Biện pháp phòng ngừa hành chính theo pháp luật Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phòng ngừa hành chính là biện pháp được sử dụng phổ biến trong quản lý hành chính nhà nước ở mọi quốc gia. Theo quy định pháp luật Việt Nam, phòng ngừa hành chính là biện pháp do các cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền áp dụngđểngăn ngừa những vi phạm pháp luật trong quản lý nhànướccũng nhưbảo
đảman toàn xãhộitrong các trườnghợpkhẩn cấp, thiên tai, dịchbệnh….Tính chất cưỡng chế của các biện pháp phòng ngừa hành chính thể hiện ở chỗ: việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa không cần sự đồng ý của cá nhân, công dân, tổ chức và quyếtđịnh áp dụng các biện pháp phòng ngừa phải được chấp hành vô điều kiện.
Cho đếnnay, nhận thức lý luậnvề biện pháp phòng ngừa hành chính chưa thống nhất, còn có nhiều quan điểmkhác nhau về nội hàm của biện pháp phòng ngừa hành chính, chưa có những luận giải khoa học về cơ chế tác động hay các bảođảm thực hiệnbiện pháp phòng ngừa hành chính. Những nghiên cứu về biện pháp phòng ngừa hành chính rất sơ sài, hầu như chưa giải quyết cốt lõi bản chất, chưađáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra. Với những bất cập trong vấn đề nhận thức lý luận và thực trạng nghiêncứunói trên,kếtquảnghiêncứucủađềtàisẽgóp phần khắc phục những khiếm khuyết này. Bên cạnhđó,các quy địnhcủapháp luật vềbiện pháp phòng ngừa hành chính cũngbộclộnhữnghạnchế,bấtcập, các quy định chưa tạo thành một hệ thống thống nhất, nằm tản mát trong các văn bản pháp luật chuyên ngành, theo quy định của pháp luật, có những biện pháp về bảnchất là biện pháp phòng ngừa hành chính nhưng việc nhận diện tươngđối khó khăn. Thực tiễn các nhà lập pháp chưa có cách nhìn toàn diện, tổng quát vềbiện pháp phòng ngừa hành chính, chưa đánh giá toàn bộ hệ thống các biện pháp phòng ngừa hành chính.
Trong quá trình thực hiện biện pháp phòng ngừa hành chính cho thấy luôn chứa đựng nguy cơ xâm phạmđến quyền con người, quyền công dân, cơ quan, tổchức từphía cácchủthể có thẩm quyền. Thực tiễn không ít trườnghợpcơ quan nhànước, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính không đúng quy định pháp luật (vì bản chất của biện pháp phòng ngừa hành chính là không cần
1
sựđồng ý của công dân, tổ chức và quyết định phòng ngừa phải được chấp hành vô điều kiện), dẫn đếnxâm hạiquyền,lợiíchhợppháp của các cá nhân,tổ chức. Ngược lại,từphía đối tượng quản lý có nhiều trường hợp coi nhẹ các biện pháp này dẫn đến pháp luật không được thực hiện nghiêm chỉnh. Mặc dù hoạt động áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính diễn ra nhiều, thường xuyên nhưng ít ai để ý vànhận thức đầy đủ về bản chất, vai trò của nó. Điều đó làm cho pháp luật không được tôn trọng, nhà nước không hoàn thành vai trò của mình trong quản lý nhà nước khi sửdụng pháp luật là phương tiện quản lý. Vậy áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính như thế nào để vừa đảmbảo quyền con người, quyền công dân, vừa bảo vệtrật tự pháp luật là vấn đề quan trọng cần được giải quyết thấu đáo, triệt để.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, vi phạm pháp luật trong quản lý hành chính nhà nước càng gia tăng, vai trò của biện pháp phòng ngừa hành chính lại càngđược thể hiện rõ nét hơn. Do đó, nhu cầu điều chỉnh, áp dụng tăng lên của các biện pháp nàylà lẽđương nhiên. Nhưng cần phải có mộtgiới hạn rõ ràng cụ thể để áp dụng nhóm biện pháp này trong thực tiễn, tránh tình trạng lạm quyền, lộng quyền của các nhà chức trách, đồng thờibảovệ được quyềncông dân, quyền con người,đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hộichủnghĩa ở nước ta.
Từtấtcả những điều trên đây, để đáp ứng những yêu cầu của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaở Việt Nam, cần nghiên cứu chuyên sâu, đầy đủ, hệ thống về biện pháp phòng ngừa hành chính để tìm ra những luận cứkhoa học cho việc hoàn thiện biện pháp phòng ngừa hành chính ở phương diện pháp luật thực định; đồng thời đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật biện pháp phòng ngừa hành chính trên các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền.
Xuất phát từthực tiễn đó, việc chọnđề tài “Biện pháp phòng ngừa hành chính theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ, chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính sẽ đáp ứng phần nào đòi hỏi cấp thiết nêu trên.
2. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục đích: Làm rõ những vấn đềlý luậnvề biện pháp phòng ngừa hành chính, đánh giá thực trạng áp dụng các biện pháp,đề xuất cácgiải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về biện pháp phòng ngừa hành chính và các giải pháp bảo đảmáp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính.
Nhiệm vụ : Để đạt được mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, khái quát được các công trình khoa học về biện pháp phòng ngừa hành chính, đưa rađược quanđiểm khoa học vềbảnchất,đặc điểm,phân loại các biện pháp phòng ngừa hành chính; đánh giá vai tròcủabiện pháp phòng ngừa hành chính trong quản lý nhà nước; xác định các giới hạn của việc áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính; phân tích làm rõ các đảm bảo thực hiện biện pháp phòng ngừa hành chính hiện nay.
Thứ hai, phân tích quá trình hình thành và phát triển pháp luật về các biện pháp phòng ngừa hành chính, từ đó chỉ ra tính quy luật của sự phát triển; đánh giáthực trạng pháp luật hiện hành về biện pháp phòng ngừa hành chính cũng như việcáp dụng pháp luật về biện pháp phòng ngừa hành chính trong thực tiễn.
Thứ ba, xác định rõ các nhu cầu và quan điểm hoàn thiện pháp luật về biện pháp phòng ngừa hành chính trong bối cảnh hiện nay. Trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật biện pháp phòng ngừa hành chính và một số biện pháp bảo đảm cho việc áp dụng đúng các biện pháp phòng ngừa hành chính.
Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu cơ sởlý luận vềbiện pháp phòng ngừa hành chính, các quy định của pháp luật hiện hành ở Việt Nam về biện pháp phòng ngừa hành chính. Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu của luận án còn là những quy định của pháp luật Việt Nam về biện pháp phòng ngừa hành chính từ năm 1945 đến nay. Sốliệu, các vụ việc thực tiễn được thống kê cụ thể trong giai đoạn 2010-2017.
Trong khuôn khổcủa luận án không thểphân tích hết tất cảcác biện pháp phòng ngừa hành chính. Luận án sẽ lựa chọn nghiên cứu những biện pháp phòng ngừa hành chính cụ thể có tính chất điển hình mà thông qua đó có cái nhìn khái quát về đặc thùcủa biện pháp phòng ngừa hành chính.
Luận án chỉ tập trung phân tích một số vấn đề cơ bản như: khái niệm, đặc điểm biện pháp phòng ngừa hành chính, vai trò và giới hạn áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính, các bảo đảm thực hiện biện pháp phòng ngừa hành chính, thực trạng pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật biện pháp phòng ngừa hành chính, quan điểm vàgiải pháp hoàn thiện pháp luật vềbiện pháp phòng ngừa hành chính vàbảođảmáp dụng các biện pháp phòng ngừa hành chính ở nước ta hiện nay.
3. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận án sửdụng những phương pháp cụthểnhư: phương pháp phân tích, tổng hợp, hệthống, liên ngành, phương pháp luật học so sánh, phương pháp lịch sửcụthể, phương pháp thống kê. Những phương pháp đó được sử dụng như sau:
Mục 1.1; 1.2; 1.3. Chương 1,sửdụng phương pháp liệt kê, phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ tình hình nghiên cứu biện pháp phòng ngừa hành chính trên thếgiới và ởViệt Nam,từđó đưa ra những đánh giá chung tình hình nghiên cứu liên quan đến biện pháp phòng ngừa hành chính hiện nay.
Mục 2.1. Chương 2, sửdụng chủyếu phương pháp phân tích, kếthừa, so sánh, tổng hợp đểlàm rõ một sốvấn đềlý luận cơ bản vềbiện pháp phòng ngừa hành chính.
Mục 2.2. Chương 2,sửdụng phương pháp tổng hợp, liệt kê, phân tíchđểchỉ ra các biện pháp phòng ngừa hành chính.
Mục 2.3. và mục 2.4. Chương 2, sử dụng phương pháp phân tích, quy nạp, so sánh đểnêu bật vai trò và giới hạn áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính, các bảo đảm thực hiện biện pháp phòng ngừa hành chính.
Mục 3.1; 3.2. và 3.3. Chương 3, sử dụng phương pháp hệ thống, phân tích, quy nạp, so sánh, lịch sử, thống kê để mô tả, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các biện pháp phòng ngừa hành chính.
Mục 4.1; 4.2; 4.3. Chương 4,sửdụng phương pháp hệthống, dựbáo, giải thích, diễn dịch, tiếp cận đa ngành và liên ngành luậthọcđểđưa ra nhu cầu hoàn thiện, quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm áp dụng phápluật vềbiện pháp phòng ngừa hành chính ở nước ta hiện nay.
Trong quá trình nghiên cứu, bên cạnh những phương pháp chung của khoa học pháp lý, chúng tôi sử dụng các phương pháp đặc thù của khoa học hành chính, trong đó có kỹ năng vận dụng các quy định về biện pháp phòng ngừa hành chínhđểgiải quyết các quan hệliên quan đếnáp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước.
4. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Thứ nhất, luận án đưa ra quan điểm khoa học về biện pháp phòng ngừa hành chính: bản chất, khái niệm, đặc điểm, các biện pháp phòng ngừa hành chính, vai trò và giới hạn áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính, các bảo đảm thực hiện biện pháp phòng ngừa hành chính.
Thứ hai, luận án khái quát sự hình thành phát triển của các biện pháp phòng ngừa hành chính theo pháp luật Việt Namtừ1945 đến nay, chỉ ra xu hướngvậnđộng của pháp luật về vấn đề này.
Thứ ba, luận án đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính, chỉ ra những hạn chế, bất cập, nguyên nhân của những hạn chế đó và đánh giá được thực trạng thực hiện pháp luật vềcác biện pháp phòng ngừa hành chính.
Thứ tư, từ việc đánh giá nhu cầu hoàn thiện pháp luật biện pháp phòng ngừa hành chính, trên cơ sởxác định quan điểmhoàn thiện pháp luật biện pháp phòng ngừa hành chính hiện nay ở nước ta, luận án đã đưa ra hệ thống các giải pháp hoàn thiện pháp luật biện pháp phòng ngừa hành chính cũng như những giải pháp bảo đảm cho việc áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách trực tiếp, toàn diện, có hệthống những vấn đề lý luận về biện pháp phòng ngừa hành chính ở Việt Nam, góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận về biện pháp phòng ngừa hành chính làm cơ sởkhoa học cho việc hoàn thiện hoàn thiện pháp luật về biện pháp phòng ngừa hành chính.
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sửdụng làm tài liệu tham khảo cho các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập về biện pháp phòng ngừa hành chính, một trong những nội dung của khoa học Luật hành chính. Luận án cũng có thể phục vụcho công táclậppháp và hoạtđộngthực tiễn áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính, giúp cho cán bộ, công chức hoàn thiện nhận thức về biện pháp phòng ngừa hành chính, từ đó hành xử đúng đắn khi sử dụng quyền lực trong áp dụng các biện pháp phòng ngừa hành chính.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm bốn chương như sau:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2. Những vấn đề lí luận về biện pháp phòng ngừa hành chính Chương 3. Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp phòng ngừa
hành chính ở Việt Nam
Chương 4. Quan điểm,giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảmáp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính ở nước ta hiện nay.

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc
1.3. Đánh giá chung tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1.3.1. Đánh giá các kết quả nghiên cứu đã đạt được
Qua nghiên cứu các tài liệu, công trình có liên quan đến đề tài nghiên cứu về biện pháp phòng ngừa hành chính từ trước đến nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam được
16
tiếp cận, chúng tôi xin đưa ra một vài đánh giá về những kết quả nghiên cứu trước đây đãđạt được:
Về lý luận
Các nghiên cứu đã chỉ ra có mối quan hệ giữa quản lý hành chính nhà nước và biện pháp phòng ngừa hành chính. Các cơ quan hành chính nhànước bảođảm trật tự chung của xã hội bằng việc áp dụng rất nhiều biện pháp, trong đó phòng ngừa hành chính là biện pháp không thể thiếu nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước và cộng đồng trong những tình huống bất thường hoặcđể nhằmloại bỏ từtrước các nguy cơ
tồn tại hành vi vi phạm pháp luật hành chính, giúp cho trật tựquản lý hành chính nhà nước không bị xâm hại..
Các tác giả đã đưa ra một số quan niệmvề biện pháp phòng ngừa hành chính. Có quan niệm biện pháp phòng ngừa hành chính được coi là cưỡng chế hành chính. Quan niệm khác không coi biện pháp phòng ngừa hành chính là cưỡng chế hành chính, vì cho rằng cưỡngchế hành chính là các biện pháp cưỡng chếcụthểđược áp dụng trong trường hợp vi phạm pháp luật, còn phòng ngừa hành chính xuất hiện khi chưa có vi phạm hành chính xảyra,sựtồn tại chúng là nhằmđể tránh vi phạm hành chính xảy ra hoặc để giải quyết những tình huống bất thường trong quản lý hành chính nhà nước. Điều này cho thấy nghiên cứu về biện pháp phòng ngừa hành chínhđã được các tác giả xem xét trong tương quan với việc sửdụng quyền
lực nhà nước vàsựtựnguyện thực hiện một nghĩa vụ trước khi có cưỡng chế xuất hiện. Mặcdù vậy, các quan niệm khác nhauvề phòng ngừa hành chính giúp cho chúng ta có cái nhìn đa diện đối với biện pháp phòng ngừa hành chính.
Vềthực trạng pháp luật biện pháp phòng ngừa hành chính
Kết quả của các công trình nghiên cứu đã khái quát về pháp luật và thực tiễnáp dụng pháp luật biện pháp phòng ngừa hành chính ở mức sơ khai. Giúp chúng ta xem xét vấn đề và kế thừa kết quả đó trong quá trình nghiên cứu biện pháp phòng ngừa hành chính.
Về giải pháp
Kết quả các công trình nghiên cứu trên ban đầu đưa ra giải pháp khắc phục hạn chế của quy định pháp luật biện pháp phòng ngừa hành chính và nâng cao hiệu quả áp dụng một số biện pháp phòng ngừa hành chính.
17
1.3.2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Do nhữnghạnchế nhất địnhvề thời gian hoặc do giới hạn phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu khác nhau mà những công trình trên vẫn chưa trình bày một cách có hệ thống và toàn diện lý luận về biện pháp phòng ngừa hành chính, thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng cũng như giải pháp hoàn thiện biện pháp phòng ngừa hành chính. Từnhững kết quả nghiên cứu đã đạt đượcnói trên đặt ra cho luận án những vẫn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu, đó là:
Vấn đề lý luận về biện pháp phòng ngừa hành chính
Trên cơ sở phân tích một cách khoa học các quan niệm trước đây về biện pháp phòng ngừa hành chính để đưa ra quan niệm của mình về biện pháp phòng ngừa hành chính, làm rõbảnchấtcủabiện pháp phòng ngừa hành chính. Luận ánsẽtìm cách minh định giữa biện pháp phòng ngừa hành chính với các biện pháp phòng ngừa khác. Đây cũng chính là điều mà các công trình nghiên cứu nói trên chưa giải quyết được triệtđể. Do vậy, đòi hỏi luận án cần phải có cách tiếp cận mới này trong nghiên cứu.
Về đặc điểmcủa biện pháp phòng ngừa hành chính: luận án cần phát triển thêm một bước để làm rõ những đặc trưng của biện pháp phòng ngừa hành chính, bổ sung những đặc điểmmới chưa được đềcập trong các công trình nghiên cứu trước.
Về tổng hợp các biện pháp phòng ngừa hành chính: trên cơ sở kế thừa cách các biện pháp phòng ngừa hành chính đã được đề cập, luận án cũng cần thiết phải nhận thức rõ và sâu hơn về mỗi nhóm biện pháp phòng ngừa hành chính.
Vai trò và giới hạn của việc điều chỉnh và áp dụng pháp luật về biện pháp phòng ngừa hành chínhđếnđâucòn làmộtvấnđềcònbỏngỏtrong các công trình nghiêncứuhiện nay. Nghiêncứuvềgiớihạnnày cũng khôngthểtách rời vớinghiêncứuvềvai tròcủabiện pháp phòng ngừa hành chính trong quản lýhành chính nhà nước. Vì vậy, một trong những nội dung nghiên cứu mà luận án cần phải làm sáng tỏ là vai trò của biện pháp phòng ngừa hành chính trong quản lý hành chính nhànướcvà giớihạncủaviệcđiềuchỉnh, áp dụng pháp luậtvềbiện pháp phòng ngừa hành chính hiện nay.
18
Vấn đềthực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính
Luận án cần phải làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về biện pháp phòng ngừa hành chính cũng như thực tiễn áp dụng chúng. Việc nghiên cứu tổng thể biện pháp phòng ngừa hành chính trong một chỉnh thể thống nhất của quá trình điều chỉnh giúp chúng ta nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn, thấy được mối liên hệ giữa các biện pháp trong nhóm với nhau.
Luận án sẽ nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của các biện pháp phòng ngừa hành chính ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, để từ đó giúp chúng ta có cái nhìn thấu đáo đầy đủ về các biện pháp phòng ngừa hành chính hiện hành. Qua đó thấy được vai trò của các biện pháp phòng ngừa hành chính ở các giai đoạn lịch sử khác nhau vàxem xét vấn đề kế thừa các biện pháp đó trong sự phát triển. Đồng thời nghiên cứu quátrình điều chỉnh pháp luật về biện pháp phòng ngừa hành chính qua các giai đoạn lịch sửcủa nhà nước Việt Nam cũng sẽ giúp cho việc nghiên cứu thực trạng các quy định pháp luật hiện hành được toàn diện. Luận án tiếp tục làm rõ phòng ngừa hành chính qua thực tiễn áp dụng và đánh giá hiệu quả cũng như hạn chế trong pháp luật và áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính.
Vấn đềgiải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảmáp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính
Trên cơ sở nhận thức lý luận cũng như đánh giá pháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính, luận án có nhiệmvụ đưara những kiến nghị nhằm hoàn thiện biện pháp phòng ngừa hành chính. Bên cạnh việc đưa ra những giải pháp về nhận thức, giải pháp hoàn thiện pháp luật, luận án cần kiến nghịcác giải pháp đảmbảoáp dụng pháp luật biện pháp phòng ngừa hành chính. Đánh giá tổng quát tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án cho thấy cho đến nayởnước ta chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện vấn đề lý luận vàđiều chỉnh pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng các biện pháp phòng ngừa hành chính trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của biện pháp phòng ngừa hành chính trên cơsở những cách tiếp cận mới là rất cần thiết.
19
1.4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu của luận án
Luận án được triển khai với các câu hỏi nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh: Lý luận, thực tiễn pháp lý và các đề xuất kiến nghị.
Câu hỏi nghiên cứu chung: pháp luật biện pháp phòng ngừa hành chính cần quy định những nội dung nào?
Giả thuyết nghiên cứuchung: pháp luật biện pháp phòng ngừa hành chính phải quy định, làm rõ được khái niệm, đặc điểm, vai trò của biện pháp phòng ngừa hành chính; các biện pháp phòng ngừa hành chính; các bảo đảm thực hiện biện pháp phòng ngừa hành chính.
Để trả lờicâu hỏi và giả thuyết nghiên cứu chung trên đây, luận án sẽ đi vào trả lời các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu cụ thể sau đây:
Thứ nhất: về vấn đềlý luận, luận án hướng tới giải quyết những câu hỏi sau đây:
Câu hỏi nghiên cứu:
Phòng ngừa hành chính là gì?; Các biện pháp phòng ngừa hành chính?; Vai tròcủa biện pháp phòng ngừa hành chính?; Các bảo đảmthực hiện biện pháp phòng ngừa hành chính là gì?;
Giả thuyết nghiên cứu:
Phòng ngừa hành chính là biện pháp do các cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền áp dụng để ngăn ngừa những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước cũng như bảo đảm an toàn xã hội trong các trường hợp khẩn cấp,
thiên tai, dịch bệnh….
Các biện pháp phòng ngừa hành chính gồm hai nhóm: (1) nhóm biện pháp kích thích hành vi hợp pháp trong quản lý hành chính nhà nước; (2) nhóm biện pháp ngăn chặn, hạn chế khả năng gây tổn hại tới lợi ích xã hội trong tình huống bất thường của quản lý hành chính nhà nước.
Vai trò của biện pháp phòng ngừa hành chính là: nâng cao hiệu quả của hoạtđộng quản lý hành chính nhà nước, bảo đảmtrật tựquản lý nhà nước, tạo điều kiện bình thường cho sự phát triển kinh tế – xã hội, cho an ninh trậttự xã hội; bảo đảm đểthực thi quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hành pháp, bảo đảm trậttựquản lý nhànước, đặc biệt làkhi xảy ra các tình huống bất thường trong xã hội; là phương tiện
20
để bảo vệ các lợi ích hợp pháp của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Bên cạnh đó, phòng ngừa hành chính còn có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa vi phạm pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật, kích thích các hành vi hợp pháp trong xã hội hoặc ngăn chặn, hạn chế khả năng gây tổn hại tới lợi ích của xã hội trong những tình huống bất thường của quản lý hành chính nhànước.
Các bảo đảm thực hiện phòng ngừa hành chính có thể là: chính sách và quyết tâm chính trị củaĐảng và nhà nước; thủtụcvà thẩm quyền áp dụng phòng ngừa hành chính; năng lực và phẩm chất của cánbộcông chức làm nhiệm vụ phòng ngừa hành chính; trách nhiệm pháp lý trong thực hiện áp dụng phòng ngừa hành chính; cơ chế giám sát thực hiện phòng ngừa hành chính.
Dự định kết quả nghiên cứu: phân tích cơsở lý luậnđể đưa ra khái niệm phòng ngừa hành chính, khẳngđịnhvai trò của phòng ngừa hành chính và chỉ rõcác biện pháp phòng ngừa hành chính hiện hành. Đồng thời chỉ ra được giới hạn áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính và các bảo đảm pháp lý thực hiện đúng biện pháp phòng ngừa hành chính.
Thứ hai: về phương diện thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính, luận án hướng tới giải quyết những câu hỏi sau đây:
Câu hỏi nghiên cứu:
Biện pháp phòng ngừa hành chính được pháp luật quy định như thế nào?; Biện pháp phòng ngừa hành chính được áp dụng trên thực tiễn như thế nào?; Đánh giá ưu điểm, nhược điểm, hạn chế và khó khăn của thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu:
Thực trạng pháp luật về biện pháp phòng ngừa hành chính được thể hiện qua
ba giai đoạnlớn của lịch sửquản lý hành chính nhà nước: (1) giai đoạn 1945 –
1954; (2) giai đoạn 1954 – 1986; (3) giai đoạn 1986 đến nay được hình thành, phát triển gắn với các điều kiện xã hội cụ thể ở nước ta là việc cần thiết giúp chúng ta nhìn nhận đầy đủ, thấu đáo về hệ thống phòng ngừa hành chính;
Pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chínhđược quyđịnh cụ thể, thể hiện nội dung và hình thức của phòng ngừa hành chính
21
theo 2 nhóm: nhóm biện pháp kích thích hành vi hợp pháp trong quản lý hành chính nhà nước; nhóm biện pháp ngăn chặn,hạnchế khả năng gâytổnhại tới lợi ích xãhội trong tình huống bất thường của quản lý hành chính nhà nước.
Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính hiện nay còn nhiều tồn tại, nguyên nhân xuất phát từsai lầmvề nhận thức phòng ngừa hành chính; sự hạn chế yếu kém của đội ngũ cán bộ công chức, cơ
chế giám sát thực thi biện pháp phòng ngừa hành chính chưa hiệu quả…
Kết quả nghiên cứu: chỉ ra các biện pháp phòng ngừa hành chính đã được sửdụng trong quản lý hành chính nhà nước từ1945 đếnnay; phân tích và đánh giáđược thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính hiện nay ở nước ta.
Thứba: về kiến nghị, đề xuất
Câu hỏi nghiên cứu:
Cần xác định nhu cầu hoàn thiện pháp luật biện pháp phòng ngừa hành chính như thế nào?; Các quan điểmhoàn thiện pháp luật biện pháp phòng ngừa hành chính là gì?; Giải pháp hoàn thiện pháp luật phòng ngừa hành chính và bảo đảm áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính là gì?
Giả thuyết nghiên cứu:
Nhu cầu hoàn thiện pháp luật biện pháp phòng ngừa hành chính có thể gồm:
xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaở Việt Nam; bảođảm sự an toàn của các quan hệ xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; yêu cầu của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế của Việt Nam; thực
trạng của pháp luật và áp dụng pháp luật phòng ngừa hành chính hiện nay…
Quan điểm hoàn thiện pháp luật biện pháp phòng ngừa hành chính là quán triệt các quan điểm, chính sách của Đảng và nhà nước về pháp luật và thực hiện pháp luật liên quan đến biện pháp phòng ngừa hành chính; đảm bảo sự đồng bộ, phù
hợp, tính khả thi của các quy định pháp luật phòng ngừa hành chính …
Giải pháp thể hiện trong ba nhóm: giải pháp nhận thức; giải pháp hoàn thiện pháp luật phòng ngừa hành chính và giải pháp bảo đảmáp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính.
22
Xây dựng được các nhu cầu hoàn thiện pháp luật phòng ngừa hành chính đầyđủ, chính xác; đưa ra các quanđiểm hoàn thiện pháp luật biện pháp phòng ngừa hành chính và giải pháp tối ưu để hoàn thiện pháp luật và bảo đảm áp dụng pháp luật biện pháp phòng ngừa hành chính.
Kết luận chƣơng 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy biện pháp phòng ngừa hành chính chođến nay là vấn đề chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện.
1. Các công trình nghiên cứu ở ngoàinướccó liên quanđếnbiện pháp phòng ngừa hành chính không nhiều, nếu có thì lại gắn với đặc trưng của chế độ chính trịvà truyền thống văn hóa pháp lýcủaquốc giađó.Các công trình nghiên cứu trong nước liên quanđếnbiện pháp phòng ngừa hành chính cũng rất sơ khai, mới chỉđềcập chung chung về biện pháp phòng ngừa hành chính.
2. Những kết quả nghiên cứu trên cho thấy còn nhiều vấn đề về biện pháp phòng ngừa hành chính chưa được nghiên cứu hoặc chưa được làm rõ như: bản chất, đặc điểm, các biện pháp phòng ngừa hành chính; vai trò, giới hạn áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính; những bảo đảmthực hiện biện pháp phòng ngừa hành chính; đánh giá thực trạng các quyđịnh pháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính. Vì vậy, luận án có nhiệm vụ làm rõ các vấn đề nói trên, từđó đưa ra các quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về biện pháp phòng ngừa hành chính, cũng như các giải pháp bảo đảmcho việc áp dụng đúng biện pháp phòng ngừa hành chính bảo đảm quyền công dân, quyền con người ở Việt Nam.
23
NHỮNGVẤN ĐỀ LÍLUẬN VỀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA
HÀNH CHÍNH
2.1. Bản chất, đặc điểm của biện pháp phòng ngừa hành chính 2.1.1. Bản chất của biện pháp phòng ngừa hành chính
Biện pháp phòng ngừa hành chính cũng như các biện pháp phòng ngừa nhànước khác đều có chung bản chất. Trong ngôn ngữ tiếng Việt“phòng ngừa có nghĩa là phòng trước, khôngđể cho cái xấu, cái không hay có thể xảy ra”[102, tr319], như vậy “phòng ngừa” có thể được thực hiện bởi rất nhiều chủ thể khác nhau, có thểbao gồmphòng ngừa nhà nước và phòng ngừa xã hội. Một số quan niệm khác vềphòng ngừa đãhiểu: “phòng ngừa là việc loại bỏ các nguyên nhân, điều kiệndẫnđến một hậu quả xấu nhất địnhtrên thực tế” [101, tr 289]. Tuy nhiên, với cách diễnđạt nhưtrên về phòng ngừa, mới chỉ thể hiện bản chất bên ngoài của nó, chưa chỉ rađược bản chất của phòng ngừa là gì.
Trong khoa học pháp lý có quan điểm về biện pháp phòng ngừa hành chính, theo đó:“biện pháp phòng ngừa hành chính được áp dụng nhằm phòng ngừa những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoạt động hành chính, cũng như nhằm đảm bảo trật tự an toàn xã hội trong các trường hợp khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh. Chúng được gọi là những biện pháp phòng ngừa vì có mục đích là phòng ngừa vi phạm pháp luật hoặc phòng ngừa những hiểm họa có thể xảy ra đối với sinh mạng và tài sản của công dân trong các hoàn cảnh khẩncấp” [97, tr227]. Phân tích quan niệm này cho thấy, khác với quan điểm ở trên, mang tính chất mô tả, quan điểm này trong chừng mực nhất định đã đi gần tới bản chất của phòng ngừa hành chính. Bỏ qua các biểu hiện bên ngoài của biện pháp phòng ngừa hành chính, quan niệm đã nhận thức phạm vi của biện pháp phòng ngừa hành chính rất cụ thể, theo đó phòng ngừa hành chính là biện pháp “phòng ngừa những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoạt động hành chính” hay “phòng ngừa những hiểm họa có thể xảy rađối vớisinh mạng và tài sản của công dân trong các hoàn cảnh khẩn cấp”. Tuy nhiên quan niệm chưa thểhiện được bản chất của phòng ngừa có mang tính cưỡng chế nhà nước hay không.
24
Đúng đắn hơn cả là khi cho rằng bản chất của biện pháp phòng ngừa hành chínhlà sửdụng“cưỡng bức” có tínhquyền lực nhà nước để tác động tới công dân, tổ chức nhằm kích thích các hành vi hợp phápcủa họ (từđó tránh không để vi phạm pháp luật xảy ra, ngăn ngừa hậu quả xấu cho xã hội) hoặc ngăn ngừa, hạn chế khả năng gây tổn hại những lợi ích xã hội, đảm bảo trật tự quản lý hành chính nhà nước trong tình huống bất thường. Theo đó, trong nội dung của quyền lực, có ba cách cơbản để tác động tới hành vi của người khác nhằmcó được kết quả màchủ thể mong muốn, đó là: ép buộc họ (bằngsựđedọahoặc sửdụng cưỡng bức, bắt buộcvềthể
chất, kinhtế…),dụ dỗhọ (bằng lợi ích vật chất hoặc danh vọng), thu hút, hấp dẫn chính người chịu tác động của quyền lực bằng sức hấp dẫn, các giá trị, tư
tưởng…của quyền lực [90, tr108]. Hai cách tác động sau có thể đạt được kết quảchủ thể quyền lực mong muốn, cái để buộc người này phải thực hiện điều không mong muốn chính là “cưỡng bức”. Do đó bản chất trước tiên của biện pháp phòng ngừa hành chính là mang tính cưỡng chếnhà nước. Tính cưỡng chếnhà nướccó khả năng tác động gián tiếp tới hành vi của cá nhân, tổ chức, chẳng hạnnhư tácđộng đến tâm lý đối tượng khiến họ lo sợ và phải thực hiện hành vi trái với ý muốn của mình. Hoặc cưỡngchế nhà nướccó thể tác động trực tiếp đến hành vi của cánhân, tổ chức,buộc họphải tuân theo ý chí của mình. Theo đó, tính chất cưỡng chếnhà nướccủa các biện pháp phòng ngừa hành chính thể hiện ở chỗ: việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa không cần sự đồng ý của công dân, tổ chức và quyết định phòng ngừa hành chính phải được chấp hành vô điều kiện.
Như vậy, biện pháp phòng ngừa hành chính có mối quan hệ chặt chẽ với quyền lực nhà nước. Trước hết, quyền lực là hiện tượng có trong nhiều quan hệ của đời sống xã hội như: quan hệ gia đình, trong các tổ chức xã hội, quan hệ lao động, quan hệ giữa nhà nước và công dân, tổ chức. Ban đầu, quyền lực có thể được hiểu là “quyền định đoạtmọi công việc quan trọng về chính trị và sức mạnh để bảođảm việc thực hiện quyền lực ấy” [23, tr192]. Ở đây, quyềnlực chỉđượcgiới hạn trong lĩnh vực chính trị- pháp lý củađờisống xã hội. Xét trên phương diện tâm lý (vềmặt ý chí), quyền lực được hiểu là ý chí củamột bên buộc bên kia phải tuân theo bao hàmcả sựphục tùng. Khái niệm quyềnlựctrong xãhộihọcđượchiểu là“khả
25
năng thực thi ý chí của mình đối với người khác”23, tr.195. Nói một cách khác, bất kỳai có thể kiểm soát được hành vi của người khác tức là đang có quyền lực. Dù tiếp cận dưới các góc độ khác nhau, nhưng đều thống nhất khi quan niệm về quyền lực, đó là: khả năng tác độngđến ứng xử (hành vi) của những người khác để có được những kết quả mình mong muốn. Quyền lực trong xã hội có thể chia thành hai loại:
quyền lực nhà nước và quyền lực xã hội. Quyền lực nhànước được hiểu là quyền lựcđược thực hiện bởi chủ thể là nhà nước, các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội, cá nhânđượcnhànướcủyquyền thực hiện quyềnlựcđó.Quyềnlựcnhànước được thực hiện bằng các phương pháp, hình thức, phương tiện của nhà nước, trong đó, pháp luật là công cụ có tính đặc trưng và đặc biệt quan trọng. Quyền lực xã hội do nhiều chủ thể khác nhau thực hiện như các đảng phái, các tổ chức chính
trị – xã hội, các doanh nghiệp, nhà trường, gia đình v.v… Các cách thức thực hiện quyềnlựccủanó khác cơbảnvớiquyềnlựcnhànướclà không mang tính chất nhà nước xét về chủ thể, hình thức, phương pháp thực hiện, đặc biệt là không bằng pháp luật, không mang tính cưỡng chế nhà nước. Từ quan niệm về quyền lực cũng như cách thức thực hiện quyền lực nói trên cho thấy ở mức độ nhất định biện pháp phòng ngừa hành chính phải có quyền lực trong đó mới có thể tồn tại. Trong hoạtđộngquản lý của nhànước,quyềnlựcnhànướcgiống như“phépmàu”biến phòng ngừa hành chính trở thành biện pháp có sức mạnh, tính bắt buộc, cưỡng bức trong đó. Quyền lực nhà nước, xét cho cùng là các mục tiêu như duy trì, củng cốsự thống trị giai cấp, duy trì trật tự xã hội, phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, bảođảm an ninh quốc gia, v.v. phòng ngừa hành chính là công cụ, biện pháp được áp dụng để ngăn ngừa vi phạm pháp luật, bảo đảm được trật tự quản lý bình thườngđểquyềnlựcđạtcác mục tiêuđó.Tứclà, việc thực hiện mụctiêucủaquyền lực nhànướckhông phảiđềunhất thiết áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính, biện pháp phòng ngừa hành chính không phải là phương tiện duy nhấtbảođảm cho quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hành pháp được thực hiện. Do vậy, khôngđược quá đề cao quyền lực nhà nước trong phòng ngừa hành chính, điều đó có thểdẫntớitình huốngchủthểcó thẩm quyền áp dụng biện pháp phòng ngừa hành
26
chínhtrởnên lạm quyền, lộng quyền hoặctựthu hẹpthẩm quyền khisửdụng quyền lực nhà nước.
Liên quan đến bản chất biện pháp phòng ngừa hành chính, trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn hiện nay người ta tranh luận vấnđề biện pháp phòng ngừa hành chính có phải là cưỡng chế hành chính không?Đãcó những quanđiểmkhác nhau về vấn đề này. Ý kiến thứnhất cho rằng biện pháp phòng ngừa hành chính không phải là biện pháp cưỡng chế hành chính. Nó chỉ là những nghĩa vụ pháp luật như các nghĩa vụ pháp luật khác. Các cá nhân, tổ chức có thể hoàn toàn
tựnguyện thi hành các biện pháp hành chính được áp dụng trong những hoàn cảnhđặc biệt. Chẳng hạn như cá nhân chấp hành việc kiểm tra giấy tờ tùy thân, phương
tiện giao thông của các lực lượng chức năng…thì không thể coi biện pháp kiểm tra hành chính này là biện pháp cưỡngchế đượcvì ở đâyhoàn toàn cósựtựnguyện của các đối tượng quản lý. Chỉ khi nào họkhông chấp hành yêu cầu kiểm tra của lực lượng chức năng thì khi đó việc cưỡng chế để kiểm tra hành chính mới có thểcoi là biện pháp cưỡng chế hành chính. Hoặc khi người nghi mắc bệnh dịch hoàn toàn tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cách ly y tế thì lúc đó việc buộc họ phải cách ly y
tế mới trở thành biện pháp cưỡng chế và biện pháp này được gọilà “cưỡng chếcách ly ytế”. Chẳng hạn trong Nghị định số 101/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/9/2010 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về áp dụng biện pháp cách ly y tế, cưỡng chế cách ly ytế và chống dịch đặc thùtrong thời gian có dịch. Theo đó, cósựphân biệt giữa biện pháp “cách ly y tế” – có tính chất của biện pháp quản lý (tích cực) trong hoạt động điều hành và biện pháp “cưỡng chế cách ly y tế” – tính chất là một biện pháp cưỡng chế của nhà nước. Nhưvậy, trong những trường hợp trên, khi các đối tượng không thực hiện các nghĩa vụ đặt ra đối với mình thì việc áp dụng cưỡng chế của nhà nước là nhằm để các nghĩa vụđó được thực hiện trên thực tế [86, tr 40]. Do vậy, các biện pháp “phòng ngừa” không phải là cưỡng chế hành chính, nó chỉ trở thành biện phápcưỡng chếkhi cá nhân, tổ chức không tự nguyện chấp hành các nghĩa vụ hành chính đặt ra đối với họmà thôi.
27
Ý kiến thứ hai cho rằng biện pháp phòng ngừa hành chính có biểu hiện của cưỡng chế hành chính. Hay nói cách khác cưỡng chế hành chính ngoài việc áp dụng trong trường hợp có vi phạm pháp luật thì còn được áp dụng để phòng ngừa không cho vi phạm pháp luật xảy ra, ngăn ngừa hậu quả bất lợi (như kiểm tra giấy tờ, hàng
hóa, hành lý; ngăn cấm vào khu vực có dịch bệnh…) hoặc ngăn chặn, hạn chế khảnăng gây tổn hại tới lợi ích xã hộitrong tình huống bất thường của quản lý hành chính nhà nước(không có vi phạm pháp luật) (như trưng mua, trưng dụng tài
sản…)[97, tr158]. Như vậy, biện pháp phòng ngừa hành chính gắn vớiviệc sửdụng cưỡng bức có tổ chức của nhà nước nhằm buộc các chủ thể trong xã hội phải tuân theo ý chí của nhà nước. Quan điểm này cũng đồng nhất với một số quan điểm về biện pháp phòng ngừa hành chínhcủa mộtsố tác giả, coi biện pháp phòng ngừa hành chính là phương tiện tác động xã hội dứt khoát, dựa trên sức mạnh có tổ chức,
tạo khả năng bảo đảm sự xác định vô điều kiện ý chí của nhà nước để loại trừ nhữngđiều kiện và yếu tố có thể xảy ra vi phạm pháp luật, đảm bảo an ninh, quốc phòng, lợiích quốc gia trong những trường hợp cần thiết.
Do vậy, ý kiến thứhai là có cơ sở khoa học hơn cả. Bởi cưỡng chế hành chính làcưỡngbức được ápdụngđốivớicá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm hành chính, vi phạm pháp luật khác; hoặc các trường hợp nhằm bảo đảman ninh quốc phòng lợi ích quốc gia,bảo đảmtrật tựtrị an, an toàn xã hội, bảo vệ các quyền, lợiích hợp phápcủacá nhân, tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước trong việcbảovệtrật tựquản lý hành chính nhà nước phục vụ lợi ích cho xã hội, nhà nước và cá nhân trong xã hội. Mà quan niệm về quyền lực nhà nước trong cưỡng chế hành chính đãthống nhất là khả năng tác độngđến ứngxử(hành vi) của nhữngngười khác đểcóđược những kết quả mình mong muốn. Như vậy, cưỡngchếhành chính có hai khảnăng tác động đến hành vi của người khác để có được kết quả mình mong muốn. Khả năng thứ nhất là sử dụng tổng hợp những biện pháp và cách thức khác nhau để đảm bảo đạt được hành vi xửsựcần thiết một cách tự giác. Khả năng thứ hai là sửdụng tổng hợp những biện pháp và cách thức khác nhau để bắt buộcđối tượng thực hiện hành vi xử sự cần thiết. Trong khi đó, việc áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chínhkhông cần đến sự đồng ý củacông dân, tổ chức, chủthểcó thẩm quyền đơn
28
phương ra quyết định cưỡng chế, tác động tới đối tượng quản lý, buộc họ phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định đểđạt đượcxửsựcần thiết, nhằm mục đích kích thích các hành vi hợp pháp hoặc ngăn ngừa, hạn chế khả năng gây tổn hại tới lợi ích của xã hội trong tình huống bất thường của quản lý hành chính nhà nước.
Đáng chú ý, một số biện pháp phòng ngừa hành chínhđược nhà nước áp dụng có tính chất bị độngtrướccác hoàn cảnh bất bình thường của quản lý hành chính nhà nước (như trưng mua, trưng dụng tài sản, ngăn cấm, hạn chế xe cộ đi vào
những tuyến đường nhất định khi có bão lụt, sạt lở đất đá…). Nếunhà nước chủđộng thực hiện biện pháp đó thì chẳng còn nghĩa là phòng ngừa (trong tình huống bất thường của quản lý hành chính nhà nước). Chẳng hạn, chủ thể có thẩm quyền thực hiện quy định ngăn cấm đường khi sửa chữa, xây dựng cầu cống, rõ ràng đây không phải là biện pháp phòng ngừa hành chính (trong trường hợp này nhà nước
chủ động thực hiện sửa chữa, xây dựng cầu cống…điều này hoàn toàn nằm trong dựliệu của nhà nước mà không phải là tình huống bất bình thường, hoàn cảnh đặc biệt nhưđã nêu ởtrên). Ngược lại,sẽ là biện pháp phòng ngừa hành chính khi ngăn cấm, hạnchếxe cộ đi lại trênđoạnđườngnào đó nhưng do bão lụt, nguy cơ sạt lởđất đá gây nguy hiểm cho tính mạng con người.
Điều này hoàn toàn khác biệt với một số loại cưỡng chế hành chính khác, chẳng hạn như các biện pháp ngăn chặn hành chính, biện pháp xửphạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả, các biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi hành quyết định hành chính [68]. Cần nói thêm rằng các loại cưỡng chế hành chính này có bản chất là sựchủ động của nhà nước đưa ra các mệnh lệnh bắt buộc cánhân, tổ chức phải thực hiện hoặc không được thực hiện hành vi nhất định(do đãthực hiện vi phạm pháp luật hành chính) nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm và hậu quả đối với xã hội do vi phạm đó gây ra; trừng trị bằng cáchhạn chếquyền hoặc bổ sung thêm nghĩa vụ mới hoặc chỉ làsựlên án có tính quyền lực nhà nước đối với người vi phạm; thực hiện thực tế nghĩa vụ đã không được chấp hànhtrướcđó do có vi phạm hành chính; bảo đảm cho việc thi hành các quyết định hành chính nói chung và quyết định xử lý vi phạm hành chính nói riêng.
29
Ở đâycũng cần thiết xác địnhphạm vi sửdụng các biện pháp phòng ngừa hành chính bên cạnh các biện pháp phòng chống tham nhũng, phòng chống tệ nạn xã hội. Trước hết, biện pháp phòng ngừa hành chính là phương tiện đảm bảo duy trì ổn định vàan toàn các quan hệ quản lý hành chính nhà nước, được pháp luật hành chính điều chỉnh, là hoạt động hướng ra bên ngoài của nhà nước với đối tượng tác
động là công dân, tổchức –đối tượng quản lý của nhà nước,bị áp dụng bạo lực nhằm buộc họ thực hiện hành vi nhất định nhằm không để vi phạm pháp luật xảy ra, ngăn ngừa hậu quả bất lợi hoặc đảm bảo lợi ích cộng đồng trong những tình huống bất thường của hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Phòng chống tham nhũng là biện pháp nhằm ngăn chặn, từng bước đẩylùi tham nhũng, lãng phí,để giữvững ổnđịnh chính trị, phát triển kinh tế – xã hội. Phòng chống tham nhũng hướng tới đối tượng là các cán bộ, công chức, viên chức, người có chức vụquyền hạntrong cơ quan nhà nước,sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan đơn vị thuộc quân đội nhân dân, sĩquan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn- kỹ thuật trong cơ quan,đơn vị thuộc công an nhân dân, cán bộ lãnhđạo quản lý trong doanh nghiệp nhànước, người đượcgiao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ của nhà nước. Nhưvậyphòng chống tham nhũng là hoạt động trong nội bộ cơ quan nhà nước nhằm mục đích phát hiện,xửlý người sửdụng quyền lực nhà nước nhưng lợi dụng quyền lực nhà nước để tham nhũng. Vì vậy, nội hàm của phòng chống tham nhũng hoàn toàn khác với phòng ngừa hành chính.
Phòng chống tệ nạn xã hội là biện pháp ngăn ngừa không để cho tệnạn xãhội phát sinh, phát triển. Từng bước xóa bỏ dần những nguyên nhânđiều kiện của tệ nạn xã hội, góp phần xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh, bảo vệ thuần phong mỹ
tục. Chủ thể thực hiện là các cơ quan nhà nước phối hợp các cấp, các ngành đoàn thể tổ chức xã hội và mọi công dân tiến hành các biện pháp nhằm phát hiện, ngăn chặn, loại trừ các tệ nạn xã hội. Như vậy, ban đầu bản chất của phòng chống tệ nạn xã hội là nhà nước áp dụng quản lý chủ yếu bằng phương pháp thuyết phục giáo dục phổ biến tuyên truyền trong cộng động dân cư, không xuất hiện bạolực cưỡng chế
từphía nhà nước nhằm buộc công dân phải thực hiện hành vi nhất định. Sau đó, khi
30
đã xuất hiện các hành vi vi phạm pháp luật là tệ nạn xã hội thì bản chất thuật ngữ“phòng chống” được hiểu là nhà nước sửdụng bạo lực đểtác động lên những chủ thể đã thực hiện hành vi trái pháp luật (như hành vi liên quan đến tệ nạn mại dâm, ma túy), mục đích nhằm trừng phạt đồng thời giáo dục, cảmhóa đối tượng là nạn nhân củatệ nạnxã hộiđể trởthành công dân có ích cho xã hội. Hoạt động phòng ngừa có tính chất cưỡng chế này xuất hiện khi đã có vi phạm pháp luật. Điển hình trong việc phòng chống tệ nạn xã hội bằng cưỡng chế được nhà nước áp dụng là các biện pháp xử lý hành chính như giáo dục tại xã phường, thị trấn, biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Trong khoa họcpháp lý, ngoài phòng ngừa hành chính còn có phòng ngừa tội phạm. Vậynội hàm của những quan niệm trên như thế nào, phòng ngừa tội phạm có tính chất tương đồng nào với phòng ngừa hành chính không?Từviệc xácđịnh bản chất từng loại phòng ngừa của nhà nước sẽ giúp cho việc xác định bản chất của phòng ngừa hành chính. Theo đó, trong thực tiễn của công cuộc đấutranh phòng chống tội phạm, phòng ngừa tội phạm lại được hiểu là hoạt động chủ yếu của các cơ quan chuyên môn, chuyên trách trong công tác bảo vệ pháp luật và phòng chống tội phạm, mà cụ thể là công an, tòa án, viện kiểm sát, thanh tra, cơ quan thi hành án hìnhsựvàmộtsốcơ quan khác nhằm loại trừ, thủ tiêu các điềukiện vànguyên nhân của tội phạm, xóa bỏ các tác nhân là điều kiện tạo thuận lợi cho việc phát sinh ra tội phạm, trên cơ sở đóđưa ra các giải pháp tổng thể và có hệ thống phòng ngừa các hiện tượng tiêu cực và tội phạm. Như vậy phòng ngừa tội phạm chủ yếu thực hiện công việc xây dựng cơ sở và các nguyên tắc, mô tả giải thích và dựbáo thì mới có thể tìm ra những biện pháp tác động vào quy luật phát sinh, tồn tại vàphát triển của tộiphạm,đồngthời khắc phục được các nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Suy cho cùng phòng ngừa tội phạm là hoạt độngcủa toàn xã hội trong việc tìm ra các nguyên nhân phát sinh ra tội phạm, khắc phục, ngăn chặn, đẩy lùi vàtiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Nhưvậy nộihàm của phòng ngừa
tội phạm không gắn liền với việc sử dụng bạo lực nhà nước tác động trực tiếp lên cánhân, tổ chức để buộc họ phải xử sự theo mong muốn của nhà nước.
31
Ngược lại, xét từgóc độ hành động,quản lý hành chính nhà nướclà hoạtđộng tổchức đời sống xã hội, phục vụ các nhu cầu phát triển xã hội (điều hành hành chính) và bảo đảm trậttựchung của xã hội (bằng việc ngăn ngừa hậu quả xấu xảy ra). Điều hành hành chính là hoạt động “tích cực”, giúp nhà nước định hướng, điều chỉnh, trợ giúp cho hoạt động các mặt của đời sống xã hội, trong đó có phòng ngừa hành chính, bằng việc sửdụng quyền lực nhànước để kích thích các hành vi hợp pháp, loại bỏ các điềukiện và nguyên nhân có thể xảyra vi phạm pháp luật hoặc hạn chế khả năng gây tổn hại lợi ích xã hội, đảm bảo trật tự an toàn xã hội trong các trường hợpbất thường của quản lý hành chính nhà nước. Như vậy, bản chất của phòng ngừa hành chính là việcsửdụngcưỡng chếcó tổ chức của nhà nước nhằm buộc đối tượng quản lý phải thực hiện nghĩa vụ của mình để thỏa mãn các yêu cầu, nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước.
Từtấtcảnhững phân tíchvềbảnchất của biện pháp phòng ngừa hành chính, tương quan giữa biện pháp phòng ngừa hành chính với quyền lực nhà nước ở trên, có thểđịnh nghĩa biện pháp phòng ngừa hành chính như sau:
“Biện pháp phòng ngừa hành chính là phương thức, cách thức mang tính cưỡng chế, có tổ chức của nhà nước, tác động đến cá nhân, tổ chức nhằm kích thích các hành vi hợp pháp của họ,bảođảm,duy trì trật tự trong quản lý hành chính nhànước hoặcngăn chặn, hạn chếkhảnăng gây tổn hại tới lợi ích xã hội, nhànước,cánhân, tổ chức trong tình huống bất thường của quản lý hành chính nhà nước”
2.1.2. Đặc điểm của biện pháp phòng ngừa hành chính
Nghiên cứu các đặc điểmcủa biện pháp phòng ngừa hành chính cho phép làm rõ phòng ngừa hành chính là nhóm biện pháp đặc biệt trong cưỡng chế hành chính, đồng thời xác định được ý nghĩa thực tiễn của biện pháp phòng ngừa hành chính. Biện pháp hòng ngừa hành chính xét về bản chất có nét tương đồng như các biện pháp cưỡng chế hành chính khác ở tính cưỡng chế của nhà nước, bắt buộcđối tượng quản lý phải thực hiện hoặc khôngđược thực hiệnhành vi nhất định, nhưng vì là một hiện tượng pháp lý có tính độc lập nên nó có những đặc điểm riêng. Khi nghiên cứu vềbiện pháp phòng ngừa hành chínhcầnthấy có nhiều yếu tốảnh hưởng đếnviệc xácđịnh cácđặc điểmcủa nó. Thứnhất, đặc điểm của biện pháp
32
phòng ngừa hành chính phụ thuộc vào quan niệm về phạm vi các nhóm phòng ngừa hành chính. Thứ hai, đặc điểm của biện pháp phòng ngừa hành chính liên quan mật thiết đếnbản chất xã hội và các đặc điểm của quản lý hành chính nhànước. Bởibản chất xã hội và các đặc điểm của quản lý hành chính nhà nước mang tính đặc thù, nócũng quy định trước đặc điểm của biện pháp phòng ngừa hành chính được áp dụng nhằm mục đích gì?Thứba, đặc điểm của biện pháp phòng ngừa hành chính có quan hệ chặt chẽ với đặc điểm của quanhệ quảnlý hành chính nhà nướcđược nó bảo vệ. Trong mối quan hệ này, đặc điểm của quan hệ xã hội chi phốiđặcđiểm và nội dung của biện pháp phòng ngừa hành chính. Ngoài các yếu tố kể trên, còn có các yếu tốkhác liên quan tới việc xem xét đặc điểm của biện pháp phòng ngừa hành chính nhưđặc điểmphương phápđiều chỉnh của luật hành chính, các yêu cầuvề tổ chức vàhoạt động của quản lý hành chính nhà nước, các hình thức và phương pháp quản lýhành chính nhà nước.
Từviệc xem xét các yếu tố trên cho thấy, biện pháp phòng ngừa hành chính có những đặc điểm sau đây:
Một là, phòng ngừa hành chính là biện pháp cưỡng chế được áp dụng trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước. Đặc điểm này phân biệt với các loại phòng ngừa nhà nước khác như phòng ngừa trong hình sự: là việc sửdụng hệ thống các biện pháp mang tính xã hội và nhànước nhằm khắc phục những nguyên nhân vàđiều kiệncủa tình hình tội phạm, hạn chế và loại trừtộiphạm ra khỏi đời sống xãhội. Trong đó phòng ngừa tội phạm có hai nội dung là phòng ngừa xã hội, tức làsựloại trừkhắc phục những nguyên nhân và điều kiện phạm tội thông qua việc cải thiện quan hệ xã hội, hoàn thiện hệ thống pháp luật để tình hình tội phạm không còn cơ sở để phát sinh. Nội dung thứhai phòng ngừa tội phạm có nghĩa là bằng sựcưỡng chế (mang tính nhà nước) đượcthể hiện qua việc phát hiện và xửlý tội
phạm, trọng tâm là các hoạt động khởi tố, điều tra, xét xử, thi hành án hình sự… Như vậy phòng ngừa trong hình sự lại thiên về tính chất tư pháp, tác động trong lĩnh vực tội phạm học và hình phạt. Còn biện pháp phòng ngừa hành chính áp dụng trong phạm vi quản lý hành chính nhà nướcvà theo thủ tục hành chính, biểu hiện
33
cưỡng chế cũng nhằm mang tính bắt buộc công dân, tổ chức thực hiện những xửsựtích cực để bảo vệ khách thể là trật tự quản lý hành chính nhà nước.
Hai là, biện pháp phòng ngừa hành chính nhằm mục đích không để vi phạm pháp luật xảy ra trong lĩnh vực hoạt động hành chính bằng việc kích thích các hành vi hợp pháp của đối tượng quản lý; ngăn chặn, hạn chế khả năng gây tổn hại đến lợiích của xã hội, nhà nước, cá nhân, tổ chức do tình huống bất thường trong quản lýnhà nước như các trường hợp khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh. Có thể khẳng định áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính không liên quan đến vi phạm pháp luật, mànó chỉ hướng tới việc loại bỏ những điều kiện, tiền đề có thể dẫn tới làm xuất hiện hành vi vi phạm pháp luật bằnghoạt động cưỡng chếbắt buộc từphía chủ thể quản lý, hoặc nhằmhỗ trợ cho hoạt động quản lý hành chính nhà nướcđược duy trì ổnđịnh và trật tựbằng các mệnh lệnh bắt buộc từchủ thể có thẩm quyền. Cảhai trường hợp trênđều sửdụng sức mạnhcưỡngchế củanhà nước, từ đó làm hạn chếquyền hoặc tự do, tài sản của cá nhân, tổ chức (trong khi trước đó họ không thiết lập bất kì hành vi trái pháp luật nào), việc áp dụng cưỡng chế ở đây không nhằm mụcđích trừng phạt như các loại cưỡng chế hành chính khác.
Ba là, biện pháp phòng ngừa hành chính bảo vệ các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi nhiều ngành luật khác nhau: hành chính, đất đai, dân sự- tài sản, ytế,
quốc phòng an ninh…Phòng ngừa trong hìnhsựcũng bảo vệ phạm vi rộng các quan hệ xã hội tương tựnhư phòng ngừa hành chính nhưng các quan hệ xã hội do hai nhóm này bảo vệ không phải luôn trùng nhau. Có những quan hệ xãhội chỉ là đối tượng bảo vệ riêng của biện pháp phòng ngừa hành chính hay phòng ngừa trong hình sự. Ngoài ra, phòng ngừa hành chính còn khác phòng ngừa trong hìnhsựở sựbảo vệ các quanhệ xã hộichi tiết hơn. Nhìn khái quát thì phạm vi điều chỉnh của phòng ngừa hành chính rộng hơn so với phòng ngừa hình sự.
Bốn là, biện pháp phòng ngừa hành chính có thủ tục áp dụng mangđặc điểm riêng. Trướchếtso với các biện pháp phòng ngừa trong hình sự, biện pháp phòng ngừa hành chínhđược áp dụng chủ yếutrong quản lý hành chính nhànướcvà phần
lớn theo thủ tụchành chính, do đó về cơ bản thủ tụcáp dụng không đòi hỏi phức
tạp, chặt chẽ như thủ tục áp dụng trong lĩnh vực tư pháp. Tuy nhiên, nhóm các biện
34
pháp xử lý hành chính có tính cưỡng chế cao bằng cách tước quyền tự do của công dân trong thời gian tương đối dài và được áp dụng theo thủ tục bán tư pháp, được xem xét quyết định bởi cơ quan tư pháp, theo trình tự bán tư pháp chặt chẽ, bảo đảm quyền được bào chữa của người bị áp dụng các biện pháp này để đảm bảo quyền cơbản củacon người, quyền công dân [86, tr63]. Biện pháp phòng ngừa hành chính chủ yếuđượcthực hiện bởi nhiều cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý hành chính nhà nước. Phòng ngừa trong hình sự do các cơ quan tư pháp áp dụng.
Năm là, việc áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính vừa mang tính chất chấp hành pháp luật, vừa mang tính chất bảo vệ pháp luật. Các biện pháp cưỡng chếhành chính khác như xử phạt hành chính và biện phápbảođảm thi hành quyết định hành chính là những nhóm cưỡng chế mang tính chất bảo vệ pháp luật. Ngoài ra, phòng ngừa trong hình sự lại luôn chỉ có tínhchất bảo vệpháp luật trước nguy cơxâm hại các khách thể mà pháp luật bảo vệ của các hành vi tội phạm. [86, tr67]
Sáu là, đối tượng bị áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chínhgồmcả tổchức và cá nhân. Đây là đặc điểm khác với phòng ngừa trong hình sự. Bên cạnh đó, biện pháp phòng ngừa hành chính còn thể hiện mối quan hệ giữa người bị áp dụng phòng ngừa trước nhà nước. Phòng ngừa trong hìnhsựlạithể hiện mốiquanhệgiữa chủ thể có khả năng thực hiện các hành vi tội phạm với bên có khả năng bị vi phạm dưới sự điều chỉnh về phòng ngừa tội phạm của nhà nước.
Bảy là, hiện nay biện pháp phòng ngừa hành chính được quy định rải rác trongrấtnhiều vănbảnpháp luật như: LuậtXửlý vi phạm hành chính, Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam; Luật An
ninh quốc gia; LuậtHộtịch;…Điểmchungdễnhận thấy là không cómộtvăn bảnpháp luật chung nào quyđịnhtấtcảcác biện pháp phòng ngừa hành chính trongmọilĩnhvựcquản lý nhànước.Mà theođó,ởmỗilĩnhvựcquản lý hành chính nhà nước sẽ có một luật quản lý chuyên ngành, trong đó có đề cập đến việcáp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính trong lĩnh vực quản lý chuyên ngànhđó.Như vậy,sốlượngcác vănbảnquyđịnhvềbiện pháp phòng ngừa hành chính khá nhiều. Trong khi đó, các văn bản pháp luật quy định về các biện pháp
35
phòng ngừa trong hình sự lại được quy định tập trung hơn, điển hình là được quyđịnh trong Bộ luật Hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành.
2.2. Các biện pháp phòng ngừa hành chính
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA HÀNH CHÍNH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Biện pháp phòng ngừa hành chính theo pháp luật Việt Nam Biện pháp phòng ngừa hành chính theo pháp luật Việt Nam Biện pháp phòng ngừa hành chính theo pháp luật Việt Nam Biện pháp phòng ngừa hành chính theo pháp luật Việt Nam Biện pháp phòng ngừa hành chính theo pháp luật Việt Nam Biện pháp phòng ngừa hành chính theo pháp luật Việt Nam Biện pháp phòng ngừa hành chính theo pháp luật Việt Nam Biện pháp phòng ngừa hành chính theo pháp luật Việt Nam Biện pháp phòng ngừa hành chính theo pháp luật Việt Nam

