Bào chữa bắt buộc theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Bào chữa bắt buộc theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Bào chữa bắt buộc theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong lịch sử đấu tranh, tồn tại và phát triển của loài người, quyền con người luôn luôn được ghi nhận và bảo đảm trong các đạo luật của mỗi quốc gia. Ở nước ta, tư tưởng chỉ đạo và xuyên suốt của Đảng và Nhà nước là xây dựng một nền tư pháp dân chủ với các nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền con người. Thực hiện theo tinh thần Nghị quyết 04-NQ/TW năm 2005 của Bộ chính trị, trong những năm qua, hoạt động tranh tụng trong việc giải quyết vụ án hình sự và vai trò của người bào chữa ngày càng được nâng cao, quyền bào chữa dần được củng cố, tôn trọng, mở rộng và bảo đảm thực hiện.

Quyền bào chữa là một trong những quyền quan trọng của người bị buộc tội, được thể chế hóa trong các bản Hiến pháp của nước ta. Tại khoản 4, Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”. Trên cơ sở trên, bảo đảm quyền bào chữa được cụ thể hóa và được coi là một trong những nguyên tắc đặc thù pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.

Bào chữa bắt buộc có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự. Đây là chỗ dựa về pháp lý, tinh thần, kiến thức, niềm tin của người bị buộc tội để bảo vệ mình và cũng là cơ chế, biện pháp pháp lý hữu hiệu để Nhà nước bảo đảm thực hiện quyền con người. Mặc dù pháp luật hiện nay đã quy định tương đối đầy đủ nhưng vẫn còn bộc lộ nhiều vướng mắc. Hơn nữa, việc áp dụng trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự thuộc trường hợp bào chữa bắt buộc trên địa bàn tỉnh Quảng Nam vẫn còn nhiều bất cập. Điều này, dẫn đến người bị buộc tội không được bảo đảm thực hiện trọn vẹn quyền bào chữa. Người bào chữa không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình.

Vì vậy, nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn về bào chữa bắt buộc trong tố tụng hình sự là cần thiết, phù hợp với nhu cầu cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay. Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Bào chữa bắt buộc theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận văn cao học của mình.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Nhằm phân tích đánh giá những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về bào chữa bắt buộc và thực trạng áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Từ đó, tác giả đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm bảo đảm thực hiện bào chữa bắt buộc cho người bị buộc tội đạt hiệu quả tối đa.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:

Đưa ra khái niệm, ý nghĩa và cơ sở quy định của bào chữa bắt buộc trong pháp luật tố tụng hình sự; các trường hợp và yếu tố bảo đảm thực hiện bào chữa bắt buộc; những hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện bào chữa bắt buộc trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng bào chữa bắt buộc.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Trên cơ sở mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài, đối tượng nghiên cứu của đề tài là những tài liệu liên quan đến quyền bào chữa, bào chữa bắt buộc trong tố tụng hình sự, những quy định của pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay và những văn bản pháp lý quốc tế về bào chữa chữa bắt buộc, thực tiễn áp dụng bào chữa bắt buộc trên địa bàn tỉnh Quảng Nam hiện nay.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung phân tích, đánh giá và tổng hợp những vấn đề lý luận chung và thực tiễn về bào chữa bắt buộc trong tố tụng hình sự Việt Nam.

Về không gian: Luận văn nghiên cứu thực hiện bào chữa bắt buộc theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu các số liệu thực hiện bào chữa bắt buộc từ năm 2012 – 2016.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Để thực hiện luận văn, tác giả đã dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và Nhà nước về pháp luật, về quyền con người, quyền công dân để tiếp cận vấn đề một cách khoa học và khách quan.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn còn kết hợp với nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp chứng minh, phương pháp thống kê… để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về bào chữa bắt buộc, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn có những nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo có giá trị đối với các cơ quan nhà nước giải quyết những vướng mắc trong quá trình áp dụng thực tiễn. Đặc biệt, đối với những người tham gia tố tụng như người bị buộc tội, bị can, bị cáo, góp phần đảm bảo quyền lợi của họ. Kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể làm tài liệu tham khảo trong quá trình công tác, học tập, nghiên cứu tiếp theo cho những người quan tâm.

7. Cơ cấu của luận văn

Bố cục của luận văn được chia làm ba chương, gồm:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bào chữa bắt buộc theo pháp luật tố tụng hình sự.

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về bào chữa bắt buộc và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Nam.

Chương 3. Yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bào chữa bắt buộc.

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÀO CHỮA BẮT BUỘC THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

    1. 1.1. Khái niệm và ý nghĩa của bào chữa bắt buộc
      1. 1.1.1. Khái niệm bào chữa bắt buộc

Bào chữa bắt buộc trong tố tụng hình sự là sự bảo đảm tuyệt đối quyền có người bào chữa của người bị buộc tội từ phía cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật. Đây còn là một trong những phương thức bảo đảm quyền bào chữa nhưng không phải là đương nhiên mà chỉ áp dụng cho một số đối tượng theo quy định của pháp luật. Hiện nay, pháp luật không quy định rõ khái niệm bào chữa bắt buộc và thực tiễn cũng chưa có một khái niệm thống nhất. Tuy nhiên, từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm bào chữa bắt buộc trong tố tụng hình sự như sau: Bào chữa bắt buộc là sự bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội từ cơ quan tiến hành tố tụng trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật để người bị buộc tội có người bào chữa nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của họ.

      1. 1.1.2. Ý nghĩa của bào chữa bắt buộc

Bào chữa bắt buộc trong tố tụng hình sự có ý nghĩa ở nhiều phương diện chính trị, xã hội và pháp lý.

Về mặt chính trị, bào chữa bắt buộc mang ý nghĩa chính trị sâu sắc, tạo cơ chế hữu hiệu nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự.

Về mặt xã hội, bào chữa bắt buộc thể hiện tính nhân văn, nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong chính sách hình sự của Nhà nước ta.

Về mặt pháp lý, thực hiện bào chữa bắt buộc là thực hiện những nguyên tắc cơ bản của BLTTHS 2003 như: Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội;… Bào chữa bắt buộc góp phần vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm quá trình điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội [46, tr.18].

    1. 1.2. Đặc điểm của bào chữa bắt buộc
      1. 1.2.1. Người thực hiện bào chữa bắt buộc theo chỉ định của cơ quan có thẩm quyền
      2. 1.2.2. Bào chữa bắt buộc tôn trọng quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
      3. 1.2.3. Bào chữa bắt buộc tiến hành theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định

CHƯƠNG 2

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ BÀO CHỮA BẮT BUỘC VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH QUẢNG NAM

    1. 2.1. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển về bào chữa bắt buộc theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay
      1. 2.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988

Như vậy, từ giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi Bộ luật Tố tụng hình năm 1988 ra đời, cho thấy những quy định về quyền bào chữa của người bị buộc tội, trong đó có bào chữa bắt buộc ngày càng được hoàn thiện theo từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Tuy nhiên, nhìn lại quá trình phát triển của những quy định của pháp luật về bào chữa bắt buộc vẫn còn thiếu sót và hạn chế.

      1. 2.1.2. Giai đoạn từ năm 1988 đến nay

BLTTHS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 28/6/1988, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989 đã đánh dấu một bước phát triển mới trong lịch sử lập pháp tố tụng hình sự nói chung và chế định bào chữa bắt buộc nói riêng.

      1. 2.1.3. Pháp luật tố tụng hình sự của các nước trên thế giới về bào chữa bắt buộc

2.1.3.1. Bào chữa bắt buộc trong pháp luật tố tụng hình sự Trung Quốc

2.1.3.2. Bào chữa bắt buộc trong pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga

2.1.3.3. Bào chữa bắt buộc trong pháp luật tố tụng hình sự Công hòa Liên bang Đức

2.1.3.4. Bào chữa bắt buộc trong pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản

Như vậy, qua tìm hiểu một số quy định của pháp luật tố tụng hình sự của một số quốc gia về chế định bào chữa bắt buộc của người bị buộc tội có thể thấy một số quốc gia quy định về các trường hợp phải có sự tham gia bắt buộc của người bào chữa gần giống với pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, còn có một số quốc gia quy định mở rộng phạm vi các trường hợp mà các cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội.

    1. 2.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về bào chữa bắt buộc
      1. 2.2.1. Trường hợp bào chữa bắt buộc

2.2.1.1. Trường hợp người bị buộc tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội theo khung hình phạt cao nhất là tử hình

2.2.1.2. Trường hợp người bị buộc tội là người chưa thành niên

2.2.1.3. Trường hợp người bị buộc tội là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất

2.2.2. Thủ tục chỉ định người bào chữa

Trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS 2003, nếu người bị buộc tội không mời người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng phải có nghĩa vụ yêu cầu phân công người bào chữa cho họ.

Thủ tục nhờ người bào chữa đối với trường hợp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam là thành viên của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc các tổ chức thành viên của Mặt trận đề nghị tổ chức mà họ là thành viên cử người bào chữa cho họ thì Điều tra viên phải ghi ý kiến của người bị tạm giữ, bị can vào biên bản và hướng dẫn họ viết đề nghị bằng văn bản. Trong trường hợp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam nhờ người bào chữa là người đại diện hợp pháp của họ thì Điều tra viên hướng dẫn họ viết văn bản đề nghị, trong văn bản ghi rõ họ tên, tuổi, địa chỉ của người đại diện hợp pháp. Cơ quan điều tra có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị của người bị tạm giữ, bị can cho cho tổ chức, người đại diện hợp pháp mà người bị tạm giữ, bị can nhờ bào chữa. Trường hợp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam nhờ người bào chữa là luật sư hoặc viết giấy nhờ người thân liên hệ nhờ luật sư bào chữa thì Điều tra viên hướng dẫn họ viết giấy yêu cầu luật sư và có trách nhiệm gửi cho luật sư mà họ nhờ bào chữa hoặc gửi cho người thân của người bị tạm giữ, bị can.

Theo quy định của BLTTHS 2015 thì thủ tục bào chữa bắt buộc có sự thay đổi. Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sau khi xem xét các giấy tờ cần thiết và thuộc trường hợp đăng ký bào chữa thì vào sổ đăng ký bào chữa, sau đó gửi thông báo bằng văn bản cho người đăng ký bào chữa được biết. Như vậy, thủ tục các cơ quan tiến hành tiến hành tố tụng cấp Giấy chứng nhận người bào chữa sẽ không còn.

2.2.3. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa bắt buộc

Người bào chữa trong bào chữa bắt buộc, về cơ bản được quyền sử dụng những biện pháp bào chữa do pháp luật quy định cho người bào chữa nói chung. . Các quyền của người bào chữa theo quy định pháp luật tố tụng hình sự cụ thể như sau:

Thứ nhất, về thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa bắt đầu từ khi khởi tố bị can, trong các trường hợp bắt người khẩn cấp và bắt người phạm tội quả tang thì người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ.

Thứ hai, người bào chữa được quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ

Thứ ba, người bào chữa có quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can.

Thứ tư, người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch.

Thứ năm, quyền thu thập tài liệu, đồ vật và tình tiết liên quan đến việc bào chữa.

Thứ sáu, quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu trong qua trình tham gia bào chữa.

Thứ bảy, người bào chữa có quyền gặp người bị tạm giữ; bị can, bị cáo đang bị tạm giam.

Thứ tám, quyền được đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra .

Thứ chín, người bào chữa có quyền tham gia hỏi và tranh luận dân chủ tại phiên tòa trong giai đoạn xét xử.

Thứ mười, người bào chữa có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Cuối cùng, quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất .

Bên cạnh những quyền nêu trên thì người bào chữa cũng phải có nghĩa vụ khi tham gia tố tụng.

Ngoài các nghĩa vụ luật định nêu trên, về mặt lý luận cũng như thực tiễn thì nghĩa vụ quan trọng nhất của người bào chữa trong bào chữa bắt buộc là việc phải thực hiện đúng yêu cầu của quy định pháp luật tố tụng hình sự để đảm bảo tính pháp lý của quá trình tố tụng. Nếu vì lý do nào đó mà người bào chữa không thực hiện đúng nghĩa vụ luật định thì dù quá trình tố tụng có đảm bảo giải quyết đúng đắn, khách quan và toàn diện thì kết quả đó vẫn không được công nhận vì đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Nói cách khác, người bào chữa trong bào chữa bắt buộc giữ vai trò đảm bảo cho hình thức của quá trình tố tụng.

2.2.4. Nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm bào chữa bắt buộc

Quyền được bào chữa bắt buộc không chỉ là quyền của người bị buộc tội mà còn là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng phải bảo đảm có người bào chữa cho họ trong các giai đoạn tố tụng. Nếu cơ quan tiến hành tố tụng không thực hiện đúng nghĩa vụ này thì bị coi là hành vi vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ đảm bảo cho họ.

Tóm lại, khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải bảo vệ sự thật, bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội, nhất là trong những những trường hợp bào chữa bắt buộc. Chính những biện pháp bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội sẽ tạo điều kiện cho những người tiến hành tố tụng phát huy được năng lực của mình, làm cho hoạt động tố tụng thực sự là một quá trình đi tìm sự công bằng trên cơ sở tôn trọng các quyền cơ bản của con người.

    1. 2.3. Thực tiễn áp dụng quy định về bào chữa bắt buộc trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
      1. 2.3.1. Những kết quả đạt được trong việc áp dụng các quy định về bào chữa bắt buộc

Bảng 2.1. Báo cáo tổng hợp của các Tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Nam [8]

NămBị cáo là người chưa thành niênBị cáo về tội mức cao nhất của khung hình phạt là tử hìnhTổng
20121301132
201389089
201486187
201562163
201651152
Tổng3384342

Đối với các vụ án thuộc trường hợp bào chữa bắt buộc theo yêu cầu của Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Quảng Nam mà người bào chữa là luật sư trong thời gian từ năm 2013 đến năm 2016 như sau:

Bảng 2.2.Báo cáo tổng hợp án chỉ định tại trụ sở Đoàn luật sư tỉnh Quảng Nam [9]

NămSố lượng vụ án được cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu luật sư bào chữa
201343
201438
201532
201615
Tổng128

Qua bảng số liệu thống kê ở trên có thể kết luận từ năm 2012 đến năm 2016 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam số lượng người bị buộc tội được bào chữa bắt buộc ngày càng giảm.

2.3.2. Những hạn chế, vướng mắc khi áp dụng quy định về bào chữa bắt buộc

Việc áp dụng quy định về bào chữa bắt buộc đạt được những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng vẫn còn tồn tại những hạn chế, vướng mắc.

Chất lượng bào chữa trong các vụ án bào chữa bắt buộc chưa cao, lời bào chữa trong những trường hợp này thường mang tính hình thức, yếu về trình độ, kém về nội dung.

Đối với việc bào chữa bắt buộc, các luật sư thường không coi trọng và làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm.

Khi tham gia bào chữa bắt buộc, thù lao do Nhà nước chi trả thường ít hơn rất nhiều so với bào chữa thông thường, người bị buộc tội không trả thêm thù lao nên một số luật sư được chỉ định không thực hiện hết trách nhiệm của mình, hời hợt khi tham gia tố tụng. Vì vậy, chất lượng bào chữa còn thấp.

Việc đảm bảo người bào chữa trong trường hợp bắt buộc còn chậm trễ.

Mặt khác, thực tiễn người bào chữa là người có hiểu biết pháp luật tham gia bào chữa bắt buộc không cao, đa số là do người bị buộc tội tự bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của họ bào chữa mà những người này thường không am hiểu về pháp luật.

Sự tham gia của người bào chữa trong các giai đoạn tố tụng chưa thực sự đảm bảo, gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn còn nhiều hạn chế trong việc tranh luận với người bào chữa.

Tại phiên tòa, một số thẩm phán, chủ tọa phiên tòa chưa quan tâm nhiều đến việc tranh luận.

2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc

2.3.3.1. Về quy định của pháp luật

Quy định về người bào chữa theo quy định tại Điều 56 BLTTHS 2003 đối với người bào chữa là bào chữa viên nhân dân và người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa được hướng dẫn cụ thể. Trong điều kiện số lượng luật sư chưa đủ để đáp ứng nhu cầu bào chữa trong vụ án hình sự, với quy định thiếu rõ ràng trên đã hạn chế quyền bào chữa cho người bị buộc tội.

Đối với người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa có một văn bản chính thức nào hướng dẫn về loại người này. Vì thế, khi xác định người đại diện hợp pháp thì chỉ có thể căn cứ vào những quy định tại Bộ luật Dân sự.

Về thời điểm tham gia của người bào chữa bắt buộc. Hiện nay, pháp luật không quy định rõ về thời điểm tham gia của người bào chữa bắt buộc.

Đối với trường hợp bị can là người có nhược điểm về thể chất thì pháp luật cũng không có quy định cụ thể thế nào là người có nhược điểm về thể chất và nhược điểm đến mức độ nào thì cần có người bào chữa bắt buộc.

Đối với sự thay đổi về tình trạng thể chất, tâm thần của người bị buộc tội trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tố tụng hình sự thì cần đều phải xem xét đến việc áp dụng hay hủy bỏ các biện pháp đảm bảo bào chữa bắt buộc.

Hiện nay, pháp luật cũng không có quy định rõ ràng về việc người bào chữa bắt buộc có nhất thiết phải tham dự tất cả các lần hỏi cung thân chủ của mình hay không.

Quy định về quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa bắt buộc theo điểm a và điểm b khoản 2 Điều 57 BLTTHS 2003 còn chưa cụ thể, rõ ràng.

Bên cạnh đó, bào chữa bắt buộc là sự bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội từ cơ quan, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng rất quan trọng. Tuy nhiên, thực tế cũng xảy ra không ít trường hợp cơ quan, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền vi phạm thủ tục tố tụng, không bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong các trường hợp bắt buộc nhưng pháp luật không quy định chế tài xử lý. Vì vậy, pháp luật cần thiết phải quy định rõ trách nhiệm và chế tài đối với những vi phạm trên để luôn đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội.

Bào chữa bắt buộc theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Bào chữa bắt buộc theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

2.3.3.2. Về nhận thức và năng lực của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng

Như đã phân tích, quyền bào chữa có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân bị can, bị cáo, người bị tạm giữ, đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, đối với nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự. Do vậy, quyền này được nhà nước bảo đảm.

Có ý kiến cho rằng trong trường hợp vụ án đã được điều tra cẩn trọng nhưng cơ quan điều tra chỉ có vi phạm hình thức – không thực hiện nghĩa vụ bảo đảm sự tham gia bắt buộc của người bào chữa – thì vi phạm này cần rút kinh nghiệm nhưng chưa tới mức nghiêm trọng để phải điều tra lại. Dù có trả hồ sơ để điều tra lại cũng không còn ý nghĩa gì nữa.

Bên cạnh sự nhận thức còn hạn chế của người tiến hành tố tụng thì chính bản thân người bị buộc tội cũng chưa nhận thức đúng về quyền bào chữa của mình. Người bị buộc tội chưa hiểu đầy đủ trong việc bào chữa bắt buộc do họ chưa nhận thức được quyền bào chữa bắt buộc là quyền năng đặc biệt mà pháp luật dành cho họ, không ai có quyền hạn chế quyền này của họ. Khi rơi vào vòng tố tụng, họ thường phó mặc cho các cơ quan tiến hành tố tụng quyết định số phận của mình, không hiểu đầy đủ, cặn kẽ về bào chữa bắt buộc nên vẫn còn e ngại về thù lao nếu có người bào chữa.

2.3.3.3. Về cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật

Cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật là một trong những điều kiện hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tố tụng phát hiện và xử lý tội phạm có hiệu quả. Trong khi đó, tình trạng thiếu thốn cơ sở vật chất hoặc cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu, không được sửa chữa hoặc nâng cấp vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi, nhiều cơ quan tiến hành tố tụng.

Bên cạnh đó, việc trang bị các phương tiện kỹ thuật khoa học hiên đại còn khiêm tốn và chưa đáp ứng kịp thời, nhất là các cơ quan ở các vùng kinh tế khó khăn. Đội ngũ những người tiến hành tố tụng chưa được trang bị đầy đủ và toàn diện về kiến thức về khoa học kỹ thuật phục vụ cho hoạt động chuyên môn… Tất cả những khó khăn trên làm hạn chế hoạt động xử lý vụ án, ảnh hưởng đến chất lượng điều tra, truy tố, xét xử nói chung và không bảo đảm hiệu quả quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, trong đó có quyền bào chữa nói riêng. Vì vậy, cần có những giải pháp khắc phục.

CHƯƠNG 3

YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

VỀ BÀO CHỮA BẮT BUỘC

    1. 3.1. Yêu cầu bảo đảm thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bào chữa bắt buộc

Từ các Nghị quyết số 08/NQ-TW về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cho thấy yêu cầu của cải cách tư pháp trong lĩnh vực tố tụng hình sự là yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và yêu cầu bảo đảm quyền con người của những người tham gia tố tụng. Hai yêu cầu này xuất phát từ chính nhiệm vụ của tố tụng hình sự và có mối quan hệ biện chứng với nhau. Thực hiện dân chủ – mở rộng và tôn trọng quyền con người của các chủ thể tham gia hoạt động tố tụng hình sự là yêu cầu khách quan của cải cách tư pháp. Dân chủ vừa là mục đích, vừa là động lực, vừa là phương thức thực hiện tố tụng hình sự. Nhiệm vụ của tố tụng hình sự là phát hiện xử lý kịp thời mọi hành vi tội phạm và kẻ phạm tội, bảo vệ quyền và lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân xét đến cùng là bảo vệ trật tự mà trong đó nhân dân làm chủ nhà nước. Dân chủ là giá trị xã hội lớn nhất mà tố tụng hình sự nước ta có nhiệm vụ bảo vệ.

3.1.1. Yêu cầu về xây dựng pháp luật

Việt Nam đang từng bước tham gia hầu như toàn bộ đầy đủ các Công ước quốc tế nhằm bảo vệ quyền con người nên việc xây dựng hệ thống pháp luật – nhất là trong lĩnh vực tố tụng hình sự – phải thực hiện tốt hoạt động nội luật hóa đầy đủ nội dung của các Công ước này.

Hoàn thiện pháp luật về quyền bào chữa bắt buộc, trước hết cần phải thống nhất quan điểm của đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp năm 2013. Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của Hiến pháp 2013 là bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền con người, quyền công dân. Vì vậy, khi ban hành, sửa đổi luật phải luôn luôn bảo đảm quyền con người.

Tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII một lần nữa khẳng định quyền bào chữa bắt buộc là một quyền lợi đặc thù, quyền cơ bản của công dân, của những người bị buộc tội được coi là một nguyên tắc hiến định [22], ghi nhận tại các Điều 31, Điều 103 Hiến pháp năm 2013. Hiến pháp năm 2013 quy định không chỉ bị cáo mới có quyền bào chữa mà ngay từ khi người bị bắt, đã phát sịnh quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bào chữa đối với họ, được đảm bảo bởi đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp. Đây là một nguyên tắc hiến định nhằm đảm bảo cho người bị buộc tội có quyền được tự mình bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.

Đối với những vụ án mà hành vi phạm tội của bị can, bị cáo bị buộc vào tội có mức hình phạt cao nhất là từ 20 năm tù, tù chung thân, tử hình hoặc là người thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì bắt buộc phải có người có người bào chữa cho họ, cả trong trường hợp họ không nhờ người bào chữa. Trường hợp này, trách nhiệm bảo đảm có người bào chữa thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng và phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật trong việc buộc tội đối với bị can, bị cáo, đồng thời, phải có căn cứ vững chắc và đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.

Đồng thời, Nhà nước có trách nhiệm ban hành, hoàn thiện các cơ chế đảm bảo thực thi quyền bào chữa của công dân. Việc tăng cường trách nhiệm hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng cũng như tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra, đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, đòi hỏi trách nhiệm rất lớn của toàn bộ hệ thống chính trị, của Đảng và Nhà nước ta trong việc ban hành, hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thực thi quyền bào chữa của công dân trong quá trình giải quyết vụ án, tiến tới một xã hội công bằng, dân chủ, tiến bộ, văn minh.

Để tiếp tục xây dựng hoàn thiện pháp luật về quyền bào chữa bắt buộc, cần thống nhất trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về các căn cứ không cho phép phân biệt đối xử trong vấn đề bào chữa nói chung và bào chữa bắt buộc nói riêng. Cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của BLTTHS liên quan đến bào chữa bắt buộc. Những quy định trên cần phải được cụ thể hóa bằng các văn bản hướng dẫn làm căn cứ để các cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng thống nhất, phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước theo hướng ngày càng đảm bảo tốt hơn các quyền con người.

3.1.2. Yêu cầu về năng lực của người áp dụng

Quyền bào chữa bắt buộc của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không thể thực hiện được một cách triệt để và hiệu quả khi người tiến hành tố tụng không nhận thức đúng nội dung và ý nghĩa, tầm quan trọng của nó.

Cơ quan, người tiến hành tố tụng là những chủ thể trực tiếp tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật nhằm thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ làm sảng tỏ các yếu tố của đối tượng chứng minh và tiến hành giải quyết vụ án trong phạm vi, quyền hạn của mình. Trước hết, họ phải nhận thức được việc bảo đảm thực hiện quyền bào chữa bắt buộc của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là đảm bảo quyền bào chữa cho họ và chính là giúp họ giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ. Đây cũng là nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho họ thực hiện. Nếu các chủ thể tham gia tố tụng không nhận thức đúng nội dung, ý nghĩa và tầm quan trọng của quyền bào chữa bắt buộc thì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không thể thực hiện quyền bào chữa của mình một cách có hiệu quả.

Bên cạnh đó, cần thiết phải thay đổi nhận thức của người dân nói chung và người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng khi cho rằng, sự tham gia tố tụng của người bào chữa là không cần thiết và tốn kém. Nhận thức không đúng về vai trò và vị trí của người bào chữa chính là rào cản lớn làm cho sự tham gia của người bào chữa trở nên khó khăn, trong khi bản thân người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ lại không có khả năng bào chữa có hiệu quả. Việc người bào chữa tham gia tố tụng để bảo vệ cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo phụ thuộc rất nhiều vào ý chí chủ quan của chính họ, người đại diện hợp pháp cũng như gia đình của họ. Do vậy, việc thay đổi nhận thức về vai trò của người bào chữa là cách tốt nhất để trang bị cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo những phương tiện, biện pháp giúp họ bảo vệ mình trước nguy cơ bị xâm phạm hoặc đe dọa bị xâm phạm các quyền tố tụng từ phía những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng nhằm thực hiện quyền bào chữa của mình.

    1. 3.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bào chữa bắt buộc
      1. 3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật

Để nâng cao chất lượng hoạt động bào chữa bắt buộc, trước hết cần phải kiện toàn lại toàn bộ hệ thống các văn bản pháp luật có quy định những vấn đề liên quan đến bào chữa bắt buộc của người bị buộc tội. Trong đó, BLTTHS là văn bản pháp lý có ý nghĩa và tầm quan trọng hàng đầu. Việc hoàn thiện cơ sở pháp lý và cơ chế bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong các trường hợp bắt buộc phải trên phương hướng chung là tiếp tục phát triển, hoàn thiện những quy phạm pháp luật về thực hiện bào chữa bắt buộc hiện có. Đồng thời bổ sung các quy phạm pháp luật liên quan đến việc thực hiện bào chữa bắt buộc cho thật sự đầy đủ, rõ ràng và bảo đảm thực hiện.

Thực hiện tinh thần cải cách tư pháp và Hiến pháp năm 2013, BLTTHS 2015 đã chỉnh sửa, khắc phục được các tồn tại, vướng mắc của BLTTHS 2003 và bổ sung nhiều điểm mới về chế định bào chữa. Tuy nhiên, để đảm bảo bào chữa bắt buộc cho người bị buộc tội, còn có những hạn chế cần được bổ sung, hoàn thiện để bảo vệ tốt hơn và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội, cụ thể:

Một là, về tên điều luật “Chỉ định người bào chữa”, tuy nhiên, cá nhân tác giả cho rằng việc sử dụng thuật ngữ “chỉ định” trong trường này là chưa thỏa đáng mà nên sử dụng thuật ngữ bào chữa bắt buộc. Do “chỉ định” là một khái niệm có phần hạn chế trong việc thể hiện yêu cầu cần phải đảm bảo cho sự tồn tại của một yếu tố đối với quá trình tố tụng hình sự, mà lại dễ làm cho người khác có nhận thức về việc lựa chọn một chủ thể cụ thể nào đó. Điều này không chỉ là kết quả của hoạt động phân tích chủ quan mà thực tiễn thời gian qua cho thấy thuật ngữ “chỉ định” thường được gắn với việc xác định loại người bào chữa tham gia tố tụng là Luật sư chỉ định và các chủ thể tham gia tố tụng hình sự ít khi sử dụng cụm từ “chỉ định luật sư” mà thường sử dụng cụm từ “cử luật sư” hoặc “giới thiệu luật sư”. Điều này có phần nguyên nhân xuất phát từ việc hạn chế gây tâm lý mặc cảm đối với người bào chữa khi cảm thấy bị chỉ định thay vì được cử hay được yêu cầu.

Thuật ngữ “bào chữa bắt buộc” thì lại chủ yếu phản ánh tính chất không thể thiếu của một yếu tố đối với quá trình nhiều hơn là đối với một cá nhân chủ thể, nên việc sử dụng khái niệm này sẽ phù hợp hơn khi dùng để gọi tên một Điều luật.

Hai là, đối với chủ thể được bào chữa bắt buộc, trong đó có người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa thì cần có hướng dẫn cụ thể về vấn đề nhược điểm về thể chất dựa trên nguyên tắc chung sau đây: Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất nhất định và những nhược điểm này làm cản trở người bị buộc tội tự mình thực hiện quyền bào chữa. Cơ quan tiến hành tố tụng phải trả lời và đưa ra quyết định phù hợp về bảo đảm người bào chữa cho người bị buộc tội.

Ba là, cần bổ sung quy định người bào chữa bắt buộc được gặp bị cáo sau phiên tòa sơ thẩm. Cần bổ sung quy định người bào chữa được quyền gặp người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất sau phiên tòa sơ thẩm trong trường hợp người đó tiếp tục bị tạm giam.

Bốn là, cần bổ sung quy định về cơ chế phối hợp giữa cơ quan tiến hành tố tụng với Đoàn luật sư các tỉnh thành về hình thành cơ chế “luật sư, trợ giúp pháp lý trực ban”.

Năm là, cần phải có chế tài xử lý những người tiến hành tố tụng cản trở quyền bào chữa của người bị buộc tội, quyền hành nghề luật sư.

Sáu là, mối quan hệ giữa người bào chữa với các cơ quan tiến hành tố tụng có tính chất đặc biệt ở chỗ vừa hợp tác, vừa chế ước.

      1. 3.2.2. Các giải pháp khác

3.2.2.1. Nâng cao năng lực, trình độ của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng

Để nâng cao kiến thức chuyên môn và nhận thức của đội ngũ tiến hành tố tụng, phải tập trung một số vấn đề sau:

Một là, thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn cho những người tiến hành tố tụng. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng là những kiến thức mới về pháp luật, nghiệp vụ, kinh nghiệm thực tế. Tổ chức các đợt kiểm tra kiến thức chuyên môn, đánh giá trình độ, từ đó có chế độ tuyên dương, khen thưởng xứng đáng. Phát động các phong trào thi đua có ý nghĩa trau dồi về đạo đức, tác phong sống, làm việc nghiêm túc, lành mạnh; coi đây là cơ sở đề xuất bổ nhiệm, miễn nhiệm.

Hai là, thay đổi nhận thức chưa đúng đắn của những người tiến hành tố tụng về vai trò, vị trí của người bào chữa trong tiến hành tố tụng. Cần phải nhìn nhận sự tham gia của người bào chữa là yếu tố khách quan để vụ án được giải quyết đúng đắn.

Ba là, trang bị đầy đủ phương tiện, kinh phí phục vụ công tác cho những người tiến hành tố tụng.

3.2.2.2. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa việc bảo vệ quyền bào chữa bắt buộc của người bị buộc tội

Thứ nhất, vai trò của UBMTTQVN và các tổ chức thành viên Mặt trận sẽ ngày càng quan trọng khi mà số lượng các vụ việc cần phải bảo đảm quyền bào chữa bắt buộc gia tăng do mở rộng quy định về những trường hợp phát sịnh yêu cầu bào chữa bắt buộc.

Thứ hai, Nhà nước cần phải có những biện pháp khuyến khích người bào chữa tham gia tố tụng đối với những trường hợp bào chữa bắt buộc.

Thứ ba, tăng cường đội ngũ luật sư, người bào chữa, nâng cao năng lực trách nhiệm của những người làm công tác bào chữa.

Thứ tư, bào chữa bắt buộc được thực hiện bởi các cơ quan, người tiến hành tố tụng nhưng hiện nay chưa có cơ chế giám sát chặt chẽ, vì vậy không thực sự được đảm bảo thực hiện trên thực tế. Do đó, cần tăng cường vai trò giám sát bào chữa bắt buộc của các cơ quan Nhà nước, các cơ quan đại diện cho nhân dân như Hội đồng nhân dân các cấp hay các tổ chức xã hội khác.

Thứ năm, về vai trò tổ chức khác như cơ quan giám định. Kết quả giám định trong tư pháp không chỉ giữ vai trò cung cấp căn cứ để giải quyết các vấn đề phát sinh về nội dung vụ án mà còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xác định căn cứ phát sinh yêu cầu bào chữa bắt buộc khi chưa xác định được độ tuổi sinh học hoặc tình trạng thể chất, tâm thần của người bị buộc tội.

Thứ sáu, cần tăng cường việc phổ biến, giáo dục pháp luật trong các nhà trường, cộng đồng dân cư, các tổ chức xã hội.

Bào chữa bắt buộc theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Bào chữa bắt buộc theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

KẾT LUẬN

Với vai trò là bảo đảm cho quyền con người và quyền công dân không bị xâm phạm bất hợp pháp, bào chữa bắt buộc trở thành một nhu cầu không thể phủ nhận trong hoạt động tố tụng hình sự. Bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền bào chữa bắt buộc trong tố tụng hình sự là hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển của nhân loại, của hệ thống pháp luật quốc tế cũng như định hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ta trong tình hình hiện nay. Tuy pháp luật hiện hành chưa quy định khái niệm bào chữa bắt buộc nhưng có thể đưa ra khái niệm như sau: Bào chữa bắt buộc là sự bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội từ cơ quan tiến hành tố tụng trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật để người bị buộc tội có người bào chữa nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Bào chữa bắt buộc có ý nghĩa rất quan trọng trên nhiều phương diện khác nhau như chính trị, xã hội, pháp lý. Bào chữa bắt buộc vừa mang những đặc điểm chung của quyền bào chữa thông thường nhưng vừa mang đặc điểm riêng biệt. Đó là sự tham gia của người bào chữa trong quá quá trình tố tụng hình sự do sự chỉ định từ cơ quan tiến hành tố tụng và chi phí bào chữa này do Nhà nước chi trả.

Luận văn làm rõ quá trình áp dụng các quy định về bào chữa bắt buộc trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đã đạt được những kết quả nhất định, mang lại hiệu quả cho người bị buộc tội. Tuy nhiên, bên cạnh đó, thực tiễn vẫn còn tồn tại những hạn chế, vướng mắc. Nguyên nhân là do các quy định của pháp luật còn thiếu sót, chưa rõ ràng, gây nhiều cách hiểu khác nhau cho việc áp dụng. Nhận thức về bào chữa bắt buộc và năng lực của người tiến hành tố tụng chưa cao. Điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện kĩ thuật vẫn còn thiếu thốn, chưa đảm bảo.

Từ những hạn chế trên, phải đặt ra yêu cầu xây dựng pháp luật, năng lực của người áp dụng để đưa ra những giải pháp bảo đảm áp dụng các quy định về bào chữa bắt buộc theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Luận văn “Bào chữa bắt buộc theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” được thực hiện với mong muốn được góp phần củng cố hệ thống lý luận và đề xuất một số giải pháp đối với những vấn đề chưa hoàn thiện của pháp luật đối với hoạt động bào chữa bắt buộc. Theo đó, những giải pháp được đặt ra để hoàn thiện xây dựng pháp luật như nâng cao quyền hạn của người bào chữa, tạo ra cơ chế tranh tụng thực sự tại phiên tòa, bổ sung quy định chế tài xử lý đối với người tiến hành tố tụng cản trở thực hiện bào chữa bắt buộc. Bên cạnh đó, thường xuyên nâng cao, tập huấn nhận thức và năng lực, trình độ của người tiến hành tố tụng và người bào chữa, đẩy mạnh công tác xã hội hóa việc bào chữa bắt buộc của người bị buộc tội.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 6\LUAT HINH SU VA TO TUNG HINH SU\HOANG THI DIEM MY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *