Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quân khu 5
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các tội xâm phạm sở hữu nói chung, các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt tài sản (sau đây chúng tôi gọi là các tội chiếm đoạt tài sản) nói riêng là một trong những nhóm tội được quy định sớm nhất trong pháp luật hình sự nước ta. Bộ luật hình sự 1985 (với 4 lần sửa đổi) và Bộ luật hình sự hiện hành năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 đã quy định tương đối đầy đủ cụ thể, tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý các hành vi xâm phạm sở hữu. Tuy nhiên, do thiếu thống nhất về lý luận, nên trong hoạt động lập pháp hình sự, trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử về định tội danh, áp dụng hình phạt còn gặp nhiều bất cập, vướng mắc cần được nghiên cứu, giải quyết.
Trải qua hơn 30 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, vẫn còn tồn tại những biểu hiện tiêu cực do mặt trái của cơ chế thị trường mang lại như sự phân hóa giàu nghèo, các tệ nạn xã hội gia tăng là cơ sở phát sinh các loại tội trong đó có tội trộm cắp tài sản, tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản… những loại tội này xảy ra khá phổ biến và phức tạp, với tính chất, mức độ ngày càng nguy hiểm, đã gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Mặc dù, Đảng và Nhà nước ta đã có những bước tiến mới trong công cuộc phòng, chống tội phạm, nhưng tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt vẫn có chiều hướng gia tăng về mức độ và nghiêm trọng về tính chất.
Quân khu 5 quản lý địa bàn 11 tỉnh, thành phố, gồm: Thành phố Đà Nẵng, các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đăk Lăk, Đăk Nông, Gia Lai, Kon Tum. Tình hình các tội xâm phạm sở hữu thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan pháp luật trong Quân đội cũng diễn biến phức tạp so với tình hình chung của cả nước. Việc ADPL trong hoạt động xét xử các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt của Tòa án quân sự 2 cấp Quân khu 5, mặc dù đã đem lại kết quả nhất định nhưng vẫn còn một số hạn chế, thiếu sót do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Tất cả những điều đó đòi hỏi phải nghiên cứu làm rõ những dấu hiệu cấu thành tội phạm cũng như chế tài của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo pháp luật hình sự Việt Nam, đánh giá thực tiễn xét xử, trên cơ sở đó tìm ra những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự để xử lý loại tội phạm này. Vì lý do đó, tác giả chọn Đề tài: “Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quân khu 5” làm Luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn ADPL hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo BLHS Việt Nam năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 của Tòa án quân sự 2 cấp Quân khu 5, đưa ra các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng đắn BLHS về loại tội phạm này ở nước ta.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, Luận văn đề ra các nhiệm vụ cụ thể cần giải quyết như sau:
– Khái quát những vấn đề lý luận; phân tích làm sáng tỏ những dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt quy định tại Chương XIV, BLHS Việt Nam năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009.
– Khái quát quá trình lập pháp hình sự về các tội xâm phạm sở hữu giai đoạn từ năm 1945 đến BLHS năm 2015.
– Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt của Tòa án quân sự 2 cấp Quân khu 5.
– Đưa ra các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng đắn các quy định của BLHS về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt ở nước ta.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề lý luận, quy định của BLHS về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đọat và thực tiễn xét xử của Tòa án quân sự 2 cấp Quân khu 5 về các tội phạm này.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh, quyết định hình phạt đối với các xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt dưới góc độ Luật hình sự Việt Nam trên địa bàn Quân khu 5 trong thời gian 5 năm (2012 – 2016).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
– Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu là Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tội phạm nói chung và đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng một cách linh hoạt và đan xen các phương pháp nghiên cứu của khoa học Luật hình sự như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và khảo sát thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã đánh giá khái quát quá trình hình thành và hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt qua các giai đoạn phát triển của đất nước, làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo quy định tại Chương XIV BLHS Việt Nam năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 (nay được quy định tại Chương XVI Bộ luật hình sự năm 2015).
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá hoạt động ADPL hình sự để xử lý các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt của Tòa án quân sự 2 cấp Quân khu 5, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả ADPL hình sự để xử lý các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, góp phần vào công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trên địa bàn Quân khu 5 nói riêng và các địa phương khác nói chung trong thời gian tới.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, danh mục các chữ viết tắt và danh mục các bảng biểu, Luận văn có kết cấu gồm 03 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý chung của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt và thực tiễn áp dụng ở các Tòa án quân sự Quân khu 5.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt.
Chương 1
KHÁI NIỆM, CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CHUNG CỦA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những tội xâm phạm sở hữu bằng việc chiếm đoạt nên trong cấu thành tội phạm của những tội này có dấu hiệu chiếm đoạt. Hành vi chiếm đoạt được thực hiện bằng các thủ đoạn khác nhau như dùng vũ lực, lén lút, công khai, gian dối…
Theo chúng tôi “Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt là những hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác được quy định trong Bộ luật hình sự do người không ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định được thực hiện một cách cố ý xâm hại quyền sở hữu tài sản được ghi nhận và bảo vệ”.
1.2. Các dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
1.2.1. Khách thể của tội phạm:
Khách thể chung của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt là quan hệ sở hữu. Quan hệ sở hữu là quan hệ xã hội có nội dung là quyền sở hữu của chủ tài sản (gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt) đối với tài sản.
Bên cạnh quan hệ sở hữu là khách thể bắt buộc của tất cả các tội xâm phạm sở hữu, các tội chiếm đoạt tài sản còn xâm phạm đến các khách thể khác, nhất là xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của người khác, trật tự an toàn xã hội…; các khách thể đó có thể là khách thể chính, có thể là khách thể phụ.
Đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt là tài sản.
Tài sản là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt phải thuộc sở hữu của người khác, luôn phải là tài sản có chủ, không phải của người có hành vi chiếm đoạt.
1.2.2. Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt thể hiện các yếu tố bên ngoài của tội phạm, bao gồm các dấu hiệu: 1/ Hành vi khách quan của tội phạm; 2/ hậu quả tội phạm và 3/ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả đó.
Dựa trên tính chất hành vi khách quan của tội phạm, có thể chia các tội xâm phạm sở hữu thành ba nhóm là: 1/ Các tội có tính chiếm đoạt; 2/ các tội có mục đích tư lợi không chiếm đoạt và 3/ các tội gây thiệt hại đến tài sản.
Nhóm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt gồm các tội được quy định từ Điều 133 đến 140 Bộ luật hình sự. Mỗi tội chiếm đoạt tài sản được đặc trưng bởi một thủ đoạn riêng biệt. Cụ thể là:
– Thủ đoạn của tội cướp tài sản là dùng vũ lực, đe doạ dùng ngay tức khắc vũ lực hoặt thủ đoạn khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được;
– Thủ đoạn của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là bắt người khác làm con tin;
– Thủ đoạn của tội cưỡng đoạt tài sản là đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặt thủ đoạn khác gây áp lực về tâm lý;
– Thủ đoạn của tội cướp giật tài sản là tiếp cận, chiếm giữ tài sản đang có sự quản lý trực tiếp của người khác và nhanh chóng tẩu thoát;
– Thủ đoạn của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là lợi dụng sự quản lý tài sản của người khác đang gặp sự trở ngại khách quan để chiếm đoạt tài sản;
– Thủ đoạn của tội trộm cắp tài sản là lén lút chiếm đoạt tài sản;
– Thủ đoạn của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản;
– Thủ đoạn của tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản là gian dối, bỏ trốn hoặc cố tình không trả lại tài sản.
Như vậy, hành vi khách quan là dấu hiệu bắt buộc của tất cả các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt. Các hành vi đó tuy có khác nhau ở hình thức thể hiện nhưng đều gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu bằng cách xâm phạm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt của chủ tài sản.
1.2.3. Chủ thể của tội phạm.
Theo luật hình sự Việt Nam, chủ thể của tội phạm phải thỏa mãn hai điều kiện: 1/ không ở trong tình trạng không có năng lực TNHS khi thực hiện tội phạm và 2/ đạt độ tuổi theo quy định tại Điều 12 BLHS. Ở Việt Nam, pháp luật hình sự quy định tuổi 14 là tuổi bắt đầu có năng lực TNHS và tuổi 16 là tuổi có năng lực TNHS đầy đủ.
Điều 12 BLHS 1999 quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý và tội đặc biệt nghiêm trọng; người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Vì vậy, theo BLHS 1999, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là chủ thể của các tội cướp tài sản (Điều 133), tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (khoản 2, 3, 4 Điều 134), tội cưỡng đoạt tài sản (khoản 2, 3, 4 Điều 135), tội cướp giật tài sản (khoản 2, 3, 4 Điều 136), tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (khoản 3, 4 Điều 137), tội trộm cắp tài sản (khoản 3, 4 Điều 138), tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (khoản 3, 4 Điều 139) và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (khoản 3, 4 Điều 140). Còn người từ đủ 16 tuổi thì phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
Bộ luật hình sự năm 2015 đã thu hẹp phạm vi trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Theo quy định của Điều 12 (được sửa đổi, bổ sung 2017), người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội cướp tài sản (Điều 168), tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (khoản 2, 3, 4 Điều 169), tội cưỡng đoạt tài sản (khoản 2, 3, 4 Điều 170), tội cướp giật tài sản (khoản 2, 3, 4 Điều 171), tội trộm cắp tài sản (khoản 3, 4 Điều 173).
1.2.4. Mặt chủ quan của tội phạm:
Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do họ thực hiện và với hậu quả do hành vi đó gây ra cho xã hội hoặc đối với khả năng gây ra hậu quả đó.
Mặt chủ quan của mọi tội phạm bao gồm lỗi, động cơ, mục đích. Tuy nhiên yếu tố lỗi là dấu hiệu bắt buộc đối với mọi tội phạm, còn động cơ, mục đích chỉ là yếu tố bắt buộc đối với một số tội phạm.
Lỗi bao gồm hai yếu tố cấu thành, đó là: Lý trí (thể hiện khả năng nhận thức của chủ thể) và ý chí (thể hiện khả năng điều khiển hành vi của chủ thể), căn cứ vào hai yếu tố đó người ta chia lỗi thành hai loại, đó là: Lỗi cố ý (Cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp) và lỗi vô ý (Vô ý vì quá tự tin, vô ý vì cẩu thả).
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt quy định từ Điều 133 đến Điều 140 Bộ luật hình sự được thực hiện với lỗi cố ý.
1.3. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
1.3.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985
1.3.2 Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo Bộ luật hình sự 1985
1.3.3. Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999
1.3.4. Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt tài sản theo BLHS được sửa đổi, bổ sung năm 2009
Kết luận chương 1

Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮUCÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG Ở CÁC TÒA ÁN QUÂN SỰ QUÂN KHU 5
2.1. Quy định của Bộ luật hình sự 1999 về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
2.1.1 Quy định về tội phạm
Các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XIV Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (sau đây viết tắt là BLHS), gồm 13 tội được quy định từ Điều 133 đến Điều 145. Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt gồm 8 tội từ Điều 133 đến Điều 140 BLHS.
– Về khách thể của tội phạm: Các tội từ Điều 133 đến Điều 136 BLHS có khách thể là quan hệ sở hữu và quyền nhân thân; đối với các tội từ Điều 137 đến Điều 140 BLHS có khách thể chỉ là quan hệ sở hữu
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có đối tượng tác động là tài sản thuộc sở hữu của người khác (không phải là của người phạm tội) và chúng còn nằm trong sự chiếm hữu, quản lí của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản.
– Về hành vi khách quan thuộc mặt khách quan của tội phạm: Hành vi phạm tội được thực hiện chủ yếu bằng hành động; chỉ có tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng không hành động . Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có hành vi khách quan khác nhau. Đó có thể là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được (đối với tội cướp tài sản); hành vi bắt cóc con tin và hành vi đe dọa chủ tài sản (đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc hành vi uy hiếp tinh thần người khác (đối với tội cưỡng đoạt tài sản); hành vi chiếm đoạt (đối với các tội cướp giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản). Tuy nhiên, thủ đoạn, cách thức thực hiện hành vi và điều kiện khi thực hiện hành vi là khác nhau. Cụ thể, đối với tội Cướp giật tài sản, dấu hiệu công khai là thuộc tính của hành vi chiếm đoạt và dấu hiệu nhanh chóng phản ánh thủ đoạn của người phạm tội; đối với tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản, đó là dấu hiệu công nhiên (tính công khai của hành vi chiếm đoạt) và hoàn cảnh, điều kiện tự nhiên mà hành vi chiếm đoạt được thực hiện (chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản cho dù người phạm tội không hề sử dụng thủ đoạn nào); đối với Trộm cắp tài sản, đó là thủ đoạn lén lút của người phạm tội khi thực hiện hành vi chiếm đoạt; đối với Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đó là thủ đoạn gian dối được thực hiện trước khi hành vi chiếm đoạt được thực hiện.
Thủ đoạn phạm tội là cách thức (lén lút, công khai, dùng vũ lực, dùng thủ đoạn gian dối) thực hiện hành vi phạm tội. Đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, thủ đoạn phạm tội có ý nghĩa rất quan trọng, bởi vì nó là yếu tố quyết định để phân biệt các tội CĐTS với nhau.
– Về dấu hiệu lỗi, mục đích thuộc mặt chủ quan của tội phạm: Tất cả các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đều được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt chỉ biểu hiện dưới 02 dấu hiệu nhất định hoặc là hành vi chiếm đoạt hoặc là mục đích chiếm đoạt. Mục đích chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của các tội được quy định tại các Điều 133, 134, 135 và 140 BLHS. Còn mục đích tư lợi là yếu tố bắt buộc của tất cả các tội chiếm đoạt tài sản.
2.1.2. Quy định về chế tài
Hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt là khác nhau trên cơ sở tính nguy hiểm cho xã hội của từng tội. Hình phạt tử hình chỉ được quy định đối với tội cướp tài sản. Hình phạt tù chung thân được quy định ở 7 tội là tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hình phạt tù được quy định ở tất cả các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt với mức phạt tù thấp nhất là 3 tháng, mức cao nhất là 20 năm. Hình phạt cải tạo không giam giữ được quy định đối với 3 tội, là các tội được quy định từ Điều 138 đến Điều 140 BLHS. Ngoài hình phạt chính, hình phạt bổ sung là hình phạt tiền được quy định ở các tất cả các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt.
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt ở Quân khu 5.
2.2.1. Tình hình thụ lý, giải quyết các vụ án của Tòa án quân sự Quân khu 5
Trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016, Tòa án quân sự Quân khu 5 đã thụ lý 190 vụ với 353 bị can và đã xét xử 185 vụ với 344 bị cáo. Việc giải quyết các vụ án hình sự của Tòa án quân sự Quân khu 5 đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Tỷ lệ án bị kháng cáo, kháng nghị thấp trong tổng số vụ án hình sự đã đưa ra xét xử sơ thẩm. Trong tổng số vụ án được đưa ra xét xử phúc thẩm không có bản án nào bị hủy, 11 bản án bị cải sửa, còn lại là y án sơ thẩm. Hình phạt Tòa án quân sự Quân khu 5 tuyên phạt đối với các bị cáo là phù hợp, đáp ứng được mục đích phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng, đảm bảo công bằng trong hoạt động xét xử của Tòa án.
2.2.2. Thực tiễn xét xử các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt của Tòa án quân sự Quân khu 5
Từ năm 2012 đến năm 2016, Tòa án quân sự Quân khu 5 đã thụ lý và xét xử 29 vụ phạm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt với 51 bị cáo (cả sơ thẩm và phúc thẩm), chiếm tỷ lệ 15,68 % trong tổng số các vụ án mà Tòa án quân sự Quân khu 5 thụ lý, xét xử. Số vụ án các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt được Tòa án quân sự Quân khu 5 đưa ra xét xử sơ thẩm đạt tỉ lệ tuyệt đối. Tòa án đã đưa các vụ án ra xét xử kịp thời, không để tồn đọng án, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Thực tiễn ở Tòa án quân sự Quân khu 5 cho thấy hàng năm, tuy có số lượng các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt nhất định phải xét xử phúc thẩm, nhưng hầu như các vụ án đều được giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm, số vụ án bị hủy không có, số lượng vụ án bị sửa không phải vì lí do chủ quan của thẩm phán mà do có tình tiết khách quan mới.
2.2.2.1.Thực tiễn về định tội danh các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Định tội danh là một vấn đề rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt một cách công minh, chính xác, đồng thời làm cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, xác định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ pháp luật, bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt do Tòa án quân sự Quân khu 5 giải quyết đã thực hiện cơ bản đúng theo quy định của pháp luật, mang lại hiệu quả nhất định trong công tác giải quyết án và rộng hơn là công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, cũng còn một số hạn chế, thiếu sót nhất định. Tác giả nêu ra các hạn chế thiếu sót, bất cập, vướng mắc từ thực tiễn của Tòa án quân sự Quân khu 5, đó là:
– Xác định không đầy đủ các dấu hiệu CTTP; không phân biệt được các dấu hiệu khác nhau giữa tội phạm này và tội phạm khác; nhầm lẫn giữa tình tiết định tội với các tình tiết khác không phải là tình tiết định tội.
– Không nắm rõ quá trình CĐTS trong từng tội danh có sự khác nhau nên dẫn đến sai sót khi định tội danh.
– Khi định tội danh cơ quan tố tụng cũng có sự nhầm lẫn trong việc xác định mục đích CĐTS.
– Không chứng minh được mục đích và hành vi chiếm đoạt trong dấu hiệu chiếm đoạt của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt nên cơ quan tố tụng đã hình sự hóa các quan hệ dân sự dẫn đến truy cứu TNHS sai đối với người vi phạm.
– Trưng cầu giám định chưa theo đúng quy định tại các văn bản pháp luật nên dẫn đến vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự.
2.2.2.2. Thực tiễn áp dụng hình phạt
Thực tiễn xét xử của Tòa án quân sự Quân khu 5, các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng khá đầy đủ các quy định của BLHS, BLTTHS và các văn bản hướng dẫn cụ thể để làm căn cứ áp dụng hình phạt một cách hiệu quả. Trên cơ sở xem xét, căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm và hành vi phạm tội cụ thể mà quyết định khung hình phạt tương ứng; hoạt động quyết định hình phạt sau khi định tội danh các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt được thực hiện cơ bản là đúng quy định của pháp luật, mang lại hiệu quả cao trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và đặc biệt là đạt được mục đích của hình phạt. Tuy nhiên, việc quyết định hình phạt cũng còn một số hạn chế, thiếu sót nhất định cụ thể như: không đồng nhất quan điểm giữa các thẩm phán, giữa hội thẩm và thẩm phán; có trường hợp chưa vận dụng triệt để văn bản hướng dẫn; v.v… Tỷ lệ các vụ án sau khi xét xử phúc thẩm có sửa về phần hình phạt cũng có xảy ra. Có một số trường hợp kết quả xét xử phúc thẩm sửa phần hình phạt về biện pháp chấp hành hình phạt, như chuyển từ giam qua cho hưởng án treo.
Thực tiễn ở ngành Tòa án quân sự Quân khu 5 cho thấy việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt là không nhiều. Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung thì ở Tòa án quân sự Quân khu 5 áp dụng ít. Hình phạt bổ sung phạt quản chế, cấm cư trú hầu như không có. Số lượng các vụ án áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số án về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt.
2.3 Những hạn chế vướng mắc trong áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt và nguyên nhân
2.3.1. Những hạn chế vướng mắc
Qua nghiên cứu tác giả nhận thấy có những hạn chế về quy định của pháp luật như sau:
Thứ nhất, có 3 tội phạm tại các Điều 136, 137, 138 xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt chỉ nêu tội danh, không mô tả hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm nên đã dẫn đến nhiều trường hợp hiểu và thực hiện không thống nhất, có nhiều trường hợp có sự nhầm lẫn trong việc định tội danh.
Thứ hai, hành vi thuộc mặt khách quan của một số tội phạm chưa được phân biệt rõ ràng, gây nhầm lẫn, khó phân biệt trong việc định tội, giải quyết vụ án.
Thứ ba, đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có một số trường hợp đã hình sự hóa quan hệ dân sự.
Thứ tư, trong một số điều luật của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt có quy định về tình tiết định tội “đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án mà còn vi phạm”, còn tồn tại một số vướng mắc: Một hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý 2 lần (vừa bị xử lý hành chính, vừa bị cộng dồn để xử lý hình sự).
Thứ năm, đối với một số tội danh có quy định về định lượng tài sản để truy cứu trách nhiệm hình sự như: Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản; tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản … Việc quy ra tiền để xác định định lượng truy cứu TNHH sự chưa thật sự hợp lý.
Thứ sáu, quy định “dùng thủ đoạn nguy hiểm” tại điểm d khoản 2 Điều 136 BLHS, cứ đối tượng sử dụng mô tô, xe máy để phạm tội thì đều bị áp dụng tình tiết tăng nặng này, như vậy có thật sự hợp lý.
Thứ bảy, các Toà án rất hạn chế áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền, phạt quản chế, cấm cư trú, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với người phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt.
2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế vướng mắc
2.3.2.1. Nguyên nhân về pháp luật và hướng dẫn áp dụng pháp luật
– Hướng dẫn áp dụng pháp luật đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt chưa được kịp thời.
2.3.2.2. Nguyên nhân do trình độ, năng lực của người áp dụng pháp luật
– Nhầm lẫn trong việc xác định các tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS.
– Có Thẩm phán chưa vững vàng về bản lĩnh, nghề nghiệp. thiếu sự thận trọng cần thiết, dẫn đến bỏ sót một số tình tiết quan trọng ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
– Hội thẩm quân nhân làm việc kiêm nhiệm, đa số hạn chế về kiến thức pháp lý.
2.3.2.3. Các nguyên nhân khác
Kết luận chương 2

Chương 3
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM
SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT
3.1. Các quan điểm yêu cầu nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự trong hoạt động xét xử các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt ở Tòa án quân sự Quân khu 5
– Quán triệt chính sách hình sự hướng thiện trong cải cách tư pháp, coi trọng tính phòng ngừa, giảm hình phạt tù, tăng cường hình phạt tiền và hình phạt cải tạo không giam giữ;
– Cụ thể hoá tư tưởng tôn trọng và bảo vệ quyền con người của Hiến pháp năm 2013; quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;
– Đảm bảo tính cụ thể, minh bạch, khả thi trong kỹ thuật lập pháp; QPPL ban hành phải bảo đảm thuận tiện, dễ áp dụng và có tính thống nhất trong ADPL;
– Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, xem giải pháp về pháp luật là một trong những giải pháp trọng yếu để nâng cao chất lượng xét xử các vụ án hình sự về tội này.
– Đẩy mạnh và thực hiện tốt công tác tổng kết thực tiễn xét xử và giải thích, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt.
3.2. Khái quát các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo BLHS năm 2015
Trong BLHS năm 2015, các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt được quy định tại Chương XVI gồm 8 tội danh từ Điều 168 đến Điều 175, được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với tình hình đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thời kỳ mới.
3.3. Hoàn thiện pháp luật về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng
3.3.1. Hoàn thiện pháp luật về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
3.3.1.1. Hoàn thiện cấu thành các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Thực tiễn áp dụng BLHS thời gian qua cho thấy còn những bất cập vướng mắc trong quá trình định tội danh cũng như quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt. Vì vậy, cần hoàn thiện cấu thành ở một số vấn đề.
Thứ nhất, cần quy định cấu thành cơ bản của các tội cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản như sau:
Điều 133. Tội cướp tài sản
1. Người nào chiếm đoạt tài sản bằng cách sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người khác hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được, thì…..”
Điều 135. Tội cưỡng đoạt tài sản
1. Người nào chiếm đoạt tài sản bằng cách sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 điều 133 của Bộ luật này hoặc dùng thủ đoạn uy hiếp tinh thần người khác, thì …”
Thứ hai, sửa đổi Điều 136 BLHS theo hướng như sau:
“Điều 136. Tội cướp giật tài sản
1. Người nào chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai, nhanh chóng tẩu thoát thì…..”
Thứ ba, cần sửa đổi Điều 138 BLHS theo hướng :
“Điều 138. Tội trộm cắp tài sản:
1. Người nào lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, thì….”
Thứ tư, sửa đổi tình tiết định khung tăng nặng của Điểm đ Khoản 2 Điều 138 BLHS “tội trộm cắp tài sản” quy định tình tiết định khung tăng nặng “hành hung tẩu thoát”. Hành vi này được xem là bản năng của con người, không nên xem là tình tiết tăng nặng TNHS áp dụng đối với tội trên.
Đối với các tội CĐTS có quy định tình tiết định khung tăng nặng phạm tội “đối với nhiều người ”, BLHS cần sửa đổi theo hướng cụ thể hơn.
Mở rộng quy định của tội lừa đảo CĐTS tại Điều 139 BLHS. Theo đó, tội phạm này sẽ bao gồm cả một số hành vi CĐTS quy định trong tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS tại Điều 140 BLHS. Sau khi điều chỉnh như vậy, có thể bỏ tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS cho phù hợp với bản chất thực tế của hành vi này do chỉ còn là các quan hệ dân sự, thương mại vay, mượn tài sản… Việc xử lý giải quyết các vụ việc lúc đó được thực hiện thông qua quy định của pháp luật tố tụng dân sự
3.3.1.2 Hoàn thiện chế tài
– Cần quy định hình phạt tiền áp dụng là hình phạt chính trong chế tài khung cơ bản đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt sau: Tội cướp giật tài sản; tội công nhiên chiếm đoạt tài sản; tội trộm cắp tài sản; tội lừa đảo CĐTS; tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS.
– Áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ với tư cách là chế tài lựa chọn với hình phạt tù trong một số tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt như trộm cắp tài sản, công nhiên CĐTS.
– Quy định cụ thể về xác định thời điểm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên trong trường hợp có hình phạt cải tạo không giam giữ.
– Thu hẹp khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa trong một số điều luật có khoảng cách hình phạt tù quá rộng tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng vận dụng được dễ dàng, chính xác.
3.3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
3.3.2.1. Nâng cao nhận thức về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Phối hợp với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và thường xuyên xét xử lưu động các vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt để nâng cao nhận thực pháp luật cho toàn xã hội.
3.3.2.2. Tăng cường hướng dẫn áp dụng pháp luật, xây dựng án lệ
Hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành BLHS, BLTTHS nói chung và các điều luật về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt nói riêng. Qua thực tiễn hoạt động xét xử, TANDTC xây dựng án lệ làm cơ sở cho Tòa án các cấp áp dụng khi xét xử.
3.3.2.3. Nâng cao năng lực, phẩm chất Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm
Gồm các giải pháp về nâng cao trình độ năng lực chuyên môn của những người THTT; Nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp của những người THTT; Nâng cao chế độ trách nhiệm, chế độ chính sách và dành sự quan tâm hơn cho những người làm nhiệm vụ bảo vệ pháp luật.
3.3.2.4. Các giải pháp khác
Trong phạm vi của Luận văn, tác giả trình bày những kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động xét xử các vụ án hình sự nói chung và các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt nói riêng.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn của Tòa án quân sự Quân khu 5, đưa ra khái niệm, các dấu hiệu pháp lý đặc trưng, khái quát lịch sử lập pháp về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt.
Luận văn đã đi sâu phân tích mặt lý luận cũng như thực tiễn hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt từ thực tiễn của Tòa án quân sự Quân khu 5. Qua đó thấy rằng các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo pháp luật hình sự nước ta khi đưa vào áp dụng trong thực tiễn còn khá nhiều vướng mắc, bất cập. Từ đó, Luận văn đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động xét xử các vụ án hình sự nói chung, các vụ án xâm phạm sở hữu có tính đoạt nói riêng.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 6\LUAT HINH SU VA TO TUNG HINH SU\LE DINH NGHIA\New folder


