PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Quyền con người là giá trị thiêng liêng, hiện hữu trong rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, luôn đã và đang lànhững nỗ lực trongmọi hoạt độngvà bằng nhiều các biện pháp khác nhau của Đảng và Nhà nước ta. Trong các biện pháp đó, luậthình sự đượcxem là côngcụhữu hiệuđểbảovệ quyền con người. Vai trò của luật hình sự trong việcbảovệquyền con người thể hiện ở việc quy định là tội phạm các hành vi xâm phạm quyền con người nghiêm trọng và hình phạt đối với các hành vi đó. Mỗi quy định trong từngđiều luật là sự thểhiện nhận thức, tâm huyết và sự nỗ lực trong việc bảo vệ những quyền tự nhiên, thiêng liêng cơbảnmàcảnhân loại đềuhướng tới. Hơn nữa, luật hìnhsựlà ngành luật nội dung, đóng vai trò quan trọng nhất trong việc bảo vệ quyền con người và có mối quan hệ chặt chẽ với ngành luật tố tụng hình sự. Chỉ khi luật nội dung quy định và quy định phù hợp thì luật tố tụng hình sự mới thực hiện được vai trò của nó trong việc thực thi công lý, đưa vấn đề bảo vệ quyền con người hiện hữu trong thực tiễn.
Mặt khác, vấn đềthúcđẩy, bảo đảmquyền con người cảtrong quyđịnh của pháp luật hình sựvà thực tiễn áp dụng là nghĩa vụcủa tấtcảcác quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp. Đểđạt được những mục tiêu trong lĩnh vực này, nhân loại đang hướng tới xây dựng một “nền văn hóa nhân quyền” ởmọi cấp độ, trong đó kết hợp hài hòa những đặc thù và giá trịtruyền thống tốt đẹpcủa các dân tộc với các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế được thừa nhận chung về nhân phẩm và giá trị của con người. Điều nàychỉđạt đượckhi đảmbảo được sựhài hòa giữa quyđịnh của luật hình sựViệt Nam với các quy định của luật pháp quốc tế. Do đó, các quốc gia phải có nghĩa vụxây dựng các nguyên tắc, quy phạm cũng nhưđịnh chếhình sựquốc gia theo khuôn mẫu cụ thể và xác định luật hình sự quốc tế chính là các chuẩn mực quốc tế màcộng đồng quốc tế thống nhất ghi nhận trong luật hình sự quốc tế. Việc đảm bảo sựtương thích giữa các quy định của pháp luật Việt Nam với luật quốc tế nói chung, của luật hình sự Việt Nam với luật hình sự quốc tế nói riêng về quyền con người không
chỉ thể hiện sự tôn trọng cam kết quốc tế của Việt Nam, mà còn tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình bảo đảm quyền con nguời trong thực tiễn.
Trong số các tội phạm được quy định trong BLHS Việt Nam thì có rất nhiều tội phạm xâm phạm đến quyền con người. Tuy nhiên trong số đó, các tội danh được quyđịnh tại Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm là thểhiện rõ nét nhất những quyền cơ bản nhất của con người được pháp luật hìnhsự bảo vệ. Đốivới nhóm tội danh các tội xâm phạm tìnhdụccũng là một trong sốcác tội phạm cụ thể được BLHS quy định trong Chương này để nhằm bảo vệ các quyền con người thiêng liêng và cơ bản.
Bên cạnhđó,tình hình các tộixâm phạm tình dụcvẫnkhông ngừng gia tăng, ngày càngphổbiến rộng rãi và diễn biến phức tạp, các hình thức bạo lực tình dục, đặc biệt với đối tượnglà phụ nữ hoặc trẻ em như hiếp dâm, cưỡng dâm hay ép buộc bán dâm ngày càng nhiều. Đồng thời khi so sánh tỉ lệ bị bạo hành và lạm dụng tình dụcdo bạn đời và không phải do bạn đời, một nghiên cứu quốc gia1 đã chỉra rằng phụ nữ ở Việt Nam có nguy cơ dễ phải trải qua bạo hành tình dục do bạn đời cao gấp ba lầnnguy cơbịbạo hành tìnhdụcdo nguồn khác. Theo Sốliệu thống kê của TANDTC về một số tội xâm tình dục được xét xử từ năm 2010 đến năm 20192 cho thấy, tổng số vụ án và số bị cáo bị đưa ra xét xử về các tội phạm tình dục mỗi năm là
rất lớn. Sốvụvà sốnạn nhânbịxâm hại tình dục có diễn biến phức tạp và nghiêm trọng3. Nhiều vụ án xảy ra trong thời gian dài mới bị phát hiện, nạn nhân của những
vụxâm hại tình dục có cảnhững em bé còn ít tuổi. Tuy nhiên, vấn đềtồn tại nhức nhối là ở chỗ, các vụ án xâm hại tình dục được nhận định là như “tảng băng trôi”, tức là xảy ra rất nhiều và phức tạp, tuy một phần là do không bị phát hiện hoặc nạn nhân và gia đình không tốcáo, nhưng thậm chí khi phát hiện thì cũng xửlý rất khó. Một trong những nguyên nhân của tình trạng đó, một phần là xuất phát từ nhận thức quốc gia và khu vực về tầm quan trọng của khách thể bị xâm hại, quyền con người đầy đủcần được bảo vệ. Tuy nhiên, nguyên nhân chínhdẫn đến nhiều vụ ánxâm hại tình dục đã xảy ra nhưng khó xử lý đó là vì một số quyđịnh về cácyếu tố cấu thành tội phạm chưa chuẩn về kỹ thuật, chưa bao quát hết được các hành vi xâm phạm trên thực tế và yêu cầu từ các chuẩn mực quốc tế đề ra, dẫn đến sự vướng mắc trong quá trình xử lý tội phạm làm giảm hiệu quả đấu tranh chống tội phạm.
Vì vậy, cầnnghiêncứuphân tích, đánh giá quyđịnhvềcáctộixâm phạm tình dục trong Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), trong sự đối chiếu nóvới pháp luật quốctếvà thực tiễn tình hìnhtộiphạm làcầnthiết.Từđóđềxuất các phương hướng hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm tình dục
tạo điều kiện thuận lợi cho quá trìnhxử lýtội phạm, bảo vệ quyền của nạn nhân bị xâm hại. Kết quả của quá trình này cũng sẽ tạo cơ chế mở rộng phạm vi tiếp cận công lý cho phụ nữ, trẻem vàmộtsố đối tượng thuộc nhómngườiyếu thế bị lạmdụng tình dục. Bên cạnh đó, những kết quả của quá trình phân tích và đối chiếu quy định pháp luật sẽnâng cao nhận thức cho các cơ quan tư pháp trong quá trình áp dụng pháp luật để xử lý
tội phạm. Đây là việc làm có ý nghĩa khoa học xã hội sâu sắc, là cơsở vững chắc đảm bảotốt hơn quyền con người.Đólà lý dođểtác giảchọnđềtài “Bảovệquyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục theo luật hình sự Việt Nam”để làmđề tàinghiên cứu sinh của mình.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
– Đề tài nghiên cứu đưa ra những kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sựvềcác tộixâm phạm tình dụctrong luật hình sựViệt Nam, làm cơsởpháp lýđểnâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ quyền con người trong tư pháp hìnhsự.
– Để đạt được mục đích nêu trên, đề tàigiải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
Thứ nhất, nghiên cứu các vấn đề lý luận vềbảo vệ quyền con người bằng quyđịnh củaBộluật hìnhsựViệt Nam. Nghiên cứu vai trò, mối quan hệcủa pháp luật quốc tế với luật hình sự quốc gia trong bảo vệ quyền con người, phân tích các nguyên
tắc của luật hình sự trong bảo vệ quyền con người. Chỉ ra những nội dung cơ bản của việc bảo vệquyền con người trong luật hình sự, các quyền con người cần được bảo vệ khỏi các tội xâm phạm tình dục và giải thích để làm rõ câu trả lời của câu hỏi tại sao việc quy định các tội phạm này lại bảo vệ quyền con người.
Thứ hai, phân tích quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm tình dục, mà cụ thể là phân tích một số đặc điểm pháp lý với góc nhìn từ việc bảo vệquyền con người,đồng thờichỉnhững vướng mắc trong quá trình áp dụng các quyđịnh của Bộ luật hình sự Việt Nam để xử lý tội xâm phạm tình dục dẫn đến hạn chếtrong việc bảo đảm quyền con người.
Thứ ba, trên cơ sở chỉ ra những hạn chế của BLHS Việt Nam so với pháp luật quốc tế về các tội xâm phạm tình dục, cũng như những vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật hình sựViệt Nam, đềxuất các giải pháp hoàn thiện Bộluật hình sựViệt Nam về các tội xâm phạm tình dục nhằm bảo vệ quyền con người.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiêncứu của đề tàilà: Các quan điểm khoa học, các chuẩn mực quốc tế, các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm tình dục và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan; các quyết định, kết luận của cơ quan có thẩm quyền đưa ra trong quá trình xử lý hình sự và bản án xét xử của tòa án.
– Phạm vi nghiên cứu: Luận án được tiếp cận và được thực hiện dưới góc độ luật hình sự. Luận án nghiên cứu về các tội xâm phạm tình dục trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan. Phạm vi các tội xâm phạm tình dục được nghiên cứu trong luận án này bao gồm các tội được quyđịnh tại chương các tội xâm phạm tính mạng sức khỏe, danh dự nhân phẩm từ Điều 141 đến Điều 147 và một số tội phạm tình dục liên quan đến hoạt động mại dâm quy
định ở Chương các tội xâm phạm trật tự công cộng, gồm tội chứa mại dâm Điều 327, tội mua dâm người chưa thành niên Điều 329.
Phạm vi các quyền con người hướng tới để bảo vệ khỏi các tội xâm phạm tình dục bao gồm quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền tựdo tình dục, quyền được phát triển lành mạnh vềthểchất và tinh thần của người chưa thành niên. Đối tượng được hướng đến nhằm bảo vệ quyền con người trong đềtài này là những người có nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm.
Phạm vi các quy định về các tội xâm phạm tình dục để nghiên cứu là bao gồm các dấu hiệu định tội, dấu hiệu định khung, và hình phạt.
Luận án cũng nghiên cứu mở rộng trong pháp luật quốc tế vàluật hình sự của một số nước như Canada, Thuỵ Điển, Anh…
Tác giả nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định pháp luật trong xử lý các tội xâm phạm tình dục trên địa bàn cả nước, trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến 2019.
4. Cơ sở lý luận của đề tài, Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài: đề tài được xây dựng dựa trên những luận điểm khoa học về luật hình sự trong việc bảo vệ các quyền con người có thể bị gây thiệt hại bởi các tội xâm phạm tình dục.
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu là phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về quyền con người, về chính sách hình sự.
Những phương pháp chung được sửdụng trong nghiên cứu là: Phương pháp tiếp cận quyền trong nghiên cứu vấn đề, phương pháp nghiên cứu liên ngành, đa ngành, xuyên ngành và các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh luật học.
Việc thực hiện luận án cũng được tác giả sử dụng một số phương pháp đặc thùcủa lĩnh vực luật học như: phương pháp tiếp cận quy phạm được sử dụng để hệ thống hóa và giải thích các quy định của pháp luật; phương pháp lịch sử được sử dụng đểthểhiện sựgắn kết và tiếp nối vềmặt thời gian của những quyđịnh pháp luật. Các phương pháp nàyđược sửdụng đểthực hiện các nghiên cứu trong Phần tổng quan
tình hình nghiên cứu và Chương 1 của phần nội dung.Trong Phần tổng quan, tác giảcũngsửdụng thêm phương pháp phân tích các nghiêncứucủacác tácgiảtrong vàngoài nước về các tội xâm phạm tình dục, rồi thực hiện phương pháp tổng hợp và phân loại các nghiên cứu đó theo từng vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp phân tích được sửdụng trong tất cảcác Chương của luận án. Trong Chương 1, phương pháp phân tích và phương pháp tổnghợpđượcsử dụngđểphân tích nhữngvấnđềlý luận, các quanđiểmkhoa học,từđótổng hợp, khái quát thành hệ thốngnhững vấn đề lýluận về các tội xâm phạm tình dục. Phương pháp phân tích, thường xuyên sử dụng trong Chương 2 và Chương 3 của luận án để phân tích làm rõ các quy định và thực tiễn áp dụng quy định về các tội xâm phạm tình dục trong Luật hình sự Việt Nam. Bên cạnh đó, phương pháp so sánh luật cũngđược sử dụngđể phân tích, so sánh giải thích sự tương đồng và khác biệt giữa quy định của Luật hình sự Việt Namvớipháp luật quốctế,Luật hìnhsựcủamộtsốnướcvềcáctộixâm phạm tình dục, được thể hiện trong Chương 2 của luận án.
Phương pháp nghiên cứu được thực hiện trong Chương 3 của luận án, thông qua việc nghiên cứu điển hình cácvụ án cụ thể để đánhgiá chất lượng, hiệu quả của các quy định pháp luật khi được áp dụng trong thực tiễn.
Phương pháp thống kê chủ yếu được sử dụng để thu thập và xử lý số liệu phục vụcho việc tạo cơ sởthực tiễn khi đưa ra các đánh giá và kết luận kiến nghị hoàn thiện quy định trong Chương 3

5. Những điểm mới của luận án
Điểm mới củaLuận án thể hiện trong một số nội dung sau:
– Xây dựng được lý luận về việc bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam một cách toàn diện và hệ thống.
– Đánh giá mức độtương thích giữa quyđịnhvềcác tộixâm phạm tình dục trong Bộluật hình sựViệt Nam với các chuẩn mực quốc tế, cũng như kinh nghiệm lập pháp của một sốnước vềcáctộixâm phạm tình dục trong bảo vệquyền con người.
– Qua phân tích quy phạm và nghiên cứu thực tiễn, làm sáng tỏ được những hạn chếtrong bảo vệquyền con người do những bất cập trong quyđịnh vềcác tội xâm phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam.
– Đưa ra các kiến nghị hoàn thiện BLHS Việt Namvềcác tội xâm phạm tình dục nhằm tạo cơ sở để bảo vệ quyền con người một cách hiệu quả nhất.
6. Câu hỏi nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu
Các câu hỏi nghiên cứu có thể đặt ra để giải quyết trong Luận án là:
1/ Trong lý luận luật hình sự, vấn đề bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự bằng các tội xâm phạm tình dục đã được giải quyết toàn diện, triệt để hay chưa?
2/ Quy định của BLHS Việt Nam về các tội xâm phạm tình dục đãđầy đủ, đúngđắn, hợp lý và khảthi(từgóc độlý luận, chuẩn mực quốc tếvà kiểm nghiệm thực tiễn) để bảo vệ hiệu quả các quyền con người hay chưa? Pháp luật đó còn những hạn chế, bất cập gì?
3/ Cần hoàn thiện quy định của BLHS về các tội xâm phạm về tình dục thế nào để nângcao hiệu quả bảo vệ quyền con người của nó trong bối cảnh hiện nay của xãhội Việt Nam.
Từ các câu hỏi nghiên cứu trên, các giả thiết nghiên cứu được đưa ra là:
1/ Vấn đề bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự qua quy định về các tội xâm phạm tình dục trong khoa học luật hình sự tuy đã được quan tâm, đặc biệt là
sau khi BLHS 2015 được ban hành vớinhiều điểmmới, nhưng vẫn chưa được giải quyết hệ thống, toàn diện, triệt để.
2/ Mặc dù BLHS 2015 đã phát huy được vai trò của nó. Tuy nhiên, nó vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện thêm quy định về các tội xâm phạm tình dục; đồng thời cần có những hướng dẫn để các cơ quan thực thi pháp luật nhận thức một cách thống nhất nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn về bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tìnhdụcvà phù hợp vớichuẩn mực quốctếvà tiếp thu kinh nghiệm quốc tế.
3/ Để bảo vệ tốt hơn nữa quyền con người trong bối cảnh mới, cần tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật bằng cách mở rộng phạm vi tội phạm; hoàn thiện cấu thành tội phạm và chế tài trong các quy định hiện hành của BLHS về các tội xâm phạm tình dục.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận: xây dựng hệ thống lý luận về bảo vệ quyền con người bằng quyđịnh vềcác tội xâm phạm tình dục. Chỉra những nội dung cơ bảncủa việc bảo vệquyền con người thông qua quy định về các tội xâm phạm tình dục và xây dựng nên cách thức, phương pháp của hoạt động quyđịnh các tội xâm phạm tình dục đểđạt được hiệu quả trong việc bảo vệ quyền con người một cách tốt nhất.Bên cạnh đó, đềtài cũng xây dựng lại khái niệm về các tội xâm phạm tình dục dưới góc độ quyền con người nhằm mục đích gia tăng nhận thức vềtính nguy hiểm của loại tội phạm này. Cuối cùng, kết quả nghiên cứu của đề tài tạo cơ sở xây dựng các giải pháp nhằm hoàn thiện BLHS Việt Nam năm 2015 về các tội xâm phạm tình dục.
Ý nghĩa thực tiễn: các kết quảnghiên cứugiúp đánh giá tầm quan trọng của hoạt động lập pháp trong việc quy định các tội xâm phạm tình dục đối với quá trình bảo vệquyền con người. Kết quảnghiên cứu có thểđược dùngđểđịnh hướng cho hoạt động xây dựng quy phạm về các tội xâm phạm tình dục và nâng cao nhận thức của các cơ quan tư pháp về quyền con người trong quá trình tiến hành tố tụng để xửlý tội phạm nhằm thực thi công lý một cách công bằng và hiệu quả.
8. Cấu trúc của luận án
Ngoài Phần mởđầu,Phần tổng quan, Phần kếtluận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm ba (03) chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người bằng quy định vềcác tội xâm phạm tình dục
Chương 2: Chuẩn mực quốc tế, kinh nghiệm của một số quốc gia và Thực tiễn bảo vệ quyền con người bằng quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về các tội xâm phạm tình dục
Chương 3: Đánh giá quy định về các tội xâm phạm tình dục qua thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và đề xuất hướng hoàn thiện dưới góc độ bảo vệ quyền conngười
PHẦN TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1. Các công trình nghiên cứuvềquyền con người và bảo vệquyền con người bằng pháp luật
1.2. Các công trình nghiên cứu về quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự
1.3. Các công trình nghiên cứu về các tội xâm phạm tình dục
1.3.1. Các công trình nghiên cứu về chính sách hình sự đối với các tội xâm phạm tình dục
1.3.2. Các công trình nghiên cứu về dấu hiệu định tội, dấu hiệuđịnh khung vàhình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục nói chung hoặc nhóm hay một tội phạm cụ thể
2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Quyền con người là một nội dung lớn của thế giới ngày nay. Để đạt được điều đó, việc bảo vệ cần phải dựa trên một hệ thống giá trị toàn cầu phổ biến và tạo ra một khuôn khổđểxây dựng hệthống quyền con người thông qua các quy phạm và tiêu chuẩn quốc tế bảo vệ do nhà nước và cộng đồng quốc tế ban hành. Do đó, việc tìm hiểu tình hình nghiên cứu về quyền con người trong luật hình sự ở nước ngoài là việc làm cần thiết. Giúp tác giả so sánh, đối chiếu giữa các công trình nghiên cứu trong vàcảvới ngoài nước.Đồng thời củngcốthêm cơ sởlý luận cho các vấn đềthuộc nội dung nghiên cứu của đề tài.
2.1. Các công trình nghiên cứu vềquyền con người và bảo vệquyền con người bằng pháp luật
2.2. Các công trình nghiên cứu về quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự
2.3. Các công trình nghiên cứu về các tội xâm phạm tình dục
3. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu vềquyền con người trong lĩnh vực pháp luật nói chung, tư pháp hình sự nói riêng, và các công trình nghiên cứu có nội
20 Website http://www.questjournals.org/jrhss/papers/vol2-issue3/E233860.pdf truy cập ngày 4/7/2016
dung liên quan đến các tội phạm tình dục, trên phạm vi quốc tế cũng như trong nước như đã nêu, tác giả luận án đưa ra những đánh giá, nhận xét như sau:
3.1. Những vấn đề đã được nghiên cứu tương đối đầy đủ
Đối vớicác công trình nghiên cứu vềquyền con người ởgóc độchung, khái quát trong lĩnh vực tư pháp hình sự và lĩnh vực hình sự. Các công trình này để lại một số giá trị mang tính chất là nền tảng, trongđóđề cập đến các nội dung được đóng vai trò như những tiêu chuẩn bảo vệcũng như phạm vi bảo vệquyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói chung, lĩnh vực luật hình sự nói riêng. Các công trình đềcập đến các đặc điểm đặc trưng trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người của tư pháp hình sự,đặcbiệt nhấn mạnhđến nhiệm vụvà hoạtđộngcầnthiết đểbảovệquyền con người trong lĩnh vực này như thế nào, và ý nghĩa, vai trò đặc biệt của nó ra sao.
Nhóm công trình nghiên cứu vềcác tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm nói chung và các tội phạm tình dục nói riêng có những đặc điểm chung, thống nhất sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đều phân tích các dấu hiệu pháp lý của các
tội xâm phạm tình dụchoặc một tội phạmcụthể(thuộc nhóm tội này như tội hiếp dâm) trên cơ sở quy định của pháp luật và cách hiểu của các tác giả đối với các quyđịnh đó, đồng thời đưa ra một sốvụán xâm phạm tình dục trong thực tiễn đểgiải thích, củng cố thêm cho các lập luận của tác giả. Các công trình trong và ngoài nước đều cùngchỉra phạm vi các hành vi tội phạmcủacác tội xâm phạm tình dục hay danh dự nhân phẩm bao gồm: tội hiếp dâm, tội hiếp dâm trẻ em, tội cưỡng dâm, tội cưỡng dâm trẻem,tộigiao cấu hoặc thực hiện hành vi quanhệtình dụckhác với người dưới 16 tuổi, tội dâm ô với người dưới 16 tuổi. Điều này được thể hiện trong công trình nghiên cứu của các tác giả như tác giả Nguyễn Ngọc Chí, tác giả Nguyễn Ngọc Hòa, tác giảDương Tuyết Miên, hay tác giảĐỗĐức Hồng Hà, tác giảTrịnh
Tiến Việt…. Về vấn đề cần xử lý hình sự việc thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn
của người chồng đối với vợ, tức là vẫn coi hiếp dâm hay cưỡng dâm tồn tại ngay cảtrong hôn nhân.
Thứ hai, Các công trình nghiên cứu dưới góc độ luật học, dựa trên sự so sánh,đối chiếu một sốquyđịnh của pháp luật hình sựcác nước như Thụy Điển, Nga,
Trung Quốc, Đức;…., hoặc tổng kếttừthực tiễn những bất cập và vướng mắc trong
việc áp dụng các quy định về các tội xâm phạm tình dục, để hoàn thiện quy định pháp luật về các dấu hiệu pháp lý của một số tộiphạm, mà chủ yếu là tội hiếp dâm hoặc các tội phạm tình dục xâm hại trẻ em,. Các công trình nghiên cứu này chỉ ra những vấn đề lý luận bất hợp lý, các bất cập trong việc quy định một số dấu hiệu pháp lý của các tội phạm tình dục, gây khó khăn cho quá trình xử lý.Điều đó được đặc biệt các tác giả thể hiện qua dấu hiệu “trái ý muốn của nạn nhân” trong tội hiếp dâm là một cản trởlớn trong vấn đềchứng minh tội phạm; hoặc nhấn mạnh nội dung của dấu hiệu “hoàntoàn thuận tình hay hoàn toàn đồng ý” củatrẻem từđủ13 đến dưới 16 tuổi mới là cơ sở đầy đủ để xử lý chủ thể phạm tội về tội giao cấu với trẻ em, và đây cũng là điểm mấu chốt để phân biệt với các tội xâm hại trẻ em khác có tính chất mứcđộnghiêm trọng hơn như tội hiếp dâmtrẻem, tội cưỡng dâm trẻem. Bên cạnh đó, khi bàn về độ tuổi của trẻ em là nạn nhân của các tội xâm phạm tình dục, hầu hết các tác giả cũng nhất trí rằng nên nângđộ tuổi cần được bảo vệ của đối tượng trẻ em hay ngườidưới 16 tuổi này lên 18 tuổi đểphù hợp với pháp luật quốc tế. Các nội dung này đều được cáctác giả như Dương Tuyết Miên, Phạm Văn Báu, Đỗ Đức Hồng Hà, Nguyễn Tuấn Thiện, Nguyễn Đình Cương, Nguyễn Minh Hươngthểhiện rõ trong công trình nghiên cứu của mình.
Thứ ba, về khái niệm giao cấu hầu như trong mỗi công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đều có phân tích. Trong khoa học luật hình sự Việt nam và luật hình sựcác nước, tuy có khác nhau về cách tiếp cận theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp, nhưng đều đi đến một vấn đề thống nhất là, có thể cấu thành tội hiếp dâm khi chủ thể thực hiện các hành vi như giao cấu không chỉ ở bộ phận sinh dục, mà có thể với hậu môn hoặc miệng của nạn nhân. Hành vi hiếp dâm cũng được định danh đối với trường hợp chủthể ép buộc để thâm nhập vào bộ phận sinh dục của nạn nhân bằng những vật dụng khác thay vì dương vật… Như vậy, hành vi giao cấu là trường hợp chủ thể thực hiện bằng bộ phận sinh dục của mình vào bộ phận sinh dục của nạn nhân, trường hợp này chỉ thực hiện được khi chủ thể và nạn nhân là hai người khác giới tính. Ngoài hành vi giao cấu hiểu theo nghĩa truyền thống trên, thì hành vi này cũngcó thể được hiểu làtrường hợp chủthểthực hiện bằng việc đưa bộphận sinh dục củamình vào miệng
hoặc hậu môn của nạn nhân. Trường hợp đưa vào cơ quan sinh dục hoặc hậu môn của nạn nhân bằng các bộ phận khác trên cơ thể, các vật thể khác hay đồ chơi tình dục, đểmang lại khoái cảm cho người thực hiện hoặc nhân thì được các nhà nghiên cứu thống nhất gọi tên là hành vi quan hệ tình dục khác. Vấn đề này được thể hiện trong nội dung nghiên cứu của các tác giả như Vũ Hải Anh, Nguyễn Văn Quân, Trần Thùy Chi…
Thứtư, khi nghiên cứu vềchủthểcủamộtsốtộiphạm vềtình dục (tội hiếp dâm, tội hiếp dâm trẻem, tội cưỡng dâm, tội cưỡng dâmtrẻem), nghiên cứu sinh nhận thấy có những vấn đềgây tranh cãi vềmặt khoa họcnhư sau: quan điểmthứnhất xuất phát từtình hình thực tiễn, cho rằng việc quyđịnh chủthểcủa những tội phạm này theo cách hiểu từ trước tới nay là chủ thể đặc biệt về giới tính, có nghĩa làchỉcó nam giới mớilà chủthểcủa những tội phạm nay còn nữgiới không thểlà người thực hành màchỉtham gia trongmộtvụđồngphạm vớivai trò là người tổchức, ngườixúi giục hoặc ngườigiúp sức. Do đóBộluật hìnhsựcần quyđịnh rõ trong luật về dấu hiệu chủ thể đặc biệt của các tội này. Quan điểm thứ hai thì khẳngđịnh rằng pháp luật đã có quy định theo hướng chủ thể của những tội phạm này là chủthểthường, điều đó có nghĩa là mọi người có năng lực TNHS vàđạt độtuổi chịu TNHS theo quy định của pháp luật đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm không phân biệt giới tính là nam hay nữ. Điều này được đặcbiệt thểhiện trong hai công trình nghiên cứu của tác giảDương Tuyết Miên và tác giảPhạm Văn Báu. Đối với vấn đề này nghiên cứu sinh cho rằng việc xác định chủ thể của các tội phạm tình dục có phân biệt về giới tính hay không sẽ liên quan đến phạm vi đối tượng tác động là nạn nhân của tội phạm cần được bảo vệ, do đó cũng sẽ được tiếp tục nghiên cứu và giải quyết trong luận án của nghiên cứu sinh.
3.2. Những vấn đề sẽ được giải quyết trong Luận án
Tổng kết tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án, giúp tác giả nhận thấy, cósự thiếu vắng ở cấp độ tổng quát và chuyên sâu của các công trình nghiên cứu về việc phân tích và giải thích mối quan hệ giữa quy định về các tội phạm tình dục với việc bảo vệ quyền con người. Các vấn đề này bao gồm:
Thứ nhất, lý luận về bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục. Lý luận này là cơ sở cho việc nhận thức đúng vàđầy đủ về mối quan hệ giữa
việc quy định các tội phạm tình dục với việc bảo vệ quyền con người. Từ lý luận này sẽ
tạonên định hướngđúngđắn cho hoạt động lậpphápcủatừng quy phạmvềcác tội xâm phạm tình dục làm tăng hiệu quả bảo vệ quyền con người. Cụ thể như sau:
Một là, một khái niệm mới vềcác tội xâm phạm tình dục khác vớicác công trình nghiên cứu trước đây, trong đó có thể phản ánh rõmốiquan hệ với các quyền con người mà bịxâm hại bởi các tội phạm này, đồng thời cũng thể hiện rõ nội hàm của các tội xâm phạm tình dục và các đặc điểm đặc trưng riêng của tội phạm này.
Hai là, mối quan hệ giữa phạm vi tội phạm hóa với mức độ bảo vệquyền con người. Mối quan hệ này được thể hiện rõ qua việc mô tả sự ảnh hưởng của phạm vi các tội phạm được quy định dẫn đến sự tăng tính chất hiệu quả hoặc làmhạn chế đến việc bảo vệ quyền con người. Chẳng hạn như, việc chưa tội phạm hóa các hành vi tấn công tình dục, hành vi quấy rối tình dục đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên và sự giới hạn về phạm vi cách hiểu đối với hành vi dâm ô với trẻ em trong Bộ luật hình sự hiện hành, dẫn đến thiếu cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền con người trong thực tiễn, đặc biệt là đối với phụ nữ, trẻ em và các đối tượng yếu thế khác. Bên cạnh đó, NCS cũng sẽlàm rõ các dạng thể hiện của hành vi dâm ô theo quy định của Bộ luật hình sự 2015, để tạo cơ sở lý thuyết và pháp lý rõ ràng cho quá trình áp dụng pháp luật nhằm bảo vệquyền con người được nâng cao.
Ba là, việc quy định dấu hiệu pháp lý cụ thể của các tội xâm phạm tình dục đểbảo vệ tối đa quyền con người. Ví dụ: đối với các tội hiếp dâm được quy định trong Bộluật hình sựViệt Nam hiện hành có quyđịnh vềdấu hiệu “tráiý muốn”.Tuy nhiên, hành visử dụngbạo lực hay sử dụng mọi thủ đoạn nhằm lừa dối, ép buộc, đe dọa dùng vũ lực, dụ dỗ những người dễ bị tổn thương để thực hiện hành vi quan hệtình dục trái với ý muốn của nạn nhân là chưa bao quát được hết các hành vi phạm tội, như trường hợp tội phạmđược định nghĩa trên cơsởdấu hiệu “không đồng ý”, theo pháp luật quốc tế. Điều này, dẫn đến thực tiễn áp dụng pháp luật ở Việt Nam làrất khó khăn cho quá trình chứng minh tội phạm, do đó nhiều trường hợp đã bỏ lọt tội phạm, vì vậy mà quá trình bảo vệ quyền con người đã chưa đạt hiệu quả cao. Chính vì thế, trong luận án của mình nghiên cứu sinh sẽ phân tích và xây dựng cơ sở lý luận để từ đó tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ quyền được hiệu quả.
Bốn là, Việc quy địnhđườnglối xử lý đối với các tội xâm phạm tình dục để bảo vệ quyền con người.
Thứhai, Các chuẩn mực pháp lý quốc tếvà quyđịnhcủa luật hình sựnước ngoài về các tội xâm phạm tình dục được phân tích, nhận thức trong mối quan hệ với vấn đề bảo vệ quyền con người.Từ đókiến nghị pháp luật hình sự Việt Nam nên học hỏi những kinh nghiệm gì trong quá trình xây dựng và áp dụng các quy định về các
tội xâm phạm tình dục để bảo vệ quyền con người.
Thứ ba, Các quy định của Bộ luật hình sự 2015 về các tội xâm phạm tình dục được nhìn nhận, phân tích và đánh giá từ góc độ bảo vệ quyền con người.Cụ thể làchỉ ra các quy định mới của BLHS 2015 về các tội phạm tình dục có những điểm gìcần phải được giải thích thống nhất hoặc tiếp tục hoàn thiện hơn nhằm bảo vệ quyền con người.
Kết luận Phần Tổng quan
Trong quá trình tham khảo, nghiên cứu các công tình nghiên cứu trong nước vàquốc tế, tác giả nhận thấy, các công trình nghiên cứu về quyền con người trong lĩnh vực luật hình sự mới chỉ đề cập đến vấn đề bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực hình sựmột cách chung chung. Cũng có một vài công trình nghiên cứu vềcác tội phạm tình dục dưới góc độ quyền con người, tuy nhiên có công trìnhđề cập dưới gócđộ tội phạm học,nghiên cứu một khía cạnh,một vấn đề của lĩnh vực tội phạm học. Có công trình tuy đã nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền con người bằng các quy định vềcác tội xâm phạm tình dục dưới góc độ luật chuyên ngành, nhưng công trình này một phần mới chỉ nghiên cứu để bảo vệ quyền của một nhóm đối tượng hẹp nhưphụ nữvà trẻ em, và cũng chỉ nghiên cứu một cách tổng quát về hệ thống pháp luật để bảo vệphụ nữ và trẻ em khỏi vấn đề bạo lực nói chung mà trong đó có cả vấn đề bạo lực tình dục. Mặt khác, hầu hết các công trình nghiên cứu đang phân tích các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật để xử lý tội phạm trong điều kiện không còn phù hợp với sự thay đổi của Bộ luật hình sự năm 2015. Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa những vấn đề lý luận và thực tiễn trong các công trình nghiên cứu này, trong nội dung luận án của mình, tác giả sẽ thực hiện với một số vấn đề mới sau đây:
Thứ nhất, chỉ ra các chuẩn mực, giới hạn trong cách quy định các tội xâm phạm tình dục trên cơ sở bảo vệ quyền con người của đối tượng bị xâm hại, trong pháp luật quốc tế. Đồng thời, luận án có minh họa, dẫn chứng bằng thực tiễn lập pháp của một số quốc gia về nhóm tội phạm này.
Thứ hai, phân tích các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành về các tội xâm phạm tình dục dưới góc độ bảo vệ quyền con người. Trongđó,luận ánsẽ chỉra những quy định về một số dấu hiệu trong yếu tố cấu thành tội phạm còn bất hợp lý, chưa phù hợp và làm hạn chế sự bảo vệ quyền con người.
Thứ ba, phân tích thực tiễn quá trình áp dụng các quy định của luật hình sự đểxử lý tội phạm. Trong đó, luận án sẽ chỉ ra rằng, những quy định như vậy sẽ gây khókhăn, hạnchếgì trong việc chứng minh tội phạm. Quá trình chứng minh tội phạm
nàyđã ảnh hưởng đếntrạng thái tâm lý cũng như các quyền lợi khác của nạn nhân như thế nào.
Thứtư, đưa ra các kiến nghị,đềxuất các giải phápđốivớicác quyđịnhcủa nhóm tội xâm phạm tình dục, cũng như các biện pháp bảo đảm thực hiện nhằm bảo vệ quyền con người trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm lập pháp quốc tế, và những bất cập, vướngmắc được rút ra trong quá trình nghiên cứu quá trình xửlý các vụán trong thực tiễn.
PHẦN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI
BẰNG QUY ĐỊNH VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC
1.1. Lý luận về bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự
Con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội, do đó khi đưa ra các định nghĩa vềquyền con người, các nhà nghiên cứu đềucoi quyền con người là thuộc tínhtựnhiên của con người và được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc tế và quốc gia. Theo văn phòng Cao ủyLiên hợp quốcvềnhân quyền (OHCHR) đưa ra định nghĩa về quyền con người như sau: “Quyền con người là các quyền vốn có dành cho
tất cả mọi người, không phân biệt quốc tịch, nơi cư trú, giới tính, nguồn gốc quốc gia hay dân tộc, màu da, tôn giáo, ngôn ngữ hay tình trạng nào khác. Mọi người đều bìnhđẳng trong việchưởngthụquyền conngườimà không có sựphân biệt đốixử…”21. Như vậy, quyền con người được hiểu là những quyền đương nhiên của con người, vàtuy mang tính tự nhiên, nhưng cũng mang tính pháp lý, vì vậy nó luôn được bảo đảm bằng pháp luật.
Quan điểm về quyền con người ở Việt Nam được xây dựng dựa trên nền tảng tưtưởng của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tưtưởngHồ Chí Minh và có sự tiếp thu có chọn lọc với các tư tưởng tiến bộ trên thế giới. Đảng và Nhà nước ta khẳng định quyền con người là thành quả và khát vọng chung của nhân loại. Đảng chỉ rõ: “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động vàcác dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là cuộc đấu tranh của loài người làm chủthiên nhiên, qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”1. Trên cơ sởtư tưởng vềquyền con người này, các nhà khoa học Việt Nam đã đưa ra định nghĩa như sau: “Quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan củaconngườiđược ghi nhận vàbảovệtrong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lýquốc tế”22.
21 Liên Hợp Quốc (1948), Tuyên ngôn thế giới về quyền con người. Website: https://www.ohchr.org/en/issues/pages/whatarehumanrights.aspx
22 Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Chính trịquốc gia, Hà Nội 2009, Tr42.
Như vậy, quyền con người có thể được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên mà tạo hóa sinh ra cho mỗi người được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và được thừa nhận cũng như bảo đảm thực hiện, bảo vệ bởi pháp luật quốc gia.
Danh sách các quyền con người được bảovệbằng pháp luật quốctếđược ghi nhận trực tiếp và đầy đủ nhất trong ba văn kiện quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc ban hành là Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR) năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 (ICESCR). Bên cạnh đó, các quyền con người còn được xác lập trong các văn bản pháp lý quốc tế về luật hình sựkhác đó là, QuychếRome vềTòa án hình sựquốc tế,Công ước chống tra tấn, Công ước của Liên Hợp Quốcvềquyền trẻ em, và Nghị định thư không bắt buộcvềbuôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và khiêu dâm trẻ em bổ sung cho Công ước về quyền trẻ em, Công ước của Liên Hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia vàNghị địnhthư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị buôn bán người,đặc biệt là phụ nữvà trẻ em bổ sung cho Công ước này. Nghị định thư về chống bạo lực và buôn bánphụ
nữvà trẻem…Tuy nhiên, pháp luật quốc tếchỉghi nhận nộidung các quyền con người và đề ra yêu cầu, chuẩn mực chung đối với việc bảo vệ các quyền ấy. Việc nội luật hóa những nội dung đó được thực hiện bởi các ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc gia. Nó được thể hiện dưới những khía cạnh chủ yếu như: công nhận, tôn trọng, xây dựng các cơ chế thực thi hoặc thúc đẩy quyền con người.
Việc ghi nhận quyền con người, dẫn đến việc tôn trọng và thực thi nó có hiệu lực áp dụng bắt buộc đối với tất cả mọi chủ thể trong xã hội và do đó trở thành quy
tắc xửsựchung, chứkhông còn tồn tạidưới dạng quy tắc đạođức. “Vấn đềnhân quyền luôn luôn đi kèm và không thể thiếu được vấn đề bảo vệ nhân quyền”23. Chính bởi vậy, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1984 đã khẳng định tính thiết yếu của việc bảo vệquyền con người bằng pháp luật: “Nhân quyền phải được pháp luật bảovệđểmỗingười không buộc phải nổi loạn như là biện pháp cuối cùng để
23 Nguyễn Đăng Dung (2005), Sách chuyên khảo: Sự hạn chế quyền lực Nhà nước, Nxb Đại học Quốc gia HàNội, tr 122.
chống lạichếđộcường quyền và áp bức”24. Do vậy,được pháp luật bảo vệcòn là thuộc tính chung của quyền con người.
Trong pháp luật quốc tế về quyền con người, nghĩa vụ của các Nhà nước (nghĩa vụquốc gia) trong việc bảo đảm quyền con người thể hiện ở ba hình thức cụ thể dưới đây25:
Thứ nhất, nghĩa vụ tôn trọng: trong nghĩa vụ này đòi hỏi các quốc gia phải ghi nhận, tôn trọng, đồng thời kiềm chế không can thiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc hưởng thụ các quyền con người của các chủ thể quyền. Đây được coi là một nghĩa vụthụđộng, bởi vì nó không đòi hỏi các quốc gia phải đưa ra những sáng kiến, hay chương trình hỗ trợ các công dân trong việc hưởng thụ các quyền.
Thứ hai, nghĩa vụ thực hiện: đòi hỏi Nhà nước phải đưa ra các biện pháp để tổ chức, thực hiện, tạo điều kiện và hỗ trợ công dân hưởng thụ đầy đủ các quyền con người.
Thứ ba, nghĩa vụ bảo vệ: đòi hỏi các quốc gia phải ngăn chặn sự vi phạm quyền con người của các bên thứ ba. Đây được coi là một nghĩa vụ chủ động, bởi vì đòi hỏi Nhà nước phải đưa ra các biện pháp và xây xựng các cơ chế phòng ngừa, xử lý các hành vi vi phạm.
Như vậy, bảo vệ quyền con người bằng pháp luật là sử dụng pháp luật như một công cụ(phương tiện)đểngăn chặn, xửlý các hành vi xâm hạiquyền con người nhằm bảo đảmquyền con người được tôn trọng. Đâychính là một nội dung quan trọng trong hoạt động bảo đảm quyền con người. Vì vậy, khái niệm bảo đảm quyền conngườirộng hơn bảo vệquyền con người.“Bảo vệ”chính là một trong những cung bậc (mức độ) của hoạt động (nghĩa vụ) bảo đảm quyền con người của quốc gia. Do đó, bảo vệ quyền con người bằng pháp luật được hiểu là hoạt động ghi nhận các hành vi vi phạm quyền con người và chống lại (phòng ngừa và xử lý) các hành vi vi phạm đó.
Pháp luật hình sựlà mộtbộphận quan trọng tronghệthống pháp luật mà Nhànướcsửdụngđểbảo vệ quyền con người, do đó,hoạtđộngbảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự không nằm ngoài cách hiểu chung như vậy. Tuy nhiên,để hiểu
24 Liên Hợp Quốc (1948), Tuyên ngôn thế giới về quyền con người.
25 International on Economic, Social and Cultural Rights (ESCR) Committee, General Recommendation No.14 (2000), Complication of General Comment and Recommendations adopted by human rights treaty bodies
(HRI/GEN/1/Rev.7, 12 May 2004).)
chính xác và đầy đủ về khái niệm này cần phải lí giải những nội dung bên trong của khái niệm dựa trên cơ sở đặc trưng, cơ chế hoạt động của ngành luật hình sự.
Vấn đềbảovệquyền conngườitrong lĩnh vực tư pháp hìnhsựnói chung, không phải là vấn đềmới, và đã được nhiều học giảnghiên cứu, bởi lẽviệc bảo vệquyền con người trong lĩnh vực này ngoài những đặc điểm chung thì con mang những đặc điểm riêng. Theo GS.TS Lê Cảm, bảo vệ quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sựđược hiểu “làsự điều chỉnh đầy đủ về mặt lập pháp, sự thực thi chính xác vềmặt hành pháp và sựđảm bảo tối đa vềmặt tư pháp các quy định của pháp luật quốc gia trong lĩnh vực tư pháp hình sự (tức là pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án hình sự và một số các quy định pháp luật khác liên quan đến tổ chức – hoạt động của hệ thống tư pháp hìnhsự) để làmcho các quyđịnhđóphùhợpvớicác nguyêntắcvà các quy phạm tương ứngcủapháp luật quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự, đồng thời được tuân thủ, chấp hành và áp dụng một cách nghiêm chỉnh, thống nhất và triệt để bởi các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án26. Bên cạnh việc xây dựng khái niệm này, GS.TS Lê Cảm cũng phân tích và làm rõ5 đặc điểm quan trọng của việc bảo vệ quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Trong đó, có 2 đặc điểm liên quan đến việc bảo vệ quyền con người lĩnh vực hình sự, đó là: “thứ nhất, làsự điều chỉnh đầy đủ về mặt lập pháp,sự thực thi chính xácvềmặt hành pháp vàsựđảmbảotốiđavềmặttư pháp các quyđịnhcủa pháp luật quốc gia; thứ hai, là nhằm mục đích làm cho các quy định của pháp luật quốc gia phù hợp với các nguyên tắc và các quy phạm tương ứng của pháp luật quốc tế”27.
Ởphạm vi tuyhẹphơn, nhưng cũng nhằmmụcđích làm rõnộihàmcủakhái niệm bảo vệ quyền con người trong pháp luật hình sự, PGS.TS Trịnh Tiến Việt đưa ra địnhnghĩavềvấn đề bảo vệ tự dovà an ninh cá nhân28 bằng pháp luật hìnhsự được
26 GS.TSKH Lê Cảm, “Những vấn đề chung về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tưpháp hình sự”, tại Hội thảo Bảo vệ quyền con người trong Tư pháp hình sự Việt Nam, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh năm 2014.
27 Lê Cảm, “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật về tư pháp hình sự ở Việt Nam, phần I – Một số vấn đềchung”, tạp chí Pháp luật về quyền con người số 01/2019 -Viện quyền con người – Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Tr.12.
28Trịnh Tiến Việt chủ biên, “Bảo vệ tự do và an ninh cá nhân bằng pháp luật hình sự Việt Nam”, Nxb Tư Pháp năm 2015; Tr.43: “tự do và an ninh cá nhân là quyền cơ bản của con người, phản ánh trạng thái tồn tại của
hiểu là“sự bảo đảm về mặt pháplý hình sự cho sự bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tự do thân thể của con người”29. Như vậy, tựu chung lại thì hoạt động bảo vệ con người bằng pháp luật hình sự chính là hoạt động lập pháp hình sự và áp dụng pháp luật hình sự để phòng ngừa và chống lại các vi phạm nghiêm trọng đến quyền con người.
Trong phạm vi của luận án này, việc nghiên cứu sẽtập trung vào việc bảo vệquyền con người bằng pháp luật hình sự, tức là cơ chế bảo vệ quyền con người thông qua các quyđịnh của luật nội dung. Pháp luật hình sựvới tính chất là công cụ“sắc bén nhất”, nên cách thức thực hiện cũng sẽ mang “bản sắc” riêng. Theo đó, để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, pháp luật hình sự quy định những hành vi xâm hại đến quyền con người nào là tội phạm và các hình phạt áp dụng đối với chủ thể thực hiện hành vi phạm tội đó, khi mà các chế tài pháp luật khác không đủ mức răn đe, không hiệu quảđối vớihành vi vi phạm.Cụthểcủa quá trình này là việc xácđịnhrõ yêu cầucần thiết phải tội phạm hóa những hành vi xâm hại nghiêm trọng đến quyền con người, bên cạnhđóphải nghiên cứu để phi tội phạm hóa những tội phạm không còn phù hợp và hiệuquảtrong việc bảo vệquyền con người; đồngthời quyđịnh chếtài hình sựphù hợp với tính chất, mức độ của hành vi để đạt được hiệu quả của việc giáo dục cải tạo người phạm tội, phòng ngừa tội phạm.
Với phạm vi và phương thức hoạt động như vậy, theo tác giả kháiniệm bảo vệquyền con người bằng pháp luật hìnhsự được hiểu là:hoạt độngxây dựng pháp luật hình sự thông qua việc tội phạm hóa và phi tội phạm hóa, hình sự hóa và phi hìnhsựhóa để phòng ngừa và chống lại sự xâm phạm các quyền con người.
Luật hình sựcó ba chức năng cơ bản,đó là chức năng chốngtộiphạm, chức năng phòng ngừa trong đó có việc giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật cho cộngđồng và chức năng bảo vệ. Các chức năng này không thực hiện độc lập mà được thực hiện trong sựtác động qua lại, việc thực hiện tốt chức năng này cũng là cơ sởđểhoàn thành chức năng kia. Mặt khác, thông qua vai trò, chức năng của luật hình sự, cóthể
con người trong đó mỗi cá nhân được bảo đảm về mặt pháp lý cho sự bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tự do thân thể của họ”.
29 Trịnh Tiến Việt chủ biên, Sđd; Tr.58.
thấy việc bảo vệ quyền con người bằng “côngcụ” luật hìnhsự luôn có một lợi thế nhất định hơn là thực hiện qua các công cụ là các ngành luật khác. Bởi vì, mặc dù các ngành luật phi hìnhsựcũngbảovệquyền conngườinhưng việcbảovệđó đượcthực hiện bằng những phương tiện không có nhiều sức mạnh là các loạichếtài chưa đủmức nghiêm khắc như các chế tài hình sự. Do đó, những lĩnh vực pháp luật khác khôngđủsứcbảovệquyền con người trướcnguy cơbịtổnthương bởi những hành vi có tính nguy hiểm cao. Điều này được thể hiện qua các đặc điểm sau:
Đặc điểm thứ nhất, luật hình sự là công cụ chống và phòng ngừa tội phạm hiệu quả. Theo Điều 2 của BLHS 2015 quyđịnh “Chỉngười nào phạm một tội đã được
Bộluật hình sựquyđịnh mới phải chịu trách nhiệm hình sự”, đâylà cơ sởpháp lý của trách nhiệm hình sựđối vớichủthểđãthực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, muốn chống và phòng ngừa tội phạm thì tội phạm phải được quy định trong BLHS, chúng ta không thể buộc một người phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà họđã thực hiện, cho dù hành vi đó nguy hiểm đến mức độ nào, gây thiệt hại đến quyền con người ra sao, khi mà hành vi đó không được quy định trong BLHS là tội phạm vàchế tài kèm theo việc thực hiện hành vi phạm tội đó. Qua đó, có thể khẳng định, các hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại đến quyền con người phải được quy định là tội phạm trong BLHS và chỉ khi xác địnhđầy đủ cáchành vi (phạm vi tội phạm) gây nguy hiểm đến quyền con người thì BLHS mới là cơ sở để chống và phòng ngừa tội phạm hiệu quả.
Chống tội phạm chính là hoạt động phát hiện, điều tra, truytốvà xét xửtội phạm. Các hoạt động này không chỉphải được thực hiện theo trình tựthủtục màpháp luật tố tụng hình sự quy định, mà còn phải được thực hiện trên cơ sở pháp lý là luật hình sự. Chẳng hạn, chỉ khởi tố vụ án khi hành vi đó có dấu hiệu tội phạm; chỉ có thểkết án mộtngườiphải chịu trách nhiệm hình sựtrong bản án khi hành vi màngười đó thực hiện thỏa mãn đầyđủcác yếu tốcấu thành tội phạm được quyđịnh trong BLHS.
Còn phòng ngừa tội phạm là các hoạt động nhằm ngăn chặn không cho tội phạm xảy ra. Hoạt động phòng ngừa trước hết được thực hiện thông qua hoạt động chống
tội phạm. Hoạt động chống và phòng ngừa tội phạm nhằm bảo vệcác quyền con người khỏi sự xâm hại của tội phạm đều phải dựa trên cơ sở pháp lý là BLHS.
Chức năng chống và phòng ngừa tội phạm của luật hìnhsự được khẳng định rõ
tại Điều 1 BLHS. Để thực hiện tốt chức năng chống và phòng ngừa tội phạm đòi hỏi luật hìnhsựphải luôn luôn đượchoàn thiện theo sátsựthayđổi của tình hình tội phạm, đáp ứng được yêu cầu của cuộc đấu tranh chống tộiphạm30. Do đó, đểhoạt động bảo vệ quyền con người hiệu quả, đòi hỏi BLHS phải không ngừng sửa đổi,bổsung kịp thời những hành vi xâm phạm đếnquyền con người nghiêm trọng là tội phạm để trừng trị và ngăn chặn những chủ thể đã thực hiện hoặc có thể thực hiện các hành vi nguy hiểm gây thiệt hại đến quyền con người. Bởi vì, một khi các quyền đó bịvi phạm cần phải có các biện pháp trừng trị những chủ thể vi phạm và cũng cần có những biện pháp khôi phục lại những quyền đó, đồng thời cũng nhấn mạnh nghĩa vụ, trách nhiệm phải bảo vệ nhân quyền từ phía Nhà nước31. Do đó, việc kịp thời ngăn chặn hoặc trừng trịtộiphạm cũng là một hình thức bảo vệquyền con người trước nguy cơ bị xâm hại hoặc phục hồi hay bù đắp những tổn thương về quyền con người do tội phạm gây ra.
Đặc điểm thứ hai, luật hình sự sở hữu các phương tiện, biện pháp bảo vệ đặc thù nhất. Không phải ngẫu nhiên mà luật hình sự vốn được mệnh danh là “người bảo vệ”
trong hệ thống pháp luật, mà tên gọi này được xuất phát từ thuộc tính vốn có của nó. Chính vì thếtácgiảLê Văn Cảm đã khẳng định: “Chức năng bảovệlà chức năng chủyếuvà quan trọng nhất củaluật hìnhsựđược thểhiện trong việcbảovệbằng những biện pháp và phương tiện riêng biệt các lợi ích của con người, của xã hội vàcủa Nhà nước tránh khỏi những sự xâm hại có tính chất tội phạm”32. Với chức năng chính là bảo vệ, luật hình sự được sử dụng làm công cụ để bảo vệ tất cả các lĩnh vực quan hệxã hội quan trọng nhất trước sựxâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm của tội phạm, trong đó bao gồm cả chức năng bảo vệ quyền con người. Luật hình sự sở hữu những “biện pháp và phương tiện riêng biệt” có sức mạnh bảo vệ vượt trội so với các
30 Nguyễn Ngọc Hòa,“Tội phạm và cấu thành tội phạm”,Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2008, tr.252.
31 Nguyễn Đăng Dung (2005), Sách chuyên khảo: Sự hạn chế quyền lực Nhà nước, Nxb Đại học Quốc gia HàNội, tr 122-123
32 Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự – phần chung, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.152-153.
ngành luật khác trong hệ thống pháp luật. Biện pháp bảo vệ đặc trưng của luật hình sựchính là quyđịnhcác hành vi nguy hiểm cho xãhộithànhtộiphạm và đedọatrừng phạt hành vi xâm hại đến các khách thể được luật hình sự bảo vệ. Sự trừng phạt bằng pháp luật hình sự được thực hiện bởi công cụ đắc lực là hệ thống hình phạt – loại chếtài pháp luật nghiêm khắc nhất. Bằng phương thức thực hiện này, luật hình sự đã trởthành ngành luật có sức mạnh nhất. Do đó, trong việc ngăn ngừa, xử lý những hành vi xâm phạm đến quyền con người, thì luật hình sự đóng vai trò là chủ thể bảo vệ tốt nhất. Những hành vi xâm phạm quyền con người bị pháp luật hình sự coi là tội phạm sẽ phải chịu hình phạt. Tính nghiêm khắc của việc áp dụng hình phạt thể hiện ở chỗ, loại chếtài này có thể tước đoạt của người phạm tội những giá trị quan trọng nhất từ tài sản, tựdo… cho đến tính mạng. Mặt khác, Hình phạt còn để lại án tích – vết đen trong lí lịch tưpháp, mang lại nhiều bất lợi trong đời sống chính trị, xã hội của người phạm tội.
Quyền con người chỉ thực sự được thực thi khi được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, các quyềnđócũng đượcbảovệbằng nhiều ngành luật khác nhau. Tuy nhiên, nếu các ngành luật khácchỉbảovệquyền conngườitrướcnhững hành vi xâmhạiquyền con người với tính chất và mức độ thấp, thì đối với các hành vi xâm phạm quyền con người có tính chất và mức độ nguy hiểm đáng kể thì chỉ có luật hình sự mới đủ sức mạnh đểbảo vệ quyền con người khỏi những hành vi tội phạm nguy hiểm đó. Do đó, có thể hình dung “luật hình sự là lớp rào chắn cao nhất, sắc nhọn nhất mà chủ thể xâm phạm quyền con người phải vượt qua” và vì vậy quyền con người phải được bảo vệ ở một cấp độchặt chẽnhất là bảo vệbằng pháp luật hình sự.Đểlàm được điều này, BLHS phải quy định đầy đủ, rõràng và chặt chẽ những hành vi nguy hiểm cho quyền con người nào là tội phạm, đồng thời quy định hình phạt, chế tài áp dụng phản ánh, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của từng hành vi, để đạt được hiệu quả của việc khôi phục, bù đắp những tổn thương về quyền đã bị tội phạm gây ra.
Đặc điểm thứ ba, phạm vi các quyền con người được luật hình sự bảo vệ là các quyền con người cơ bản và quan trọng nhất.
Không phải mọisựxâmhạiđếnquyền con người đềuthuộcsựđiềuchỉnh và được bảo vệ của pháp luật hình sự. Dựa trên các văn kiện quốc tế33, các quy phạm pháp
33 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR) năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966.
luật và các tài liệu tham khảo, có thể kể tên một số quyền con người được luật hìnhsựbảovệnhư sau: Quyền sống; quyền tựdo và an ninh cá nhân; quyềnđược bảovệ
không bị bắt làm nô lệ; quyền được phục hồi về mặt pháp lý khi bị vi phạm… những quyền con người này là “quyền tự nhiên vốn có của bất kỳ người nào, không thể phân chia, mang tính phổ biến chung và tính đặc thù, tính quốc tế và bất khả xâm phạm”34.
Bên cạnh đó,mặc dù có thểdựa trên nhiều tiêu chí khác nhau đểlàm căn cứđánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhưng yếu tố quan trọng đầu tiên khi đánh giá nó là dựa trên khách thể của tội phạm. Do đó,đối với cáctội phạm – cókhách thể là quyền con người, thì việc đánh giá tính nguy hiểm của hành vi dựa trên tính chất quan trọng, ý nghĩa của từng quyền con ngườibịxâm phạm, ởmỗi hoàn cảnh cụ thể trên các đối tượng tác động khác nhau. Thêm vào đó, mức độ quan trọng của mỗi quyền con người cũng chính là căn cứ hàng đầu trong viêc quy định các loại hình phạt, các chế tài áp dụng đối với chủ thể thực hiện hành vi phạm tội. Ví dụ: việc thực hiện hành vi xâm phạm đến các quyền sống, quyền tình dục bao giờ cũng bị xem là hành vi có tính chất và mức độ cao hơn và vì vậy, chủ thể phạm tội bị áp dụng chếtài cao hơn so với trường hợp thực hiện hành vi đột nhập trái phép với chỗởhoặc xâm phạm quyền sở hữu. Từ trên cơ sở, đánh giá về tính nguy hiểm của mỗi hành vi tình dục trong từng trường hợp phạm tội khác nhau, nhà làm luật sẽ ấn định các mức hình phạt, loại hình phạt khác nhau để ngăn ngừa và áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, bảo vệ quyền con người một cách công bằng.
Ngoài ra, bên cạnh việc bảo vệ quyền của nạn nhân, việc quy định hình phạt vàviệc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội cũng cần có những giới hạn cho phép để đảm bảo tính công bằng đối với họ, còn đối với những hành vi tuy xâm hại quyền con người nhưng không đến mức phải chịu chế tài hình sự thìchỉ được áp dụng chếtài xử lý nhẹ hơn. Đây cũng là cơ sở cần thiết để bảo vệ quyền của người phạm tội, hạn chế sự gia tăng nguy cơ đe dọa xâm hại đến quyền con người.
Từđây, có thểkết luận rằng, không có ngành luật nào mà thểhiện rõ sựghi nhận, đề cao và bảo vệ các quyền con người như trong luật hình sự, và cũng chỉ bằng
34 Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Hỏi đáp về quyền con người, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội 2010, tr.24-25.
pháp luật hình sựmớithểhiện rõ phạm vi các quyền con người quan trọng. Các quyền con người này là gắn liền với mỗi cá nhân, luôn được luật hình sự bảo vệ một cách tối đa nhất.
1.1.2. Nội dung bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự
Luật hình sự là một ngành luật quan trọng trong hệ thống pháp luật quy địnhvề
tội phạm, trách nhiệm hình sự và hình phạt, mà việc quy định không đầy đủ, không minh bạch và việc áp dụng không đúng sẽluôn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người. Do đó, để hướng tới bảo vệ tốt quyền con người, pháp luật hình sự buộc phải hướng tới mục đích quyđịnh chặt chẽ, đầyđủcăn cứvà giới hạn vấn đềcơ sởcủa trách nhiệm hình sự, xác định rõ hành vi nguy hiểm cho xãhội đến mức độ nào là tội phạm, vấn đề tội phạm hóa và phi tội phạm hóa, xác định rõ ranh giới giữa tội phạm và trường hợp không phải tội phạm, cũng như các chế tài hình sự35 phù hợp. Bởi vì, trong các nghiên cứu chuyên khảo vềquyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự, các nhà khoa học đã khẳng định: Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, luật hìnhsựthường được hiểu là luật về tội phạm hoặc luật về hình phạt 36. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, luật hìnhsự được xácđịnhlà một ngành luật trong hệ thống pháp luật của Nhà nước gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xãhội giữa Nhà nước và người phạm tội, xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và quy định hình phạt đối với những tội phạm ấy 37. Như vậy, bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự được thực hiện bằng những phương thức khác nhau:
Một là, tội phạm hóa và đe dọa trừng phạt những hành vi xâm hại quyền con người.
Tội phạm hóa là việc thông qua văn bản pháp lý hình sự, nhà làm luật qui định hành vi nào đó xâm phạm nghiêm trọng đến quyền con người là tội phạm và quy định sự trừng phạt bằng các chế tài hình sự đối với chủ thể thực hiện các hành vi phạm tội đó. Theo Từ điển Luật học thì tội phạm hóa là: “xác định trong luật hành vi nhất định
35 Nguyễn Ngọc Chí, (chủ biên), “Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự”, Nxb Hồng Đức 2015, Tr52.
36ĐàoTrí Úc , Luật hình sự Việt Nam (Quyển I – Những vấn đề chung), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 2000, tr78
37 Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên) (2000), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an Nhân dân, tr7.
là tội phạm. Tội phạm hóa là hoạt động thuộc thẩm quyền của cơ quan lập pháp. Cơquan này có trách nhiệm xác định những hành vi bị coi là có tính nguy hiểm đángkểcho xã hội và quyđịnhnhững hành vi đó trong luật hình sự là tội phạm”38. Nhưđã nêu trên,bởiluật hình sựlà ngành luậtvềtộiphạm và hình phạt nên nó không ghi nhận, không xây dựng các cơ chế để triển khai, thúc đẩy quyền conngười mà bảo vệbằng cách chống lại những hành vi nguy hiểm xâm hại các quyền này. Trên cơ sở nội dung quyền con người đã được pháp luật ghi nhận, pháp luật hìnhsự xác địnhnhững hành vi xâm hại các quyền ấy đến mức độ nguy hiểm như thế nào thì bị coi là tội phạm. Tựu chung lại, sau khi xác định yêu cầu cần thiết phải tội phạm hóa hành vi xâm hại quyền con người, pháp luật hình sự quy định tội danh cụ thể đối với hành vi ấy.
Nội dung của tội phạm hóa bao gồm hai vấn đề: thứ nhất, nhà làm luật quy định một tội phạm mới hoàn toàn trong BLHS hoặc chỉ bổ sung một hoặc một số hành vi hành vi xâm hại đến quyền con người mới trong tội danh đã được quy định từ trước. Ví dụ:BLHS năm 2015 bổsung thêm hành vi thực hiện hành vi quan hệtình dục khác vào cấu thành tội phạm của các tộihiếp dâm (Điều 141),tộihiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142), tội cưỡng dâm (Điều 143), tội cưỡng dâm người từđủ13đến dưới 16tuổi (Điều 144) và tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác vớingười từđủ13 đến dưới 16 tuổi (Điều 145). Thứhai, tùy theo tầm quan trọng, cũng như tính chất và mức độ bị xâm hại của quyền con người đó mà, nhà làm luậtấn định (dựkiến) chếtài nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt39. Nhưvậy, quá trình tội phạm hóa còn là việc mở rộng khả năng có thể xử lý bằng biện pháp pháp luật hình sự qua sửa đổi các yếu tố cấu thành tội phạm, mở rộng diện chủ thể cókhả năng phải chịu trách nhiệm hình sự, giảm bớt dấu hiệu hoặc hạ thấp yêu cầu của dấu hiệu cấu thành tội phạm.
Hai là, phi tội phạm hóa những tội phạm mà cấu thành của nó hạnchếquyền con người.
Đồngthời với việc tội phạm hóa, để bảo vệ quyền con người, pháp luật hình sự
38 Bộ Tư pháp – Viện Khoa học pháp lý,Từ điển luật học, Nxb Từ điển bách khoa – NxbTư pháp, 2006 tr. 789.
39 Nguyễn Ngọc Chí, Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự, Tr57.
phi tội phạm hóa những loại tội phạm mà cấu thành của nó hạn chế quyền con người. Phi tội phạm hóa là quá trình ngược lại của quá trình tội phạm hóa. Theo Từđiển Luật học thì “phi tội phạm hóa là việc xóa bỏ tội phạm nhất định đã được quy định
trong luật… quá trình này bao gồm: 1. Xóa bỏ loại hành vi cụ thể đã được quy định làtội phạm do không còn xảyra hoặc do thực tiễn không còn đòi hỏi cần phải xửlý
hành vi này bằng biện pháp trách nhiệm hình sự; 2. Thu hẹp phạm vixử lýbằng biện pháp trách nhiệm hình sự của một loại hành vi hoặc nhóm hành vi qua việc thêm dấu hiệu hoặc nâng cao yêu cầu dấu hiệu của cấu thành tội phạm hoặc thu hẹp phạm vi chủ thể của tội phạm”40. Với chức năng bảo vệ quyền con người, pháp luật hình sựkhông thể để sự tồn tại của chính bản thân mình lại là một sự xâm hại đối với quyền con người. Bởi vậy, để bảo vệ quyền con người, những cấu thành tội phạm nào cản trở quyền con người đã được pháp luật thừa nhận đều phải bị đưa ra khỏi luật hình sựvà việc thực hiện hành vi cấu thành tội phạm trong quy định đã bỏ đi đó sẽ không còn bị coi là phạm tội, không bị trừng phạt bởi chế tài pháp luật hình sự. Chẳng hạn như: trong Bộluật Hồng Đức có quyđịnh:ngườivợđánh chồng gây thương tích hoặc thiệthạitính mạng phải chịu những hình phạt hà khắc như lưu đày, thắtcổnhưng nếu chồng đánh vợ thương tích hoặc đánh chết vợ lại được xử nhẹ hơn đánh người thường ba bậc, nếu đánh vợ lẽ thì được xử nhẹ hơn đánh vợ cả hai bậc (Điều 17, 18 Chương “Đấu tụng”)41. Đây là quy định thể hiện sự đối xử bất bình đẳng giữa nam giới với phụ nữ hay phân biệt đối xử giữa những phụ nữ ở địa vị khác nhau cần phải xóa bỏ.
Ba là, đảm bảo hệ thống hình phạt phù hợp (hình sự hóa và phi hình sự hóa với mức độnặng haynhẹtùy thuộc vào tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội) với các tiêu chí về quyền con người. Hình sự hóa là việc nhà lập pháp qui định hình phạt hay xác định loại hình phạt, khung hình phạt, điều kiện quyết định hình phạt đối với tội phạm này hay tội phạm khác. Vấnđềhình sựhóa được đặt ra trong trường hợp một hành vi nguy hiểm nào đó được quy định là tội phạm bị áp dụng chế tài hình sự, nhưng do tình hình kinh tế xã hội thay đổi, dẫn đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của
40 Bộ Tư pháp – Viện Khoa học pháp lý, Từ điển luật học, Nxb Từ điển bách khoa – NxbTư pháp, 2006; tr 789. 41 Viện Sử học, Quốc triều hình luật (Luật hình triều Lê), Nxb Tư pháp 2013, tr.213-214.
hành vi tăng lên, và do vậytính chất, mức độcưỡng chếcủa chếtài được quyđịnh tăng lên. Bên cạnh tội phạm, hình phạt cũng là vấn đề cốt lõi của pháp luật hình sự. Bởi vậy, cùng với yếutốtrừng trị, răn đe, việc bảovệquyền con người bằng pháp luật hình sự còn được thể hiện ở phương diện đảm bảo sự phù hợp của hệ thống hình phạt với các tiêu chí vềquyền con người. Một trong những đặc thù vềtính nghiêm khắc của hình phạt là việc nó tước đoạt một hoặc một số quyền con người nào đó của người phạm tội. Bởi vậy, pháp luật hình sựkhông thểbảo vệquyền con người nếu chính hệthống hình phạt của nó tước đoạt các quyền con người một cách tùy tiện, không giới hạn. Dođó,song song hai quá trình tội phạm hóa và phi tội phạm hóa, làquá trình hình sự hóa và phi hình sự hóa. Phi hình sự hóa là quá trình ngược lại của quá trình hình sự hóa là quá trình thu hẹp phạm vi tác động của luật hình sự hoặc làm nhẹhơn trách nhiệm hình sự. Thểhiện qua việc nhà làm luật loạibỏhình phạt màtrước đó đã ápdụng đối với một hành vi tội phạm, thay thế một hình phạt nặng bằng hình phạtnhẹhơn, hoặc giảmmứctối đa của hình phạt42. Đối mặtvới hình phạt, người phạm tội vẫn phải được đảm bảo tưcách con người, những quyền tối thiểu đểđảmbảotư cách ấyvẫn phảiđượcbảovệ. Chẳng hạn, quyđịnhhình phạt tửhìnhđược xem là một trong những hoạt động làm hạn chế đến quyền con người của người phạm tội. Do đó, có nhiều quốc gia trênthế giới đãbãi bỏ loại hình phạt này, chỉ quyđịnh chung thân là hình phạt cao nhất, hoặc một số quốc gia có quy định về hình phạt tử hình nhưng trên thực tế nhiều năm không tuyên án áp dụng đối với người phạm tội.
Hình phạt là biện pháp cưỡngchếnghiêm khắc nhất của Nhànước.Sựnghiêm khắc ấy thể hiện ở nội dung: hình phạt tước bỏ hoặc hạn chế một số quyền quan trọng của người phạm tội. Vì vậy, việc quy định hình phạt đối với mỗi hành vi phạm tội phải đảmbảođượcsựphù hợp: mộtmặt có tác dụng trừng trị, đòi lại công lýđểbảo vệquyền của nạn nhân; mặt khác phải không quá nghiêm khắc làm phản tác dụng của việc áp dụng hình phạt, gây ra tâm lý tiêu cực, bởi sự áp dụng hình phạt đó đã gây ra quá nhiều mất mát về quyền và lợi ích chính đáng của người phạm tội.
42 Nguyễn Thị Thu Hương, Tội phạm hóa Phi tội phạm hóa, hình sự hóa – phi hình sự hóa những hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong giai đoạn hiện nay tại Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học,Đại học Luật thành phố Hồ chí Minh, năm 2011, Tr47
Bằng sự kết hợp của những phương thức trên, luật hình sự hướng đến việc bảo vệcho các quyền con người một cách toàn diện để ngăn chặn sự xâm hại từ phía tội phạm cũng nhưtừphía hoạtđộngxây dựng pháp luật hìnhsự.Hiệuquảbảovệquyền con người bằng pháp luật hình sựsẽđạtđến mứcđộcao chỉkhi mà những phương thức này được thể hiện bởi các quy phạm pháp luật thiết kế một cách hoàn chỉnh, chặt chẽ, phù hợp với thực tế khách quan và được tôn trọng, thực thi nghiêm túc.
1.2. Lý luận về bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục 1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của các tội xâm phạm tình dục
1.2.1.1. Khái niệm các tội xâm phạm tình dục
Tình dục làmộtphần quan trọng khôngthểthiếu trong toàn bộđời sống con người, nó bao gồm các đặc điểm giới tính, nhân dạng và vai trò giới, khuynh hướng tình dục, ái tình, sự thỏa mãn, quan hệ riêng tư và hoạt động tái sinh sản. Thái độ và ứng xử của con người đối với tình dục sẽ ảnh hưởng toàn bộ sự phát triển của xã hội nói chung. Tình dục được trải nghiệm và thể hiện thông qua suy nghĩ, tưởng tượng, ham muốn, quan niệm, thái độ, giá trị, hành vi, thực hành, vai trò và các mối quan hệ. Sự trải nghiệm về tình dục tốt hay xấu, đều ảnh hưởng đến trạng thái thể chất và tinh thần. Hành vi tội phạm tình dục từ xưa đến nay đã bị coi là hành vi dã man, thú tính. Nó không chỉ gây thiệt hại về thể xác mà còn gây tổn thương tinh thần nghiêm trọng cho nạn nhân. Do vậy, hành vi có tính nguy hiểm này luônbịcoi là tội phạm trong pháp luật của các nhà nước qua các thời kỳ.
Vấnđềkháchthểbịxâmhạibởi các tội xâm phạm tìnhdụcđượcnhận thức kháthống nhất trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn lập pháp ở Việt Nam. Danh dựnhân phẩm chính là khách thể của tội phạm này và được xem là nội hàm vốn có trong định nghĩa về các tội xâm phạm tình dục. Theo đó,trong bài viết “Các tội xâm phạm tình dục trong luật hình sựViệt Nam” PGS.TS Dương Tuyết Miên cho rằng “Các tội phạm về tình dục là những hành vi mang tính nguy hiểm rất cao xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ về danh dự nhân phẩm của con người (trong đó chủ yếu làphụ nữ)”43. Trong định nghĩa về các tội xâm phạm tình dục mà tác giả Phạm Văn Báu xây dựng, tuy có khác nhau một chút về cách định nghĩa, đó là định nghĩa theo kiểu
43 Dương Tuyết Miên, Các tội xâm phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam, tạp chí Luật học số 06/ 1998; Tr.44
liệt kê tội phạm:“hiếp dâm, hiếp dâmtrẻem, cưỡng dâm, cưỡng dâm trẻem, giao cấu với trẻ em và dâm ô đối với trẻ em là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền nhân thân của con người, đó là quyền được tôn trọng và bảo vệnhân phẩm, danh dựcủacon người”. Như vậy, các định nghĩa trênthểhiện rõ khách thểcủa các tội xâm phạm tình dục là xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm, danh dựcủa con người. Tuy nhiên, sựphản ánh này là chưa bao quát và cótính chính xác về các quyền con người bị xâm hại bởi các tội phạm tình dục. Trong khi, yếu tốnày lại là vấn đềquan trọng. Bởi lẽchỉkhi đánh giáđược đầyđủcác khách thể cũng như quyền và lợi ích bị xâm hại của nạn nhân mới mô tả được chính xác các dạng hành vi xâm hại, đánh giá được tính chất và mức độnguy hiểm của nhóm tội phạm này thì mới áp dụng trách nhiệm hình sự phù hợp, chính xáctừ đótạo điều kiện thúc đẩy vấn đề bảo đảm quyền con người.
Hành vi xâm phạmđến nhân phẩm và danhdựcủa con người đượcthểhiện bằng nhiều dạng hành vi khác nhau và có phạm vi rộng hơn so với sự tác động của các tội xâm phạm tình dục. Hành vi xâm phạm danh dự nhân phẩm còn có thể là hành vi dùng những lời nói hoặc hànhđộng có tính chất thóa mạ, khinhbỉđểlàm nhục người khác hoặc gán một sự kiện xấu xa cho người khác làm cho xã hội đánh giá sai hoặc hình dung sai về người đó. Với nhận thức sâu sắc này, nên khi định nghĩa về các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm nói chung, tác giả của luận văn này đã thể hiện nổi bật khách thể quan trọng của các tội xâm phạm tình dục như sau “Các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dựcon người là những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyềnbấtkhảxâm phạmvềtình dụccủa con người, xâm phạm đếntựdo thân thể con người và bất kỳ một hành vi nào khác xâm phạm nghiêm trọng đến phẩm giá, uy tín, danh dự của con người do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý”44. Định nghĩa theo tính chất nguy hiểm, là cách thức định nghĩa thông qua việc khái quát các quan hệ xã hội bị xâm hại.Đa số khi định nghĩa các tội xâm phạm tình dục theo cách truyền thống là đồng nhất
44 Nguyễn Đình Cương (2015), Các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk), Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội,)
tính nguy hiểm của tội phạm ở xâm phạm quyền nhân thân, quyền được tôn trọng vềnhân phẩm, danh dự. Cách định nghĩa này là có cơ sở nhất định, bởi quyền tự do tình dục làmộttrong các quyền nhân thân, danh dự, nhân phẩm. Tuy nhiên, quyền tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm, danh dự, quyền nhân thâncủacon người khôngbị giới hạn và không đồng nhất với quyền tự do tình dục. Vì vậy, cách định nghĩa trong luận văn nói trên của tác giả Nguyễn Đình Cương có ưu điểmlà lộttả rõ hơn bản chất nguy hiểm của các tội xâm phạm tình dục, và có nét đặc trưng khác biệt với các tội xâm phạm nhân phẩm danh dự hoặc xâm phạm nhân thân khác.
Trong khoa học pháp lý nước ngoài, các học giả khi đưa ra định nghĩa về các tội xâm phạm tình dục lại có cách xây dựng định nghĩa khác với các nhà nghiên cứu của Việt Nam. Ở đây, các nhà nghiên cứu lại ưu tiên xây dựng định nghĩa theo dạng liệt kê hoặc khoanh vùng các tội xâm phạm tình dục, chứ không đi sâu vào mô tả về đặc điểm khách thể hoặc các quyền lợi bị tội phạm xâm hại như trong khoa học pháp lýViệt Nam. Đầu tiên, khái niệm các tội xâm phạm tình dục được nêu trong bài viết của tác giả Kai Amboschủyếu dựa trên vănbảnpháp lý Các yếu tố cấu thành tội phạm củaToà án hìnhsựquốctếđểđưara khái niệm như sau:“Tộiphạm tìnhdụclà một loạitộiphạm chống lại loài người có liên quan rõ ràng đến bạo lực tình dục và bao gồm các hành vi: hiếp dâm; bóc lột tình dục; cưỡng ép mại dâm; cưỡng ép mang thai và các dạng hành vi khác liên quan đến bạo lực tình dục”45. Trong khái niệm được đưa ra ở đây, tác giả xây dựng dựa trên việc xác định đặc điểm về tính nguy hiểm và tính pháp lýcủacác hành vitộiphạm tình dục,đólà hành vi trái pháp luật, xâm phạm quyền con người.Đồngthời, khái niệm cũng thể hiện rõ phạm vi của các hành vi tình dục phải bị coi là tội phạm bằng cách liệt kê cụ thể mỗi hành vi.
Một khái niệm khác được các tác giả Hendrik Gommer và Erik-Jan Broers đưa ra một cách khái quát như sau: “Tội phạm tình dục là bất kỳ hành động nào có tính chất tình dục được thực hiện đối với một người khác trong những trường hợp cưỡng
45 Kai Ambos , “Sexual offences in international criminal law, with a special focus on the Rome statute of the internatinal Criminal Court”,FICHL publication Series No.2 (2012); Tr 150, 151.
ép”46. Mặc dù trong định nghĩa dường như có nội hàm khá hẹp, nhưng cũng trong Nghiên cứu này các tác giả khẳng định rằng: “tội phạm tình dục không giới hạn trong việc bị xâm hại về thể chất mà còn có thể bao gồm các hành vi xâm hại không liên quan đến sự xâm hại thể chất, thậm chí là không liên quan đến tiếp xúc thân thể”. Có thể thấy, mặc dù không chỉ rõ cụ thể phạm vi các hành vi tội phạm tình dục, nhưngđãcố gắng mô tả một cách cụ thể các dạng hành vi tình dục hoặc mô tả giới hạn tác hại của hành vi tình dục. Qua đó cho phép chúng ta hình dung về các dạng hành vi có thểđược thực hiện của các tội xâm phạm tình dục. Đồng thời, trong khái niệm mà các tác giả đưa ra, cho thấy sự nổi bật về tính chất nguy hiểm của các tội xâm phạm tình dục và các quyền con người có thể bị xâm hại bởi tội phạm này.
Từ những dẫn chứng và phân tích các định nghĩa trong và ngoài nước nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa về “các tội xâm phạm tình dục” như sau: Các tội xâm phạm tình dục là các hành vi tình dục nguy hiểm đáng kể cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự, bao gồm các dạng hành vi có sự tiếp xúc thân thể hoặc chỉ tiếp xúc bằng các giác quan khác giữa người phạm tội với nạn nhân, hoặc tác động lên người khác bằng các hành vi cưỡng ép hay mua chuộc bằng các lợi ích để người này thực hiện hành vi tình dục bất hợp pháp với nạn nhân, xâm hại đến danh dự, nhân phẩm, quyền tự do vềtình dục và có thể dẫn đến thiệt hại về thể chất, tinh thần cho nạn nhân.
1.2.1.2. Đặc điểm của các tội xâm phạm tình dục
Đặcđiểmcủa các tội xâm phạmvềtình dụclà các dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này. Việc nghiên cứu các dấu hiệu của các tội xâm phạm tình dục có ý nghĩa xác định nhận thức về tính chất và mức độ nguy hiểm của loại tội phạm này đối với các quyền con người bị xâm hại. Dođó,nghiên cứu về cácđặc điểm của cáctội xâm phạm tình dục không chỉ đơn thuần là để nhận diện được các tội phạm mà còn làsựlý giải về sự cần thiết của vấn đề quy định các tội phạm này và chế tài kèm theo nhằm bảo vệ các quyền con người liên quan đến tình dục.
– Đặc điểm về khách thể của tội phạm
46 Hendrik Gommer và Erik-Jan Broers, Cuộc cách mạng trong các quy định cơ bản về tội phạm tình dục – Bài học thực tiễn ở Hà Lan, tạp chí Ethiek en Maatschappij, tháng 11/2012, Quyển 14, Số 3, trang 30), trích theo Kai Ambos,“sexual offences in international criminal law, with a special focus on the Rome statute of the internatinal Criminal Court”,FICHL publication Series No.2 (2012).
Trong luật hình sự Việt Nam, các tội xâm phạm tình dục cũng được quy định vànghiên cứu sớm và là phương thức để ngăn ngừa và chống lại sự xâm phạm về danh dự, nhân phẩm,“tội phạm tình dụclà những hành vi nguy hiểm cao, xâm phạmđến quyền được tôn trọng và bảo vệ về danh dự nhân phẩm của con người,đặc biệt là phụnữ”47. Theo Bản tổng kết số 329 về hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm vàmột số
tội phạm khác về mặt tình dục48 đã khẳng định rằng nhà nước Việt Nam luôn bảo vệ vàtôn trọngvềmặtsứckhỏe, tính mạng cũng như danhdự,nhân phẩmcủacon người. Các quyền đó, được Hiến pháp là văn bản pháp luật có giá trị cao nhất ghi nhận rõ tại khoản 1 Điều20 Hiến phápnướcCHXHCN Việt Nam năm 2013: “Mọingườicó quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xửnào khác xâm phạm thân thể,sứckhoẻ, xúc phạm danhdựnhân phẩm”,vìvậycác quyền này luôn là kháchthể được phápluật bảo vệ, mà trongđópháp luật hình sự làcông cụ đặc trưng và có hiệu quả nhất được sử dụng trong quá trình bảo vệ này. Bên cạnh đó, quyền được bảo vệvà tôn trọng tình dục thểhiện qua việc mỗi người cóquyền tự địnhđoạt vấn đề tình dục trong tình yêu và danh dự của mình, không ai cóquyền cưỡng ép, cũng là kháchthểquan trọng mà luật hình sựbảo vệvà bịcác tội phạm tình dục xâm hại. Phần khách thể bị xâm hại bởi các tội xâm phạm tình dục sẽđược tác giả làm rõ và phân tích kỹ hơn trong phần nội dung trình bày về “chức năng bảo vệ quyền con người thông qua việc quy định các tội xâm phạm tình dục”để thấy rõ hơn mối quan hệ của việc quy định các tội phạm này với các quyền con người cần được bảo vệ.
– Đặc điểm về tính đa dạng của các hình thức xâm hại tình dục
Tính đa dạng và phức tạp vềhình thức củacác tội xâm phạm tình dục là một trong những căncứ để đánhgiá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi này. Việc nghiên cứu vềđặc điểmnày của tội phạm có ý nghĩa thểhiệnsựcần thiết và tầmquan trọng của việc quyđịnh các tộixâm phạm tình dục. Bởi vì, trong
47 Dương Tuyết Miên, “Về các tội phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam”,Tlđd, Tr.44.
48 Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về tình dục số 329-HS2 ngày 11/5/1967 của Tòa án nhân dân tối cao.
thực tế các hành vi xâm hại tình dục luôn có nguy cơ xảy ra và đã xảy ra rất nhiều, mà mỗi vụán bịxâm hại thủđoạn, phương thức thực hiện hành viđều khác nhau. Điều này có nghĩa là các quyền con người luôn có nguy cơ nhiều nhất bị gây thiệt hại bởi loại tội phạm này.
Sựđa dạng vềhình thức biểu hiện của các tội xâm phạm tình dụckhông chỉbiểu hiện dưới hình thức bạo lực như hiếp dâm – là một dạng dễ thấy, dễ bị lên án vàlà hành vi xâm phạm quyền con người ở mức độ nghiêm trọng nhất, mà còn có nhiều hình thức xâm hại tình dục khác. Hình thức xâm hại tình dục có thể xảy ra trong giađình như lạm dụng tình dục trẻ em gái trong gia đình, hiếp dâm trong hôn nhân, cắt bỏ bộ phận sinh dục nữ và phong tục truyền thống khác có hại cho phụ nữ. Sự đe dọa, sự cưỡng bức hay tước đoạt tự do tình dục, cùng có thể xảy ra với nam giới và trẻ em trai, người chuyển giới, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số hoặc những người có hoàn cảnhđặc biệt khó khăn khác. Hành vi bạo lực tình dụccó thểgây rabởibạn tình, người quen, đồngnghiệp hoặcngườilạhay người có quyền lực. Các tội xâm phạm tình dục không chỉ là những hành vi tình dục được tác động trực tiếp lên cơ thểmột cách ép buộc hay không cósựđồng ýcủa đốiphương, như hiếp dâm, cưỡng dâm, hay giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người chưa đủtuổi, mà xâm hại tình dục còn có các hình thức biểu hiện khác dù không được tácđộng lên cơ thể, đó có thể là các hành vi như tán tỉnh, bình phẩm về giới tính, khoe ảnh khiêu dâm và thể hiện nhu cầu tình dục, bằng lời hay hành động.
– Đặc điểm về hậu quả của các tội phạm về tình dục
Dấuhiệuhậuquảtuy không phải là dấuhiệu bắt buộc phải xácđịnhtrong cấu thành tội phạm cơ bản của các tộixâm phạm tình dục, tuy nhiên việc nghiên cứu vềdấu hiệu hậu quả của tội phạm này gây ra nhằm xây dựngmột nhận thức đầy đủ về bản chất nguy hiểm của tội phạm, thể hiện sự gây thiệt hại đến quyền con người ở mức độnào,từ đóquy định chế tài và biện pháp khôi phục quyền bị xâm hại cho phù hợp.
Xuất pháttừ các đặc điểm của từngđối tượngbị xâm hại và sự đa dạng về hình thức thực hiện “tộiphạm tình dục không chỉgiới hạntrong việc bịxâm hại vềthểchất mà còn có thể bao gồm các hành vi xâm hại mà không liên quan đến sự xâm hại
thể chất, thậm chí là không liên quan đến tiếp xúc vật lý”49, nên những hậu quả màhành vi xâm hại tình dục nếu trên thực tế gây ra là vô cùng nguy hiểm và khó có thểđịnh lượng được chínhxác mức độ thiệt hại, đồng thời khó có thể khắc phục hậu quảđó trong một sớm một chiều. Hậu quả của các tội xâm phạm tình dục gây ra thường thể hiện ở hai dạng:
Một là, hậu quả về thể chất, đây là các dạng thiệt hại về sức khoẻ con người, bao gồm cả sức khoẻ tình dục và gây ra rối loại tâm thần… Đặc biệt, nếu đối tượng xâm hại là trẻ em, thì hậu quả lại càng khó đánh giá được mức độ nguy hiểm, sức khỏe của con người là tình trạng thoải mái của con người về các mặt thể lực, tinh thần và xã hội, hành vi hiếp dâm trẻ em dễ gây tổn hại sức khỏe của trẻ em hơn vì thể trạng các em còn non nớt,yếu đuối50. Bởi vì, hành vi hiếp dâm trẻ em và các tội xâm phạm tình dục khác có thể gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe và xâm hại đến sự phát triển bình thường về thể chất và tâm sinh lý của người chưa đủ tuổi trưởng thành. Việc thực hiện hành vi đã gây ra hậu quả trên thực tế thì tùy vào mức độ thiệt hại như gây thương tích gây tổn hại sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần hoặc làm nạn nhân có thai hay làmnạnnhân chết hoặctựsát…,sẽbịáp dụng tình tiết định khung tăng nặng, hoặc tình tiết tăng nặng để làm căn cứ tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội, nhằm cụ thể hóa trách nhiệm hình sự và là cơ sở để thực hiện việc bảo vệ quyền con người một cách hiệu quả nhất.
Hai là, hậu quảphi vật chất, thểhiện qua việc thực hiện hành vi tình dục với tâm lý coi thường, chàđạp nhân phẩm, danh dự, quyền tựdo của người khác, “hậu quả của các tội xâm phạm tình dục đều xâm hại đến danh dự nhân phẩm của người bịhại, thể hiện dưới thiệt hại về mặt tinh thần thực tế, có thể thấy rằng những người bịhại tinh thần họ rất lo sợ, hoang mang lúc nào cũng có cảm giác như ai đó đe dọa,
tấn công mình…ngoài ra còn có một sốtrường hợp, nạn nhân bịgia đình, bạn bè,
49 Hendrik Gommer và Erik-Jan Broers, “Cuộc cách mạng trong các quy định cơ bản về tội phạm tình dục –Bài học thực tiễn ở Hà Lan”, tạp chí Ethiek en Maatschappij, tháng 11/2012, Quyển 14, Số 3; Tr.30
50 Theo hướng dẫn của thông tư liên tịch số 01/1998 ngày 02/01/1998 của TAND Tối cao, Viện KSNDTC và Bộ nội vụ thì cần xử phạt người phạm tội mức án càng nghiêm khắc hơn nếu độ tuổi của người bị hại càng nhỏ.
hàng xóm không hiểu, không thông cảm mà còn xa lánh, khinh rẻhọ”51. Các nạn nhân sau khibịxâmhạitìnhdụcthường cócảmgiácsợhãi, cũng cóthểcảmthấy không còntựtrọng.Họcảm thấy mình không còn giátrịvà không xứng đángđược ngườikhác coi trọng, dođóthường thu mình không dám tiếp xúcvớiai. Nhiều trườnghợpcó tháiđộtiêu cực,cảmthấybấtcông,bấtcần“không còngì”đểmất, nên rơi vàođườngdây mua bán dâm hoặc tình trạng“nghiện” tình dục, cóthểtrởnên ưabạolực, phá phách,sửdụng biarượu,ma túy hoặc sau khibịxâm hạiđãtrởthànhđốitượngphạmtộitrong cácvụán khác.Trẻem sau khibịxâm hại tìnhdụcđềutrởnên không bình thường, luônmặccảm, losợ,nghi ngờ, xa lánhtấtcảmọi người,kểcảngườithân trong thời gian dài, không còn cóthểtin vàobấtkỳngười nào.. Nhiều bé trai, bé gái sau khi bị lạm dụng thường thủ dâm, họctậpsa sút,sợ gặp ngườilạ,mấtngủhay gặp ác mộng, sang chấn tâm lý.Đốivớinhững trườnghợpđãtừng bị xâm hại tìnhdụchoặc xâm hạithểchất còn rơi vào tình trạng trầm cảm hoặc bi quan và mong muốntựtử.
Các dạng thiệthạinày khôngchỉxảyrabởihành vi tìnhdụcthông qua việc thực hiện hành vi giao cấu, mà còn thông qua các hành vi tình dục khác. Cáchậuquảtrên là chỉ cóthểxácđịnhmộtcách tươngđốivềmức độvà không có ý nghĩađểđịnh tộidanh nhưnglạilà căncứđể“đolường”tính chất vàmức độnguy hiểm cho xã hội của cáctộiphạm này trong từng trườnghợpphạm tộicụthể.Điềunày cho thấy tính nguy hiểm củamỗiloại tộiphạm đượcphản ánh quadấuhiệuhậuquảlà cómức độkhác nhau.Từcăncứvềtính chấtmứcđộnguy hiểmđó,làm tăng thêm cơsởđểchứng minh việc quyđịnhcác hành vi tìnhdụclàtộiphạm làcầnthiếtđểtạo cơchếbảovệquyền conngười mộtcách hiệuquảnhất.
51 Xem Trịnh Văn Toàn, Luận vănthạc sĩ “Các tội phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam (trêncơ sở sốliệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Đăk Lăk)”,Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, nguồn
http://repository.law.vnu.edu.vn/jspui/bitstream/123456789/590/1/LHS- Tr%E1%BB%8Bnh%20V%C4%83n%20To%C3%A0n- C%C3%A1c%20t%E1%BB%99i%20ph%E1%BA%A1m%20t%C3%ACnh%20d%E1%BB%A5c%20trong% 20lu%E1%BA%ADt%20H%C3%ACnh%20s%E1%BB%B1%20Vi%E1%BB%87t%20Nam.pdf
1.2.2. Khái niệm và vai trò của việcbảo vệquyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục
1.2.2.1. Khái niệm bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục
Luật hình sựđược nhànước sửdụng đểquyđịnh những hành vi xâm hại đến quyền con người nào là tội phạm và các hình phạt áp dụng đối với chủ thể thực hiện hành vi phạm tội đó khi mà các chế tài pháp lý hay các quy tắc xử sự khác không đủhiệu quả để ngăn chặn, phòng ngừa hành vi vi phạm. Vấn đề bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục cũng không nằm ngoài phạm vi và nội dung của việc bảo vệquyền con người bằng pháp luật hình sự. Việc quyđịnh các hành vi tình dục là tội phạm là một hành động thể hiện sự bảo đảm về mặt nhà nước và pháp luật hình sự đối với các quyền được tôn trọng về nhân phẩm, danh dự và tựdo tình dục của con người. Đồng thời, việc quy định đó còn có ý nghĩa nâng cao nhận thức của cá nhân nói chung và các chủthểtrong các cơ quan bảo vệpháp luật nói riêng về sự cần thiết phải tôn trọng nhân phẩm, danh dự, quyền tự do tình dục của con người,từđónắm vững nội dung, bản chất pháp lý đểáp dụng đúng đắn quy phạm pháp luật hình sự, thực thi công lý, khôi phục các quyền đã bị tội phạm xâm hại vàrăn đe giáo dục để ngăn ngừa các hành vi phạm tội. Bên cạnh sự ghi nhận các hành vi
tội phạm vàchếtài áp dụng qua hoạt độnglập pháp, thìđểbảo vệcác quyền con người đặc thù liên quan đến tội phạm này, hoạt động bảo vệquyền con người bằng quyđịnh vềcác tội xâm phạm tình dụccòn được thểhiện thông qua việc tiến hành phi tội phạm hóa và phi hình sự những hành vi có khả năng gây cản trở việc thực hiện
quyền con ngườivà các hình phạt gây tổn hại, cản trởquyền –sựtựdo củacon người. Do vậy, phạm vi bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội phạm tình
dục tuy có hẹp hơn về giới hạn các quyền con người – cần được bảo vệ, nhưng cũng giống như hoạt động bảo vệquyền con người bằng PLHS nói chung, đó làsẽđược thể hiện thông qua các hoạt động tội phạm hóa -phi tội phạm hoá và hình sự hóa – phi hình sự hoá.
Từ bản chất của nội dung bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục, cóthểđưa ra khái niệm như sau: Bảo vệquyền con người bằng quy
định về các tội xâm phạm tình dục là hoạt động lập pháp hình sự thông qua việc tội phạm hóa (tức là xác định phạm vi những hành vi tình dục nào là tội phạm cùng với việc mô tả cácdấu hiệu địnhtội) và quyđịnhcác tìnhtiết địnhkhung tăng nặng kèm theo hình phạt trong Bộ luật hình sự Việt Nam, nhằm ngăn chặn và trừng trị việc xâm hại đến danh dự, nhân phẩm, quyền tựdo tình dục của con người, đồng thời tiến hành hoạt động phi tội phạm hóa và phi hình sự hóa các hành vi liên quan đến tình dục mà có khả năng cản trở việc thụ hưởng các quyền con người.
1.2.2.2. Vai trò của việc bảo vệ quyền con người thông qua việc quy định các tội xâm phạm tình dục
Bản chất nội dung về vai trò của hoạt động quy định các tội xâm phạm tình dục trong việc bảo vệ quyền con người là việc phân tích và làm rõ câu trả lời cho câu hỏi “tại sao để bảo vệ quyền con người thì cần phải quy định các tội xâm phạm tình dục”. Câu hỏi này được trả lời thông qua việc làm rõ các chức năng, nhiệm vụ của việc quyđịnh các tội xâm phạm tình dục.
Thứ nhất, về chức năng chống các hành vi tình dục. Việc quy định các tội xâm phạm tình dục cùng với chế tài kèm theo nó là nhằm chống lại các hành vi tình dục gây tổn thươngđến cácquyền con người. Mặc dù, các ngành luật phi hình sự cũng cóchức năng chốnglạinhững hành vi tình dụcgây tổn thương các quyền con người nhưng việc thực hiện đó lại bằng những phương tiện không có nhiều sức mạnh là các loại chế tài ít nghiêm khắc. Dođó,chỉ trong các hoạt động phát hiện, điều tra, truy tốvà xét xửđểbuộc chủthểđã thực hiện các hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự.
Có thể nói, việc bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục là hoạt động được thực hiện bởi những quyđịnhchuyên biệt từ sự phản ánh, phùhợp với đặc thù về quyền con người bị xâm hại do các hành vi phạm tội này. Để hiểu rõ hơn về nhận định này chúng ta có thể làm một phép so sánh sau: khi quy định các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc danh dự, nhân phẩm, như tội giết người, cố ý gây thương tích hay gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, hay tội làm nhục người khác thì BLHS cũng có mục đích chống lại các hành vi nói trên để bảo vệ các quyền
con người như tính mạng, sức khỏe, danh dự,nhân phẩm. Nhưng việc chỉquyđịnh nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc các tội danh như làm nhục, vu khống là chưa thể tạo một cơ sở pháp lý đầy đủ để BLHS thực hiện nhiệm vụ chống lại các hành vi tình dục. Bởi lẽ, các tội xâm phạm tình dục có khách thể trực tiếp trước hết làquyền tình dục và sau đó mới là các quyền con người khác như tính mạng, sức khỏe, danh dựvà nhân phẩm. Do đó, có thểkhẳng định, việc quyđịnh các tộixâm phạm tình dục là hoạt động lập pháp thể hiện được đầy đủ bản chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tình dục. Từ đó, có ý nghĩa làm cơ sở pháp lý để Nhà nước ta đấu tranh chống lại tội phạm này.
Thứ hai, chức năng bảo vệ. Phù hợp với các chức năng của luật hình sự, thông qua chức năng chống và phòng ngừa tội phạm, việc quy định các tội xâm phạm tình dục còn có chức năng bảo vệ các quyền con người trước sự xâm hại của tội phạm.
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 đã khẳng định tính thiết yếu của việc bảo vệ quyền con người bằng pháp luật: “Nhân quyền phải được pháp luật bảo vệ để mỗi người không buộc phải nổi loạn như là biện pháp cuối cùngđể chống
lại chếđộcường quyền và ápbức”52. Đốitượng quyền tình dục là một trong các quyền con người cần được pháp luật bảo vệ, và là một trong những khách thể đặc biệt quan trọng, rất được đề cao trong thế giới tự do và văn minh ngày nay. Hơn nữa, tình dục có mối quan hệ mật thiết và bổ sung sự phát triển về sức khỏe về mặt tâm sinh lýcủa con người. Điều này được thể hiện trongđịnhnghĩa của Hiệp hội sức khỏe tình dục thếgiới53 (WAS) vềsức khỏe tình dục54: “Sức khỏe tình dục được hiểu là tình trạng thể chất, tinh thần và tình cảm xã hội liên quan đến tình dục, nó không chỉ đơn thuần là sựvắng mặt của bệnh, rối loạn chức năng hoặc thương tật. Sức khoẻ tình dục đòi hỏi một cách tiếp cận tích cực và tôn trọng tình dục và quan hệtình dục, cũng như khả năngcó được nhữngtrải nghiệm tình dục an toàn, không bị cưỡng ép, phân biệt đối xử và bạo lực. Để đạt được và duy trì sức khoẻ tình dục, quyền tình dục của tất cảmọi ngườicần phảiđượctôn trọng, bảo vệvà thực hiện”. Do vậy, khi
52 Liên Hợp Quốc (1948), Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người.
53 Tên tiếng anh của hiệp hội là the World Association for Sexual Health, được viết tắt là WAS.
54 Xem WAS World Association for Sexual Health World Sexual health Day 2013 September 4th To achieve sexual health, picture yourself owning your sexual right!.
đánh giá tính nguy hiểm của các tội xâm phạm tình dục ngoài các quyền được bảo vệđólà tính mạng,sứckhỏe, nhân phẩm và danhdự,thì còn phải đánh giá tính nguy hiểm của nó bằng việc chỉ ra tính gây tổn thương, gây thiệt hại đến quyền tựdo về tình dục của con người.
Xuất phát từ chức năng chính là bảo vệ, luật hình sự sở hữu những “biện pháp và phương tiện riêng biệt” có sức mạnh bảo vệ vượt trội so với các ngành luật khác trong hệthống pháp luật. Biện pháp bảo vệđặc trưng của luật hình sựchính là tội phạm hóa và đe dọa trừng phạt hành vi xâm hại đối tượngđược bảo vệ. Sự trừng phạt bằng pháp luật hìnhsựđược thực hiệnbởicông cụđắclực là hệthống hình phạt – loại chế tài pháp luật nghiêm khắc nhất. Vì vậy, việc bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động quy định các tội xâm phạm tình dục là hoạt động của Nhà nước nhằm bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm đến các quyền con người cơ bản, quan trọng, đólà tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền tự do tình dục.
Chức năng bảo vệ quyền của hoạt động quy định các tội xâm phạm tình dục còn đượcthểhiện thông qua việc tiến hành loạibỏcác hành vi đangđượcquyđịnhlàtộiphạm và các hình phạt mang tính cản trởviệc thực hiện quyền con ngườihoặc xâm phạm nghiêm trọng quyền conngườira khỏi BLHS. Như vậy, tính chất của sự bảo vệ quyền con người trong hoạt động lập pháp về các tội xâm phạm tình dục đượcthểhiện trên nhiều khía cạnh và hoạt động,tạonênmộtcơ chế pháp lý thống nhất, hợp lý từ đó cơ chế thực thi việc bảo vệ quyền con người trong thực tiễn nhờ đó được hiệu quả hơn.
Thứ ba, về chức năng phòng ngừa tội phạm. Việc quy định các hành vi tình dục là tội phạm không chỉ là cơ sở để trừng trị chủ thể đã thực hiện hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự, mà thông quahoạt động đócòn ngăn chặn trước hết chính chủthểthực hiện hành vi tình dụcđã bịphát hiện có thểtiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Đồng thời việc quy định các hành vi tình dục là tội phạm còn có tác dụng răn đe, cảnh báo, ngăn ngừa người khác rằng, nếu thực hiện hành vi này thì sẽ bị áp dụng các chế tài nghiêm khắc đã được quy định trong BLHS. Bởi vì những quyền con người là đối tượng bị xâmhại của các tội phạm tình dục là những nhu cầu, khát vọng tựnhiên, chính đáng của con người mà khi những nhu cầu, khát vọng tự nhiênđóbị mất
tự do thì không chỉ làm giảm động lực phát triển xã hội, phát triển con người, mà cuộc sống của con người dường như không còn có ý nghĩa. Các quyền con người liên quan đến, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hay tình dục là có giá trị phổ cập cho tất cả mọi người, không phân biệt người đó quốc gia, dân tộc, địa vị sang hèn. Do đó, thông qua hoạt động quyđịnh tội phạm, người dân nhận thức được vềquyền của mình và hiểu được ý nghĩa, giá trị của các quyền. Từ đó, giúp mỗi người tự mình bảo vệcác quyền, đồngthời có nghĩa vụ, trách nhiệm tuân thủpháp luật, biết tôn trọng phẩm giá, các quyền và tự do của người khác.
Như vậy, việc quyđịnh các tội xâm phạm tình dục là một hoạt động bảo vệquyền con người tích cực. Bởi vì, thông qua hoạt động lập pháp này, bằng các quy phạm pháp luật hình sự về các tội xâm phạm tình dục cụ thể, Nhà nước đã thực hiện hoạt động “giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm”55. Vì vậy, đối tượng được BLHS giáo dục ý thức không xâm phạm đến các quyền con người được pháp luật bảo vệ, thông qua quy định về các tội xâm phạm tình dục không chỉ là đối với người đã thực hiện các hành vi phạm tội này, màcòn làđối với tất cả mọi người.
1.3. Nội dung bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục
1.3.1 Tội phạm hoá hành vi xâm phạm tình dục, phi tội phạm hoátộixâm phạm tình dục
Vấn đề tội phạm hóa và phi tội phạm hóa đóng vai trò quan trọng nhất và phản ánh chính sách hình sự của mỗi quốc gia, đồng thời là sự thể hiện về xuthế bảo vệquyền con người của ngành luật hình sự.
Tội phạm hóa các hành vi tình dục là một bộ phận trong chính sách hình sự nói chung. Do đó, mỗi nội dung về tội phạm hóa này không chỉ phản ánh chính sách hình sự của Nhà nước ta mà là còn là sự thể hiện vấn đề bảo vệ quyền con người của pháp luật hình sự, thể hiện sự tiến bộ của Nhà nước thông qua việc bảo vệ quyền con người bằng pháp luật. Để đạt được nội dụng đó, vấn đề tội phạm hoá các hành vi tình dục được thực hiện trên cơ sở sau:
55 Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên), “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (phần chung)”,Nxb Tư pháp 2017, tr.11.
Thứ nhất, tính chất và mức độ nguy hiểm đáng kể cho xã hội của hành vi tình dục. Thứ hai, tính chất phổ biến của các hành vi tình dục.
Thứ ba, nhu cầu phòng ngừa và chống hành vi tình dục bằng chế tài hình sựThứ tư, đảm bảo các tội phạm tình dục có thể được chứng minh trên thực tế.
Trong Luật hình sự,khi giải quyết vấnđềtội phạm hóa hay phi tộiphạm hóa các hành vi nào đó có tính nguy hiểm cho xã hội, các nhà lậppháp phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự. Bên cạnh đó, việc quy định những hành vi nàođó làtội phạm hay vi phạm trong một chừng mực nhất định là phụ thuộc vào quan điểm chính thức của xã hội và nhà nước, mà cơsởxác định đầu tiên làhành vi đó có nguy hiểm cho xã hội không? Sự nguy hiểm cho xã hội thể hiện ở tính chất và mức độ như thế nào56? Do đó, việc xác định phạm vi các hành vi xâm hại tình dục cần tội phạm hóa trong BLHS cũng dựa trên những nguyên tắc cơ bản và căncứcủa việc xác định phạm vi tội phạm hóa trong luật hình sự. Khoa học luật hình sự đãchỉ ra rằng tính nguy hiểm cho xã hội là yếu tố cơ bản của tội phạm với tính cách là một hiện tượng xã hội, cũng như với tính cách là một hành vi cụ thể. Chính vì vậy, khi tiến hành tội phạm hóa các hành vi tình dục thì tính chất nguy hiểm đó vẫn là căn cứquan trọng nhất. Tính nguy hiểm cho xã hội của các hành vi tình dục thểhiện ởchỗ nó gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại cho quyền của con người. Trong khiđó, con người là“tế bào của xãhội”,sự tồn tại vàthực hiện các quyền con người của mỗi cá nhân lại cósự ảnh hưởngđến điều kiện tồn tại và phát triển của chế độ xã hội. Do đó, hành vi tình dục đượctội phạm hóa phải là hành vi có tính nguy hiểm đến mứcđángkể,bởivì nó đãgây cản trởđến việc thực hiện các quyền con người. Những quyền con người có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi cá nhân và sự phát triển chế độ xã hội nhưng có nguy cơ bị các tội xâm phạm tình dục xâm hại, mà được bảo vệbằng PLHS, đó là quyền được bảo vệvềtính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền được phát triển một cách bình thường về thể chất và tinh thần, quyền tựdo về tình dục. Mặc dù, tính chất và mức độ nguy hiểm của các hành vi tình dục có
56 Nguyễn Thị Thu Hương, Tội phạm hóa- Phi tội phạm hóa, hình sự hóa-Phi hình sự hóa những hành vi xâm hại trật tự quản lý kinh tế trong giai đoạn hiện nay tại Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học 2011, trường Đại học Luật Hồ chí Minh, tr53-54
thể được đánh giá dựa trên nhiều yếu tố khác nhau, nhưng luôn phải dựa trên khách thể là các quyền con người và đối tượng tác động của tội phạm.
Vấn đềbảo vệ quyền con người thông qua quyđịnhvề các tội xâm phạm tình dục sẽ là thiếu chặt chẽ và hiệu quả nếu được thực hiện trên mọi đối tượng tác động (nạn nhân), nhưng không có sựphân hóa từng loại đối tượng tác động đượcbảovệ(trong đó bao gồmcác nhóm xãhộidễbịtổn thương) đểgia tăng mức độbảo vệquyền con người.
Trong các nghiên cứu vềquyền con người đã thực hiện, khái niệm “các nhóm xã hội dễbịtổn thương”là nhằmchỉtớinhững nhóm người có nguy cơ caobịtổn thương về quyền con người như: phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật,… người hành nghềmại dâm57, các nhóm người này do tính chất dễ bị tổn thương nên quyền con người của họ cần được bảo vệ chặt chẽ hơn so với các cá nhân khác.
Đối với phụnữvà trẻem, là đối tượng dễbịxâm hại tình dụcvới nhiều hình thức khác nhau. Trong khi đó, với đặc điểm là “chân yếu tay mềm”, thiếu sức chốngđỡ, khả năng tự bảo vệ kém, dễ bị tổn thương, nên phụ nữ và trẻ em là chủ thể dễ bịxâm hại tình dục nhất và hậu quả để lại thường rất lớn. Theo quan điểm truyền thống và đặcđiểmvềgiới tính, tính cách, thìtrẻem gái có nguy cơtrởthànhnạnnhân của hành vi xâm hại tình dục cao hơn so với trẻ em trai. Nhận định này vẫn luôn mang tính hợp lý khi đặt trong bối cảnh xã hội hiện nay, khi các hình thức xâm hại tình dục được đội lốt và ẩn nấp dưới các hình thức kinh doanh vì mục đích thương mại như mại dâm vàdu lịch tình dục lại càng phát triển. Do đó, chính sách hình sự từ xây dựng pháp luật đến giải thích pháp luật và thực thi pháp luật phải bảo vệ được đối tượng là trẻ em trong các hành vi phạm tội khác nhau, trong các hoàn cảnh khác nhau.
Ở phụ nữ, đặc thù giới có thể khiến một số quyền con người ở phụ nữ dễ bị tổn thương hơn so với quyền ấy ở nam giới. Do đặc điểm sinh học của cơ thể nên quyền tựdo và an toàn tình dục của phụnữdễbịxâm hại hơn, khiến phụnữdễtrởthành nạn nhân của tình trạng ngược đãi, lạm dụng hay bạo lực tình dục. Hơn nữa, khoa học đã chứng minh: trên thực tế nam giới thường có xu hướng thực hiện các hành vi bóc
57 Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2011, Tr229
lột tình dục để thỏa mãn dục vọng cá nhân hơn nữ giới. Như vậy, đặc điểm giới mang lại cho phụ nữ quyền con người đặc thù,đồngthời khiến cho nhiều quyền con người của phụ nữ dễ bị tổn thương hơn. Vì lẽ đó, trong thực tiễn pháp lý, nội dung bảo vệquyền phụ nữ của các văn kiện của quốc tế cũng như quốc gia thường tập trung vào việc bảo vệ các quyền con người dễ bị tổn thương do chủ thể của quyền làphụ nữ màtrong đó bao gồm quyền tự do và an toàn về tình dục…58.
Đặc điểm về giới tính của phụ nữ dẫn đến nguy cơhọ dễ bị xâmhại về quyền con người, cũngđược đưa ramổ xẻ, phân tích và lý giải nguyên nhân của nó trong báo cáo về “Đánh giá tình hình phụ nữ trong hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam, nhằm hỗ trợnhững nỗ lực của Chínhphủ hướngtới đảm bảo hiệu quả vấn đề bìnhđẳnggiới trong hệ thống tư pháp hình sự” của hai cơ quan của Liên Hợp Quốc. Các chuyên gia trong Báo cáo này khẳng định: “đối tượng phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình, đồng thời cũng lưu ý tới một số khó khăn đặc thù với các nạn nhân của các dạngbạo lực đối với phụ nữ khác, cho thấy: ở Việt Nam, các chuẩn mực của chế độ phụ hệ đã tạo ra một xãhội trong đóbạohànhvới phụ nữthường được coi là“bìnhthường”và phụ nữ được khuyến khích không nên viện tới tư pháp hình sự khi bị bạo hành. Tỷ lệ báo cáo về bạo lực đối với phụ nữlà khá thấp và các nạn nhân thường dựa vào các cán bộ hòa giải tại địa phương để xử lý vụ việctrước khi đưa ra pháp luật. Đối với các trường hợp viện tới hệ thống tư pháp hình sự, quá trình điều tra và thu thập chứng cứ gặp phải nhiều khó khăn. Do đó, các nhà hoạch định chính sách pháp luật của Việt Nam đưa ra ba khuyến nghị lớn nhằm giải quyết các khó khăn đối với phụ nữ là nạn nhân của tội phạm. Trong đó cómột khuyến nghị liên quan đến việc hoạch định chính sách hìnhsự đó là “Tăng cườngcác quy định của pháp luật liên quan tới cácvụ bạo lực đối với phụ nữ và sửađổi Luật hình sự”59. Điều này cho phép khẳng định, chính sách hình sự về các tội xâm phạm tình dục cần được xây dựngdựa trên đặc điểm về giới của phụ nữ.Các quy định liên quan đến hiếp dâm, quấy rối tình dục, khiêu dâm, buôn bán người vì mục đích mại
58 Luận án tiến sĩ Trần Hồng Lê, TLđd tr40
59 UN Women và Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên Hợp quốc UNODC), Báo cáo về“Đánh giá tình hình phụ nữ trong hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam, nhằm hỗ trợ những nỗ lực của Chính phủ hướng
tới đảm bảo hiệu quả vấn đề bình đằng giới trong hệ thống tư pháp hình sự” của hai cơ quan của Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (cơ quan Liên Hợp Quốc về Bình đằng giới và trao quyền cho phụ nữ – , tháng 10/2013, tr5- 6
dâm… trong luật hình sự của các quốc gia phản ánh chính sách coi trọng phẩm giácon người, đặc biệt là phụ nữ60.
Bên cạnh đó, thực tiễn đã cho thấy, trong một số trường hợp phụ nữ hành nghềmại dâm (bởi nhiều nguyên nhân khác nhau) cũng đang làđối tượng bị sử dụngbạo lực tình dục bởi nhiều hình thức khác nhau, như cưỡng ép mại dâm,… do xã hội không coi trọng những quyền con người vốn dĩ tự nhiên của họ, dẫn đến hạn chế việc xử lý tội phạm tình dục khi thực hiện hành vi phạm tội đối với đối tượng hành nghềmại dâm trong thời gian họ hành nghề. Trong khi đó, đối với quyền tình dục mặc dùcũng giống như các quyền con người khác, đó là quyền dành cho mọi thành viên của nhân loại, nhưng cần lưu ý rằng bên cạnh việc ghi nhận quyền này cho đối tượng làcon người nói chung, thì quyền tình dục còn được ghi nhận thêm cho một sốđối tượng đặc biệt mà trong đó bao gồm cả người hành nghề mại dâm. Điều này đã được pháp luật nhiều quốc gia và pháp luật quốc tếkhẳng định: “quyền tình dụcthườngđược gắn với một số nhóm xã hội nhất định, bao gồm những nhóm có xu hướng, lựa chọn tình dục khác biệt với số đông (những người có quan hệ tình dục đồng tính … và những nhóm bịthiệt thòi, lạmdụng hoặc bịphân biệt đối xửtrong việc biểu lộvà hưởng thụ tình dục, cụ thể như những người khuyết tật, phụ nữ, người sống chung với HIV, người chưa thành niên và trong một chừng mực nhất định là cả người laođộng tình dục(hành nghề mại dâm)61. Như vậy, vấn đềquyđịnh các tội xâm phạm tình dục cần lưu ý về quyền tình dục được đặc biệt ghi nhận đối với đối tượng là phụ nữvà người hành nghề mại dâm, để xác định đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, từ đó tạo cơ sở bảo vệ các đối tượng này trước các hành vi tình dục.
Việc quy định các hành vi có tính nguy hiểm trong luật hình sự là tội phạm là căn cứ pháp lýđểbảo vệ quyền con người sâu sắc và hiệu quả. Tuy nhiên, bởi vì việc chứng minh tội phạm trên thực tế là một trong những nội dung quan trọng trong công tác đấu tranh chống tội phạm tình dục để thực hiện bảo vệ quyền con người và đảm bảo công lý được thực thi, nên hoạt động quy định các hành vi tình dục là tội phạm
60 Tatjana Hörnle and Mordechai Kremnitzer (2011), “Human dignity as a protected interest in criminal law”, Israel Law Review, Vol.44, pp.143-167.
61 Xem, Sexuality and Human Rights, 2009. International Council on Human Rights Policy, tại http://www.ichrp.org/en/projects/137, truy cập ngày 25/12/2012.
không chỉ dừng lại ở việc xác định rõ những hành vi tình dục nào bị coi là tội phạm, mà còn thểhiện qua hoạt độngxây dựng các dấu hiệu pháp lý trong các yếu tốcấu thành tội phạm sao cho thuận lợi để chứng minh tội phạm trong quá trình tiến hànhtố
tụng. Đâycũng chính làmộtnội dung chính và là mục tiêu của hoạt động lập pháp nhằm bảo vệ quyền con người.
Vấn đề xây dựng các dấu hiệu trong cấu thành của các tội xâm phạm tình dục làmột phần công việc quan trọng trong hoạt động tội phạm hóa các hành vi tình dục đểbảo vệ quyền con người. Hoạt động bảo vệ quyền con người chỉ được coi là hiệu quả“khi tội phạm hóa phải bảo đảm hành vi dự kiến quy định là tội phạm có thể chứng minh được về mặt tố tụng. Yêu cầu chứng minh được về mặt tố tụng cũng làmột điều kiện cần thiết đểbảo vệquyền con người”62. Đểđạt được sựthực thi trong các quyđịnh về tội phạm, trong quá trình tiến hành hoạt động tội phạm hóa cần dựa trên Các nguyên tắc định hướngcho việc cải cách tư pháp hình sự, mà các văn kiện quốc tếđưa ra đểđảmbảo chất lượng của tư pháp hình sựvàđã được khuyến nghị là các nguyên tắc này cần được lưu ý trong quá trình rà soát BLHS và Bộ Luật Tố tụng hình sự. Nguyên tắcđầu tiên cần lưu ý,đó là nguyên tắc “Tập trung vào nạn nhân”. Nguyên tắcnày có nộidung cụthểnhư sau: Cách tiếp cận lấynạn nhân làm trung tâm là trái ngược với cách lấy hệ thống làm trung tâm, mà sẽ đặt nhu cầu của các nạn nhân là trọng tâm của các can thiệp hình sự. Điều này có nghĩa là, khung pháp luật hình sự cần phải được thiết kế để bảo vệ, hỗ trợ và trao quyền cho nạn nhân, ưu tiên các vấn đề an toàn về thể chất và tâm lý cho họ. Phương pháp tiếp cận nạn nhân làm trung tâmđã chuyển trọng tâm sang hỗtrợnạn nhân khi tham gia vào quá trình tưpháp hình sự,thay vì yêucầuhọphải có trách nhiệm hợp tác với hệthống tư pháp hình sự. Các quy định của pháp luật không được dung túng cho bạo lực, phản ứng thụđộng củaxã hội cũng nhưđổlỗi chonạnnhân và thừa nhận các tội phạm này, với những đặc tính riêng biệt, tác động lên tâm lý của nạn nhân. Nhưvậy, với đặc điểm đặc thù là chống lại các hành vi tình dục có tính nguy hiểm xâm hại đến các nhu cầu về đảm bảo an ninh cá nhân của các nạn nhân, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho
62 Nguyễn Ngọc Chí, Tlđd tr53
quá trình theo đuổi công lý, khôi phục lại các quyền đã bị xâm phạm, và tránh nguy cơ “nạn nhân hóa” lần thứ hai, thì quá trình tội phạm hóa thông qua việc xây dựng, mô tảcác dấu hiệu pháp lý của các tội phạm tình dục phải tránh làm khó cho nạn nhân, không đặt gánh nặng chứng minh tội phạm lên nạn nhân63.
Vấn đề phi tội phạm hóa là nội dung quan trọng thứ hai nhằm tăng chất lượng của hoạtđộng bảo vệquyền con người thông qua hoạtđộnglập pháp về các tội xâm phạm tình dục. Phitộiphạm hóa cáctộiphạm là việc loạibỏ hành vibị coi là tội phạm trong BLHS mà không còn nguy hiểm cho xã hội và không cần xử lý bằng biện pháp trách nhiệm hìnhsựhoặc loại bỏ ra khỏi BLHS những hành vi tội phạm hay chế
tài (hình phạt–biện pháp)đãcản trở việc thực hiện (hay cơ hội, hoàn cảnh thụhưởng) quyền con người của các cá nhân trong xã hội. Tội phạm hóa và phi tội phạm hóa là hai quá trình trái ngược nhau nhưngđều cómốiquanhệchặt chẽ và tác động tương hỗlẫnnhau trong quá trình xây dựng luật, nhằm tôn trọng nguyên tắc pháp chế, tôn trọng và bảo vệ các quyền con người theo chuẩn mực tốiquốc tế đã được thừa nhận chung.
Bản chất của quá phi tội phạm hóa các tội xâm phạm tình dục được hiểu là loại trừkhỏi BLHS một hành vi tộiphạm cụ thể mà ở thời điểm hiện tạihoặc trong tương lai, nó gây nên sự khó khăn cho con người thực hiện quyền tự do tình dục.Điềunàyđược hiểu là, việc loại bỏ các hành vi đangbịcoi là tội phạm đó, sẽlà sựcông nhận của pháp luậtsựkhông cấm đoán việc thực hiện hành viđónữa, bởi vì việc thực hiện hành vinày là đểthỏa mãn nhucầuhưởngthụ chính đáng về quyền con người. Tuy nhiên, sựghi nhận việc không cấm đoán này, không hoàn toàn đồng nghĩa với việc cho phép các chủ thể nhân danh việchưởngthụ các quyền con người để thực hiện hành vi xâm phạm lên các chủthểcon người khác. Bởivì, pháp luật bảo vệ quyền con người một cách bình đẳng trên mọi chủ thể và quy định: “Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và
lợi ích hợp pháp của người khác”64.
63 Eileen Skinnider và Đào Lệ Thu, Báo cáo rà soát CEDAW và BLHS, BLTTHS của Việt Nam- Tlđd; tr11 64 khoản 2 Điều 15 Hiến pháp năm 2013
Tựuchung lại, hoạt động bảo vệ quyền con người bằng quyđịnh về tội phạm tình dục còn thông qua hoạt động phi tội phạm hóa, đó là đảm bảo rằng những hành vi nào trong BLHS đang bị quy định là tội phạm và việc quy định đó làm ngăn cản sựthực hiện tựnhiên các quyền con người, thì cần phải đượcloại bỏđể tạo điềukiện cho chủ thể thực hiện các quyền của mình mà khôngbịáp dụng biện pháp chịu trách nhiệm hình sự nào.
1.3.2. Hình sự hoá, phi hình sự hoá các tội xâm phạm tình dục
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG QUY ĐỊNH VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục theo luật hình sự Việt Nam Bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục theo luật hình sự Việt Nam Bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục theo luật hình sự Việt Nam Bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục theo luật hình sự Việt Nam Bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục theo luật hình sự Việt Nam Bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục theo luật hình sự Việt Nam Bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục theo luật hình sự Việt Nam Bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục theo luật hình sự Việt Nam Bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục theo luật hình sự Việt Nam Bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục theo luật hình sự Việt Nam Bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục theo luật hình sự Việt Nam Bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục theo luật hình sự Việt Nam Bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục theo luật hình sự Việt Nam

