Các tội phạm về môi trường ở Việt Nam: Tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa

Các tội phạm về môi trường ở Việt Nam: Tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa

Các tội phạm về môi trường ở Việt Nam: Tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, việc bảovệhoạtđộngbình thường củacác cơ quan nhànước làvấn đề quan tâm của hầu hết các nước trên thế giới. Bất cứ quốc gia nào cũng thấy được yếu tố này là cơ sở quan trọng bảo đảm kỷ cương pháp luật, niềm tin của nhân dân vàosựquản lý của Nhà nước; bảovệlợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trong khi đó, toàn thếgiới đang phải đốimặt với tham

nhũng –hiện tượng gây nguy hiểm cho hoạt động bình thường của bộmáy nhànước.Bên cạnh đó, thực tế cũng cho thấy mối quan hệ giữa tham nhũng và tội phạm có tổ chức. Hơn nữa tham nhũng đã phát triển ở phạm vi xuyên quốc gia và quốc tế. Tất cả thực tế này đã và đang gây lo ngại cho các quốc gia trên thế giới. Tình trạng tham nhũng những năm gần đâytiếp tục là vấn đềnóng bỏng gây báo động toàn cầu. Tham nhũng đang trở thành hiện tượng “đe dọa sự ổn định của nền chính trị vàsự phát triển bền vững của các quốc gia.”1 Theo kết quả điều tra của tổ chức Minh bạch quốctế(Transparency International)tạiBản chỉsốtham nhũng thường niên năm 2006,2 từquốc gia xếp thứ44 đến quốc gia xếp thứ161 chỉđạt điểm5 trởxuống trong 10 điểm tối đa về mức độ trong sạch, Việt Nam đạt 2,6điểm và được xếp thứ 111 trong bản chỉ số này. Như vậy, hiện tượng tham nhũng tiếp tục hoành hành ở nhiều quốc gia trên thế giới bất chấp nhiều nỗ lực quốc tế được đưa ra thời gian vừa qua như Công ước chống tham nhũng của Liên Hợp quốc (LHQ) hoặc luật chống tham nhũng và rửa tiền đã được nhiều quốc gia ban hành và áp dụng.

Lúc này các quốc gia cần phải cùng hành động trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng. “Việc ngăn ngừa và xoá bỏ tham nhũng là trách nhiệm của tất cả các quốc gia.”3 Điều này có nghĩa là các quốc gia cần sử dụng những biện pháp đa dạng

1Lời nói đầucủa Công ước chống tham nhũng của Liên Hợp quốc.

2 Xem “The 2006 Transparency International Corruption Perceptions Index” tại http://www.transparency.org. Bảnchỉ số tham nhũng thường niên là thước đo mức độ tham nhũng trong khu vực công của các quốc gia vàcác vùng lãnh thổ khác nhau trênthế giới. Những chỉ số đượcđưa ra dựa trên các báo cáo của các chuyên gia và báo cáo công tác ở các quốc gia này. Điểm đạt được càng thấp chứng tỏ mức độ tham nhũng càng cao.

3Lời nói đầucủa Công ước chống tham nhũng của Liên Hợp quốc.

2

và hiệu quả để phòng ngừa và chống tham nhũng, bao gồm cả sử dụng luật hình sự. Một quan chức của tổchức OECD đã nhấn mạnh, “Các Chính phủcần hiểu rằng tham nhũng đáng bịcoi là tội phạm. Đâylà một điểmđáng được lưu tâm. Các Chính phủ cần xem xét tội phạm hoá hành vi hối lộ vì một lí do rất dễ hiểu đó là sựnguy hiểm vô cùng lớn mà hành vi này gây ra cho xã hội” [Grurría 2006].

TạiViệt Nam, những năm gần đâycác tội phạmvềchức vụcũng đang cónhững diễn biến phức tạp. Chính vì vậy, Nhà nước Việt Nam đã có những động thái thể hiện rõ quyết tâm chống tham nhũng như: ngày 10 tháng 12 năm 2003 kí Công ước chốngtham nhũng của LHQ; ngày 28 tháng 11 năm 2005 ban hành Luật phòng, chống tham nhũng với những nguyên tắc xử lý tham nhũng đã được ghi nhận tại Điều 4 như:kịpthời, nghiêm minh, theo quyđịnhcủapháp luật… Bên cạnhđó,Thủtướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã ban hành Quyết định số30/2006/QĐ-TTg vềviệc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng. Mục tiêu của Chương trình là: khắc phục vàđẩylùi tình trạng tham nhũng đang diễn ra trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội hiện nay, nâng cao ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, các cán bộ, công chức và mỗi công dân vềcông tác phòng, chống tham nhũng.Đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong độingũ cán bộ,công chức cũng như những hành vi tiếp tay cho tiêu cực là điều kiện tiên quyết để duy trì sự trong sạch, vững mạnh của bộ máy nhà nước. Để bảo đảm hoạt động bình thường của các cơ quan, tổchức, Nhà nước Việt Nam kết hợp nhiều biện pháp khác nhau và đã sớm nhận thấy tầm quan trọng của biện pháp TNHS đối với các hành vi nguy hiểm cho xã hội liên quan đến lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

Trongsốnhữngtộiphạmvềchứcvụđang gâyảnhhưởngnghiêm trọngđến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, cáctội phạm về hối lộ hết sức được chú ý. Thời gian gần đây, loại tội phạm này diễn biến khá phức tạp. Một loạt vụ án vềhối lộ hết sức nghiêm trọng đã xảy ra trong thời gian vừa qua liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như thương mại, xây dựng cơ bản, thể thao, bảo vệ pháp luật. Bên cạnh đó, hành vi hối lộ giờ đây đã len lỏi vào cả những lĩnh vực vốn được xem là

3

cao quý như giáo dụcđào tạo, ytế.Thủđoạn phạm tội vềhốilộcũng ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Tội phạm về hối lộ đang làm biến chất một bộ phận cán bộ, công chức nhà nước, khiến nhiều người trong sốhọthayđổi ý thức, quan niệmvềviệc thực thi công vụ. Mặt khác, thực tếthời gian vừa qua cho thấy loại tội phạm nàyđồng thời tạo điều kiện hoặc cơ hội cho việc thực hiện nhiều tội phạm khác nhưbuôn lậu, mua bán trái phép chất ma túy, đánh bạc hoặc dẫn đếnnhiều tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục, y tế. Trong khi đó,hoạt độngáp dụng luật hình sựđấu tranh với các loại tội phạm này đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và còn dừng

lại ở những kết quả khá khiêm tốn. Một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho hoạt động xửlý tội phạmvềhối lộlà do sựthiếu rõ ràng hoặc thiếu hợp lý trong quy định của luật hình sự hiện hành về các tội phạm này. Chính vì vậy, làm sáng tỏcũng như hoàn thiện quy định của luật hìnhsự về các tội phạm về hối lộ sẽ là một hoạt động thiết thực góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống các tội phạm này.

Với mong muốn góp phần vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng và hối lộ, tác giả thực hiện nghiên cứu này nhằm giải quyết những vấn đề về các tội phạm hối lộtừgóc độluật hình sự. Đềtài “Các tội phạmvềhối lộtheo luật hình sựViệt Nam trong sự so sánh với luật hình sự Thụy Điển và Ôt-xtrây-lia”cần thiết được nghiên cứu bởi những cơ sở lý luận và thực tiễn sau đây:

Thứnhất, cũng giống như Thụy Điển, Ôt-xtrây-lia và nhiều quốc gia khác trên thế giới, đối với Việt Nam việc bảo vệ hoạt động bình thường của bộ máy nhànước bằngpháp luật hình sự đãđược chú trọng và được cụ thểhoá bằng việc ban hành các quy phạm pháp luật hình sự về các tội phạm về chức vụ, trong đó có nhóm

tội phạm về hối lộ. Việc tìm hiểu, so sánh chính sách hình sự của ba quốc gia về vấn đề này do vậy là cần thiết và có cơ sở.

Thứ hai, luật hình sự của Việt Nam, Thụy Điển và Ôt-xtrây-lia đều quy định cáctộiphạm vềhốilộ.Bên cạnh những thành côngvềmặtlậppháp, cómộtsốđiểm bấtcậptrong các quyđịnhđócầnphảiđượcphân tích, làm sángtỏvàđặc biệt là cần được hoàn thiện. Đối với Việt Nam, những khó khăn, vướng mắc trong nhận thức cũng như trong thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật hình sự

4

về các tội phạm về hối lộ vẫn chưa được giải quyết triệt để. Từ khi Bộ luật hình sự(BLHS) năm 1999đượcban hành chotớinay chưa có vănbảnnàocủacơ quan nhànướccó thẩm quyềnhướngdẫn việc áp dụng các quyđịnhvềnhóm tộinày một cách thống nhất, chính xác. Đề tài nghiên cứu do vậy sẽ có thể gợi ý một sốnội dung của luật cần được giải thích rõ.

Thứ ba, thời gian gần đây, những hiện tượng nhận hối lộ, đưa hối lộ, môi giới hối lộ cùng với những hậu quả kèm theo của chúng như sự suy thoáivề đạo đức và lối sống, việc thực hiện tội phạm hoặc tạo điều kiện cho một số loại tội phạm khác của một bộ phận cán bộ, công chức diễn biến khá phức tạp và nguy hiểm, gây sự bất bình và mất niềm tin của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy nhà nước. Thực tếđó yêu cầu Nhà nước Việt Nam phải có những hành động kiên quyết và kịp thời. Chính vì vậy, đối với Việt Nam, việc tăng cường những biện pháp đấu tranh phòng, chống các tội phạm này, trong đó có biện pháp TNHS là đòi hỏi khá cấp bách. Tuy nhiên, hiện nay vẫn có một khoảng cách không nhỏ giữa một bên là thực trạng của các hành vi hối lộ với một bên là thực tế điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm về hối lộ. Những vướng mắc trong việc áp dụng luật hình sựxửlý các tội phạm này cần được làm sáng tỏ cũng như giải pháp khắc phục cần sớm được đề ra.

Thứtư, việc nghiên cứu so sánh pháp luật hình sựcủa Việt Nam và một sốquốc gia khác về các tội phạm về hối lộ là một yêu cầu cần thiết và đúng đắn, phùhợp với xu thế hội nhập quốc tế hiện nay. Hoạt động đó sẽ giúp cho Việt Nam tìm hiểu, chọn lọckinh nghiệm hoặc mô hình xây dựng, sửađổi,bổsung và áp dụng luật hình sự về các tội phạm này. Trên cơ sở đó, Việt Nam có thể hoàn thiện những quy định của pháp luật về các tội phạm về hối lộ, từ đó nâng cao hơn nữa hiệu quảcủa công tác đấu tranh phòng, chống hối lộ.

Bên cạnh đó, hiện nay không có công trình nào nghiên cứu riêng các tội phạmvềhối lộtrong luật hình sựViệt Nam hiện hành trong mối quan hệso sánh với pháp luật hình sự của một số quốc gia khác trên thế giới. Nhiều khái niệm cũng như nhiều vấn đềphức tạp có liên quan đếnnhóm tội phạm nguy hiểm này còn chưa được làm sáng tỏ. Như vậy, đềtài nghiên cứu nàysẽlà một sựbổsung cần thiết và có ý nghĩa cho hệ thống lý luận về các tội phạm về hối lộ.

5

Tạisao tácgiảlựachọn luật hìnhsựThụyĐiểnvà Ôt-xtrây-lia là nhữngđối tượng trong nghiên cứu so sánh với luật hình sự Việt Nam? Việt Nam là quốc gia cóhệ thống pháp luật thành văn (thuộc hệ thống Civil Law), trong khi đó, Ôt-xtrây-lia là nướctheohệthống luật ánlệ(Common Law). ThụyĐiểntuy là quốc gia theohệCivil Law song có một điểm khá độc đáo là vẫn coi án lệ là một loại nguồn của pháp luật. Sự khác biệt trên chính là một lý do cuốn hút các nghiên cứu so sánh luật. Bên cạnh đó, Thụy Điển ở Châu Âu và Ôt-xtrây-lia ở ChâuĐại Dươnglà những quốc gia đượcxem là thành công trong công tác chống tham những nói chung và chống tội phạmvềhối lộnói riêng. TrongBảnchỉsốtham nhũng thường niên của Tổchức Minh bạch quốc tế năm 2009, Thụy Điển đạt 9,2 điểm về độ trong sạch xếp thứ 3 vàÔt-xtrây-lia đạt 8,7 điểm xếp thứ 8. Những con số ấn tượng này đã phần nào phản ánh mức độ thành công trong hoạt động phòng, chống tham nhũng của các quốc gia này. Vì vậy, việc tìm hiểu luật hìnhsựvà kinh nghiệm áp dụng luật hìnhsựtrongđấu tranh chống tội phạm về hối lộ của các nước nêu trên là thực sự cần thiết và có ý nghĩa.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra những ý kiến đề xuất để hoàn thiện quy định của luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về hối lộ, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng luật hình sự trong đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này.

Với mục đích nêu trên, đề tài nghiên cứu sẽ giải quyết những nhiệm vụ sau đây:

Thứnhất: nghiêncứuso sánhhệthống quanđiểm,quan niệm khoahọctrên bình diện quốc tế cũng như của các tác giả Việt Nam, Ôt-xtrây-lia và Thụy Điển về các tội phạm về hối lộ, từ đó làm rõ những vấn đề lý luận chung về các tội phạm này; tìm hiểu quan điểm lập pháp của quốc tế về các tội phạm này để khẳng định thêm nền tảng lý luận cho việc nghiên cứu các quy định có liên quan của pháp luật hình sự quốc gia.

Thứ hai: làm sáng tỏ nội dung những quy định hiện hành của pháp luật quốc tế, của luật hình sự Việt Nam, Ôt-xtrây-lia vàThụy Điển về các tội phạm về hối lộtrong sự so sánh để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt, lý giải nguyên nhân của những tương đồng và khác biệt đó; đồng thời phân tích những ưu điểm vàhạn chế của quy định hiện hành về tội phạm về hối lộ trong luật hình sự Việt Nam.

6

Thứ ba: khái quát tình hình các tội phạm về hối lộ ở Việt Nam, Ôt-xtrây-lia và Thụy Điển thời gian gần đây trong mối quan hệ so sánhđể thấy được phần nàohiệu quảáp dụng luật hìnhsựtrongđấutranh với cáctộiphạm này; tìm hiểu, đánh giáthực tiễn áp dụng những quy định của luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về hối lộ.

Cuối cùng, trên cơ sở chỉ ra những hạn chế của luật cũng như những vướng mắc trong quá trình áp dụng luật hình sựViệt Namđồng thời nghiên cứu lý luận luật hình sự, kinh nghiệm lập pháp và kinh nghiệm áp dụng luật hình sự về các tội phạm này của Ôt-xtrây-lia và Thụy Điển, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quyđịnh về các tội phạm về hối lộ của luật hình sự Việt Nam cũng như kiến nghị một sốvấn đề liên quan đến hoạt dụng áp dụng luật đối với các tội phạm này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đềtài là các quan điểmkhoa họcvà những quyđịnh của luật hình sự hiện hành về các tội phạm về hối lộ, những tư liệu thực tiễn cũng như những phán quyết của cơ quan xét xử Việt Nam, Thụy Điển và Ôt-xtrây-lia về nhóm tội phạm này. Ngoài ra, các văn bản pháp lý quốc tế có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu cũng được đề cập, xuất phát từ lí do các quốc gia trong nghiên cứu này đã kí hoặc phê chuẩn các văn bản đó.

Hiện nay nhiều vấn đề liên quan đến các tội phạm về hối lộ đang được quan tâm. Tuy nhiên tác giả chỉ thực hiện luận án này trong phạm vi những vấn đề được nhìn nhận từ góc độ luật hìnhsự. Đề tài được tiếp cận vàđược thực hiện dưới góc độluật hình sựvà so sánh luật, chủyếu trên cơ sởnhững quyđịnh hiện hành của luật hình sự Việt Nam, Thụy Điển và Ôt-xtrây-lia về các tội phạm về hối lộ.

Tình hình nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu4

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và để thực hiện tốt những nhiệm vụ đã đặt ra của đề tài, những phương pháp chung được áp dụng để nghiên cứu là: phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp.

Những phương pháp đặc thù của lĩnh vực luật học cũng sẽđược vận dụng trong việc thực hiện luận án. Trước hết, vì đây là nghiên cứu về quy định của luật nên phương pháp tiếp cận quy phạm sẽđược sửdụng kết hợp với phương pháp pháp lý truyền thống (traditional legal method). Phương pháp pháp lý truyền thống được sửdụng đểhệthống hoá và giải thích những quyđịnhhiện hành, án lệ, văn bản hướng dẫn áp dụng luật cũng như các học thuyết pháp lý của ba quốc gia về các

tội phạmvềhối lộ. Các phương pháp khác đượcsửdụng là phương pháp nghiên cứu luật pháp trong mối quan hệ với triết học, trong mối quan hệ với chính trị hoặc trong mối quan hệ với xã hội học. Các phương pháp nói trên giúp cho việc lý giải sựcần thiết, tính đúngđắnvà hợp lý của việc hình sựhoá các hành vi hối lộvà quyđịnh hình phạt nghiêm khắc với các tội phạm này. Đồng thời, những phương pháp này cũng giúp xác định những hạn chế của pháp luật về các tội phạm này của các quốc gia trong nghiên cứu so sánh. Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu lịch sử pháp luật đôi khi được tác giả sử dụng để thể hiện sự gắn kết và tiếp nối về mặt thời gian của những quy định pháp luật về các tội phạm về hối lộ.

Phương pháp so sánh luật học là phương pháp được sử dụng thường xuyên vàcó tính đặc thù của nghiên cứu này. Khi áp dụng phương pháp này tác giả đã tuân thủnhững yêu cầu như bảo đảmtính chọn lọc, tính khách quan và tính phê phán.

4 Việcmô tảcác phương pháp nghiên cứu được tác giảchủ yếudựa trên công trình của Giáo sư Hans Henrik Lidgard – Khoa Luật,Đại học Tổng hợpLund, Thụy Điển với tiêu đề: “Methods in legal research” năm 2006

trong tài liệu dành cho nghiên cứu sinh khoá 1 – Chương trình hợp tác đàotạogiữa Việt Nam và Thụy Điển.

10

Cách thức so sánh luật cũng được tìm hiểu và áp dụng trong quá trìnhthực hiện đềtài. Thông qua phương pháp so sánh, mức độ vận dụng các Công ước quốc tế có liên quan của luật hình sự Việt Nam đã được thể hiện rõ. Điều quan trọng nữa là sự tương đồng và khác biệt của luật hình sự Việt Nam so với luật của các quốc gia khác cũngđược chỉ ra và được lí giải. Kết quả nghiên cứu so sánh đã được vận dụng cho phần kiến nghị của luận án. Phương pháp này cho thấy không phải tất cả những quy định của pháp luật hình sự hiện hành của quốc gia khác đều đã hoàn hảo và là chuẩn mực để Việt Nam học tập. Việc sử dụng kết quả so sánh không có nghĩa là sao chép tất cả các mô hình lập pháp hình sự của những quốc gia đã được nghiên cứu.5

Phương pháp chuyên gia cũng được tiến hànhđể đemlại cho luận án một sốđánh giá đa chiều và sâu sắc hơn từ những nhà nghiên cứu có chuyên môn sâu hoặc những người làm công tác thực tiễn có kinh nghiệm trong lĩnh vựctội phạm này. Tác giả tiến hành một số phỏng vấn, trao đổi với một số giáo sưđãcó các bài viết bình luận những quyđịnh có liên quan của ThụyĐiển và Ôt-xtrây-lia, đồng thời trao đổi với một sốcán bộlàm việc tại Viện chống tham nhũng của Thụy Điển; Viện Công tốliên bang, Toà án tốicao và Ủyban cảnh sát liêm chính củabang New South Wales, Ôt-xtrây-lia. Nội dung của các cuộc phỏng vấn và trao đổi xoay quanh những vấn đề như nội dung và tinh thần của một số quy định của luật hình sựcác nước vềcác tội phạmvềhối lộ, một sốán lệđiển hình và những vướng mắc trong thực tiễn xét xử, tình hình các tội phạm nàyởcác nước, nguyên nhân của những thành công trong công tác phòng, chống các tội phạm này.

Tác giả luận án cũng đã chú ý đến cách thức khai thác các nguồn tài liệu đểnghiên cứu. Vì đề tài có liên quan đến yếu tố quốc tế, tác giả cố gắng tiếp cận các nguồn tài liệu gốc từ tiếng Anh. Phần lớn thông tin về luật thu được trên cơ sở các văn bản luật, các côngước, báo cáo giải thích các văn bản luật cũng như qua các nghiên cứu và các bài viết có liên quan. Đối với tài liệu có liên quan đến luật hình sựThụy Điển, do sựkhác biệt của ngôn ngữtác giảphải tiếp cậnthông qua bản dịch không chính thức (từtiếng ThụyĐiển sang tiếng Anh) của phần viết có liên

5 Liên quan đến vấn đề so sánh luật hình sự, xem: Đào Lệ Thu, “Vai trò của so sánh luật trong hoạt động lập pháp hình sự của Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 1 năm 2008, các trang từ 54-58.

quan trong cuốn bình luận BLHS của quốc gia này và một số vụ án điển hình. Tuy nhiên tác giả đã tiến hành một số biện pháp để khẳng định tính chân thực và độ tin cậy của bản dịch này như: gặp gỡ giáo sư Madelene Lejonhufvud là người trực tiếp viết phần bình luận đó; trao đổi với giáo sư luật hình sựPer – Ole Traskmän của Khoa Luật, Đại học Tổng hợp Lund về nội dung của luật hình sự Thụy Điển. Bên cạnh đó, thông qua một sốbài viết bằng tiếng Anh và đặc biệt qua các báo cáo chính thức của một số tổ chức quốc tế liên chính phủ, độ tin cậy của các nguồn tài liệu dịch từ tiếng Thụy Điển đã được khẳng định.

Các tội phạm về môi trường ở Việt Nam: Tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa
Các tội phạm về môi trường ở Việt Nam: Tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa

Những kết quả mới của đề tài nghiên cứu

Đâylà một trong những công trình khoa học ởcấp độtiến sĩ tiếp cận một cách toàn diện và tương đối sâu sắc các tội phạm về hối lộ dưới góc độ so sánh luật hình sự. Đề tài nghiên cứu có những đóng góp mới như sau:

1. Khái quát hoá các quan điểm, quan niệm của quốc tế và Việt Nam về các tội phạm về hối lộ. Khái niệm, đặc điểm, các hình thức phổ biến và dấu hiệu pháp lý

của các tội phạm này cũng nhưđường lối xửlý các tội phạm nàyđược nhìn nhận trên cả bình diện quốc tế và quốc gia. Bên cạnh đó, luận án còn khái quát hoá quanđiểm lập pháp của quốc tế về các tội phạm này.

2. Hệ thống hoá các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, Ôt-xtrây-lia vàThụy Điển về các tội phạm về hối lộ trong sự đối chiếu, so sánh. Điều quan trọng làchỉ ra được những điểm hợp lý và những điểm hạn chế của những quy định này.

3. Chỉ ra ảnh hưởng của những hạn chế trong quy định của luật đối với công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm về hối lộ. Đặc biệt, nghiên cứu này đãphân tích một số vấn đề nổi cộm trong thực tiễn áp dụng quy định của luật hình sựViệt Nam về các tội phạm về hối lộ trong mối liên hệ với kinh nghiệm áp dụng luật hình sự đối với các tội phạm này của Ôt-xtrây-lia và Thụy Điển.

4. Đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định của luật hình sự Việt Nam vềcác tội phạm về hối lộ trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm và mô hình lập pháp của Ôt-xtrây-lia và Thụy Điển, đồng thời kiến nghị một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng luật về các tội phạm về hối lộ ở Việt Nam.

12

Kết cấu của luận án

Luận án gồm phần mởđầu, kết luận và bốnchương. Luận án đượckết cấu

một cách hợp lý theo mô hình: cơ sở lý luận – thực tiễn lập pháp: chuẩn mực, kinh

nghiệm và vấn đề của luật hiện hành – thực tiễn áp dụng luật: hạn chế, thiếu sót và

kinh nghiệm – đề xuất giải pháp.

Phần Mở đầu của luận án tập trung vào việc giới thiệu bối cảnh trong đó thểhiện tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài các tội phạm về hối lộ từ góc độ luật hình sự và luật học so sánh. Bên cạnh đó, những vấn đề được chú ý trong phần này là việc xác định đối tượng và những nội dung nghiên cứu, mục đích của nghiên cứu và các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện luận án.

Sau phần Mở đầu, Chương 1 của luận án thể hiện vai trò xuất phát điểm với những vấn đề chung về các tội phạm về hối lộ. Trong Chương 1 chúng tôiđãxây dựng nền tảng lý luận cho việc nghiên cứu các tội phạm này dưới góc độ luật hình sự. Qua nghiên cứu chúng tôinhận thấy một số vấn đề lýluận được nhận thức kháthống nhất như: thứ nhất là quan niệm về các tội phạm về hối lộ với tư cách là một trong các hình thức tham nhũng đang gây lo ngại cho toàn thế giới và khái niệm tội phạm về hối lộ cần được nhận thức theo một cách nhìn hiện đại và theo hướng mởđể phản ánh được một số hìnhthức hối lộ mới như hối lộ trong khu vực tư, hối lộcông chức nước ngoài và đưa, nhận quà có tính vụ lợi; thứ hai là việc hình sự hoácác hình thức hối lộkhông chỉphụthuộc vào bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà còn phụ thuộc vào quan niệm của xã hội đối với hiện tượng đó, vào yếu tố văn hoá và sự cần thiết bảo vệ các quan hệ xã hội bảo đảm cho hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước cũng như bảo đảm cho những lợi ích khác của toàn xã hội; thứ ba là một số yếu tố cấu thành các tội phạm về hối lộ như“chủ thể nhận hối lộ”, “của hối lộ”, “khách thểcủa tội phạmvềhối lộ”, “hành vi khách quan trong CTTP của các tội phạm về hối lộ” v.v… cần được hiểu theo nghĩa rộng để phản ánhđược nhữngquan niệm hiện đại về hối lộ; thứ tưlà quan điểm vềđường lối xử lýcác tội phạmvềhối lộcần linh hoạt đểbảođảmvừa đủnghiêm khắc trong việc ngăn ngừa vàxửlý loại hành vi nguy hiểm cho xã hội này vừa thúc đẩyviệc tự

13

nguyện và chủ động khai báo về tội phạm với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bởi việc tìm ra chứng cứ về các tội phạm này trên thực tế rất khó khăn. Để làm cho cơsở lý luận của nghiên cứu trở nên vững chắc hơn và cũng để kiểm chứng cho những quan điểm lý luận nêu trên, trong chương này chúng tôi cònđề cập tới quan điểm lập pháp đối với các tội phạmvềhối lộđược thểhiện trong các công ước quốc tếnổi bật về vấn đề này với những ví dụ minh họa từ quy định về các tội phạm về hối lộ của một số quốc gia thành viên các công ước. Đây chính là thực tiễn sinh động khẳng định sự hợp lý và đúng đắn của những quan điểm lý luận được phân tích tại phần đầu của Chương 1. Chúng tôi xác định Chương 1 trở thành cơ sở cho những phân tích và luận giải tiếp theo của luận án.

Chương 2 được xác định là một trong những trọng tâm của luận án với nội dung là việc phân tích và so sánh các quy định về các tội phạm về hối lộ trong luật hình sự hiện hành của ba quốc gia: Việt Nam, Thụy Điển và Ôt-xtrây-lia. Nội dung cơ bản của chương này là những phân tích các dấu hiệu pháp lý vàđường lối xử lýđối vớicác tội phạm này cùngvớinhữngkếtluận rút ratừcác phân tích so sánh quy định của luật hình sự ba quốc gia. Phân tích so sánh cho thấy luật hình sự của các quốc gia này khá tương đồng trong việc quy định nhiều vấn đề về các tội phạm về hối lộ. Bên cạnh đó luận án cũng đã xem xét sự phù hợp của những quy định vềcác tội phạm về hối lộ trong luật của ba quốc gia với hệ thống những quan điểm lýluận đã được xây dựng tại Chương 1 và sự tương thích của chúng với quy định của các công ước quốc tế có liên quan. Một mặt những quan niệm về các tội phạm nàyđượcđem rađểđốichiếu trong quá trình phân tích luật,mặtkhác việc phân tích luật thực địnhtại chương nàylạilàsựkiểm chứng cho những quanđiểm lý luận và những giả thiết khoa học được đưa ra tại Chương 1. Qua phân tích các quy định của luật hình sự ba quốc gia về các tội phạm này chúng tôi nhận thấy nội dung của các quyđịnhnàyhầunhư phản ánh đúng những luậnđiểm đãđượcđềcậptại Chương 1. Các quyđịnhnày cũng phản ánh việcnộiluật hoá những chuẩn mực pháp luật hìnhsựvềcáctộiphạm vềhốilộđượcxây dựng trong các côngước quốctếđã được thực hiện ởmứcđộkhá đầyđủ.Cóthểkhẳng địnhrằng những

14

yêucầuvà khuyến nghịcủacác côngước quốctếvềnhữngyếutốcủacác tội phạm này như khái niệm công chức, khái niệm của hối lộ, khái niệm người thứ ba

được lợi, v.v… hoặc về hình phạt đối với các tội phạm này hầu như đã được luật hình sự của ba quốc gia phản ánh.

Trong Chương 3, những vấn đề thực tiễn về các tội phạm về hối lộ đã được đề cập và phân tích. Những vấn đề đầu tiên có liên quan đến tình hình cũng như một số nguyên nhân cơ bản của các tội phạm này ở ba quốc gia. Chúng tôi muốn thông qua những vấn đềnàyđểlàm sáng tỏphần nào vai trò và hiệu quảcủa pháp luật hình sự trong cuộc đấu tranh chống các tội phạm về hối lộ. Bức tranh toàn cảnh vềtình hình các tội phạmvềhối lộcũng là sựkhẳng định cho việc cần thiết phải sửdụng luật hình sự (một cách hiệu quả hơn). Những phân tích và những nghiên cứu thực nghiệm cho thấy mức độ xử lý các tội phạm về hối lộ bằng pháp luật hình sựcòn khá thấp so với diễn biến thực tế của các tội phạm này. Tội phạm về hối lộ ẩn là hiện tượng tồn tại ở cả ba quốc gia trong nghiên cứu so sánh này. Ở những mức độkhác nhau cả ba quốc gia đều phải đối mặt với một yếu tố có thể coi là nguyên nhân của các tội phạmvềhối lộđó làsựthực thi chưa hiệuquảcác quyđịnhcủa luật hình sự về các tội phạm này. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của việc thực thi này là những hạn chế trong chính các quy định này.

Chương 3 cũng đề cập đến những vấn đề của thực tiễn áp dụng luật đối với các tội phạm về hối lộ của Việt Nam trong sự so sánh với kinh nghiệm áp dụng luật của các quốc gia Thụy Điển và Ôt-xtrây-lia. Trước hết có thể nói việc áp dụng luật hình sự đấu tranh với các tội phạm về hối lộ ở cả ba quốc gia đã đạt được những kết quảnhất định. Tuy nhiên các cơ quan tiến hành tốtụng trong đó có Toà án gặp không ít khó khăn cũng như thể hiện những hạn chế trong công tác áp dụng luật đối với các tội phạm này. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến những khókhăn và hạn chếđólà những nhược điểmcủa các quyđịnh củaluật hình sựvềnhóm tội phạm này. Một lần nữa, hậu quả của những nhược điểm của luật lại được chứng minh. Việc nhìn nhận đúng những hạn chế trong quy định của luật cũng nhưtrong thực tiễn áp dụng các quy định này và việc xem xét kinh nghiệm áp dụng luật

15

của các quốc gia khác có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện luật và cải thiện hiệu quả áp dụng luật về các tội phạm về hối lộ.

Trên cơ sở các phân tích, luận giải và kết quả nghiên cứu so sánh của những chương trước, Chương 4 của luận án đưa ra những kiến nghị đối với các quy định của BLHS Việt Nam về các tội phạm về hối lộ và việc áp dụng các quy định này. Trước khi đi vào các kiến nghị cụ thể, chúng tôi đã đưa ra những nguyên tắc mang tínhđịnhhướngcho việcđềxuất các mô hình và các giải pháp.Tạichương này chúng tôi đã đưa ra những kiến nghị đối với quy định về các tội phạm về hối lộ và việc áp dụng luật hình sự xử lý các tội phạm này một cách có hệ thống và tươngđốitoàn diện. Những kiến nghị nàyvừadựatrên những luậnđiểm khoahọcđãđượcthừa nhận chungvừacó cơsởlà những khuyến nghịlậpphápcủanhững công ước quốc tế điển hình về các tội phạm này. Đồng thời, những kiến nghị đưa ra cũng phù hợp với yêu cầu thực tế của luật hình sự và thực tiễn áp dụng luật ởViệt Nam hiện nay.

Cuối cùng luận ánđược kếtthúc bằng một sốkết luận chung cho toàn bộnghiên cứu.

16

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁCTỘI PHẠM VỀ HỐI LỘ

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TỘI PHẠM VỀ HỐI LỘ1.1.1. Khái niệm tội phạm về hối lộ

Trung tâm của nghiên cứu này là khái niệm tội phạm về hối lộ. Tuy nhiên, đểcó những phân tích sâu về các khía cạnh khác nhau của khái niệm này, hối lộ theo nghĩa rộng – một hiện tượng xã hội tiêu cực – cần được bàn luận ít nhiều. Khái niệm hối lộtừlâu đã trởthành đối tượng củanhiều nghiên cứu vềxã hội học [Noonan 1984; Michell 1996; Rose-Ackerman 1999; Kidd và Richter 2003], kinh tếhọc [Arvis và Berenbeim 2003; Lambsdorff 2007], tội phạm học [Van Duyne 1996; Reid 2000; Trần Công Phàn 2004; Green 2006] và khoa học luật hình sự [Lanham 1987; Võ Khánh Vinh 1996; Bogdan 2002; Đinh Văn Quế 2006]. Thực tế cho thấy hiện tượng hối lộ thường được nghiên cứu từ khía cạnh đạo đức, chính trị, kinh tếvà pháp lý. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này tiếp cận hối lộ từ một khái niệm rộng hơn là khái niệm tham nhũng.

Vậyhai khái niệm này có điểm gì khác biệt và chúng có mối quan hệvới nhau như thế nào? Nghiên cứu cho thấy hối lộ được các học giả nước ngoài coi làmột biểu hiện của tham nhũng và là biểu hiện rõ nét nhất và cũng nguy hiểm nhất. Thậm chí ở một số nghiên cứu khái niệm tham nhũng và khái niệm hối lộ hầu nhưđã được đồng nhất, nóiđến tham nhũng là nói đến hối lộ [Van Duyne 1996; Rose- Ackerman 1999; Heidenheimer 1998]. Tuy nhiên, nhìn chung tham nhũng được nhận thức là khái niệm rộng hơn và bao hàm khái niệm hối lộ. Kiểu định nghĩa tham nhũng được thừa nhận rộng rãi nhất vàđược viện dẫn nhiều nhất là những định nghĩa quy tham nhũng cho tất cả những hành vi lạm dụng quyền lực công để tư

lợi [Nye 1967; Della Porta và Vannucci 1999, Trần Công Phàn 2004]. Từgóc độluật hình sự, tham nhũng được cho là bao gồm các hành vi đưa, nhận hối lộ và một số loại hành vi khác như tham ô tài sản, lợi dụng chức trách cưỡng đoạt tài sản, lợi dụng chức trách lừa đảo chiếm đoạttài sản, lạm dụng chức trách công v.v… [Nye

17

1967, tr.966;Bộ Tưpháp Hoa Kì].6 Nhưvậy hối lộ được hiểu làmột dạng của tham nhũng. Một sốtác giảkhác chia sẻquan điểmnày khi cho rằng tham nhũng bao gồmhối lộvà nhiều dạng hành vi khác [Johnson và Sharma 2004] hoặc cho rằng hối lộ là một trong những hình thức tham nhũng rõ nét và hiển nhiên nhất

[Andersson 2002, tr.51].

Trong nhiên cứu của các tác giảViệt Nam, nhận thức vềkhái niệm tham nhũng dường như không khác biệt nhiều so với những quan điểm nêu trên. Tác giảTrần Công Phàn tổng kết trong nghiên cứu của mình về tội phạm tham nhũng rằng hiện tượng xã hội tiêu cực này đã được tiếp cận từ góc độ đạo đức, kinh tế và nhànước – pháp luật và cho rằng khái niệm tham nhũng xét dưới khía cạnh nhà nước – pháp luật là hành vi lợi dụng chức quyền để vụ lợi cá nhân [Trần Công Phàn 2004, tr.8]. Tuy nhiên, phần lớn tác giả Việt Nam khi xem xét đồng thời hai khái niệm này cho rằng đây là những khái niệm độc lập, mặc dù chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tham nhũng được cho là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn; còn hối lộlại bao gồmcảhành vi của người có chức vụquyền hạn, như hành vi nhận hối lộ vàhành vi của người không có chức vụ, quyền hạn, như hành vi đưa hối lộ, hành vi làm môi giới hối lộ[Võ Khánh Vinh 1996; Trần Công Phàn 2004; Đinh Văn Quế 2006, v.v…]. Theo cách nhìn nhận này chỉ hành vi nhận hối lộ được coi là một dạng của tham nhũng. Như vậy, theo quan niệm của các tác giả Việt Nam, khái niệm tham nhũng không hoàn toàn bao hàm khái niệm hối lộ.

Bản chất của hối lộ có thể được nhận thức từ nhiều góc độ khác nhau. Từ gócđộ xã hội, hối lộ có thể được xem là một hình thức biến tướng của việc đền đáp, trảơn. “Hối lộ là một kiểu đền đáp. Cuộc sống của loài người tràn ngập những sự trảơn. Một sốsựđền đáp bịxem là hối lộtrong từng nền văn hoá cụthể, được phân biệt với các trường hợp khác bởi sựcốý, bởi hình thức và hoàn cảnh cụthể” [Nonan 1984, tr.xiii]. Như vậy, hối lộcó thểđược xem là hiện tượng xã hội tiêu cực, là sựlạmdụng những truyền thống tốt đẹp của xã hội loài người, như truyền

6 Về quan điểm của Bộ Tư pháp Hoa Kì xem: Sourcebook of criminal justice statistics tại website http://www.albany.edu/sourcebook.

18

thống tặng quà, truyền thống đền đáp ơn nghĩa. Tính chất sai trái của hối lộ có thểkhông được nhận thức hoặc được nhận thức ở mức độ khác nhau tùy thuộc vào từng

xã hội. Sự nhận thức đó chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi yếu tố văn hoá– xãhội và sauđó lại ảnh hưởng ít nhiều đến việc xác định tính chất nguy hiểm cho xã hội của hiện tượng hối lộ. Đây cũng là điều cần lưu ý đối với các nhà làm luật khi quy định tội phạm về hối lộ. Cũng bàn về tính trái đạo đức của hối lộ, Green đã đưa ra một luận điểm được ông gọi là “thuyết về sự phản bội”, theo đó người nhận hối lộ bị coi là đãphản bội lại những cử tri của mình và phản bội lại những lý tưởng của nghề nghiệp của mình, kể cả trong trường hợp nhận hối lộ để làm một việc đúng chức trách hoặc pháp luật [Green 2006, tr.203-211]. Cũng với quan điểm như trên, một tác giả khác cho rằng“hối lộ nên được nhận dạng bởi một đặc tính rất đángbị phê phán của nólà một sự phản bội lại sự tín nhiệm” [Alatas 1999, tr.7]. Nhưvậy, từ góc độ đạo đức xã hội, bản chất xấu xa của hối lộ chính là biện giải đầu tiên cho sự cần thiết phải sửdụng pháp luật đấu tranh với hiện tượng này.

Từ góc độ chính trị, “hối lộ là một trong những loại bổng lộc của quyền lực và là một hình thức trao đổi chung giữa quyền lực và sự giàu có” [Reisman 1979, tr.39]. Lúc này hối lộ mang bản chất chính trị sâu sắc, là tặng phẩm tiêu cực của quyền lực và thể hiện mặt trái của sự phân tầng xã hội. Thông qua hối lộ quyền lực tạo ra tiền bạc và ngược lại tiền bạc cóthểmuađượcquyền lực. Hối lộ trở thành công cụ tìm kiếm và duy trì quyền lực chính trị, đồng thời tạo ra sự bất công trong xã hội. Tác giảAndersson [2002, tr.4] lên án hiện tượng hối lộ vì cho rằng nó làm mất niềm tin của công chúngđối với cảcác chính trịgia và hệthống chính trị. Khi chúng ta nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi hối lộ đối với hệ thống chính trị, sự cần thiết phải xử lý loại hành vi này bằng pháp luật hình sự trở nên rõ ràng hơn.

Từ góc độ hành chính – nhà nước, hối lộ được các học giả cũng như hầu hết các quốc gia nhận thức chung làmộtloại hành vi tham nhũng.Hốilộlà những hành vi có xu hướng xảy ra nhiều tại những nơi thiếu sự minh bạch và thiếu sự tôn trọng các quy tắc đạo đức, đồng thời tác động trở lại làm cho bộ máy nhà nước trởnên quan liêu, thiếu minh bạch, trì trệ.Hốilộcũnghủyhoạiđạođứcvà trách

19

nhiệm của những người thực thi chức trách, làm mất lòng tin của công chúng vào hoạt động công vụ. Như một tác giả đã nhận định: “Nơi nào tồn tại hiện tượng hối lộ có hệ thống của một số công chức nơi đó sẽ có xu hướng hoạt động kém hiệu quả và đạo đức của cácnhân viên trở nên xuống cấp” [Van Duyne 1996, tr.163]. Từgócđộnghiêncứunày,bảnchấtcủahốilộbiện giải cho hiệntượngcác tội phạm vềhốilộthườngđượcxếpvào nhóm tộixâm phạm hoạtđộnghành chính công hoặc tội phạm về công vụ.

Về mặt pháp lý, qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy theo pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới hối lộ bị xem là một sự trao đổi lợi ích bất hợp pháp hai chiều.Sựtraođổi đóđượcthực hiện thông qua việc bênđưahốilộsửdụng những lợi ích không chính đáng để đổi lấy việc bên nhận hối lộ làm theo yêu cầu của mình. Ngược lại bên nhận hối lộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao thỏa mãn những mục đích cá nhân của người đưa hối lộ để đổi lấy của hối lộ. Hối lộ bịxem là bất hợp pháp xuất phát từ chỗ nó là việc đạt được lợi ích cá nhân trên cơ sở

lợi dụng quyền lực công.

Qua tìm hiểu quan điểmcủa các tác giảvềbản chất của hiện tượng hối lộ, chúng tôi nhận thấy một điểmchung là cho dù được nhận thức từbất kì phương diện nào hối lộ vẫn luôn thể hiện bản chất của một hiện tượng tiêu cực, phi đạo đức và gâyrấtnhiều tác động xấu tới đời sống xã hội. Tính chất tiêu cực của hối lộchính là sự luận giải hợp lý nhất cho sự cần thiết phải quy định những hành vi này là tội phạm và quy định việc xử lý hình sự nghiêm khắc. Việc tội phạm hoá những hành vi này cần bảo đảm bản chất nêu trên của hối lộ được thể hiện rõ nét và xã hội không còn hiểu nhầm về tính chất nguy hiểm cho xã hội của chúng.

Tác giảluận án cho rằng định nghĩa hối lộnên được xây dựng và luận bàn trước khi tìm hiểu khái niệm tội phạm về hối lộ. Khái niệm hối lộ cóthể được định nghĩa không giống nhau, tùy thuộc vào tiêu chí được đưa ra cũng như lĩnh vực mà trong đó hiện tượng nàyđược đặt vào đểnghiên cứu. Qua nghiên cứu, tác giảtìm hiểu được một sốkiểu định nghĩa vềhối lộphổbiến. Kiểu địnhnghĩa thứnhất mang tính đơn giản và khái quát. Ví dụ như theo một nhà nghiên cứu, “hối lộ là sự

20

tặng cho một lợi ích đểtạo một ảnh hưởng không chính đáng tới một hànhđộng hoặc một quyết định” [Langseth 2006, tr.10]. Tương tựnhư vậy, một định nghĩa ngắn gọn khác vềhối lộcũng được đưa ra, theo đó “Hối lộlà việc yêu cầu hoặc nhận một loại lợi ích tư để bỏ qua việc thực hiện một trách nhiệm cụ thể” [Reisman 1979, tr.2]. Đây có thể xem như những định nghĩa về hối lộ ở bình diện chung nhất. Những định nghĩa này đã phản ánh được phần nào bản chất của hiện tượng hối lộ vàkhông giới hạn hiện tượng này trong bất kì một lĩnh vực nào của đời sống xã hội. Tuy nhiên những định nghĩa này có chung một nhược điểm là không mô tả đầy đủcác dạng hành vi đưa và nhận hối lộcũng như không thểhiện được đặc điểmcủa chủ thể thực hiện hành vi hối lộ. Như vậy là những định nghĩa quá đơn giản chưa thể phản ánh đầy đủ bản chất của một hiện tượng phức tạp.

Tính phức tạp và hai chiều của hiện tượng hối lộ đã trở thành khó khăn đối với các nhà khoa học khi định nghĩa hiện tượng này. Chính vì vậy, một sốđịnh nghĩa được đưa ra dưới hình thức hơi đặc biệt và có thể xem là kiểu định nghĩa thứhai về hối lộ. Ví dụ như tác giả Green đã giới thiệu một định nghĩa theo ông là cái “khung” cho việc xây dựng một định nghĩa hoàn thiện như sau: X (người nhận hối lộ) bị hối lộ bởi Y (người đưa hối lộ) nếu và chỉ nếu: (1) X chấp nhận, hoặc đồng ýsẽ nhận những thứ có giá trị từ Y; (2) đổi lấy việc X làm hoặc đồng ý làm một việc vì một vài lợi ích của Y; thông qua sự vi phạm một số trách nhiệm X phải thực hiện một cách trung thành do vị trí công tác, do công việc hoặc do sự liên quan của X tới một số công việc nhất định [Green 2006, tr.194]. Định nghĩa này giống nhưsự mô

tả diễn biến cũng như những yếu tố nổi bật của hiện tượng hối lộ. Sự mô tả khá chi tiết và đầy đủ này đã thể hiện được hành vi và mối quan hệ giữa người đưa và người nhận hối lộ, những lợi ích hai bên đạt được từ mối quan hệ này và đặc điểm có liên quan đến quyền hạn của người nhận hối lộ. Ngoài ra, định nghĩa đã không đặtra một giới hạn nàođối với chủ thể nhận hối lộ, từ đó có thể hiểu địnhnghĩa này bao trùm hiện tượng hối lộ trong cả hai khu vực công và tư. Nhược điểm của định nghĩa này là sự thiếu khái quát. Tương tự như cách đó tác giả Senior cho rằng “định nghĩa bao gồm năm điều kiện cần phải đồng thời được thỏa mãn. Hối lộ xảy ra khi người

21

đưa hối lộ (1) lén lút đưa (2) một lợi ích cho người nhận hối lộ hoặc cho người khácđể gây ảnh hưởng đối với (4) những hoạt động mà người nhận hối lộ có quyền lực để thực hiện (5) nhằm đem lại lợi ích cho người đưa hối lộ hoặc một người khác” [Senior 2006, tr.27]. Hạn chế của định nghĩa này là không phản ánh rõ nét hành vi nhận hối lộ. Hơn nữa định nghĩachứa đựngmột yêu cầu không hợp lý và thiếu thực tế về tính chất của hành vi hối lộ là tính lén lút. Trong những phân tích về khía cạnh thực tiễn của tội phạm hối lộ chúng tôi sẽ chỉ rõ sự bất hợp lý này. Kiểu định nghĩa hối lộ thứ hai nêu trên phản ánh một thực tế là việc xây dựng định nghĩa theo cách thông thường đểthểhiện bản chất của hiện tượng hối lộlà điều không đơn giản. Tuy còn những hạn chế song nhữngđịnhnghĩa này vẫn giúp cho việc hiểu thêm vềbản chất của hối lộ – hiện tượng trao đổi lợi ích rất phức tạp và nguy hiểm.

Phản ánh hiện tượng hối lộ trong lĩnh vực công, tổ chức OECD quan niệm “hối lộ là hành vi mời hối lộ, hứa đưa hoặc đưa của hối lộ để gâyảnh hưởnglên hoạt động thực thi công vụ của người công chức” [OECD Observer 2000]. Đây làmột định nghĩa đơn giản và chỉ mô tả hành vi đưa hối lộ – một mặt của hiện tượng hốilộ.Mộtđịnhnghĩa tươngtựcũngđượcđưara trongmộttài liệucủatổchức OECD nhằm tăng cường sự hiểu biết về hiện tượng hối lộ [OECD Bribery Awareness Handbook]. Ngược lại có tác giả định nghĩa hối lộ chỉ trên cơ sở hành vi nhậnhốilộkhi cho rằng“mộtcông chứcbịcoi làhốilộkhi anh ta nhận tiền hoặc những thứ trị giá được thành tiền để làm một việc mà theo trách nhiệm anh ta phải làm dù trong bấtkì hoàn cảnh nào, hoặc một việc anh ta không được làm”

[McMullan 1961, tr.4].

Những định nghĩa được phân tích ở trên dù nhìn nhận hối lộ dưới bất kì góc độ nào đã ít nhiều phản ánh tính chất sai trái cũng như một số đặc điểm chung của hiện tượng này. Đây có thể xem là cơ sở lý luận cho việc xây dựng định nghĩa pháp lý về tội phạm hối lộ trong phần tiếp theo của luận án. Tuy nhiên, những định nghĩa vềhối lộnêu trên chủyếu phản ánh hiện tượngnày trên bình diện chung hoặc từgóc độ hành chính-nhà nước. Tính chất pháp lý của hiện tượng chưa được phản ánh rõ nét trong định nghĩa. Chúng tôi cho rằng việc xây dựng một khái niệm hối lộ về

22

mặtpháp lý phải phản ánh được tính chất bất hợpphápcủaviệc trao đổilợiích không chính đáng giữa một bên làngườicó chức vụ,quyềnhạnvới một bên làngười có nhu cầu cần giải quyết thông qua hoạt động thực thi chức trách của người có chức vụ, quyền hạn đó. Định nghĩa hối lộ phải thể hiện được việc đưa và nhận lợi ích không chính đáng này gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động thực thi chức trách và do đó trở thành những hành vi bị pháp luật cấm.

Dướigócđộpháp lý, có tácgiảđãnhận định“Hốilộkhiđược nhìn nhận nhưmộtkhái niệm pháp lý,vớicácđạoluật và các quyđịnhđượcvậndụng bởi các công tố viên và các thẩm phán, là để xác định cái gì cấu thành nên một hành vi phạm tội” [Mitchell 1996, tr.xiii]. Theo quan điểm của tác giả này khi hiện tượng hối lộ được định nghĩavề mặt pháp lý thì đó chính là định nghĩa tội phạm về hối lộ, là sự mô tả các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm này. Như vậy từ góc độnghiêncứunàyhốilộluônbịxem làtộiphạm khôngkểnó cómứcđộnguy hiểm cho xã hội như thế nào. Cơ quan chống tham nhũng độc lập của bang NSW,Ôt-xtrây-lia (ICAC) cũng có quan điểm tương tự khi đưa ra công thức “hối lộ = tội phạm” trên trang web của mình.7

Từ góc độ pháp lý hình sự, khái niệm tội phạm về hối lộ cũng thường được tiếp cận bởi những nghiên cứu chung vềnhóm tội phạmvềtham nhũng [Nicholls 2006; Trần Công Phàn 2004], hoặc về nhóm tội phạm về chức vụ [Võ Khánh Vinh 1996; Đinh Văn Quế2006], hoặc nhóm tội xâm phạm hoạt động của cơ quan nhànước [Reid 2000]. Khái niệm và những đặc điểm pháp lý hình sự riêng của tội phạm vềhối lộchưa thực sựđược quan tâm nghiên cứu đầyđủvà sâu sắc. Tuy nhiên cũng cần ghi nhận rằnghối lộ với tưcách là những hành vi nguy hiểm cho xã hội bịquy địnhlà tội phạm đã được cácnhà khoa học luật hình sự đề cập ở mức độ nhất định. Một vài định nghĩa đã phản ánh đượcmột sốđặc điểmquan trọng của tội phạm hối lộ. Một nhà nghiên cứu luật hình sựvà tội phạm học của Hoa Kì định nghĩa hối lộ là “hành vi đưa tiền, hàng hoá, dịch vụ, thông tin, hoặc bất kì một thứcó giá trị nào với mục đích gây ảnh hưởng đối với các công chức để họ hành động

7 Xem tại website http://www.icac.nsw.gov.au.

23

theo một cách cụ thể nào đó” [Reid 2000, tr.255]. Thực chất đây chỉ là định nghĩa về hành vi đưa hối lộ. Tiếp theo tác giả này đã bổ sung rằng “khái niệm hối lộ hiện đại bao gồm tất cả việc trao hoặc nhận tự nguyện bất kì một thứ có giá trị nào, dưới hình thức tham nhũng, cho việc mà người công chức đã làm hoặc sẽ làm, hoặc với ýđịnh gây ảnhhưởngtới người công chức hoặc bất kì người nào có liên quan tới các hoạt động hành chính công” [Reid 2000, tr.155]. Việc tác giả sử dụng tính từ “tham nhũng” ởđâyđã phản ánh tính chất sai trái của hành vi hối lộ. Bên cạnh đó, định nghĩa đã thểhiện mộtđặc điểmgiúp phân biệt hành vi hối lộvới hành vi cưỡng đoạt tài sản bằng thủ đoạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn, đó là dấu hiệu “tự nguyện” của hành vi hối lộ. Đây là vấn đề đang được quan tâm và gây nhiều tranh luận trong giới học giả cũng như trong thực tiễn áp dụng luật hình sự của Hoa Kì. Có thể nóiđịnh nghĩa nêu trên của Reid khá rõ ràng, phản ánh được những dấu hiệu về chủ thểnhận hối lộ, về của hối lộ, về tính chất của hành vi hối lộ. Một điểm dễ được nhận ra là định nghĩa này giới hạn hành vi hối lộ chỉ trong khu vực công. Tương tự nhưvậy là một số định nghĩa được thừa nhận trong luật hình sự của Ôt-xtrây-lia. Theo quan điểm từluật án lệ“hốilộlà hành vi nhận bởihoặc đưa bất kì mộtlợiích không chính đáng nào cho bất kì người nào làm việc trong cơ quan công quyền đểgây ảnh hưởng tới hoạt động côngvụ của người đó hoặc để thúcđẩy người đó hành động trái với các quy tắc vềsựtrung thực và liêm chính” [Russell 1964, tr.381]. Bên cạnh đó, theo quan điểm của Ủy ban tư vấn xây dựng BLHS mẫu của Ôt-xtrây-lia, “hối lộ là việc đưa tiền hoặc các lợi ích khác cho các công chức để thúc đẩy họ xa

rời khỏi trách nhiệm công củahọ” [MCCOC 1995, tr.235]. Ủy banđộc lậpchống tham nhũng của bang NSW trên trang web của mình cho rằng tội phạm hối lộlàhành vi đưa cho hoặc nhận bởi những công chức của chính quyền tiền hoặc các loại quà để đạt được một lợi ích hoặc một sự ưu đãi.8

Các định nghĩa mang tính truyền thống nêu trên đang chịu những phê phán nhất định. Trước hết, chúng đều có chung một nhược điểm là chỉ giới hạn tội phạm về hối lộ trong khu vực công, trong khi rõ ràng loại tội phạm này có thể xảy ra cả

8 Xem tại website http://www.icac.nsw.gov.au.

24

trong khu vực tư [Senior 2006, tr.21]. Nhược điểmthứhai của những định nghĩa này là không phản ánh được những hoàn cảnh trong đó mục đích của hành vi lợi dụng công vụ là để đem lại lợi ích của bên thứ ba nào đó, ví dụ như đảng phái chính trị, mà không phải là người công chức [Gardiner 1993: 22]. Cá nhân tác giả luận án cũng nhận thấy những nhược điểm nêu trên. Theo chúng tôi, định nghĩa tội phạm vềhối lộ được đưa ra ở thời kì này phải phản ánh được những đặc điểm của hối lộ mới phát sinh trong xã hội hiện đại.

Nghiên cứu một loạt văn bản luật có liên quan đến hối lộcũng như những bình luận khoa học luật hình sự về tội phạm hối lộ tác giả nhận thấy không có một định nghĩa về hối lộ nào được chấp nhận chung tại tất cả các quốc gia. Mỗi quốc giađều có định nghĩa pháp lý riêng về hối lộ. Đồng thời không có định nghĩa chung vềhành vi hối lộ mà là các định nghĩa riêng biệt về từng tội phạm hối lộ cụ thể trong luật thành văn của các quốc gia. Trong một nghiên cứu của mình tác giả Langseth đã tổng kết rằng khi hối lộ được định nghĩa bằng các thuật ngữ của luật hình sự thìhiện tượng này thường được định nghĩa thông qua hai khái niệm “hối lộ chủ động” và “hối lộ thụ động”. Theo tác giả này, “hối lộ chủ động” thường được dùng để chỉhành vi mời hoặc đưa của hối lộ, trong khi “hối lộ thụ động” thường để chỉ hành vi nhận của hối lộ[Langseth 2006, tr.9]. Tương tựnhư cách tiếp cận trên, một nhànghiên cứu khác đưa ra định nghĩa mang tính mô tả như sau:

Đưa hối lộ xảy ra khi các cá nhân tìm cách tácđộngtới những người cóchức vụ làm cho họ sử dụng những quyền lực chính thức của họ hoặc thực hiện những chức năng công của họ để thỏa mãn một cách bất hợp pháp những mục đích riêng của các cá nhân đó. Nhận hối lộ xảy ra khi những người có chức vụtìm cách sử dụng vị trí công tác và quyền lực của mình để đạt được một cách bất hợp pháp những lợi ích từ người khác [Schwartz 2004, tr.185].

Những nhận định cũng như định nghĩa của các tác giả nêu trên cho thấy việc xây dựng định nghĩa hối lộ về mặt pháp lý khó có thể thực hiện trên cơ sở gộp cảhành vi đưa hối lộ và nhận hối lộ thành một khái niệm chung. Cá nhân tác giả luận án cũng nhận thấy khó khăn này, vì định nghĩa tội phạm về hối lộ đòi hỏi phải hết

25

sức chặt chẽ, bảo đảm sựrõ ràng và phản ánh được đầyđủnhững dấu hiệu đặc trưng cho đối tượng; trong khiđóhối lộ lại làhiện tượng với hai mặt: hành vi đưa và hành vi nhận hối lộ, mỗi mặt lại có một vài đặc điểm riêng nhất định.

Để có thể xây dựng một định nghĩa tội phạm về hối lộđáp ứng được tươngđối những yêu cầu trên, chúng tôi thấy trước hết cần chỉra những đặc điểmriêng của nhóm tội phạm này.Từgóc độluật hình sự, tội phạmvềhối lộcó thểđược nhận diện bởi một số đặc điểm nổi bật. Thứ nhất, trong quan hệ hối lộ luôn tồn tại hai chủthểcó liên quan hoặc chịu tác động của hoạt động hối lộlà người đưa và người nhận hối lộ (hoặc người được hối lộ). Một bên chủ thể có nhu cầu giải quyết một việc nhất định thông qua trao đổi lợi ích một cách không chính đáng với một bên chủ thể khác có quyền trong việc giải quyết nhu cầu của bên kia. Sự có mặt của các chủthểnày là điều kiện tiên quyết cho hành vi hối lộđược thực hiện và đặc điểm của họ cần được phản ánhtrongđịnhnghĩa tội phạm hối lộ. Thứ hai, hành vi hối lộ là sử dụnglợi ích để tác động lên việc thực thi chức vụ, quyền hạn của người khác vàlợidụng chức vụ, quyền hạn thu lợibất chính đểthỏa mãn nhu cầu của người khác bằng việc thực thi chức trách. Thứ ba, lợi ích được bên đưa trao cho bên nhận là yếu tố không thể thiếu trong mối quan hệ hối lộ. Lợi ích này chính là một yếu tố thểhiện rõ tính chất không chính đáng của hành vi hối lộ. Sẽ không thể cóhành vi hối lộnếu không có sựtồn tại của “của hốilộ” với tư cách là thứlợi íchđược dùngđể trao đổi một cách bất chính với việc thực thi chức trách của người cóchức vụ, quyền hạn. Thứ tư, hối lộ là những hành vi được thực hiện một cách cố ý, kểcảđối với trường hợp đưa hối lộdo bịđòi hối lộhay nhận hối lộdo bịmua chuộc; bởi đây đều là những trường hợp hành vi được thực hiện bởi quyết định của bản thân chủ thể, là kết quả hoạt động ý chí của chủ thể. Thứ năm, tội phạm về hối lộ phải là những hành vi bị quy định trong luật hình sự. Nói một cách khác đây lànhững hành vi bịluật (thành văn hoặc án lệ)coi là tội phạm. Đặc điểmnày cũng chính là một biểu hiện của nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự.

Trên cơ sở tham khảo các nghiên cứu khác về tội phạm hối lộ cũng như xem xét đặc điểm pháp lý hình sự của nhóm tội phạm này, chúng tôi xây dựng một định

26

nghĩa như sau: các tội phạm về hối lộ là những hành vi đưa hoặc mời nhận; nhận hoặc đòi hỏi;hoặc tạo điều kiện cho việc đưa, nhận lợi ích dưới bất kì hình thức nào cho hoặc/và bởi người có chức vụ, quyền hạn để gây ảnh hưởngnhất định đến hoạt động thực thi chức trách của người có chức vụ, quyền hạn một cách cốý và trái pháp luật hình sự. Một số ưu điểm của định nghĩa này có thể được nhận ra như sau:

thứ nhất, định nghĩa bao hàm hành vi hối lộcả trong khu vực công và tư; thứ hai, những hành viđược môtảtrongđịnhnghĩa này bao gồmcảhành vi đưahốilộ, nhận hối lộ và làm môi giới hối lộ; thứ ba, những dấu hiệu đặc trưng của nhóm tội phạmvềhối lộnhưchủthểnhận hối lộ, hành vi khách quan của tội phạm hối lộ, “của hối lộ”, ảnh hưởng gây ra đối với hoạt động thực thi chức trách, lỗi của người phạm tội, đượcphản ánh rõ nét trong địnhnghĩa; thứtư, “của hối lộ” theo định nghĩa này không chỉ giới hạn đối với những lợi ích vật chất và nhưvậy của hối lộđược đưa, nhận dưới bất kì hình thức nào cũng thỏa mãn dấu hiệu của tội phạm theo định nghĩa này. Bên cạnh đó, dấu hiệu tính trái pháp luật hình sựcủa tội phạm vềhối lộ cũng được thể hiện rõ trong định nghĩa.

Tất nhiên định nghĩa nêu trên là định nghĩa mang tính lý luận về tội phạm hối lộ nói chung. Trong chương tiếp theo của luận án tác giả sẽ đưa ra những định nghĩa riêng vềtừng tội phạm hối lộcụthểtheo luật hình sựhiện hành củacác quốc gia trong nghiên cứu so sánh. Địnhnghĩa nêu trên sẽđược tác giảsửdụng như cơsởcho những phân tích lý luận tiếp theo của chương nàyvềcác yếu tốcủa tội phạm hối lộ, đồng thời sẽ được đối chiếu khi phân tích những quy định của luật hình sự vềcác tội phạm về hối lộ.

1.1.2. Những hình thức hối lộ phổ biến

Hối lộlà một hiện tượng phức tạp, diễn ra ởhầu khắp các lĩnh vựccủa đời sống xã hội với nhiều hình thức khác nhau, mỗi hình thức lại có những đặcđiểm khác nhau nhất định. Việc nhận diện đặc điểm của các hình thức hối lộ vừa chỉ ra tính nguy hiểm của từng hình thức, vừa giúp làm sáng tỏcác dạng tồn tại, các phương thức và thủ đoạn khác nhau của hành vi hối lộ. Đồng thời, nghiên cứu các hình thức hối lộ sẽ tạo cơ sở cho việc xem xét mức độ đầy đủ hoặc hợp lý trong quy

27

định của pháp luật hình sự hiện hành về các tội phạm về hối lộ, bổ sung những hình thức hối lộ đang trở nên nguy hiểm cho xã hội vào trong luật. Ý nghĩa của việc xem xét các hình thức hối lộ này đối với hoạt động lập pháp hình sự sẽ được thể hiện rõ hơn trong mối liên hệ với các nội dung tiếp sau của luận án.

Có những tiêu chí khác nhau để có thể phân loại các hình thức hối lộ. Theo lý thuyết của Van Duyne [1996, tr.161-169], căn cứ vào mối quan hệ giữa các chủthểtrong quanhệhối lộvà lĩnhvựclàm việccủahọ,hối lộcóthểđượcphân thành sáu loại chính: (1) hối lộ giữa các công chức trong khu vực công, (2) hối lộgiữa khuvựccông và khuvựctư, (3) hối lộ giữakhuvựccôngvớicác chínhtrịgia, (4) hối lộ trong khu vực tư, (5) hối lộ giữa khu vực tư với các chính trị gia, và (6) hối lộ giữa các chính trị gia.

Hình thức hối lộ thứ nhất chỉ thuần túy diễn ra trong khu vực công, với mục đích chủyếu là đểduy trì quyền lực, duy trì chức vụ, đểđược thăng chức, tăng lương, thêm bổng lộc, che giấu những việc làm phi pháp trong hoạt động công vụ,

v.v…Theo một tác giả khác, đây là hình thức hối lộ giữa các công chức cấp cao và cấp thấp, được diễn ra theo cả hai chiều “từ dưới lên” và “từ trên xuống”. Các công chức cấp thấp có thể nhận hối lộ sau đó lại đưa hối lộ cho lãnhđạo của họ nhưmột hình thức chia sẻ lợi ích. Đầu tiên việc đưa hối lộ này để nhằm làm cho các vị lãnhđạo giữ im lặng trước những sai trái của họ. Sau đó hoạt động này trở nên có tính hệthống, trở thành điều kiện để duy trì công việc, để mua quan bán chức. Ngược lại, các công chức lãnh đạo có thể đưa hối lộ (thông qua việc chia phần, đưa một vài lợi ích) cho cấp dưới để“mua sựimlặng” củahọtrước những sai trái của lãnh đạo

[Rose – Ackerman 1999, tr.82]. Hình thức hối lộ này rất nguy hiểm vì “tỷ lệ tham nhũng của các công chức càng cao sẽcàng có môi trường cho công chức tham nhũng, càng ít rủi ro đối với hành vi đưa hối lộ và sẽ càng tăng số người muốn đưa hối lộnhằm thu lợi” [Sđd, tr.124]. Tác giả luận án nhận thấy hình thức hối lộ này càng nguy hiểm hơn vì nó tạo ra hiệntượnghối lộmang tính hệthống và những quan hệ bao che, tiêu cực trong các cơ quan nhà nước, từ đó gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước.

28

Hình thức hối lộthứhai là hình thức trong đó bên nhận hối lộlà một công chức hoặc là một pháp nhân công, bên đưa hối lộ là một cá nhân hoặc là một doanh nghiệp. Lý thuyết của Van Duyne cho thấychủthểnhận hối lộtrong trường hợp này có thể là một pháp nhân [Duyne 1996, tr.164]. Thực tế có thể xảy ra trường hợp một doanh nghiệp đưa hối lộ cho một cơ quan nhà nước dưới hình thức tài trợ một

số hoạt động thể thao, văn hoá, bữa ăn phụ, v.v…để đổi lấy những ưu đãi nhất định từhoạt động của cơ quan đó. Hình thức hối lộnày đang trởnên lan rộng trên thế

giới và có lẽlà một trong những hình thức hối lộphổbiến nhất ởnhiều quốc gia. Chúng tôi nhận thấy sự cần thiết phải tội phạm hoá hình thức hối lộ này vì nó gây nguy hiểm cho cả hoạt động của nhà nước lẫn lợi ích của nhân dân.

Hình thức hối lộ thứ ba diễn ra giữa một bên là các công chức nhà nước với một bên là những người nắmgiữnhững cương vịnhất địnhtrong các đảng phái chính trị. Những đối tượng này muốn hỗ trợ lẫn nhau trong việc củng cố quyền lực cũng như sự giầu có thông quahoạt động hối lộ.Việc phát hiện và xử lý hình thức hối lộnày là điều không đơn giản bởi vì các bên trong quan hệhối lộnàyđều làngười có quyền lực, có uy tín. Việc hình sự hoá hình thức hối lộ này chỉ có thể có ýnghĩa và phát huy hiệuquảtrên thực tếkhi những chủthểcủa quanhệhối lộnàyđược phản ánh trong các định nghĩa pháp lý của các tội phạm về hối lộ.

Hình thức hối lộ trong khu vực tư là hình thức trong đó các bên trong quan hệhối lộlà các cá nhân hoặc (và) các doanh nghiệp, tổchức thuộc khu vực tư. Điển hình và phổ biến nhất của hối lộ trong khu vực tư là kiểu hối lộ trong các hoạt động kinh doanh và thương mại. Kiểu hối lộ này xuất hiện trong cơ chế thị trường và hiện nayđã trởnên một loại “lệ” trong lĩnh vựckinh tếtư nhânởnhiều nước trên thếgiới. Ví dụ như trường hợp doanh nghiệp A hối lộ cho một người có trách nhiệm đi thương thảo hợp đồngcủa doanh nghiệp B đểđạt được hợp đồngcó lợi hơn cho doanh nghiệp mình. Hối lộ trong kinh doanh đang gây ảnh hưởng xấu đến tính cạnh tranh lành mạnh của nền kinh tế, là một trong những nguyên nhân làm tăng giá cảhàng hoá, gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Những luận giải cho sự cần thiết phải hình sự hoá hình thức hối lộ này được đưa ra từ nhiều góc độ khác nhau. Từ góc độ

29

mối quan hệ với bộ máy nhà nước, khu vực tư ngày càng phát triển các hoạt động của mình và tham gia vào một số dịch vụ công. Tầm quan trọng của khu vực kinh tếtư nhân đang được khẳng định và việc bảo vệ hoạt động bình thường cho khu vực này cần được chú trọng. Bên cạnh đó, hoạt động và công việc của các chủ thể trong hai khu vực này đang dần trở nên tương xứng và tương hỗ nên cần được quy định trách nhiệm pháp lý tương tự như nhau. Từ góc độ kinh tế, có tác giả đã phân tích việc hình sự hoá hối lộ trong khu vực tư là để tăng cường nhận thức của công chúng về tính nguy hiểm của hình thức này đối với các hoạt động kinh tế và thương mại,để bảo vệ tính chính trực trong mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động, để tránh sự cạnh tranh không lành mạnh có thể gây thiệt hại cho nền kinh

tế, dẫn đến tăng giá cảhàng hoá và ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng

[Heine 2003, tr.610]. Chúng tôi nhận thấy các luận giải trên hoàn toàn đủ sức thuyết phục cho việc cần thiết hình sự hoá hình thức hối lộ này.

Hình thức hối lộ tiếp theo là hối lộ giữa giới kinh doanh với các chính trị gia. Hình thức hối lộnàythểhiện mối quan hệtrao đổi lợi ích không chính đáng giữa một bên là chủ thể của quyền lực chính trị và một bên là chủ thể của quyền lực kinh tế. Các doanh nghiệp có thể đưa hối lộ cho các đảng phái chính trị (dưới hình thức các khoản ủng hộ hoặc tài trợ) để các đảng phái này thiết lập các quỹ của họ, đổi lại doanh nghiệp sẽđượcsựủng hộcủa các đảng này trong một sốhoạt động kinh doanh của mình. Qua hình thức hối lộ này quyền lực chính trị có thể được mua bán như hàng hoá trên thịtrường. Đâyđược xem là một trong những hình thức hối lộnguy hiểm nhất vì nó liên quan đến hai yếu tố quan trọng của một quốc gia là quyền lực chính trị và kinh tế. Tính nguy hiểm cao cho xã hội chính là sự luận giải thuyết phục nhất cho việc hình sự hoá hình thức hối lộ này.

Hình thức hối lộ cuối cùng theo mô hình của Van Duyne là hối lộ giữa các chính trị gia hoặc các đảng phái chính trị. Các chính trị gia hoặc đảng phái chính trị đôi khi cần sự giúp đỡ của các chính trị gia hoặc đảng phái khác, ví dụ như đểmột đường lối hoặc một dự thảo luật mình đưa ra được tán thành. Ở hình thức hối lộ này “của hối lộ thường được đưa để đạt được sự ủng hộ cho các sáng kiến lập

30

pháp” [Rose – Ackerman 1999, tr.142]. Tính nguy hiểm của hình thức này khó cóthểđượcnhận thức rõ rang, xuất pháttừbảnchất phứctạpvà vô hìnhcủamối quanhệtraođổi lợiíchởđây. Hơnnữaviệc xácđịnhcácchủthểnàylạiphụthuộc vào thể chế chính trị của mỗi quốc gia. Theo tác giả có rất ít khả năng chứng minhsựtồntạicủahình thứchốilộnày. Vìvậyviệc hìnhsựhoá là thiếu cơsởvững chắc và không có tính khả thi.

Bên cạnh lý thuyết của Van Duyne, Heidenheimer [1989] chia tham nhũng thành ba loại “tham nhũng đen”, “tham nhũng xám” và “tham nhũng trắng” dựa trên thái độ của công chúng đối với hành vi tham nhũng. Dựa trên lý thuyết của ông hối lộ cũng có thể được chia thành ba loại tươngứng. “Hối lộ đen”là khái niệm để chỉnhững hành vi hối lộ mà tính sai trái của chúng được thể hiện rõ ràng. Nói một cách khác công chúng có thể dễ dàng nhận ra tính sai trái của hình thức hối lộ này và cóthái độ lên án rõ ràng. Trái lại, “hối lộ trắng” là loại thường được công chúng chấp nhận và thậm chí một bộ phận người dân còn có cái nhìn khoan dung. Hình thức hối lộ này thường được xem như một loại tập quán, một loại quy tắc hoặc thậm chí một thứ văn hoá. “Hối lộ xám” cũng là một loại hối lộ nguy hiểm song tính sai trái của nó không thật rõ ràng nên khó bị nhận diện và bị lên án. Hình thức này nhận được sự lên án và sự ủng hộ tương đương nhau. Tương tự như lý thuyết của Heidenheimer, tác giả Reisman đã chia hối lộ thành ba loại tạm gọi là hối lộ vặt, hối lộ làm thay đổi hoạt động của người nhận và hối lộ mang tính chất mua bán. Sự phân loại này theoông dựa trên mức độ tác động đối với đời sống xã hội cũng nhưmức độ được đánh giá là hợp pháp của từng loại hối lộ. Hối lộ vặt là kiểu hối lộ “diễn ra hàng ngày và thường được đưa cho người công chức để bảo đảm hoặc để tăng tốc cho hoạt động thực thi chức trách của người đó” [Reisman 1979, tr.69]. Loại hốilộnày thường được gọi là “tiền tăng tốc”, “phí bôi trơn” hay“những khoản trảnhỏđểtạo thuận lợi cho công việc” và chúng được dùng đểlàm cho các thủtục hành chính được thực hiện nhanh chóng [Arvis & Berenbeim 2003, tr.9]. Hình thức hối lộ này có đặc điểm là không nhằm vi phạm một quy định pháp luật nào mà chỉ để bảo đảm rằng việc thực thi chức trách của người công chứcđược hoàn thành nhanh chóng. Với

31

loại hốilộnày, tháiđộcủa công chúng có phần khoan dung, thậm chí là khuyến khích. Luật hình sự nhiều quốc gia thường bỏ qua việc tội phạm hoá hình thức hối lộ này. Hình thức hối lộ thứ hai nguy hiểm hơn nhiều vì hối lộ trong trường hợp này là để người nhận hối lộ làm một việc trái pháp luật hoặc để bảo đảm việc tạm đình chỉ hoặc không áp dụng một quy định đáng lẽ phải bị áp dụng đối với một trường hợp cụthể[Reisman 1979, tr.75]. Nói một cách khác,đâylà việc hối lộđểngười công chức làm một việc bị cấm hoặc không làm một việc lẽ ra phải làm trong phạm vi chức trách của họ vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Thái độ của công chúng đối với kiểu hối lộ này nhìn chung đều lên án, không đồng tình. Hình thức hối lộ thứ ba khá đặc biệt, như tên gọi của nó là kiểu “mua bán thẳng thừng”, với mục đích không phải để người nhận hối lộ thực hiện một việc cụ thể theo yêu cầu của người đưa hối lộ, mà để “mua” một người đang làm việc cho một cơ quan hoặc tổ chức mà anh ta có nghĩa vụ phải trung thành, làm cho người này quay sang phục vụ cho lợi ích đối nghịch của người đưa hối lộ. Trong kiểu hối lộ này, người đưa hối lộgiống như người mua, người nhận hối lộtự“bán mình” (phản bội lại niềm tin của công chúng, vi phạm trách nhiệm công tác) cho một vài lợi ích nào đó. Người nhận hối lộ “làm việc” một cách bí mật và lâu dài như một người tay trong cho người đưa hối lộ [Reisman 1979, tr.88, 89]. Cuối cùng Reismankết luận hối lộvặt là hình thức ít gây ảnh hưởng nhất tới hoạt động của xã hội. Hối lộmang tính chất mua bán là hình thức nguy hiểm nhất vì nó phá hoại bộmáy xã hộibằngsựxâm nhập ngầm, do vậyloại hối lộnàycầnbịquyđịnh hình phạt nghiêm khắc [tr.93]. Một số tác giả khác dường như phát triển lý thuyết phân loại hối lộ trên khi cho rằng sựkhoan dung của xã hội đốivới hành vi hối lộlà cơ hội tốt cho hiện tượng này phát triển. Thông qua cách phân loại hối lộ trên chúng tôi cũng nhận thấy mức độ khoan dung của xã hội đối với tệ hối lộ tỉ lệ nghịch với mức độ nhận thức tính sai trái của hành vi hối lộ và khả năng hành vi bị hình sự hoá. Chính vì vậy màtheo sự quan sátcủamột nhà nghiên cứu hối lộ vặt hiện nay được xem là dịchvụsẵn có, rẻtiền dành cho công chúng [Reisman1979, tr.70-71]. Tuy nhiên tác giảluận án cũng mạnh dạn đặt ra một giả thiết rằng nơi nào hành vi hối lộ diễn ra quá

32

nhiều thì xã hội sẽ trở nên quyết tâm trong việc loại bỏ hiện tượng đó và việc hình sự hoá sẽ được thực hiện đối với nhiều hình thức hối lộ hơn.

Hiện nay có một vài hình thức đang gây tranh luận về bản chất,về ảnh hưởng cũng như về tính chất pháp lý của chúng. Đó là các hình thức tặng (biếu) quà để mua chuộc hoặc để trả ơn. Như đãđề cập ở trên,việc tặng quà có xuất phát điểm là một truyền thống tốt đẹp, thể hiện tình cảm của người tặng đối với người được tặng. Tuy nhiên, truyền thống này đang bị lợi dụng cho những mục đích không chính đáng.

Kiểu tặng quà thứ nhất là đưa lợi ích để tạo quan hệ, giống như một hình thức đầu tưcho mối quan hệ với người có chức vụ, quyền hạn. Tuy người đưa quà khôngđòi hỏi người có chức vụ, quyền hạn phải làm ngay một việc cụ thể cho mình, song như một hệ quả tất yếu giá trị của quà cũng như mức độ thường xuyên của việc tặng quà sẽ tạo một ảnh hưởng nhất định lên hoạt động của người nhận quà và sự đối xửưu đãi đối với người đưa quà sẽ là điều không tránh khỏi. “Thậm chí khi một món quà được đưa không kèm theo yêu cầu trao đổi lợi ích, nó vẫn có khả năng gây ảnh hưởng tới phán quyết của người công chức” [Park 1993, tr.65]. Hiện nay đây được coi là một kiểu hối lộ ngầm, hối lộ có tính chất mua chuộc. Tính nguy hiểm cho xãhội của hình thức hối lộ này là điều có thể thấy được. Tuy nhiên hiện nay hình thức này hầu như không bị quy định là tội phạm trong luật hình sự của các quốc gia, do việc khó chứng minh được mục đích không chính đáng của người tặng quà cũng như mức độ ảnh hưởng của nó đối với hoạt động thực thi công vụ.

Kiểu tặng quà thứ hai là tặng quà để tạ ơn, không có thỏa thuận nàotrước đó về việc người nhận quà phải làm giúp người đưa quà. Vấn đề đặt ra là những việc mà người được nhận quàlàmtrước đó(đem lại lợi ích cho người đưa quà) là việc thực hiện công vụ trong khuôn khổ chức trách, nhiệm vụ của họ. Trong khi đó việc đưa và nhận quà lại mang tính chất riêng tư. Như vậy đối với công chúng đây chính là việc hưởng lợi tư trên cơ sở làm việc công. Bản thân người nhận quà có thể sinh ra tâm lý thích được nhận quà tạ ơn từ hoạt động công. Kiểu đưa và tặng quà này nếu diễn ra thường xuyên vàvớigiátrịquàlớnthì khó cóthểbảođảmtính công bằng, khách quan và vô tưcủacác hoạtđộngthực thi côngvụ,đồngthờitạothói quenxấucho

33

những người có chức vụ, quyền hạn. Cũng nhưhối lộmua chuộc, hối lộ tạ ơn hiện nay hầu như vẫn chưa bị coi là bất hợp pháp theo luật hình sự của nhiều quốc gia. Có tác giả Việt Nam cho rằng nhận quà tạ ơn nên bị xem là nhận hối lộ vì hai lý do: thứnhất là người có chức có quyền không được phép sử dụng chức quyền để lấy tiền vì lý do “làm ơn” cho nhân dân, thứ hai là một lần nhận quà tạ ơn sẽ dẫn đến người cán bộ bị mua chuộc theo cách này, tính liêm khiết của cán bộ sẽ không được bảo đảm, uy tín của bộ máy nhà nước bị giảm sút [Trần Kiêm Lý – Đặng Văn Doãn 1982, tr.39].

Những luận giải cho việc hình sựhoá loại những hành vi tặng và nhận quàkhông chính đáng nêu trên đã được đưa ra khá thuyết phục. Theo quan điểm của các nhà cải cách pháp luật Vương quốc Anh, việc biếu quà hay đưa quà tạ ơn đều có thểchứa đựng một ýđịnhtham nhũng, tùy thuộc vào hoàn cảnh cụthể. Nếu nó được đưa với hy vọng tạo ra một mối quan hệ có lợi cho đôi bên, nó cần bị xem là hành vi có tính tham nhũng vì nó là hành vi có xu hướng thúc đẩy sự lợi dụng quyền lực.Điều quan trọng cần nhận thức là tính tham nhũng của những hành vi này không chỉnằm ởkhảnăng gây ảnh hưởng tới hoạt động thực thi chức trách của người nhận mà còn ởkhảnăng gây ảnh hưởng tới hoạtđộng của các viên chức khác trong những quan hệcông việc trong tương lai vớingười đưa và với những người khác mà họ trông đợi để được hưởng lợi tương tự. Hành vi nên bị xem là tham nhũng nếu nó làm cho những người khác bắt trước thực hiện [UK Law Commission 1997, tr.75-77]. Tác giả luận án đồng tình với những quan điểm nêu trên về nguy cơ dẫn đến sựthiếu công tâm của người có chức vụ, quyền hạn trong khi thực hiện chức trách, nhất là trong trường hợp quà có giá trị lớn hoặc việc biếu quà được thực hiện thường xuyên. Chúng tôi cho rằng luật cần quyđịnh một giới hạnhợp lý đểxácđịnh tính hợp pháp của hành vi đưa và nhận quà biếu, chủ yếu dựa trên giá trị của quà hoặc loại quà đểtránh việc lợi dụng việc biếu quà cho những mục đích bất chính. Bên cạnh đó, hành vi biếu và nhận quà ở một trong hai dạng kể trên cần được xem xét để tội phạm hoá. Về vấn đề này một tác giả Việt Nam cũng có quan điểm cần quy định tội nhận quà có giá trị lớn dưới dạng quà biếu hoặc quà tạ ơn vì hành vi này có thể gây ảnh hưởng cho hoạt động của người có chức vụ, quyền hạn [Trần

34

Công Phàn 2006]. Vấn đề này sẽ được kiến giải cụ thể tại Chương 4 của luận án.

Từ một số hình thức hối lộ được phân tích ở trên chúng tôi cho rằng hầu hết các hình thức này đều thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội cần thiết phải bị quy định là tội phạm. Tuy nhiên một vài hình thức hiện nay còn chưa bị tội phạm hoá ở nhiều quốc gia, ví dụnhư hối lộ trong khu vực tư, hối lộ chính trị (thông qua các khoản ủng hộ cho các chiến dịch tranh cử, thông qua việc dùng lợi ích mua chuộc cử tri). Việc tội phạm hoá các hình thức hối lộcần kết hợp xem xétcảnhững điều kiện khác như mức độ phổ biến của loại hành vi này, yêu cầu của xã hội trong việc đấu tranh chống các hình thức hối lộ đó, khả năng chứng minh tội phạm của các cơ quan

pháp luật, v.v… Bên cạnh đó, bối cảnh toàn cầu hoá và yêu cầu của quan hệ hợp tác quốc tế cùng với khuyến nghị của luật pháp quốc tế về những hình thức hối lộ nguy hiểm cũng nên được tính đến trong khi xem xét việc tội phạm hoá các hình thức hối lộ. Đối với một sốhình thức hối lộđặcbiệt như hối lộtrong khu vực tư hay biếu quà có tính chất không chính đáng cần chú ý việc xây dựng những CTTP riêng với sựmôtảnhững dấu hiệu pháp lý cụthể. Sựkhác nhau vềmức độnguy hiểm của các hình thức hối lộ khác nhau cần được xem xét khi quy định hình phạt đối với tội phạm về hối lộ.

1.1.3. Những luận điểm về các tội phạm về hối lộ

Như đã đề cập ở trên, hối lộ là hiện tượng được tiếp cận nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau. Xuất phát từ phạm vi nghiên cứu của luận án, những luận điểm được đềcập tại phần nàychỉtiếp cận khái niệm hối lộtừgóc độluật hình sự. Những nội dung được quan tâm nghiên cứu nhất là vấn đề các yếu tố cấu thành tội phạm về hối lộ, vấn đề của hối lộ, vấn đề chính sách hình sự và hình phạt quy địnhđối với tội phạm về hối lộ.

Những luận điểmđầu tiên có thểđềcập ởđâyliên quan đến việc xác định khách thể của các tội phạm về hối lộ. Đây là yếu tố được phản ánh qua tính chất của tội phạm về hối lộ, giúp sắp xếp hợp lý vị trí của các tội phạm này trong BLHS. Các học giả quan tâm dường nhưđều thốngnhất quan điểm cho rằng hối lộ là loại hành vi xâm phạm niềm tin của công chúng dành cho những người được bầu ra để thực

35

hiện các chức năng công trong bộ máy nhà nước và để phục vụ công chúng. Trong các nghiên cứu vềhốilộ, “sựphản bội niềm tin” chính là tính chất đầu tiên của hành vi được nhiều tác giảphát hiện. Ví dụnhư tác giảGreen đã đưa ra một luận điểm được ông gọi là “thuyết về sự phản bội”, theo đó người nhận hối lộ bị coi là đãphản bội lại những cử tri của mình và phản bội lại những lý tưởng của nghề nghiệp của mình [Green 2006, tr.203-211]. Cũng với quan điểmnhư trên, một sốtác giảkhác cho rằng hối lộ nên được nhận dạng bởi một đặc tính đáng bị lên án của nó làmột sự phản bội lại sự tín nhiệm của người dân [Noonan 1984; Alatas 1999]. Việc Hiến pháp Hoa Kì quy định tội hối lộ cùng với tội phản bội Tổ quốc thể hiện pháp luật Hoa Kì có quan điểm coi tội phạm về hối lộ là loại tội xâm phạm niềm tin của công chúng vào sựkhách quan, chính trực và vô tư của các viên chức nhà nước.9 Ngoài ra, có tác giả cho rằng tội phạm về hối lộ là hành vi “trái với những nguyên

tắc về sự trung thực và trong sạch” [Russell 1964, tr.381]. Theo quan điểm này, tội phạmvềhối lộlà những hành vi xâm phạmđến những quy tắc hành xửvà uy tín của công chức. Quan điểmnày khá tương đồng vớiquanđiểm lập pháp của luật hình sự Pháp vì tội hối lộ được quy định trong một chương của BLHS với tên gọi “Những vi phạmvềnghĩa vụtrung thực”.10 Những quan điểmnày cho thấy nhận thức tương đối giống nhau về khách thể bị tội phạm hối lộ xâm hại. Tuy nhiên hầu hết các quan điểm trên đều mới chỉ dừng lại ở việc xác định hành vi phạm tội xâm hại những chuẩn mực đạo đức của cá nhân người công chức, chưa có sự liên hệ với những lợi ích chung của xã hội bị xâm hại.

Khi tìm hiểu tính chất của tộiphạm hối lộchúng tôi nhận thấy các tác giảnước ngoài trong những nghiêncứu củamình đều coi các hành vi hối lộlà những dạng hành vi tham nhũng, thậm chí đồng nhất hối lộ với tham nhũng. Trong khi đóphần lớn tác giả Việt Nam khi đề cập đến loại tội phạm này đều nhận định chỉ riêng

tội nhận hối lộ là hành vi tham nhũng [Viện khoa học pháp lý 2004; Đinh Văn Quế2006; Trần Công Phàn 2006;Đại học luật Hà Nội 2005]. Cũng có một vài quan

9 Aticle II Section 4 Hiến pháp Hoa Kì quy định “Tổng thống, Phó Tổng thống và tất cả các viên chức của Hợpchủng quốc Hoa Kì sẽ bị miễn nhiệm nếu bị kết án về các tội phản bội Tổ quốc, Hối lộ, …”

10 Xem Section III, Chapter II, Title III, Book IV BLHS Cộng hoà Pháp.

36

điểm cho rằng cáctội đưa hối lộ vàlàm môi giới hối lộ là hành vi tham nhũng, vìmặc dù chủ thể có thể là người không có chức vụ, quyền hạn nhưng hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ có quan hệ mật thiết với hành vi nhận hối lộ và cũng xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức [Thanh tra Chính phủ 2005, tr.107; Trần Anh Tuấn 2006, tr.26]. Theo quan điểmcủa Hộiđồngphối hợpcông tácphổbiến, giáo dục pháp luật của Chính phủ [2006, tr.15-16], chỉ những hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người cóchức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi mới được coi là hành vi tham nhũng. Một tác giả khác lại có quan điểm rằng tội đưa hối lộ và làm môi giới hối lộ là nhữngtộiphạm liên quan trực tiếptớitộiphạm tham nhũng [Nguyễn Văn Tuấn 2006, tr.79]. Chúng tôi cho rằng các tội phạm về hối lộ có một mối liên hệ mật thiết vớinhau,đềutácđộngtới hoạt động thực thi chức trách của người có chức vụ, quyền hạn vì tư lợi và cùng xâm hại các quan hệ xã hội bảo đảm cho hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, do đó đều nên bị xem là tội phạm về tham nhũng.

Những luận điểmvềchủthểcủa tội nhận hối lộrất đáng được quan tâm trong nghiên cứu này. Theo quan điểm truyền thống của luật hình sự Việt Nam, chỉnhững người có chức vụ, quyền hạn mới có thể là chủ thể của tội phạm này. Cũng theo cách hiểu được thừa nhận chung trong luật hình sự Việt Nam, người có chức vụ, quyền hạn là người được giaophụtrách một côngvụnhất định trong các cơquan nhà nước hoặc các tổ chức và trong khi thi hành công vụ đó người này có một quyền năng nhất định trong mối quan hệvớinhững người khác [Trần Kiêm Lý -Đặng Văn Doãn 1982, tr.33; Đinh Văn Quế 2006, tr.78]. Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy hầu hết các tác giả đều cho rằng chủ thể của tội nhận hối lộ chỉ có thể làngười được giao một chức năng hoặc một nhiệm vụ công. Nói một cách khác “công vụ” được coi làdấu hiệu không thể thiếu ở chủ thể của tội phạm này. Bên cạnh đó, quan điểmchung thừa nhận việc thực thi công vụtạo cho những chủthểnày cóquyền năng nhất định với những người nhất định khác. Giải thích sau đâydường như khá hợp lý “có quyền năng tức là có quyền ra những quyết định hoặc tham gia ra những quyết định có ảnh hưởng đáng kể đến quyền lợi của người khác (…), khiến

37

những người này cảm thấybịlệthuộc đến một mức độnào đó đối với người ra quyết định hoặc ngườitham gia ra quyết định” [Trần Kiêm Lý -Đặng Văn Doãn 1982, tr.33-34]. Các tác giảnày cũng nêu quan điểmvềtính đương chức, đương quyền của chủ thể tội nhận hối lộ khi cho rằng hành vi nhận hối lộ chỉ có thể xảy ra khi chủthểsửdụng chức vụ, quyền hạn củahọ[Trần Kiêm Lý -Đặng Văn Doãn 1982, tr.35] hoặc trong khi thi hành công vụ[Đinh Văn Quế2006, tr.29-30]. Một tác giảbổsung rằng việc xác định một viên chức có thểtrởthành chủthểcủa tội nhận hối lộ được hay không phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tính chất của chức năng, nhiệmvụcủa người đó. Cụthểlà nếu người nàychỉthực hiện những chức năng hoặc công việc thuần túy về kĩ thuật hoặc chuyên môn nghiệp vụ (kĩ thuật viên, giáo viên), không phải là chức năng tổ chức điều hành, thì họ không được coi là người cóchức vụ, quyền hạn [Mai Xuân Bình 1996, tr.47-54]. Chúng tôi nhận thấy những hạt nhân hợp lý trong tất cả các quan điểm nêu trên và cho rằng khái niệm người có chức vụ,quyềnhạntrong cáctộiphạmvềhốilộthểhiện cácđặcđiểm:(1) làngườido đượcbổnhiệm, dođượcbầucử, do được bầu,được ủyquyền hoặc thông qua hợp đồng nên được giao chức năng, nhiệm vụ nhất định trong cơ quan hay tổ chức; (2) có quyền ra các quyết định hoặc tham gia vào việc ra các quyết định có ảnh hưởng đáng kể đến quyền lợi của cá nhân hoặc tổ chức khác do việc thực hiện chức năng, nhiệm vụđó;(3) đang thi hành chức năng, nhiệmvụđó.Nhưvậynhững yếutốnhư thu nhập và thâm niên công tác không có ý nghĩa xác định khái niệm người có chức vụ, quyền hạn. Tuy nhiênở một mức độ nhất địnhquan điểm này của tác giả chỉ phù hợp trong điều kiện của Việt Nam. Nhìn một cách khách quan đặc điểm thứ ba nêu trên không nên bị xem là yếu tố bắt buộc, bởi vì đối với nhiều quốc gia khác quan điểm được thừa nhận chung vẫn cho rằng một người có thể được coi là có quyền hạn trước khi người đó đảm nhận chức vụ hoặc sau khi đã rời khỏi cương vị của mình.

Ngoài ra, các tác giả cũng bàn luận thêm về vấn đề phạm vi những đối tượng có thể trở thành chủ thể của tội nhận hối lộ. Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu, phạm vi những chủ thể có thể nhận hối lộ khá rộng. Ngoài những người đang giữ chức vụ hoặc có quyền hạn nhất định, một số chủ thể khác cũng có khả năng trở

38

thành đối tượng của hành vi đưa hối lộ. Đó có thể là những người có khả năng gâyảnh hưởng tới một hoạt động ban hành quyếtđịnh cụthểtrong khi chức vụchính thức của họ lại hoàn toàn độc lập với hoạt động đó. Đó còn có thể là những người tuy không còn nắm giữ cương vị công tác nữa song vẫn có khả năng gây ảnh hưởng

tới hoạt động ra quyếtđịnh của một cơ quan nhất định [Della Porta – Vannucci 1999, tr.40-41]. Cùng chung quan điểm mở rộng phạm vi những đối tượng nhận hối lộ, quanđiểm củaOECD cho rằng luật nên áp dụngđốivớicảnhững trường hợp ngoại lệtrong đó người nhận hối lộlà người được nắmquyền lực công nhấtđịnh không cần tính đến tính chất công việc của họvà định nghĩa công chức nên bao gồmcảnhân viên làm việc cho các đảng phái chính trị, ứng cửviên làm việc cho văn phòng của các đảng phái đó và bất cứ người nào đang trong quá trình chuẩn bịtrở thành một công chức.11 Như vậy là khác với quan niệm của các nhà nghiên cứu Việt Nam, quan niệm về người có thể nhận hối lộ của các tác giả nước ngoàiđã mởrộng tới những người do địa vị công tác của họ có thể gây ảnh hưởng tới công chức khác để họ thực hiện yêu cầu của người đưa hối lộ, tới những người không được coi là “đươngnhiệm”. Về mặt lýthuyết nhữngđối tượngnhư các ứng cử viên cho một chức vụ hay người vẫn còn khả năng gây ảnh hưởng sau khi rời khỏi nhiệm sở đều có thể nhận lợi ích vật chất và sau đó làm theo yêu cầu của người đưa lợi ích, tuy nhiên khảnăng nàyphụthuộc rất nhiều vào văn hoá và điều kiện xã hội của mỗi quốc gia. Bàn thêmvềphạm vi chủthểnhận hối lộ, một tác giảkhác nhận định phạm vi những người có thể nhận hối lộ sẽ ngày càng tăng lên theo thời gian vì hai lí do, thứ nhất là tầng lớp những người được coi là công chức đang tăng dần lên, thứhai là hối lộ hiện nay đã lan sang cả khu vực tư [Green 2006, tr.195]. Một đối tượng hiện nayđược rất nhiều ý kiến cho rằng cóthểtrởthành chủthểnhận hối lộlàngười làm chứng. Ví dụ như một tác giả đã gợi ý “những người làm chứng cũng nênđược xem xét như những người có tiềm năng trở thành người nhận hối lộ” [Green 2006, tr.196]. Quan điểm về chủ thể của tội nhận hối lộ còn đặt vấn đề nên mở rộng

11 Xem: Bình luận chính thức Công ước của OECD,đoạn10, Điều 7(3) Công ước của LHQ và Hướng dẫn áp dụng Công ước của LHQ,đoạn70 và 86.

39

phạm vi khái niệm công chức tới các công chức nước ngoài [Trần Anh Tuấn 2006; Trần Công Phàn 2006]. Khái niệm “công chức nước ngoài” nhìn từ bình diện quốc tếcũng được hiểu theo một phạm vi khá rộng, với nhận định cho rằng công chức nước ngoài là “bất kì người nào thực hiện chức năng công cho một quốc gia khác hoặc cho một tổ chức quốc tế” [Zerbes 2007, tr.59].

Như vậy, các tác giả trên đều có chung quan điểm về việc mở rộng phạm vi chủ thể nhận hối lộ so với quan niệm cũng như cách quy định truyền thống. Chúng tôi đồng tình với quan điểm nên hiểu khái niệm người có chức vụ, quyền hạn ở các tội phạm về hối lộ theo nghĩa rộng. Nhờ đó, luật hình sự có thể bao quát được tất cảnhững đối tượngcó nguy cơ lợi dụng chức trách của mình nhận lợi ích để thực thi chức trách theo hướng có lợi cho người đưa lợi ích. Phạm vi khái niệm này nên bao gồm cả những người có chức vụ trong khu vực tư, một số ứngcửviên cho những chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước, công chức nước ngoài và nhân viên của các tổchức quốc tế. Bên cạnh đó, những người tuy không phải là người có trách nhiệm trực tiếp giải quyết yêu cầu của người đưa hối lộ nhưng lại có thể dùng chức vụ của mình gây ảnh hưởng tới người trực tiếp thực thi chức trách cũng nên được xem là một loại chủ thể của tội nhận hối lộ. Những người này tuy không lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình một cách trực tiếp nhưng đã lợi dụng ảnh hưởng, uy tín và quyền lực do địa vị công tác của mình. Những luận điểm nêu trên nên được xem xét để trở thành cơ sở lý luận cho việc xác định lại vấn đề chủ thể của tội nhận hối lộ trong luật hình sự hiện hành.

“Của hối lộ” là một trong những vấn đềđược các nhà nghiên cứu vềhối lộquan tâm nhất. Những nội dung được chú ý là khái niệm và tính chất của “của hối lộ”; sự khác biệt giữa của hối lộ với những đối tượnggần giống nó, ví dụ như quà

biếu, tiền ủng hộ, tiền bồi dưỡng v.v…Việc xác định “của hối lộ” về mặt lý thuyết tưởng như đơn giản bởi vì các tác giả đều thống nhất nhận định của hối lộ là những thứ có giá trị nhất định được dùng để đưa cho người có chức vụ, quyền hạn nhằm gây ảnh hưởng không chính đáng tới hoạt động thực thi chức trách của họ [Noonan 1984, tr.xi; Carson 1985, tr.71; Green 2006, tr.198; Arvis và Berenbeim 2003, tr.9].

40

Ví dụnhư theo quan điểmcủa Noonan, bản chất của “của hối lộ” là “thứgây ảnh hưởng một cách không chính đáng tới việc thực thi một chức năng công để việc đóđược thực hiện theo kiểu trảơn” [Noonan 1984, tr.xi]. Tương tựnhưvậyCarson giải thích “của hối lộ là một khoản tiền (hoặc một thứ có giá trị nàođó) được đưa cho một người khác để đổi lấy sự quan tâm đặc biệt của người nhận dành cho người đưa trong khi thực thi chức trách hoặc vai trò của người đó” [Carson 1985, tr.71]. Theo những ý kiến nêu trên, của hối lộ có thể được xác định là những lợi ích được đưa và/hoặc nhận với mục đích gây ảnh hưởng tới việc thực thi chức năng, nhiệm vụcủangười nhận. Nhìn chung, những thuật ngữnhư“lợi ích”, “thứcó giátrị”, “khoản tiền” hoặc “khoản thưởng” thường được dùng để chỉ hình thức của “của hối lộ”. Tínhchất sai trái của “của hối lộ” thường được diễn tả bằng những tính từ như“không chính đáng” hoặc “bất hợp pháp”.

Bên cạnh đó, các quan điểm đều cho rằng giá trị của “của hối lộ” không phải nằm ở trị giá về mặt vật chất của nó mà nằm ở chỗ nó được khai thác như thế nào theo nhu cầuvà sởthích của người được đưa hối lộ. Ví dụnhư Van Duyne nhận định của hối lộ không nhất thiết phải là những lợi ích vật chất, nó có thể là những

lợi ích mà hai bên khai thác được từquan hệtrao đổi lợi ích lẫn nhau, chẳng hạn như lãnh đạo củamộttrường học giúpđỡcho con của một vịthanh tra giáo dục được nhận vàohọc tại trường để đổi lấy việc vị thanh tra này bỏ qua một vài khuyết điểm của nhà trường hoặc việc các nghị sĩ thỏa thuận ủng hộ cho sáng kiến lập pháp

của nhau ở nghị viện, v.v… [Van Duyne 1996, tr.162]. Những mối lợi được trao đổi giữa các bên trong hàng loạt vídụmà Van Duyne đưa ra cho thấymột thực tếrất phức tạp về hoạt độnghối lộ cũng nhưsự đadạng của các hình thức “của hối lộ”. Dựa trên quan điểmcủaDuyne, khái niệm của hối lộcần được mởrộng nội hàm, tuy nhiên nhưvậyviệc khái quát vềbản chất của “của hối lộ” trởnên không đơn giản. Chia sẻ với quan điểm của Duyne, một tác giả khác nhận định của hối lộ bao gồm rất nhiều những thứ được coi là có giá trị đối với người nhận, bao gồm cả quan hệ tình dục [Green 2006, tr.199]. Thậm chí sự giải trí và những món đồ ăn cũng cóthể được xem là của hối lộ trong một số hoàn cảnh cụ thể [Nicholls 2006, tr.19].

41

Bên cạnh đó, theo ý kiến của nhiều tác giả tất cả các loại lợi ích mà người cóchức vụ, quyền hạn có thể khai thác được từ người đưa đều có thể xem là của hối lộ. Ví dụ như quan điểm cho rằng “của hối lộ còn bao gồm tài sản được bán cho người công chức với giá thấp hơn giá trịthật của nó và tài sản đượcmua từngười công chức với giá cao hơn giá trị thật của nó” [Winckler 1972, tr.215]. Những quan điểm tương tựcũng được một sốtác giảViệt Nam thểhiện trong các nghiên cứu vềtội phạm hối lộ [Trần Kiêm Lý – Đặng Văn Doãn 1982, tr.12-13; Mai Xuân Bình 1996, tr.37-38]. Một tác giả khác bổ sung những khoản “lại quả” trích từ lợi ích có được từmột hợp đồng trúng thầu vào danh mục những lợi ích được xem là của hối lộ

[Nicholls 2006, tr.3]. Không dừng ở quan niệm cho rằng “của hối lộ” chỉ là những “lợi ích vật chất”,nhiều tác giả còn mở rộng khái niệm này tới những lợi ích về tinh thần. Nhiều quan điểm chúng tôi tìm hiểu cho rằng của hối lộ có thể là lợi ích phi vật chất chứ không chỉ là lợi ích vật chất. Ví dụ như có ý kiến nhận định:

Đưa hối lộ hoàn toàn có thể dùng lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất khác. Một sựđềbạt, một văn phòng làm việc rộng hơn, nhiều thời gian nghỉngơi hơn và bất kì một sự thay đổi tích cực nào trong nghề nghiệp đều có thểđo lường được thông qua lương bổng. Nếu nhưcủa hối lộ lànhững cơ hội tiếp xúc có lợi mới hoặc thậm chí là quan hệ tình dục thì cũng có thị trường dành cho chúng, như vậycó thểtính toán được(một cáchướclượng) giátrịcủa chúng [Zerbes 2007, tr.102].

Quan niệm nêu trên hiện không chỉ thịnh hành ở các nước phương Tây mà đãbắt đầu xuất hiện ở Việt Nam. Thời gian gần đây ở nhiều tác giả Việt Nam cũng cóý kiến cho rằng của hối lộ không nên chỉ giới hạn trong phạm vi những lợi ích vật chất mà nên bao gồmcảnhững lợi ích phi vật chất. Chẳng hạn như có quan điểm cho rằng của hối lộ có thể là những lợi ích tinh thần như việc được in sách, được ca ngợi trên báo chí, quan hệ tình dục [Lê Mạnh Luân 1997, tr.87-88]. Quan điểm này ngày càng được ủng hộ trong các nghiên cứu về tội phạm hối lộ tại Việt Nam. Một tác giả Việt Nam khác nhận định về loại lợi ích này như sau:

Trong thực tế có những lợi ích tinh thần có tính vật chất như: việc lo, thu xếp cho con, cháu người có chức, có quyền đi học, đi nước ngoài; xin cho con, cháu người có chức vụ, quyền hạn vào công tác trong một cơ quan, đơn vị nào

42

đó…hoặc những lợi ích thuần túy có giátrịtinh thần nhưđượcca ngợi trên

báo chí, đượcnhận xéttốt…cũng là những hình thức biến dạngcủacácđối tượng nhận hối lộ [Trần Công Phàn 2006, tr.25].

Ý kiến luận giải cho quan niệm nêu trên khá thuyết phục. Trong một nghiên cứu khá toàn diện về tham nhũng tại Việt Nam, lí do được đưa ra là vật chất và tinh thần là hai giá trị đều có thể đáp ứng được nhu cầu của con người, và qua đó đều cóthể gây ảnh hưởng đến các quyết định đúng đắn của người có chức vụ, quyền hạn [Thanh tra Chính phủ2005, tr.107]. Luận giải này khá hợp lý và có ý nghĩa trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay, khi việc đưa và nhận hối lộ đangđược thực hiện bằng những phương thức rất tinh vi. Chúng tôi cho rằng sự thay đổi quan niệm nêu trên rất đáng được ủng hộvà rất có ý nghĩa đối với việc sửa đổi luật hình sựViệt Nam trong thời gian tới.

Những ý kiến nêu trên cho thấy quan niệm vềcủa hối lộtrên thếgiới hiện nayđã trở nên khá thống nhất. Quanniệm đócho rằng tất cả những gì có thể làm cho người nhận hài lòng và có thể gây ảnh hưởng tới hoạt động thực thi nhiệm vụcủa người này đều nên coi là có giá trị và là “của hối lộ”. Vấn đề tiếp theo là cái gìxác địnhgiá trị của “của hối lộ”. “Của hối lộ khôngcần phải tính được thành tiền miễn là trong mắt củangười nhận hối lộnó chứa đựng một giá trịđủđểgây ảnh hưởng tới hoạt động công vụ của anh ta” [Winckler 1972, tr.214]. Như vậy, giá trịcủa “của hối lộ” thể hiện ở mức độ ảnh hưởng tới hoạt động thực thi nhiệm vụ của người nhận. Người thấyđược ý nghĩa của“của hối lộ”cũng như chịu ảnh hưởng bởi tác động của nó chính là người nhận hối lộ. Theo chúng tôi giá trị của của hối lộkhông nhất thiết nằm ở đặc tính vật chất của lợi ích mà cần được xác định qua yêu cầu và sự thụ hưởngcủa người nhận. Nếu một loại lợi ích có thể gây ảnh hưởng tới hoạt động thực thi chức trách của người nhận thì lợi ích đó nên được xem là có giátrị và là của hối lộ. Nói một cách khác, ảnh hưởng có thể gây rađối với hoạt động bình thường của người nhận phản ánh giá trị của “của hối lộ”.

Qua một sốnhận địnhcủa các tác giảtrên có thểthấysựđa dạngvềhình thức tồn tại của “của hối lộ”. Việc xác định yếu tố “của hối lộ” vì vậy trở nên khôngđơn giản. Một mặt khó khăn xuất phát từ chỗ có một số hình thức “của hối lộ” nằm

43

ngoài những hình thức truyền thống, đặc biệt là những trường hợp “của hối lộ” tồn tại dưới hình thức phi vật chất, khó có thể tính được thành tiền. Mặt khác, “của hối lộ” còn khó phân biệt với một số đối tượng có đặc điểm tương tự, nhất là khó phân biệt với các loại quà (tặng, biếu). Dường như tập quán tặng quà, lệ “lại quả” trong kinh doanh, một số quan niệm chấp nhận hoặc thậm chíủng hộ sự tồn tại của hối lộđã trở thành những yếu tố che mờ khoảng cách giữa “của hối lộ” và các hình thức

quà hay các khoản ủng hộv.v… Một nhà nghiên cứu đã nhận định “bản chất phi pháp củatội phạm vềhối lộbịtruyền thống tặng quà che khuất nên rất khó phân biệt giữa quà tặng và của hối lộ” [Mitchell 1996, tr.147]. Điều đó cho thấy “của hối lộ” rất dễ trá hình dưới vỏ bọc của những hình thức lợi ích hợp pháp như trên. Vậy có thể dựa vào nhữngyếu tố nào để phân biệt “của hối lộ” vàquà biếu hoặc một sốhình thức lợi ích tương tự? Một số tác giả dường như đã thống nhất với nhau về một đặc điểm giúp nhận diện “của hối lộ” từ những đối tượngkhác, cho rằng “của hối lộ” có liênquan đến một thỏa thuận trao đổi những thứ có giá trịnhất địnhlấy sựảnh hưởngđối với hoạt động công vụ, trong khi quà biếu, khoản bồi dưỡng hoặc những đóng góp cho các chiến dịch lại không liên quan đến kiểu thỏa thuận như vậy [Green 2006, tr.198; Philips 1985, tr.626]. Tương tựnhưvậymột sốnghiên cứu khác cũng đưa ra quan điểm cho rằng trường hợp đưa quà tạ ơn giữa người đưa và người nhận không có sự thỏa thuận và cũng không gắn với việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn của người nhận [Trịnh Tiến Việt 2006, tr.46]. Bổsung cho các quan điểm trên, có ý kiến cho rằng việc xác định sự tồn tại rõ ràng của yếu tố “có đi có

lại” sẽgiúp xác định đâu là của hối lộ, đâu là quà hoặc khoản bồidưỡng [Rose – Ackerman 1999, tr.92-93]. Theo quan niệm này, “của hối lộ” chứa đựng yếu tố cóđi có lại rất rõ ràng, trong khi các loại lợi ích được đưa khác không có yếu tố này.

Bên cạnh đó, tác giảRose-Ackerman cũng nhấn mạnh rằng“nếunhư các món quà lại đủ lớn để có một tác động nhất định đến cách xử sự của người nhận thì có thể coi là yếu tố có đi có lại đã tồn tại một cách kín đáo” [Sđd, tr.93]. Như vậy, do giá trị của những món quà có thể gây ảnh hưởng tới hoạt động thực thi nhiệm vụcủa người nhận nên trong một sốtrường hợp cần xem xét giá trịlớn của quà như

44

một yếutốgiúp xácđịnh đó có phải là “củahối lộ”hay không. Cùng chung suy nghĩ đó, một tácgiảkhác cũng khẳng định “món quà “tạơn”cũngởmức độtình cảm, mang tính chất trọng nghĩa, trọng tình, kỷ niệm chứ không phải vì lợi ích vật chất và mang tính chất“đánh đổi” hay sòng phẳng” [Trịnh Tiến Việt 2006, tr.46]. Cũng cùng quan điểm đó, có tác giảcho rằng giá trịnhỏcủa món quà tuy không phải là một tình tiết loại trừ TNHS song cũng là yếu tố giúp xác định liệu món quàđó có phải là một loại của hối lộ [Lanham 1987, tr.205]. Thêm vào đó, một tác giảkhác cho rằng ngay cả đối với những khoản chi được đưa sau khi việc thực thi công vụđã được thực hiện trong hoàn cảnh việc đó được làm theo mộtlệngầm trong quan hệ kinh doanh thì hành vi vẫn cần bị xem là tội phạm nếu khoản chi đó có giá trịlớn[Zerbes 2007, tr.111]. Quan điểmtiếp theo dường nhưbổsung cho những quan điểm trước đó với nhận định rằng một khoản chi được đưa sau khi việc chọn người trúng thầu đã được quyết định vẫn bịcoi là của hối lộnếu thấy rằng người nhận có thể quan tâm đến khoản chi đó khi quyết định việc này ở những lần tiếp sau [CAER 2006, tr.4]. Ngoài những ý kiến nêu trên còn có quan điểmcho rằng đểphân biệt quà tặng với “của hối lộ” cần dựa vào một yếu tố cơ bản là mối quan hệvốn có giữa bên đưa và bên nhận. Nếu giữa người đưa quà và người nhận quà đã cómột mối quan hệ lâu dài và việc tặng quà giữa họ đã trở nên quen thuộc, món quà

tặng lần này không có gì khác biệt lớn so với những món quà trước đây thì không nên coi đó là “của hối lộ” [Befu 1975]. Các tác giả khác đưa ra một vài tiêu chí nữa để phân biệt của hối lộ với quà tạ ơn, ví dụ: ý định của người đưa quà là để đạt thêm những lợi ích khác sau đó, món quà có thể tác động đến người nhận và những người khác cũng nhận thức món quà đó là của hối lộ [Crane – Matten 2004]. Tác giả luận án nhận thấy nhiều điểm hợp lý trong những quan điểm này. Theo chúng tôi, việc xác định “của hốilộ” trong những trường hợp tính chất củalợi ích được đưa vànhận không rõ ràng cần căn cứ vào giá trị thực của lợi ích, vào ý nghĩa của lợi íchđối với người nhận, vào mối quan hệ giữa người đưa và người nhận, vào vị trí công tác của người nhận trong mối quan hệ với hoàn cảnh của người đưa lợi ích.Một tác giảThụyĐiển dường như chia sẻquan điểm vớitác giảluận án khi cho rằng cần

45

xem xét mối quan hệ giữa người đưa và người nhận khi xác định tính bất chính của lợi ích [Lennerfors 2007, tr.225].

Qua các quanđiểm trên, khái niệm “của hối lộ” luônbịảnh hưởngbởi các yếu tố như quan niệm đạo đức, giá trị và văn hoá truyền thống của mỗi quốc gia. Dođó rất khó để đưa ra một tiêu chí chung cho việc xác định đâu là của hối lộ, đâu làquà tặngởnhững giaiđoạn lịch sửkhác nhau cũng nhưđối với các xã hội khác nhau. Bên cạnh đó, việc quyđịnh tội phạmvềhối lộhoặc hợp pháp hoá một vài hình thức hối lộ có thể có sai lầm. Một tác giả nhận định: “một xã hội có thể sai lầm hợp pháp hoá những hành vi trao đổi lợi ích đáng bị coi là hối lộ hoặc sai lầm mở

rộng phạm vi đối tượng bị luật cấm tới những hành vi trao đổi lợi ích không đáng bịxem là hối lộ [Schwartz 2004, tr.187]. Một ý kiến khác cho rằng định nghĩa của hối lộ và quà tặng là những phạm trù mang tính văn hoá, nếu hành vi đưa quà được xem có thểchấp nhận trong một quốc gia trong khi đối với những người nhìn nhận khách quan đó là hành vi tham nhũng thì hành vi đó nên bịxem là trái pháp luật [Rose-Ackerman 1999, tr.110]. Chúng tôi cũng cho rằng việc xem xét hình sự hoá những lợi ích được trao đổi để trở thành của hối lộ trong chừng mực nào đó nên dựa trên đánh giá và kinh nghiệmtừbên ngoài, vì đốivớibảnthân quốc gia việc xác định có thể bị ảnh hưởng bởi tập quán và truyền thống và có thể không chính xác.

Như vậy, những quan điểm nêu trên cho thấy trên bình diện quốc tế đã có sựnhất trí cao về tính chất của “của hối lộ”, song do sự khác biệt về văn hoá, truyền thống, quan niệm, v.v… nên việc xây dựng những tiêu chí chung để xác định “của hối lộ” vẫn khôngđơngiản. Bên cạnh đó, vai trò quan trọng của yếu tố của hối lộđã được chứng minh và khẳng định. Đây là yếu tố giúp xác định tính bất chính của hành vi hối lộso với những hành vi trao đổi lợi ích hợp pháp. Vì vậytác giảcho

rằng “của hối lộ” cần được quy định làmột dấu hiệu pháp lý đặc trưng trong CTTP của bất kì tội phạm về hối lộ nào.

Vấn đề tiếp theo đặt ra là ai có thể được lợi từ của hối lộ. Chúng tôi có quanđiểmcho rằng “của hối lộ” không nhất thiết được thụhưởng bởi chính ngườicóchức vụ, quyền hạn. Đó có thể là lợi ích đem lại cho bên thứ ba. Ví dụ như lợi ích

46

được dành cho vợ, con của người đó hoặc được hiến cho tổchức nơi anh ta đang hoạt động hoặc cho cơ quan nơi anh ta đang làm việc. Việc lợi íchđược thụ hưởng bởi bên thứ ba vẫn tạo ra một động cơ sai trái cho việc sử dụng quyền lực công đểthực hiện nhiệm vụ của người có chức vụ, quyền hạn. Như vậy, luật không nên quyđịnh cứng nhắc người được hưởng lợi do việc đưa và nhận hối lộchỉlà người cóchức vụ, quyền hạn. Đó có thể là bất kì ai có hoặc không có quan hệ thân thích với người công chức: các thành viên trong gia đình, bạn bè, đảng phái chính trị, một tổ

chức, v.v…Điều quan trọng là “nó tạo ra động cơ xấu cho hoạt động của người công chức” [Zerbes 2007, tr.96].

Vấn đề các dạng hành vi của tội đưa hối lộ và nhận hối lộ không được luận bàn nhiều trong khoahọcluật hìnhsự.Nhìn chung các quanđiểmđềuthống nhất cho rằng cáctộiphạmvềhốilộlà nhữngtộichỉcầncómộtdấuhiệu trongmặtkhách quanđượcphản ánh là hành vi khách quan.Trướchếtchúng tôi muốnđềcậptới hành vi khách quan của tội đưa hối lộ. Thông qua một vài định nghĩahối lộ được đưa ra tại phần 1.1.1 của luận án, vídụ như địnhnghĩa được nêu trong OECD Observer 2000, các dạng hành vi của tội đưa hối lộ đã được phản ánh khá rõ nét. Nhìn chung các dạng hành vi được phản ánh gồm hành vi mời nhận hối lộ, hứa đưa hối lộ và đưa của hối lộ. Chúng tôi cũng cho rằng hành vi khách quancủa tội đưa hối lộ nên được nhà làm luật thiết kế bao gồm ba dạng: mời nhận hối lộ, hứa đưa của hối lộ hoặc đưa của hối lộ. Trong đó, “mời nhậnhốilộ” làhành vi tỏ ý mong muốn hoặc thỉnh cầu người có chức vụ, quyền hạn nhận của hối lộ. Lời mời hối lộ thể hiện thế chủ động của người đưa hối lộ, được thực hiện bởi chính mong muốn của người đó chứ không chịu áp lực từ phía người cóchức vụ, quyền hạn. “Hứa đưa của hối lộ” được hiểu là hành vi nhận lời yêu cầu hối lộ của người có chức vụ, quyền hạn vàbảo đảm việc đưa của hối lộ sau đó. Bằng lời hứa, người đưa hối lộ đã đưa ra một lời cam kết mang tính xác định. Trong trường hợp lời hứa thể hiện mong muốn của riêng người đưa hối lộ, lờihứathườngđược đưara cùng thờiđiểmvớilời mờihối lộ.Trong trường hợp người có chức vụ gợi ýhoặc đòi được hối lộ, lời hứa là sự nhận lời của người đưa hối lộ với người nhận hối lộ. “Đưa của hối lộ” làsự chuyển giao thực tế một loại lợi ích

47

từ người đưa hối lộ sang sự kiểm soát của người có chức vụ. Tiến trình chuyển giao “của hối lộ” thường phụ thuộc vào tính chất của loại lợi ích được dùng để đưa hối lộ.

Đối với tài sản đươngnhiên sẽ đòi hỏi việc chuyển giao quyền sở hữu; các ngân khoản sẽ được chuyển qua tài khoản tại ngân hàng; một xuất học tại trường Đại họchoặc trường Caođẳng sẽđượcbảo đảm bằngsựđăng kí ởtrường. Việc chuyển giao được coi là đã được thực hiện khi của hối lộ đãở vịtrí mà người công chức có thểkiểm soát được,ví dụnhư có thểtiếp nhận quyền sở hữu tài sản, có thể kí séc để rút tiền tại ngân hàng, có thể đến học tại

trường Đại học, v.v… [Zerbes 2007, tr.110].

Qua phân tích trên có thể thấy rằng hành vi đưa của hối lộ là hành vi thực tếchuyển giao lợi ích và hành vi này hoàn toàn độc lập với hành vi nhận của hối lộ. “Việc người có chức vụ, quyền hạn đã thực tế thực hiện quyền kiểm soát của mìnhđối với của hối lộhay không là điều không quan trọng: hành vi đưa không phụthuộc vào hành vi nhận” [Zerbes 2007, tr.110].

Chúng tôi nhận thấy những dạng hành vi khách quan nàyđã thểhiện phần nào tính đặc trưng củacác dấu hiệu pháp lý của tội đưa hối lộ. Đồng thời có thểthấy ba loại hành vi nêu trên là những mắt xích khác nhau trong tiến trình thực hiện tội đưa hối lộ. Tuy nhiên, các hành vi này nên được quyđịnh là các dạng hành viđộc lập trong CTTP. Điều đó có nghĩa là việc thực hiện độc lập mỗi hành vi này đãđủ để cấu thànhtội phạm. Ví dụ như hành vi hứa hẹn trước sẽ traocủa hối lộ đã đủđểcấu thành tội đưa hối lộhoặc hành vi đưacủa hối lộcó thểđược tiến hành màkhông cần hành vi hứa hẹn trước sẽtrao của hối lộ. Các hành vi nêu trên có thểđược thực hiện bởi những chủthểkhác nhau trong một vụphạm tội hối lộ. Tội phạm có thể được thực hiện theo tiến trình trong đó người này sẽ thực hiện việc đưa của hối lộ theo lời hứa trước đó của một người đồng phạm khác. “Có thể một người khác thực hiện hành vi thỏa thuận đưa hối lộ trước hoặc chính người đưa của hối lộđồng thời là người hứa hẹn trước đưa hối lộ. Trong bất kì trường hợp nào, các hành vi trước đó có thểđược xem là độclập đốivới hành vi đưa củahối lộsau đó”

[Zerbes 2007, tr.110]. Điểm khác nhau giữa các loại hành vi trên là ở chỗ trong khi hành vi“đưa của hối lộ” không đòihỏi một sự thỏa thuận trước giữa người đưa hối

48

lộ và người có chức vụ, các hành vi “mời nhận hối lộ” và “hứa đưa hối lộ” lại cần thỏa mãn yêu cầu này. Trên quan điểm về ba dạng hành vi nói trên của tội đưa hối lộ, chúng tôi cho rằng tội đưa hối lộsẽhoàn thành khi người có đưa hối lộthỏa thuận được với người có chức vụ về việc nhận của hối lộ và làm theo yêu cầu của người đưa, hoặc khi của hối lộđã được thực tếchuyển tới người có chức vụ. Vì hành vi đưa của hối lộ không phụ thuộc vào hành vi nhận của hối lộ nên tội đưa hối lộ vẫn hoàn thành kể cả trong trường hợp người có chức vụ từ chối nhận của hối lộ. Trên thực tế, lời hứa đưa của hối lộhoặc lời mời hối lộhoặc của hối lộcó thểbịchuyển tới sai địa chỉ hoặc không thể chuyển được tới người công chức vì những lído nhất định. Trong những trường hợp này, tội đưa hối lộkhông được coi là đãhoàn thành. Đâycần được xem là những trường hợp phạm tội chưa đạt. Bên cạnhđó còn có trườnghợp lời hứa, lời mời hối lộ hoặc của hối lộ đã được đưa đúngđịa chỉ song vì những lí donhất địnhmà người công chức đã khôngbiết được điều đó. Ví dụ như người công chức vẫn chưa kiểm tra thư điện tử do người đưa hối lộ gửi trước khi người đó làm một việc có lợi cho người đưa hối lộ, vì vậy việc người đólàm không chịu ảnh hưởng bởi hành vi đưa hối lộ. Tuy nhiên trong trường hợp này các hành vi trên vẫn cấu thành tội đưa hối lộ ở giai đoạn phạm tội chưa đạt.

Hành vi khách quan của tội nhận hối lộtheo chúng tôi nên là một trong ba dạng: hành vi nhận lời mời hối lộ, hành vi nhận của hối lộ hoặc hành vi đòi hối lộ. “Nhận lời mời hối lộ” là hành vi đồng ý với lời đề nghị hối lộ của người đưa hối lộ. Khi người có chức vụ nhận lời mời hối lộ là lúc thỏa thuận giữa người đưa và người nhận hốilộđã đạtđược. “Nhậncủa hối lộ”là hành vi thực tếtiếp nhận lợiíchtừphía người đưa hối lộ. “Đòi hối lộ” là hành vi của người có chức vụ chủ động yêu cầu người khác phải đưa lợi ích cho mình để đổi lấy việc mình thực hiện chức trách theo hướng có lợi cho người đưa lợi ích. Tội phạm hoàn thành khi chủ thể thực tếnhận “của hối lộ” hoặc đạt được sự thỏa thuận với người đưa về việc nhận “của hối lộ” và chịu ảnh hưởngcủa người đưa hối lộ trong khi thực thi nhiệm vụ của mình.

Theo quan điểm của chúng tôi, các hành vi hối lộ có thể được thực hiện dưới bất kì hình thức nào, có thể kín đáo hoặc công khai. Có tác giả cho rằng khái niệm

49

hối lộ nên bao hàm một đặc điểm không thể thiếu là tính lén lút [Senior 2006, tr.27]. Dựa trên quan điểm đó việc xây dựngđịnh nghĩa tộiphạm vềhốilộsẽphải bao gồm dấu hiệu lén lút. Tuy nhiên, cần thấy rằng hành vi hối lộ hoàn toàn có thể thực hiện một cách công khai. Hơn nữa tính chất bất chính của hành vi đưa và nhận hối lộ không nằm ở hình thức lén lút của những hành vi này. Chúng tôi cho rằng hình thức thực hiện việc đưa và nhận hối lộ không nên được xây dựng là dấu hiệu pháp lý bắt buộc trong CTTP của các tội phạm về hối lộ.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CÁC TỘI PHẠM VỀ HỐI LỘ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TRONG SỰ SO SÁNH VỚI LUẬT HÌNH SỰ THỤY ĐIỂN VÀ AUSTRALIA

Các tội phạm về môi trường ở Việt Nam: Tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa Các tội phạm về môi trường ở Việt Nam: Tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa Các tội phạm về môi trường ở Việt Nam: Tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa Các tội phạm về môi trường ở Việt Nam: Tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa Các tội phạm về môi trường ở Việt Nam: Tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa Các tội phạm về môi trường ở Việt Nam: Tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa Các tội phạm về môi trường ở Việt Nam: Tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa Các tội phạm về môi trường ở Việt Nam: Tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa Các tội phạm về môi trường ở Việt Nam: Tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa Các tội phạm về môi trường ở Việt Nam: Tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa Các tội phạm về môi trường ở Việt Nam: Tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa Các tội phạm về môi trường ở Việt Nam: Tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa Các tội phạm về môi trường ở Việt Nam: Tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa Các tội phạm về môi trường ở Việt Nam: Tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *