Các yếu tố chính ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn trường Đại học Đông Á của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Giáo dục đại học tư thục (ĐHTT) được xem như một phần bổ sung quan trọng cho khu vực giáo dục đại học công lập, đáp ứng hiệu quả và linh hoạt yêu cầu của người học và đơn vị tuyển dụng. Giáo dục ĐHTT còn góp phần mở rộng quy mô giáo dục đại học của quốc gia với chi phí công không đáng kể. Ở một số nước, tỷ lệ sinh viên học tại các trường ĐHTT chiếm khá lớn, như: Philipines chiếm 86%, Hàn Quốc 75%, Braxin, Indonesia, Bangladet, Columbia chiếm 60%. Trước xu thế phát triển chung về giáo dục ĐHTT của thế giới, bên cạnh sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học công lập, các trường ĐHTT ở Việt Nam đã từng bước được thành lập, góp phần đa dạng hóa hệ thống giáo dục, đáp ứng nhu cầu đào tạo ngày càng cao của xã hội. Đến nay, cả nước đã có 60 trường ĐHTT, chiếm 26% tổng số các trường đại học và chiếm gần 15% tổng số sinh viên trên cả nước, phân bổ ở 29/63 tỉnh, thành phố. Trước bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng Công nghệ 4.0, yêu cầu chất lượng nguồn nhân lực càng cần phải nâng cao, các trường ĐHTT ở Việt Nam cần không ngừng nỗ lực tìm kiếm nhiều giải pháp khác nhau để nâng cao vị thế cạnh tranh trong bối cảnh mới. Bên cạnh đó, yêu cầu về nguồn nhân lực trình độ cao đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia, đòi hỏi chất lượng sinh viên sau tốt nghiệp ngày càng cao.
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường Đại học Đông Á của học sinh trung học phổ thông (THPT) tại thành phố Đà Nẵng không chỉ tìm ra các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh đồng thời sẽ góp phần đưa ra những thông tin giúp Nhà trường định hướng các chiến lược tuyển sinh phù hợp, phát huy các yếu tố tích cực được lựa chọn, điều chỉnh các yếu tố hạn chế; điều này làm tăng giá trị của việc chọn học tại các trường Đại học Đông Á trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng trở nên quan trọng. Sự đa dạng trong các hình thức đào tạo, bao gồm chương trình đào tạo liên kết với các đối tác quốc tế, giúp đáp ứng nhanh chóng với nhu cầu ngày càng đa dạng của sinh viên. Điều này tạo ra một môi trường học tập linh hoạt và phù hợp với mong muốn cá nhân của học sinh. Quá trình tuyển sinh không chỉ là bước quan trọng trong việc thu hút học sinh, mà còn là cơ hội để trường Đại học thể hiện năng lực và tiềm năng của mình. có những chiến lược tuyển sinh hiệu quả giúp xây dựng hình ảnh tích cực, đồng thời tăng cường uy tín và thu hút sự quan tâm của học sinh và phụ huynh. Việc học viên đóng góp nguồn lực hợp pháp là một yếu tố quan trọng và đồng thời là một điểm động viên để trường Đại học duy trì và cải thiện chất lượng giáo dục. Khả năng thu hút nguồn lực từ người học chính là một lý do để tập trung nghiên cứu về cách mà quá trình tuyển sinh ảnh hưởng đến quyết định của học sinh. Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý đóng vai trò quan trọng trong quyết định của học sinh. Sự chuyên nghiệp, nhiệt độ và uy tín của đội ngũ này góp phần làm nổi bật trường Đại học trước mắt học sinh. Cơ sở vật chất hiện đại và lịch sử hình thành uy tín cũng là những yếu tố quan trọng. Môi trường học tập và các điều kiện cơ sở vật chất tốt giúp tạo ra trải nghiệm học tập tích cực và đáng nhớ.
Do đó, lựa chọn chủ đề nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường Đại học Đông Á của học sinh trung học phổ thông (THPT) tại Thành phố Đà Nẵng” làm Đề án tốt nghiệp, tôi hy vọng rằng đề tài của mình sẽ đưa ra những hiểu biết sâu sắc về quyết định lựa chọn trường Đại học của học sinh THPT tại Đà Nẵng, đồng thời đề xuất những khía cạnh cần được cải thiện để nâng cao chất lượng giáo dục và thu hút sự quan tâm từ phía sinh viên.
- Mục tiêu tổng quát: Xác định các yếu tố chính ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn trường Đại học Đông Á của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về các yếu tố nh hưởng đến việc lựa chọn trường Đại học.
+ Xác định các yếu tố chính ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn trường đại học Đông Á của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng.
+ Đưa ra các kiến nghị nhằm giúp Nhà trường phát huy các yếu tố tích cực được lựa chọn, điều chỉnh các yếu tố còn hạn chế để thu hút học sinh tham gia học tập tại trường.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn Đại học Đông Á của học sinh THPT trên địa bàn thành Đà Nẵng
- Về mặt thời gian: tháng 02/2024 đến tháng 6/2024
- Về không gian: Các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
- Đối tượng khảo sát: cựu học sinh THPT đang học tập tại trường ĐH Đông Á.
Nghiên cứu này được thực hiện bằng phương pháp định tính và phương pháp định lượng.
+ Nghiên cứu định tính được sử dụng trong phần nghiên cứu sơ bộ. Thu thập thông tin từ các nghiên cứu trong nước và ngoài nước, thống kê phân tích nhằm xây dựng, điều chỉnh và bổ sung các yếu tố chính ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn trường Đại học Đông Á của học sinh THPT trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng;
+ Nghiên cứu chính thức được tiến hành theo phương pháp định lượng. Sử dụng bảng câu hỏi để thu thập thông tin từ cựu học sinh THPT hiện đang là sinh viên học tập tại trường Đại học Đông Á. Thông tin thu thập được sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 và phương pháp phân tích phương sai, thống kê mô tả, kiểm định giả thuyết;
Gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI TIÊU DÙNG
Người tiêu dùng là người mua sắm hàng hóa dịch vụ để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân hoặc một nhóm người vì nhu cầu sinh hoạt. Cho đến nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về hành vi người tiêu dùng.
Theo Leon Schiffiman, David Bednall và Aron O’cass (1997), hành vi người tiêu dùng là sự tương tác năng động của các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi và môi trường mà qua sự thay đổi đó con người thay đổi cuộc sống của họ.
Theo Peter D.Bennet (1998), hành vi của người tiêu dùng là những hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ.
Theo Charles W.Lamb, Joseph F.Hair và Carl McDaniel (2000), hành vi của người tiêu dùng là một quá trình mô tả cách thức mà người tiêu dùng ra quyết định lựa chọn và loại bỏ một loại sản phẩm hay dịch vụ.
Theo Engel, Blackwell và Mansard, hành vi người tiêu dùng là “Các hành động và quá trình quyết định của những người mua hàng hóa và dịch vụ để tiêu dùng cá nhân”. Hành vi mua của người tiêu dùng đề cập đến việc nghiên cứu khách hàng và cách họ cư xử trong khi quyết định mua một sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của họ. Nó là một nghiên cứu về hành động của người tiêu dùng thúc đẩy họ mua và sử dụng các sản phẩm nhất định.
Theo Philip Kotler(2001), người làm kinh doanh nghiên cứu hành vi người tiêu dùng với mục đích nhận biết nhu cầu, sở thích, thói quen của họ. Cụ thể là xem người tiêu dùng muốn mua gì, sao họ lại mua sản phẩm, dịch vụ đó, tại sao họ mua nhãn hiệu đó, họ mua như thế nào, mua ở đâu, khi nào mua và mức độ mua ra sao để xây dựng chiến lược marketing thúc đẩy người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm, dịch vụ của mình.
Nghiên cứu hành vi mua của người tiêu dùng là quan trọng đối với các nhà tiếp thị vì họ có thể hiểu được kỳ vọng của người tiêu dùng. Nó giúp hiểu được điều gì khiến người tiêu dùng mua một sản phẩm. Điều quan trọng là phải đánh giá loại sản phẩm được người tiêu dùng ưa thích để họ có thể tung ra thị trường. Các nhà tiếp thị có thể hiểu được sở thích và những điều không thích của người tiêu dùng, từ đó thiết kế các nỗ lực tiếp thị của họ dựa trên kết quả nghiên cứu. Hành vi mua của người tiêu dùng nghiên cứu về các tình huống khác nhau như người tiêu dùng mua gì, tại sao họ mua, khi nào họ mua, tần suất mua của người tiêu dùng, họ mua vì lý do gì, và nhiều hơn nữa.
Hành vi lựa chọn trường đại học để theo học của học sinh cũng giống như hành vi của một khách hàng lựa chọn các sản phẩm, dịch vụ. Do đó, lý thuyết về hành vi lựa chọn của khách hàng sẽ được sử dụng để giải thích cho hành vi chọn trường đại học của học sinh. Đã có nhiều nghiên cứu về hành vi lựa chọn của khách hàng, hành vi lựa chọn được hiểu là cách ứng xử mà khách hàng thể hiện trong quá trình mua hàng hóa/dịch vụ. Các doanh nghiệp thường tìm hiểu hành vi của khách hàng để đưa ra những sản phẩm, chiến lược kinh doanh hay chiến lược marketing phù hợp trong từng giai đoạn. Nghiên cứu hành vi lựa chọn của khách hàng là nghiên cứu cả một quá trình từ việc nhận biết nhu cầu đến tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án lựa chọn, quyết định lựa chọn và đánh giá sau lựa chọn.
Như vậy, trước khi đi đến một quyết định lựa chọn trường đại học để tiếp tục con đường học vấn sau khi tốt nghiệp THPT, mỗi học sinh đều trải qua quá trình tìm hiểu, cân nhắc trước khi đưa ra lựa chọn phù hợp với bản thân mình.

1.1.2. Mô hình hành vi người tiêu dùng
Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng hiện nay còn đi xa hơn các khía cạnh nói trên. Đó là người tiêu dùng được các nhà kinh doanh tìm hiểu xem họ có nhận thức được các lợi ích của sản phẩm, dịch vụ họ đã mua hay không và cảm nhận, đánh giá như thế nào sau khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Vì điều này sẽ tác động đến những lần mua hàng sau đó của người tiêu dùng và tác động đến việc thông tin về sản phẩm của họ đến những người tiêu dùng khác.
Vì thế người làm marketing phải hiểu được các nhu cầu và các yếu tố tác động, chi phối hành vi lựa chọn của khách hàng. Philip Kotler(2001) đã hệ thống diễn biến của hành vi người mua hàng qua hình sau:
| Các yếu tố kích thích marketing | Các yếu tố môi trường | Đặc điểm người mua | Quá trình ra quyết định mua | Các đáp ứng của người tiêu dùng | ||
| Sản phẩm | Kinh tế | Văn hóa | Nhận thức vấn đề | Lựa chọn sản phẩm | ||
| Giá | Công nghệ | Xã hội | Tìm kiếm thông tin | Lựa chọn nhãn hiệu sản phẩm | ||
| Vị trí | Pháp luật | Cá nhân | Đánh giá | Lựa chọn nơi mua | ||
| Chiêu thị | Văn hóa | Tâm lý | Quyết định | Định thời gian mua |
Nguồn: Philip Kotler, 2009
1.1.3. Các mô hình ra quyết định
- Mô hình ra quyết định hợp lý
Mô hình ra quyết định hợp lý là một cách tiếp cận có hệ thống được đặt trên các giả định hợp lý để đưa ra các quyết định logic và đáng tin cậy. Nó bao gồm việc thu thập thông tin, phân tích tình hình, đánh giá các phương án và lựa chọn quyết định tốt nhất dựa trên các tiêu chí và mục tiêu đã được định sẵn. Mô hình này giúp đảm bảo rằng quyết định được đưa ra dựa trên cơ sở rõ ràng và hợp lý, giảm thiểu rủi ro và tăng khả năng đạt được kết quả tốt trong quản lý và kinh doanh.
Mô hình ra quyết định hợp lý dựa trên các giả định hợp lý, qua đó nhà quản trị đưa ra các lựa chọn thích hợp, tối đa hóa lợi nhuận trong khuôn khổ những ràng buộc nhất định. Các giả định bao gồm vấn đề là rõ ràng, mục tiêu đặt ra không quá phức tạp và phải thực hiện được, sự ưu tiên là ổn định và không đổi, giải pháp và kết quả được biết, không có sự ràng buộc về thời gian và chi phí. Người ra quyết định hợp lý sẽ phải xác định các vấn đề một cách cẩn thận và có mục tiêu cụ thể. Mô hình này rất lý tưởng trong việc dẫn dắt cá nhân hoặc nhóm hướng đến tính hợp lý trong tiến trình ra quyết định. Trên thực tế, người ta rất hiếm khi ra quyết định một cách lý tưởng như vậy, đặc biệt trong các điều kiện ra quyết định chứa nhiều rủi ro và không chắc chắn.
Mô hình ra quyết định hợp lý thực hiện theo quy trình như sau:
- Xác định và nhận diện vấn đề
- Thiết lập các mục tiêu
- Tìm giải pháp
- So sánh và đánh giá các mục tiêu
- Lựa chọn giải pháp thích hợp
- Thực hiện giải pháp đã chọn
- Đánh giá và kiểm tra
Các hoạt động trong quy trình đều chịu ảnh hưởng bởi áp lực môi trường bên trong, bên ngoài công ty.
- Mô hình ra quyết định hợp lý giới hạn
Mô hình ra quyết định hợp lý có giới hạn là mô hình được xây dựng dựa trên những dữ liệu trong một phạm vi nhất định để đơn giản hóa nguồn thông tin, tránh tình trạng “loạn dữ liệu”. Người đưa ra quyết định sẽ chỉ tập trung vào các nguồn thông tin chủ chốt cùng khả năng tư duy và nhận biết của họ về vấn đề đó.
Mô hình ra quyết định nhấn mạnh những hạn chế về tính hợp lý của riêng cá nhân người ra quyết định. Mô hình này cũng giải thích tại sao các nhà quản trị thường đưa ra các quyết định khác nhau, dù rằng họ có thông tin giống nhau. Họ có thể nhanh chóng chấp nhận một mục tiêu hay giải pháp, dù biết rằng đó chưa hẳn là mục tiêu hay giải pháp tốt nhất. Trong trường hợp này, sự lựa chọn có thể được nhận diện và đạt được một cách dễ dàng, đồng thời ít gây tranh cãi hơn so với mục tiêu và giải pháp tối ưu.
Mô hình này phản ánh khuynh hướng cá nhân hoặc tính cách của người ra quyết định. Chẳng hạn, người ra quyết định lạc quan bao giờ cũng lựa chọn phương án tăng tối đa những kết quả cực đại, ngược lại người ra quyết định bi quan sẽ lựa chọn phương án tốt nhất trong những kết quả tồi tệ nhất. Có những người ra quyết định theo hướng giảm tối đa mức độ trục trặc mà họ phải gánh chịu sau sự việc đó. Số khác thì thiếu lý lẽ, họ tự giả định rằng mọi kết quả có thể xảy ra của quyết định đều có cơ hội xuất hiện ngang nhau. Có trường hợp, nhà quản trị chọn sai mục tiêu hay không tìm kiếm các giải pháp tối ưu, do sự hài lòng ở hiện tại hoặc tính chấp nhận rủi ro cao.
Một vấn đề nữa là phạm vi tìm kiếm mục tiêu hay giải pháp cho quá trình ra quyết định bị hạn chế, chẳng hạn hạn chế về kiến thức, thông tin hay thời gian. Trong quá trình ra quyết định, người ra quyết định thường không có đủ những thông tin cần thiết về vấn đề cần giải quyết và cũng không thể kiểm soát được sự tác động của những điều kiện khách quan với kết quả ra quyết định. Do đó, mô hình ra quyết định hợp lý có giới hạn quan niệm rằng lựa chọn ra quyết định càng sớm chấm dứt việc đưa ra nhiều giải pháp khác nhau thì càng sớm tìm ra giải pháp hoàn thiện hơn.
- Nhận thức vấn đề: Nắm rõ mục tiêu và các yếu tố quan trọng liên quan đến vấn đề.
- Xử lý các trở ngại của tiến trình xử lý thông tin: Người ra quyết định phải xác định và loại bỏ các trở ngại về giới hạn tìm kiếm và hạn chế thông tin để có được thông tin hợp lý hỗ trợ quá trình đưa ra quyết định.
- Tiến hành ra quyết định.
- Mô hình ra quyết định quản trị dựa trên quyền lực
Mô hình ra quyết định quản trị dựa trên quyền lực là mô hình được xây dựng phụ thuộc nhiều vào quyền lực và mối quan hệ giữa các bên có liên quan tác động đến quá trình thực hiện các quyết định cũng như mục tiêu chung của doanh nghiệp. Người ra quyết định trong mô hình phải là những người có thẩm quyền và giải quyết các vấn đề phát sinh (nếu có).
Mô hình ra quyết định quản trị dựa trên quyền lực có sự tham gia của các yếu tố sau:
- Các giới hữu quan có quyền lực: Là cá nhân hoặc tổ chức có trách nhiệm và quyền lực trong doanh nghiệp.
- Sự khác nhau trong việc định dạng vấn đề: Sự khác nhau về mục tiêu và sự khác nhau về giải pháp.
- Tiến hành ra quyết định.
Mô hình này thích hợp khi quyết định các vấn đề liên quan tới giới hữu quan có quyền lực hay khi người ra quyết định tỏ ra bất đồng về việc lựa chọn mục tiêu. Quyền lực là năng lực ảnh hưởng hoặc kiểm soát tới các quyết định và mục tiêu của cá nhân, nhóm, bộ phận hoặc cả tổ chức. Quyền lực đủ mạnh mới đủ sức gây ảnh hưởng và kiểm soát các hoạt động liên quan đến tiến trình ra quyết định như: định dạng vấn đề, lựa chọn mục tiêu, cân nhắc phương án, chọn lựa phương án thực hiện và triển khai hoạt động dẫn đến sự thành bại của tổ chức. Mô hình này bao hàm ý nghĩa rằng người ra quyết định phải có đủ thẩm quyền và khả năng giải quyết vấn đề phát sinh, các quyết định cá nhân thường là những quyết định đòi hỏi sự cấp bách về thời gian cũng như tinh thần trách nhiệm cao.
1.2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CHỌN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.2.1. Những vấn đề chung về trường đại học
- Khái niệm về trường đại học
Trường đại học là một cơ sở giáo dục bậc cao tiếp theo bậc trung học dành cho những học sinh có khả năng và nguyện vọng học tập tiếp lên trên. Trường đại học cung cấp cho sinh viên học vấn cao và cấp các bằng cấp khoa học trong nhiều lĩnh vực ngành nghề. Các trường đại học có thể cung cấp các chương trình bậc đại học và sau đại học. Luật Giáo dục 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2018 nêu rõ: “Trường đại học, học viện (gọi chung là trường đại học) là cơ sở giáo dục đại học đào tạo, nghiên cứu nhiều ngành, được cơ cấu tổ chức theo quy định của Luật này”. Từ năm 2015, cùng với kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kỳ thi đại học được thay thế bằng một kỳ thi hợp nhất là kỳ thi trung học phổ thông quốc gia và dùng điểm thi tốt nghiệp để xét tuyển vào các trường đại học (trừ các trường có Đề án tổ chức thi tuyển sinh riêng).
- Khái niệm quyết định chọn trường đại học
Theo Hossler và cộng sự (1989), quyết định lựa chọn trường đại học là một quá trình phức tạp và đa giai đoạn, trong đó một cá nhân phát triển từ nguyện vọng tiếp tục theo học đại học sau khi tốt nghiệp THPT, cuối cùng là quyết định được xác lập bằng hành động cụ thể hướng đến chọn trường đại học, cao đẳng hoặc quá trình đào tạo của một tổ chức hướng nghiệp tiên tiến.
Theo Nguyễn Thị Kim Chi (2018), quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh THPT được hiểu là khả năng hay dự định thực hiện quyết định lựa chọn một trường đại học. Quyết định lựa chọn một trường đại học được xem xét ở khía cạnh là ý định lựa chọn một trường đại học nào đó để ghi danh của học sinh THPT.
Theo Nguyễn Minh Hà (2001) khái niệm chọn trường đại học được định nghĩa “là một quá trình phức tạp, đa giai đoạn, trong đó một cá nhân phát triển những nguyện vọng để tiếp tục được giáo dục chính quy sau khi học trung học, tiếp theo sau đó bởi một quyết định theo học một trường đại học, cao đẳng cụ thể hoặc quá trình đào tạo của một tổ chức hướng nghiệp tiên tiến”.
Như vậy, từ những khái niệm trên, quyết định chọn trường đại học chính là là sự lựa chọn các cơ sở giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu cầu của người học. Các em học sinh lớp 12 trước khi chuẩn bị thi tốt nghiệp thường được nhà trường, gia đình, người thân tư vấn trong việc chọn trường, ngành học phù hợp với mục tiêu nghề nghiệp và học lực. Sau khi lựa chọn được ngành, nghề mình thích, căn cứ vào năng lực bản thân, điều kiện vị trí địa lý, thông tin tuyển sinh …học sinh sẽ xác định cấp học phù hợp với năng lực để chọn trường học phù hợp.
Tổng hợp từ những khái niệm trên, trong nghiên cứu này, quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh THPT được hiểu là kết quả của sự lựa chọn các cơ sở giáo dục-đào tạo đáp ứng yêu cầu của người học sau khi cân nhắc, tính toán từ các nguồn thông tin khác nhau. Các em học sinh lớp 12 trước khi chuẩn bị thi tốt nghiệp thường được nhà trường, gia đình, người thân tư vấn trong việc chọn trường, ngành học phù hợp với mục tiêu nghề nghiệp và học lực. Sau khi lựa chọn được ngành, nghề mình thích, căn cứ vào năng lực bản thân, điều kiện vị trí địa lý, thông tin tuyển sinh …học sinh sẽ xác định cấp học phù hợp với năng lực để chọn trường học phù hợp.
1.2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn trường đại học
Năm 2020, theo thống kê của Bộ GD-ĐT, có 900.152 thí sinh đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT, trong đó, số đăng ký xét tuyển Đại học là 643.122 thí sinh, chiếm 71,45%. Năm 2021, có 1.014.972 thí sinh đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT, trong đó có 792.616 thí sinh đăng ký xét tuyển đại học, chiếm 78,1%. Năm 2022, trong số 1.002.525 thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT có 941.759 thí sinh đăng ký xét tuyển ĐH (chiếm 93,1%) [1]. Con số này đã phản ánh được việc lựa chọn học đại học của học sinh THPT là rất lớn. Qua tham khảo từ các nguồn tài liệu uy tín, các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn trường đại học thường đến từ các yếu tố sau:
Bao gồm những điều kiện về cơ sở vật chất của nhà trường, phương tiện học tập, thư viện, ký túc xá, địa điểm, cơ sở học tập, các cuộc thi học thuật và hoạt động ngoại khóa, chế độ chính sách, hỗ trợ tài chính … Hiện nay trước khi lựa chọn trường đại học, học sinh thường có xu hướng tìm hiểu kỹ về Trường, quan tâm trường nằm ở khu vực nào, chổ ở như thế nào, ký túc xá có sạch sẽ, an toàn không, môi trường học tập như thế nào, có các hoạt động ngoại khóa hay không?…Nếu một trường đại học nằm ở vị trí thuận lợi, có nhiều hoạt động ngoại khóa hấp dẫn, chổ lưu trú sạch sẽ, an toàn … sẽ tăng thu hút học sinh lựa chọn học tập.
1.2.2.2. Danh tiếng trường đại học
Danh tiếng trường đại học có thể được hiểu theo các cách khác nhau, chẳng hạn như uy tín, sự nổi tiếng của trường đọng lại trong tâm trí của người học và cộng đồng khi nói đến các trường đại học. Đối với trường đại học, danh tiếng thể hiện ở sự nổi tiếng về chất lượng giáo dục mà sinh viên cảm nhận được về chất lượng đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo hiện đại.
1.2.2.3. Hoạt động truyền thông
Hoạt động truyền thông là sự truyền tải thông tin, ý tưởng, thái độ hoặc cảm xúc từ một người hoặc nhóm người chủ yếu thông qua biểu tượng. Hoạt động truyền thông của trường đại học hấp dẫn, thu hút thì sẽ ảnh hưởng tích cực đến quyết định chọn trường đại học của học sinh.
1.2.2.4. Yếu tố thuộc về bản thân học sinh
Đa số các nghiên cứu cho rằng học sinh sẽ có xu hướng chọn trường đại học phù hợp với điều kiện kinh tế, tính cách, sở thích và năng lực cá nhân.
1.2.2.5. Các cá nhân ảnh hưởng
Các nghiên cứu về lựa chọn trường đại học đã chỉ ra rằng, quyết định của một người theo học đại học chịu ảnh hưởng của cá nhân với cá nhân hoặc xã hội. Về tính chất ảnh hưởng, tác động của các cá nhân có ảnh hưởng càng cao thì càng thúc đẩy học sinh trong quyết định chọn trường đại học.
1.2.3. Tiến trình ra quyết định chọn trường đại học
Lịch sử phát triển nghiên cứu tiến trình ra quyết định chọn trường đại học được tóm tắt như sau (theo Derek Takumi Furukawa, 2011).
Bảng 1.1. Bảng tóm tắt các mô hình lựa chọn trường đại học
| Kotler (1976) | Litten (1982) | Jackson (1982) | Hossler&Gallagher (1987) |
| Nảy sinh nhu cầu | Muốn học ĐH, CĐ | Sự tham khảo | Khuynh hướng |
| Thu thập thông tin | Bắt đầu tìm kiếm | Sự loại trừ | Tìm kiếm |
| Thu thập thông tin | |||
| Đánh giá | |||
| Nộp đơn nhập học | Nộp đơn nhập học | ||
| Sự chấp nhận | Sự đánh giá | ||
| Lựa chọn trường | Tuyển sinh | Lựa chọn | |
| Đăng ký học |
Theo Kotler (1976) để ra quyết định chọn trường đại học, học sinh phải trải qua một tiến trình từ lúc có ý muốn học đại học sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, tìm hiểu thông tin về các trường, đánh giá, nộp hồ sơ, sau khi có sự chấp nhận của các trường sẽ so sánh các lựa chọn và cuối cùng là đăng ký học tại một ngôi trường phù hợp nhất.
Hanson&Litten (1982) kiểm tra lại mô hình của Kotler và chia quá trình ra quyết định chọn trường đại học của học sinh gồm 5 bước: nguyện vọng vào đại học, bắt đầu tiến trình tìm kiếm, thu thập thông tin, nộp hồ sơ và thi tuyển sinh.
Jackson (1982) cũng tạo ra mô hình gồm 3 bước truyền thống, ông đã kết hợp sự ảnh hưởng của kinh tế xã hội vào mô hình của mình gồm sự tham khảo, sự loại trừ và sự đánh giá. Trong đó, giai đoạn đầu tiên chịu sự ảnh hưởng của gia đình, bạn bè, nguyện vọng cá nhân và hình thức học tập. Ở giai đoạn này, học sinh thiết lập cho mình một danh sách các trường tiềm năng dựa trên sự tham khảo ý kiến của các cá nhân có ảnh hưởng và từ đặc điểm cá nhân của mình. Giai đoạn thứ hai học sinh tiến hành loại trừ các trường đại học ra khỏi danh sách các trường tiềm năng của họ dựa trên các yếu tố như chi phí học tập, đặc điểm trường đại học …Giai đoạn thứ ba học sinh tiến hành các lựa chọn và đưa ra quyết định cuối cùng. Họ xếp hạng các trường dựa trên một số tiêu chí cá nhân và đưa ra quyết định phù hợp nhất.
Theo Hossler và Gallgher (1987) tiến trình lựa chọn trường đại học của người học có thể chia làm 3 giai đoạn: định hình, tìm kiếm và lựa chọn. Trong giai đoạn định hình, học sinh hướng đến hoặc quan tâm đến việc học đại học khi học phát triển khát vọng về việc làm và giáo dục.Sang giai đoạn thứ 2, học sinh tìm kiếm thông tin về các trường đại học. Trong suốt giai đoạn tìm kiếm, học sinh hình thành nên một tập chọn lựa là một nhóm các trường đại học mà học sinh sẽ thực sự nộp đơn. Trong giai đoạn thứ 3, sinh viên quyết định ghi danh vào 1 trường đại học hoặc cao đẳng cụ thể.
Trên cơ sở các mô hình nghiên cứu trên, có thể xác định tiến trình ra quyết định lựa chọn trường đại học cơ bản theo các bước sau:
- Nhận biết nhu cầu
- Tìm kiếm thông tin
- Đánh giá các lựa chọn
- Quyết định lựa chọn
Trước khi bắt đầu nghiên cứu các trường đại học, học sinh cần phải xác định rõ mục tiêu học tập và nghề nghiệp của mình. Muốn theo học ngành gì? Muốn làm việc ở đâu? Muốn phát triển kỹ năng gì? Muốn đạt được thành tựu gì? Những câu hỏi này sẽ giúp xác định được hướng đi của mình và từ đó lựa chọn được các trường đại học có chương trình đào tạo phù hợp.
Sau khi xác định được mục tiêu của mình, cần phải tìm kiếm thông tin về các trường đại học mà học sinh quan tâm. Việc tìm kiếm thông tin có thể sử dụng các nguồn thông tin khác nhau, như internet, sách, tạp chí, báo, truyền hình, radio, hoặc tham khảo ý kiến của gia đình, bạn bè, giáo viên, cố vấn học tập.
1.2.3.3. Đánh giá các lựa chọn
Thực hiện so sánh và lựa chọn các trường đại học phù hợp nhất với mục tiêu và điều kiện của mình. Có thể sử dụng các tiêu chí sau để so sánh:
– Sự phù hợp: Bạn cảm thấy thoải mái và hạnh phúc khi học ở trường đại học này hay không? Bạn có thể thích nghi và phát triển được bản thân khi học ở trường đại học này hay không?…
– Sự cạnh tranh: Bạn có khả năng cạnh tranh để vào được trường đại học này hay không? Bạn có khả năng cạnh tranh để tìm được việc làm sau khi ra trường từ trường đại học này hay không?…
– Sự hiệu quả: Bạn có thể đạt được mục tiêu học tập và nghề nghiệp của mình khi học ở trường đại học này hay không? Bạn có thể nhận được sự hỗ trợ và tư vấn từ trường đại học này hay không?…
Trước khi đưa ra quyết định cuối cùng về trường đại học muốn tham gia, hãy đánh giá một lần nữa tất cả các yếu tố quan trọng như mục tiêu học tập và nghề nghiệp, chất lượng, chi phí, sự phù hợp… Đảm bảo rằng quyết định lựa chọn này phản ánh đầy đủ và sâu sắc nhất về nhu cầu và ước mơ của người chọn lựa.
1.3. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.3.1. Một số mô hình nghiên cứu trên thế giới
- Nghiên cứu của Chapman (1981)
Mô hình nghiên cứu của Chapman đã chỉ ra rằng quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh chịu ảnh hưởng của 2 thành phần: Thứ nhất là nhóm các yếu tố đặc thù cá nhân: tình trạng kinh tế xã hội, năng lực, mức độ kỳ vọng giáo dục, kết quả học tạp ở THPT. Thứ hai là các nhóm yếu tố bên ngoài: người thân, nhóm đặc điểm của trường ĐH, nỗ lực giao tiếp của trường đại học với học sinh.
Bảng 1.2. Mô hình các yếu tố ảnh hưởng chọn trường ĐH của Chapman (1981)

Các chỉ báo thuộc 4 yếu tố ảnh hưởng đến sự lụa chọn trường đại học của Chapman 1981.
| Yếu tố | Chỉ báo |
|---|---|
| Đặc điểm cá nhân của học sinh | Tình trạng kinh tế xã hội |
| Năng lực | |
| Mức độ kỳ vọng về giáo dục | |
| Kết quả học tập ở THPT | |
| Các cá nhân quan trọng | Bạn bè |
| Bố mẹ | |
| Thầy cô ở trường trung học | |
| Chuyên gia tư vấn | |
| Đặc điểm cố định của trường đại học | Học phí |
| Hỗ trợ tài chính | |
| Vị trí | |
| Ngày đào tạo phù hợp mong đợi | |
| Nổ lực truyền thông của trường đại học với học sinh | Tham quan trực tiếp trường |
| Ấn phẩm của trường (báo, tạp chí…) | |
| Hoạt động tư vấn tuyển sinh |
b) Nghiên cứu của Litten (1982)
Litten cho rằng, quá trình chọn trường là một quá trình diễn ra liên tục gồm 5 bước:
- Có những khát vọng về trường đại học
- Tìm kiếm
- Thu thập thông tin
- Gửi đơn xin nhập học
- Ghi danh vào học.
Năm bước này có thể rút thành 3 giai đoạn:
- Quyết định tham gia vào quá trình đại học sau trung học
- Tìm hiểu về các trường đại học
- Phát triển một tập hợp các trường đại học để xem xét, quá trình nộp đơn và đăng ký học.
Mô hình này nhận diện một tập hợp các tác động đến quá trình chọn lựa trường đại học như hoàn cảnh kinh tế gia đình, môi trường xã hội, đặc tính cá nhân, đặc điểm trường đại học, đặc điểm trường THPT… Theo Litten, những thuộc tính của trường THPT và những chính sách đã có ảnh hưởng lớn nhất trong suốt quá trình tìm kiếm. Ông cũng khẳng định học vấn của cha mẹ học sinh có ảnh hưởng mạnh hơn đến quá trình lựa chọn trường đại học so với những thuộc tính như chủng tộc, giới tính.
Bảng 1.3. Mô hình chọn trường đại học của Litten (1982)
| Khát vọng về trường ĐH | Quá trình tìm kiếm | Thu thập thông tin | Gửi đơn xin học | Đăng ký, ghi danh học | ||||
- Nghiên cứu của Crosser và Toit (2002)
Crosser và Toit đã vận dụng mô hình của Chapman (1981) với một ít thay đổi để nghiên cứu ở một số quốc gia đang phát triển (Nam Phi và Ấn Độ) về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của học sinh lớp 12. Kết quả nghiên cứu của 2 tác giả này có 10 yếu tố chia thành 2 nhóm ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh THPT. Một nhóm yếu tố thể hiện đặc tính của nhà trường và nhóm còn lại thể hiện những ảnh hưởng khác (người thân, bạn bè, thầy cô giáo). 10 yếu tố này bao gồm danh tiếng của trường, danh tiếng của khoa, ký túc xá tốt, có các tiện nghi sinh hoạt thể thao, khả năng có học bổng, cho phép học qua thư tín, vị trí thuận tiện, học phí thấp, có quan hệ với người thân và bạn bè gợi ý.
- Mô hình nghiên cứu của Burns và các cộng sự (2006)
Burns và các cộng sự (2006) đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn trường của học viên người Mỹ gốc Phi với các nhóm yếu tố sau:
- Đặc điểm của học sinh (tình hình kinh tế xã hội, năng lực học của học sinh, nguyện vọng giáo dục, kết quả học tập ở trường trung học);
- Đặc điểm cố định của trường đại học (chi phí, học bổng, hỗ trợ tài chính, chất lượng cơ sở vật chất, vị trí, khoảng cách từ nhà, quy mô lớp học, nhiều chuyên ngành được cung cấp, danh tiếng, uy tín, khoảng cách, chất lượng của giảng viên, chất lượng của học sinh, sự an toàn và bảo mật trong khuôn viên trường, cơ hội sau khi tốt nghiệp);
- Sự tương tác xã hội (khu vực giải trí, hoạt động giải trí, tổ chức học viên, sự đa dạng của học viên, đời sống xã hội, các hoạt động ngoài trường);
- Các cá nhân có ảnh hưởng (gia đình, những người đồng trang lứa/bạn bè, giáo viên trường trung học, nhân viên tư vấn của trường trung học, học viên của trường đại học, người từng học tại trường đại học, những người bạn ở trường trung học, bạn ở trường đại học, nhân viên tuyển sinh của trường đại học);
- Nguồn thông tin (tham quan trường, nói chuyện với đại diện của trường, thông tin từ website, tham gia các sự kiện của trường, thong tin từ nhân viên tư vấn của trường trung học, thư của trường đại học);
Burns và các cộng sự đưa ra kết luận rằng tất cả các đặc điểm cố định của trường đều ảnh hưởng đến quyết định của học sinh, trong đó mức độ nổi tiếng của trường, đội ngũ giảng viên danh tiếng, học bổng, hỗ trợ tài chính là những yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ nhất. Bên cạnh đó, các nguồn thông tin được sử dụng nhiều nhất là các chuyến thăm và trò chuyện với người đại diện trường đại học, thông tin từ website, ấn phẩm. Ngoài ra, những người có ảnh hưởng đến việc lựa chọn trường đại học của học sinh phải kể đến ba mẹ và các thành viên khác trong gia đình, bạn bè.
Bảng 1.4. Mô hình nghiên cứu của Burns và các cộng sự (2006)
Sự tương tác xã hội
Yếu tố đặc điểm của trường đại học
Yếu tố về bản thân cá nhân học sinh
Yếu tố về các cá nhân có ảnh hưởng
đến quyết định của học sinh
Nguồn thông tin
- Nghiên cứu của Kee-Ming (2010)
Joseph Sia Kee-Ming đã đề xuất mô hình khung khái niệm các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của sinh viên tại Malaysia. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, quyết định chọn trường đại học của sinh viên chịu ảnh hưởng của “Nhóm yếu tố các đặc điểm cố định của trường đại học” bao gồm vị trí, chương trình đào tạo, danh tiếng, cơ sở vật chất, chi phí học tập, hỗ trợ tài chính, cơ hội việc làm và “Nhóm yếu tố các nỗ lực giao tiếp với sinh viên” bao gồm quảng cáo, đại diện tuyển sinh, giao lưu với các trường phổ thông, thăm khuôn viên trường đại học. Mô hình do tác giả đề xuất chỉ dừng lại ở mức giới thiệu các yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học, cao đẳng, do đó cần phải tiến hành đo lường các yếu tố và kiểm định sự phù hợp của mô hình.
D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE CUONG DE AN 2024/ Các yếu tố chính ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn trường Đại học Đông Á của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

