Biện pháp bắt người trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Biện phápbắtngười là một trong các BPNC trong TTHS được áp dụng rất phổbiến trong thực tiễn và đã phát huy được vai trò to lớn trong việc giải quyết vụ án hình sự. Việc áp dụng biện pháp bắt người đúng đắn, kịp thời là sự bảo đảm rất quan trọng cho việc chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện nhanh chóng, chính xác và xửlý công minh mọi hành vi phạm tội, không làm oan người vô tội cũng như không để lọttội phạm; góp phần bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và chế độ XHCN. Bên cạnh đó, việc áp dụng biện phápbắt ngườicũng là vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị – xã hội, bởi vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến một số quyền con người và quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, như: quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền được pháp luật bảo hộvề sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người…; nó liên quan nhiều đến việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt việc điều chỉnh pháp luật đối với biện pháp bắt người trong TTHS còn thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế vìnó liên quan trực tiếp đến vấn đề nhânquyền. Do đó, những vi phạm pháp luật vềbiện pháp bắt người, nhất là những vi phạm xâm phạm đến quyền con người trong TTHS dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng để tuyên truyền xuyên tạc, chống pháĐảng và Nhà nước ta.
Hiện nay, dưới góc độ khoa học, việc nhận thức về biện pháp bắt ngườicòn
tồn tại nhiều quan niệm khác nhau, hệ thống lý luận về biện pháp bắt người còn chưa được hoàn thiện. Đặc biệt nhiều chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt ngườicòn chưa nhận thức đầy đủ về: bản chất pháp lý; mục đích áp dụng biện pháp
bắt người; ý nghĩa của điều chỉnh pháp luật đối với biện pháp bắt người;… như còn có những nhận thức sai lầm khi cho rằng mục đích áp dụng BPNC nói chung vàbiện pháp bắt người nói riêng là“tạo điềukiện thuận lợi cho công tác điều tra, truy
tố, xét xử và thi hành bản án hình sự” [51, tr. 199]nên đã dẫn đến sựlạmdụng biện pháp bắt người, dùng biện pháp bắt người để thay thế cho các hoạt động điều tra
1
khác…Bên cạnh đó,Bộ luật TTHS năm 2015 mớicó hiệu lựcthi hành với nhiều quy định mới về biện pháp bắt người cũng chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Nhận thức rõ đượcvai trò, tầmquan trọng củabiện phápbắtngười, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc hoàn thiện hoạtđộngTTHS nói chung và biện pháp bắt người nói riêng, theo đó đã không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luậtvà đề ra nhiều biện pháp nhằm phòng ngừa, hạnchếviệc vi phạm pháp luật khi áp dụng biện phápbắtngười. Cụthể,đểchấn chỉnhmộtbướcquan trọng công tác tư pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện Nhànướcpháp quyền XHCN cónềntư pháp trong sạch, vững mạnh, tăng cườngtrách nhiệmcủacác cơ quan tiến hànhtốtụng, khắc phục tình trạng vi phạm pháp luật trong việc áp dụng các BPNC nói chung và biện pháp bắtngườinói riêng, Bộ Chính trị đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo công tác tư pháp, trong đó có việc chỉ đạo, chấn chỉnh các hoạt động bắt,tạmgiữ, tạm giam và coi đó là những nội dung quan trọng và cấp thiết, như: Chỉ thị số 53/CT – TW ngày 21/3/2000 của Bộ Chínhtrịvề những nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp năm 2000; Nghị quyếtsố08 – NQ/TW ngày 02/01/2002củaBộChínhtrịvềmộtsốnhiệmvụtrọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyếtsố49 – NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020…, đặc biệt, khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành với một trong những nội dung quan trọng là đề cao quyền con người đã có những tác động không nhỏ đến việc áp dụng BPNC nói chung và biện phápbắtngườitrong TTHS nói riêng. Dođó,trong những năm gần đây, việc áp dụng biện phápbắtngườingày càngđược chấnchỉnh, đạtđược những kếtquảnhấtđịnh,góp phần quan trọng vào công tácđấutranh phòng, chống tội phạm, thực hiện có hiệu quả các nhiệmvụcủaquá trình TTHS. Việc áp dụng biện pháp bắt người nhìn chung đã đảm bảo được các quy định của pháp luật TTHS về căn cứ, thẩm quyền và thủ tục áp dụng. Tuy nhiên, bên cạnh đó, việc áp dụng biện pháp bắtngườivẫncó nhữngtồntại,hạnchếvà vi phạm nhấtđịnh,như: tình trạng lạm dụng biện pháp bắt người còn kéo dài, gây bất bình trong dư luận xã hội; có lúc, có nơi, một số địaphương vẫn còn để xảy ra tình trạng vi phạm về thủ tục áp dụng biện
pháp bắt người… Theo Thống kê của Cục Thống kê tội phạm và công nghệ thông tin – VKS nhân dântốicao, từ năm 2008 đến hết năm 2017, VKS các cấp đã không phê chuẩn lệnhbắtkhẩn cấpđối với1.162 đối tượng, (chiếmtỷ lệ là0,62% trong tổng số đối tượng bị bắt khẩn cấp), trong đó có 400 đối tượng mặc dùcó sựphê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp của VKS nhưng sauđóphảitrả tựdo không xử lý hình sự (chiếmtỷ lệ0,21% trong tổngsố đốitượngbị bắt khẩncấp); hay số đối tượngbịbắt phạm tội quả tang sauđótrảtựdo và chuyểnxửlý hành chính là 29.472đốitượng(chiếmtỷlệ7,42% trong tổng số đối tượng bị bắt quả tang)… Điều này đã gây ra nhữnghậu quảtiêu cực, như: xâm phạm nghiêm trọng nguyêntắcphápchếXHCN; trực tiếp xâm phạmđếncác quyền, lợiích hợppháp củacông dân nói chung vàngườibịbắt nói
riêng;đồngthời làm giảm uy tín của các cơ quan có thẩm quyền tiến hànhtốtụng… Những tồn tại, thiếu sót và vi phạm nêu trênbắtnguồntừnhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó phảikể đến việcvậndụng không đúng các quyđịnhcủa pháp luật TTHSvềbiện phápbắtngười; những sơ hở, thiếu sót trong chính các quyđịnh của pháp luật TTHSvề biệnpháp bắt người; trìnhđộ phápluật, nghiệpvụ của mộtsố cán bộ áp dụng còn hạn chế; sự thiếu trách nhiệm và sa sútvề đạo đức nghề nghiệpcủa không ít cán bộ áp dụng biện pháp bắt người…
Về biện pháp bắtngười, cho đến nay cũng đã có nhiều công trình trong vàngoài nước nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu nàyđã tiếp cận, nghiên cứu từnhiều phương diện khác nhau, làm rõ nhiều vấn đề lý luận, pháp luật thực định vàthực trạng áp dụng biện pháp bắt người ở các khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên do khác nhau về phương pháp tiếp cận, về giới hạn địa bàn nghiên cứu, về thời gian vàphạm vi khảo sát cho nên nhiều vấnđềcó liên quanđếnbiện pháp bắt người còn chưa đượcđề cập, nghiên cứu tới.
Như vậy, hiện nay vẫn cần một công trình nghiên cứu chuyên biệt về biện pháp bắt người trong pháp luật TTHS Việt Nam. Chính vì vậy, việc tác giả lựa chọnđề tài “Biện pháp bắt người trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” làm luậnán tiến sĩ là toàn cấp thiết trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu của luận án là góp phần làm rõ thêm những vấn đềlýluận, quy định của pháp luật về biện pháp bắt người trong TTHS đểkiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bắt người trong thực tiễn.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu của luận án, nhiệm vụ nghiên cứu của luận ánđược xác định:
Thứ nhất, nghiên cứu, đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến biện pháp bắtngườiở cả trong nước và ngoài nước, từ đó rút ra những vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu trong luận án;
Thứ hai, phân tích làm rõ thêm những vấn đề lý luận về biện pháp bắt người trong pháp luật TTHS Việt Nam, như: khái niệm, đặc trưng pháp lý; phân loại biện pháp bắtngười;mốiquan hệ giữa biện pháp bắt người vớicác BPNC khác trong TTHS; điều chỉnh pháp luật đối với biện pháp bắt người trong TTHS; các yếu tố cơ bản tác động đến việc áp dụng biện pháp bắt người trong TTHS.
Thứ ba, phân tích những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về biện pháp bắt người;
Thứ tư, khảo sát, đánh giá đúng thực trạng áp dụng biện pháp bắt người trong pháp luật TTHS Việt Nam; những ưu điểm, những tồn tại, hạn chế và vi phạm pháp luật trong quá trình áp dụng biện pháp bắt người cũng như nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, vi phạm đó;
Thứ năm, đưa ra những dựbáo khoa học về tình hình áp dụng biện pháp bắt người trong pháp luật TTHS Việt Nam và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quảáp dụng biện pháp bắtngườiở nước ta.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận, pháp luật thực định về biện pháp bắt người trong TTHS và thực tiễn áp dụng biện phápbắtngườicủa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Về pháp luật thực định, luận án tập trung nghiên cứucác quyđịnh về biện pháp bắtngườitrongBộ luật TTHS năm 2003 và Bộ luật TTHS năm 2015. Tuy nhiên đối với thực trạng áp dụng biện pháp bắt người trong TTHS, luận án chỉ khảo sát, đánh giá về thực trạng áp dụng biện pháp bắt người theo quy định trong Bộ luật TTHS năm 2003 (từ năm 2008 đến hết năm 2017) trên phạm vi toàn quốc.
Biện pháp bắt người trong TTHS do nhiều chủ thể khác nhau tiến hành, tuy nhiên luận án tập trung nghiên cứu việc áp dụng biện pháp bắt ngườitrong TTHS của CQĐT, trong đó tập trung nghiên cứu, khảo sát số liệu từ thực tiễn áp dụng của Cơ quan CSĐT.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 4.1. Phương pháp luận
Luận án đượcnghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sửcủachủ nghĩa Mác – Lê nin về nhà nước và pháp luật nói chung, nhà nước và pháp luật XHCN nói riêng; tư tưởng Hồ ChíMinh về nhà nước và pháp luật với tưtưởngnhân dân là chủ thể của quyền lực xãhội, mọi hoạt động của nhà nước phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân và việc hoàn thiện pháp luật phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân; các quan điểm của Đảng, Nhànước ta về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, cải cách tư pháp, nhà nước pháp quyền và vấn đề quyền con người.
4.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án
Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả luận ánđãsửdụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Thứ nhất, phương pháp tổng hợp. Phương pháp này được sửdụng chủ yếu đểnghiên cứu tổng quan về tình hình nghiên cứu nhằmhệ thống hóa các quan điểm, căn cứ lý luận, các kết quả nghiên cứu từ các công trình khoa học đã được công bốcó liên quan đến biện pháp bắt người; đồng thời tổng hợp các tài liệu, số liệu phảnánh thực tiễn áp dụng biện pháp bắt người trong TTHS để rút ra kết luận tổng quát;
Thứ hai, phương pháp phân tích. Phương pháp nàyđược sửdụng bao quát trong tất cả các chương của luậnán đểphân tích các tài liệu, số liệu, phát hiện, luận giải thuyết phục về các nội dung có liên quan đến đề tài luận án;
Thứ ba, phương pháp phân tích lịch sử. Phương phápnày đượcsử dụng trong Chương 3 để khái quátlịch sửhình thành và phát triểncủacác quyđịnh củapháp luật TTHS nước ta về biện pháp bắt người;
Thứ tư, phương pháp luật học so sánh. Đâylà phương pháp đượcsửdụng trong Chương 4 để làm sángtỏ một sốquy định về biện pháp bắtngườitrong pháp luật của một số nước trên thế giới, từđórút ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam để hoàn thiện pháp luật;
Thứ năm, phương pháp thống kê hình sự. Phương pháp nàyđượcsử dụng để thu thập các số liệu liên quan đến thực trạng áp dụng biện pháp bắt người trong TTHS của cơ quan có thẩm quyền;
Thứ sáu, phương pháp chuyên gia. Đây là phương pháp đượcsửdụng trong tất cả các chương củaluận án đểtổ chức lấy ý kiến một số nhà khoa học, nhà nghiên cứu lý luận và cán bộthực tiễn có chuyên môn sâu vềlĩnh vực nghiên cứu đểbổsung, hoàn chỉnh kết quả nghiên cứu;
Thứ bảy, phương pháp nghiên cứu vụ ánđiểnhình.Đểcó cơ sở cho việc đưa ra những nhận xét, đánh giá trong luận án, tác giả luận ánđãnghiên cứu, tìm hiểu hồ sơ một số vụ án điểmtrong đó có áp dụng biện pháp bắt ngườiđạt kết quả cao hoặc bộc lộ những thiếu sót dẫn đến hạn chế kết quảhoạt động TTHS. Đồng thời, tác giả luận án đã lựa chọn nghiên cứu các hồ sơ điển hình theo từng trường hợp bắt ngườivới số lượngđốitượng khác nhau, trên cơ sở đó chỉ ra những ưu điểm cũng như những tồn tại,hạnchế để có biện pháp khắc phục. Phương pháp này còn được sửdụngđể nghiên cứu việc áp dụng biện pháp bắtngườiở mộtsố đơnvịvà địa phương điển hình;
Thứ tám, phương pháp tọa đàm khoa học. Để bảo đảm tính khoa học của luậnán, tác giả luận án đã tiến hành hội thảo đề tài luận án tại Khoa Luật. Qua đó, tác giảluận án đã tham khảo được ý kiến góp ý củacác chuyên gia, các nhà khoa họcvềcác nội dung luận án.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình khoa học nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về biện pháp bắt người trong pháp luật TTHS Việt Nam. Do đó, luận án đã có nhiềuđóng góp mới về mặt khoa học, cụ thể như:
Thứ nhất, bổ sung, hoàn thiện thêm một sốvấn đề lý luận về biện pháp bắt ngườitrong pháp luật TTHS Việt Nam, trong đó lần đầu tiên luận án phân tích, luận giải về điều chỉnh pháp luật đối với biện pháp bắt người trong TTHS;
Thứ hai, phân tích làm rõ những sửa đổi, bổ sung mới trong các quyđịnhvề biện pháp bắt ngườicủaBộ luật TTHS năm 2015;
Thứ ba, bổ sung luận cứ khoa học và luận cứ thực tiễn cho việc nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bắt người trong pháp luật TTHScủacác cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nói chung và CQĐT nói riêng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Thứ nhất, về lý luận. Kết quả nghiên cứu của luận án đã góp phần bổ sung, hoàn thiện hơnhệthống lý luậnvềbiện phápbắtngườitrong pháp luật TTHS Việt Nam;
Thứ hai, về thực tiễn. Nội dung của luận án là cơsởđể các nhà lập pháp nghiên cứu, xem xét sửa đổi, bổ sung một số quyđịnhcủa pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành về biện pháp bắt người, cũng như kịp thời ban hành các văn bản dưới luật hướng dẫn cụ thể về biện pháp này. Đồng thời, những giải pháp mà luận án đề xuất từviệc nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp dụng biện pháp bắt trong pháp luật TTHS có thể được CQĐT các cấp nghiên cứu vận dụng vào thực tiễn áp dụng
tạicơ quan mình nhằm nâng cao chất lượng áp dụng biện pháp này trong thực tiễn. Ngoài ra, nội dungcủaluận án cóthểđược sử dụng trong nghiên cứu, học tập của sinh viên, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy tại các trường CAND, các cơ sở đào tạo về luật, các cán bộ thực tiễn làm công tác điều tra.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mụctài liệu tham khảo, luận ánđược cấu trúc thành 4 chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2. Nhữngvấnđề lý luậnvềbiện pháp bắt người trong pháp luậttố
tụng hình sự Việt Nam
Chương 3. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Namvềbiện pháp bắt người và thực trạng áp dụng
Chương 4.Dựbáo tình hình và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bắt ngườitrong pháp luật tố tụng hình sự ở Việt Nam

Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tổng quan tình hình nghiêncứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu
Trên cơ sởkhái quát những nội dung chính trong các công trình nghiên cứu nêu trên, cho thấy các công trình này cũng đãđạtđược những thành tựu nhất định; nhiều nội dung có liên quan đến đề tài luận án đã được làm sáng tỏ và có giá trị rất cơ bản để kế thừa, phát triển trong nghiên cứu đề tài. Tuy nhiên, vẫn còn một sốvấnđề liên quan đến đề tài luận án chưa được giải quyết triệt để hoặc chưa được đặt ra trong các công trình nghiên cứu đã công bố. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, về những vấn đề lý luận và các quyđịnh của pháp luật TTHS vềbiện pháp bắt người.
22
Các công trình nghiên cứu đã phân tích làm rõ được một sốvấn đề lý luậnvề
biện pháp bắtngười, như: khái niệm,đặctrưng pháp lý, các yếutố tácđộng… nhưng chủ yếu được thể hiện trong BPNC nói chung, vì vậy chưa cho thấy được sựkhác biệt mang tính đặc thù của biện pháp bắt người. Bên cạnh đó, các công trình này cũng đã phân tích các quy định của pháp luật TTHS về biện pháp bắt người, tuy nhiên, đối với việc nghiên cứu này,mộtsố công trình đã dựa trên quy địnhcủa Bộluật TTHS năm 1988; nhiều công trình dựa trên quyđịnh củaBộ luật TTHS năm 2003; và chỉ có số ít công trình nghiên cứu có đề cập đến Bộ luật TTHS năm 2015 nhưng chủ yếu ở phạm vi bài báo khoa học nên chưa đi sâu nghiên cứu một cách hệthống vàđầy đủ về biện pháp bắtngười. Dẫu vậy, những thành tựu, kết quả nghiên cứu này cũng có giá trị tham khảo rất quan trọng để nghiên cứu sinh phân tích làm rõ những nhận thức lý luận về biện pháp bắt người cũng như các quy định của pháp luật TTHS về biện pháp bắt người trong luận án của mình.
Thứ hai, về thực trạng áp dụng biện pháp bắt người trong pháp luật TTHS.
Các công trình nghiêncứuđãkhảo sát, phân tích đánh giáđượcthực trạng áp dụng biện phápbắtngườitrong pháp luật TTHS, trongđócóchỉrađượcnhững ưuđiểmcũng như nhữngtồntại,hạnchếvà vi phạm trong việc áp dụng.Đặcbiệt, các công trình nghiêncứuđãbướcđầuphân tích làm rõ nguyên nhâncủanhữngtồntại, hạn chế và vi phạmđó. Đâylà những dữ liệu quý giá giúp nghiên cứu sinh đánh giá, nhận xét về thực trạng áp dụng biện pháp bắt người trong pháp luật TTHS; tìm hiểu vàlý giải các nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, thiếu sót đó. Tuy nhiên vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu, đánh giá một cách chuyên sâu và toàn diện về thực trạng áp dụng biện pháp bắt người trong TTHS, như: nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế vàvi phạm trong áp dụng biện pháp bắt người chưa được chỉ ra một cách đầy đủ hoặc mới chỉ dừng ở mức độ nêu ra mà chưa có sự luận giải sâu sắc; số liệu khảo sát thực trạng
cũng đã lâu cho nên chưa phản ánh được sự thay đổi trong thời gian gần đây…
Thứ ba, vềgiải pháp nâng cao hiệuquảáp dụng biện pháp bắt người trong pháp luật TTHS.
Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các nhóm giải pháp, như:
hoàn thiện quyđịnh của pháp luật; giải pháp về nhận thức; giải pháp về áp dụng
23
pháp luật. Các giải pháp đưa ra đều dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn nhấtđịnh. Các kết quả nghiên cứu này đã cung cấp các luận cứ quan trọng cho việc thiết kế các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bắt người trong pháp luật TTHS Việt Nam trong thời gian tới. Tuy nhiên có thể thấy những giải pháp đặt ra còn đơn lẻ, thiếu tính hệ thống giữa các giải pháp.
1.3. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Trên cơ sở đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu nêu trên, căn cứ vào mụcđích, nhiệm vụ đã đặt ra, luận án cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõnhững vấn đề cơbản sau đây theo hướng mới hoặc rộng hơn hoặc sâu hơn:
Một là, nghiên cứu làm sáng tỏ thêmmột sốlý luận cơ bản về biện pháp bắt người, như: khái niệm; đặc trưng pháp lý; phân loại biện pháp bắt người; mối quan hệ giữa biện pháp bắt người với các BPNC khác trong TTHS; các yếu tố cơ bản tácđộng đến việc áp dụngbiện pháp bắt người trong TTHS. Đặc biệt, luận án sẽ đặt ra nghiên cứu, luận giảivề sựđiềuchỉnh phápluật đốivớibiện phápbắt ngườitrong TTHS. Đây cũng là vấn đề lý luận mới;
Hai là, phân tích các quy định trong Bộ luật TTHS năm 2015 về biện pháp bắt người, như: căn cứ, thẩm quyền và trình tựthủ tục áp dụng để có ý kiến đề xuất sửađổi cho phù hợp;
Ba là, khảo sát, đánh giá toàn diện và sâu sắc thực trạng áp dụng biện pháp bắt người trong pháp luật TTHS ở nước ta từ năm 2008đến hếtnăm 2017, trong đó nêu bật được những kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại, thiếu sót và vi phạm trong thực tiễn áp dụng; luậngiải một cách đầy đủvà sâu sắc nguyên nhân của những tồn tại, thiếu sót và vi phạm đó;
Bốn là, đưa ra các dự báo, nghiên cứu xác lập các giải pháp nâng cao hiệu quảáp dụng biện phápbắtngười trong pháp luật TTHS. Các giải pháp đề xuất đều phải có cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc, đảm bảo tính hệ thống, vừa mang tính trước mắt, vừa thể hiện tính chiến lược lâu dài.
Trên cơ sở những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu nêu trên, luận án đặt ra các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
24
Thứ nhất, lý luận cơ bản về biện pháp bắt người trong TTHS bao gồm những vấn đề gì?Giả thuyết nghiên cứu cho câu hỏi này đó là lý luận cơ bản về biện pháp bắt người trong TTHS rất phong phú, bao gồmnhiều nhóm vấn đề, trong đó cónhững vấn đề, như: khái niệm, đặc trưng pháp lý, phân loại biện pháp bắt người vàmối quan hệ giữa biện pháp bắt người với các BPNC khác trong TTHS; điều chỉnh pháp luậtđốivớibiện pháp bắt người trong TTHS; cácyếutố cơ bản tác động đến việc áp dụng biện pháp bắt người trong TTHS Việt Nam. Việc làm rõ giả thuyết nghiên cứu này sẽ được trình bày trong Chương 2.
Thứ hai, pháp luật TTHS Việt Nam quy định về biện pháp bắt người qua từng thời kỳ như thế nào? Giả thuyết nghiên cứu ở đây là biện pháp bắt người được quyđịnh từrất sớm và liên tục được hoàn thiện qua các lần sửa đổi, bổ sung văn bản pháp lý điều chỉnhhoạt độngnày. Các văn bản quy phạm pháp luật TTHS, nhất làcác bộ luật TTHS đều quy định cụ thể về biện pháp bắt người trên các phương diện, như: các trường hợp bắt người; căn cứáp dụng; thẩm quyền áp dụng; thủ tục áp dụng. Việc chứng minh giả thuyết này sẽ được làm rõ trong Chương 3.
Thứ ba, thực trạng áp dụng các quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 về biện pháp bắt người trong thời gian qua như thế nào? Giả thuyết nghiên cứu cần được xác định ở đây là trong thời gian qua việc áp dụng các quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 về biện pháp bắt người đã đạt được những kết quả nhất định, chuyển biến tích cực theo từng năm, góp phần quan trọng vào công tác đấu tranh phòng, chống
tội phạm. Tuy nhiên, việc áp dụng này vẫn có những tồn tại, thiếu sót và vi phạm nhất định, điều này bắt nguồn từnhiều nguyên nhân khác nhau. Giả thuyết nàysẽđược chứng minh trong Chương 3 của luận án.
Thứ tư, để nâng cao hiệu quảáp dụng biện pháp bắt người trong pháp luật TTHS ở Việt Nam cần tiến hành các giải pháp nào? Giả thuyết nghiên cứu đưa rađó là cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp, như: kiện toàn bộ máy CQĐT; nâng cao trình độ pháp luật, nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của những người tiến hành tố tụng trong CQĐT; hoàn thiện các quy định của pháp luật
TTHS về biện pháp bắt người… Nội dung giả thuyết nàysẽ được làm rõ trong Chương 4 của luận án.
25
Kết luận Chương 1
Xuất phát từ vị trí quan trọng của biện pháp bắt người đối với hoạt động giải quyết vụ án hình sự, hệ thống pháp luật TTHS của nhiều quốc gia trên thế giớiđều quy địnhvề biệnpháp bắt người. Ở Liên Xô cũ, các nước XHCN ở Đông Âu, Liên
Bang Nga, Trung Quốc, Hoa Kỳ… đã có nhiều công trình nghiên cứu về các BPNC nói chung và biện pháp bắt người nói riêng với phạm vi, mức độ sâu sắc khác nhau. Theo đó, hệ thống các công trình này cũng đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơbản về BPNC trong TTHS, như: khái niệm; bản chất pháp lý; căn cứ áp dụng; chủ
thể áp dụng; mục đích, ý nghĩa của việc áp dụng BPNC; … Ở trong nước, thời gian quađã córấtnhiều công trình khoa học nghiên cứu, đề cập đến biện pháp bắt người. Mặc dù tiếp cận, nghiên cứu về biện pháp bắt người dưới nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng có thể khái quát chung các công trình này đều nghiên cứu về biện pháp bắt ngườitrên các phương diện, như: lý luận, thực trạng áp dụng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bắt người trong pháp luật TTHS.
Nghiên cứu tổng quanvề các công trình nghiên cứu đócho thấyđâylà lĩnh vực nghiên cứu đã đạt được nhiều thành tựu to lớn;một sốvấn đề lý luận và thực tiễn về biện pháp bắt người cũng đã được làm sáng tỏ, do đó rất có giá trị để luận án kế thừa và phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh những thànhtựu đó,trong các công trình nghiên cứu vẫn còn những vấn đề liên quanđến đề tài luận án còn để ngỏ, nhiều vấn đề được đề cập nhưng chưa được luận giải một cách triệt để và sâu sắc, như:
mối quan hệ giữa biện pháp bắt người với các BPNC khác trong TTHS; điều chỉnh
pháp luật đối với biện pháp bắt người trong TTHS… Trên cơ sở đó, nghiên cứu sinhđã xác định rõ những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ trong luận án.
26
Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1. Khái niệm, đặc trưng pháp lý, phân loại biện pháp bắt người và mối quan hệ giữa biện pháp bắtngườivới các biện pháp ngăn chặn khác trongtốtụng hình sự
2.1.1. Khái niệm và đặc trưng pháp lý của biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự
Trong hệ thống các BPNC trong TTHS, bắtngười là biện pháp quan trọng được áp dụng rất phổ biến. Việc áp dụng biện pháp bắt người không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và việc giải quyết các nhiệm vụ của quá trình TTHS nói riêng mà còn gắn liền với việc hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, nhất là các quyền tự do cá nhân được Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm. Do đó, việc nghiên cứu làm sáng tỏ khái niệm biện pháp bắt ngườicũng như các đặc trưng pháp lý của nó có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao nhận thức cho cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, đồng thời đảmbảocho việc áp dụng biện pháp bắt người được đúng pháp luật, bảo vệ được quyền con người, quyền công dân.
Bắt làmộtthuậtngữđã có từlâu và đượcsửdụng nhiều trong đời sống xã hội. Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội xuất bản năm 1992 thì: “Bắt là một động từ diễn tả sựnắmlại, giữ lại một người hay một sinh vật nào đó không để cho tự do hoạt động hoặc cửđộng”[88, tr.60]. Còn theoTừđiển Tiếng Việt của Nxb. Đà Nẵng xuất bản năm 2001, bắt là “Nắm lại, giữ lại, không để cho tựdo hoạt động hoặc cử động” [87, tr.44]. Theo các cách giải thích nêu trên, bắt được hiểu là hoạt động của con người, được thể hiện bằng việc chủ động tác động (nắm lại,giữlại) lên một đối tượng khác nhằm mục đích không cho đối tượng ấytựdo hoạt động hoặc cử động (kiểm soát và giám sát đối tượng ấy). Như vậy, bắt được bắt đầu khi chủ thể thực hiện hành động nắm, giữ và kết thúc khi hành động nắm giữđó chấm dứt.Bắtở đây được hiểutheo nghĩa rộng. Khi tiếpcậnbắtvới tư cách là một
27
BPNC trong TTHS, do chưa có định nghĩa pháp lý về biện pháp bắt người, cho nênđã có nhiều quan điểm khác nhau, đáng chú ý là một số quan điểm sau:
Theo Từđiển Bách khoa CAND của Nxb. CAND xuất bản năm 2005: “Bắt người phạm tội là mộtbiện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, được tiến hành theo quy định của pháp luật và theo lệnh của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòaán nhằm chặn đứng hành vi phạm tội và không gây khó khăn cho việc điều tra, truy
tố, xét xử cũng như việc đảm bảo thi hành luật..” [86, tr.35]. Khái niệm này đã nêu rõ được chủ thểáp dụng và mục đích áp dụng biện pháp bắt người. Tuy nhiên, việc xác địnhchủthểáp dụng biện phápbắtngười là CQĐT, Tòa án và VKS là không đầy đủ vì ngoài các chủ thể này ra thì các chủ thể khác cũng có thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt người, nhưđối vớibắt người phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bịtruy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt. Ngoài ra, khái niệm này chưa thểhiệnđượcđối tượng bị áp dụng biện pháp bắt người là đối tượng nào.
Theo tác giả Nguyễn Văn Điệp:
Bắt là biện pháp cưỡng chế được quy định trong luật tố tụng hình sự do cơ quan, người có thẩm quyền do luậtđịnh áp dụng đối vớibị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố; người đang có hành vi phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã khi có căn cứ do Bộ luật tố tụng hình sự quy định, nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn việcbịcan, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án [34, tr.12-13].
Trong khái niệm này, tác giả đã nêu rõ được bản chất, chủ thể có thẩm quyềnáp dụng, căn cứ áp dụng, đối tượng bị áp dụng và mục đích áp dụng biện pháp bắt người. Trong đó,tác giả đã nêu rõ đối tượngbị áp dụng biện pháp bắt người là bịcan, bị cáo hoặc ngườichưa bị khởi tố; người đang có hành vi phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã. Có thể thấy, người chưa bị khởi tố bao gồm cả người đang cóhành vi phạm tội quả tang cho nên nội hàm của đối tượng bị áp dụng biện pháp bắt người đã có sự trùng lặp.
Tác giả Nguyễn Trọng Phúc cho rằng:“Bắtngười trong tố tụng hìnhsựlà giữngười có hành vi phạm tội, không để cho họ tiếp tục phạm tội” [51, tr.50]. Có thểthấy, nội hàm của khái niệm này quá đơn giản khi mới chỉ nêu được đối tượng bị áp
28
dụng (người có hành vi phạm tội) và mục đích của việc áp dụng biện pháp bắt người (không để cho họ tiếp tục phạm tội). Như vậy, trong khái niệm này còn thiếu chủ thể
áp dụng, căn cứáp dụng… Và ngaycả mục đích áp dụng là khôngđể cho họ tiếp tục phạm tội cũng chưa đầy đủ.
Tác giả Nguyễn Quang Nghĩa quan niệm:
Bắt là biện pháp ngăn chặn trongtố tụng hình sựdo những cơ quan cóthẩm quyền tiến hành đối với bị can, bị cáo và những người đang có hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm, đã hoặc đang thực hiện hành vi phạm tội, nhằm kịp thời ngăn chặn tộiphạm, ngăn ngừa người phạm tội trốn tránh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án [48, tr.7].
Có thể thấy, khái niệm bắt người mà tác giả đưa ra cũng đã nêu rõ được bản chất của biện pháp bắtngười, chủ thể áp dụng, đối tượng áp dụng và mục đích áp dụng. Tuy nhiên việc xác định chủ thểáp dụng biện pháp bắt người là những cơquan có thẩm quyền là chưa chính xác, vì ngoài những cơ quan này, đối với bắt người phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã thì bất kỳ ai cũng có quyền bắt. Bên cạnh đó, khái niệm cũng xác định đối tượng bị áp dụng biện pháp bắt người là bị can, bị cáo và những người đang có hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm, đãhoặc đang thực hiện hành vi phạm tội, là quá rộng; hơn nữa việc không xác định căn cứ bắt người trong khái niệm cũng sẽ gây ra cách hiểu sai lầm là tất cả các đối tượng trên đều bị áp dụng biện pháp bắt.
Theo tác giả Trần Quang Tiệp:
Bắt người là biện pháp ngăn chặn trongtố tụnghình sự, do người có thẩm quyền áp dụng, tạm thời hạn chế tự do thân thể đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩncấphoặc phạm tội quả tang) theo những trình tự, thủtụcdo pháp luậttốtụng hình sựquy định, nhằm ngăn chặn tội phạm,ngườithực hiện tộiphạm trốn tránh pháp luật,bảođảmcho việc tiến hành hoạtđộng điềutra, truy tố, xét xử và thi hành án [78, tr.73-74].
Khái niệm trênđã đúng khi xác định bảnchất cưỡng chế củabiện pháp bắt người là tạm thời hạn chế tự do thân thể của người bị áp dụng, đồng thời khẳngđịnh việc bắt người phải tuân theo những thủ tục do pháp luật TTHS quy định, tuy nhiên
29
lại không nêu rõ căn cứ áp dụng biện pháp bắt người. Bên cạnh đó,đối tượng bị áp dụng biện pháp bắt người được nêu ra trong khái niệm, ngoài bị can, bị cáo còn có người chưa bị khởi tố là rất rộng. Bởi vì người chưa bị khởi tố có thể là người nghi vấn liên quan đến vụ án hoặc không liên quan đến vụ án.
Khái niệm biện pháp bắt người trong Giáo trình Luật TTHS Việt Nam, Học viện CSND cũng có nhiều điểm tương đồng với quan niệm của tác giả Trần Quang Tiệp khi cho rằng:
Bắt người là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sựđược áp dụng với bị can,bị cáo hoặc người chưa bịkhởitốthì áp dụng trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật, tạo điều kiện cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và chấp hành bản án hình sự [39, tr.175].
Khái niệm này đã không nêu được chủ thể áp dụng biện pháp bắt người.
Ngoài các quan niệm nêu trên, còn khá nhiều các khái niệm khác nhau về biện pháp bắtngườiđược trình bày trong các công trình nghiên cứu khác. Nói chung, các khái niệm này đều được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu các quyđịnh của Bộ luật TTHS năm 1988 (sửa đổi, bổ sung năm 1990, 1992 và 2000) và Bộ luật TTHS năm 2003 về biện phápbắtngười. Sốít các khái niệm được xây dựng trên cơ sở các quyđịnh của Bộ luật TTHS năm 2015, như tác giả Phạm Mạnh Hùng cho rằng: “Bắt người là biện pháp ngăn chặn, áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người phạm tội quả tang, bị can, bị cáo, người đang bị truy nã hoặc người bị yêu cầu dẫn độ”[43, tr.206]. Tuy nhiên khái niệm mới nàychỉ phản ánh đượcđối tượng bị áp dụng biện pháp bắt người, mà chưa thể hiện được chủ thể áp dụng, căn
cứáp dụng và mục đích áp dụng biện pháp bắt người… Khái niệm này có chỉ ra bản chất của biện pháp bắt là BPNC, tuy nhiên bản chất này chưa hoàn toàn chính xác bởi vì ngoài BPNC trong TTHS còn có BPNC hành chính.
Tóm lại, hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau vềbiện pháp bắt người. Các khái niệm này đã nêu được nhiều khía cạnh của biện pháp bắt người. Về cơ bản, các khái niệm đều thống nhất đề cập đến bản chất pháp lý của biện pháp bắt người là cưỡng chế nhà nướcnói chung và cưỡng chế trong TTHS nói riêng. Tuy nhiên,
30
nhìn chung các khái niệm này chưa đầyđủ khi chưa phản ánh hết được các đặc trưng pháp lý của biện pháp bắt người, như: bản chất pháp lý; thẩm quyền áp dụng;đối tượng bị áp dụng; căn cứ áp dụng; mục đích áp dụng. Do đó đểcó cơ sở khoa học đưa ra khái niệm biện pháp bắt người một cách đầy đủ và toàn diện, theo chúng tôi cần làm rõ các đặc trưng pháp lý này.
2.1.1.1. Bản chất pháp lý của biện pháp bắt người
Trong xã hội XHCN, giáo dục, thuyết phục là phương phápchủ yếu, cơ bản đểthực hiện các chức năng quản lý nhà nước, quản lý xã hội trên các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Điều này được lý giảitừtính xã hội rộng rãi của Nhà nước ta: Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; trong đó mọi chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ lợiích của Nhân dân. Tuy nhiên, vẫn còn đómộtbộ phận cá nhân có ý thức pháp luật chưa cao, chưa tuân thủ chặt chẽ các quy tắc của cuộc sống XHCN, chưa chấp hành nghiêm chỉnh các chủtrương, đườnglối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật… Bên cạnh đó, các thế lực thù địch luôn tìm đủ mọi cách để chống phá Đảng và Nhà nước ta, hòng lật đổ chế độ XHCNở nước ta. Do đó, bên cạnh biện pháp giáo dục, thuyết phục, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế là cần thiết, phù hợp với bản chất xã hội rộng rãi của Nhà nước ta, bởi lẽviệc áp dụng biện pháp cưỡng chế cũng nhằm bảo vệ lợi ích chung của xã hội, trongđó có lợi ích của cá nhân. Có thể nói, biện pháp giáo dục, thuyết phục và biện pháp cưỡng chếcó mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó giáo dục, thuyết phục tốtsẽ tạođiều kiện thuận lợi cho cưỡng chế có hiệu quả, ngược lại cưỡng chế tốt cũng có ý nghĩa nâng cao tính giáo dục, thuyết phục, làm cho giáo dục, thuyết phục mang tính nhân văn hơn.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Nxb. Văn hóa – thông tin xuất bản năm 1998:
“Cưỡng chế là bắt phải tuân theo bằng sức mạnh quyền lực” [121, tr.599]. Căn cứvào loại vi phạm pháp luật khác nhau,cưỡngchế cũng có được chia thành các loại khác nhau, như: cưỡng chế dân sự, cưỡng chế hành chính, cưỡng chế hình sựvàcưỡng chế TTHS. Trong đó, biện pháp cưỡng chế TTHS đượchiểu là cách thức thực hiện quyền lực nhà nước do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp
31
dụng theo những thủ tục được pháp luật TTHS quy định, tác động lên tư tưởng, thân thể, hành vi của người tham gia tố tụng, buộc họ phải thực hiện nhằm bảo đảm cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thực thi đúng pháp luật.
Biện pháp bắt người là BPNC nói riêng và là biện pháp cưỡng chế trong TTHS nói chung. Do đó,bảnchất pháp lý của biện pháp bắtngườichínhlà sựcưỡngchếcủa nhànướcmang tính ngăn chặnđược ápdụng trong những trường hợp cần thiết của hoạt động TTHS nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống
tội phạm.
Thứ nhất, về sựcưỡngchế của nhà nước. Bản chất pháp lý này được xác định cụ thể bởi nội dung và tính chất của sự cưỡng chế thể hiện trong khi áp dụng biện pháp bắt người.
Về tính chất của sựcưỡng chế, áp dụng biện pháp bắt người chính là sựtác động trực tiếp của Nhà nước và xã hội lên đối tượng bị áp dụng. Sự tác động này thểhiện ý chí đơn phương của Nhà nước mà không bị cản trở hay phụ thuộc vào ý chícủa bất kỳcá nhân haytổ chức nào. Các quyết định, lệnh bắtngười của cơ quan, ngườicó thẩm quyền tiến hành tố tụng có tính chất bắt buộc đối với người tham gia
tố tụng, các cơ quan Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Quyết định, lệnh bắt người làm phát sinh quan hệ pháp luật TTHS giữa một bên là chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt người và một bên là người bị bắt, từ đó phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên. Theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành, chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt người chủ yếu là người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, còn có sựtham gia của chính quyền địa phương, cơquan, tổ chức và các cá nhân khác, như: chính quyền địa phương tham gia hỗ trợ việc bắt người, chứng kiến việc bắt người, lập biên bản và giải người bị bắt phạm tội quả tangđến CQĐT;đại diện của cơ quan, tổ chức tham giavớitư cách là người chứng kiến; cá nhân tham gia vào việc bắt người với tư cách là người chứng kiến
hoặc là người trực tiếp bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truynã… Tuy nhiên cầnphải nhận thức rõ cơ quan, ngườicó thẩm quyền tiến hành tố tụng cũng chỉ thực hiện quyền lực trong khuôn khổ pháp luật, ở mức độ tối thiểu, trong những trường hợp thật cần thiết, không được tùy tiện ra các quyết định hoặc lệnh bắt
32
ngườitrái pháp luật. Hơn nữa, các chủthểnày phải có nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm và bảovệ các quyền của ngườibị bắt, như: quyền đượcpháp luật bảo hộvề sức
khoẻ, danh dựvà nhân phẩm; quyền được nhờ người bào chữa… Bên cạnh đó, về phía người bị bắt có nghĩa vụ chấp hành lệnh, quyết định bắt người và yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền bắt người. Trong trường hợp người bị bắt chống đối, không chấp hành thì chủ thể có thẩm quyền bắt người có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết để bảo đảm, thậm chí cả việc sửdụng vũ lực để khóa trói, vô hiệu hóa sự kháng cự, chống đối từ phía người bị bắt.
Về nội dung của sựcưỡng chế, áp dụng biện pháp bắt người chính là sựtác động lên thân thể, tư tưởng, tâm lý và hành vi của chính người bị bắt qua đó hạn chế quyền tựdo cá nhân củangười bị bắt. Vấn đề này cũng được đượcmột số tác giả khẳng định [131, tr.150], [49, tr.30].“Bắt là một độngtừdiễn tả sựnắm lại,giữlại một người hay một sinh vật nào đó không để cho tựdo hoạt độnghoặc cửđộng”
[88, tr.60], dođó,áp dụng biện pháp bắt người thực chất làsựtác động lên thân thể của người bị bắt bằng việc giữ và giải người bị bắt về cơ quan có thẩm quyền; thậm chí trong trường hợp người bị bắt có hành vi chống đối, chống trả thì lực lượng thi hành biện pháp bắt người được phép sửdụng vũ lực để khống chế, trấn áp và vô hiệu hóasựchống cựcủa đốitượng. Như vậy, mức độ tácđộnglên thân thể của người bị bắt phụ thuộc vào chính ý thức chấp hành của họ. Và chính sự tác động lên thân thểcủangườibị bắt đã ảnh hưởng trực tiếp đếntư tưởng, tâm lý và hành vi của họ. Điềunày được thểhiện thông qua việc áp dụng biện pháp bắt người sẽ tácđộngđến ý thức và ngăn chặn một số hành vinhất định củađối tượng, như: hành vi thực hiện tội phạm; tiếp tục phạm tội; hành vi bỏ trốn; cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Cùng với sự tác động lên thân thể, tư tưởng, tâm lý và hành vi của người bị bắt, việc áp dụng biện pháp bắt người còn dẫn đếnsựhạn chế một sốquyền thiết thân nhất của người bị bắt, như: quyền bất khả xâm phạmvề thân thể, quyền tự do đi lại, cư trú,… Khi áp dụng biện pháp bắt người, các quyền thiết thân nhất củangườibị bắt bao giờ cũngbị hạn chế ở mức độ nhấtđịnh. Do đó, biện pháp bắt người phải được ápdụng với đầy đủ các căn cứluật định, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về thẩm quyền và thủ tục áp dụng. Các BPNC nói chung đều hạn chế
33
quyền tự do của đối tượng bị áp dụng ở các mức độ nhất định và khác nhau. Trongđó, biện pháp bắt người cùng với biện pháp tạm giữ người, tạm giam người có mứcđộ hạn chế quyềntựdo cá nhân của đối tượng bị áp dụng nhiều hơn so với các BPNC khác, bởi vì nó cách ly đối tượng ra khỏi cộng đồng trong một khoảng thời gian nhất định. Do đó, bắt người là biện pháp cưỡng chế mang tính nghiêm khắc.
Thứ hai, về tính ngăn chặn. Biện pháp bắt người không chỉ là biện pháp cưỡng chế trong TTHS mà còn là một BPNC.
Bản chất ngăn chặn của biện pháp bắt người được thể hiện trước hết ở việc ngăn chặn tội phạm. Để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, Nhà nước áp dụng nhiều biện phápcưỡngchế khác nhauđể ngăn chặn mọi hành vi vi phạm pháp luật nói chung và tội phạm nói riêng. Trong đó biện pháp bắt người là một trong những biện pháp được áp dụng nhằm ngăn chặn tội phạm có hiệu quả. Ngăn chặn tội phạmở đây là sựngăn chặn không để cho người phạm tội thực hiện tội phạm được đến cùng. Đây là trường hợp tội phạm đang diễn ra, đang xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, cho nên mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân đều có thể ngăn chặn hành vi này bằng việc áp dụng biện pháp bắt người phạm tội quả tang. Rõ ràng việc kịp thời áp dụng biện pháp bắt người phạm tội quả tang sẽ ngăn chặn được hành vi phạm tội tiếp diễn, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
Diễn biến tâm lý cũng như thái độ chủquan của người bị buộc tộicũng rất phức tạp. Bên cạnh những người tỏrõ sựăn năn hốilỗi, nhận thức rõ về lỗi lầm cũng như hành vi phạm tội của mình, còn có không ít người có thái độ ngoan cố, tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội, như: chuẩn bị công cụ, phương
tiện đểthực hiện hành vi phạm tội mới; kích động, xúi giục người khác phạm tội… Do đó, nếu bằng các biện pháp mang tính giáo dục, thuyết phục không có hiệu quả mà để cácđối tượng này ngoài xã hội thì các đối tượng sẽ tiếp tục phạm tội. Vì vậy, việc áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp này còn là ngăn chặn ngườibịbuộc tội tiếp tục phạm tội. Nói cách khác, tính ngăn chặn của biện pháp bắt người còn thể hiện ở phương diện ngăn chặn người bị buộc tội tiếp tục phạm tội.
34
Sựtrừng phạt của pháp luật là hệ quả tất yếu của việc thực hiện tội phạm. Nhận thức rõ hệ quả tất yếu này, nhiều đối tượng tự nguyện chấp hành, hợp tác tích cực với các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều đối tượng tìm đủmọi cách để trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật, như: bỏ trốn; có dấu hiệu bỏtrốn. Việcđiều tra, truy tố, xétxửsẽ không còn ý nghĩa giáo dục và răn đe nếu người phạm tội tránh được sự trừng phạt của pháp luật. Và việc áp dụng biện pháp bắt người sẽ ngăn chặn được hành vi bỏ trốn của người bị buộc tội nhằm trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật. Do đó, ngăn chặn việc người bị buộc tội trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật cũng là một phương diện thể hiện bản chất ngăn chặn của biện pháp bắt người.
“Cản trở việc xác địnhsựthật của vụ án được hiểu là sựcố ý thực hiện các hành vi dẫn đếnsựhiểu sai bản chất của vụ án hình sự” [78, tr.59]. Cản trở việc xácđịnh sựthật của vụ ánđược biểu hiện ở nhiều dạng hành vi khác nhau, như: tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự
thật; đe dọa, khống chế, trả thù ngườilàm chứng, bị hại…Đâyrõ ràng là những hành vi cần phải được ngăn chặn ngay để đảm bảo tính khách quan của những thông tin, tài liệu, chứng cứ thu thập được, góp phần giải quyết vụ án được chính xác, kịp thời. Trong các BPNC, bắt người chính là biện pháp bảođảmngăn chặn kịp thời hành vi cản trở việc xác định sự thật của vụ án.
Như vậy, bản chất ngăn chặn luôn được thể hiện ở biện pháp bắt người, trong mọitrườnghợpbắtngười. Tuy nhiên,mứcđộthểhiện tính ngăn chặnđượcthểhiện khác nhau ở các trường hợp bắt người, như: bắt người phạm tội quả tang thểhiện rõ tính ngăn chặn tội phạm; bắt người đang bị truy nã, bắt tạm giam bị cáo tại phiên toà thể hiện rõ sự ngăn chặn việc người bị buộc tội trốn tránh sự trừng phạt
của pháp luật;…
2.1.1.2. Thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt người
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Biện pháp bắt người trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Biện pháp bắt người trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Biện pháp bắt người trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Biện pháp bắt người trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Biện pháp bắt người trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Biện pháp bắt người trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

