Các yếu tố tác động đến quyết định chọn học trình độ đại học tại Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh
MỞ ĐẦU
Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển, có những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước. Theo thống kê từ Bộ Giáo dục và Đào tạo ( 2021), trong năm học 2020 – 2021 có tổng cộng 519,601 sinh viên đại học được tuyển mới (trong đó bao gồm 414,518 người học lựa chọn học trường công lập và 105,083 người học lựa chọn trường ngoài công lập). Cũng theo thống kê từ Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), tính đến năm 2021 cả nước hiện có 241 trường Đại học bao gồm 175 trường công lập và 66 trường ngoài công lập. Xu thế nền giáo dục nước ta đang có sự thay đổi mạnh mẽ, có sự tham gia của trường công lập, dân lập và các trường đại học Quốc tế, thêm vào đó, bức tranh giáo dục Đại học Việt Nam sẽ có biến động mạnh mẽ ở khu vực tư thục với sự ra đời của khá nhiều cơ sở giáo dục nước ngoài, chủ yếu là các cơ sở giáo dục liên kết.
Chọn trường, đặc biệt là trường Đại học không hề dễ đối với những học sinh từ các trường trung học phổ thông. Nhìn chung học sinh THPT chưa có khái niệm về chuyên ngành đào tạo, có một khoảng trống giữa việc học và việc làm trong tương lai. Học sinh chọn các chuyên ngành học theo xu hướng đám đông trong xã hội. Các trường THPT chưa chú trọng vào việc tư vấn cho học sinh chọn ngành học cho phù hợp với nguyện vọng bản thân, trong khi chỉ có một số gia đình đủ kiến thức và có sự hiểu biết để tư vấn cho con em mình. Chọn ngành, chọn nghề mà hiểu biết ít, thậm chí không hiểu ngành nghề định chọn thì sớm muộn sẽ gặp trở ngại lớn trong quá trình học tập.
Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh (HUIT) với lịch sử hình thành lâu đời từ năm 1982, HUIT đào tạo đa ngành nghề và đa cấp bậc. Năm 2010, HUIT chính thức đào tạo chương trình đại học. Trình độ đại học HUIT đào tạo năm 2020 – 2023 có 34 chuyên ngành bao gồm các khối ngành kỹ thuật và dịch vụ với tổng số sinh viên là 22,787 sinh viên. Cũng đào tạo với 34 chuyên ngành trên, vừa qua vào khóa đào tạo trình độ đại học năm 2020 – 2023, HUIT đã long trọng tổ chức buổi lễ tốt nghiệp trao bằng cử nhân và kỹ sư cho 2672 sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp đợt 1 và 1138 sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp đợt 2 trong năm 2023 . Kết quả tốt nghiệp đã phần nào thể hiện mục tiêu chất lượng trong hoạt động đào tạo đại học của nhà trường. Bên cạnh đó, số lượng hồ sơ đăng ký nhập học cho chương trình đại học năm 2023 theo thống kê từ phòng tuyển sinh của nhà trường đến nay đã nhận được 6,300 hồ sơ cho 34 ngành đào tạo trình độ đại học với tỉ lệ sinh viên nhập học trong Thành phố Hồ Chí Minh 39,06% so với các Tỉnh thành khác. Căn cứ vào số liệu kể trên, ta có thể nhìn thấy trong những năm vừa qua nhằm thu hút học sinh Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh đã có những nỗ lực trong công tác đào tạo ngành nghề chuyên sâu, kỹ năng mềm vào ứng dụng thực tế (ĐH Công Thương TP.HCM, 2023).
Một trong những yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh hiện nay của các trường là chất lượng đào tạo chuyên sâu và tỷ lệ sinh viên có việc làm ổn định sau khi tốt nghiệp. Nhằm đánh giá mức độ thích ứng sản phẩm đào tạo của nhà trường với nhu cầu của thị trường lao động, Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh thường xuyên thực hiện các cuộc khảo sát lấy ý kiến của sinh viên đang theo học bao gồm khảo sát đánh giá khóa học, khảo sát ý kiến sinh viên tốt nghiệp, khảo sát ý kiến của doanh nghiệp đối với sinh viên đang thực tập tại công ty nhằm đánh giá mức độ thích ứng của sản phẩm đào tạo của nhà trường đối với nhu cầu doanh nghiệp, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh (ĐH Công Thương TP.HCM, 2023).
Với mong muốn góp phần giải quyết phần nào vấn đề trong quyết định chọn trường đại học, chọn ngành, chọn nghề và quan trọng là chọn trường đại học phù hợp với nguyện vọng sở thích, năng lực của cá nhân. Cần tìm hiểu các yếu tố quan trọng tác động đến quá trình ra quyết định chọn trường, từ đó thỏa mãn yêu cầu và nhận được sự hài lòng tối đa từ phía học sinh, thu hút nhiều học sinh vào trường, chọn đúng đối tượng để giới thiệu về trường đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh. Từ những thực tế trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Các yếu tố tác động đến quyết định chọn học trình độ đại học tại Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh”, làm nghiên cứu các chuyên đề và luận văn thạc sĩ. Từ việc, nhận dạng và đo lường tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến việc học sinh quyết định chọn trường đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh. Qua đó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút thí sinh theo học trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu nhận dạng các yếu tố và mức độ tác động của các yếu tố này đến quyết định chọn học trình độ đại học tại trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh của thí sinh trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút thí sinh theo học trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh.
Đề tài nghiên cứu nhằm vào các mục tiêu sau đây:
Thứ nhất, nghiên cứu nhận dạng các yếu tố tác động đến quyết định chọn học trình độ đại học tại trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh của thí sinh trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Thứ hai, nghiên cứu xác định mức độ tác động của các yếu tố đến quyết định chọn học trình độ đại học tại trường Đại Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh của thí sinh trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Thứ ba, dựa trên kết quả nghiên cứu có được, tác giả đưa ra đề xuất nhằm nâng cao khả năng thu hút thí sinh vào học trình độ đại học tại trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh.
– Những yếu tố tác động nào đến quyết định chọn học trình độ đại học tại trường đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh của thí sinh trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh?
– Thực trạng công tác tuyển sinh trình độ đại học tại trường đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay như thế nào?

– Hàm ý quản trị nào giúp hoạch định chính sách, chiến lược trong công tác tuyển sinh và các giải pháp thu hút học sinh?
Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố tác động đến quyết định chọn học trình độ đại học tại trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh của thí sinh trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Khảo sát học sinh của 08 trường THPT công lập trên địa bàn thành phồ Hồ Chí Minh bao gồm quận Gò vấp: THPT Nguyễn Công Trứ, THPT Trần Hưng Đạo, THPT Gò Vấp, quận Tân bình: THPT Nguyễn Thượng Hiền, quận Tân Phú: THPT Tây Thạnh, THPT Trần Phú, THPT Tân Bình, THPT Lê Trọng Tấn.
Đề tài nghiên cứu các yếu tố phù hợp với thực tiễn và có ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh của thí sinh trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Về không gian thực hiện: khảo sát học sinh của 08 trường THPT xét trong 117 trường THPT công lập và 89 trường THPT ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Về thời gian thực hiện: tháng 06/2023 đến 12/2023.
Theo Kotler & Levy (1993), hành vi khách hàn là những hành vi cụ thể của một cá nhân hay đơn vị khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và xử lý thải bỏ sản phẩm hay dịch vụ.
Theo Hiệp hội marketing Hoa Kỳ, hành vi khách hàng chính là sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà qua sự tương tác đó con người thay đổi cuộc sống của họ.
Vào năm 1967, học thuyết hành động hợp lý (TRA) đó được phát triển bới hai nhà tâm lý học Martin Fishbein và Icek Ajen (1975) , học thuyết này bắt nguồn từ những nghiên cứu trước đây về tâm lý học xã hội, các mô hình về sự thuyết phục và các lý thuyết thái độ.
Các thuyết của Fishbein cho thấy mối quan hệ giữa thái độ và hành vi (mối quan hệ A – B). Học thuyết hành động hợp lý (TRA) sau đó đã được hai tác giả sửa đổi và mở rộng trong những thập kỷ tiếp theo để khắc phục sự không nhất quán trong mối quan hệ A – B với sự ra đời của thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) và phương pháp hành động có lý do (RAA).
Thuyết hành động hợp lý (TRA) nhằm giải thích mối quan hệ giữa thái độ và hành vi trong hành động của con người. Thuyết này được sử dụng để dự đoán cách mà các cá nhân sẽ hành xử dựa trên thái độ và ý định hành vi đã có từ trước của họ. Các cá nhân sẽ hành động dựa vào những kết quả mà họ mong đợi khi thực hiện hành vi đó.
Hình 6.1 Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (TRA)
Nguồn: Fishbein và Ajzen, 1975
Mục đích chính của TRA là tìm hiểu hành vi tự nguyện của một cá nhân bằng cách kiểm tra động lực cơ bản tiềm ẩn của cá nhân đó để thực hiện một hành động. TRA cho rằng ý định thực hiện hành vi của một người là yếu tố dự đoán chính về việc họ có thực sự thực hiện hành vi đó hay không. Ngoài ra, các quy tắc xã hội cũng góp phần vào việc người đó có thực sự thực hiện hành vi hay không. Theo lý thuyết, ý định thực hiện một hành vi nhất định có trước hành vi thực tế. Ý định này được gọi là ý định hành vi và là kết quả của niềm tin rằng việc thực hiện hành vi đó sẽ dẫn đến một kết quả cụ thể. Ý định hành vi rất quan trọng đối với lý thuyết TRA bởi vì những ý định này “được xác định bởi thái độ đối với các hành vi và chuẩn chủ quan”. Thuyết hành động hợp lý cho thấy rằng ý định càng mạnh mẽ càng làm tăng động lực thực hiện hành vi, điều này dẫn đến làm tăng khả năng hành vi được thực hiện.
- Thái độ đối với hành vi : Theo thuyết hành động hợp lý, thái độ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định ý định hành vi và đề cập đến cách mà một người cảm nhận đối với một hành vi cụ thể. Những thái độ này bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố: sức mạnh của niềm tin về kết quả của hành vi được thực hiện (nghĩa là kết quả có thể xảy ra hay không) và đánh giá kết quả tiềm năng (nghĩa là kết quả có khả quan hay không). Thái độ đối với một hành vi nhất định có thể là tích cực, tiêu cực hoặc trung tính. Thuyết TRA quy định rằng tồn tại một mối tương quan trực tiếp giữa thái độ và kết quả, nếu người ta tin rằng một hành vi nào đó sẽ dẫn đến một kết quả mong muốn hoặc thuận lợi, thì người ta có nhiều khả năng có thái độ tích cực đối với hành vi đó. Bên cạnh đó, nếu người ta tin rằng một hành vi nhất định sẽ dẫn đến một kết quả không mong muốn hoặc không thuận lợi, thì nhiều khả năng người ta có thái độ tiêu cực đối với hành vi đó.
- Chuẩn chủ quan: Các chuẩn chủ quan cũng là một trong những yếu tố chính quyết định ý định hành vi và đề cập đến nhận thức của các cá nhân hoặc các nhóm người có liên quan như thành viên gia đình, bạn bè và đồng nghiệp… có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện hành vi của một người. Ajzen định nghĩa các chuẩn chủ quan là “nhận thức được các áp lực xã hội để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi”. Theo TRA, mọi người phát triển một số niềm tin hoặc niềm tin chuẩn mực về việc liệu một số hành vi nhất định có được chấp nhận hay không. Những niềm tin này định hình nhận thức của một người về hành vi và xác định ý định thực hiện hoặc không thực hiện hành vi của một người. Tuy nhiên, các chuẩn chủ quan cũng sẽ thay đổi tùy theo tình huống và động lực của từng cá nhân, các cá nhân có thể hoặc không tuân thủ theo các quy tắc chung của xã hội. Ví dụ, nếu một hành vi mà xã hội cho là không thể chấp nhận được nhưng cá nhân đó vẫn thực hiện dựa trên động lực riêng của mình.
- Ý định hành vi: Ý định hành vi là một thành phần được tạo nên từ cả thái độ và chuẩn chủ quan đối với hành vi đó; có thể hiểu rằng ý định hành vi đo lường khả năng chủ quan của đối tượng sẽ thực hiện một hành vi, được xem như một trường hợp đặc biệt của niềm tin, được quyết định bởi thái độ của một cá nhân đối với các hành vi và chuẩn chủ quan. Thái độ là cách một người thể hiện hay phản ứng đối với hành động và các chuẩn chủ quan là các chuẩn mực xã hội gắn liền với hành động. Thái độ càng tích cực và chuẩn chủ quan càng mạnh mẽ, mối quan hệ giữa thái độ và hành vi được thể hiện càng cao. Tuy nhiên, thái độ và chuẩn chủ quan dường như không cân bằng như nhau trong việc dự đoán hành vi. Tùy thuộc vào từng cá nhân và tình huống, các yếu tố này có thể có tác động theo một mức độ khác nhau đến ý định hành vi. Một vài nghiên cứu đã chỉ ra rằng kinh nghiệm trực tiếp trước đó với một hành động nhất định sẽ dẫn đến tăng tỷ trọng của thành phần thái độ trong ý định hành vi.
- Hành vi: Hành vi là những hành động quan sát được của đối tượng được quyết định bởi ý định hành vi. Theo thuyết hành động hợp lý (TRA), hành vi phải được xác định rõ ràng theo bốn khái niệm sau: Hành động, mục tiêu, bối cảnh và thời gian. Thuyết này cho rằng ý định hành vi là động lực chính của hành vi, trong khi hai yếu tố quyết định chính đối với ý định hành vi là thái độ và chuẩn chủ quan của con người. Bằng cách kiểm tra thái độ và chuẩn chủ quan, các nhà nghiên cứu có thể hiểu được liệu một cá nhân có thực hiện hành động dự định hay không.
Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) được phát triển từ lý thuyết hành vi hợp lý (Ajzen và Fishbein, 1975), lý thuyết này được tạo ra để khắc phục sự hạn chế của lí thuyết trước về việc cho rằng hành vi của con người là hoàn toàn do kiểm soát lý trí.
Lý thuyết hành vi có kế hoạch hay lý thuyết hành vi hoạch định (The Theory of Planning Behaviour) là một lý thuyết thể hiện mối quan hệ giữa niềm tin và hành vi của một người nào đó, trong đó niềm tin được chia làm ba loại: Niềm tin về hành vi, niềm tin theo chuẩn mực chung và niềm tin về sự tự chủ. Khái niệm này được khởi xướng bởi Icek Ajzen năm 1991, nhằm mục đích cải thiện khả năng dự đoán của Lý thuyết về hành động hợp lý ( Theory of reasoned action) bằng cách bổ sung thêm vào mô hình nhân tố nhận thức về kiểm soát hành vi, mang lại nhiều ưu điểm trong việc dự đoán và giải thích hành vi của một cá nhân trong một bối cảnh nhất định. Nó được xem là một trong những lý thuyết được áp dụng và trích dẫn rộng rãi nhất về lý thuyết hành vi (Cooke & Sheeran, 2004).

Hình 6.2: Mô hình lí thuyết hành vi có kết hoạch TPB
Nguồn: Ajzen, 1991, tr.179-211.
- Thái độ và thái độ đối với hành vi: Theo tâm lý học, thái độ là một tập hợp các cảm xúc, niềm tin và hành vi hướng đến một đối tượng, con người, đồ vật hay một sự kiện cụ thể nào đó. Thái độ thường là kết quả của quá trình trải nghiệm hoặc nuôi dưỡng, và có thể ảnh hưởng mạnh mẽ lên hành vi. Mặc dù thái độ thường tồn tại lâu dài nhưng chúng vẫn có thể thay đổi được.
Thái độ đối với hành vi là đánh giá của một cá nhân về kết quả thu được từ việc thực hiện một hành vi cụ thể, ám chỉ mức độ đánh giá thuận lợi hay bất lợi về một hành vi của một cá nhân.
- Niềm tin theo chuẩn mực chung và quy chuẩn chủ quan: Niềm tin theo chuẩn mực chung (Normative belief): nhận thức của một cá nhân về áp lực quy phạm xã hội, hoặc niềm tin của một người về những gì người khác nghĩ anh ta/ cô ta nên hoặc không nên thực hiện hành vi đó.
Quy chuẩn chủ quan (Subjective norm): nhận thức của một cá nhân, với những người tham khảo quan trọng của cá nhân đó cho rằng hành vi nên hay không nên được thực hiện, bị ảnh hưởng bởi sự phán xét của những người quan trọng khác (ví dụ: cha mẹ, vợ /chồng, bạn bè, giáo viên).
- Niềm tin về sự tự chủ và nhận thức kiểm soát hành vi: Niềm tin về sự tự chủ (Control beliefs): Yếu tố bên trong, niềm tin về khả năng thực hiện, kiểm soát được hành động; niềm tin của một cá nhân về sự hiện diện của các yếu tố có thể tạo điều kiện hoặc cản trở việc thực hiện hành vi.
Nhận thức kiểm soát hành vi (Tiếng Anh: Perceived behavioural control): nhận thức của một cá nhân về sự dễ dàng hoặc khó khăn trong việc thực hiện hành vi cụ thể; điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi. Ajzen đề nghị rằng nhân tố nhận thức kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến xu hướng thực hiện hành vi, và nếu cá nhân nhận thức chính xác về mức độ kiểm soát của mình, thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi. Khái niệm nhận thức kiểm soát hành vi có liên quan về mặt khái niệm với sự tự chủ (self-efficacy).
- Ý định hành vi và hành vi : Ý định hành vi (Tiếng Anh: Behavioural intention): một dấu hiệu cho thấy sự sẵn sàng của một cá nhân để thực hiện một hành vi nhất định. Nó được coi là tiền đề của việc thực hiện hành vi. Nó dựa trên thái độ đối với hành vi, quy chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi.
Hành vi (Behaviour): là phản ứng có thể quan sát được của một cá nhân trong một tình huống nhất định đối với một mục tiêu nhất định. Ajzen cho biết một hành vi là một chức năng của các ý định tương thích với nhận thức kiểm soát hành vi trong đó kiểm soát hành vi được nhận thức sẽ làm giảm bớt tác động của ý định đối với hành vi, do đó một dự định có lợi chỉ tạo ra hành vi khi nhận thức kiểm soát hành vi là mạnh.
Trong những báo cáo về hành vi của khách hàng, người ta thường đo lường bằng các dữ liệu định tính, sau đó đến các dữ liệu định lượng để tổng hợp nên kết quả. Việc sử dụng Thuyết hành vi có kế hoạch trong nghiên cứu về hành vi sẽ giúp cho doanh nghiệp có cái nhìn sâu vào bản chất suy nghĩ khách hàng, trả lời các câu hỏi:
• Vì sao khách hàng có xu hướng lựa chọn như thế?
• Có những yếu tố nào tác động đến hành vi lựa chọn của khách hàng?
• Hành vi của một cá nhân liệu có ảnh hưởng bởi hành vi của những người xung quanh?
Xác định những câu hỏi trên sẽ giúp doanh nghiệp có thể đưa ra giải pháp cho mình. Thuyết hành vi có kế hoạch giúp cho doanh nghiệp có thể tiếp cận sâu với khách hàng và giải quyết những vấn đề từ trong lý trí của họ, biết rõ nhu cầu của khách hàng và thị hiếu của thị trường.
- Điểm mạnh: Thuyết về hành vi có kế hoạch có thể bao hàm hành vi phi ý chí của mọi người mà không thể giải thích bằng lý thuyết về hành động hợp lý (the theory of reasoned action). Mô hình TPB được xem như tối ưu hơn mô hình TRA trong việc dự đoán và giải thích hành vi của người tiêu dùng trong cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu. Bởi vì mô hình TPB khắc phục được nhược điểm của mô hình TRA bằng cách bổ sung thêm yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi.
Ý định hành vi của một cá nhân không thể là yếu tố quyết định duy nhất của hành vi. Bằng cách thêm “nhận thức kiểm soát hành vi “, lý thuyết về hành vi dự định có thể giải thích mối quan hệ giữa ý định hành vi và hành vi thực tế.
Một số nghiên cứu cho thấy TPB sẽ giúp dự đoán tốt hơn ý định hành vi liên quan đến sức khỏe so với lý thuyết về hành động hợp lý. TPB đã cải thiện khả năng dự đoán về ý định trong các lĩnh vực liên quan đến sức khỏe khác nhau như giải trí, tập thể dục, chế độ ăn uống…
Ngoài ra, lý thuyết về hành vi dự định cũng như lý thuyết về hành động hợp lý có thể giải thích hành vi xã hội của cá nhân bằng cách coi “Chuẩn mực xã hội” là một biến quan trọng.
- Hạn chế: Mô hình TPB có một số hạn chế trong việc dự đoán hành vi (Werner, 2004). Các hạn chế đầu tiên là yếu tố quyết định ý định không giới hạn thái độ, chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi cảm nhận (Ajzen 1991). Có thể có các yếu tố khác ảnh hưởng đến hành vi. Dựa trên kinh nghiệm nghiên cứu cho thấy rằng chỉ có 40% sự biến động của hành vi có thể được giải thích bằng cách sử dụng TPB (Ajzen năm 1991; Werner 2004).
Một số học giả cho rằng lý thuyết về hành vi có kế hoạch dựa trên quá trình xử lý nhận thức và họ đã chỉ trích lý thuyết trên những lý do đó. Gần đây, một số học giả chỉ trích lý thuyết này vì nó bỏ qua nhu cầu của một người trước khi tham gia vào một hành động nhất định, những nhu cầu sẽ ảnh hưởng đến hành vi bất kể thái độ bày tỏ. Ví dụ, một người có thể có thái độ rất tích cực đối với thịt bò bít tết và chưa đặt món bò bít tết vì người ta không đói. Hoặc, người ta có thể có thái độ rất tiêu cực đối với việc uống rượu và ít có ý định uống rượu nhưng vẫn tham gia uống rượu để tìm kiếm đối tác làm ăn.
Ngoài ra, cảm xúc của một người tại thời điểm ra quyết định bị bỏ qua mặc dù có liên quan đến mô hình vì cảm xúc có thể ảnh hưởng đến niềm tin và các cấu trúc khác của mô hình. Tuy nhiên, khả năng dự đoán kém đối với hành vi liên quan đến sức khỏe trong nghiên cứu sức khỏe trước đây dường như được quy cho việc áp dụng kém mô hình, các phương pháp và biện pháp liên quan. Hầu hết các nghiên cứu là tương quan, và nhiều bằng chứng dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm được hoan nghênh mặc dù các thí nghiệm, về bản chất, thiếu tính hợp lệ bên ngoài vì chúng ưu tiên hiệu lực nội bộ.
TPB là mô hình tiên đoán rằng dự đoán hành động của một cá nhân dựa trên các tiêu chí nhất định. Tuy nhiên, cá nhân không luôn luôn hành xử như dự đoán bởi những tiêu chí (Werner 2004). Một số nghiên cứu thực nghiệm không thừa nhận giả định rằng ý định và hành vi chỉ là hậu quả của thái độ, chuẩn mực xã hội và nhận thức kiểm soát hành vi. Để minh họa, trong một nghiên cứu, những người tham gia đã được nhắc nhở hình thành ý định hỗ trợ một tổ chức môi trường cụ thể. Sau khi ý định này được hình thành, thái độ, chuẩn mực xã hội và nhận thức kiểm soát hành vi đã thay đổi. Những người tham gia có nhiều khả năng báo cáo thái độ tích cực đối với tổ chức này và có xu hướng cho rằng nhóm xã hội của họ sẽ chia sẻ thái độ tương tự. Những phát hiện này ngụ ý mối liên hệ giữa ba yếu tố chính thái độ, chuẩn mực xã hội và nhận thức kiểm soát hành vi và ý định có thể mang tính hai chiều.
Thuật ngữ lựa chọn dùng trong quá trình thu thập thông tin về một quyết định nào đó được chú ý nhiều nhất. Điều này được tham khảo, cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng loại phương thức hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thực hiện để đạt mục tiêu trong các điều kiện khan hiếm nguồn lực.
Đại học là một cơ sở hay cơ cấu giáo dục đại học bao gồm tổ chức các trường cao đẳng, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của giáo dục đại học.
Theo từ điển Tiếng Việt: “Hướng nghiệp là thi hành những biện pháp nhằm đảm bảo sự phân bố tối ưu (có chú ý tới năng khiếu, năng lực, thể lực) nội dung theo ngành và loại lao động giúp đỡ hợp lý lựa chọn ngành nghề”.
Theo từ điển giáo dục học định nghĩa : “Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giúp đỡ học sinh làm quen tìm hiểu nghề, lựa chọn, cân nhắc nghề nghiệp với nguyện vọng năng lực sở trường của mỗi người với nhu cầu và điều kiện thực tế khách quan của xã hội”. Công tác hướng nghiệp có ý nghĩa kinh tế xã hội rất lớn giúp cho thanh niên có cơ hội phát huy được năng lực, nâng cao được hiệu quả lao động, say mê sáng tạo trong nghề nghiệp, mặt khác giúp tránh thay đổi nghề nghiệp nhiều lần, hạn chế các hậu quả xấu do nghề nghiệp không phù hợp mang lại.
Trên quan điểm tiếp cận hướng nghiệp dưới góc độ xã hội học, tác giả Phạm Tất Dong (2008) khái niệm hướng nghiệp như là một hệ thống tác động của xã hội về giáo dục, về y học, kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân.
Đối với góc độ giáo dục trong nhà trường phổ thông có thể định nghĩa khái niệm hướng nghiệp: “Là sự tác động của một tổ hợp các lực lượng xã hội, lấy sự chỉ đạo của một hệ thống sư phạm làm trung tâm vào thế hệ trẻ, từ đó giúp các em biết đến một số ngành nghề phổ biến để khi tốt nghiệp ra trường các em có thể lựa chọn cho mình một cách có ý thức các nghề nghiệp trong tương lai phù hợp với năng lực của bản thân và đáp ứng nhu cầu của xã hội”. Nguyễn Văn Hộ & Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006).
Tư vấn hướng nghiệp là điều chỉnh ý hướng chọn nghề của thế hệ trẻ cho phù hợp với những yêu cầu phát triển của kinh tế. Vì thế, từ lâu, trong công tác hướng nghiệp, nhà giáo dục luôn đòi hỏi thanh niên phải trả lời được câu hỏi: “Nghề định chọn có nằm trong những nghề mà xã hội đang cần phát triển hay không?”. Trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hóa, cơ cấu kinh tế sẽ chuyển đổi theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong thu nhập quốc nội. Xu hướng chọn nghề của thanh thiếu niên phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một yêu cầu của hướng nghiệp.
Thông qua tư vấn hướng nghiệp, học sinh được cung cấp những nguồn thông tin hữu ích để từ đó có thể định hướng chính xác hơn về nghề và điều chỉnh xu hướng nghề một cách phù hợp. Trên thực tế, những thông tin ảnh hưởng đến học sinh có thể đến từ nhiều nguồn khác bên ngoài nhà trường như: phương tiện truyền thông (internet, truyền hình, đài phát thanh, sách báo…), người thân trong gia đình (đặc biệt là cha mẹ), bạn bè, chuyên viên tư vấn hướng nghiệp ở các trung tâm tư vấn, trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp… Tuy nhiên, với vai trò chủ đạo trong công tác hướng nghiệp, những nguồn thông tin đến từ nhà trường (từ giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, giáo viên hướng nghiệp…).
Là một động từ chỉ việc dứt khoát một quyết định cụ thể trong quá trình làm việc và quá trình suy nghĩ lựa chọn một lựa chọn hợp lý từ các tùy chọn có sẵn, quyết tâm lựa chọn sau khi đã được cân nhắc. Khi cố gắng để đưa ra quyết định tốt, một người phải cần những mặt tích cực và tiêu cực của mỗi tùy chọn, và xem xét tất cả các lựa chọn thay thế. Ra quyết định liên quan đến giải quyết vấn đề và giải quyết vấn đề cần phải ra quyết định. Với mỗi quyết định và giải quyết đúng đắn, chúng ta có thể mang lại thành công cho cá nhân, niềm vui cho cha mẹ, anh em, bè bạn và những người thân khác.
Các em học sinh trước khi chuẩn bị đăng ký dự thi đại học thường được nhà trường, gia đình, người thân tư vấn trong việc chọn trường, ngành học phù hợp với mục tiêu nghề nghiệp. Sau khi chọn ngành, nghề mình thích, căn cứ vào các tiêu chí như: Năng lực bản thân, điểm chuẩn, chỉ tiêu tuyển sinh, nhu cầu xã hội, việc làm sau khi ra trường, điều kiện vị trí địa lý.
Trong mô hình của Chapman (1981) bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến “sự lựa chọn học sinh của các trường đại học” và “sự lựa chọn trường đại học của học sinh”. Nghiên cứu của Chapman (1981) là nghiên cứu trên các trường đại học ở Mỹ. Có thể nói rằng sự khác nhau giữa giáo dục đại học ở Mỹ và Việt Nam bắt nguồn từ sự khác nhau giữa chủ nghĩa cá nhân có nguồn gốc từ châu Âu trong văn hóa Mỹ và chủ nghĩa tập thể ảnh hưởng từ đạo Khổng Nho trong văn hóa Việt. Vì thế nên có sự tồn tại việc trường đại học sàng lọc các học sinh đăng ký ngay từ các tiêu chuẩn do trường quy định, điều này chưa phổ biến ở các trường đại học tại Việt Nam. Do có sự khác biệt giữa các trường đại học ở Việt Nam so với các trường đại học tại Mỹ hoặc Châu Âu nên nghiên cứu này chỉ tập trung vào “sự lựa chọn trường đại học của học sinh”. Như vậy, “sự lựa chọn trường đại học của học sinh” sẽ được xem xét như là biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu này.
Qua quá trình lược khảo các bài nghiên cứu trước có liên quan như: David W.Chapman (1981), Joseph Sia Kee Ming (2010), Marvin J.Burns (2006), Lê Thị Mỹ Linh và Khúc Văn Qúy (2020), Nguyễn Thị Ánh Hoa, Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2020) La Vĩnh Tín & Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư (2015), các tác giả nhận thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học. Một số yếu tố chỉ có ý nghĩa riêng đối với từng trường đại học, một số yếu tố khác ảnh hưởng có ý nghĩa đến hầu hết các các trường đại học. Trong bài nghiên cứu này, các tác giả lựa chọn các yếu tố có ý nghĩa tại các trường đại học và phù hợp với thực tiễn giáo dục Việt Nam để nghiên cứu. Trong đó:
- Biến phụ thuộc: Quyết định chọn trường đại học.
- Các biến độc lập:
- Yếu tố đặc điểm cá nhân, bao gồm: (1) Ngành học của trường phù hợp với sở thích; (2) Ngành học của trường phù hợp với tính cách; (3) Ngành học của trường phù hợp với năng lực.
- Yếu tố về người thân, bạn bè bao gồm: (1) Mong muốn của bố mẹ; (2) Lời khuyên của anh/chị em trong gia đình; (3) Lời khuyên của bạn bè; (4) Lời khuyên của thầy cô trường THPT.
- Yếu tố về công việc làm trong tương lai bao gồm: (1) Cơ hội kiếm được việc làm trong tương lai; (2) Có khả năng thăng tiến trong tương lai.
- Yếu tố về nỗ lực giao tiếp của trường đại học, bao gồm: (1) Tài liệu hướng dẫn những điều cần biết về tuyển sinh; (2) Quảng cáo về trường thông qua kênh các trường và đội ngũ giáo viên THPT; (3) Quảng cáo trên phương tiện thông tin đại chúng.
- Yếu tố đặc điểm của trường, bao gồm: (1) Thương hiệu của trường; (2) Chất lượng đào tạo của trường; (3) Khoảng cách từ nhà đến trường; (4) Học phí của trường; (5) Cơ sở vật chất của trường; (6) Việc liên kết giữa trường với các doanh nghiệp.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024\Các yếu tố tác động đến quyết định chọn học trình độ đại học tại Trường Đại học/ Bui Thi Lan Ha_1013221018 CĐ2


