền, mà chủ sở hữu quyền xác lập quyền trên cơ sở quyếtđịnhcấpvăn bằngbảohộcủacơ quan nhànướccó thẩm quyền; iii)Vềnộidung củahợpđồngchuyển giao quyềnsởhữucông nghiệp, tácgiảcho rằng pháp luật HoaKỳkhông quyđịnhbắtbuộc nhữngnộidung phải có trongmộthợpđồng

21

chuyển giao mà tùy vào từng trường hợp cụ thể, các bên có quyền tự do quyết định nộidung phù hợp vàđưavào trong hợp đồng. Trong khiđó,tại Điều140 và Điều 144 của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam lại đưa ra các nội dung phỉa có của một hợpđồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp và hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp; iv) Về xử lý hậu quả khi chấm dứt hợp đồng trong trường hợp khi hợpđồngchấm dứt, bên nhận chuyển giaovẫncòn dư hàng chứađựngtàisảntrítuệtrong kho (nhưsảnphẩm mang nhãn hiệu chuyển giao quyềnsửdụng). Theo tác giả, pháp luật Hoa Kỳ đã có đưa rahướngxửlýhậuquả cho trường hợp nói trên, còn pháp luật Việt Nam thì chưa có quy định nào điều chỉnh về vấn đề này; v) Vềtrách nhiệm do vi phạm hợp đồng, theo tác giả có sự tương đồng trong quy định của hai quốc gia về vấn đề này. Tuy nhiên, riêng đối với chế tài phạt vi phạm hợp đồng thì có sự khác biệt, bởi theo pháp luật hợp đồng Hoa Kỳ nếu tiền phạt vi phạm theo thỏa thuận tronghợpđồngquá cao sovớitổnthất thì Tòasẽgiảm đi tương ứng. Trong khi theo pháp luậthợpđồngViệt Nam phải xét xemhợpđồngnày làhợpđồng dân sự hay hợp đồng thương mại thì mới đưa ra mức phạt vi phạm, bởi lẽ, nếu làhợpđồngdân sự thì pháp luật không quy địnhmứcphạttốiđa, cònnếulàhợpđồng thương mại thì mức phạt không được vượt quá 8% giá trị nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm; vi) về giải quyết tranh chấp, tác giả cho rằng có nét tương đồng về cơquan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa hai quốc gia vìđềuquyđịnhcơquan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án và Trọng tài thương mại. Tuy nhiên, tác giả cho rằng cóđiểmkhác biệt là Luật Trọng tài thươngmạinăm 2010 củaViệt Namchỉcó thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinhtừhợpđồng thươngmạichuyển giao quyền sở hữu công nghiệp trên cơ sở có thỏa thuận trọng tàihợplệ.vii) Về quyđịnhtrong trườnghợpchuyển giao nhãn hiệu, theo tác giả, pháp luật Hoa Kỳ đòi hỏi việc chuyển giao nhãn hiệu phải gắn liền với việc chuyển giao“toànbộlợithếcủadoanh nghiệp mà theođónhãn hiệuđượcsửdụng với phần lợi thế của doanh nghiệp có liên quan đến việc sử dụng nhãn hiệu này”. Những giao dịch chuyển giao nhãn hiệu hàng hóa mà không đảm bảo các lợi thế đi kèm với nhãn hiệuđềubịcoi là“chuyểngiaomộc”và là khônghợppháp. Pháp luật Việt Nam không có quy định về vấn đề này.

22

Bài viết của tác giả Hồ Thúy Ngọc về “Quy định cấm các điều khoản hạn chếquyền trong pháp luậtvềhợpđồngchuyển quyềnsửdụngđốitượngsởhữu công nghiệpởViệt Nam: nhữngbấtcập”,Tạpchí Nhànướcvà pháp luật,số7/2015,

Tr.27 – 34, tiếp theo trang 45.

Ngoàiphần đặtvấnđề vàkếtluận,nộidung bài viếtchủyếuđược đề cậpởmục 1, từ trang 27 đến trang 32, theo đó tác giả cho rằng có 05 vấn đề bất cập trong các quyđịnhcấm đối vớihợp đồngchuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp hiện nay,cụthể: i)bấtcậptrong quyđịnhbên chuyển quyền khôngđược cấm bên được chuyển quyền cải tiến đối tượng sở hữu công nghiệp, trừ nhãn hiệu; bất cập trong quy định bên chuyển quyền không được buộc bên được chuyển quyền chuyển giao miễn phí cho bên chuyển quyền cáccảitiếnđốitượngsởhữucông nghiệp do bênđượcchuyển quyềntạora; iii)bấtcậptrong quyđịnhbên chuyển quyền khôngđượcbuộc bênđượcchuyển quyền chuyển giao miễn phí cho bên chuyển quyền quyền đăng kýsởhữucông nghiệp, quyềnsởhữucông nghiệpđối với các cải tiến nói trên; iv) bất cập về quy định bên chuyển quyền không được hạn chếbênđượcchuyển quyền xuất khẩu hàng hóa dịchvụdượcsảnxuất theohợpđồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp sang vùng lãnh thổ không phải là nơi mà bên chuyển quyềnnắmgiữquyền sởhữucông nghiệp tươngứnghoặc cóđộc quyền nhập khẩu hàng hóa đó; v) bất cập trong quy định bên chuyển quyền khôngđượcbuộc bênđược chuyểnquyền phải mua toànbộhoặcmộttỉlệ nhấtđịnhcác nguyên liệu, linh kiện hoặc thiết bị của bên chuyển quyền hoặc của bên thứ ba do bên chuyển quyền chỉ định mà không nhằm mục đích bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịchvụdo bênđượcchuyển quyềnsảnxuất hoặc cung cấp.Từđótácgiảđưara một số kiến nghị tại mục 2, từ trang 32 đến trang 34.

Bài viếtcủatácgiảHoàng Lan Phương (2019)về“Phápluật quốctếvềchuyển quyềnsửdụngđốivớinhãn hiệu và những những khuyến nghị cho Việt

Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 12 (388), tháng 6/2019, Tr.57 – 64.

Ngoài phầnđặtvấnđềvàkếtluận, bài viết còn có phầnnộidungđượcchia thành 03 mục,cụthể:mục1, tácgiảđềcậpđếncácđiềuướcquốctếvềli xăng nhãn hiệu; mục 2, tác giả đề cập đến pháp luật của một số quốc gia về chuyển quyền

23

sử dụng đối với nhãn hiệu; mục 3, tác giả đưa ra những gợi mở cho Việt Nam trong việc hoàn thiện quy định của pháp luật về li xăng nhãn hiệu.

Trong bài viết, tại mục 3, tuy tác giả có đưa ra một số luận điểm quan trọng cóliên quan đến phạm vi nghiên cứu của luận án, song khi nghiên cứu kỹ thì chúng ta có thể nhận thấy những luận điểm này hầu như tương đồng với những nghiêncứuđượcđềcậptạibài viếtcủatácgiảHồThúy Ngọcvề“Phápluậtvềhợpđồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp của Việt Nam và Hoa Kỳ dưới góc nhìn so

sánh”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7/2014, Tr.67 – 73 và bài viết của tác giảNguyễn Thị Hạnh Lê về “Pháp luật Liên minh châu Âu về hợp đồng Li – xăng nhãn hiệu vàmộtsốbàihọckinh nghiệm”,Tạpchí Nghiêncứulậppháp,số05 (261),

T3/2014, Tr.56 – 64 như đã được chỉ rõ ở phần trên.

Bài viết của tác giả Hoàng Lan Phương (2019) về “Pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu: những bất cập cần khắc phục”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ

Việt Nam, số 61 (10), tháng 10/2019, Tr.29 – 33.

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, trọng tâm của bài viết được thể hiện tại phần nộidung, theo đó tác giả chỉ ra một sốbất cập củapháp luật Việt Nam về li xăng nhãn hiệu. Trong bài viết này cómộtsốluậnđiểmđáng chúýcó liên quanđến phạm vi nghiêncứucủaluận án,cụthể: i)Vềkhái niệm“chuyểnquyềnsửdụng nhãn hiệu”, tácgiảcho rằng kháiniệm này chưa được đề cậptrong pháp luật Việt Nam mà chỉ dựa trên một khái niệm chung về chuyển giaoquyền sử dụng đốivới các đối tượng sở hữu công nghiệp. Do đó, thông qua các lập luận của mình, tác giảđã đưa ra khái niệm về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu như sau: “chuyển quyền sửdụng nhãn hiệu là việc chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được chủ sở hữu đồng ýcho phép cá nhân, tổ chức khác sử dụng nhãn hiệu trong một khoảng thời gian nhấtđịnh, trong một phạm vi nhất định, trong đó nhãn hiệu được chuyển quyền sử dụng phải thuộc phạm vi quyềnsửdụngcủabên chuyển quyềnsửdụng”;ii)Vềđối tượng của hợp đồng li xăng nhãn hiệu còn bất cập: cụ thể, tác giả cho rằng cần cóquy định loại bỏ nhãn hiệu chứng nhận ra khỏi đối tượng được li xăng; iii) Về hình thức li xăng: tác giả khuyến cáo nên bổ sung thêm 03 hình thức li xăng nhãn hiệu: li xăng sơ cấp; li xăngđầyđủ;li xăngmộtphần; iv) Vềnộidunghợpđồngli xăng:

24

tácgiảkhuyến nghị nênbỏcụmtừ“phảicó”tạiđiều144 LuậtSở hữutrítuệkhi quy địnhvềnộidung củahợpđồngli xăng; v)Vềquyđịnhkiểm soát chất lượng hàng hóa,dịch vụgắn vớinhãn hiệu: tác giả khuyến nghị pháp luật Sở hữu trítuệnên có quy định về vấn đề này.

1.1.3. Sách chuyên khảo, sách tham khảo

Cuốn sách chuyên khảocủatácgiảNguyễn Thanh Tâm (2006),“Quyềnsởhữu công nghiệp trong hoạt động thương mại”, Nhà xuất bản Tư pháp.

Cuốn sách gồm có 04 chương, cụ thể: chương 1, viết về sử dụng quyền sở hữu công nghiệp và cạnh tranh; chương 2, viết về nhập khẩu song song; chương 3, viết về chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp và cạnh tranh; chương 4, tác giả viết vềthực thi quyền sở hữu công nghiệp nhằm bảo vệ quyền lợi thương mại của chủ thểquyềnsởhữucông nghiệp. Cuốn sáchđềcậpđếnvai tròcủaquyềnsởhữucông nghiệp trong thương mại, trong đó nhấn mạnh đến việc các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp luôn làmộtyếutốthểhiệnlợithếcạnh tranh trong thương mại. Mặt khác, quyền sở hữu công nghiệp, với tính độc quyền của nó cũng có thể bị lạm dụngđểcảntrởthương mại,dặcbiệt là thươngmạiquốctế.Đểgiải quyếtvấnđềnày, cuốn sách cũng tập trung làm rõ vấn đề cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soátđộc quyền trong lĩnh vực thương mại hóa đối tượng quyền sở hữu công nghiệp. Bên cạnh đó, cuốn sách cũng trình bày những kinh nghiệm phong phú của một số nước trênthếgiớivềnhữngvấnđềliên quanđếnviệc thươngmạihóa cácđốitượng quyềnsởhữucông nghiệp như:sửdụng quyềnsởhữucông nghiệp; gópvốnvào doanh nghiệp bằng giá trị quyền sở hữu công nghiệp trong đó có nhãn hiệu; cầm cố, thếchấp quyềnsởhữucông nghiệp; nhập khẩu song song; li-xăngbắtbuộc;hợpđồngchuyển giao quyềnsởhữucông nghiệp có quyđịnhcácđiềukhoảnhạnchếcạnh tranh; các biện pháp thực thi quyềnsởhữucông nghiệp nhằmbảovệlợiích thương mại của các chủ thể quyền sở hữu công nghiệp. Tại trang 105, tác giả đưa ra nhậnđịnh:“phápluật hiện hànhcủanướctađãcốgắng phân biệt hai loạihợpđồng:chuyển nhượng quyềnsởhữucông nghiệp và li-xăngvềquychếpháp luật. Tuy nhiên,sựphân biệt này chưađậmnét”.Tạitrang 107, tácgiảcho rằng pháp luậtvềphásảncủanướcta không có quyđịnhvềsốphậncủahợpđồngchuyển giao quyền sở hữu công nghiệp trong trường hợp bên giao là doanh nghiệp phá sản.

25

Cuốn sách của các tác giả Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang (2008), “Sở hữu trítuệ và chuyển giao công nghệ”, Nhà xuất bản Tư pháp.

Cuốn sách gồm có 6 chương, trong đó phần nội dung về sở hữu công nghiệpđượccác tácgiảđềcậpđếnởchương 3. Trong chương 3, các tácgiảđềcậpđến những vấn đề: lý luận chung về quyền sở hữu công nghiệp; đối tượng quyền sở hữu công nghiệp; xáclậpquyềnsởhữucông nghiệp; chuyển giao quyềnsởhữucông nghiệp. Trong phầnnộidungđềcậpđếnvấnđềchuyển giao quyềnsởhữucông nghiệp, các tácgiả có đề cậpđến vấnđềchuyển giao quyềnsử dụng đốitượng sởhữucông nghiệp nói chung.Đặcbiệt có nhiềunộidung liên quanđếnphạm vi nghiên cứu của luận án, cụ thể: từ trang 334 cho đến trang 351, các tác giả đã đi sâu phân tích cácvấnđềlý luận cũng như pháp lývềhợpđồng sửdụngđốitượngsởhữu công nghiệp bao gồm: khái niệm, các dạng hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp; hình thức và thủ tục đăng ký hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp;chủthể,đốitượng,nộidunghợpđồngsửdụngđốitượngsởhữucông nghiệp. Trong đó, các tác giả cũng khẳng định nhãn hiệu là đối tượng của hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp.

1.1.4. Tài liệu nước ngoài

Cuốn sách của tác giả Kamil Idris (2009) “Sở hữu trí tuệ một công cụ đắc lựcđể phát triển kinh tế” dưới sự bảo trợ của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, được dịch bởi Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam.

Cuốn sáchgồmcó 10 chương: chương 1, tácgiảgiới thiệuvềsởhữutrítuệtiền đề cơ bản và bối cảnh lịch sử; chương 2, viết về quá trình tăng trưởng kinh tế; chương 3 là chương về sở hữu trí tuệ, tri thức và tạo ra sự thịnh vượng; chương 4, viết về bằng độc quyền sáng chế, nghiên cứu, triển khai và công nghệ mới; chương 5, viết về nhãn hiệu hàng hóa và chỉ dẫn địa lý; chương 6, viết về quyền tác giả vàcông nghiệp văn hóa, thông tin; chương 7, viết về tri thức truyền thống; chương 8, viết về thụ đắc và duy trì quyền sở hữu trí tuệ; chương 9, viết về thực thi quyền sởhữu trí tuệ; chương 10, viết về vai trò của WIPO. Trong cuốn sách này tác giả tập trungđềcậpđếnlợiích kinhtếmà các tàisảnsởhữutrítuệ(màchủyếu là sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa và quyền tác giả) có thể mang lại cho sự phát triển của nền

26

kinh tế quốc gia, cho kinh tế của doanh nghiệp. Đặc biệt trong chương 5, ngoài việc tìm hiểu nguồngốccủanhãn hiệu thì tácgiảđãtậptrung trình bày và phân tích chức năng kinh tế vĩ mô và vi mô của nhãn hiệu hàng hóa; cách thức mà nhãn hiệu hàng hóa mang lại lợi ích cho xã hội và người tiêu dùng thông qua việc thúc đẩy đổi mới và đầu tư, cũng như cách thức mà từng doanh nghiệp riêng lẻ sử dụng chúng ởtầm chiến lược. Cuốn sách này không phải là một cuốn sách về lý thuyết pháp luật mà là một cuốn sách hướng dẫn thực hành về sở hữu trí tuệ với vai trò một công cụđắc lực để phát triển kinh tế và tạo ra sự thịnh vượng.

Cuốn sách của đồng tác giả Kamil Idris và J. Denis Beslisle (2005)

“Exchanging value – exchanging value – Negotiating technology licensing agreements”dướisựbảotrợcủaTổchứcSởhữutrítuệthếgiới và Trung tâm thương mại quốc tế.

Cuốn sách có 5 chương: chương 1, giới thiệu kháiniệm vềli-xăng và tại sao cầnhoặc khôngcầnphải li-xăng; chương 2, thảo luậnvềtầmquan trọngcủaviệc chuẩnbịcẩnthận cho việcđàmphánhợpđồngli-xăng, trongđónhấn mạnh tầm quan trọng của việc có được thông tin đầy đủ, xác định mục tiêu kinh doanh, đánh giá trước điểm mạnh, điểm yếu và chuẩn bị một chiến lược thích hợp cho việc đàm phán; chương 3, hướng dẫn về định giá công nghệ; chương 4, giới thiệu tổng quan về hợpđồng li-xăng, trong đó tập trung bàn luận về những vấn đề chung nhất nảy sinh trong hợp đồng li-xăng kèm theo nhiều ví dụ về điều khoản hợp đồng để minh họa; chương 5, bàn luận tầm quan trọng của việc đàm phán và nhấn mạnh rằng một hợp đồng thỏa mãn cả hai bên sẽ chỉ đạt được thông qua việc đàm phán và phải đạtđược“mộthợpđồngcảhai bênđềucólợi”.Trong cuốn sách này, các tácgiảđãgiới thiệuvềhợpđồngli-xăng (têngọithường dùngđểchỉloạihợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng công nghệ, hoặcđốivớimột sốđốitượngkháccủaquyềnsởhữucông nghiệp) thông qua việcchỉramộtsốđặcđiểmcơbảncủahợpđồngli- xăng, nhữnglợiích màhợpđồngli-xăng cóthểmanglạicho các bên tronghợpđồng, từ đó nhận định li-xăng là một cách làm hiệu quả để chủ sở hữu quyền có thểthương mại hóa tài sản sở hữu trí tuệ (trong đó có cả sáng chế) nhằm thu về lợi ích kinh tế. Các tác giả cũng đã đề cập đến các phương pháp định giá (thành tiền) để có

27

thể xác định giá trị của đối tượng hợp đồng; phân loại hợp đồng li-xăng; chỉ ra các hành vi xâm phạm quyền; vấn đề thực hiện hợp đồng trong đó nhấn mạnh các bên phải thực hiện đúng,đầyđủnghĩavụđãghi tronghợpđồng;phương thức giải quyết tranh chấp;hướngdẫncáchđàmphánhợpđồngli-xăng thành công,đểđạtđến mục đích “hai bên đều có lợi”. Ngoài ra, các tác giả cũng đưa ra được khái niệm và vai trò của nhãn hiệu.

Cuốn sách do Geoffrey Loades và Alison Southby biêntập(2004)“Nhữngđiềuchưa biếtvềsởhữutrítuệ- Tài liệuhướngdẫndành cho các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ” dưới sự bảo trợ của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới và Trung tâm thương mại quốc tế, xuất bản tại Geneva, được dịch bởi Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam.

Cuốn sách là tài liệuđượcbiên soạndướidạng câuhỏivà trả lời các vấnđềliên quan đến sở hữu trí tuệ hướng đến các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ vàcác tổ chức thương mại. Đặc biệt, ngoài những kiến thức chung về quyền sở hữu trítuệ, cuốn sách còn cung cấp những kiến thức nền tảng cơ bản và khái quát về nhãn hiệu; hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (li xăng nhãn hiệu); các vấnđề về định giá và các khía cạnh có liên quan đến tài chính của quyền sở hữu trí tuệ. Kiến thức có được từ cuốn sách này giúp cũng cố thêm một số kiến thức nền tảng về li xăng nhãn hiệu cho luận án.

Cuốn sáchcủa Irene Calboli và Jacques De Werra (2016),“The Law and Practice of Trademark Transactions: A global and local outlook”, Nhà xuất bản Edward Elgar Publishing

Cuốn sáchvớiđộdày hơn 600 trang,đâylà công trình nghiêncứuphân tích toàn diệnvềhệthống pháp luậtđiềuchỉnh các giao dịch liên quanđếnnhãn hiệu dưới góc nhìn của luật pháp và hoạt động kinh doanh, trong đó đề cập đến vấn đề li- xăng nhãn hiệucủamộtsốquốc gia, vùng lãnhthổnhư Mĩ, Liên minh Châu Âu,Đức, Pháp, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản. Nội dung của cuốn sách nhận định pháp luật ở các quốc gia và vùng lãnh thổ nói trên đều cho phép chủ thể quyền có quyền li-xăng nhãn hiệu, tuy vậy, giữa các quốc gia nêu trên vẫn có một số quy định khác nhau về vấn đề này.

28

Bài viết của tác giả Sindhura Chakravarty (2009), “Importance of Assignment Agreements under Intellectual Property Laws in India”đượcđăng trongấnphẩm Journal of Intellectual property rights Vol.14

Bàiviết đã nhận định chủ sở hữuquyền sởhữutrítuệtrong đó có nhãn hiệu muốn khai thác lợi ích kinh tế từ nhãn hiệu thì nhấtđịnh phảithực hiệndướihình thức hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu (trong đócóhợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu). Thông qua việc giaokếtvàthực hiệnhợpđồngnày, bên chuyển quyền cóthểthuđượcphí chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu, còn bên nhận quyềnđượcquyềnsửdụng nhãn hiệuđóvàđược hưởng lợi ích từ việc đó.

Bài viết của nhóm tác giả Michael W. Rafter, Lauren Sullins Ralls & Samantha L. Hayes (2013), “Avoiding an “Accidental” Franchise in U.S. Trademark Licensing”, được đăng trong ấn phẩm của INTA Bulletin, Vol 68 No 1 của Hiệp hội Nhãn hiệu quốc tế tại Hoa Kỳ.

Bài viết tìm hiểu về nhượng quyền thương mại và li–xăng nhãn hiệu, từ đó đưa ra những luận cứ để giúp phân biệt nhượng quyền thương mại và li-xăng nhãn hiệu.

1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án

Trong phạm vi nănglựctìm hiểu, nghiên cứu, phân tích các công trình khoa học ở trong và ngoàinước cóliên quanđến đềtài của mình, nghiên cứu sinh thấy rằng: Hiện tại chưa có công trình nào ở trong nước nghiên cứu một cách cụ thể, trực tiếp, toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam. Một số công trình tuy có đi sâu tìm hiểuvề một sốvấn đề bất cập, hạn chế của vấn đề chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, song mới chỉ dừng lại ở mức so sánh với pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu ở một sốquốc gia trênthếgiớivớitính chấtgợimởvấnđề.Bên cạnhđó,mộtsốcuốn sách lại đề cập chung về chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp chứ chưa đi sâu phân tích chuyên biệt về chuyển giao quyền sử dụng đối với nhãn hiệu. Mặt khác, cũng có một số công trình nghiên cứu mà nghiên cứu sinh thu thậpđược mặc dù không hoàn toàn liên quan đến luận án song trong một giới hạn nhất

29

định chúng có thể là cơ sở để nghiên cứu sinh phân tích, luận giải một số vấn đề vềnhãn hiệu. Thông qua việc phân tích, đánh giá những công trình khoa học thu thậpđược so với mục tiêu của luận án, nghiên cứu sinh nhận thấy có thể kế thừa và tiếp tục phát triển một số vấn đề trong các công trình nghiên cứu đó. Cụ thể như sau:

1.2.1. Về mặt lý luận

Các công trình nghiên cứu đã nói ở trên mặc dù bước đầu đã tiếp cận một sốvấn đề lý luận cơ bản về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu song vẫn còn một sốvấn đề rất quan trọng cần phải được tiếp tục hoàn thiện trong luận án:

Thứ nhất, về một số khái niệm

i) Khái niệm nhãn hiệu: Khái niệm nhãn hiệu dù đã được không ít tác giả nhắcđếnởnhiều công trình nghiêncứucủamình như: Luận văn thạcsỹLuậthọccủaĐặngThịThu Huyền (2004)về“Phápluậtvềnhãn hiệu hàng hóa theo quyđịnh củaViệt Nam và Cộng Hòa Pháp”,ĐạihọcLuật Hà Nội; Luận văn thạcsỹLuật họccủaBùiThịMinh (2015)về“HợpđồngLi-xăng nhãn hiệu hàng hóa trong thương mại quốc tế theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài”, Khoa Luật,ĐạihọcQuốc gia Hà Nội; Cuốn sáchcủacác tácgiảPhạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang (2008),“Sở hữutrí tuệvà chuyển giao công nghệ”,Nhà xuất bảnTư

pháp;… Tuy nhiên, khi phân tích để đưa ra khái niệm nhãn hiệu, một số tác giả vẫnđưa ra khái niệm nhãn hiệu dựa hoàn toàn theo quy định của khoản 16 điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ, cụ thể: “nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụcủacáctổchức, cá nhân khác nhau”; bên cạnhđómộtsốtácgiảlạiđưara khái niệm nhãn hiệu hàng hóa nhằm phân biệtvớikhái niệm nhãn hiệu dịchvụ.Tuy nhiên, bản thân nghiên cứu sinh nhận thấy, việc đưa ra khái niệm như trên là chưa bao quát hết nội hàm của nhãn hiệu và chưa minh thị; đồng thời chưa thể hiện được sự độc lập trong nghiên cứu để đưa ra một khái niệm nhãn hiệu mới, tiến bộ để khắc phục hạn chế, bất cập cho khái niệm nhãn hiệu được quy định trong luật.

Bên cạnh đó, cũng có tác giả đã đưa ra khái niệm nhãn hiệu riêng, chẳng hạn tại Luận án tiến sỹ Luật học của Phan Ngọc Tâm (2011) về “Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng – nghiên cứu so sánh giữa pháp luật Liên minh Châu Âu và Việt Nam”,Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tác giả cho rằng nhãn hiệu:“là bấtkỳdấu hiệu

30

nào có thể nhận biết được gồm từ ngữ, tên gọi, chữ cái, con số, biểu tượng, thiết kế, hìnhvẽhaybấtkỳsựkếthợpnàocủachúng, và kiểu dáng hay bao bì hàng hóađượcsửdụng hoặcsẽđượcsửdụng trong thươngmạiđểxácđịnhvà phân biệt hàng hóa hay dịch vụ của chủ thể này với hàng hóa hay dịch vụ của chủ thể khác”. Theo quan điểm của nghiên cứu sinh, mặc dù khái niệm này có phần chi tiết, cụ thểvà minh thị hơn so với khái niệm nhãn hiệu được quy định tại khoản 16 điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ, song khái niệm này cũng chưa bao quát được hết nội hàm của nhãn hiệu. Do đó, cần phải làm rõ nội hàm và bản chất của vấn đề để có thể đưa ra khái niệm nhãn hiệu một cách phù hợp nhất. Trên cơ sở lập luận và định hướng nêu trên, luận án sẽ tiếp tục hoàn thiện khái niệm nhãn hiệu dựa trên cơ sở thực tiễn và cơ sởpháp lý về nhãn hiệu.

ii) Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu: Sở dĩ nghiên cứu sinh quan tâm đến khái niệm này bởi chỉ khi chúng ta xây dựng được khái niệm vềquyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu mới biếtđược nộihàm của quyền sởhữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, nội hàm đó sẽ là nền tảng, là cơ sở trong việc khẳng định chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu. Trong số các công trình nghiên cứu nêu trên, chỉ có một số công trình nghiên cứu cóđềcậpđếnvấnđề về quyềnsởhữucông nghiệp như: cuốn sách chuyên khảo của tácgiảNguyễn Thanh Tâm (2006),“Quyềnsởhữucông nghiệp trong hoạtđộng thương mại”, Nhà xuất bản Tư pháp; Cuốn sách của các tác giả Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang (2008), “Sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ”, Nhà xuất bản Tư

pháp,…song các công trình nghiêncứunàychỉđềcậpđếnquyềnsởhữucông nghiệp nói chung mà chưa có công trình nghiên cứu nào đưa ra được khái niệm vềquyềnsởhữucông nghiệpđốivớinhãn hiệu. Thậm chí, Luậtsởhữutrítuệhiện hành cũng chưađưarađượckhái niệm quyềnsởhữucông nghiệpđốivớinhãn hiệu. Do đó, nghiên cứu sinh nhận thấy cần thiết phải xây dựng khái niệm quyền sởhữucông nghiệpđốivớinhãn hiệu,đồngthời phân tíchđểlàm rõ căncứxác lập quyềnsởhữucông nghiệpđốivớinhãn hiệu vànộidungcủaquyềnsởhữucông nghiệpđốivớinhãn hiệu,tạocơsởvững chắc cho việc thực hiện quyền chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu của chủ sở hữu nhãn hiệu.

31

iii) Khái niệm, đặc điểm chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu và khái niệm,đặc điểm hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu: đây là phần lý luận hết sức quan trọng, mang tính chủ đạo trong chương lý luận của luận án. Qua khảo cứu, các công trình nghiêncứunhư cuốn sách chuyên khảocủatácgiảNguyễn Thanh Tâm (2006),“Quyền sở hữucông nghiệp trong hoạt động thương mại”, Nhà xuất bảnTư pháp; Cuốn sáchcủacác tácgiảPhạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang (2008), “Sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ”, Nhà xuất bản Tư pháp; Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Hạnh Lê về “Pháp luật Liên minh châu Âu về hợp đồng Li – xăng nhãn hiệu vàmộtsốbàihọckinh nghiệm”,Tạpchí Nghiêncứulậppháp,số05 (261), T3/2014 tuy có đề cập đến vấn đề chuyển quyền sử dụng dụng đối với nhãn hiệu song không đưa ra khái niệm chuyển quyền sử dụng đối với nhãn hiệu. Trong sốcác công trình nghiêncứuđượcđềcậpởphần tổng quan này, nghiêncứusinh chỉ thấy có 03 công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm chuyển quyền sử dụng dụngđốivớinhãn hiệu vàhợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu.Cụthể: i) trong bài viếtcủatácgiảHoàng Lan Phương (2019)về“Phápluật quốctếvềchuyển quyềnsửdụngđốivớinhãn hiệu và những những khuyến nghị cho Việt Nam”,Tạpchí NghiêncứuLậppháp,số12 (388), tháng 6/2019,tạitrang 57, tác giả cho rằng “Chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu (gọi là “li-xăng nhãn hiệu”) là việc bên li-xăng nhãn hiệu cho phép bên nhận li-xăng nhãn hiệuđượcphépsửdụng nhãn hiệu trên hàng hoá/dịchvụtrongmộtkhoảng thời gian nhấtđịnh,phạm vi lãnh thổ nhất định theo thoả thuận giữa hai bên”; ii) Trong luận văn thạc sỹ Luật họccủaBùiThịMinh (2015)về“HợpđồngLi-xăng nhãn hiệu hàng hóa trong thương mại quốc tế theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài”, Khoa Luật,ĐạihọcQuốc gia Hà Nội,tạitrang 16, tácgiảcho rằng:“Chuyểnquyềnsửdụng nhãn hiệu (hay còn gọi là li-xăng nhãn hiệu) là việc chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép một cá nhân, tổ chức khác sử dụng nhãn hiệu của mình trên một vùng lãnh thổ nhất

định trong một khoảng thời gian nhất định, trong đó nhãn hiệu được li – xăng phải

thuộc quyền sử dụng của bên giao li – xăng”; iii) Trong bài viết của tác giả Hoàng Lan Phương (2019) về “Pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu: những bất cập cần khắc phục”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 61 (10), tháng

32

10/2019, tại trang 31, tác giả cho rằng “chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu là việc chủsởhữunhãn hiệu hoặcngườiđượcchủ sởhữuđồngýcho phép cá nhân,tổchức khác sử dụng nhãn hiệu trong một khoảng thời gian nhấtđịnh,trong một phạm vi nhấtđịnh,trongđónhãn hiệuđượcchuyển quyềnsửdụng phải thuộc phạm vi quyềnsửdụngcủabên chuyển quyềnsửdụng”.Từkhái niệm chuyển quyềnsửdụng dụngđốivớinhãn hiệu và khái niệmhợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu được đề cập ở 03 công trình nghiên cứu này, nghiên cứu sinh nhận thấy hai khái niệm i) và ii) córấtnhiềuđiểmtươngđồngnhau, songcảhai khái niệm trên đều chưa thể hiện đúng bản chất cốt lõi của vấn đề chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu.Cụthể: i)đốivớikhái niệmđượcnêu trong bài viếtcủatácgiảHoàng Lan Phương, khái niệm này chưalộttảđượcbảnchấtcủaviệc chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu: một là, nguồn gốc tiến hành chuyển quyền sử dụng đầu tiên đối với một nhãn hiệu phải do chính chủ sở hữu nhãn hiệu thực hiện (còn trong trường hợp bên nhận quyền muốn chuyển quyền sử dụng nhãnhiệu đócho bên thứ ba thì đây chẳng qua làhợpđồngthứcấp, phát sinhtừhợpđồngchuyển quyền (gốc)trướcđó), nhưng trong khái niệm này chưa lột tả được điều này; hai là, chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc bên chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu cho người khác (mà không phải làchủ sở hữu nhãn hiệu) cũng chỉ được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu trong phạm vi thời gian và không gian nhất định, đồng thời phạm vi thời gian và không gian đóphải phùhợpvớiphạm visửdụng nhãn hiệuđócủachủsởhữuhoặc bên nhận quyền (như hiệu lực bảo hộ và phạm vi lãnh thổ mà nhãn hiệu đó được bảo hộ) chứkhông phải là “theo thỏa thuận của hai bên” như tác giả viết; ii) Đối với khái niệmđược nêu trong bài viết của tác giả Bùi Thị Minh thì khái niệm này cũng chưa nhấn mạnhđượcviệcchủsởhữunhãn hiệu hoặc bên chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu chongườikhác (mà không phải làchủsởhữunhãn hiệu) cũngchỉđượcchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu trong phạm vi thời gian và không gian nhấtđịnh,đồng thời phạm vi thời gian và không gianđóphải phùhợpvớiphạm visửdụng nhãn hiệu đó của chủ sở hữu hoặc bên nhận quyền (hiệu lực bảo hộ và phạm vi lãnh thổmà nhãn hiệuđóđượcbảohộ)màchỉnêu chung chung là“thuộcquyềnsửdụng

củabên giao li–xăng”. Riêngđốivớikhái niệmthứiii)củatácgiảHoàng Lan

33

Phương, tác giả có đưa thêm một chủ thể mới trong khái niệm này là “người được chủ sở hữuđồng ý”,theo nhưlậpluận của tácgiả được nêutrong bài viết thìchủthểnày cóthể“không phải làngườiđang có quyềnsửdụng nhãn hiệu songlạiđượcsựủyquyềncủachủsởhữunhãn hiệu cho phép li xăng nhãnhiệu”.Tuy nhiên, trong lập luận của mình, tác giả lại chưa chỉ rõ được chủ thể nào được nhậnủy quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu để li xăng nhãn hiệu, do đó làm cho khái niệm chưa đủ sức thuyết phục. Từ đó, nghiên cứu sinh nhận thấy cần phải đưa ra các lập luậnhợplý, xác thựcđểxây dựng khái niệm chuyển giao quyềnsửdụngđốivới nhãn hiệu trên hai phương diện chủ đạo là lý thuyết và thực tiễn.

Bên cạnhđó,nghiêncứusinh nhận thấy hiệnvẫnchưa cóbấtkỳcông trình nghiêncứunàođềcậpchuyên biệtvềđặcđiểm,nộidung chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu. Do đó, việc nghiên cứu sinh nghiên cứu về đặc điểm chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệusẽgóp phần cũng cố thêm cơ sở lý luậnvềchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu.

Thứ hai, về vai trò của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Qua khảo cứu, nghiên cứu sinh nhận thấy hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến tính tất yếu của việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, duy chỉcó 03 công trình nghiên cứucó đềcập mộtsố vấn đềgầntiệm cận với vấn đềnày.Cụthể: trong luận án tiếnsỹLuậthọccủaNguyễn Thanh Tâm (2005)về

“Quyềnsởhữucông nghiệpdướigócđộthươngmại–nhữngvấnđềlý luận vàthựctiễn”,ĐạihọcLuật Hà Nội, tácgiảmớidừnglạiởmứcđộthừa nhậnđối tượngsởhữucông nghiệp nói chung và nhãn hiệu nói riêng có tính thương mại, theo đó chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp có thể chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc chuyển giaomộtsốđốitượngsởhữucông nghiệp trongđócó nhãn hiệuđểthulợinhuận. Bên cạnhđó,cuốn sáchcủatácgiảKamil Idris (2009)“Sởhữutrítuệ một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế” dưới sự bảo trợ của Tổ chức Sở hữu trítuệthếgiới,đượcdịchbởiCụcsởhữutrítuệViệt Nam,tạichương 5, tácgiảcũngchỉmớitìm hiểu nguồngốccủanhãn hiệu cũng nhưtậptrung trình bày vàphân tích chức năng kinh tế vĩ mô và vi mô của nhãn hiệu hàng hóa; cách thức mànhãn hiệu hàng hóa mang lại lợi ích cho xã hội và người tiêu dùng thông qua việc thúc đẩy đổi mới và đầu tư, cũng như cách thức mà từng doanh nghiệp riêng lẻ sử

34

dụng chúngởtầmchiếnlược.Còn cuốn sáchcủađồngtácgiảKamil Idris và J.

Denis Beslisle (2005) “Exchanging value – exchanging value – Negotiating technology licensing agreements”dướisựbảotrợcủaTổchứcSởhữutrítuệthếgiới và Trung tâm thương mại quốc tế các tác giả đã giới thiệu về hợp đồng li-xăng thông qua việc chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của hợp đồng li-xăng, những lợi ích mà hợp đồng li-xăng có thể mang lại cho các bên trong hợp đồng, từ đó nhận định li-xăng là một cách làm hiệu quả để chủ sở hữu quyền có thể thương mại hóa tài sản sở hữu trí tuệ (trong đó có cả sáng chế) nhằm thu về lợi ích kinh tế.

Việcchỉra tínhtấtyếucủaviệc chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu bằng hợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu có tácđộngmạnhmẽđếnviệc khẳng định tầm quan trọng của việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu trong nền kinh tế ngày càng năng động và hội nhập sâu rộng hiện nay, góp phần thay đổi cách nhìn của các cá nhân, tổ chức về vấn đề chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, góp phần thúcđẩycho hoạtđộngnàyđượcdiễn ra mạnhmẽhơn,thểhiện dòng chảy phát triển không ngừng của nền kinh tế tri thức. Dođó,trong phạm vi nghiên cứu của luận án, nghiên cứu sinh xét thấy cần thiết cần phải nghiên cứu về tính tất yếu của việc chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu bằng hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu.

Thứba,vềphân biệthợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu với hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu, hợp đồng chuyển nhượng tên thương mại và hợp đồng nhượng quyền thương mại

Qua khảo cứu, nghiêncứusinh nhận thấy hiện nay chưa cómộtcông trình nghiêncứuchính thống nào nghiêncứuvềvấnđềnày. Trong khiđó,hợpđồng chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệurấtdễbịnhầmlẫnvớihợpđồngchuyển nhượng nhãn hiệu, bởi xét về bản chất thì trong quan hệ chuyển nhượng nhãn hiệu luôn bao gồm cả việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu. Mặt khác, do pháp luật khôngcấmnên nhiều doanh nghiệp hiện nayđãvà đangsửdụng tên thương mại củamìnhđểlàm nhãn hiệu, dođókhi thiếtlậphợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệusẽkhiến nhiềungườinhầmtưởnglà đangtồntạimộthợpđồng chuyển nhượng tên thươngmạigiữa các bên. Bên cạnhđó,cũng không ít trường hợp xem hoạt động chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là nhượng quyền thương mại. Việc nhầm lẫn không đáng có này rất dễ khiến cho các bên hiểu sai về quyền

35

và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng, từ đó tiềm ẩn nhiều rủi ro cũng như nảy sinh tranh chấp giữa các bên. Vì vậy, nghiên cứu sinh nhận thấy việc phân biệt hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu với chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu, chuyển nhượng tên thương mại và nhượng quyền thương mại là rất cần thiết. Ngoài ra, qua khảo cứu, nghiêncứusinh nhận thấy hiện nay chưa cómộtcông trình nghiêncứuchính thống nào phân biệthợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu với hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng các tài sản khác mà không phải là tài sản trí tuệ, do đó trong luận án tác giả cũng sẽ đề cập và giải quyết vấn đề này.

1.2.2. Về mặt pháp luật

Qua khảo cứu, nhìn chung nghiên cứu sinh nhận thấy hiện nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu về vấn đề này.

Thứ nhất, về chủ thể hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Có thể nói, việc xác định và phân tích chủ thể trong quan hệ chuyển quyền sửdụng nhãn hiệu có vai trò rất quan trọng, bởi nếu xác định không đúng chủ thể của quan hệ thì chúng ta sẽ hiểu sai về quan hệ chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 141 Luật SHTT thì việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu phải được thiết lập dưới hình thức hợp đồng sử dụng nhãn hiệu (hay còn gọi là hợpđồngli xăng nhãn hiệu).Chủthểgiaokếthợpđồngchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu baogồmbên chuyển quyền và bên nhận chuyển quyền. Theo Khoản 1Điều 141 và Khoản 3Điều143 Luật SHTT thì bên chuyển quyềnchỉbaogồmchủsởhữunhãn hiệu hoặc bênđượcchủ sởhữutrực tiếp chuyển quyền (tronghợpđồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu thứ cấp), còn bên nhận chuyển quyền có thể là tổchức, cá nhân khác. Tuy nhiên, dưới góc độ nghiêncứucủa nghiên cứu sinh, việc quy định về chủ thể như trên còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu để làm sáng tỏ. Thứnhất,chủsởhữunhãn hiệu làtổchức hay cá nhân?Họcóbắtbuộc phải làthương nhân không?; Thứ hai, ngoài chủ sở hữu nhãn hiệu và bên được chủ sở hữu trực tiếp chuyển quyền thì cònchủthểnào có quyền chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu nữa hay không? Thứ ba, Luật SHTT quy định bên nhận chuyển nhượng là cánhân,tổchức khác,vậycá nhân,tổchức này cóthểlà ai? Cóbắtbuộc là thương nhân không, hay là nhữngtổchức, cá nhânbấtkỳnàođó?Thông qua quá trình khảo cứu, một số công trình nghiên cứu được nêu ở mục 1.1, 1.2 và 1.3 mới chỉ đề

36

cậpđếnmộtsốvấnđềbấtcậptronghợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu,rấthiếm công trình nghiêncứuđềcậpđếnchủthểtrong quanhệchuyển quyền sử dụng nhãn hiệu. Cụ thể, luận văn thạc sỹ Luật học của Hoàng Lan Phương (2011)về“Phápluật Việt Namvềthươngmạihóa quyềnSởhữutrítuệ”,Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội mới chỉ đề cập đến vấn đề định giá giá trị nhãn hiệu; Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Hạnh Lê về “Pháp luật Liên minh châu Âu về hợpđồng Li – xăng nhãn hiệu và một số bài học kinh nghiệm”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,số05 (261), T3/2014mớichỉđềcậpđếncách thứcđiềuchỉnhnộidung cơbảncủahợpđồngli xăng nhãn hiệu,vấnđềđăng kýhợpđồngli xăng nhãn hiệu. Bên cạnh đó, luận văn thạc sỹ Luật học của Bùi Thị Minh (2015) về “Hợp đồng Li- xăng nhãn hiệu hàng hóa trong thươngmạiquốctếtheo pháp luật Việt Nam vàpháp luật nước ngoài”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, từ trang 35 đến trang 43 có đề cập đến một số vấn đề của hợp đồng li xăng nhãn hiệu hàng hóa như nội dung, hình thức, cácđiềukhoảnhạnchếli xăng nhãn hiệu, đăng kýhợpđồngli xăng nhãn hiệu song cũng chưa nghiên cứu về các chủ thể trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu. Duy chỉ có bài viết của tác giả Hoàng Lan Phương (2019) về “Pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu: những bất cập cần khắc phục”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 61 (10), tháng 10/2019, có đềcậpđếnmộtchủthểcũng có quyền chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu là“ngườiđược ủy quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu”. Tuy nhiên, tác giả lại chưa có những lập luận để làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến chủ thể này. Từ những lập luận nêu trên, nghiên cứu sinh nhận thấy cần phải nghiên cứuđểlàm sáng tỏ nhữngvấnđềliên quan đến chủ thể trong quan hệ chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu.

Thứ hai, về phương thức chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Thông qua quá trình nghiên cứu, nghiêncứusinh nhận thấy việc nghiên cứu về phương thức chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu đúng bản chất của từng trường hợp chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu. Qua nghiên cứu, nghiên cứu sinh nhận thấy có hai phương thức chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu độc lập và chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu đi cùng với các đối tượng khác. Tuy nhiên, xét dưới góc

37

độ quy định của Luật SHTT thì các phương thức này chưa được quy định minh thịtrong luật, mà nó có thể được “ngầm hiểu” hoặc được phát hiện trong các quy định của luật khác có liên quan. Xét dưới góc độ nghiên cứu thì chưa có công trình nào nghiêncứusâuvề vấnđềnày. Dođó,nghiêncứusinh nhận thấycầnphải nghiên cứu về vấn đề này trong phạm vi của luận án.

Thứ ba, về đối tượng của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Đối tượng hợp đồng là nội dung cơ bản, bắt buộc phải có trong hợp đồng nói chung và hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu nói riêng. Tuy nhiên, hiện córấtít công trình có những nghiêncứumớivềvấnđềnày,hầuhếtcác công trình nghiêncứuchủyếuthểhiện thống nhất quanđiểmđốitượnghợpđồngchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu là quyềnsửdụng nhãn hiệu (theo tinh thầncủaLuật SHTT). Tuy nhiên, trong bài viết của tác giả Hoàng Lan Phương (2019) về “Pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu: những bất cập cần khắc phục”, có đưa ra luậnđiểmđáng chú ý, theođótácgiảcho rằng bên cạnh việc quyđịnhquyềnsửdụng nhãn hiệu tập thể không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân không phải làthành viêncủachủsởhữunhãn hiệutậpthểđó,Luật SHTT cũngcầnquyđịnh quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận là đối tượng không được chuyển giao5. Theo nghiêncứusinh,đâylàmộtquanđiểmkhá thúvị,song chưahẳnhợplýbởihầu như tác giả chỉ mới nhìn nhận vấn đề dưới góc độ cơ học (theo tác giả do mục đích của chủ sở hữu khi bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận chính là cho phép người khác sửdụng nhãn hiệuđótrên hàng hóa dịchvụcủahọnên việc li xăng nhãn hiệusẽkhông diễn ra trên thực tế) chứ chưa nhìn dưới góc độ căn cứ để bên có hàng hóa, dịch vụ làm thế nào để được sử dụng nhãn hiệu chứng nhận. Do đó, đối tượng hợpđồngchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệucầnphảiđượctiếptụcnghiêncứutrong phạm vi luận án.

Thứ tư, về nội dung của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Nộidungcủahợpđồngđược xem là “linhhồn” củahợpđồng,có vai trò rất quan trọng trong việcthểhiện phần nàobảnchấtcủahợpđồng,giátrịcủahợp

5 Hoàng Lan Phương (2019) về “Pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu: những bất cập cần khắc phục”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 61 (10), tháng 10/2019, tr31.

38

đồng, định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên,… giúp các bên hiểu và thực hiện hợpđồng.Khi nghiêncứuvềnộidunghợpđồngchuyển quyềnsửdụngđốitượngsởhữu công nghiệp nói chung và hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu nói riêng, các tác giả Nguyễn Thị Hạnh Lê, Hồ Thúy Ngọc, Hoàng Lan Phương cùng cho rằng nênbỏcụmtừ“phảicó”tạikhoản 1điều144 Luật SHTT,bởinếuquyđịnhnhưvậy là chưa tôn trọng quyền tự định đoạt, quyền tự do thỏa thuận của các bên6. Bên cạnh đó, tác giả Hồ Thúy Ngọc còn có bài viết bình luận về các điều khoản hạn chếbất hợp lý quyền của bên được chuyển quyền, đặc biệt là các điều khoản không xuất phát từ quyền của bên chuyển quyền. Theo tác giả, quy định tại điểm c khoản 2 điều 144 Luật SHTT tuy cómụcđíchhợplý nhưngnộidung quyđịnhpháp luật chưađảm bảođược mục đích nàyvà chưa tính đến các hoạt động thươngmạiđặc thù.7 Qua quá trình khảo cứu pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về nội dung của hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu, nghiên cứu sinh nhận thấy nhiều quốc gia có xu hướng quy định nội dung của hợp đồng này theo hướng “mở”, chứ không theohướng“đóng”bắtbuộc nhưởViệt Nam. Dođó,theo quanđiểmcủanghiên cứusinhvấnđềvềnộidungcủahợpđồngchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu cần phải được nghiên cứu trong luận án.

Thứ năm, về đăng kí hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Qua khảo cứu, tác giả nhận thấy chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề này, song đây lại là vấn đề pháp lý khá quan trọng liên quan đến hiệu lựccủa hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu đối với bên thứ ba. Luật SHTT năm 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2019 và năm 2022 đã có quy định khác nhau về vấn đề này, theođó việc đăng kí hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là bắt buộc để hợpđồng đó có hiệu lực đối với bên thứ ba (Luật SHTT năm 2005) thì hiện nay đã bỏ quyđịnh này (theo sửa đổi, bổ sung năm 2019 và năm 2022). Do đó các vấn đề liên quan

6 Nguyễn Thị Hạnh Lê (2014), “Pháp luật Liên minh châu Âu về hợp đồng Li – xăng nhãn hiệu và một số bài học kinh nghiệm”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 05 (261), T3/2014; Hồ Thúy Ngọc (2014), “Pháp luật vềhợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp của Việt Nam và Hoa Kỳ dưới góc nhìn so sánh”, Tạp chíNhà nước và pháp luật, số 7/2014; Hoàng Lan Phương (2019) về “Pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu: những bất cập cần khắc phục”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 61 (10), tháng 10/2019

7 Hồ Thúy Ngọc (2015), “Quy định cấm các điều khoản hạn chế quyền trong pháp luật về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp ở Việt Nam: những bất cập”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7/2015

39

đến vấn đề này như trong trường hợp các bên trong hợp đồng vẫn muốn đăng kí hợpđồng này với Cục SHTT với ý nghĩa là có sự “bảo chứng” của cơ quan Nhà nước làgiữahọ cótồntạihợp đồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu thì cóđượchay không? Cục SHTT có quyền từ chối việc đăng kí này hay không? Vì vậy, nghiên cứu sinh nhận thấy việc nghiên cứu về vấn đề này là rất cần thiết.

Thứ sáu, về giới hạn trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu Theo quyđịnhcủaLuật SHTT thì nhãn hiệutậpthểbịgiớihạnchuyển giao

quyền sử dụng, song nếu đứng trên góc độ về việc khai thác triệt để giá trị kinh tếcủa nhãn hiệu nhưng vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệutậpthể, không làm mất hoặc thay đổi nhãn hiệutậpthể. Tuy nhiên, qua khảo cứu, nghiêncứusinh nhận thấy chưa có công trình nào nghiêncứuvềvấnđềnày trong khiđâylàvấnđềrấtquan trọng, dođó vấnđềnàysẽ đượcnghiêncứusinh nghiên cứu, phân tích làm rõ trong luận án.

Thứ bảy, về xử lí hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu liên quan đến hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Khixảyra hành vi xâm phạm quyềnsởhữutrítuệđốivớinhãn hiệuđược giao dịch tronghợpđồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu mà không phải do các bên trong hợp đồng gây ra: Vấn đề này được đặt ra khi một chủ thể khác có hành vi xâm phạm quyềnsởhữutrítuệđốivớinhãn hiệuđượcgiao dịch tronghợpđồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của bên chuyển quyền sử dụng và bên nhận quyền sửdụng, khiđó chủthểnàosẽcó quyềntựbảo vệquyền vàlợiíchhợppháp của mình trước hành vi xâm phạm đó? Để giải quyết vấn đề này, Điều 198 Luật SHTTđã quy định chủ thể quyền sở hữu trí tuệ được áp dụng các biện pháp để giải quyết

vấn đề, trong đó có cả việc khởi kiện ra Tòa án hoặc Trọng tài;… Đây được xem làquy địnhhết sức cầnthiếtđể bảovệ quyền vàlợiíchhợpphápcủacác bên trong hợpđồngtrướcnhững hành vi vi phạm trong việcsửdụng nhãn hiệu. Song,điềuđáng tiếcởquyđịnhnày là Luật SHTTlạixácđịnhchủthểcó thẩm quyền thực hiện quyềntựbảovệmộtcách chung chung, không rõ ràngcụthể,chỉquyđịnh chunglà “chủthểquyềnsởhữu trí tuệ”,trong khi đó khoản 6Điều4 Luật SHTT chưa có quyđịnhlàm rõ“chủthểquyềnsởhữutrítuệ”cóđượcbaogồmcảbên nhận chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu theo hợp đồng thứ cấp hay không? Bên nhận

40

chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu theohợpđồngthứcấpcóđươngnhiênđược quyền khởi kiện hoặc khiếunạihành vi vi phạmđóhay không? Qua khảo cứu, nghiên cứu sinh nhận thấy chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này, trong khi đây là một vấn đề rất quan trọng liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của các chủ thể trước hành vi vi phạm, do đó luận án sẽ phân tích vàlàm rõ vấn đề này.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu của nghiên cứu sinh đối với luận án

Trải qua quá trình khảo cứu, đánh giá các công trình khoahọccó liên quanđếnđềtài luận án, nghiêncứusinh nhận thấy rằng, các tácgiảđãthểhiện nhiều quanđiểm đánhgiá vềvấnđềnghiên cứuđặc biệtlà đốivớipháp luật thực định. Các quanđiểmkhoahọccủacác tácgiảcựckì cóýnghĩa trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án. Tuy nhiên, bên cạnh đó các công trình nghiên cứu cũng còntồntạirấtnhiềuvấnđềcầntiếptụchoàn thiện. Dođó,trong quá trình hoàn thiện luận án, bản thân nghiên cứu sinh nhận thức rõ vừa phải tiếp thu những luậnđiểmkhoahọcđúngđắn,có luậncứkhoa học;đồngthờivừaphải tiếptụchoàn thiện những luậnđiểmcòn nhiều mâu thuẫn giữa các tác giả; nhữngýkiến trái chiều trong cùngmộtvấnđềtiếp cận; nhữngvướngmắc,bấtcậpphát sinh trong thực tiễn thực hiện pháp luậtvềchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu bằnghợpđồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu. Trên cơ sở đó, luận án được triển khai với các câu hỏi trọng tâm sau đây:

i) Mô hình lý thuyết của chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là gì?

ii) Những yếu tố cơ bản của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu bao gồm những yếu tố nào?

iii) Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luậtvềchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệuđã và đang diễn ra như thế nào?

iv) Cần có phương hướng và có các giải phápcụthể nào để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu?

41

v) Cần có các giải pháp cụ thể nàođểnâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Việt Namvềchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu thông quahợpđồngchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu?

1.4. Lý thuyết nghiên cứu

Để hoàn thành luận án, tác giả sử dụng các lý thuyết nghiên cứu chủ yếu sau đây:

i) Lý thuyếtvềtàisảnsởhữutrí tuệ,vềquyềnsởhữucông nghiệpđốivới nhãn hiệu, về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu. Đây là nền tảng lý thuyết quan trọng nhất được đề cập xuyên suốt trong luận án, nhờ đó mà luận án có thể luận giảiđược nhiều vấn đề như: quyền sử dụng nhãn hiệu là gì? quyền sử dụng nhãn hiệu từđâumà có? vì sao cóthểchuyển giaođượcquyềnsửdụng nhãn hiệu? ai cóthểchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu? hình thức chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu? giới hạn trong việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu?…

ii) Lý thuyết về cân bằng lợi ích của các chủ thể trong chuyển giao quyền sửdụng nhãn hiệu. Dựa trên cơ sở lý thuyết này mà luận án luận giải được vai trò của việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cũng như giải quyết hài hòa lợi ích của các chủ thể trong chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu.

iii) Lý thuyếtvềhợpđồngmà trọng tâm làhợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu.Hợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu là côngcụchủyếuđểcácchủthểthiếtlậpquanhệchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu,đồng thời hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cũng chỉ là một loại hợp đồng do đó cũng phải có những đặc điểm chung của hợp đồng nói chung bên cạnh nhữngđặc điểm riêng có của nó. Do đó, khi nghiên cứu về hợp đồng chuyển giao quyền sửdụng nhãn hiệu phải xuất phát từ lý thuyết về hợp đồng để từ đó định hình được các vấn đề lí luận của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu.

iv) Lý thuyết pháp luật chuyên ngànhvềthương mại, dânsựđềcậpđến chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu vàhợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu. Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là vấn đề pháp lí được đề cập khánhiều trong pháp luật thương mại, dân sự, do đó, lý thuyết pháp luật chuyên ngành về thương mại, dân sự cung cấp cho luận án những góc nhìn đầy đủ, toàn diện hơn vềchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu,từđógiúp tácgiảcóthểđưara những nhận định chính xác trong quá trình nghiên cứu.

42

KẾT LUẬN PHẦN TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Trong phần này, tác giả đã thống kê, phân tích, đánh giá có hệ thống các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến luận án theo các nhóm: i) Luận án, luận văn, khóa luận; ii) Bài viết trên cáctạpchí khoa học; iii) Sách chuyên khảo, sách tham khảo; iv) Tài liệu nước ngoài. Từ đó, tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứuđótuy đãđềcập đếnmộtsốvấnđềvề mặtlý luận cũng như thực trạng pháp luật Việt Nam và quy định của một số quốc gia trên thế giới có liên quan đến đề tài củaluận án như: quyềnsởhữucông nghiệp; thươngmạihóa quyềnsởhữucông nghiệp; nhãn hiệu vàđịnhgiá nhãn hiệu; đánh giámộtsốquyđịnhcủapháp luật Việt Nam cũng như một số quốc gia trên thế giới về hợp đồng li xăng nhãn hiệu;… , song tất cả những công trình nghiên cứu này mới chỉ đề cập sơ lược, chung chung chứ không chuyên biệt, chuyên sâu và toàn diện đến vấn đề mà luận án nghiên cứu.

Do đó, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu trong các công trìnhđược đề cậpở phầntổng quan, tác giả đã đánh giá vàchỉra những nội dung mà luận án cần phải giải quyết về mặt lý luận và về mặt pháp luật. Cụ thể:

+ Về mặt lý luận, tác giả cần xây dựng, phân tích, đánh giá và làm sáng tỏ các vấn đề về: khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu; khái niệm, đặcđiểm quyền sử dụng nhãn hiệu; khái niệm, đặc điểm của chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; vai tròcủaviệc chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu; phân biệthợpđồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu với một số loại hợp đồng như hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu,hợpđồngchuyển nhượng tên thương mại,hợpđồng nhượng quyền thương mại,…

+ Về mặt pháp luật, tác giả cần phải giải quyết các vấn đề liên quan đến quyđịnhcủapháp luật Việt Namvềchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu,hợpđồng chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu như: phạm vi chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu; giớihạnchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu; hình thức chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; chủ thể trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; hình thức của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; đối tượng của hợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu;nộidungcủahợpđồngchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; đăng kí hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn

43

hiệu; về giới hạn trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu;… các vấnđềhạnchế,bấtcậpphát sinh trong thực tiễn thực hiện pháp luậtvềchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam như: về việc thực hiện hợp đồng chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu trong trườnghợpbên chuyển giao là doanh nghiệp, hợp tác xãbịphá sản, giải thể;vềviệc xácđịnhgiátrịcủanhãn hiệu tronghợpđồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; về việc kiểm soát chất lượng của sản phẩm

bởi bên được cấp li – xăng nhãn hiệu để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm của bên nhận chuyển quyền không đảm bảo chất lượng; về việc dùng quyềnsửdụng nhãn hiệuđểgópvốnvào công ty khác;vềvấnđềxácđịnh quyền sở hữu đối với “giá trị vô hình” tăng lên của nhãn hiệu sau khi các bên chấm dứthợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu;vềviệc áp dụng quyđịnh khôngđượccó cácđiềukhoảnhạnchếbấthợplý quyềncủabênđượcchuyển

quyền; …

Đồng thời, tác giả cũng đưa ra được các câu hỏi nghiên cứu trọng tâm và các lý thuyết nghiên cứu trọng tâm để định hướng xuyên suốt cho quá trình viết luận án.

44 CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT CHUNG

VỀ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG NHÃN HIỆU

1.1 Nhữngvấnđềlý luậnvềchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu,hợpđồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

1.1.1 Khái niệm về nhãn hiệu

Từ trước đến nay, nhãn hiệu được xem là tài sản trí tuệ rất có giá trị và được nhiều chủ thể kinh doanh lẫn các nhà làm luật trên thế giới đặc biệt quan tâm, điềuđó xuất phát từ các chức năng vô cùng quan trọng của nó. Thực vậy, nhãn hiệu làdấuhiệuđểphân biệt hàng hoá, dịchvụcủacáctổchức, cá nhân khác nhau giúp ngườitiêu dùngdễdànglựachọn hay nói cách khác là nhãn hiệu giúp xácđịnh nguồn gốc sản xuất sản phẩm. Đây cũng được xem là chức năng quan trọng nhất vàcũng là chức năng có tính khởi nguồn chosựhình thành và phát triểncủanhững chức năng khác trongtấtcả các chức năng của nhãn hiệu, nhờ vào chức năng này mà người tiêu dùng tránh khỏi những nhầm lẫn không đáng có và thúc đẩy các hoạtđộngkinh doanh trênthịtrườngtrởnên minh bạch hơn, cạnh tranhmộtcách lành mạnh hơn8. Bên cạnh đó, nhãn hiệu còn là công cụ để quảng bá sản phẩm của nhàsản xuất với người tiêu dùng, với hi vọng rằng khách hàng sẽ mua lại trong những lần sau hay giới thiệu với người khác. Đặc biệt, trong bối cảnh phát triển bùng nổcủatruyền thông như hiện nay thì nhãn hiệu càngtrởthành côngcụhữuhiệuđểgiúp nhàsảnxuất quảng básảnphẩmcủamình vìđâylàdấuhiệu màngườitiêu dùngdễnhận biết nhất của sản phẩm. Không những thế, nhãn hiệu cònlà sự “bảo chứng” vềchất lượng sản phẩmđối với thịtrường. Một khi sản phẩm của nhà sản xuất nàođóđãchiếmđượclòng tincủangườitiêu dùngtừ lần sử dụngsảnphẩm

8 Trong phần 2.31 của tác phẩm “Trademark law – A practical anatomy”, Oxford University Press (2003), tác

giả Jeremy Phillips đã giải thích rằng: “… bổ sung thêm mối quan hệ của chủ sở hữu nhãn hiệu với nhữngđối thủ cạnh tranh bằng hoạt động duy trì các kênh thông tin từ người tiêu dùng, bảo đảm rằng họ không bịnhầm lẫn bởi những nhà sản xuất khác có sử dụng những nhãn hiệu giống hoặc tương tự với nhãn hiệu trên hàng hóa của mình. Mối quan hệ này thể hiện rằng pháp luật hướng đến mục tiêu bảo hộ một khía cạnh của ‘cạnh tranh lành mạnh’ giữa các doanh nghiệp sản xuất cạnh tranh.”

45

trướcđóthì cókhảnăng cao là nhữnglầnsaungườitiêu dùngvẫnsẽchọn sản phẩm đó của nhà sản xuất đó để mua vì họ yên tâm về chất lượng của sản phẩm.

Theomộtsốnghiêncứucho thấy,từthời xa xưa conngườiđãbiếtsửdụng nhãn hiệu để nhận biết nguồn gốc, xuất xứ của hàng hóa, dịch vụ. Đối với gia súc, người chăn nuôi gia súc khi trao đổi, mua bán gia súc của mình với người khác đãdùng biện pháp đánh dấu thông qua các vết cắt, xiên lỗ trên tai các con gia súc. Đối với các đồ thủ công mỹ nghệ như đồ gốm sứ, tơ lụa, gia thú con người đã biết dùng chữ ký hoặc biểu tượng để phân biệt sản phẩm do họ làm ra với sản phẩm của người khác. Từ 3000 năm trước Công nguyên, những người thợ thủ công Ấn Độ đã chạm khắc chữ ký của họ trên các tác phẩm nghệ thuật do họ tạo ra; 2000 năm trước Công nguyên, nhữngngườithợthủcông La Mãđãsửdụng nhữngdấuhiệu chạm khắc trên các sản phẩm đồ gốm của mình với mục đích để phân biệt hàng hóa của họ với hàng hóa của những thương nhân khác9. Thuật ngữ nhãn hiệu (brand) xuất pháttừngười Aixơlen cổ đại với nghĩa là đốt cháy (to burn), họ dùng cây sắt được nung đỏđể đánh dấu lên gia súc của mình để phân biệt với gia súc của người khác.

Trải qua các cuộc cách mạng công nghiệp, nền sản xuất hàng hóa, dịch vụ cónhiều bước phát triển vượt bậc. Khi hàng hóa được tạo ra ngày càng nhiều, dịch vụngày càng phong phú, đa dạng thì việc sử dụng nhãn hiệu để giúp khách hàng nhận biết cũng như phân biệt hàng hóa, dịchvụcủacácchủthểkinh doanh khác nhau ngày càngtrởnên phổ biến. Nhãn hiệu có khiđược sử dụngđể nhận biếtmột sản phẩm nhưng cũng có khi làmộtnhómsảnphẩm hoặc thậm chí làtấtcảcác sản phẩmcủacùngmộtchủthểkinh doanh10. Do đó, thông qua nhãn hiệu,ngườitiêu dùng có thể nhận biết, xác định được nguồn gốc sản phẩm và lựa chọn tiêu thụ các sản phẩm có nhãn hiệu mà mình muốn sử dụng mà không sợ bị nhầm lẫn hoặc mất nhiều thời gian để phân biệt với sản phẩm của chủ thể kinh doanh khác.

Trong thờiđạikinh tế tri thức như hiện nay, nhãn hiệu không còn đơn thuần chỉlà dấu hiệuđểnhận biết và phân biệt sản phẩm như đã phân tích ở trên mà nócòn mang giátrịkinh tếlớnvàtrởthành tàisảnvô hình quý giácủachủthểkinh

9 Cẩm nang sở hữu trí tuệ, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO, bản dịch của Cục Sở hữu trí tuệ, tr.65

10 Vì hàng hóa và dịch vụ đều là sản phẩm do con người tạo ra hoặc do con người đưa vào lưu thông trong cuộc sống nên trong luận án này tác giả dùng từ sản phẩm để ám chỉ chung cho cả hàng hóa và dịch vụ

46

doanh. Có không ít trường hợp giá trị kinh tế của nhãn hiệu còn lớn hơn các tài sản hữu hình khác của chủ thể kinh doanh. Bản thân nhãn hiệu là tài sản, nên nhãn hiệu có thể được mua, bán hoặc có thể cho thuê quyền sử dụng11.

Hiện nay, dù dưới góc độ của các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý về sởhữu trí tuệ hay dưới góc độ pháp lý thì cũng chưa có một khái niệm thống nhất vềnhãn hiệu.

Theo Văn phòng Nhãn hiệu và SángchếHoaKỳ(USPTO), nhãn hiệu hàng hóa là “bất kỳ từ ngữ, tên gọi, một biểu tượng hay hình vẽ hay bất kỳ sự kết hợp nào giữa chúngđượcsửdụng, hoặcsẽđượcsửdụng trong thươngmạiđểxácđịnh nguồn gốc hàng hóa và phân biệt hàng hóa đó với hàng hóa của người khác. Nhãn hiệu dịch vụ cũng được hiểu giống như nhãn hiệu hàng hóa ngoại trừ việc nó được sử dụng để xác định và phân biệt nguồn gốc xuất xứ của một sản phẩm dịch vụ chứkhông phải là một sản phẩm hàng hóa”12. Với định nghĩa này, một nhãn hiệu phảiđáp ứng được 4 yếu tố: thứ nhất, dấu hiệu đó phải là từ ngữ, tên gọi, một biểu tượng hay hình vẽ hay bất kỳ sự kết hợp nào giữa chúng; thứ hai, phải được sử dụng hoặc sẽ được sử dụng trong thương mại; thứ ba, phải có tác dụng chỉ ra được nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;thứtư, phải giúp phân biệt hàng hóa,dịch vụ đóvới hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh khác.

Theo Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): “nhãn hiệu là dấu hiệu có khảnăng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ do một doanh nghiệp sản xuất hoặc cung cấp với những hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp khác”. Theo đó,bất kỳ chữcái, từ ngữ, chữ số, hình vẽ, màu sắc, hình ảnh, sự sắp đặt, tiêu đề quảng cáo, nhãn hàng hoặc sự kết hợp của các dấu hiệu kể trên được sử dụng để phân biệt hàng hóa và dịch vụ của các công ty khác nhau có thể được coi là nhãn hiệu13.

Bên cạnh đó, cũng có một số các nhà nghiên cứu trong đó có các nhà nghiên cứuởnướcta cho rằng, nhãn hiệu“làbấtkỳdấuhiệu nào cóthểnhận biếtđược bao gồm từ ngữ, tên gọi, chữ cái, con số, biểu tượng, thiết kế, hình vẽ hay bất kỳ sự

11 Tăng Văn Bền (2005), “Thương hiệu và bảo hộ thương hiệu của hàng hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, tr.4

12 https://www.uspto.gov/patents-getting-started/general-information-concerning-patents#heading-2 13 http://www.wipo.int/export/sites/www/sme/en/documents/guides/translation/secrets_of_ip_vi.pdf

47

kếthợpnàocủachúng, và kiểu dáng hay bao bì hàng hóađượcsửdụng hoặcsẽđược sử dụng trong thương mại để xác định và phân biệt hàng hóa hay dịch vụ của chủ thể này với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác”14.

Từ các quan điểm trên, có thể thấy dưới góc độ của các nhà nghiên cứu, nhãn hiệu phải là nhữngdấuhiệu có thật,dấuhiệuđócóthểđượcthểhiệndướinhiều hình thức khác nhau nhưng phải nhìn thấy được, có khả năng chỉ ra được nguồn gốc củahàng hóa, dịchvụ,để từđógiúp phân biệt hàng hóa, dịchvụcủachủthểnày với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.

Dưới góc độ pháp lý, khái niệm về nhãn hiệu quy định trong luật của một sốquốc gia phát triển và một số hiệp định quốc tế liên quan đến sở hữu trí tuệ vừa cónhững điểm tương đồng song cũng có sự khác biệt.

Theo quy định của Bộ luật Sở hữu trí tuệ năm 1996 của Cộng hòa Pháp, điều L.711-1 đã đưa ra khái niệm về nhãn hiệu như sau: “Nhãn hiệu hàng hóa hoặc nhãn hiệu dịch vụ là dấu hiệu có thể được thể hiện dưới dạng chữ viết dùng để phân biệt hàng hóa hoặc dịchvụcủathểnhân hoặc pháp nhân. Nhữngdấuhiệu cóthểcấu thành nhãn hiệu chủ yếu là những dấu hiệu sau:

a. Têngọiđượcthểhiệndướibấtkỳhình thức nào như: Từ, tậphợptừ,tên người, tên địa lý, biệt hiệu, bút danh, chữ cái, chữ số, chữ viết tắt;

b. Dấu hiệu âm thanh như: âm thanh, lời nhạc;

c. Dấu hiệu hình ảnh như: hình vẽ, nhãn sản phẩm, con dấu, đường viền, hình nổi, hìnhảnhba chiều, biểu tượng, hình ảnh tổng hợp, hình thức, đặc biệt là hình thức sản phẩm, hình thức bao bì sản phẩm, hình thức đặc trưng của dịch vụ, cách bố trí kết hợp màu sắc, sắc thái màu”.

Từ quy định trên có thể thấy Bộ luật Sở hữu trí tuệ của Cộng hòa Pháp đã đưa ra khái niệm nhãn hiệu theohướngliệt kê khá chi tiết, làm rõđượcnộihàm cách hiểu về nhãn hiệu, theo đó có ba loại dấu hiệu chủ yếu có thể cấu thành nhãn hiệu,đó là: dấu hiệu tên gọi, dấu hiệu âm thanh và dấu hiệu hình ảnh kể cả hình ảnh ba chiều. Ngoài những dấu hiệu được quy định ở trên, thì những dấu hiệu khác cũng cóthểtrởthành nhãn hiệunếunhưdấuhiệuđócóthểđượcthểhiệndướidạngchữ

14 Phan Ngọc Tâm (2011), “Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng – nghiên cứu so sánh giữa pháp luật Liên minh châuÂu và Việt Nam”, Luận án tiến sĩ luật học, tr.37

48

viết dùngđểphân biệtsảnphẩm hoặc dịchvụcủathểnhân hoặc pháp nhân. Bên cạnh quyđịnhvềkhái niệm nhãn hiệu,BộluậtSởhữutrítuệcủa Cộng hòa Pháp cũng có quy định về điều kiện để một dấu hiệu được bảo hộ nhãn hiệu, nhưng quyđịnhnàyđượcthiếtkếnằmởmộtkhoản riêng biệtvớikhái niệm nhãn hiệu,đểtránh gây nhầm lẫn trong cách hiểu về nhãn hiệu. Cụ thể, để một dấu hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu thì: dấu hiệu đó phải mang tính phân biệt (Điều L.711-2); dấu hiệuđược lựa chọn không được tráivớitrậttựcông cộng và thuần phong mĩ tục;đồng thờidấuhiệuđókhông mang tínhlừadốivà không vi phạm các quyềnsởhữu trítuệ đã được bảo hộ (Điều L.711-3). Mặt khác, điều L.711-1 của Bộ luật Sở hữu trítuệ của Cộng hòa Pháp ghi nhận dấu hiệu âm thanh cũng có thể là nhãn hiệu và cóthể được đăng ký bảo hộ. Đây được xem là quy định tiến bộ, phù hợp với thực tiễn kinh doanh,bởitrên thựctếtrướcđóđãcó nhiều loại âm thanh khác nhauđược chấp nhận là nhãn hiệu vàđượcphépbảohộnhãn hiệuởmộtsốnướcnhư: tiếng gầm của sư tử mở đầu cho phim của hãng Metro Goldwyn Mayer (Hoa Kỳ), tiếng chuông điện thoại mặc định của hãng NOKIA (Phần Lan), tiếng sấm rền của hãng

môtô Harley–Davidson (Mĩ).Đếnngày 4/11/1994, tiếnggầmcủasưtửmởđầu cho phimcủahãng Metro Goldwyn MayercủanướcMĩđãđượcnướcPháp chođăng ký bảo hộ tại Pháp15.

ĐốivớiCộngđồngchung Châu Âu, pháp luậtvềnhãn hiệuđượcquyđịnh theo hướng là nhãn hiệu ở cấp độ cộng đồng nhằm bảo vệ lợi ích chung của khối do trong khối có nhiều nước khác nhau và có các đặc thù khác nhau. Chỉ thị89/104/EEEC3 và Quyđịnh40/944củaCộngđồngchung Châu Âuđượcxem lànhững văn bản pháp lý đầu tiên quy định các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu ở cấpđộcộngđồng,đượcáp dụng chung thống nhất trên toàn Châu Âu.Mụcđích của những quy định này là nhằm đảm bảo điều kiện đăng ký nhãn hiệu hài hòa ở tất cảcác quốc gia thành viên. Theo quy định tại Điều 2 Chỉ thị 89/104/EEEC3 và Điều 4 Quy định 40/944 của Cộng đồng Châu Âu nhãn hiệu được hiểu như sau: “Một nhãn hiệu cộng đồng có thể gồm bất kỳ dấu hiệu nào được trình bày một cách rõ ràng vàchi tiết, đặc biệt là các từ, bao gồm tên riêng, các phác họa hình ảnh, chữ viết, chữsố, hình dáng của hàng hóa hoặc bao bì của sản phẩm với điều kiện là những dấu

15 Nguyễn Thị Tú Anh, “Bảo hộ nhãn hiệu theo luật Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Luật học số 12/2008, tr 48

49

hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với hàng hóa hoặc dịch vụ của chủ thể kinh doanh khác”. Theo định nghĩa này, nhãn hiệu phải đáp ứng ba điều kiện: thứ nhất, phải là “dấu hiệu” trong đó chủ yếu là các từ, bao gồm tên riêng, các phác họa hình ảnh, chữ viết, chữ số, hình dáng của hàng hóa hoặc bao bì của sản phẩm;thứhai,phải “được trìnhbày rõ ràng và chi tiết”; thứ ba, phải “có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh khác”. Đặc biệt, với cách quy định vừa theo hướng mở vừa theo hướng liệt kê, quy định trên cũng không loại trừ việc các dấu hiệu âm thanh, mùi hương có thể trở thành nhãn hiệu và được đăng ký bảo hộ.

Ở Hoa Kỳ, theo quy định tại Đoạn 1127 Lanham Act (đạo luật điều chỉnh vềnhãn hiệu của Hoa Kỳ), lại thiên về định nghĩa nhãn hiệu hàng hóa là chủ yếu. Theođó,nhãn hiệu hàng hóađượchiểu như sau:“Thuậtngữnhãn hiệu hàng hóa bao gồm bất kỳ từ, tên gọi, biểu tượng hay hình vẽ hoặc sự kết hợp giữa chúng mà được sửdụng bởi mộtngười, hoặc được mộtngười cóýđịnhchân thành là sử dụng nótrong thương mại và xin đăng ký theo quy định tại luật này để xác định và phân biệt hàng hóacủangườiđó,baogồmcảcác hàng hóađặcchủngvớihàng hóađược sảnxuất hoặc được bánbởinhững người khác và chỉ ra nguồn gốc của hàng hóa thậm chí cả khi không xác định được nguồn gốc đó”. Điều đặc biệt của khái niệm nhãn hiệu được đề cập trong quy định trên đó là, một nhãn hiệu được xem là nhãn hiệu khi dấu hiệu đó đáp ứng được đồng thời cả hai chức năng khác nhau: vừa chỉra nguồn gốc hàng hóa vừa phân biệt hàng hóa của chủ thể này với hàng hóa của chủthể khác. Đồng thời, trong quá trình sửa đổi để hoàn thiện, pháp luật về nhãn hiệu của Mĩ cũng đã chia nhãn hiệu thành hai nhóm, nhóm nhãn hiệu truyền thống và nhóm nhãn hiệu phi truyền thống. Trong đó, nhóm nhãn hiệu truyền thống bao gồm các loại như: từ ngữ, tên gọi, biểu tượng, khẩu hiệu,…; nhóm nhãn hiệu phi truyền thống bao gồm: hình dạng sản phẩm, màu sắc, âm thanh, mùi, vị16.

Dưới góc độ các quy định quốc tế, trước đây Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp không đưa ra khái niệm nhãn hiệu là gì. Việc không đưa ra khái niệm

16 http://vietthink.vn/232/print-article.html

50

cụ thể về nhãn hiệu là do muốn tạo điều kiện để các nước thành viên Công ước tựđưara những khái niệmvềnhãn hiệu cho phùhợpvớiđặcđiểmcủanướcmình. Tuy nhiên,đếnkhi HiệpđịnhTRIPS 1994vềcác khía cạnh liên quantớithương mại của quyền sở hữu trí tuệ ra đời thì khái niệm nhãn hiệu đã được định rõ. TheoĐiều 15.1 hiệp định TRIPS, khái niệm nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ được quy định như sau:“Bấtkỳ mộtdấuhiệu, hoặctổhợpdấuhiệu nào, cókhảnăng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các sắc màu cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đóphải cókhảnăngđượcđăng ký là nhãn hiệu hànghóa”.Cóthểthấy khái niệm nhãn hiệu hàng hóa trong hiệp định TRIPS được quy định một cách khái quát, việc xác định một đối tượng bất kỳ có phải là nhãn hiệu hàng hóa hay không sẽ căn cứvào mục đích sử dụng và “bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa này với hàng hóa khác” thì đều có thể xem là yếu tố cấu thành của một nhãn hiệu hàng hóa. Theo đó, dấu hiệu về âm thanh, mùi hương cũng có thể được xem là nhãn hiệu nếu có khả năng phân biệt hàng hóa này với hàng hóa khác.

Còn với Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (gọi tắt là Hiệp định CPTPP), có 11 quốc gia ký tham gia trong đó có Việt Nam. Tại điều 18.18 hiệpđịnhCPTPP quyđịnh:“Không Bên nàođượcquyđịnhrằngdấuhiệu phảiđượcnhìn thấy bằngmắtnhưmộtđiềukiệnđểđăng ký, cũng khôngđượctừchối việc đăng ký nhãn hiệu là một âm thanh đơn thuần. Ngoài ra, mỗi Bên phải nỗlựcđểcho phép đăng ký nhãn hiệu mùi hương.MộtBên cóthểđòihỏimộtmôtảngắn gọn và chính xác hoặc đại diện đồ họa của nhãn hiệu, hoặc cả hai nếu có thể”. Dù không trực tiếp đưa ra khái niệm về nhãn hiệu, song điều 18.18 hiệp định TPP đãkhẳng định dấu hiệu để có thể được xem là nhãn hiệu không phải lúc nào cũng chỉ lànhữngdấuhiệu cóthểnhìn thấyđược,mà nó còn cóthểlà nhữngdấuhiệu không nhìn thấy được bằng mắt nhưng lại nhận biết được qua các giác quan khác như: thính giác (đối với dấu hiệu là âm thanh), khứu giác (đối với dấu hiệu là mùi hương).

Như vậy, dù trong khái niệm về nhãn hiệu nêu trên còn có những điểm khác nhau nhưng nhìn chung đều có một số điểm chung. Cụ thể:

51

Thứnhất, các quy định nêu trên đềuđược quy địnhvừatheohướngmở, vừa theo hướng liệt kê. Điều này có tác dụng vừa làm rõ được điều kiện cụ thể để một dấuhiệuđượcxem là nhãn hiệu giúpđịnhhìnhđượcnhãn hiệu là gì,vừakhông giới hạn các dấu hiệu khác cũng có thể trở thành nhãn hiệu, thể hiện được tính linh hoạt của điều luật.

Thứ hai, các quy định nêu trên đều thừa nhận việc không chỉ những dấu hiệuđược nhìn thấy được bằng thị giác mới có thể trở thành nhãn hiệu, mà còn có những dấu hiệu khác như âm thanh, mùi hương có thể nhận biết được thông qua các giác quan khác như thính giác, vị giác, khứu giác vẫn có thể trở thành nhãn hiệu.

Thứba, các quyđịnhnêu trênhầunhưđềuđặtra yêucầucho cácdấuhiệuđược dùng làm nhãn hiệu là phải có chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác nhau.

Từ những luận cứ nêu trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về nhãn hiệu nhưsau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu hoặc tổ hợp dấu hiệu có thể nhìn thấy được hoặc nhận biết được thông qua các giác quan của con người, chủ yếu được thể hiện dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tốđó,hoặc được thể hiện bằng màu sắc, âm thanh, mùi hương và có khả năng phân biệt hàng hóa, dịchvụ củachủthểkinh doanh này với hàng hóa, dịchvụ củachủthểkinh doanh khác”. Như vậy, dùđượcđịnhnghĩa nhưthếnào đi chăng nữa thìnhãn hiệu vẫn được xác định bởi ba yếu tố cơ bản là:

i) Hình thức tồn tại nhãn hiệu (dấu hiệu hoặc tổ hợp dấu hiệu);

ii) Con người có thể nhận biếtđược sựtồntạicủadấuhiệuhoặc tổhợpdấu hiệu đó;

iii) Có khả năng giúp phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh khác của nhãn hiệu17.

17 Tuy nhiên, khi đăng kí bảo hộ nhãn hiệu tại một quốc gia, không phải tất cả những dấu hiệu, tổ hợp dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với chủ thể kinh doanh khácđềuđượcchấp thuận đăng kíbảohộnhãn hiệu vì nhữngdấuhiệu,tổhợpdấuhiệuđócòn phảiđápứng những điều kiện nhất định do pháp luật của quốc gia đó đưa ra nhằm tránh những hậu quả bất lợi cho xã hội của việc sử dụng nhãn hiệu. Bên cạnh đó, hầu hết các quốc gia cũng có quy định những dấu hiệu, tổ hợp dấu hiệu không được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu khi những dấu hiệu, tổ hợp dấu hiệu đó có chứa các yếu tố có tính chất lừa dối hoặc trái với pháp luật, trái với đạo đức xã hội.

52

1.1.2 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

Khi nghiêncứuvềquyềnsửdụng nhãn hiệu và chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu, chúng ta không thể không đề cập đến quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệubởiquyềnsửdụng nhãn hiệu và chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu nằm trong nội hàm của quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Thuật ngữ “sở hữu công nghiệp” lần đầu tiên được sử dụng chính thức trong văn bản pháp luật ở trên thế giới là tại nước Pháp vào thế kỷ XVIII. Theo đó, quanđiểm thừa nhận và bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp cũng như quyền tác giả cũngđược bắt nguồn từ nước Pháp. Tất cả đều xuất phát từ lý luận về quyền tự nhiên do hai nhà triết học nỗi tiếng nước Pháp Vonte và Rutxo khởi xướng. Dựa theo lý luận này, quyền của người tạo ra một tác phẩm văn học nghệ thuật, một sáng chế, nhãn

hiệu…đốivớinhữngsảnphẩmđólà quyềntựnhiên, khôngthểtáchrờivà không phụ thuộc vào sự công nhận hay không công nhận từ phía nhà nước18. Quan điểm này đã được cụ thể hóa trong Lời nói đầu của Luật Sáng chế 1791 của Pháp với nội dung: “Bất kỳ ý tưởng mới nào, mà việc công bố và thực hiện có thể có lợi cho xãhội,sẽthuộcvềngườisángtạoraýtưởngđó;sẽlàsựhạnchếnhân quyền nếu không coimộtsángchếcông nghiệpmớilà sở hữucủangườiđãtạora sángchếđó”. Thuật ngữ “sở hữu công nghiệp” cũng đã được sử dụng trong một số văn bản pháp luật quốc tế như Công ước Paris. Theo Điều 1 Công ước Paris 1883 tổng sửađổi năm 1979 thì: “Sở hữu công nghiệp phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất, không những chỉ áp dụng cho công nghiệp và thương mại theo đúng nghĩa của chúng màchocảcác ngànhsảnxuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác vàtấtcảcác sản phẩmchếbiến hoặcsảnphẩmtựnhiên nhưrượuvang, ngũ cốc, lá thuốc lá, hoa quả, gia súc, khoáng sản,nướckhoáng, bia, hoa vàbột”.Tuy nhiên, Côngước Paris cũng như các Điều ước quốc tế khác về sở hữu trí tuệ không trực tiếp quy định khái niệm quyền sở hữu công nghiệp.

CònởViệt Nam, thuậtngữquyềnsởhữucông nghiệpđượcpháp luật ghi nhận lần đầu tiên trong Pháp lệnh Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1989. Tuy

18 Trần Nguyệt Minh (2005), Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, tr9

53

nhiên, Pháp lệnh này khôngđưara khái niệmvềquyềnsởhữucông nghiệp. Hiện nay, chúng ta có thể nhìn nhận quyền sở hữu công nghiệp dưới hai phương diện, đólà phương diện pháp luật và phương diện quyềncủachủsởhữuđốivớicácđối tượng sở hữu công nghiệp.

Thứ nhất, trên phương diện pháp luật, quyền sở hữu công nghiệp được hiểu làpháp luật về sở hữu công nghiệp hay nói cách khác là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh chủ yếu trong quá trình hình thành, xác lậpquyềnsởhữu, chiếm hữu,sửdụng vàđịnhđoạtcácđốitượngsởhữucông nghiệp, baogồmcác quyđịnhvềquyềnsởhữucông nghiệp trong pháp luật Việt Nam và các quyđịnhvềquyền sởhữucông nghiệp trong các hiệpđịnh,điều ước quốctếsong phương và đa phương mà Việt Nam là thành viên như Hiệpđịnh

TRIPS 1994, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ năm 2000, Công ước Paris về Sở hữu Công nghiệp,… Nội hàm của các quy định này phải đề cập đến các vấnđề:xác định cácđiều kiệnbảohộcácđốitượngsởhữucông nghiệp; trìnhtự,thủtục xác lập quyền sở hữu công nghiệp; nội dung quyền sở hữu công nghiệp; chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp; bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp trước các hành vi xâm phạm của các chủ thể khác.

Thứ hai, trên phương diện quyền của chủ sở hữu đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp, quyền sởhữucông nghiệp là quyền sở hữu của cá nhân, tổchức đối vớicácđốitượngsởhữucông nghiệp.Điềunày kháđồngnhấtvớiquyđịnhtại Khoản 4 Điều 4 Luật SHTT, theođóquyềnsởhữucông nghiệp là“quyềncủatổchức, cá nhânđốivớisáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiếtkếbốtrí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”.

Ngoài ra, quyềnsởhữucông nghiệp cònđượchiểudướigócđộlà quanhệpháp luậtvớiđầyđủcác yếu tố hội tụ như chủ thể, khách thể, nội dung. Theo đó, chủ thể của quyền sở hữu công nghiệp là tất cả các cá nhân, tổ chức như tác giả hay chủsởhữucácđốitượngsởhữucông nghiệp hoặctổchức, cá nhânđượcchủsởhữu quyền sở hữu công nghiệp chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp. Khách thểcủaquyềnsởhữucông nghiệp là cáckếtquảcủahoạtđộngsángtạotrítuệhoặc chuyển giao quyền sở hữu được áp dụng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh

54

như sáng chế, giải pháphữuích, kiểu dáng công nghiệp, thiếtkếbốtrí mạch tích hợpbán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại,chỉdẫnđịalý, bímậtkinh doanh19. Nội dung của quyền sở hữu công nghiệp là các quyền và nghĩa vụ của chủ thể của quyền sở hữu công nghiệp được pháp luật ghi nhận và bảo hộ.

Từnhững luậncứtrên, chúng ta cóthểhiểu quyềnsởhữucông nghiệp làquyềncủatổchức, cá nhân trong việcsởhữu,tựmìnhsửdụng, cho phép người khácsửdụng hoặc ngăncấmngườikhácsửdụng vàđịnhđoạtcácđốitượngsởhữu công nghiệp.

Cácđốitượngcủaquyềnsởhữucông nghiệp cùngvớitiến trình phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức của thế giới đã dần trở thành tài sản vô cùng quýgiá đối với những ai sở hữu chúng. Tuy nhiên, các đối tượng sở hữu công nghiệp lại rất dễ bị các chủ thể khác sử dụng một cách bất hợp pháp. Do đó, quyền sở hữu hợp pháp đối với các đối tượng này cần phải được pháp luật bảo vệ. Công ước Paris đãliệt kêmộtloạt cácđốitượngđượcbảohộquyềnsởhữucông nghiệp, bao gồm:

sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, mẫu hữu ích, tên thương mại, chỉ dẫnđịa lý (chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ) và chống cạnh tranh không lành mạnh. Sauđó,danh sách nàyđãđượcpháp luậtmộtsốnướcbổsung thêmmộtsốđối tượng mới, đó là: bí mật kinh doanh, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn. Các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp này cũng đã được liệt kê tại Khoản 2 Điều 3 Luật SHTT và khoản 1Điều750 BLDS năm 200520. Tuy nhiên Khoản 4Điều4 Luật SHTT còn bổ sung thêm một nội dung có liên quan chặt chẽ đến các đối tượng sởhữu công nghiệp nữa đó là quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. Mặc dù vậy nhưng chúng ta cần phải xác định quyền chống cạnh tranh không lành mạnh không phải là một đối tượng cụ thể của quyền sở hữu công nghiệp, song do tính chất dễ bịcác chủ thể khác xâm phạm của các đối tượng sở hữu công nghiệp nên các chủ thểquyền cần phải được trao quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. Đây được xem là một biện pháp bổ sung trong những biện pháp xử lý hành vi xâm phạm liên quan

19 http://dichvuthuonghieu.vn/khai-niem-cua-quyen-huu-cong-nghiep/

20 Hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2015 đang có hiệu lực thi hành (thay thế cho Bộ luật Dân sự năm 2005) đãbỏ quy định này.

55

đến nhãn hiệu nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ các đối tượng sở hữu công nghiệp của chủ thể quyền trước các hành vi xâm phạm trong quá trình kinh doanh.

Trong tất cả các đối tượng sở hữu công nghiệp, nhãn hiệu luôn được các chủthể kinh doanh lẫn khách hàng quan tâm. Ngày nay khi nhắc đến một số các ngành hàng, lĩnh vực thì người tiêu dùng thường nghĩ ngay đến các các sản phẩm gắn với những nhãn hiệu như: lĩnh vực phần mềm máy tính có Microsoft; máy tính xách tay có Sony vaio, hp, Apple; điện thoại di động có Iphone, Samsung; ti vi có Samsung, LG, Sony;tủlạnh có Samsung, Toshiba, Sharp; áo quần có Pierre Cardin, Cavil

clein; lĩnhvựcngân hàng có HSBC; lĩnhvựcbảohiểm có Prudential, AAA,… Cũng chính bởi vai trò rất lớn của nhãn hiệu đối với việc phát triển kinh doanh hàng hóa, dịch vụ mà hầu hết pháp luật của các nước trên thế giới, các điều ước quốc tế, hiệp định song phương và đa phương đều quy định nhãn hiệu là một trong các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp.

Ở Việt Nam, nhãn hiệu cũng là một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp21. Thông thường, khiđãđượccấpvăn bằngbảohộnhãn hiệu,chủsởhữu nhãn hiệu sẽ có quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu22. Một dấu hiệu muốnđượcbảohộnhãn hiệu phảiđápứngđầyđủcác tiêu chuẩnbảohộnhãn hiệu của pháp luật, thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Khi đãđượccấpvăn bằngbảohộnhãn hiệu,chủthểquyền cóthểtiến hành thực hiện quyềnsởhữucông nghiệpđốivớinhãn hiệu trongđócócảquyền chuyển giao quyền sở hữu/quyền sử dụng nhãn hiệu, lẫn thực hiện các biện phápbảovệquyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu của mình.

Từ những luận cứ đã nêu trên và phần 1.1.2.1, có thể hiểu quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là quyền của tổ chức, cá nhân trong việc sở hữu, tự mình sử dụng (trừ nhãn hiệu chứng nhận), cho phép người khác sử dụng hoặc ngăn cấm ngườikhácsửdụng và quyềnđịnhđoạtđốivớinhãn hiệu. Như vậy,chủsởhữu quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu có quyền chiếm hữu đối với nhãn hiệu

21 Xem Khoản 2 Điều 3 Luật SHTT

22 Đối với nhãn hiệu nổi tiếng, pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của nhiều quốc gia khác đều quy định quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký.

56

(tuy nhiên quyền này khó được thực hiện ở trên thực tế vì đặc tính vô hình của tài sản trí tuệ), có quyền tự mình sử dụng nhãn hiệu (trừ nhãn hiệu chứng nhận, bởi vìnhãn hiệu chứng nhận tuyđượcchủsởhữutạora nhưngchỉnhằmmụcđích cho những chủ thể kinh doanh khác sử dụng trên sản phẩm của họ khi đáp ứng các điều kiện nhất định), cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu, ngăn cấm người khác sửdụng nhãn hiệu và định đoạt nhãn hiệu. Khi sở hữu được nhãn hiệu thông qua việcđượccấpbăn bằngbảohộnhãn hiệu,chủsởhữuđượcđộcquyềnsửdụng nhãn hiệu.

Xuất phát từ bản chất là một loại tài sản vô hình, chủ sở hữu vừa có quyền đưa nhãn hiệu của mình vào sử dụng nhằm khai thác công dụng của nhãn hiệu để có thểthu được các lợi ích kinh tế nhưng đồng thời chủ sở hữu cũng có quyền chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu chongườikhácsử dụngtrong thời gian nhãn hiệuđược bảo hộ để tối đa hóa lợi ích kinh tế từ nhãn hiệu. Đây là quyền thể hiện rõ nhất lợiích kinhtếmà nhãn hiệu manglạichochủsởhữucủanó. Thông thường, có hai cách chủ yếu để thực hiện quyền chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu23:

Cách thứ nhất, chủ sở hữu nhãn hiệu chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng độc quyền;

Cáchthứhai,chủsởhữunhãn hiệu chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng không độc quyền24.

Ngoài ra, quyềnsửdụng nhãn hiệu cũng cóthểđược chuyểngiao thông qua một số loại hợp đồng khác, ví dụ như hợp đồng nhượng quyền thương mại và hợpđồng góp vốn vào công ty.

Mặt khác, chủ sở hữu cũng có quyền định đoạt nhãn hiệu: Quyền định đoạt ởđây được hiểu là việc chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền quyết định về sự tồn tại cũng nhưsốphận pháp lýcủanhãn hiệu.Cụthểnhư:chủsởhữunhãn hiệu chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu của mình cho người khác; từ bỏ quyền sở hữu đối với nhãn hiệu của mình; quyền để lại nhãn hiệu (theo di chúc hoặc theo pháp luật) làm disảnthừakếcho nhữngngườikhác sau khichủsởhữunhãn hiệu chết (khi chủ sở hữu nhãn hiệu chết đi mà quyền sở hữu đối với nhãn hiệu vẫn đang còn thời

23 Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), “Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân. 24 Những vấn đề lý luận có liên quan đến loại quyền này sẽ được tác giả đề cập ở những phần sau của luậnán.

57

hạnbảohộthì nó cũngđượcđịnhđoạtđểlạithừakếcho nhữngngườicòn sống khác tương tự như các loại tài sản khác); thực hiện quyền định đoạt đối với hãn hiệu thông qua việc dịch chuyển quyền theosựsáp nhập,hợpnhất, chia, tách pháp nhân,…

Ngoài ra,chủsởhữunhãn hiệu cũng có quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quanđếnnhãn hiệu:TạiĐiều6septies CôngướcParisvềbảohộsởhữu công nghiệp (sau đây gọi tắt là Công ước Paris) quy định:“Nếu đại lý hoặc ngườiđại diện của người là chủ nhãn hiệu tại một trong số các nước thành viên của Liên minh vẫn nộp đơn đăng ký nhãn hiệu cho chính mình tại một hoặc nhiều nước thành viêncủaLiên minh, mà khôngđượcsựcho phépcủangườichủđóthìchủnhãn hiệu có quyền phảnđốiviệc đăng ký hoặcđềnghịhuỷbỏviệc đăng kýđó,hoặc, nếu luật quốc gia cho phép, chuyển việc đăng ký đó cho mình, trừ trường hợp đại lýhoặc người đại diện biện hộ được cho hành động của mình”. Việt Nam là một trong 162 nước thành viên của Công ước nên để áp dụng quy định này vào thực tiễn nước ta, Điểm c Khoản 1 Điều 130 Luật SHTT đã quy định“trườnghợpsử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm ngườiđạidiện hoặcđạilýcủachủsởhữunhãn hiệusửdụng nhãn hiệuđómàCộng hoà xãhộichủnghĩa Việt Nam cũng là thành viên,nếungườisửdụng làngườiđạidiện hoặcđạilýcủachủsởhữunhãn hiệu và việcsửdụngđókhôngđược sự đồng ý củachủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng”. Đây làmột quy định rất cần thiết, vừa phù hợp với luật pháp quốc tế lại vừa đảm bảo cho khảnăng cạnh tranh lành mạnhcủanhãn hiệu trong và ngoàinước,góp phần xây dựng một môi trường kinh doanh cạnh tranh công bằng. Bởi nhãn hiệu là một yếu tốthể hiện lợi thế cạnh tranh trong thương mại, nên đã có không ít các doanh nghiệp thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh làm xâmhạiđếncácđốitượngsởhữucông nghiệpcủa đốithủđểthulợibấtchính trong kinh doanh. Ngoài ra, tínhđộc quyền của quyền sở hữu công nghiệp có thể bị các doanh nghiệp sở hữu quyền lạm dụng để cản trở thương mại. Do vậy, pháp luật phải thừa nhận cho các chủ thểkinh doanh quyền chống cạnh tranh không lành mạnh như làmộtnộidung của quyềnsởhữucông nghiệpđểđốiphóvớicác loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể gặp phải. Đây cũng được xem là sự bổ sung thêm một biện pháp xử lí

58

hành vi xâm phạm đối tượng sở hữu công nghiệp trong đó có nhãn hiệu. Ví dụ, khi một nhãn hiệu không có đăng ký bảo hộ bị xâm phạm thì đương nhiên không thể áp dụng các quy định về hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ để xử lí. Trong trường hợp này, pháp luật về cạnh tranh mà cụ thể là Luật cạnh tranh và quy định về cạnh tranh không lành mạnh trong Luật sở hữu trí tuệ sẽ được sử dụng để bảo vệ doanh nghiệp cũng như thành quả trí tuệ của họ chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh với lỗicốý từ phía đối thủcạnh tranh liên quan đến việc chỉ dẫn gây nhầm lẫn. Còn trong trườnghợpquyềnsởhữutrítuệđãđượcxáclậpvàbịxâm phạm, chủ sở hữu của các quyền này có thể lựa chọn áp dụng các biện pháp liên quan đến vi phạm quyềnsởhữu trí tuệ hoặc liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh nếu hành vi vi phạm này rơi vào hai trường hợp đó. Thậm chí, chủ thể bị xâm phạm cóthểlựachọncảhai loại phương thức giải quyếtnếucácyếutốvi phạm quyềnsởhữutrítuệvà cạnh tranh không lànhmạnh đốivớicùng mộtđốitượnglàđộclập với nhau. Và nếu như chỉ có chủ sở hữu của các đối tượng thuộc quyền sở hữu trítuệ mới được khởi kiện để áp dụng các biện pháp liên quan đến vi phạm quyền sởhữu trí tuệ; thì chủ thể được quyền khiếu kiện đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh lại rất rộng nên những chủ thể có liên quan đến đối tượng khiếu kiện như bên

nhận đại lý, bên nhận li xăng… cũng có thể khởi kiện về các hành vi xâm phạm nàyđể bảo vệ tốt hơn tài sản trí tuệ của các chủ thể kinh doanh. Có thể thấy, đây là một sựbổsung đểlấpcáclỗhỏng trong quyđịnh củacảhai ngành luật,từđótạođiều kiện bảo vệ có hiệu quả hơn quyền sở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp đồng thời tạo nên một môi trường cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích sự tìm tòi, sáng tạo hơn nữa các sản phẩm trítuệ25. Cuối cùng, chủsởhữu nhãn hiệu có quyền yêu cầu cơ quan Nhànướccó thẩm quyền buộcngườicó hành vi xâm phạm quyềnsởhữuđốivới nhãn hiệu của mình phải chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại. Đây làquy định rất cần thiết nhằm tăng cường khả năng tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ của chủ sở hữu nhãn hiệu khi nhãn hiệu bị chủ thể nào đó xâm hại.

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm quyền sử dụng nhãn hiệu

Theo lý thuyếtvềquyềnsởhữu tài sản thì quyềnsởhữutàisảncóthểđược xácđịnhqua ba thuộc tính: quyềnsửdụng tàisản(usus); quyền thulợitừtàisản

25 https://luatsohuutritue.com.vn/quyen-chong-canh-tranh-khong-lanh-manh/

59

(fructus); và quyền chuyển nhượng cho bên thứ ba (abusus)26. Trong các thuộc tính củaquyềnsởhữuthì quyềnsửdụng tàisảnlàmộttrong những quyền năng quan trọng và có ý nghĩa thực tế đối với chủ sở hữu. Chủ sở hữu hoàn toàn có toàn quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức của tài sản theo cách thức và mục đích sử dụng tài sản theo ý chí của mình: sử dụng hoặc không sử dụng tài sản, trực tiếp khai thác công dụng tự nhiên của tài sản hoặc để cho người khác sử dụng thông qua các giao dịch dânsựnhưhợpđồngcho thuê, chomượn.Tuy nhiên, trong mọi trường hợp,việc sửdụng tàisảnphải trên nguyên tắc khôngđượclàmảnhhưởngđến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, không tráiđạođứcxã hội. Thông thường,chủsởhữulàngườicó quyềnsửdụng tài sản (trừ một số trường hợp ngoại lệ). Như vậy, dưới góc độ pháp lý, quyền sử dụng chính là quyền khai thác công dụng của tài sản, hưởng hoa lợi, lợi tức từtài sản27. Khai thác công dụng của tài sản được hiểu là việc dùng tài sản để phục vụnhu cầu, sở thích của bản thân hoặc để khai thác lợi ích kinh tế của tài sản.

Tài sản vô hình là tài sản không tồn tại dưới dạng hình thái vật chất và có thểmangđếnnhững nguồnlợikinhtế28. Nếu như quyền chiếmhữuđượcxem là một thuộc tính điển hình đối với tài sảnhữuhình (vìchủ sởhữutài sản hữu hình phải chiếm hữu được tài sản hữu hình đó mới có thể khai thác công dụng của tài sản) thìquyền sử dụng lại được xem là thuộc tính căn bản và đặc trưng nhất của tài sản vôhình vì giá trị kinh tế của một tài sản vô hình chỉ thực sự được tạo ra khi chúng ta sửdụng tài sản vô hình đó trên thực tế. Cũng chính vì quyền sử dụng nhãn hiệu là một loại tài sản vô hình nên chủ sở hữu nhãn hiệu vừa có thể tự mình sử dụng nhãn hiệu (trừ nhãn hiệu chứng nhận) và đồng thời cũng có thể chuyển giao cho chủ thể khác sử dụng. Do đó, khi xây dựng khái niệm về quyền sử dụng nhãn hiệu chúng ta phải dựa trên nền tảng quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu kết hợp với lý thuyết về tài sản vô hình. Theo đó, có thể hiểu quyền sử dụng nhãn hiệu “là quyền của tổ

26 Harold Demsetz (1967), “Toward a Theory of Property Rights”, The American Economic Review, Vol. 57, No. 2, Papers and Proceedings of the Seventy-ninth Annual Meeting of the American Economic Association, pp. 347-359, Published By: American Economic Association

27 Xem điều 189 Bộ luật Dân sự năm 2015

28 Leandro Cañibano, Manuel García-Ayuso Covarsí, M. Paloma Sánchez (1999), “The valuerelevance and managerial implications of intangibles: a literature review”, financed by the TSER Program of the European Union. https://www.oecd.org/sti/ind/1947974.pdf

60

chức, cá nhân trong việc có thể tự mình khai thác (trừ nhãn hiệu chứng nhận) hoặc cho phép người khác khai thác công dụng của nhãn hiệu để hưởng các lợi ích kinh tế”.Tổchức, cá nhân có quyềnsửdụng nhãn hiệuđượcnêu trong khái niệm bao gồm chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc bên được chủ sở hữu nhãn hiệu chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu. Trong khái niệm này cũng cần lưu ý rằng, chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận không thể tự mình khai thác nhãn hiệu chứng nhận của chính mình mà chỉ có thể chuyển giao cho chủthểkhác khai thác công dụngcủanhãn hiệu chứng nhận khiđápứngnhữngđiều kiện nhất định để hưởng lợi.

Quyền sử dụng nhãn hiệu có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Một là, quyền sử dụng nhãn hiệu bị giới hạn trong khuôn khổ sự cho phép của pháp luật màcụthểlàbịgiớihạnvềmặtkhông gian,vềmặtthời vàvềmặtnội dung. Theođó,vềmặtkhông gian, phạm vi lãnhthổchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu đã được đăng kí bảo hộ phải phù hợp với phạm vi lãnh thổ mà nhãn hiệuđược bảo hộ ghi trong văn bằng bảo hộ được cấp cho nhãn hiệu được chuyển giao quyềnsửdụng.Vềmặtthời gian, thờihạnchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu của một nhãn hiệu không được vượt quá thời gian bảo hộ nhãn hiệu được ghi trong văn bằngbảohộnhãn hiệu.Vềmặtnộidung, quyềnsửdụng nhãn hiệuchỉđược thực hiện thông qua các hành vi: gắn nhãn hiệuđược bảohộlên hàng hóa, bao bìhàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạtđộng kinh doanh; lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hóa mang nhãn hiệuđược bảohộ;nhập khẩu hàng hóa, dịchvụmang nhãn hiệuđược bảo hộ.

Hai là, khi thực hiện quyền sử dụng nhãn hiệu, chủ sở hữu nhãn hiệu có thể sửdụng nhãn hiệu khácvớimẫunhãnhiệu đãđăng ký, miễn là nó“giữnguyên tính phân biệt của nhãn hiệu đã đăng ký”, thì sẽ “không dẫn tới việc đình chỉ đăng ký vàkhông thể hạn chế sự bảo hộ đã dành cho nhãn hiệu”. Mục đích của điều này là cho phép chủ sở hữu nhãn hiệu tạo ra các thay đổi trong nhãn hiệu mà không làm thayđổi đặc điểm phân biệt của nó, giúp nhãn hiệu có thể thích nghi tốt hơn với các yêu cầu tiếp thị và quảng bá của hàng hóa hoặc dịch vụ liên quan. Tuy nhiên, cần phải

61

nhấn mạnh rằng,sựthayđổiphảinằmởcácyếutốkhông cókhảnăng phân biệtđáng kể và (các) dấu hiệu được sử dụng trong thực tế và nhãn hiệu đã đăng ký phải cơ bản giống nhau29.

Ba là, việc thực hiện quyềnsửdụng nhãn hiệu vừa là quyền vừa là nghĩavụcủa chủ sở hữu nhãn hiệu, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực của Giấy chứng nhậnđăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Hầu hết các quốc gia đều quy định chủ sở hữu nhãn hiệu có nghĩavụsửdụng liêntụcnhãn hiệu. Việcsửdụng nhãn hiệubởibên nhận chuyển quyền theo hợp đồng sử dụng nhãn hiệu cũng được coi là hành vi sử dụng nhãn hiệucủachủsởhữunhãn hiệu. Trong trườnghợpnhãn hiệu khôngđượcsửdụng liêntụctrongmộtkhoảng thời gian nhấtđịnh(tùy theo quyđịnhcủatừng quốc gia) thì Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đó bị chấm dứt hiệu lực.

Bốnlà, việc thực hiện quyềnsửdụng nhãn hiệu phảigắnliềnvớisảnphẩmđược chủ sở hữu đăng kí bảo hộ nhãn hiệu. Điều đó có nghĩa là, nhãn hiệu được chủsở hữu đăng kí bảo hộ giành cho sản phẩm nào thì chỉ được sử dụng nhãn hiệu đócho sản phẩm đó.

Năm là, quyền sử dụng nhãn hiệu của chủ sở hữu nhãn hiệu có tính chất độc quyền. Chỉ có chủ sở hữu nhãn hiệu mới có quyền sử dụng nhãn hiệu, cho phép hay ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu của mình. Tuy nhiên, tính chất độc quyền này cũng có tính tươngđốibởimộtsốtrườnghợpngoạilệ,như trong trường hợp hợp sử dụng nhãn hiệu ko nhằm mục đích thương mại hoặc sử dụng nhãn hiệu trung thực (trùng với tên riêng).

1.1.4 Khái niệm, đặc điểm chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Nhưđãphân tíchởmục1.1.3,nhờvào việcsửdụng (khai thác công dụng) nhãn hiệu màchủsởhữunhãn hiệumớithuđượccáclợiích kinhtế(lợi tức)từnhãn hiệu. Đồng thời, vì quyền sử dụng nhãn hiệu là một loại tài sản vô hình và nhờvào tính chất độc quyền trong sử dụng nhãn hiệu của chủ sở hữu nhãn hiệu nên chủsởhữunhãn hiệu có quyềnsửdụng nhãn hiệucủamình theomộttrong hai cách:

trực tiếpsửdụng nhãn hiệu và chiasẻquyềnsửdụng nhãn hiệu cho cá nhân,tổchức khác để cá nhân, tổ chức đó sử dụng nhãn hiệu. Cụ thể:

29 https://luatminhkhue.vn/su-dung-nhan-hieu-dung-cach-la-nhu-the-nao.aspx

62

Một là,chủ sở hữutrực tiếp (tự mình) sử dụng nhãn hiệu: Trong trường hợp này, chủ sởhữunhãn hiệu trực tiếp thực hiện quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua các hành vi: gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh; lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hoá mang nhãn hiệu được bảohộ;nhập khẩu hàng hoá, dịchvụmang nhãn hiệuđượcbảohộ.Cácchủthểkhác nếu thực hiện một,một số hoặc tấtcảcác hành vi trên đối với nhãn hiệu màkhông có sự cho phép của chủ sở hữu đều bị xem là vi phạm pháp luật.

Hai là, chủ sở hữu chia sẻ quyền sử dụng nhãn hiệu để cho phép chủ thể khác sử dụng nhãn hiệu tức là chủ sở hữu đó đang thực hiện quyền chuyển giao quyền sửdụng nhãn hiệucủamình chochủthểkhác. Điều này cũng phùhợpvớiviệcđảm bảo hài hòa lợi ích của các bên trong sử dụng nhãn hiệu, để nhãn hiệu mang lại lợiích cho nhiềuchủthể khác nhau trong xã hội. Thông thường, có hai cáchđểthực hiện quyền chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu: i)Chủsởhữunhãn hiệu chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng độc quyền. Tức là, chủ sở hữu chuyển giao toàn bộ quyền sử dụng nhãn hiệu của mình cho người khác; trong thời hạn của hợpđồngsửdụng nhãn hiệuđãký kết,chủsởhữukhôngđượcchuyển giaođối tượng đó cho bất kỳ bên thứ ba nào khác và cũng không được sử dụng nhãn hiệu đócho đến khi hết hạn hợp đồng; ii) Chủ sở hữu nhãn hiệu chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng không độc quyền. Tức là, chủ sở hữu nhãn hiệu mặc dù đãký hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu cho người khác nhưng đồng thời vẫn có quyền sử dụng nhãn hiệu đó và vẫn được quyền chuyển tiếp quyền sử dụng nhãn hiệu đó cho bất kỳ chủ thể thứ ba nào khác. Khi kí kết hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, chủ sở hữu có quyền cho phép khoặc không cho phép bên được chuyển quyền sử dụng được kí kết hợp đồng thứ cấp với bên thứ ba30.

Đểcóthểchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu,chủsởhữunhãn hiệu phảiđảm bảo được rằng nhãn hiệu đó đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ hợp pháp cho chủ sở hữu hoặc thừa nhận điều đó. Bởi lẽ, trong vấn đề

30 Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), “Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân, tr164.

63

chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, việc chủ sở hữu nhãn hiệu được cơ quan nhànước cóthẩm quyền cấp văn bằng bảohộhoặc thừa nhận quyền sở hữu hợp phápđốivớinhãn hiệu có vai tròrấtquan trọng trong việc xáclậpthỏa thuận chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu đối với các bên. Thứ nhất, thông thường, trong thỏa thuận chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu, các bênsẽthỏa thuận phạm vi thời gian, không gian mà bên nhận chuyển giaođượcquyềnsửdụng nhãn hiệu. Tuy nhiên,đểcó sơsởcho các bên xácđịnhđượcgiớihạnkhông gian, thời giansửdụng nhãn hiệu trong thỏa thuận chuyển giao thì phải căncứvào giớihạnkhông gian, thời gianđượcquyđịnhtrong văn bằngbảohộnhãn hiệu mà cơ quan nhànước có thẩm quyền cấp cho chủ sở hữu nhãn hiệu. Bất cứ một thỏa thuận chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu nào cũng không được phép đưa ra những thỏa thuận về không gian, thời gian sử dụng nhãn hiệu vượt quá không gian, thời gian bảo hộđối với nhãn hiệu được ghi trong văn bằng bảo hộ nhãn hiệu. Thứ hai, theo nguyên tắc chung, chủ sở hữu hợp pháp nhãn hiệu có quyền sử dụng, cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu và chính văn bằng bảo hộ nhãn hiệu sẽ cho chúng ta biết được ai làchủsởhữuhợppháp nhãn hiệu (trừ nhãn hiệunổitiếng vì quyềnsởhữunhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở sử dụng). Một khi việc chuyển giao quyền sửdụng nhãn hiệuđượcthực hiệnbởichủsởhữunhãn hiệu hoặcđượcchủsởhữu nhãn hiệu đồng ý (chủ thể được chủ sở hữu nhãn hiệu chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu cũng có quyền chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệuđóchongườikhácnếuđược chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép) thì việc chuyển giao đó mới được xem là cócăn cứ pháp luật (có tính hợp pháp). Sau khi được chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệuhợppháp, bên nhận chuyển giao có quyền khai thác các công dụng của nhãn hiệu trong khuônkhổgiớihạnđãđượccác bên thỏa thuậnđểthu lợi. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, theo quy định của Luật SHTT hiện hành thì không phải nhãn hiệu nào cũng có thểđượctựdo chuyển giao, trong trường hợpđốitượngchuyển giao là nhãn hiệu tập thể thì nhãn hiệu tập thể không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể đó31.

31 Xem thêm khoản 2 Điều 142 Luật SHTT

64

Từ những phân tích ở trên, tác giả đưa ra khái niệm về chuyển giao quyền sửdụng nhãn hiệu như sau:“chuyểngiao quyềnsửdụng nhãn hiệu là việcngườicóquyền sử dụng nhãn hiệu (chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc bên nhận chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu) cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng nhãn hiệu của chủ sởhữuhoặc nhãn hiệu mà mìnhđượcchuyển giao trong giớihạnkhông gian, thời gian nhấtđịnhdo các bên thỏa thuận nhưng phải phùhợpvớiphạm visửdụng nhãn hiệu của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của bên nhận chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu từ chủ sở hữu nhãn hiệu”.

Bản thân nhãn hiệu cũng là một loại tài sản song đây là tài sản trí tuệ, tài sản vô hình nên việc chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệuvừacó nhữngđặcđiểm tương đồng song cũng có những đặc điểm khác biệt với các tài sản không phải là tài sản trí tuệ khác.

Thứ nhất, những đặc điểm tương đồng cơ bản giữa chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu với chuyển giao các tài sản không phải là tài sản trí tuệ:

i) Về chủ thể chuyển giao: Bên chuyển giao có thể là chủ sở hữu tài sản hoặc người được chủ sở hữu tài sản cho phép chuyển giao.

ii) Về mục đích chuyển giao: Bên chuyển giao cho phép chủ thể nhận chuyển giao được quyền khai thác công năng, tính dụng của đối tượng được chuyển giao đểthỏa mãn nhu cầu của bên nhận chuyển giao.

iii) Về hình thức chuyển giao: Việc chuyển giao quyền sử dụng đều được thông qua bằng hình thức hợp đồng và đều có thể giao kết dưới dạng hợp đồng song vụ.

iv) Về nội dung của việc chuyển giao: Đều thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch.

Thứhai, nhữngđặcđiểmkhác biệt cơbảngiữa chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu với chuyển giao các tài sản không phải là tài sản trí tuệ:

i) Về phạm vi giới hạn không gian sử dụng nhãn hiệu trong chuyển giao: Việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu giữa các bên luôn bị giới hạn về không gianđịa lý sử dụng nhãn hiệu bởi không gian địa lý mà nhãn hiệu chuyển giao được bảo hộ.Trong khiđó,đốivớikhông ít các tàisảnkhông phải là tàisảntrí tuệ, không gian sử dụng tài sản có thể do các bên tự thỏa thuận và quyết định.

65

ii) Về phạm vi giới hạn thời gian sử dụng nhãn hiệu trong chuyển giao: Việc chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu giữa các bên luônbịgiớihạnvềthời gian (thời hạn) sử dụng nhãn hiệu bởi thời hạn mà nhãn hiệu chuyển giao được bảo hộ. Trong khi đó, đối với không ít các tài sản không phải là tài sản trí tuệ, các bên cóthể tự thỏa thuận và quyết định thời hạn sử dụng tài sản.

iv)Vềbảnchất: Việcchủthểquyền thực hiện chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu không có nghĩa làhọ“bánđứt”nhãn hiệuđócho bên nhận chuyển giao, màkhi chuyển giao,chủthểquyềnvừacóthểkhai thác nhãn hiệu nhưng cũngđồng thời cho phép người khác cùng sử dụng nhãn hiệu, đây chính làđiểm đặc biệtcủa việc chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu. Trong khiđó,đốivớimộtsốtài sản không phải là tài sản trí tuệ, việc chuyển quyền sử dụng cũng đồng nghĩa với việc chủsởhữutàisảncó thểsẽkhôngđượcsửdụng chính tàisảnđótrong thời gian hợp đồng chuyển quyền sử dụng tài sản có hiệu lực (ví dụ: hợp đồng cho thuê xe tựlái, hợp đồng cho thuê nhà nguyên căn,…).

v) Về hậu quả đối với tài sản chuyển giao: Khi chuyển giao quyền sử dụng đối với các tài sản không phải là tài sản trí tuệ, thì có không ít tài sản sẽ bị hao mòn, xuống cấp. Nhưng việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thường sẽ làm cho nhãn hiệu đóngày càng trở nên phổ biến, được sử dụng rộng rãi và tồn tại lâu dài hơn.

vi)Vềhình thứcthểhiệncủaviệc chuyển giao: Việc chuyển giao quyềnsửdụng đối với các tài sản không phải là tài sản trí tuệ, tùy vào từng loại tài sản cụ thểmà các bên có thể chọn sử dụng một trong ba hình thức giao kết là lời nói, hành vi cụthểvà bằng vănbản(trừ những trườnghợppháp luật quyđịnhbắtbuộc phải thiết lập bằng văn bản). Song, khi chuyển giao quyền sử dụng đối với nhãn hiệu thìviệc chuyển giao bắt buộc phải lập bằng văn bản.

1.1.5 Hình thức chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu32

Như chúng ta đã biết, trong kinh doanh, các chủ thể kinh doanh thường có các dự định hoặc kế hoạch kinh doanh của mình. Tất cả các dự định hoặc kế hoạch kinh doanh đó đều hướng đến một mục đích chủ yếu là mang lại lợi ích kinh tế cho chủ

32 Hình thức chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu được đề cập trong mục này được hiểu là hình thức biểuđạt bên ngoài của chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

66

thể kinh doanh và hợp đồng được xem là phương tiện để biến các dự định hoặc kếhoạch kinh doanh đó trở thành hiện thực. Thực vậy, một người khi có dự định kinh doanh mặt hàng, dịch vụ nào đó thì ngoài việc nghiên cứu tính khả thi của việc kinh

doanh đó còn phải tập hợp nhân lực, vật lực, đầu ra cho sản phẩm,… Để làm đượcđiều này chủ thể kinh doanh đó phải tham dự vào rất nhiều hợp đồng như: thuê mặt bằng kinh doanh, thuê chuyên gia nghiên cứu, thuê nhân công laođộng,muasắm

trang thiếtbịphụcvụkinh doanh, vayvốnngân hàng, quảng cáosảnphẩm,…33. Trong quan hệ chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cũng vậy, việc chuyển giao vàviệc nhận chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cũng được xem là dự định hoặc kếhoạch kinh doanhcủabên chuyển giao và bên nhận chuyển giao. Việc giao, nhận quyềnsửdụng nhãn hiệu cóđượcdiễn ra hay không, chuyển giao nhãn hiệu gì, chuyển giao trong phạm vi nào, khi nào thì chuyển giao, chuyển giao với mức giá

nào,… trước hết phụ thuộc vào ý chí của bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao. Trong bối cảnh đó, hợp đồng trở thành sự lựa chọn phù hợp nhất và mang tính tất yếu duy nhất để giúp các bên biểu đạt ý chí của mình bằng cách ghi nhận ý chí của mình vào trong hợp đồng. Mặt khác, từ khái niệm chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu nêu trên, chúng ta có thể nhận thấy để có thể chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, các bên cần phải có sự thỏa thuận với nhau về các nội dung có liên quan một cách chặt chẽ,đặc biệtlà thiếtlậpquyền và nghĩavụcủacác bên. Chính vì cósựthể hiện ý chí thông qua thỏa thuận và có việc phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bênđãtạora nhữngdấuhiệuđặctrưng cho phép chúng ta cóthểbiếtđượcrằng giữa các bên đangtồntạimộthợpđồng34, vàhợpđồngnàyđượcgọilàhợpđồng chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu (hay còngọilàhợpđồngchuyển quyềnsử

dụng nhãn hiệu hoặc hợp đồng li – xăng nhãn hiệu).

Hiện nay, nhiều nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Pháp, Đức,… và ngay tại Việt Nam đã quy định hình thức chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu là hợpđồng vàhợpđồngnàyđượcgọilàhợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu (hoặc

33 Ngô Huy Cương, “Giáo trình Luật hợp đồng phần chung (giành cho đào tạo sau đại học)”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2013, tr7

34 Ngô Huy Cương, “Giáo trình Luật hợp đồng phần chung (giành cho đào tạo sau đại học)”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2013, tr16

67

hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu hoặc hợp đồng li – xăng nhãn hiệu). Đây cũng chính là lý do vì sao trong chương 2 và chương 3 của luận án, khi phân tích,đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật cũng nhưđềxuất các giải pháp, tácgiảchủyếuđềcậpđếnnhữngvấnđềliên quanđếnchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu dưới góc độ là một hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu chứ không đánh giá dưới góc độ là một quan hệ pháp luật.

1.1.6 Khái niệm, đặc điểm hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu 1.1.6.1 Khái niệm hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu chỉ là một loại hợp đồng cụthể trong vô vàn các loại hợp đồng, nên khái niệm hợp đồng chuyển giao quyền sửdụng nhãn hiệu cũng phải cóđầyđủnhữngdấudiệu chungcủahợpđồng(nói chung). TheoĐiều1378 trongBộluật DânsựQuébec (Canada) năm 1944định nghĩa: “Hợp đồng là sự thỏa thuận của các ý chí mà bởi nó một hoặc một số người tự ràng buộc mình với một hoặc một số người khác để thực hiện một cam kết”. Còn theo Điều 1101 Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 thì “Hợp đồng là sự thỏa thuận theođó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một việc nào đó”. Trong cuốn từ điển pháp luật nổi tiếng của Hoa Kỳ Deluxe Black’s Law Dictionary, xuất bản bởi West Publishing Co năm 1990 lại đưa ra hai định nghĩa khác nhau về hợp đồng, đó là: “Hợp đồng là một sựthỏa thuận giữa hai hoặc nhiều người mà tạo lập nên một nghĩa vụ làm hoặc không làm một việc cụ thể”; và “Hợp đồng là một sự hứa hẹn hoặc một tập hợp sự hứa hẹn mà đối với việc vi phạm nó, pháp luật đưa ra một chế tài, hoặc đối với sự thực hiện nó, pháp luật, trong một số phương diện, thừa nhận như là một trách nhiệm”. Còn theo khoản 1Điều420Bộluật DânsựLiên bang Nga năm 1994 thì:“Hợpđồngđược thừa nhậnnhư một sự thỏa thuận được giao kếtbởihai hoặc nhiềungườivềviệc phát sinh, thayđổihoặc chấmdứtcác quyền và nghĩavụdânsự”.Vớinhận thức tương tự về hợp đồng được thể hiện trong Bộ luật Dân sự Liên bang Nga năm 1994, Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam cũng đưa ra cách hiểu vềhợpđồngvớinộidung:“Hợpđồng làsựthỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thayđổihoặc chấmdứtquyền, nghĩavụdânsự”.Thông quamộtsốkhảocứuở

68

trên, chúng ta có thể thấy rằng, dù cách diễn đạt hay cách tiếp cận về hợp đồng cókhác nhau đi chăng nữa thì tất cả những nhận thức nêu trên về hợp đồng đều có mộtđiểm chung là đều xem hợp đồng là nguồn gốc làm phát sinh ra quan hệ pháp luật hay hậu quả pháp lý35. Từ đó, khái niệm về hợpđồngphải luôn thể hiện được hai yếu tố căn bản nhất,đó làphải cósựthỏa thuận (tức là phải có sự trao đổi, thống nhấtýchí) và phảitạolậpramộthậuquảpháp lý (vídụnhư phải làm phát sinh,

thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên;…). Với tư cách là một loại hợp đồng, hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cũng phải bao gồm đầyđủ hai yếu tố căn bản là phải có sự thỏa thuận và phải tạo lập ra một hậu quả pháp lý. Sự thỏa thuận này chínhlà sựbiểu hiệnýchíđồngthuận của bên chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu và bên nhận chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu. Kể từthời điểm hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu được giao kết hợp pháp sẽthiếtlậpsựràng buộc pháp lýcủacác bên tronghợpđồng. Dođó,chúng ta cóthể hiểu “hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là sự thỏa thuận giữa bên chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu và bên nhận chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu nhằm xáclậpquyền và nghĩavụcủacác bên trong hoạtđộngchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu”. Một khi hợp đồng này được kí kết hợp pháp thì nó được xem là“luật”giữa các bên trong quanhệhợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu, các bên phải có nghĩavụtuânthủnhững gìđãthỏa thuận tronghợpđồng, nếu để xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng thì rất có thể sẽ phải gánh chịu một hoặc một số chế tài36.

1.1.6.2 Đặc điểm của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu chính là một trong những sựbiểu đạt bên ngoài của hoạt động chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu. Hợp đồng này chính là căn cứ duy nhất để xác định có hay không việc chuyển giao quyền sửdụng nhãn hiệucủacác bên.Ýchícủacác bên trong việc chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu đều được thể hiện trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn

35 Theo Ngô Huy Cương, “Giáo trình Luật hợp đồng phần chung (giành cho đào tạo sau đại học)”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2013, tr12 thì thuật ngữ “hậu quả pháp lý” ở đây được hiểu là việc làm phát sinh, thay

đổi hay chấm dứt một quyền lợi hoặc một quan hệ pháp luật hoặc quyền và nghĩa vụ của các bên.

36 Theo Điều 1134 Bộ luật Dân sự Pháp băn 1804 cũng có cách hiểu tương tự, đó là “Hợp đồng giao kết hợp pháp có giá trị như luật đối với các bên giao kết”.

69

hiệu. Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu có mộtsố đặc điểm cơbản sau đây:

Một là, hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là một loại hợp đồng song vụ. Theo đó, chủ thể trong hợp đồng này gồm có hai bên, bao gồm bên chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu và bên nhận chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu. Bên chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu có thể là chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chủthể được chủ sở hữu nhãn hiệu chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo hợp đồng chuyển giao độc quyền hoặc không độc quyền (sau đó lại kí hợp đồng chuyển giao quyên sử dụng nhãn hiệu thứ cấp với một bên khác nếu được chủ sở hữu nhãn hiệuđồng ý). Bên nhận chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu phải có đầy đủ năng lực chủthể theo quy định của pháp luật để giao kết và thực hiện hợp đồng. Cả hai bên trong hợp đồng đều có quyền và nghĩa vụ, quyền và nghĩa vụ này được ghi nhận trong hợpđồng chuyển giao, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại.

Hai là,vềđốitượngcủahợpđồng:là quyềnsửdụng nhãn hiệu. Theođóbên nhận chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu có quyền sử dụng nhãn hiệu để khai thác công dụng của nhãn hiệu phù hợp với sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng.

Ba là, về hình thức của hợp đồng: do quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu cóbảnchất làmộttàisảnvô hình,đồngthời do tính chất phứctạpcủaviệcsửdụng nhãn hiệu cũng như xuất phát từ nhu cầu cần thể hiện một cách minh thị, đầy đủ ýchí của các bên trong hợp đồng nhằm tránh những mâu thuẫn, xung đột có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng nên hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quyđịnh hợpđồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu phải được lập bằng văn bản. Việc yêu cầu các bên thiết lập hợp đồng bằng văn bản cũng tạo thuận lợi cho việc thu thập chứng cứ để giải quyết các vấn đề phát sinh giữa hai bên với nhau hoặc với bên thứ ba (nếu có).

Bốn là, hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ mà mà nhãn hiệu được bảo hộ, theo đó phạm vi lãnh thổ chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệuđãđượcđăng kíbảohộphải phùhợpvớiphạm vi lãnhthổmà nhãn hiệuđược bảohộ ghi trong văn bằngbảo hộđược cấpcho nhãn hiệu được chuyển giao quyền sử dụng.

70

Năm là, thờihạncủahợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu cũng phảiphụthuộc vào khoảng thời gian nhãn hiệuđượcbảohộ.Theođó,thời hạn chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu của một nhãn hiệu không được vượt quá thời gian bảo hộ nhãn hiệu được ghi trong văn bằng bảo hộ nhãn hiệu.

Việc kí kết hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu vượt ra khỏi giới hạnvềkhông gian hoặc thời gian nêu trênđềutrái với quyđịnhcủapháp luật, đe dọa trực tiếp đến hiệu lực của hợp đồng.

Sáu là, hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là nơi ghi nhận quyền và nghĩavụcủacác bên tronghợpđồngmộtcách minh thị, rõ ràng dođósẽgóp phần xây dựng được một môi trường cạnh tranh lành mạnh cũng như góp phần vào việc cân bằng lợi ích giữa các bên liên quan.

1.1.7. Phân loại hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Có thể nói, việc phân loại hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cótác dụngrấtlớntrong việc giúp các bên hiểu rõ vàlựachọnđượcdạnghợpđồng chuyển giao phùhợpvớinhu cầu,điềukiện, hoàn cảnhcủamìnhđểkí kết. Các dạnghợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệuđượcphân loạidựatrên những tiêu chí khác nhau nhưng phổ biết nhất là dựa vào các tiêu chí sau:

Căn cứ vào phạm vi quyền: nếu căn cứ vào tiêu chí này chúng ta sẽ có:

i) Hợp đồng độc quyền: là dạng hợp đồng mà theo đó, trong phạm vi và thời hạn chuyển giao, bên nhận chuyển giao quyền được độc quyền sử dụng nhãn hiệu. Trong thời gian hợp đồng còn hiệu lực, bên chuyển giao quyền không được ký kết hợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệuvớibấtkỳbênthứba nào vàchỉđược sử dụng nhãn hiệu nếu được phép của bên nhận chuyển giao.

ii)Hợpđồngkhôngđộcquyền: làhợpđồngmà theođóbên chuyển giao quyền vừa chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu cho bên nhận chuyển giao trong phạm vi và thờihạnchuyển giao mà các bênđãthỏa thuận tronghợpđồng nhưngđồng thời vẫn có quyền sử dụng nhãn hiệu và còn có thể chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu cho bên thứ ba. Trong trường hợp này, nhiều chủ thể có thể cùng nhau khai thác, sửdụng nhãn hiệu theo phạm vi, mức độ và cho những mục đích riêng khác nhau màkhông làm ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của chủ thể khác.

71

Nếu căn cứ vào chủ thể là bên chuyển quyền trong hợp đồng thì sẽ bao gồm:

i) Hợp đồng cơ bản: Là hợp đồng trong đó bên chuyển quyền chính là chủ sởhữu nhãn hiệu. Căn cứ để chuyển giao quyền sử dụng trong hợp đồng là quyền sởhữu nhãn hiệu được xác lập theo văn bằng bảo hộ hoặc do được người khác chuyển quyền sở hữu nhãn hiệu hợp pháp.

ii) Hợp đồng thứ cấp không căn bản: Là hợp đồng trongđóbên chuyển giao quyền không phải là chủ sở hữu nhãn hiệu mà là người nhận chuyển giao quyền sửdụng độc quyền theo hợp đồng khác và được phép chuyển quyền sử dụng cho bên thứ ba. Loại hợp đồng này luôn có tính chất phái sinh, nó chỉ phát sinh sau khi một hợp đồng sử dụng độc quyền nhãn hiệu được giao kết và phát sinh hiệu lực pháp lý. Căncứđểchuyển giao quyềnsửdụng trong trườnghợpnày làhợpđồngsửdụngđộc quyền đã được giao kết với chủ sở hữu nhãn hiệu.

Khi quyđịnhvềcác loạihợpđồngchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu, theo pháp luật HoaKỳ,chủsởhữunhãn hiệu cóthểchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu của họ cho một hoặc nhiều bên trên cơ sở độc quyền hay không độc quyền. Ngườiđượcchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệuđộcquyền cóthểđượcchuyển quyềnsửdụnglạinhãn hiệu cho bênthứba, cònngườiđượcchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu không độc quyền không có quyền ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng lại nhãn hiệuđócho bênthứba37. Còn theo pháp luật Trung Quốc, trong phần Giải thích một số câu hỏi về việc áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ việc tranh chấp dân sựvềnhãn hiệu do Tòa ántốicaocủaTrung Quốc ban hànhđãphân loại các dạng chuyển quyền dựa trên phạm vi quyền sử dụng nhãn hiệu của người được cấp phép vàvịthếcủangườiđượccấpphép trong cácvụkiện tụng38. Theođócó 03 dạng hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu:

i) Hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu độc quyền (Exclusive license):

chủsởhữunhãn hiệu chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệuđộcquyền cho bên nhận

37 Irene Calboli và Jacques De Werra (2016),“The Law and Practice of Trademark Transactions: A global and local outlook”, Nhà xuất bản Edward Elgar Publishing, tr451.

38 Xem Interpretation by the Supreme People’s Court of Several Issues Relating to Application of Law to Trial of Case of Civil Dispute Over Trademark (promulgated by Adjudication Comm. of the Supreme People’s Court, 12 October 2002, effective 16 October 2002) 32 SUP. PEOPLE’S CT. GAZ, art. 3 (China)

72

quyền trong một thời hạn theo thỏa thuận, trong một lãnh thổ xác định và theo một cách thức thỏa thuận; chủ sở hữu nhãn hiệu không được sử dụng nhãn hiệu đó.

ii) Hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu duy nhất (sole license): chủ sởhữunhãn hiệu chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu duy nhất vàđộcquyền cho bên nhận chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu đó trong một thời hạn theo thỏa thuận, trong một lãnh thổ xác định và theo một cách thức thỏa thuận; tuy nhiên chủ sở hữu nhãn hiệu có thể tiếp tục sử dụng nhãn hiệu đó nhưng không được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu đó cho một bên khác sử dụng.

iii) Hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu không độc quyền (Non – Exclusive license): chủ sở hữu nhãn hiệu chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu cho bên thứba sử dụng trong một thời hạn theo thỏa thuận, trong một lãnh thổ xác định và theo một cách thức thỏa thuận; nhưng chủ sở hữu nhãn hiệuvẫncóthểsửdụng nhãn hiệuđócũng như có quyền chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu đó cho các bên khác.

1.1.8 Vai trò của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Để xây dựng một nhãn hiệu thành công, chủ thể kinh doanh không những chỉđơn thuần là gắn nó lên sản phẩm do mình làm ra mà phải có một chiến lược phát triển nhãn hiệu khôn khéo.Mộttrong những chiếnlượctiêu biểuđólà thực hiện việc kí hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cho một hoặc nhiều chủ thểkhác. Thông qua hoạt động này, nhãn hiệu của doanh nghiệpsẽ được nhiềungười tiêu dùng biếtđếnhơn và thậm chítrởthành những nhãn hiệu mangtầmcỡtoàn cầu. Thật vậy, khi mới thành lập năm 1891, Philips (hãng sản xuất đèn điện tử của Hà Lan) chuyên sản xuất đènđiệnvà các thiếtbị điệntửkhác, và đến những năm 1920, Philips mở rộng sang Mỹ, Pháp và Bỉ. Ngày nay, Philips không chỉ đơn thuần là một nhãn hiệu của Hà Lan mà được giới thiệu ra toàn thế giới. Bất cứ tại Áo, Ấn

Độ, Úc, Mỹ… cũng có thể khẳng định điều này. Philips đã trở nên thân thuộc như“ngườimộtnhà”ởnhiều quốc gia. Câu chuyện thành côngcủaPhilipschỉlà một trong vô vàn các trường hợp tìm được sự thành công nhờ vào việc kí kết hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, khiến cho việc kí kết hợp đồng chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu ngày càngtrởnênphổbiến,đượcnhiềuchủthểkinh doanh sử dụng trong hoạt động kinh doanh để thỏa mãn nhu cầu cũng như thỏa mãn

73

lợi ích của bên chuyển giao lẫn bên nhận chuyển giao và thậm chí là nền kinh tế lẫn người tiêu dùng cũng thu được không ít lợi ích từ loại hợp đồng này. Cụ thể:

i)Đốivớibên chuyển giao: Bên chuyển giaosẽthuđượckhoản tiền (phíchuyển giao)từviệc chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệuđểcó thêmlợinhuận hoặclợiíchvậtchất khác mà không phải trực tiếpsửdụng nhãn hiệu.Điềunày càng phát huy tính hữu ích của nó khi chủ sở hữu nhãn hiệu không hoạt động kinh doanh hoặc không có năng lực kinh doanh. Còn đối với những chủ thể kinh doanhđã tạo lập nhãn hiệu thành công thì việc chuyển giao nhãn hiệu cũng là phương thức hữuhiệuđểhọmởrộng mạnglướikinh doanh, quảng bá nhãn hiệulẫnsảnphẩm trong và ngoàinước,tăng doanh thu.Đặcbiệt, việc chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu còn giúp các nhà sản xuất, kinh doanh có khả năng bảo vệ nhãn hiệu cho sảnphẩmcủamìnhtốthơntrướccác hành vi xâm phạm nhãn hiệubởibên nhận chuyển giao sẽ là “tai mắt” cho bên chuyển giao trong việc phát hiện và thu thập các thông tin liên quan đến việc xâm phạm nhãn hiệu.

ii)Đốivớibên nhận chuyển giao: Bên nhận chuyển giaolạimuốn khai thác nhãn hiệucủa ngườikhác để gắn lên hàng hóa,dịch vụcủa mình trong khi không cầnphảimấtthời giantạora nhãn hiệu có“têntuổi”cho hàng hóa, dịchvụcủa mình nhưng vẫn được thụ hưởng lợi ích kinh tế từ việc khai thác nhãn hiệu đó (đặc biệt là nhận được quyền sử dụng các nhãn hiệu nổi tiếng).

iii) Đối với nền kinh tế quốc gia: Một khi nhãn hiệu của một hàng hóa, dịch vụnào đó đã trở nên nổi tiếng, được nhiều người biết đến không chỉ trong nước mà cònở nước ngoài thì hoạt động xuất khẩu các sản phẩm đó sẽ được đẩy mạnh, nhà nước sẽthuđượclượngngoạitệnhiều hơntừhoạtđộngxuất khẩu.Đồngthời, chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu còn xây dựng sức mạnh tiêu thụ nội địa và đóng góp nhiều hơn cho ngân sách nhà nước (thông qua việc thu thuế,kểcả việc có thể thu thuế trên thu nhập mà cácchủthểnhậnđượctừhoạtđộngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu). Bên cạnhđó,mộtnhãn hiệunổitiếng còn cóthểtrởthành một thương hiệu quốc gia (National brand)39, trở thành một công cụ nhận diện quốc gia,

39 thương hiệu quốc gia là tên, các khẩu hiệu, ký hiệu, biểu tượng hay thiết kế hay tổng hợp những yếu tố trên với mục đích xác định hàng hóa và dịch vụ được tạo ra từ một quốc gia nhằm phân biệt hàng hóa và dịch vụ

74

mà khi nhắc đến nhãn hiệu đó người ta nghĩ ngay đến quốc gia mà chủ sở hữu nhãn hiệu đó mang quốc tịch và ngược lại, khi nhắc đến quốc gia đó người ta nghĩ ngayđến nhãn hiệu nổi tiếng đó ví dụ như: khi nhắc đến Microsoft, IBM, Apple, Google sẽnghĩ ngayđếnnướcHoaKỳ;Rolex, Longinsẽnghĩ ngayđếnnướcThụy Sĩ,

Beerlao sẽ nghĩ ngay đến nước Lào;…

iv) Đối với người tiêu dùng: Do việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cóthểmanglạicho cácchủthểkinh doanh những giá trị kinhtếlớnlao nên sẽ thúcđẩy họ xây dựng cho mình các nhãn hiệu nổi tiếng (nhãn hiệu càng nổi tiếng thì phíchuyển giao quyền sử dụng càng cao), nhưng để xây dựng được nhãn hiệu nổi tiếng có uy tín trong lòng khách hàng thìvấnđềtiên quyết mà doanh nghiệp buộc phải làm là không ngừng nâng cao chất lượng hàng hóa, phong cách phục vụ. Thông qua việc này, người tiêu dùng sẽ được thụ hưởng những sản phẩm có chất lượng tốt với phong cách phục vụ chu đáo và chuyên nghiệp hơn.

1.1.9 Phân biệt hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu với một sốloại hợp đồng khác

1.1.9.1 Phân biệthợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệuvớihợpđồng chuyển nhượng nhãn hiệu

Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu và hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu do có những đặc điểm về chủ thể, hình thức, mục đích hợp đồng tương tựnhau nên rất dễ bị nhầm lẫn khi áp dụng trên thực tế, do đó cần phải có sự phân biệtđểtránh nhữnghậuquảđáng tiếc cóthểxảyratừviệc nhầmlẫnnày. Tronghợp

đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (hay còn gọi là li–xăng nhãn hiệu), bên chuyển giao (bên cấp li-xăng) vẫn tiếp tục sở hữu quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu, họ chỉ cho phép bên nhận chuyển giao (bên nhận li-xăng) được sử dụng nhãn hiệu trong giớihạnnhấtđịnh.Tronghợpđồngchuyển nhượng nhãn hiệu ((bán) quyềnsởhữunhãn hiệu), quyềnsởhữunhãn hiệuđượcchuyểntừbên nhượng quyền (người bán) sang bên tiếp nhận quyền (người mua), theo đó bên nhận chuyển nhượng sẽ có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt nhãn hiệu được chuyển

củaquốc gia nàyvớinhững quốc gia khác. https://nhandan.com.vn/chuyen-lam-an/Th%c6%b0%c6%a1ng- hi%e1%bb%87u-qu%e1%bb%91c-gia-481883/ truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2021 09:05 am

75

nhượng. Đây là hình thức giao dịch một lần với mức giá thỏa thuận. Ví dụ: Công ty CocaCola là công ty kinh doanh đồ uống và là nhà sản xuất, bán lẻ, quảng bá các đồuống và siro không cồn đa quốc gia của Hoa Kỳ (là chủ sở hữu của nhãn hiệu nước ngọt CocaCola). Giả sử tháng 1/2022, công ty này kí hợp đồng chuyển giao quyền sửdụng nhãn hiệu CocaCola chomộtcông tysảnxuất và kinh doanhđồuống tại Việt Nam. Theo đó, công ty mua lại quyền sử dụng nhãn hiệu này chỉ có quyền sửdụng nhãn hiệu này theo những thỏa thuậnđãđượcquyđịnhtronghợpđồngchứkhông được bán đứt (chuyển quyền sở hữu) nhãn hiệu này cho người khác bởi chủsởhữunhãn hiệu CocaColavẫnthuộcvềcông ty CocaCola. Tuy nhiên,nếunhưcho công ty này kíhợpđồngđểnhận chuyển nhượng quyềnsởhữunhãn hiệu CocaCola từ công ty CocaCola thì sau khi hợp đồng có hiệu lực, công ty này có thểtự mình sử dụng hoặc cho chủ thể khác cùng sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng li xăng nhãn hiệu không độc quyền hoặc cũng có thể bán quyền sởhữunhãn hiệu này cho người khác.

Bên cạnhđó,đốivớihợpđồngchuyển nhượng nhãn hiệu thì giớihạnvềkhông gian và thời gian mà nhãn hiệuđượcchuyển nhượng tronghợpđồngphảiđượcghi theo không gian và thời gianbảohộnhãn hiệuđượcghi trong văn bằng bảo hộ. Song đối với hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, giới hạn vềkhông gian và thời gian nhãn hiệu được chuyển giao quyền sử dụng trong hợp đồng còn cóthểphụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên, miễn sao thỏa thuận giới hạn về không gian và thời gian đó phù hợp với không gian và thời gian mà nhãn hiệu đóđược bảo hộ ghi trong văn bằng bảo hộ.

1.1.9.2 Phân biệthợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệuvớihợpđồng chuyển nhượng tên thương mại

Tên thươngmạiđượchiểu là têngọicủatổchức, cá nhân dùng trong hoạtđộng kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh. Trong thực tế kinh doanh, rất nhiều doanh nghiệp đã lấy chính tên thương mại của mình để làm nhãn hiệu cho hàng hóa mà mình sản xuất ra hoặc dịch vụ do mình cung cấp. Trên thế giới cũng nhưởViệt Nam, những trườnghợpnhưvậykhông phải là hiếm,điểnhình như:

76

Công ty công nghiệp Samsungvớicácsảnphẩmđiệntử(tủlạnh, ti vi…) mang nhãn hiệu Samsung; Công tycổphần cà phê Trung Nguyênvớisảnphẩm cà phêmang nhãn hiệu Trung Nguyên; công tycổphầnsữaViệt Nam có tên viếttắtlàVinamilk với sản phẩm sữa tươi có nhãn hiệu là Vinamilk; công ty trách nhiệm hữu

hạnThiên Hươngvớisảnphẩm mè xững mang nhãn hiệu Thiên Hương…Do đó, nhiềungườikhông phân biệtđượcđâulà nhãn hiệu,đâulà tên thương mại, tên thương mại và nhãn hiệu có phải là một hay không? Chính vì vậy mà dẫn đến việc nhầmlẫnkhi hiểu chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu cũng chính là chuyển nhượng tên thương mại.

Từkhái niệmvềnhãn hiệu và tên thươngmạiđã đượcđềcậpởnhững phần trên, chúng ta có thể khẳng định rằng nhãn hiệu khác với tên thương mại. Bởi nhãn hiệu khôngchỉđơnthuần làmộtcái tênđượcgắnlênsảnphẩm mà còn bao gồm dấu hiệu hoặc tổ hợp dấu hiệu có thể nhìn thấy được hoặc cảm nhận được thông qua các giác quan của con người như chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng màu sắc, âm thanh, mùi, vịnhằm để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác. Còn tên thương mại chỉ đơn thuần là tên gọi của chủ thể kinh doanh,gắnliềnvớichủthểkinh doanh vàđượcdùngđểphân biệtchủthểkinh doanh mang têngọiđóvớichủthểkinh doanh khác. Tên thươngmạiphải là tập hợpcácchữ(kểcảchữsố)và phát âmđược.Tên thươngmạibaogồmhai phần:

Phần mô tả và phần phân biệt. Phần mô tả là một tập hợp các từ có nghĩa mô tả tóm tắt loại hình kinh doanh (và lĩnh vực kinh doanh). Phần phân biệt là tập hợp các chữcái (kể cả chữ số) phát âm được, có thể có nghĩa hoặc không có nghĩa. Phần mô tảkhông có khả năng tạo nên tính phân biệt cho tên thương mại (hai doanh nghiệp cótên thương mại khác nhau có thể có phần mô tả giống nhau). Ví dụ: Với tên Công ty TNHH xây dựng Thắng Lợi. Phần mô tả là “Công ty TNHH xây dựng”, phần phân biệt là“ThắngLợi”,phân biệtvới“HiếuHằng”trong“Côngty TNHH xây dựng HiếuHằng”.Mộtđiểmkhác biệtnữalà tên thươngmạithườngđượcsửdụng lâu dài, liên tục trong suốt thời gian tồn tại chủ thể kinh doanh. Còn một số nhãn hiệu trongmộtsốtrườnghợpchỉđượcsửdụng chomộtvàithếhệhàng hoá, dịchvụ

77

nhất định, nhà sản xuất có thể thay đổi cho phù hợp thị hiếu người tiêu dùng hoặc chiến lược kinh doanh của mình.

Từnhững luậncứnêu trên cóthểcho thấyhợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu khác với chuyển nhượng tên thương mại ở điểm cơ bản sau:

Mộtlà, khi giaokếthợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu thường không đòi hỏi chủ sở hữu nhãn hiệu phải chuyển giao đồng thời toàn bộ cơ sở sản xuất kinh doanh cho bên nhận chuyển giao,tứclà nhãn hiệu cóthểđượcchuyển giao quyền sử dụng một cách độc lập, không cần phải chuyển giao cùng với các loại tàisảnkháccủabên chuyển giao. Cònđốivớitên thương mại,chủsởhữutên thương mại chỉ được phép chuyển nhượng tên thương mại cho người khác với điều kiện phải chuyển nhượng cùngvớiviệc chuyển nhượng toànbộcơ sởkinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó.

Hai là, việc chuyển giao quyền sử dụng đối với tên thương mại là hành vi bịcấm, tức là chủ sở hữu tên thương mại chỉ có thể chuyển nhượng (quyền sở hữu) tên thương mại chứ không được chuyển giao riêng quyền sử dụng tên thương mại cho chủ thể kinh doanh khác, trong khi đó nhãn hiệu thì có thể được chuyển giao quyền sử dụng mà không nhất thiết phải chuyển giao quyền sở hữu nhãn hiệu.

1.1.9.3 Phân biệthợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệuvớihợpđồng nhượng quyền thương mại

Để có thể phân biệt thấu đáo giữa hai loại hợp đồng này, trước hết chúng ta cầnđề cập đến phương thức chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu. Qua nghiên cứu, tác giảnhận thấy có hai phương thức chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu phổ biến nhất đólà chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệumộtcáchđộclậpvà chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu đi cùng với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác. Cụ thể:

i) Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu độc lập là việc bên có quyền chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu chỉ chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu đó cho bên nhận chuyển giao mà việc chuyển giaođókhông đi kèm với việc chuyển giao cácđốitượngcủaquyềnsởhữucông nghiệp khác hay là hoạtđộngnhượng quyền thươngmạigiữa hai bên. Tức là,chủ sởhữunhãn hiệu A nàođóchỉchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệuđócho bên nhận chuyển giao mà không có chuyển giao

78

quyền sử dụng nhãn hiệu đi cùng với việc chuyển giao các đối tượng sở hữu công

nghiệp khác (ví như: tên thương mại, bí mật kinh doanh;…); đồng thời việc chuyển giao quyềnsửdụng này cũng không làmộtbộphậnnằmtrongmộthợpđồng nhượng quyền thươngmạicụthểnàođó.Việc chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu trong trường hợp này hoàn toàn là một hợp đồng độc lập có một đối tượng hợpđồng duy nhất được chuyển giao là quyền sử dụng nhãn hiệu.

ii) Chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu đi cùngvớicácđốitượngkhác:

Trong thực tiễn kinh doanh, chúng ta vẫn có thể thấy quyền sử dụng nhãn hiệu đôi khi đuợc chuyển giao cùng với việc chuyển nhượng tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượngkinh doanh, cách thức tổ chức kinh

doanh,…Điều này thườngxảyra tronghợpđồngnhượng quyền thươngmạigiữa các bên.

Nhượng quyền thươngmạiđượcxem là hoạtđộngthương mại, theođóbên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cungứngdịch vụtheo các điều kiện như: việc mua bán hàng hoá, cungứngdịchvụđượctiến hành theo cách thứctổchức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểutượngkinh doanh, quảng cáocủabên nhượng quyền; Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát vàtrợgiúp cho bên nhận quyền trong việcđiềuhành công việc kinh doanh. Theođóđốitượngcủanhượng quyền thương mại là quyền thương mại40. Quyền thương mại được hiểu là quyền tiến hành kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo cách thức của bên nhượng quyền quy định, cùng với đó là việc được sử dụng nhãn hiệu, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu

hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh,…của bên nhượng quyền. Do đó, hợp đồng nhượng quyền thươngmạithường không thuần túy làchỉchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu.Từnhững phân tíchởtrên, cóthểthấy, tronghợpđồngđồngnhượng quyền thươngmạithường cósựtồntạicủa việc chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu từ bên nhượng quyền sang bên nhận quyền. Dođó,khiđề cậpđếnhợpđồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, nhiều người vẫn thường nhầm lẫn chúng với

40 Xem Điều 284 Luật Thương mại năm 2005

79

hợp đồng nhượng quyền thương mại. Thế nhưng, giữa hai loại hợp đồng này vẫn cóđiểm khác biệt, cụ thể:

Một là, nếu như hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu chỉ dừng lại ởviệc chuyển giao quyền sử dụng thì ở nhượng quyền thương mại quyền sử dụng cácđốitượng sởhữucông nghiệpchỉlà một phần của việc chuyển giao, bên cạnhđócòn làsựchuyển giaovềbí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểutượng

kinh doanh, cách thức tổ chức kinh doanh,… Như vậy, phạm vi đối tượng chuyển giao của hợp đồng nhượng quyền thương mại là rộng hơn rất nhiều so với hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu.

Hai là,nếunhư tronghợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu nhãn hiệu, cái mà các bên nhận chuyển giaohướngtớilà sửdụng nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ, thì trong hoạt động nhượng quyền thương mại, mục tiêu mà các bên hướng tớilànắmgiữvà vận hànhmột hệthống kinh doanh, trongđósửdụng nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ cũng như các đối tượng khác chỉ là một bộ phận cấu thành giúp các bên đạt được mục đích của việc nhượng quyền thương mại.

Ba là, trách nhiệmcủabên nhận chuyển quyền tronghợpđồngchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu trênthực tếcó phần lỏng lẻo do bên nhận chuyển quyền thường không chịu sự kiểm tra, giám sát, hướng dẫn trong hoạt động kinh doanh từbên chuyển quyền vì đây không phải là nội dung điều khoản bắt buộc phải có trong hợpđồng,thì tronghợpđồngnhượng quyền thươngmạibên nhận chuyển quyền phải chịusựkiểm tra, giám sát,hướngdẫncủabên nhượng quyền trong suốt quátrìnhtổchức kinh doanhkểtừthờiđiểmnhận nhượng quyền. Thậm chínếunhưbên nhượng quyền thương mại thay đổi cách thức tổ chức kinh doanh thì bên nhận chuyển quyền thương mại cũng phải thay đổi theo.

1.2 Khái quát pháp luậtvềchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu của Liên minh châu Âu và một số quốc gia41

1.2.1 Pháp luật của Liên minh châu Âu

Châu Âu được xem là cái nôi khởi phát của cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên trên thế giới (cụ thể xuất phát từ nước Anh, sau đó lan rộng ra châu Âu và các

41 Phần này tácgiảchỉgiới thiệu khái quát sơlượcnhữngvấnđềcơbảnnhất liên quanđếnchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu được đề cập trong pháp luật của Liên minh châu Âu và một số quốc gia. Những nội dung chi tiết, cốt lõi về vấn đề chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu trong pháp luật của một số quốc gia vàLiên minh châu Âu sẽ được đề cập cụ thể trong chương 2 cùng với pháp luật Việt Nam để thể hiện tốt nhất tính đối sánh giữa các quy định, từ đó có thể gợi mở cho việc hoàn thiện pháp luật SHTT Việt Nam.

80

nước khác), có vai trò to lớn trongviệc đặt nềnmóng thúc đẩy tăng năng suất laođộng vượt bậc, tạo ra hàng hóa ngày càng nhiều để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xãhội.Thếgiới chứng kiếnsựrađờicủaLiên minh châu Âu hay Liên hiệp châuÂu (European Union), cũng được gọi là Khối Liên Âu, viết tắt là EU, là liên

minh kinh tế – chính trị bao gồm 27 quốc gia thành viên thuộc châu Âu. Liên minh châu Âu được thành lập bởi Hiệp ước Maastricht vào ngày 1 tháng 11 năm 1993 dựa trên Cộngđồngchâu Âu (EC) trênnềntảngchủnghĩa toàn cầu hóa nói riêng và chủ nghĩa tư bản nói chung. Liên minh châu Âu khôngchỉcónhững đóng góp quan trọngdướigócđộkinhtếmà còn đóng góp chohệthống pháp luật thế giới những quy định hết sức quý giá, trong đó có các quy định về nhãn hiệu và chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu.

Vấnđề vềnhãn hiệu và chuyển quyền sử dụng nhãn hiệuđược quy định chủyếu tại Chỉ thị của Nghị viên châu Âu và Hội đồng liên minh châu Âu số2008/95/EC về việc thống nhất quyđịnhcủaquốc gia thành viênvềnhãn hiệu vàQuychếcủaHộiđồngLiên minh châu Âusố207/2009vềnhãn hiệu cộng đồng, bên cạnhđó,các vănbảnhướngdẫncủaVăn phòng hài hòa luật pháp trongthịtrườngnộikhốicủaLiên minh châu Âu (The Office of Harmonization for the

Internal Market – OHIM)42. Liên quan đến vấn đề chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, pháp luật Liên minh châu Âu có một số quy định đáng lưu ý về:

i) Quy định về nội dung của hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu: theođó, hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu có thể bao gồm những nội dung cơbảnsau: thờihạnchuyển quyền; dạnghợpđồngchuyển quyền; phạm vi giới hạn quyền sử dụng nhãn hiệu được chuyển quyền; phạm vi lãnh thổ mà nhãn hiệu được sửdụng; chấtlượngcủahàng hóađược sảnxuất hoặc dịchvụđượccungcấpbởi bên nhận chuyển quyền.

ii) Quy định về đăng ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu: pháp luật Liên minh châu Âu quyđịnh:“Việcđăng ký li-xăng là khôngbắtbuộc và khôngảnh hưởng đến hiệu lực của li-xăng”. Theo đó pháp luật Liên minh châu Âu không

42 Văn phòng hài hòa luật pháp trong thị trường nội khối của Liên minh châu Âu nay đã được đổi tên thành EUIPO (Cơ quan Sở hữu trí tuệ liên minh Châu Âu – European Union Intellectual Property Office)

81

quy định việc đăngký hợp đồngchuyển quyền sử dụng nhãn hiệu là nghĩa vụ đối với các bên, mà các bên có quyền tự định đoạt về việc có đăng ký hợp đồng này hay không, đồng thời hợp đồng này vẫn có hiệu lực đối với các bên ngay cả khi khôngđượcđăng ký. Tuy nhiên, Khoản 1Điều23 Quychếsố207/2009củaHộiđồng Liên minh châu Âu lại có quyđịnh:“Hợpđồngli-xăng nhãn hiệu chỉ có hiệulựcđối với bên thứ ba có liên quan nếu nó được đăng ký”.

iii) Quyđịnhvề“bênthứba có liên quan”củahợpđồngli-xăng nhãn hiệu:

Theo quy định tại cuốn Sổ tay OHIM thì “bên thứ ba có liên quan” gồm cá nhân, tổchức thuộcmộttrong hai trườnghợpsau:Mộtlà,làchủthể cóđượccác quyềntừnhãn hiệu mà trái với hợp đồng li-xăng nhãn hiệu của các chủ thể khác; Hai là, cóhành vi đăng ký nhãn hiệu/dấu hiệu hoặc một quyền có liên quan mà xâm phạm đến hợp đồng li-xăng nhãn hiệu của chủ thể khác. Việc quy định rõ về “bên thứ ba cóliên quan” như trên làđểlàm rõ hơn quyđịnhKhoản 1Điều23 Quychếsố207/2009 của Hội đồng Liên minh châu Âu khi quy định: “Hợp đồng li-xăng nhãn hiệu chỉ có hiệu lực đối với bên thứ ba có liên quan nếu nó được đăng ký”.

1.2.2 Pháp luật của Đức

DoĐứclàmộtnướcliên bang (gồm 16 bang), có Hiến pháp, ChínhphủvàTòa án độc lập ở từng bang, do đó các điều khoản của luật pháp Đức liên quan đến nhãn hiệuđượcbắtnguồntừnhiều vănbảnluật khác nhau vàchủyếuđượcđiều chỉnh bởi các điều khoản của Đạo luật nhãn hiệu Đức (Markengesetz) (MarkenG)43 và Quy chế của Hội đồng Liên minh châu Âu số 207/2009 về nhãn hiệu cộng đồng (CTMR)44. Tuy nhiên, để xem xét một giao dịch về nhãn hiệu giữa các công ty cóhợp pháp hay không thì cũng phải căn cứ vào quy định của Luật Thương mại Đức (Handelsgesetzbuch) (HGB) và Luật về Công ty cổ phần Đức (Aktiengesetz) (AktienG). Bên cạnh đó, hầu hết các giao dịch về nhãn hiệu cũng được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự Đức (Burgenliches Gesetzbuch) (BGB)45 và Đạo luật Chống hạn chế cạnh tranh của Đức (GWB)46. Trong Bộ luật Dân sự Đức sửa đổi, việc chuyển

43 Markengesetz, BGB1. I, 3082 (1994) [hereinafter: MarkenG]

44 Council Regulation (EC) No. 207/2009 of 26 February 2009 on the Community Trade Mark, 2009 O.J. (L78) 1 [hereinafter: CTMR]

45 Burgenliches Gesetzbuch (Civil Code), 18 August 1896 [hereinafter: BGB]

46 Gesetz gegen Wettbewerbsdeschrankungen (Act Against Restraints of Competition) of 26 June 2013 [hereinafter: GWB]

82

giao các tài sản phi vật chất trong đó có quyền sở hữu trí tuệ đã được ghi nhận đểphùhợpvớithực tiễn, và cáchợpđồngnàyđượcáp dụng theomục413 (BGB). Qua nghiên cứu, chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu trong pháp luật của Đức có một số điểm đáng chú ý về:

i)Vềnhãn hiệuđượcphép chuyển quyềnsửdụng: tronghợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu, bên chuyển giaochỉđượcchuyển giao quyềnsửdụng đúng nhãn hiệu mà mình có quyền sở hữu cho bên nhận chuyển giao. Nếu bên chuyển giaochỉchuyển giao quyền sử dụngmộtdấuhiệuchỉcóvẻtươngtựmột cách ngẫu nhiên thì không được gọi là chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu.

ii) Về công khai hợp đồng và hình thức của hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu: việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu chỉ cần có sự đồng thuận của các bên là đã được xem là hợp pháp, không yêu cầu phải công khai. Tuy nhiên, vì lído rõ ràng, minh bạch, pháp luật Đức yêu cầu các bên phải xác lập thỏa thuận dưới hình thức bằng văn bản.

iii)Vềnộidunghợpđồngchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu: tươngtựnhưpháp luật Liên minh châu Âu, hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu có thể bao gồmnhữngnộidung cơbảnsau: thờihạnchuyển quyền; dạnghợpđồngchuyển quyền; phạm vi giớihạnquyềnsửdụng nhãn hiệuđượcchuyển quyền; phạm vi lãnh thổ mà nhãn hiệu được sử dụng; kiểm soát chất lượng của hàng hóa được sản xuất hoặc dịch vụ được cung cấp bởi bên nhận chuyển quyền.

iv)Vềphí chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu: tronghợpđồngchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu các bên phải có thỏa thuận vì phí chuyển giao. Theo đó, bên nhận chuyển quyền phải trả cho bên chuyển quyền mới một mức phí nhất định, phí này có thể là mức giá cố định hoặc theo tỉ lệ phần trăm dựa trên doanh thu.

v) Về khởi kiện hành vi vi phạm quyền đối với nhãn hiệu do bên thứ ba gây ra:

người được nhận chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu (thậm chí là người được chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệuđộcquyền)chỉcó quyềnnộpđơnkiện hành vi vi phạm quyềnsởhữucông nghiệpđốivớinhãn hiệunếuđượcsựđồngýcủachủsởhữu nhãn hiệu và điều này phải được thể hiện rõ bằng một điều khoản trong hợp đồng. Khi các bên đã có điều khoản này thì chủ sở hữu nhãn hiệu không được phép cản trở bên nhận chuyển quyền thực hiện việc khởi kiện.

vi) Về đăng ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng: Hợp đồng li-xăng nhãn hiệu có thể được đưa vào sổ bạ của Văn phòng nhãn hiệu cộng đồng và được trích xuất

83

theo yêu cầu của một trong các bên của hợp đồng li-xăng. Tuy nhiên, việc đăng kíhợp đồng li-xăng là không bắt buộc và việc đăng kí không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng li-xăng.

1.2.3 Pháp luật của Hoa Kỳ

Mặc dù nhu cầu chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu là một thực tế phổ biến tại Hoa Kỳ, song mãiđếnkhia Đạo luật Lanham được thông qua vào năm 1946, việc chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệumớichính thứcđượcchấp nhận ở Hoa Kỳ. Bởitrướcđó,theo luật chung và theo quyđịnhcủaĐạoluật Nhãn hiệu HoaKỳnăm 1905 (Trademark Act of 1905) thì việc chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệubịcấmdo lo ngạiđiềunàysẽvi phạm chức năng chínhcủanhãn hiệu, màtạithờiđiểmđónhãn hiệuchỉ đượcxem cómộtchức năng chính là chỉ ra nguồngốcsản phẩm47. Mục 5 và mục 45 của Đạo luật Lanham năm 1946 (được sửa đổi năm 1988)đã có quy định một số vấn đề quan trọng liên quan đến chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, cụ thể:

i) Về phân loại chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu: chủ sở hữu nhãn hiệu có thểchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệucủahọchomộthoặc nhiều bên trên cơsởđộc quyền hay khôngđộcquyền.Ngườiđượcchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệuđộc quyền có thể được chuyển quyền sử dụng lại nhãn hiệu cho bên thứ ba, còn ngườiđượcchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu khôngđộcquyền không có quyền kýhợpđồng chuyển quyền sử dụng lại nhãn hiệu đó cho bên thứ ba.

ii) Về nội dung của hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu: tương tự nhưpháp luật của Đức và của Liên minh châu Âu, pháp luật Hoa Kỳ cũng quy định theo hướngmở,theođóhợpđồngcó thể có các nội dung cơ bản: quyềnsửdụng nhãn hiệucủabênđượccấpphép cho dùđộcquyền hay khôngđộcquyền; giátrịhợpđồng;phạm vi lãnhthổđượcsửdụng nhãn hiệu;đặctínhcủacác hàng hóa hoặc dịchvụđượcsửdụng nhãn hiệutừviệc chuyển quyền; quyền chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu phụ (nếu có); các thỏa thuận khác.

47 Irene Calboli, The Sunset of “Quality Control” in Modern Trademark Licensing, 57 AM. U. L. REV. 341, 344 (2007); Irene Calboli, What if, After All, Trademarks were “Traded in Gross”?, 2008 MICH. ST. L. REV. 345, 348 (2008)

84

iii) Về quyền khởi kiện đối với hành vi xâm phạm: Đạo luật Lanham quy định nhữngngườiđượcchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệuđộcquyềnđượchưởngcác quyền và sự bảo vệ giống như các chủ sở hữu nhãn hiệu, nên họ có quyền khởi kiện các hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Còn đối với những người được chuyển quyền sửdụng nhãn hiệu không độc quyền thì họ không thể có được những quyền năng nhưngườichủsởhữunhãn hiệu, dođóhọkhôngđượckhởi kiệnđểphảnđốiviệc vi phạm nhãn hiệu, song họ lại có thể được khởi kiện khi “họ tin rằng họ có thể bị thiệt hại” từ hành vi vi phạm đó.

1.2.4 Pháp luật của Trung Quốc

Luật Nhãn hiệucủaTrung QuốcđượcQuốchộiTrung Quốc thông qualầnđầu tiên vào năm 1982 và được sửa đổi bổ sung qua các năm 1993, 2001, 2013 vànăm 2019. Từ đó cho thấy, Luật nhãn hiệu ở Trung Quốc đã trãi qua quá trình phát triển đáng kể trong thế kỷ qua để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, của nhà sản xuất trong xãhộiTrung Quốctrướcxuthếtoàncầuhóa. Theo Luật Nhãn hiệu Trung Quốc, có nhữngnộidung liên quanđếnchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu đáng lưu ý sau đây:

i) Về phân loại hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu: bao gồm hợp đồng chuyển quyềnsử dụngnhãn hiệu độc quyền (Exclusive license); hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu duy nhất (sole license); hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu không độc quyền (Non – Exclusive license).

ii) Về thẩm quyền khởi kiện hành vi vi phạm nhãn hiệu: Luật Nhãn hiệu Trung Quốc quy định, người được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu theo hợp đồng chuyển quyền sử dụng độc quyền có thể khởi kiện hành vi vi phạm tại Tòa án nhân dân thay cho người chuyển quyền (chủ sở hữu nhãn hiệu); người được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu theohợpđồngchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu duy nhất cũng cóthểkhởi kiện hành vi vi phạmtrướcTòa án nhân dân cùngvớichủsởhữunhãn hiệu hoặc cóthểkhởi kiệnđộclậpnếuchủsởhữunhãn hiệu không khởi kiện;ngườiđược chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu theo hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu không độc quyền chỉ được quyền khởi kiện hành vi vi phạm nếu người đó đãđược chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép khởi kiện.

85

iii) Về nghĩa vụ chịu trách nhiệm đối với chất lượng hàng hóa, dịch vụ có gắn nhãn hiệu thông quahợpđồngchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu: theo Luật Nhãn hiệu Trung Quốc thì“bấtkỳngườisửdụng nhãn hiệu nào cũng phải chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa mà nhãn hiệu đó được sử dụng”. Nói cách khác, cảchủ sở hữu nhãn hiệu và người được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu phải có nghĩa vụ đảm bảo chất lượng hàng hóa miễn là nhãn hiệu được sử dụng với hàng hóa đó. Bên cạnh đó, luật này cũng quy định, bên chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu có nghĩa vụ giám sát chất lượng của hàng hóa khi bên nhận chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó và bên nhận quyền sử dụng sẽ phải đảm bảo chất lượng của hàng hóa sử dụng nhãn hiệu đó.

iv)Vềquyềnsởhữuđốivớigiátrịvô hìnhcủanhãn hiệu sau khi các bên chấm dứt hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu: sau khi chấm dứt hợp đồng, quyền sở hữu nhãn hiệu đó vẫn thuộc về chủ sở hữu nhãn hiệu, do đó những giá trịvô hình gia tăng của nhãn hiệu cũng phải thuộc về chủ sở hữu nhãn hiệu.

1.3Sựhình thành và phát triểncủapháp luậtvềchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu

1.3.1Sựhình thành và phát triểncủachuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu trong pháp luật quốc tế

Với tư cách là cái nôi của các cuộc cách mạng công nghiệp trên thế giới, ChâuÂu là nơi mà loài người được chứng kiến rõ nét nhất của sự bùng nổ về công nghiệp và khoa học kỹ thuật. Chính sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp và khoa học kỹthật đã khiến chonền sảnxuất hàng hóa không nhữngởChâu Âu mà cònởnhiều quốc gia khác trên thế giới đạt được nhiều thành tựu vượt bậc, của cải làm ra ngày càng nhiều, cácsảnphẩm hàng hóa, dịchvụcũngtrởnên phong phú và đa dạng. Những vụ việc đạo nhái nhãn hiệu, “ăn cắp” nhãn hiệu diễn ra ngày càng tăng, làm bùng lên“chiếndịch”kiện tụng giữa bênsởhữunhãn hiệu vàmộtbên khôngsởhữu nhãn hiệu nhưng lại thèm khát nhãn hiệucủangười khácđặcbiệt là các nhãn hiệu có uy tín trên thị trường cứ diễn ra triền miên mà chưa có hồi kết. Đã đến lúc cần có một giải pháp để chuyển hai bên tranh chấp từ thế đối đầu sang đối thoại vàcùng có lợi,đápứngmụcđích: bênsởhữunhãn hiệu trong khivẫnsởhữunhãn

86

hiệu nhưnglạithuđượclợiích kinhtếnhiều hơntừnhãn hiệu, nhãn hiệuđược quảng bá ra nhiềuthịtrường vàđượcngườitiêu dùng biếtđếnnhiều hơn; cókhảnăng bảo vệ nhãn hiệu cho sản phẩm của mình tốt hơn trước các hành vi xâm phạm nhãn hiệu bởi mình sẽ có thêm “tai mắt” trong việc thu thập các thông tin liên quan

đến việcxâm phạm nhãn hiệu…Bênđược phép sử dụngnhãnhiệu sẽ được hưởng lợi rất lớn từ việc các sản phẩm của mình được phép gắn nhãn hiệu nổi tiếng để bán rathịtrườngvớigiá cao hơn,từđóbênsởhữunhãn hiệu cũngđãlàmtốtvai trògiúpngườikhác cũng có cơhộithành công như mình. Giải phápđóchỉcóthểlàthông qua conđườngchủsởsữunhãn hiệu thực hiện việc chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu chongườicó nhucầu sửdụng nhãn hiệu. Và trách nhiệmcủacác nhà nước, các nhà làm luật là phải tạo ra hành lang pháp lý đúng đắn, an toàn, soiđường dẫn lối cho giải pháp này sớm đi vào cuộc sống và phát huy tốt tác dụng của mình trên thực tế. Để đáp ứng yêu cầu bức thiết đó, Công ước Paris về bảo hộ sởhữu công nghiệp và Hiệp định TRIPS về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ đã được ra đời.

1.3.1.1 Công ước Paris

Mặcdù không đi thẳng vào việc khẳngđịnhvấnđềchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu là quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu nhưng Công ước Paris cũng đãgián tiếp thừa nhậnchủ sởhữu nhãn hiệu có thể chuyển giao quyềnsử dụngnhãn hiệu mà mình đangsởhữuchongườikhác.Từđó,tạocơsởđểLuật SHTT Việt Nam ghi nhận quyền chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệucủachủsởhữunhãn hiệu và bổ sung thêm các quy định có liên quan để cụ thể hóa quyền này. Công ước Paris rađờivào ngày 20.3.1883tạiParis,được sửa đổi tại Brussels ngày 14.12.1900,tại Washington ngày 2.6.1911, tại LaHay ngày 6.11.1925, tạiLondon ngày 2.6.1934,tạiLisbon ngày 31.10.1958 vàtạiStockholm ngày 14..7.1967, và được tổng sửa đổi ngày 28.9.1979 đã trở thành văn bản pháp lý đầu tiên có hiệu lực áp dụng rộng khắp trên 162 nước thành viên của Công ước về vấnđề này. Tại Điều 6quater của Công ước nêu rõ: “Trong trường hợp luật của một nước thành viên của Liên minh, quy định rằng việc chuyển giao nhãn hiệu chỉ có hiệu lực nếuthực hiệnđồngthờivớiviệc chuyển giao cơsởsảnxuất hoặc thươngmạicó

87

nhãn hiệu, thìđiềukiệnđủđểcông nhận hiệulựccủaviệc chuyển giaođólàbộphậncủacơsởsảnxuất hoặc thươngmạinằmtrên lãnhthổnướcđócũngđược chuyển giao cho người nhận cùng với độc quyền sản xuất hoặc bán hàng hoá mang nhãn hiệu tại nước đó”.

1.3.1.2 Hiệp định TRIPS

Ra đời sau Công ước Paris, vào ngày 15 tháng 04 năm 1994, Hiệp định TRIPS về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ đã được ký kết, lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, các nước đã ký một hiệp định giành riêng cho vấnđề thương mại của quyền sở hữu trí tuệ. Đặc biệt, Hiệp định TRIPS đã giành riêng mục 2 gồm 07 điều để quy định vấn đề thương mại liên quan đến nhãn hiệu trong

đó có việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (cấp li – xăng nhãn hiệu). Cụ thể,Điều 21 Hiệp định TRIPS quy định: “Các thành viên có thể quy định các điều kiện cấpli-xăng (chuyển giao quyềnsửdụng) và chuyển nhượng quyềnsởhữunhãn hiệu hàng hoá, trong đó không được quy định việc cấp li-xăng không tự nguyện đối vớinhãn hiệu hàng hoá vàchủsởhữunhãn hiệu hàng hoáđãđăng ký phải cóquyền chuyển nhượng quyềnsởhữunhãn hiệu hàng hoá có hoặc không kèm theo việc chuyển nhượng cơsởkinh doanh có nhãn hiệu hàng hoáđó”.Bên cạnhđó,Điều40Hiệp địnhTRIPS quy định về việc kiểm soát hoạt động chống cạnh tranh trong các li-xăng theo hợp đồng ghi nhận rằng, các quốc gia thành viên có thể cụ thểhoá trong pháp luật quốc gia các hoạt động hoặc điều kiện cấp li-xăng quyền SHTT mà trong một số trường hợp cụ thể các quy định pháp lý này có thể tạo ra việc lạm dụng quyền SHTT, gâyảnhhưởngxấucho hoạtđộngcạnh tranh trênthịtrường tương ứng. Mặt khác, điều luật này cũng quy định rằng, các quốc gia thành viên cóthể đưa ra các biện pháp thích hợp, phù hợp với các điều khoản khác của Hiệp địnhđể ngăn ngừa và khống chế các hoạt động có hại đó. Các biện pháp này có thể bao gồm các điều kiện buộc bên nhận li-xăng cấp li-xăng ngược lại cho bên chuyển giao li-xăng quyền li-xăngđộcquyền,điềukiện nhằm ngăncấmviệc không thừa nhận hiệulựccủa quyền SHTT và việccấpli-xăng trọn gói.48 Như vậy, cùng với CôngướcParis, HiệpđịnhTRIPS 1994 không nhữngđãthừa nhận quyềnđượcchuyển

48 Irene Calboli (2007), “The Sunset of “Quality Control” in Modern Trademark Licensing”, American University Law Review, Volume 57, Issue 2.

88

giao quyền sử dụng nhãn hiệu cho người khác của chủ sở hữu nhãn hiệu mà còn cho

phép chủ sở hữu nhãn hiệu được quy định các điều kiện để cấp li – xăng nhãn hiệu, thậm chí là cả quyền chuyển quyềnsởhữu nhãn hiệu chongườikhác.Từcác quyđịnhcó tính chất pháp lý này, các quốc gia thành viên trongđócó Việt Namđãchuyển hóamộtcáchcụthểcác quyđịnhđóvàohệthống pháp luậtvềquyềnsởhữu trí tuệ của mình mà đặc biệt là chế định về nhãn hiệu và chuyển giao quyền sửdụng nhãn hiệu.

1.3.1.3 Các hiệp định song phương, đa phương

Dựa trên cơ sở nền tảng của Công ước Paris và Hiệp định TRIPS, đã có khôngít các hiệpđịnhthươngmạisong phương và đa phươngđượckýkếtgiữa hai hay nhiều quốc gia với nhau mà Việt Nam là thành viên, trong đó đều chứa đựng nhiều quyđịnhliên quanđếnviệcbảovệvà thực thi quyềnsởhữutrítuệtrong thương mại,đặcbiệt làvềnhãn hiệu và chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu. Cóthểkể

đến một số các hiệp định tiêu biểu như Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ(BTA), Hiệpđịnhđốitác toàn diện và tiếnbộxuyên Thái Bình Dương (CPTPP),

Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA),…

Vào năm 2000, Việt Nam và HoaKỳđãký HiệpđịnhThươngmạisong phương (BTA). Hiệp định này không chỉ mở cửa cho hàng hóa Việt Nam vào Hoa Kỳ (thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới thời điểm đó), mà còn được xem như là sựkhởi đầu cho cuộc cải cách sâu rộngvềthểchế thương mại của Việt Nam lúc bấy giờ. Với những hiệu ứng mà BTA tạo ra cho môi trường thương mại của Việt Nam cũng như thươngmạigiữa Việt Namvớicácđốitác,đâycóthểcoi làbướckhởiđầu thực sự có ý nghĩa cho tiến trình Việt Nam hội nhập với kinh tế thế giới. Trong Hiệp định này, hai bên đã giành hẳn chương 2 để quy định về quyền sở hữu trí tuệ. Trong chương 2 này, quyđịnhvềnhãn hiệu hàng hóa (mà theo Hiệpđịnhthì bao gồmcảnhãn hiệu dịchvụ,nhãn hiệutậpthểvà nhãn hiệu chứng nhận)đượcquyđịnh tại Điều 6 với 14 khoản, đề cập đến các vấn đề quan trọng như định nghĩa nhãn

hiệu hàng hóa, đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, li-xăng nhãn hiệu hàng hóa,… Những quyđịnhnàybướcđầucũngđãgóp phầntạonềntảng vàsứcảnhhưởngđốivới việc xây dựng và ban hành Luật SHTT năm 2005.

89

Trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2020, sau nhiều lần đàm phán kéo dài, 02 Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đã được ký kết và chính thức có hiệu lực là Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) (gồm 11 nước thành viên trong đó có Việt Nam), Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA). Do được đàm phán và ký kết trong giai đoạn nền kinh tế tri thức trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ, tài sản trí tuệ đã và đang từng ngày trở thành thứ tài sản vô cùng quý giá và là đối tượng phổ biến của nhiều giao dịch thương mại. Song quyền sở hữu trí tuệ đối với loại tài sản này cũng dễ bị xâm phạm với nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó không thể thiếu nguyên nhân hàngđầu là vì lợi nhuận. Phạm vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không chỉ bó hẹp trong mỗi một quốc gia mà nó còn vượt ra khỏi biên giới quốc gia, trở thành vấn nạn của rất nhiều quốc gia trên thế giới. Không chủ quan khi nói rằng nơi nào có hoạt động thương mại thì nơi đó đã, đang và sẽ xảy ra các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trítuệ. Ý thứcđượcvấnđềnày, các Hiệpđịnhthươngmạitựdo thế hệmớimà tiêu biểu là CPTPP và EVFTA đã giành nhiều quy định để điều chỉnh về vấn đề bảo hộvà thực thi quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyđịnhvề nhãn hiệu và li xăng nhãn hiệu nói riêng. Trong CPTPP, HiệpđịnhnàyđãgiànhhẳnmụcCđểquyđịnhvềnhãn hiệu, bảo hộ nhãn hiệu và li xăng nhãn hiệu (từ Điều 18.18 đến Điều 18.28), mụcIđểquyđịnhvềvấnđềthực thi quyềnsởhữutrí tuệ. Hiệpđịnhnàyđãcónhững tácđộngkhôngnhỏđếnviệc QuốchộiViệt Nam tiến hànhsửađổiLuật SHTT vào năm 2019, trong đó đáng chú ý có quy định về việc bãi bỏ quy định hợpđồngchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu chỉ có hiệulựcđối với bênthứ ba khi hợpđồngđóđượcđăng kýtạicơ quan có thẩm quyền (Cục SHTT). Còn trong EVFTA, các bênđãgiànhhẳntiểumục2(từĐiều12.17đếnĐiều12.22)đểquyđịnh về nhãn hiệu, đăng ký nhãn hiệu và một phần nội dung khá khiêm tốn có liên quan đến việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu. Ngoài ra, Hiệp định này cũng có quyđịnhvềcác biện pháp thực thi quyềnsởhữutrítuệnhư biện pháp dân sự, hành chính. Trong một tương lai không xa, để tăng cường tính tương thích pháp luật của quốc gia với pháp luật quốc tế nói chung và các Hiệp định thương mại mà Việt Nam là thành viên nói riêng, khi QuốchộiViệt Nam tiếptụcsửđổiLuật SHTT

90

chắc chắn không ít các quy định về quyền SHTT (mà đặc biệt là các nội dung liên quan đến nhãn hiệu, chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu và cơ chế thực thi quyền SHTT) trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới này sẽ được nội luật hóa nhiều hơn.

1.3.2Sựhình thành và phát triểncủachuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu trong pháp luật Việt Nam

Sự hình thành và phát triển của chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam được chia theo từng giai đoạn, gắn liền với hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước cũng như mức độ phát triển của quá trình lập pháp.

i) Giaiđoạntrướcngày 1/1/2006 (giaiđoạntrướcthờiđiểmBộluật Dânsựnăm 2005 có hiệu lực thi hành)49

Tại Việt Nam, vào thế kỷ XV, dưới thời vua Lê Thánh Tông đã cho xây dựng và ban hành Bộ luật Hồng Đức. Trong bộ luật này đã có những quy định xử phạt vềtội làm hàng giả, tuy chưa có những quy định trực tiếp nhưng những quy định nàyđượcxem nhưmộtcáchbảovệgián tiếp các nhãn hiệuđượccông nhận trênthịtrường, đây đượccoi là một trong những quyđịnhđầutiênvềbảo hộ nhãn hiệuởViệt Nam, là tiền đề cho việc hình thành pháp luật về nhãn hiệu ở nước ta sau này50. Ngày 08/03/1949,vớidanh nghĩa lànướcViệt Nam Cộng hoà, Chínhphủ

ngụy quyền đã tham gia ký kết hai Công ước quốc tế quan trọng có chứa đựng nội dung bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa là Công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền SHCN vàThoả ước Madrid 1891 về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa. Do hoàn cảnh lịch sử trong giai đoạn từ năm 1954-1975, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền với các chế độ chính trị khác nhau, ở Miền Bắc, ngày 03/01/1958 Thủ tướng Chính phủđãký Nghịđịnhsố175-TTg trongđóđềcậpđếnviệc đăng ký nhãn hiệu thương phẩm,ởMiền Nam theo luật 12/57 ngày 1/8/1957 và luậtsố13/57 ngày

49 Sở dĩ tác giả chọn mốc thời gian này là bởi Bộ luật Dân sự năm 2005 được đánh giá là một trong những bộluật đóng vai trò hạt nhân rất quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, có tầm ảnh hưởng sâu rộng với xã hội, đồng thời bộ luật này cũng được đánh giá là có nhiều điểm tiến bộ, đánh dấu bước tiến mới của trình

độ lập pháp nước ta sau 30 năm thống nhất đất nước. Mặt khác đây cũng là bộ luật ghi nhận khá nhiều nội dung liên quan đến sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu nói riêng.

50 Đặng Thị Thu Huyền (2004), Pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa theo quy định của Việt Nam và Cộng hòa Pháp, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học luật Hà Nội, tr51.

91

1/8/1957 một số đối tượng SHCN được bảo hộ như sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, ngoài ra còn có luật số 14/59 ngày 11/6/1959 về chống sản xuất hàng giả.

Từ năm 1975 đến năm 1994: Lần đầu tiên trong lịch sử, Chính phủ nước ta đãcho rađờiĐiềulệmua bán Li-xăng ban hành kèm theo Nghịđịnh201/HĐBT 28/12/1988, trongđócó quyđịnhvềmua bán quyềnsửdụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và bí quyết kỹ thuật (dưới đây gọi tắt là mua bán li-xăng) áp dụng cho mọi cá nhân và pháp nhân của nước Cộng hoà xãhộichủnghĩa Việt Nam và cá nhân, pháp nhânnướcngoài. Tiếpđó,BộKhoa học, Công nghệ và môi trường ban hành Thông tư số 163/NHTT-SHCN ngày 15/4/1994 hướng dẫn thi hành các quy định về việc phê duyệt và đăng ký hợp đồng Li-xăng.

Trong giaiđoạntừnăm 1995đếntrướcngày 01/01/2006sựphát triểncủahệthống pháp luậtbảohộSHCN trongđócó NHHHđượcđánhdấubằng việc Nhànước ta ban hành Bộ luật Dân sự ngày 28/10/1995. Đây là đạo luật có tầm quan trọngđặc biệt trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Quyền SHTT và chuyển giao công nghệđược quyđịnhtạiPhầnthứVI và trongmộtsốđiềuluật có liên quan khác củaBộluật này.

Để thực thi các quy định đó, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã lần lượtđược ban hành nhiều văn bản hướng dẫn khá cụ thể và chi tiết để điều chỉnh vấn đềnày như: Nghịđịnh63/CP ngày 24/10/1996củaChínhphủquyđịnhchi tiếtvềSHCN; Thông tưsố3055/NHTT-SHCN ngày 31/12/1996củaBộKhoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn thi hành các quy định về thủ tục xác lập quyền SHCN và một số thủ tục khác trong Nghị định 63/CP của Chính Phủ; Nghị định số06/2001/NĐ-CP ngày 01/02/2001củaChínhphủsửađổi,bổsungmộtsốđiềucủa Nghị định 63/CP quy định chi tiết về SHCN. Ngoài các văn bản nêu trên còn có một số văn bản có liên quan khác như Thông tư số 23/TC/TCT ngày 9/5/1997 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý phí và lệ phí SHCN; Quy định số 308/ĐK ngày 11/6/1997 của Cục SHCN về hình thức, nội dung và các loại đơn về SHCN.

Nhìn chung, trong giaiđoạnnày,hệthống pháp luậtvềsởhữutrítuệnói chung và chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu nói riêngởnướcta còn khátản

92

mạn, chủ yếu nằm rải rác ở nhiều văn bản dưới luật khác nhau nên hiệu lực thực thi chưa cao.Đồngthời,kểcảkhiBộluật Dânsựnăm 1995 thì quyđịnhvềchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cònrấtsơ sài, mới chỉ dừng lạiở mức độghi nhận chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền độc quyền sử dụng nhãn hiệu và chuyển giao quyền sửdụng nhãn hiệu chongườikhácchứchưa có nhiều quyđịnhvềchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu như pháp luật hiện hành.

ii) Giai đoạn sau ngày 1/1/2006 (giaiđoạnBộluật Dân sự năm 2005bắt đầu có hiệu lực)

Mặc dù chính phủ Việt Nam đã có nhiều nổ lực trong việc ban hành các văn bảnquy phạm pháp luậtđiềuchỉnh lĩnhvựcsởhữutrí tuệ, song qua thực tiễn thi hành, các quy định nói trên đã bộc lộ rõ nhiều bất cập, hạn chế, không theo kịp với tốc độ phát triển của nền kinh tế nói chung và sự phong phú, đa dạng của các quyền về sở hữu trí tuệ nói riêng. Điều đó đòi hỏi phải có các văn bản pháp luật mới ra đờiđể thay thế cho các văn bản cũ và đủ tầm để điều chỉnh các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ. Trên cơ sở các quy định mang tính nền tảng quan trọng của pháp luật quốc tế,kếthừa có chọnlọchệthống pháp luật SHTT Việt Namtrướcngày 1/1/2006,đồng thời tăng cường tính tương thích của pháp luật SHTT Việt Nam với pháp luật quốc tế, ngày 14/6/2005, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật Dânsự2005bắtđầucó hiệulực từngày 01/01/2006 thaythếcho Bộ luật Dânsự1995 trước đó. Bộ luật Dân sự năm 2005 (sau đây gọi là Bộ luật Dân sự) đã giành trọn phần thứ 6 của mình để quy định về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, trongđóchương XXXIV quyđịnhvềquyền tácgiảvà quyền liên quan, chương XXXV quy định về quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng. Tiếpđó,vào ngày 29/11/2005, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 bắt đầu có hiệu lực vào ngày 01/7/2006 (đã được sửađổi,bổsung năm 2009) quyđịnhmộtcáchcụthể, rõ ràngvềquyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó. Đặc biệt luật Sở hữu trí tuệ cũng làm rõ đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp trong đó có nhãn hiệu. Dưới góc nhìn của Bộluật Dân sự 2005 và Luật Sở hữu trí tuệ 2005, khái niệm về nhãn hiệu đã được quyđịnhphùhợphơnvớiluật pháp quốctế,đãphân loại rõ các loại nhãn hiệu (nhãn

93

hiệu chứng nhận, nhãn hiệu liên kết, nhãn hiệu nỗ tiếng và nhãn hiệu tập thể), đã cóquy định về quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu một cách tương đối đầy đủ trong đó cóquyền chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, đồng thời cũng đã có các quy định vềhợp đồng chuyển quyềnsửdụngđốitượng sởhữu công nghiệp (baogồmcả nhãn hiệu). Đặc biệt, khác với các văn bản pháp luật trước đây hầu như chỉ chú trọng đến vấnđềnhãn hiệu hàng hóa mà“bỏlơ”nhãn hiệu dịch vụ, thì nay nhãn hiệuđượcđiềuchỉnh trong hai vănbảnluật này khôngchỉđượchiểu là nhãn hiệu hàng hóa mà nó cònđượcdùng chung chocảnhãn hiệu dịchvụ.Sau khi hai vănbảnluật quan trọng nàyđượcban hành,mộtloạt các vănbảnhướngdẫnthi hành cũngđãđược ra đời.

Đến ngày 24/11/2015, Quốc hội đã ban hành Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lựckểtừngày 1/1/2017 thaythếchoBộluật Dânsựnăm 2005.Điềuđáng chúýtrongBộluật Dân sự năm 2015là đãloạibỏhoàn toàn các quyđịnhvềquyềnsởhữu trí tuệ được quy định tại phần 6 chương XXXIV và chương XXXV của Bộ luật Dânsựnăm 2005.Điềunày có nghĩa làBộluật Dânsựkhông quyđịnhtrực tiếp các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ nữa.

Đếnnăm 2009, năm 2019 và năm 2022, Quốchộiđãtiến hànhsửađổi,bổsung Luật SHTT năm 2005, trong đó có sửa đổi quan trọng về vấn đề hiệu lực của hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu. Những sự thay đổi này xuất phát từ việc Việt Namđãvà đangbướcvào thời kìhộinhập sâu rộngvớicácnềnkinhtếtrên thếgiới,đồngthời cũng tham gia kíkếtnhiều hiệpđịnhthươngmạitựdothếhệmới với các quốc gia phát triển trên thế giới, trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đó quyền sở hữu trí tuệ nói chung cũng như quyền sở hữu công nghiệpđốivớinhãn hiệu nói riêng luônđượcchú trọng thông qua việc giành khá nhiều dung lượng của hiệp định để quy định về vấn đề này.

Như vậy, tínhđếnthờiđiểmhiện nay,ởViệt Namchỉtồntạimộthệthống văn bản quy phạm pháp luật chủ đạo điều chỉnh trực tiếpvề vấnđề chuyểnquyền sửdụng nhãn hiệu là Luật SHTT cùng các văn bảnhướngdẫnthi hành. Điều này vừa thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta về lĩnh vực sở hữu trítuệkhiđấtnướcta đanghộinhập sâu rộng vớithếgiới,vừakhắc phục tình trạng

94

quyđịnhvềsởhữutrítuệnằmtảnmátởnhiều vănbảnluật khác nhau gây khókhăn trong việc áp dụng trên thựctế.Ngoài ra, việc này cũng có tác dụng phòng ngừa trường hợp mâu thuẫn, chồng chéo trong quy định của các văn bản pháp luật khác nhau khi đều điều chỉnh về cùng một vấn đề. Ngoài Luật SHTT, hiện còn rất ít vănbảnluật khácđiểuchỉnhmộtsốvấnđềcó liên quanđếnsởhữutrítuệnói chung và chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu nói riêng, ví dụ như Luật Thương mạinăm 2005 (phần quyđịnhvềnhượng quyền thương mại), Luật Doanh nghiệp năm 2020 (phần quy định về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ).

95

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1, tácgiảđãphân tích làm rõ nhữngvấnđềlý luậnvềnhãn hiệu, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu. Việc phân tích và làm rõđược haivấnđềnàyđãtạocơsởcho việc nghiêncứuvà làm rõ cácvấnđềlý luậnvềquyền sử dụng nhãn hiệu, chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu trong bối cảnh Luật SHTT hiện hành chưa xây dựngđượckhái niệmvềquyềnsửdụng nhãn hiệu (màchỉliệt kê các hành visửdụng nhãn hiệu) và khái niệmvềchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu (mới chỉ đưa ra khái niệm chung về chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp). Không những thế, tác giả đã có những đối sánh để chỉra điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu với chuyển giao các tài sản không phải là tài sản trí tuệ. Việc tác giả xây dựng được hai khái niệmvềquyềnsửdụng nhãn hiệu và chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu,đồng thời tiến hành đối sánh giữa chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu với chuyển giao các tàisảnkhông phải là tàisảntrítuệgiúp nghiêncứusinhnắmchắcđượcđịnh hướng nghiên cứu, đồng thời có tác dụng giúp mọi người hiểu đúng về quyền sử dụng nhãn hiệu và chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu để từ đó có thể áp dụngđúng vào trong thực tiễn thi hành. Ngoài ra, tác giả cũng phân tích làm rõ và đưa ra nhậnđịnhviệc chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệutấtyếuphảiđượcthểhiện bằnghợpđồngvàđượcgọilàhợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu (hoặchợpđồngchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu hoặchợpđồngli – xăng nhãn hiệu),đồngthời xây dựngđượckhái niệmhợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu trong bối cảnh Luật SHTT chưa xây dựng được khái niệm này. Xuất phát từ nhận định “việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tất yếu phải được thể hiện bằng hợp đồng” mà hầu hết toàn bộ nội dung ở chương 2, chương 3 đều chủ yếu đềcậpnhữngvấnđềliên quanđếnhợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu. Bên cạnh đó, tác giả còn phân biệt hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu với hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu, hợp đồng chuyển nhượng tên thương mại và hợp đồng nhượng quyền thương mại. Ngoài ra, tác giả đã tìm hiểu và phân tích khái quát lịchsửhình thành và phát triểncủapháp luậtvềchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu trênthếgiới cũng nhưở ViệtNam. Trongđó,tácgiảcũngchỉrõ

96

tầm ảnh hưởng của pháp luật quốc tế đối với việc hình thành và phát triển pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam. Đồng thời, tác giả cũng phân chia các giaiđoạnhình thành và phát triểncủachuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu trong pháp luật Việt Namđểthấyđượcnhữngbướcphát triểncủahệthống pháp luật Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật về SHTT nói chung và chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu nói riêng.

97 CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VIỆT NAM VỀ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG NHÃN HIỆU

2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu 2.1.1 Những quy định chung của pháp luật Việt Nam về chuyển giao quyền

sử dụng nhãn hiệu

2.1.1.1 Phạm vi chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Như chúng ta đã biết, khi một nhãn hiệu đã được cấp Giấy chứng nhận đăng kínhãn hiệu thì nhãn hiệuđósẽđượcpháp luậtbảovệ,chủsởhữucó quyềnđộc quyền sử dụng nhãn hiệu, cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu, ngăn cấm người khácsửdụng nhãn hiệu. Tuy nhiên, việc nhãn hiệuđược bảohộcũng có nghĩa làchủsởnhãn hiệuđóchỉđược sửdụng nhãn hiệu thông qua các hành vi nhấtđịnh mà pháp luật cho phép. Theo quy định tại khoản 5 Điều 124 Luật SHTT thì việc sửdụng nhãn hiệu chỉ được thực hiện thông qua các hành vi sau:

i) Gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịchvụ,giấytờgiao dịch trong hoạtđộngkinh doanh.Đâyđượcxem là hành vi sử dụng phổ biến nhấtcủanhãn hiệu,đồngthời hành vi này cũng là hành vi mang tính khởi phát cho việcđưanhãn hiệu vào trong lưu thông, chào bán, quảng cáođểbán hay tàngtrữđểbán, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ. Thông qua hành vi này thì chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của những chủ thểkinh doanh khác nhau mới được bộc lộ, đồng thời hành vi này cũng giúp cho khách hàng “định vị” được nguồn gốc sản xuất hàng hóa, dịch vụ để quyết định tiêu thụ.

ii) Lưu thông, chào bán, quảng cáođểbán, tàngtrữđểbán hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ. Khi nhãn hiệu đã được gắn lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịchvụ,giấytờgiao dịch trong hoạtđộng kinh doanh thì nhãn hiệuđócùngvớihàng hóa, dịchvụcógắnnhãn hiệuđược phép lưu thông, chào bán để bán trên thị trường, đồng thời cũng được phép quảng cáo để bán, tàng trữ để bán. Nhờ vào nhóm hành vi này mà nhãn hiệu mới phát huyđượctác dụngcủamình trong việc manglạigiátrịkinhtếchochủsởhữunhãn

98

hiệu, đồng thời đây cũng là một trong những căn cứ để giúp người tiêu dùng phân biệt được đâu là hàng chính hãng đâu là hàng giả, đồng thời cũng giúp khẳng định hành vi kinh doanh những hàng hóa, dịchvụđượcgắnnhãn hiệuđãđượcbảohộcủa chủ sở hữu nhãn hiệu là hợp pháp.

iii) Nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ. Như đã đề cậpở trên, nhãn hiệu có vai trò trong việc xác định nguồn gốc sản xuất hàng hóa, dịch vụ,đồngthờichủsởhữunhãn hiệu có quyềngắnnhãn hiệuđãđượcbảohộlên hàng hóa, dịch vụ của mình và đưa chúng vào lưu thông trên thị trường để tiêu thụ. Do đó, trong vấn đề nhập khẩu hàng hóa, một trong những căn cứ để hàng hóa được nhập khẩu đó là các bên giao dịch hàng hóa đó phải chứng minh được với cơ quan có thẩm quyền nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa đó. Việc hàng hóa được gắn đầy đủnhãn hiệu đã được bảo hộ cũng là một trong những căn cứ quan trọng để giúp chứng minh điều đó. Do đó, việc nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộcũng được xem là một trong những cách tiêu thụ hợp pháp hàng hóa, dịch vụ đó.

Khi chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu cho bên nhận chuyển giao, bên chuyển giao có quyền cho phép bên nhận chuyển giao được thực hiện một hoặc một sốhoặctấtcảcác hành vi trên tùy vàoýchícủamình cũng như nhucầucủacác bên. Ví dụ: bên chuyển giao có quyền chỉ cho phép bên nhận chuyển giao được gắn nhãn hiệuđãđượcbảohộlên hàng hóa, bao bì hàng hóa và lưu thông, chào bán hàng hóa mang nhãn hiệuđãđượcbảohộđónhưng không cho phépđượcquảng cáo hàng hóa mang nhãn hiệu đã được bảo hộ đó. Việc cho phép bên nhận chuyển giao được thực hiện một hoặc một số hoặc tất cả các hành vi trên đều phải được ghi nhận rõ ràng vào trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu để các bên có căn cứ thực hiện51. Nếu bên nhận chuyển giao có hành vi sử dụng nhãn hiệu vượt quá những hành vi mà bên chuyển giao cho phép thì bị xem là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu.

2.1.1.2 Những giới hạn trong chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Quyềnsởhữutrítuệđốivớinhãn hiệu làmộtloại tàisảnvô hình vàđượcđăng ký bảo hộ. Do đó việc sử dụng loại tài sản này cũng có phần đặc biệt hơn so

51 Phạm vi chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là một trong những nội dung quan trọng trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu và sẽ được tác giả đề cập đến ở phần nội dung hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu của luận án này.

99

với các loại tài sản không phải là tài sản trí tuệ khác, đó là việc sử dụng nhãn hiệuđượcbảohộbịgiớihạntrong phạm vi không gian, thời gianđượcghi trong văn bằng bảo hộ nhãn hiệu (Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu) mà cơ quan có thẩm quyền cấp cho chủ sở hữu nhãn hiệu. Cụ thể:

i) Giớihạnphạm vivềkhông gian: Theo quyđịnhtạikhoản 1 Điều 93 Luật SHTT thì Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu có giá trị trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ của Việt Nam. Do đó, khi một nhãn hiệu đã được đăng kí bảo hộ tại Việt Nam thì văn bằng bảo hộ đó chỉ có hiệu lực trên lãnh thổ Việt Nam, mọi hành vi sử dụng nhãn hiệu đó trên lãnh thổ Việt Nam mà không xuất phát từ sự cho phép của chủ sởhữu nhãn hiệu đều bị xem là bất hợp pháp. Việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu đã được đăng kí bảo hộ đương nhiên cũng bị lệ thuộc vào phạm vi bảo hộ được ghi trong văn bằngbảohộ.Vì vậy, khichủsởhữunhãn hiệuđãđượcbảohộchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệuđócho bên nhận chuyển giao thì phạm vi chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu không được vượt quá phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Giới hạn về phạm vi không gian này phải được các bên thể hiện rõ trong nội dunghợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệuđểcác bên có căncứthực hiện.

ii) Giớihạnphạm vivềthời gian: Theo quyđịnhtạikhoản 6Điều93 Luật SHTT thì Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm. Dođó,khimộtnhãn hiệuđãđượcbảohộtạiViệt Nam thì Giấy chứng nhận đăng kínhãn hiệu đó có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn. Đồng thời,chủsởhữunhãn hiệu cóthểđềnghị giahạnhiệulựccho Giấy chứng nhậnđăng kí nhãn hiệu bằng việc nộp lệ phí gia hạn, có thể gia hạn được nhiều lần liên tiếp,mỗilần10 năm.Đốivớinhững nhãn hiệuđãđượccấpvăn bằngbảohộ,vềmặt nguyên tắc, chỉ khi văn bằng bảo hộ nhãn hiệu còn có hiệu lực thì chủ sở hữu nhãn hiệu mới có căn cứ chứng minh việc mình sở hữu nhãn hiệu đó là hợp pháp, lúc đó chủ sở hữu mới có toàn quyền trong việc sử dụng hoặc cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu. Do đó, việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu chỉ được xem là hợp pháp khi văn bằng bảo hộ nhãn hiệu đang còn có hiệu lực. Từ đó có thể thấy,

100

thời hạn chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu của một nhãn hiệu không được vượt quá thời gian bảo hộ nhãn hiệu được ghi trong văn bằng bảo hộ nhãn hiệu.

Việc pháp luật Việt Namđưara quyđịnhvềgiớihạnchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu như trên cũng phù hợp với pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của

nhiều quốc gia khác như Đức, Pháp52, … Những quy định về giới hạn chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu có tác dụng rất lớn trong việc xác định ranh giới giữa xâm phạm hay không xâm phạm quyềnsởhữutrítuệđốivớinhãn hiệu trong nhiều trường hợp;đồngthời khi những giớihạnnàyđượcthểhiện trongnộidunghợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu cũngsẽtrởthành căncứđểcác bên tuân thủ thực hiện.

2.1.1.3 Hình thức chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Hình thức chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu là hình thứcthểhiện bên ngoài của quan hệ chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu. Xuất phát từ tính chất vôhình của quyền sử dụng nhãn hiệu nên việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cầnthiết phải cómộtsựbiểuđạtra bên ngoàimộtcáchcụthểđểgiúp chúng ta nhận biếtđược cósựtồntạicủaviệc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, nhãn hiệu nàođượcchuyển giao quyềnsửdụng, phạm vi chuyển giao, giớihạnchuyển

giao, … Theo quy định tại khoản 2 Điều 141 Luật SHTT thì việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, hợp đồng này được gọi là hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (hay còn gọi là hợpđồngli xăng nhãn hiệu).Đâycũng là cách biểuđạtduy nhấtđượcpháp luật cho phép của giao dịch chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam. Việc pháp luật SHTT Việt Nam quyđịnhhình thức chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu làhợpđồngbằng vănbảncũng phù hợpvớipháp luậtcủanhiều quốc gia phát triển

trên thế giới như Nhật Bản, Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Đức, Pháp53… Dưới hình thứchợpđồngbằng văn bản, toànbộnộidungcủahợpđồngđượcthểhiện một cách đầy đủ, rõ ràng, minh bạch nhất, tránh được sự mập mờ gây ra những hiểu

52 Irene Calboli và Jacques De Werra (2016),“The Law and Practice of Trademark Transactions: A global and local outlook”, Nhà xuất bản Edward Elgar Publishing, tr400 và tr416

53 Irene Calboli và Jacques De Werra (2016),“The Law and Practice of Trademark Transactions: A global and local outlook”, Nhà xuất bản Edward Elgar Publishing, tr395 và tr420

101

nhầm làm phát sinh mâu thuẫn trong quá trình thực hiệnhợpđồnggiữa các bên;đồngthờiđâycũng là bằng chứngtốtnhấtđểphụcvụcho việc giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên (nếu có), trong việcxửlý vi phạmđốivớinhãn hiệu (nếu có), mặt khác cũng là bằng chứng quan trọng để các bên căn cứ vào đó để thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ đã được thỏa thuận.

2.1.2 Thực trạng pháp luật Việt Namvềchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

2.1.2.1 Đối tượng của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Theo quy định tại Điều 142 Luật SHTT, khác với chỉ dẫn địa lý và tên thương mạikhôngthểtrởthànhđốitượngcủahợpđồngsửdụngđốitượngsởhữucông nghiệp, thì các quyền sử dụng đối với nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh đều có thể là đối tượng của hợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng. Như vậy,đốitượngcủahợpđồngchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệuđóchính là quyềnsửdụngđốivớinhãn hiệu. Theo đó, bên chuyển giao cho phép bên nhận chuyển giao có thể gắn nhãn hiệu được bảo hộlên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờgiao dịch trong hoạtđộngkinh doanh; lưu thông, chào bán, quảng cáođểbán, tàng trữ để bán hàng hoá mang nhãn hiệu được bảo hộ; nhập khẩu hàng hoá, dịch vụmang nhãn hiệu được bảo hộ. Bên chuyển giao cũng có thể không chuyển giao toàn bộ nội dung kể trên mà chỉ chuyển giao cho bên nhận chuyển giao một hoặc một sốnội dung của quyền sử dụng nhãn hiệu.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng,đốivớinhãn hiệutậpthể thì quyềnsửdụng nhãn hiệu tập thể không thể chuyển giao cho tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể đó54. Điều này có nghĩa rằng quyền sử dụng nhãn hiệutậpthểvẫn đượcphép chuyển giao nhưngchỉđượcchuyển giao chotổchức, cá nhân là thành viêncủachủsởhữunhãn hiệutậpthểđó.Vídụ:Hộilàm vườn huyện Chợ Gạo (tỉnh Tiền Giang) chỉ được phép chuyển quyền sử dụng nhãn hiệutậpthể“THANH LONGChợGạoDRAGON FRUIT”củamình(đượcCục

54 Xem khoản 2 Điều 142 Luật SHTT

102

SHTT cấp văn bằng bảo hộ ngày 02/10/2006, số bằng: 4-0075670)55 cho các thành viên của Hội làm vườn huyện Chợ Gạo (tỉnh Tiền Giang) chứ không được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể này cho tổ chức, cá nhân khác không phải là thành viên của Hội.

Ngoài ra, do Luật SHTT không có quy định cấm hoặc hạn chế nên trong một hợp đồng sử dụng nhãn hiệu, bên có quyền chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu có thểchuyển quyền sử dụng của một nhãn hiệu hoặc quyền sử dụng của nhiều nhãn hiệu cho bên nhận quyền. Trong trường hợp các bên lựa chọn phương án chuyển quyền sửdụngcủanhiều nhãn hiệu trong cùngmộthợpđồngsửdụng nhãn hiệu thì các bên cần phải lưu ý một số vấn đề sau:

i) Thời hạn có hiệu lực của văn bằng bảo hộ của từng nhãn hiệu được chuyển giao quyền sử dụng: Như chúng ta đã biết, đối với nhãn hiệu được cấp văn bằng bảo hộ, bên chuyển quyền chỉ được phép chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu đó trong thời gian văn bằngbảohộcho nhãn hiệuđócòn có hiệu lực, trong khiđóthờihạncóhiệulựccủavăn bằngbảohộcủatừng nhãn hiệu không phải lúc nào cũng giống nhau (vì phụ thuộc vào thời điểm được cấp mới hoặc cấp lại văn bằng bảo hộ). Dođó,khi trong cùngmộthợpđồngchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu có nhiều nhãn hiệu được chuyển giao quyền sử dụng cùng lúc thì các bên phải ghi rõ thời hạn bên nhận chuyển quyềnđượcquyềnsửdụng nhãn hiệu cho từng nhãn hiệu,đồngthời lưuýthờihạnbên nhận chuyển quyềnđượcquyềnsửdụng nhãn hiệu nào phải thuộc thời hạn có hiệu lực của Văn bằng bảo hộ của nhãn hiệu đó, hoặc nếu đây làhợp đồng chuyển quyền sử dụngthứ cấpthì thời hạn này phải nằm trong thời hạn hợp đồng chuyển quyền sử dụng độc quyền trên thứ cấp của nhãn hiệu đó.

ii) Nhãn hiệu được chuyển giao quyền sử dụng là nhãn hiệu liên kết: Theo quyđịnhtạiKhoản 19Điều4 Luật SHTT thì“nhãnhiệu liênkếtlà các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho các sản phẩm, dịch vụcùng loại hoặc tươngtựnhau hoặc có liên quanvớinhau”.ỞViệt Nam hiện nay,rấtnhiềutổchức kinhtếđangsởhữukhông ít nhãn hiệu liên kết. Do Luật

55 https://www.ipvietnam.gov.vn/danh-sach-cac-on-ang-ky-nhan-hieu-tap-the-a-cong-bo1 truy cập ngày 5/6/2021.

103

SHTT không có quy định liệu khi chuyển quyền sử dụng một nhãn hiệu thuộc nhóm nhãn hiệu liênkếtcủacùngmộtchủsởhữuthì quyền sử dụngcủacác nhãn hiệu khác thuộc nhóm nhãn hiệu liênkếtđócóđươngnhiênbịchuyển quyềnsửdụng cho bên nhận chuyển quyền hay không, nên khi chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu liên kết, để tránh trường hợp nhầm lẫn trong quá trình chuyển quyền và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu liên kết trong quá trình thực hiện hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu, các bên phải lưu ý ghi rõ quyền sử dụng của nhãn hiệu nào trong số các nhãn hiệu liên kết của chủ sở hữu được chuyển quyền sử dụng theohợpđồngchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệuđượcký giữa các bên. Vídụ:tậpđoàn Vingroup đang làchủsởhữucủacác nhãn hiệu liênkếtnhư VINCOM, VINMEC, VINFAST, VINHOME, VINSCHOOL, VINMART,… Tính liênkếtởđây được thể hiện ở chỗ các nhãn hiệu này có dấu hiệu tương tự nhau, đều bắt đầu bằngchữ”Vin”. Ngày 3/12/2019,Tậpđoàn VinGroup vàTậpđoàn Masan tiến hành thỏa thuận về việc hoán đổi cổ phần Công ty VinCommerce và Công ty VinEco. Vậy nên, sau khi hoàn tất thương vụ này, chuỗi siêu thị mini VinMart vàVinMart+vốndo Công ty VinCommerce thuộctậpđoàn Vingroup sởhữuthì nayđã thuộc quyền sở hữu và chi phối của Tập đoàn Masan. Theo thỏa thuận này, trong thời gian từ khi ký hợp đồng chuyển giao đến hết năm 2021, Tập đoàn Masan vẫnđượcsửdụng nhãn hiệu VinMart & VinMart+ chohệthống siêuthịmini nhậntừTập đoàn Vingroup56. Như vậy, trong thương vụ này, dù VinMart và VinMart+ lànhãn hiệu thuộc nhóm nhãn hiệu liên kết của Tập đoàn Vingroup, song khi chuyển quyềnsửdụng những nhãn hiệuđócó thờihạnchoTậpđoàn Masan thì không chuyển giao kèm theo các nhãn hiệu khác thuộc nhóm nhãn hiệu liênkếtcủaTập

đoàn Vingroup như VINHOME, VINMEC, VINSCHOOL,…Từđấycóthểthấy, mỗi nhãn hiệu trong nhóm nhãn hiệu liên kết của cùng một chủ sở hữu có tính độc lậpvớicác nhãn hiệu khác trong nhóm nhãn hiệu liênkếtkhi chuyển quyềnsửdụng. Do đó, khi chuyển quyền sử dụng một nhãn hiệu trong nhóm nhãn hiệu liên kết của cùng một chủ sở hữu cho bên nhận chuyển quyền thì quyền sử dụng của các

56 Việt Đức, Masan sẽ thay tên thương hiệu Vinmart

https://khoahocdoisong.vn/masan-se-thay-ten-thuong-hieu-vinmart-166104.html , truy cập ngày 7/5/2021.

104

nhãn hiệu khác thuộc nhóm nhãn hiệu liênkếtđókhôngđươngnhiênbịchuyển quyền sử dụng cho bên nhận chuyển quyền.

Từnhững phân tích ở trên, thiết nghĩ, Luật SHTT Việt Nam cần phải có quyđịnhkhẳngđịnhviệc cho phép chuyển giao quyềnsửdụngcủanhiều nhãn hiệu

trong cùngmộthợpđồngli–xăng nhãn hiệuđểtăng tính minhthịcủaluật, giúp các bên đặc biệt là những ai chưa am hiểu Luật SHTT có nhu cầu giao kết loại hợpđồngnày mạnhdạngiaokếthợpđồng,tránh tình trạng phải kí nhiềuhợpđồng chuyển giao quyền sử dụng các nhãn hiệu khác nhau với cùng một bên.

Ngoài ra, nếu như trên thực tế, bên có thẩm quyền chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu chỉ chuyển giao cho bên nhận chuyển giao một dấu hiệu chỉ có vẻ giống hệthoặc tươngtựmộtcách ngẫu nhiênvớinhãn hiệu mà mình có quyền thìhợp

đồng đó có được xem là hợp đồng li – xăng nhãn hiệu hay không? Về vấn đề này, Luật SHTT chưa có quy định. Song, vấn đề này đã pháp luật của Đức quy định khárõ. Theo quy định tại mục 305 và các mục tiếp theo của Bộ luật Dân sự Đức, thuật ngữ“li-xăng”chỉđượcáp dụng cho việc“li- xăng nhãn hiệuđầyđủ”,nghĩa làngườiđượcphép chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệucủamình phải chuyển giao quyền sử dụng đúng nhãn hiệu mà mình sở hữu cho người nhận chuyển quyền. Nếu bên chuyển quyềnđãđồngývớingườinhận chuyển quyềnchỉsửdụngmộtdấu hiệu chỉ có vẻ giống hệt hoặc tương tự một cách ngẫu nhiên thì không được gọi là“li – xăng”57.

Một vấn đề khác có liên quan là việc chuyển quyền sử dụng đối với nhãn hiệu chứng nhận. Theo quy định của Luật SHTT, nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu màchủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu. Theođó,đặctrưng của nhãn hiệu chứng nhận là việc chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân

57 Irene Calboli và Jacques De Werra (2016),“The Law and Practice of Trademark Transactions: A global and local outlook”, Nhà xuất bản Edward Elgar Publishing, tr 394.

105

đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc cácđặc tính khác của hàng hoá, dịchvụmang nhãn hiệu. Từ đặc trưng này, có ý kiến cho rằngmụcđích củachủsởhữukhibảohộnhãn hiệu chứng nhận chính là cho phép người khác “sử dụng” nhãn hiệu đó trên hàng hoá, dịch vụ của họ, do đó, việc li-xăng nhãn hiệu chứng nhận sẽ không diễn ra trên thực tế, từ đó cần phải sửa đổi quy định của pháp luật về đối tượng của hợp đồng li-xăng nhãn hiệu bằng cách loại trừ “nhãn hiệu chứng nhận” ra khỏi đối tượng có thể được li-xăng58. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, ý kiến trên là chưa thuyết phục, bởi vì chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận có quyền chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu chứng nhậncủamình cho ngườikhácsửdụng,nếukhông cósựcho phépcủachủsởhữunhãn hiệu chứng nhận thì người khác không có quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận đó, chỉ có điều việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận phảiđảmbảo mộtsốđiềukiện nhất định như: i) các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc cácđặc tính khác của hàng hoá, dịchvụmuốn được mang nhãn hiệu chứng nhận phải phù hợp với điều kiện để được sử dụng nhãn hiệu chứng nhận; ii) Người được cấp phép sử dụng nhãn hiệu chứng nhận phải có nghĩa vụ đảm bảo duy trì các đặc tính của hàng hóa, dịch vụ được sử dụng nhãn hiệu chứng nhận trong suốt quá trình sửdụng nhãn hiệu chứng nhận; iii) chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận có quyền kiểm soát việc tuânthủquy chế sử dụng nhãn hiệu, thu phí quản lý nhãn hiệu, đìnhchỉquyền sử dụng nhãn hiệu của người không đáp ứng điều kiện theo quy định của quy chế sử dụng nhãn hiệu.

2.1.2.2 Chủ thể trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Theo quyđịnh tạiKhoản 1 Điều 141 Luật SHTT thì “chuyển quyền sử dụngđối tượng sở hữu công nghiệp là việc chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp cho phép tổ chức, cá nhân khác sửdụng đối tượngsở hữucông nghiệp thuộc phạm vi quyềnsửdụngcủamình”. Bên cạnhđó,Khoản 3Điều143 Luật SHTT cũng quy

58 Hoàng Lan Phương (2019),“Phápluậtvềchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu: nhữngbấtcậpcầnkhắc phục”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 61 (10), tháng 10/2019, tr31.

106

định“Hợpđồngsửdụngđốitượngsởhữucông nghiệpthứcấplàhợpđồngmàtheo đó bên chuyển quyền là người được chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sởhữucông nghiệpđótheomộthợpđồngkhác”. Ngoài ra, nhưđãtrình bàyởmục 1.1.6 tại chương 1 của luận án, thì “hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu làsựthỏa thuận giữa bên chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu và bên nhận chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu”. Từ hai quy định nói trên, chúng ta có thể nhận thấy, chủ thể trong quan hệ chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu bao gồm các chủ thể sau:

i) Bên chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu: Theo tinh thần của Luật SHTT thì bên chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu có thể là chủ sở hữu nhãn hiệu (đây làchủ thể được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Văn bằng bảo hộ đối với nhãn hiệu (Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu)hoặc chủ sở hữuđối với nhãn hiệu nổi tiếng) hoặc tổ chức, cá nhân nhận chuyển quyền sử dụng nhãn hiệutừ chủ sở hữu nhãn hiệuđểchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu bằngmộthợpđồngsửdụng nhãn hiệuthứcấpchomộttổchức, cá nhân khác.Vềvấnđềnày,tạimục5Đạoluật Lanham năm 1946 của Hoa Kỳ quy định: “Ở đây, một nhãn hiệu đã đăng ký hoặc mộtnhãn hiệu muốnđượcđăng kýđượchoặc cóthểđượcsửdụnghợppháp bởi các công ty liên quan, việc sử dụng đó sẽ mang lại lợi ích cho người đăng ký hoặc ngườinộpđơnđăng ký vàviệc sửdụngđósẽkhôngảnhhưởngđếnhiệulựccủa nhãn hiệu đó hoặc đăng ký của nó, miễn là nhãn hiệu đó không được sử dụng theo cáchđểlừadốicông chúng”59. Như vậy, theo quyđịnhcủapháp luật Hoa Kỳ, khôngchỉcóngườiđãđăng ký nhãn hiệu màngườiđangnộpđơnđăng ký nhãn hiệu cũng có quyền chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu cho các công ty liên quan (công ty liên quan ở đây là bất kỳ công ty nào mà việc sử dụng nhãn hiệu bị chủ sởhữu nhãn hiệu kiểm soát về bản chất và chất lượng của hàng hóa, dịch vụ mà hàng hóa, dịch vụ đó có sử dụng nhãn hiệu của chủ sở hữu). Đồng thời, có thể thấy, việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu ở Hoa Kỳ chỉ được xem là hợp pháp khi nó đảm

59 Lanham Act , section 5, 15 U.S.C

107

bảosựcạnh tranh lành mạnh và không xâm phạmđếnquyềnlợicủangườitiêu dùng60.

ii) Bên nhận chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu: là bên nhận chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng sử dụng nhãn hiệu độc quyền, hợp đồng sử

dụng nhãn hiệu không độc quyền hoặc hợp đồng sử dụng nhãn hiệu thứ cấp;…

Với quy định như vậy, có thể nhận thấy, Luật SHTT cơ bản đã có những quyđịnh khá tương thích với pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của một số quốc gia khác. Cũng phải nói thêm rằng, giống như hầu hết các hợp đồng dân sự và thương mạikhác,chủthểcó quyền chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu không phải lúc nào cũng trực tiếp kíkếthợpđồngchuyển giao màhọcũng cóthểủyquyền cho mộtbên khácđểthay mình kýkếthợpđồngbởixétvềcơsởthực tiễn thì không phải lúc nào chủ sở hữu cũng có thể tự mình thực hiện việc đàm phán, ký kết hợpđồng, do đó họ có nhu cầu thực sự để ủy quyền cho một người khác thay mình thực hiện công việc đó. Song, cần phải lưu ý rằng, chủ thể nhận ủy quyền để đàm phán, ký kết hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu không phải là một bên trong hợpđồngchuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu.Chủthểnhậnủyquyềnđểđàm phán và ký kết hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu có thể là cá nhân, tổ chứcđáp ứng đầy đủ các điều kiện về mặt chủ thể mà pháp luật quy định. Cụ thể:

i)Đốivớicá nhân nhậnủyquyền thì cá nhân này cóthểlà cá nhân thông thường không có đăng ký kinh doanh nhưng phải có năng lực pháp luật dân sự vànăng lực hành vi dân sự.61 Bên cạnh đó, cá nhân này cũng có thể là cá nhân có đăng ký kinh doanh(dướihình thức Hộ kinh doanh). Trong việc lựa chọn giữa cá nhân không có đăng kí kinh doanh và cá nhân có đăng ký kinh doanh trong việc nhận sựủy quyền đàm phán và ký kết hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu, theo tác

60 Mặc dù nhu cầu chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu là một thực tế phổ biến tại Hoa Kỳ, song mãi đến khiĐạo luật Lanham được thông qua vào năm 1946, việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu mới chính thứcđược chấp nhận ở Hoa Kỳ. Bởi trước đó, theo luật chung và theo quy định của Đạo luật Nhãn hiệu Hoa Kỳnăm 1905 (Trademark Act of 1905) thì việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu bị cấm do lo ngại điều này sẽ vi phạm chức năng chính của nhãn hiệu, mà tại thời điểm đó nhãn hiệu chỉ được xem có một chức năng chính làchỉ ra nguồn gốc sản phẩm. Mục 5 và mục 45 của Đạo luật Lanham năm 1946 (được sửa đổi năm 1988) đãcó quy định một số vấn đề quan trọng liên quan đến chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu.

61 Theo Điều 16 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sư.

Theo Điều 19 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự.

108

giả, cá nhân có đăng ký kinh doanh là sự lựa chọn phù hợp hơn để ủy quyền, bởi vì:

Một là, quyền sử dụng nhãn hiệu thường gắn với hoạt động thương mại do đó nên chọnmộtngườicó những am hiểu nhấtđịnhvềhoạtđộngthươngmạicảvề“lýthuyết” lẫn kinh nghiệm thực tiễn để ủy quyền thì khả năng đàm phán và ký kết hợpđồngsẽcó kếtquảkhảquan hơn; Hai là,chủ sởhữunhãn hiệu thường là thương nhân, do đó nên chọn một cá nhân có đăng ký kinh doanh (là thương nhân) đểủy quyền thì sẽ phù hợp với chế định đại diện cho thương nhân được quy định tại mục 1 chương V của Luật Thương mại năm 2005, từ đó các bên có thêm một hành lang pháp lý an toàn và rõ ràng hơn để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ đại diện.

ii) Đối với tổ chức nhận ủy quyền: theo quan điểm của tác giả, pháp luật hiện hành không có quy định về việc tổ chức nào có năng lực nhận ủy quyền để tham giađàm phán, ký kết hợp đồng thay cho chủ sở hữu nhãn hiệu nên xét dưới góc độ lýthuyết thì chỉ cần tổ chức nào được thành lập hợp pháp đều có thể nhận và thực hiệnđượccông việcủyquyền này. Song, khi xétvềgócđộthực tiễnlẫngócđộpháp luật, thiết nghĩtổchức là thương nhân(tổchức kinhtế)mớilàsựlựachọn khôn ngoan, đúngđắnđểchủsởhữunhãn hiệu cóthểủyquyền. Xétdướigócđộthực tiễn, vì quyềnsửdụng nhãn hiệu thườnggắnvớihoạtđộngthươngmạinên cũng cầnmộtthương nhân62 làtổchức kinhtếvớinhững kinh nghiệm trong hoạtđộng thương mại để tham gia đàm phán và ký kết hợp đồng. Mặt khác, hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu đa số thường được giao kết với tư cách là hợp đồng kinh doanh, thươngmạihơn làhợpđồngdân sựbởichủsởhữunhãn hiệuđạiđa sốlàthương nhân, do đó nên lựa chọn tổ chức là thương nhân để ủy quyền nhằm tạo sựđốixứng, hòahợptrong việcđàmphánủyquyền cũng như thực hiện quyền vànghĩa vụ của các bên. Xét dưới góc độ pháp luật dân sự, một trong những điều kiệnđểgiao dịch có hiệulựcpháp luật làchủthểtham gia giao dịch phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự đã được

62 Theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005, Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế

được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.

109

xáclập63 vàđiềukiện này cũngđượcáp dụng chung chohợpđồngkinh doanh, thương mại. Vậy“chủ thể tham gia giao dịch phải có năng lực pháp luật dân sự vànănglựchành vi dân sự phùhợp vớigiao dịch dân sự đã đượcxác lập”xét dưới góc độ kinh doanh, thương mại thì phải được hiểu như thế nào?Nếuxétdướigócđộ kinh doanh, thương mại, do hiện nay pháp luật chưa quy định rõ, song theo tác giả điều này phải được hiểu rằng chủ thể đó phải là một tổ chức kinh tế và tổ chức kinh tế đó phải được thành lập hợp pháp (có đăng kí kinh doanh), đồng thời phải cóngành nghề đăng ký kinh doanh hoặc cácđiềukiện kinh doanh khác phùhợpvới công việc được ủy quyền. Một tổ chức là cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức từthiện,.. và cáctổchức khác không phải làtổchức kinhtếthì khôngđảmbảođược điều kiện này. Do đó, tổ chức nhận ủy quyền ở đây cần được hiểu là tổ chức kinhtếđượcthànhlậphợppháp (thương nhân) và cóđầyđủnănglựchành vi thương mại để xác lập và thực hiện hợp đồng với chủ sở hữu nhãn hiệu.

Thứhai,vềbên nhận chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu: Theo tinh thần quy định tại Khoản 1 Điều 141 Luật SHTT thì bên nhận chuyển giao là tổ chức, cánhân nhưng Luật SHTTlạikhông có quy định hướng dẫn làm rõ tổ chức, cá nhân này là ai nên cóthểgây rasựbấttiện, lung túng trong quá trình áp dụng. Vì vậy, việc thống nhất cách hiểuvềbên nhận chuyển giao quyềnsửdụng nhãn hiệu cần phải được xem xét nghiêm túc. Qua quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy vì Luật SHTT không có quyđịnhđểxácđịnhrõvềchủthểnhận chuyển giao quyền nên chúng ta cũng có thể hiểu đó có thể là tổ chức, cá nhân bất kỳ, song dựa trên cơ sởpháp luật và cơ sở thực tiễn thì chúng ta nên hiểu tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là tổ chức kinh tế và cá nhân có đăng ký kinh doanh (gọi chung là thương nhân) hoặc cá nhân có thực hiện hành vi kinh doanh nhưng không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật64. Bởi lẽ, xét dưới góc độ pháp luật, nếu một tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân hoặc cá nhân có thực hiện hành vi kinh doanh nhưng không phải đăng ký theo quy định của pháp luật thì khó

63 Xem Điểm a Khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015

64 Theo quy định tại Khoản 2 Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP về Đăng ký doanh nghiệp thì: Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề cóđiều kiện

110

có khả năng để duy trì việc sử dụng nhãn hiệu liên tục trên thực tế, mà nếu không duy trì được việc sử dụng nhãn hiệu này thì rất có khả năng sẽ bị chấm dứt hiệu lựcđối với Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95 Luật SHTT65. Còn xét dưới góc độ thực tiễn thì hầu như tất cả các tổ chức, cá nhân màkhông phải là thương nhân hoặc cá nhân có thực hiện hành vi kinh doanh nhưng không phải đăng ký kinh doanh theo quyđịnhcủapháp luật thìhọkhông có nhu cầu để nhận chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu.

Về việc quy định chủ thể nào có quyền chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu theo hợp đồng thứ cấp, theo tác giả, đây là một vấn đề chưa được quy định hợp lý trong Luật SHTT Việt Nam. Bởi khoản 3 Điều 143 Luật SHTT chỉ quy định “bên chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu làngườiđượcchuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệuđótheomộthợpđồngkhác”, còn khoản 3Điều142 Luật SHTT thì quyđịnh“bênđược chuyển quyền không được ký kết hợp đồng thứ cấp với bên thứ ba, trừ trường hợp được bên chuyển quyền cho phép”. Nếu căn cứ vào hai quy định này chúng ta cóthểhiểu làcảbên nhận chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu theohợpđồngđộc quyền và bên nhận chuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu theohợpđồngkhôngđộc quyền đều có quyền chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu cho bên thứ ba theo hợp đồng thứ cấp. Có quan điểm cho rằng, điều này thể hiện sự cởi mở, tôn trọng quyền tự do giao kết hợp đồng, tự do thỏa thuận của các bên của Luật SHTT Việt Nam khi cùng lúc cho cả hai chủ thể nêu trên cùng có quyền thực hiện chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu theo hợp đồng thứ cấp nếu được bên chuyển quyền cho phép. Tuy nhiên, nếuđứng dưới góc độ của bên nhận chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu theo hợp đồng độc quyền, theo quan điểm của tác giả, quy định này có điểm bất hợp lý. Bởi lẽ, thông thường, bên nhận chuyển quyền theo hợp đồng độc quyền phải trả mức phí chuyển quyền cao hơn so với chủ thể nhận chuyển quyền từ hợp đồng không độc quyền bởi bênchủsởhữusẽthuđượcphí chuyển quyềntừnhiềuchủthểnhậnhợpđồng không độc quyền thay vìchỉnhậnđược mộtnguồn phí chuyển quyền duy nhấttừ

65 Theo quy định tại Khoản 1 Điều 95 Luật SHTT thì Văn bằng bảo hộ bị chấm dứt trong các trường hợp sauđây:

“d) Nhãn hiệu không được chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu cho phép sử dụng trong thời hạn năm năm liên tục trước ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực mà không có lý do chính đáng, trừ trường hợp việc sửdụng được bắt đầu hoặc bắt đầu lại trước ít nhất ba tháng tính đến ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực;”

111

bên nhận quyền theohợpđồngđộcquyền. Vàlẽđươngnhiên, khi nghĩavụ(chịu mức phí chuyển quyền) của bên nhận chuyển quyền theo hợp đồng độc quyền nhiều hơn thì quyềnlợicũng phảiđượcnâng lên tương xứng.Vềvấnđềnày, theo quyđịnh của pháp luật về nhãn hiệu của Hoa Kỳ thì người được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu độc quyền có thể được chuyển quyền sử dụng lại nhãn hiệu cho bên thứba, cònngườiđượcchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu khôngđộcquyền không cóquyền kýhợpđồngchuyển quyền sử dụnglạinhãnhiệu đócho bênthứba66. Dođó, theo tác giả, quyền chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu theo hợp đồng thứ cấp nênđược trao cho bên nhận chuyển quyền sử dụng từ hợp đồng độc quyền.

2.1.2.3 Hình thức của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Theo tinh thần quyđịnhtạiKhoản 2Điều141 Luật SHTT thì việc chuyển quyềnsửdụngđối tượngsởhữucông nghiệp phảiđượcthực hiệndướihình thức hợp đồng bằng văn bản. Quy định này khá tương thích với quy định trong pháp luật củaĐức.Theo pháp luậtcủaĐức,việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệuchỉcầncó sựđồngthuận của các bên là đã được coi là hợp pháp, không yêu cầu phải công khai hợp đồng. Tuy nhiên, vì lý do làm bằng chứng, pháp luật của Đức khuyến khích các bên nên thiết lập hợp đồng dưới hình thức bằng văn bản67. Còn theo pháp luậtcủaHoaKỳthìhợpđồngchuyển quyềnsửdụng nhãn hiệu cóthểđượcviết bằng văn bản hoặc bằng miệng mặc dù trênthực tếhợpđồngbằng văn bản có lợi thế hơn trong việc cho phép Tòa án có thể giải thích chính xác ngôn ngữ được dùng trong hợp đồng khi có tranh chấp. Hợp đồng này không bắt buộc phải được ghi lại bởi USPTO, nhưng nên ghi lại bởi USPTO vì đó là phương thức hay nhất để tạo hồsơ công khai về hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu68.

Liên quan đến hình thức của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, chúng ta cũng cần lưu ý rằng, hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu nếu được các bên kí kết dưới hình thức hợp đồng điện tử thì vẫn được xem là có giá trị như

66 Irene Calboli và Jacques De Werra (2016),“The Law and Practice of Trademark Transactions: A global and local outlook”, Nhà xuất bản Edward Elgar Publishing, tr451.

67 Xem AXEL NORDEMANN, JAN BERND NORDEMANN & ANKE NORDEMANN-SCHIFFEL, WETTBEWERBSRECHT-MARKENRECHT, mn.1178 (11th ed.2012)

68 Xem The Trademark Manual of Examination Procedure (TMEP) of the United States Patent and Trademark Office , at section 503.02

112

hợp đồngđượckí bằng văn bản.Bởilẽ,xét dưới gócđộpháp luật của Việt Nam,điềunàyđãđượcghi nhận rõ ràng trong Luật GDĐT năm 2005 và nhiều văn bản pháp luật quan trọng khác.Cụthể,Điều33 Luật GDĐT năm 2005đãquyđịnh “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu”, Điều 12 của Luật GDĐT năm 2005 cũng quy định rất rõ về nội dung này:“Trường hợp pháp luật yêu cầu thông tin phải được thể hiện bằng văn bản thì thông điệp dữ liệuđược xem là đáp ứng yêu cầu này nếu thông tin chứa trong thông điệp dữ liệu đó cóthể truy cập và sử dụng được để tham chiếu khi cần thiết”. Đồng thời, Điều 34 Luật GDĐT năm 2005 cũng có quy định thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử:

“giátrịpháp lýcủahợpđồngđiệntửkhôngthểbịphủnhậnchỉvìhợpđồngđóđượcthểhiệndướidạng thôngđiệpdữliệu”.Bên cạnhđó,tạiKhoản 15Điều3 Luật TM năm 2005 quy định“Cáchình thức có giátrịtương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của phápluật”.Không những vậy, Khoản 1Điều119 BLDS năm 2015 cũng có quyđịnh“Giao dịch dân sự thông qua phương tiệnđiệntửdướihình thức thôngđiệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản”. Đây được xem là những quy định tiến bộ, bắt kịp xu hướng điện tử hóa các hợp đồng. Do đó, khi một hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu được xácđịnhlàhợpđồngdânsựhayhợpđồngkinh doanh, thươngmạiđi chăngnữathìchúng ta cũng cócơ sởpháp lýđểthiếtlập dướihình thứchợp đồngđiện tử. Còn xétdướigócđộnhucầucủathực tiễn, hiện nay Việt Namđãvà đang sống trong thời đại công nghệ 4.0 (và trong tương lai gần sẽ là 5.0), việc áp dụng những thành tựu tiến bộ của khoa học công nghệ vào việc xác lập hợp đồng là rất cần thiết, biểu hiện của vấn đề này chính là việc ký kết hợp đồng điện tử. Việc sử dụng hợp đồngđiện tử có thể đáp ứng được những mong muốn của các bên giao kết như chi phí rẻ, tốc độ truyền tải thông tin nhanh chóng, không phụ thuộc vào khoảng cách địa lý vàbiên giới quốc gia.Mặtkhác, nếu như có dịch bệnh nguy hiểm bùng phátởnhiều quốc gia (như đại dịch Covid 19) khiến nhiều quốc gia phải thực hiện các biện pháp cách ly xã hội, hạn chế đi lại và cấm tụ tập đông người thì việc giao kết hợp đồngđiện tử lại càng cho thấy đây là giải pháp phù hợp, căn cơ, hạn chế bế tắc trong việc

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo Pháp luật Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *