Bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử của TAND ở Việt Nam hiện nay
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, công lý đã từng bước được khẳng định và chiếm một vị trí trọng yếu, thiêng liêng trongđờisống chính trị – pháp lý – xã hội của Việt Nam. Qua các văn kiện quan trọng của Đảng, quyđịnhcủapháp luật và hoạtđộng của Nhà nước, Đảng và Nhà nước ta đãtừngbướckhẳngđịnhvai tròcủacông lýtrong công cuộc CCTP vàđếnnay đã xácđịnh,TAND thực hiện quyền tư pháp cónhiệmvụbảovệcông lý là một trong những phương thức quan trọng, hữu hiệuđểbảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độXHCN, lợi ích của Nhànước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Nghị quyếtsố49-NQ/TW ngày 02/6/2005củaBộChínhtrịvềChiếnlược CCTP đến năm 2020đãkhẳngđịnh,công lý vừa làmụctiêu, vừa làđộnglực, vừa lànhiệmvụcủahoạtđộng tưpháp:“Các cơ quan tư pháp phải thậtsựlàchỗdựacủa
nhân dân trong việcbảovệcông lý, quyền conngười…”;“xây dựngnềntư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh,bảovệcông lý, từngbước hiệnđại,
phụcvụnhân dân, phụngsựTổquốc Việt NamXHCN…”;“đổimớithủtụchành chính trong các cơ quan tư pháp nhằmtạođiều kiệnthuậnlợicho người dân tiếp cận công lý”;“bồidưỡngcánbộtư pháp,bổtrợtư pháp theohướngcập nhật các kiến thứcmới vềchính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, cókỹnăng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm chất,đạođứctrong sạch, dũngcảmđấutranh vì công lý, bảo vệphápchếXHCN”.
Văn kiệnĐại hộiĐảnglầnthứXI năm 2011 tiếptụckhẳngđịnh:“Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược CCTPđếnnăm 2020, xây dựnghệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người”. ĐếnVăn kiệnĐạihội Đảng lầnthứXII năm 2016, Đảng vẫntiếp tục khẳngđịnh mục tiêu chiến lược là xây dựng nền tư pháp “trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh,
từng bước hiện đại; bảo vệ pháp luật, công lý, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổchức và cá nhân”.
Ghi nhận những giátrịcủacông lý vàthểchếhóa các văn kiện nêu trên, lầnđầu tiên trong lịchsửlập hiến Việt Nam, sau 4 bản Hiến pháp: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992(được sửa đổi, bổ sung năm 2001), Hiến pháp năm 2013được Quốchộikhóa XIII thông qua ngày
28/11/2013,đãkhẳngđịnhmộtcách mạnhmẽ,bảovệcông lý là nhiệmvụcơ bản, quan trọng,gắnvớiTAND – cơ quan xétxửthực hiện quyền tư phápcủaViệt Nam:
“TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệchế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.
Trong hoạt động tư pháp, Tòa án là trung tâm, là cơ quan tư pháp đưa ra phán quyết cuối cùng giải quyết các cáo buộc và tranh chấp pháp lý; các cơ quan khác như
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Thi hành án… là những cơ quan trong hệ thống tưpháp. Nghị quyết số 49-NQ/TW cũng đã chỉ rõ: “Trong công tác tư pháp, Tòa án cóvị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm”. Cóthể nói, trọng trách bảo vệ công lý của TAND được tập trung vào hoạt động xét xử.
Việc hiếnđịnhnói trên đã đánh dấu một bước phát triển to lớn trong nhận thức của Đảng và Nhà nước về tầm quan trọng của công lý và vị trí, vai trò của TAND trong việc bảo vệ công lý trong đời sống chính trị – pháp lý – xã hội tại Việt Nam. Qua đó cũng đặt ra những câu hỏi về lý luận và thực tiễn mang tính cấp thiết: Công lý là gì? Tòa án bảo vệ công lý nhưthếnào? Cho đến nay, trên diễn đàn khoa học pháp lý của Việt Nam vẫn còn thiếu vắng những công trình nghiên cứu cặn kẽ, đầyđủ về công lý, về bảo vệ công lý gắn với chức năng xét xử của TAND, đặc biệt trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay ở Việt Nam.
Chính vì lẽ đó, tác giả đã chọn vấn đề “Bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử của TAND ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ luật học với mong muốn góp phần làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận án là phân tích các vấn đề lý luận và thực trạng về bảo vệ công lý trong hoạt động xét xửcủaTAND ở Việt Nam hiện nay, từđóđềxuất các giải pháp giúp cho TAND thực hiện tốt nhiệm vụ xét xử bảo vệ công lý trong thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra cho Luận án là:
Thứ nhất, tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quanđến đề tài để xác định những kết quả nghiên cứu đã đạt được và chưa đạt được, từđóđề ra giả thuyết khoa học và các câu hỏi nghiên cứu để giải quyết đề tài;
Thứ hai, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về công lý: Khái niệm, đặc điểm, nội dung của công lý; phương thức thực hiện công lý; các loại công lý;
Thứ ba, làm sáng tỏvấn đề lýluận về bảovệ công lý trong hoạt động xét xửcủa TAND: Khái niệm, đặc điểm, nội dung của hoạt động xét xử; khái niệm, đặcđiểm, nội dung, phương thức bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử; các điều kiện đảm bảo công lý trong hoạt động xét xử của TAND;
Thứ tư, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn bảo vệ công lýtrong hoạt động xét xử của TAND hiện nay;
Thứ năm, đề ra những quan điểm và giải pháp bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử của TAND trong thời gian tới.
3. Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 3.1. Phạm vi nghiên cứu
Vềnộidung: Luận án nghiêncứuởgóc độlý luận chungvềnhànướcvà pháp luật, liên quan đến tổ chức và hoạt động của TAND, không đề cập đến Tòa án quân sự.
Về không gian: Luận án nghiêncứu vấnđề ở Việt Nam; có tham khảo chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
Về thời gian: Luận án chủ yếu tập trung vào giai đoạn gần đây, kể từ sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành cho đến nay.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượngnghiên cứu của Luận án bao gồm: Những tư tưởng, học thuyết, lý luận vềcông lý,vềnhà nước và pháp luật, về hoạt động bảo vệ công lý của Tòa án; thực trạngvềpháp luật liên quan đến hoạt động bảovệcông lýcủaTAND; thực tiễn công tácbảovệ công lý trong hoạtđộngxétxửcủa TAND kể từ sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành; và các quan điểm, giải pháp giúp ích cho việc xét xử bảo vệ công lý của TAND.
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đềtài được nghiên cứu trên cơsởphương pháp luận củachủnghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng và Nhà nước về công cuộc đổi mới toàn diện đấtnước,vềđổi mới tổchức và hoạt độngcủanhànước vàpháp luật theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, về CCTP, vềhộinhập quốctế,tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng tinh hoa của nhân loại phù hợp với điều kiện truyền thống văn hóa của Việt Nam.
Trên cơsởchủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, nghiên cứu đề tàisẽ kết hợp nhiều phương pháp như hồi cứu tài liệu, phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, lịch sử, hệ thống… để thực hiện đề tài. Cụ thể:
– Phương pháp hồi cứu tài liệu được sử dụng để tập hợp các tài liệu, công trình
nghiên cứu trong nước và ngoài nước từ các nguồn khác nhau có liên quan đến đề tài. Phương pháp này chủ yếu được sử dụng để viết Chương tổng quan;
– Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu để làm rõ các vấn đề từ lý luận, thực trạng đến các giải pháp;
– Phương pháp so sánh, suy luận lô-gíchđượcsửdụng nhằm lý giải các vấnđề lý luận, giúp cho mỗi vấn đềđược nhìn nhận từnhiều góc độ khác nhau, phục vụcho việc tìm ra chân lý để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu;
– Phương pháp phân tích số liệu thống kê đượcsửdụng để chứng minh những hạn chế trong thực tiễn xét xửcủa Tòa án, cũng nhưđể tăng tính thuyết phục cho những luận điểm mà nghiên cứu đưa ra;
– Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu quá trình phát triển của các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của Tòa án khi nghiên cứu về thực trạng;
– Phương pháp mô tả và phân tích quy phạm được sử dụng trong quá trình làm rõ những hạn chế của pháp luật liên quan đến thực trạng và đề ra các giải pháp pháp lý.
– Phương pháp phân tích dự báo khoa học nhằm dự báo xu hướng phát triển của nhu cầu xã hội về bảo vệ Hiến pháp, về tăng cường tính độc lập của Tòa án, về thời hạn lâu dài của nhiệm kỳ Thẩm phán, về nhu cầu xã hội đối với hoạt động của
Luật sư…
Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp khác như tham khảo các chuyên gia, phương pháp hệ thống để xâu chuỗi, sắp xếp các thông tin thành một chỉnh thể thống nhất, sử dụng kết quả điều tra xã hội học của các công trình nghiên cứu có liên quan để đánh giá về ý thức pháp luật khi nghiên cứu về phần
thực trạng…
5. Đóng góp mới về khoa học của Luận án
Luận án là công trình khoa học đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ luật học nghiên cứu chuyên sâuvề vấn đề bảo vệ cônglý trong hoạt động xét xử của TAND ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở kế thừa những thành quả của các công trình nghiên cứu trướcđây, Luận án có những đóng góp mới như sau:
Thứ nhất, Luận án đã nhận diện, đánh giá tương đối khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu chủ yếu ở Việt Nam và sơ lược ở nước ngoài có liên quan đến những vấn đề lý luận, thực trạng và giải pháp về bảo vệ công lý trong hoạt động xét xửcủa TAND. Từđó, xác định được những nộidung cần kế thừa, phát triển và những vấn đềcầnphải tiếptụcnghiên cứu; đưa ragiảthuyết khoa học và câu hỏi nghiên cứuđể thực hiện nhiệm vụ của đề tài Luận án.
Thứ hai, Luận án đã làm rõ các vấn đề lý luận về công lý và bảo vệ công lýtrên các mặt: Khái niệm, nội dung, đặc điểm, phương thức thực hiện công lý; khái niệm, đặc điểm, nộidung, phương thức bảo vệ công lý trong hoạt động xétxửcủa TAND và những điều kiện đảm bảo công lý trong hoạt động xét xử của TAND.
Thứ ba, Luận án đã khái quát thực trạng pháp luật về tổ chức và hoạt động của TAND trong việc thực hiện nhiệmvụ bảovệ công lýtừnăm 1945 cho đến nay;đánh giá thực tiễn, xácđịnhnhững thành tựu và hạn chế, phân tích những nguyên nhân hạn chế chủ yếu trong việc bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử của TAND kể từ sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành.
Thứ tư, Luận án đã đề xuất một số quan điểm, giải pháp chủ yếu để giúp cho TAND thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ công lý trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án
Kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ bổ sung vào hệ thống tri thức khoa học pháp lý về cônglý, về bảo vệcông lý tronghoạt độngxétxửcủaTAND; có giátrịtham khảo trong lĩnh vực nghiên cứu và trong thực tiễn xét xử ở Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của Luận án
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục các bài báo khoa học được công bố và Phụ lục, kết cấu nội dung của Luận án gồm 05 Chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Chương 2: Những vấn đề lý luận về công lý.
Chương 3: Những vấn đề lý luận về bảo vệ công lý trong hoạt động xét xửcủa Tòa án nhân dân.
Chương 4: Thực trạng pháp luật và thực tiễn bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân hiện nay.
Chương 5: Quan điểm, giải phápbảo vệcông lý trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân.

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu liên quan đếnđềtài “Bảovệcông lý trong hoạt động xét xử của TAND hiện nay”có thể đượcphân thành các nhóm sau đây:
1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đếnvấnđềlý luận về công lý và bảo vệ công lý của Tòa án
1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động xét xử của Tòa án gắn với nhiệm vụ bảo vệ công lý về phương diện lý luận và thực tiễn
1.1.3. Nhóm công trình nghiên cứu về phương hướng đổi mới tổ chức vàhoạt động của Tòa án nhân dân có liên quan đến vấn đề về quan điểm, giải pháp bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2.1. Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về công lý
1.2.2. Nhóm công trình nghiêncứuvềhoạtđộngbảovệ công lý của Tòaán
1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.3.1. Những kết quả nghiên cứu cần kế thừa và tiếp tục phát triển
Về công lý, các công trình nghiên cứu ở trong nước đã có những phân tích khái quát bước đầu và có đưa ra một số khái niệm về công lý. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài thì có nhiều phân tích sâu sắc hơn ở cácgóc độkhác nhau như: Tốiđa hóa lợi ích, đảm bảo quyềntựdo,hướng đến giá trị tốtđẹp,sựthật khách quan
của vụviệc, công lý nội dung, cônglý thủ tục… Tấtcả những kết quả nghiêncứu đó đều có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phân tích làm rõ khái niệm, nội dung, đặcđiểm, phương thức thực hiện công lý mà Luận án cần giải quyết.
Về lýluận và thực tiễn của hoạt động xétxửbảo vệcông lý, các công trình nghiên cứu ở trong nước đã làm sáng tỏ những vấn đề quan trọng có liên quan đến đềtài như: Vai tròcủaquyền tư pháp trong hệ thống quyền lực nhà nước và bộ máy nhànước; hoạt động xét xửlà hoạt độngáp dụng pháp luật, gồm hoạtđộng đánh giáchứng cứ, lựa chọn QPPL, ban hành phán quyết, tuân thủ thủ tục tố tụng; điều kiệnđể bảo vệ công lýlà phải đảm bảođộc lập tưpháp, sự lãnhđạo đúngđắn của Đảng,
pháp luật hoàn thiện… Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài cũng có
rất nhiều phân tích sâu sắc về vai trò, vị thế độc lập của Tòa án trong việc bảo vệ công lý theo góc độ lý luận và thực tiễn của nước ngoài. Các kết quả nghiên cứu đó đều là những nội dung quan trọng mà Luận áncầntiếp thu, tiếptụclàmrõ đểgiải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn mà nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra.
Về phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, các công trình nghiên cứu ở trong nước đã có những quan điểm và đề xuất quan trọng nhưđổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, thành lập Tòa án Hiến pháp, tăng cường tính độc
lập cho Tòa án, kéo dài nhiệm kỳ của Thẩm phán…; và cùng với những kết quảnghiên cứu kinh nghiệm ở nước ngoài, tất cảđềulà nhữnggợiý quan trọng trong việc nghiên cứu các giải pháp mà nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra.
1.3.2. Những vấn đề cần phải được tiếp tục nghiên cứu
Đến nay, các công trình nghiên cứu ở trong nước chỉ mới đề cập đến nội dung của đềtài ở nhiều góc độ, nhiều phần khác nhau mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trực diện, hệ thống; ở nước ngoài, tuy có một số nghiên cứu có liên quan, nhưng cũng chỉ dừng ở góc độ lý luận và thực tiễn của nước ngoài; do đó vẫn còn những vấn đề lớn cần phải giải quyết, đó là:
– Hệ thống hóa lý luận về công lý: Khái niệm, đặc điểm, nội dung của công lý,
phương thức thực hiện công lý, bảo vệ công lý…;
– Hệ thống hóa lý luậnvề hoạtđộngbảo vệ công lý trong hoạt động xét xử của Tòa án:Nộidung bảo vệ công lý, phươngthức bảo vệcông lý,điềukiện đảmbảocho
hoạt động bảo vệ công lý của Tòa án…;
– Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn xét xử bảo vệ công lý của TAND hiện nay, nhất là sau khi có Hiến pháp năm 2013 và các luật cụ thể hóa ban hành;
– Các giải phápbảo vệcông lý trong hoạt động xétxửcủa TAND trong tình hình hiện nay.
1.4. Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 1.4.1. Giả thuyết nghiên cứu
Bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử của Tòa án là bảo vệ “hạt nhân hợp lý” của thuộc tính xã hội trong pháp luật do Tòa án chuyên trách thực hiện, để phán quyết của Tòa án có sức thuyết phục trong việc giải quyết các vụ việc tranh cãi pháp lý trong đời sống xã hội, qua đó giúp cho xã hội giữ vững trật tự, ổn định và phát triển bền vững.
1.4.2. Câu hỏi nghiên cứu
Để chứng minh giả thuyết trên, Luận ánđặtra vàsẽ trả lời những câu hỏi nghiên cứu sau đây:
– Công lý có khái niệm, đặc điểm và nội dung gì? Tại sao nói công lý là “hạt nhân hợp lý” của thuộc tính xã hội trong pháp luật? Tại sao phải bảo vệ công lý?
– Tại sao Tòa án là cơ quan chuyên trách bảo vệ công lý? Tòa án bảo vệ công lý nhằm mục đích gì? Bảo vệ công lý như thế nào? Nội dung, phương thức, điều kiện bảo vệ công lý ra sao?
– Bảo vệ công lý của TAND hiện nay được đánh giá trên thực tế như thế nào?
– Cần có giải pháp gì để bảo vệ công lý trong hoạt động xét xửcủa TAND trong tình hình hiện nay?
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua tổng quan tình hình nghiêncứucho thấy,vấnđềcông lý và bảo vệcông lý của Tòa án là những vấn đề quan trọngđược các học giảtrong và ngoài nước nghiên cứu, đề cập ở nhiều góc độ và phạm vi khác nhau. Ở Việt Nam, các công trình cũng đã phần nào làm rõ được các cơ sở lý luận về công lý, về lý luận và thực trạng xét xử dưới góc độ bảo vệ công lý; đã cósựthống nhất nhất định về các giải pháp giúp cho Tòa ánbảovệcông lýmộtcách hiệu quả; tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu vềđềtài một cách trực diện,hệthống.Ở nước ngoài, đã có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về công lý, về vai trò,vị thế
độc lập của Tòa án trong việc bảo vệ công lý…, tuy nhiên cũng chỉ dừng ở góc độ lý luận và thực tiễn của nước ngoài, cần phải tiếp thu có chọn lọc phù hợp vớiđiều kiệnở ViệtNam. Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Bảo vệ công lý trong hoạt động xét xửcủa TAND ở Việt Nam hiện nay” vẫn đang là nhiệm vụ khoa học cầnđược giảiquyết trong tình hình hiện nay.
Để thực hiện nhiệm vụnghiên cứu, Luận ánsẽ kế thừa hợplý và phát triển những giá trị khoa học đã đạt được, tiếp tục nghiên cứu để giải quyết những vấn đềcòn bỏ ngỏ về mặtlý luận và thực tiễn,từđó có thể đưa ra các giải pháp bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử của TAND trong thời gian tới.
CHƯƠNG 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG LÝ
2.1. Khái niệm công lý
Công lý về mặt ngữ nghĩa, thường được hiểu như sau: Công lý là cái lẽ phù hợp với đạo lí và lợi ích chung của xã hội [127,tr.202]; là sự nhận biết đúng đắn và tôn trọng theo lẽ phải các quyền lợi chính đáng củamọingười[121,tr.210]. Công lýlà sựcông bằng hay chính nghĩa, sự đúng đắn, lẽ phải, thường được dùng trong đời sống pháp lý và đặc biệt là trong hoạt động tư pháp [39,tr.217]. Công lý là sự nhận thức đúngđắnvà hành động đúng vì chân lý, vì công bằng và lẽ phải, phù hợp với lợiích chung với đạo lý của nhân dân được xã hội và pháp luật thừa nhận [72,t.1,tr.513]. Công lý làsựcông bằng, sựđúng đắn, lẽphải; ban hành công lý là việc Tòa án xácđịnh điều đúng, điều sai trong một vụ việc nhằm thiết lập lại sự công bằng
[89,tr.494].…
Trong ngôn ngữtiếng Anh, từ“justice”, được dịch là “công lý” chứa nhiều nghĩa: Là phẩm chất vô tư hoặc không thiên vị (the quality of being just or fair); là phán quyết xác định về quyền, thưởng và phạt (judgment involved in the determination of rights and the assignment of rewards and punishments); là thẩm quyền phán xét những vấn đề trước Tòa án (a public official authorized to decide questions brought before a court of justice); là phù hợp với những quy tắc ngay thẳng và chính trực trong mọi việc (conformity to the principles of righteousness and rectitude in all things); là thi hành nghiêm túc về các nghĩa vụ đạo đức (strict performance of moral obligations); là phù hợp thực tế đối với con người và quy tắc thiêng liêng (practical conformity to human or divine law); chính trực trong xửthế
(integrity in the dealings of men with each other)… [152].
Luận giải về công lý, các học giả nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau, nhưng nhìn chung có thể phân chúng thuộc về hai góc độ tiếp cận cơ bản sauđây: Gócđộtiếp cận công lý là công bằng và góc độ tiếp cậncông lý là nhữnglẽchung đúng đắn.
Ở gócđộ thứnhất, công lý là công bằng. Trong tác phẩmTừđiển triết học giản yếu, học giả Hữu Ngọc, Dương Phú Hiệp và Lê Hữu Tầng đã định nghĩa công lý và công bằng như sau: “Phạm trù đạo đức học và pháp luật, đánh giá những quan hệ và hành động xã hội với quan niệm là mỗi người đều bình đẳng. Công bằng cómột vai trò quan trọng trong ý thức quần chúng. Nội dung của công bằng không cótính chất chung chung, bất di bất dịch, phi thời gian – nó thay đổi theo lịch sử, phản
ánh hoàn cảnh kinh tế – xã hội nhất định và sự đánh giá về mặt đạo đức của từng giai
cấp theo quyền lợi của mình… Trên cơ sở quan hệ kinh tế, xã hội và chính trị của CNXH, khái niệm công bằng mang một nội dung mới:Tấtcảmọingười đềucóthểtrong thực tế, phát triển như nhau nhân cách, tài năng, khả năng và đều có nhiệm vụhoạt động vì lợi ích tập thể, xã hội. Nguyên tắc “mỗi người làm theo năng lực, hưởng
theo laođộng” được thực hiện…chỉkhi nào tới chủ nghĩa cộngsảnthì mới thực hiệnđược nguyên tắc “mỗi người làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu” [91,tr.97,98].
Hoặc trong Từđiển xãhội học Oxford, mục từ “justice, social”được dịch là“công bằng xã hội” định nghĩa như sau:“Người ta thường phân biệt giữa công lý
hình thức (tức là luật pháp) và công lý vật chất (đạođức và chính trị)… Họcho rằng vì công lý về luật pháp hay công lý đối với tội ác quan tâm đến việc sắp xếp các hình phạt tương xứng với tội lỗi nên nó có nhiều điểm chung với công bằng xã hội, là khái niệm liên quan đến việc phân chia các nguồn lợi (và cả nhữngđiềuhại) khan hiếm cho một khối dân cư: Cả hai đều dựa trêntiền đề vềtư tưởng ơn đền oán trả, vô tưkhông thiên vị và phân phối theo một tiêu chí thích hợp. Trong tài liệu trước kia thường phân biệt giữa công bằng xã hội hay thường gọi công bằng “phân phối” và công bằng thưởng phạt. Công bằng thưởng phạt nói rằng tội lỗi cần phải bị trừng phạt đơn giản là vì những điều sai trái như vậy cần phải bị trừng phạt,bất kể kết quả của việc làm đó có ngăn chặnđược nhữngtội lỗitiếp theo hay không, hay có đóng
góp gì cho lợi ích xã hội hay không… Trong sách báo tâm lý học, đôi khi người ta đưa ra sự phân biệt 5 tầng: (1). Sự ngang bằng, hay trao đổi công bằng. Ở đây, công lý được định nghĩa như là sự ngang bằng trong tỉ lệ bỏ ra và thu vào của tất cả những bên tham gia trao đổi. (2). Công lý phân phối hay sự phân chia công bằng, bao gồm sự phân phối nguồn lực một chiều đối với các quyền lợi, bổn phận hay bất kỳ thứ gìkhác trong toàn bộ nhóm người được nhận. (3). Công lýthủtục, hay các thủ tục và cơ chế công bằng cho mọi người, nhưng thừa nhận rằngmộtquy trình thủtụccông bằng vàđược mọingười đồngý. Tuy vậy cũng cóthể dẫn đến một sự phânphối các kết quả mà một số người có thể coi là bất công. (4). Công lý thưởng phạt hay sự bồi hoàn công bằng, liên quan đến sự công bằng trong việc chỉ định các hình thức trừng phạt hay mức bồi thường do bị là nạn nhân. (5). Công lý với tư cách là bình đẳng, đócó thể là bình đẳng về cơ hội, bình đẳng về kết quả khách quan, bình đẳng chủ quan (bình đẳng về kết quả có tính đến nhu cầu hay giá trị công lao), bình đẳng về vị trí, cấp bậc (trong đó các phần thưởng được phân phối theo những kỳ vọng chuẩn mựcđể tránhcảmthấybị bất công), hay ngang bằng (bình đẳng liên quan đếnnhữngđóng góp cá nhân)” [111,tr.107-117].
Ở góc độ thứhai, công lý là những lẽ chung đúng đắn như: Chân lý, lẽ phải,
đạo lý, chuẩn mực đạođức, lương tri, lẽ công bằng, lợi ích chung, quyền con người… Theo GS.TS Nguyễn Đăng Dung định nghĩa:“Công lý là các chuẩnmực đạo đức xã hội mà pháp luật có nhiệm vụ duy trì và bảo vệ”, “biểu hiện của công lý chính là sựcông bằng, khách quan, vô tư và tình người” [57,tr.91]. Theo PGS.TS Nguyễn Thanh Tuấn định nghĩa:“Công lý chính làsự nhậnthức đúng và hành động đúng vì chân lý, vì công bằng vàđạođức trong quyền là người – làmngười củamọingười (và đương nhiên của mỗi người), và được xã hội cũng như pháp luật thừa nhận. Từ đó, có thểquan niệm về bảo đảm công lý trong thể chế pháp quyền, là toàn bộ hoạt động kiểm tra, giám sát, phán quyết, trước hết và chủ yếu của các cơ quan nhà nước, nhằm bảođảm vị trí, vai trò tối thượng và tính bình đẳng của pháp luật trong thể chế pháp quyền, và bảo đảm các quyền con người được ghi nhận trong pháp luật” [116]. Theo ThS. Nguyễn Xuân Tùng định nghĩa:“Công lý là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp và lịch sử, là phẩm hạnh xã hội mang tính chính trị sâu sắc, là giá trị giúp mỗi thành viên xã hội không làm phương hại đến người khác và là căn cứ để Tòa án giải quyết các xung đột, tranh chấp, vi phạm trên cơ sở đạo lý, lẽ phải, lẽ công bằng,
qua đó, tạo dựng sự đồng thuận, ổn định và trật tự xã hội” [117]…
Nhìnvềlịchsửtư tưởng, cáchọcgiảnghiên cứu cũngđãđưa ra những quan niệm khác nhauvềcông lý xoay quanh hai góc độ tiếpcậncơbảnnêu trên.
Ở phương Đông, Khổng Tử (551-479 trước Công nguyên), Lão Tử (khoảng thế kỷ VI trước Công nguyên) và Hàn PhiTử(280-233 trước Công nguyên) ở Trung Quốc, đã có những quan niệmnổitiếng về công lý. Khổng Tử đưa ra quan niệmvềquan hệ “Tam cương”, vua-tôi, cha-con, chồng-vợ, được sắp xếp theo tôn ty trật tựtrên-dưới, là những quan hệ nền tảng để xây dựng và đánh giá một xã hội. Khổng Tửcho rằng việc rèn luyện đạo đức xoay quanh chuẩn mực gốc là “Nhân” là phương thức chủ yếu để xây dựng một xã hội lý tưởng. Lão Tử đề cao tưtưởng “Vô vi”, điều hòa mâu thuẫn, hành động theo bản tính tự nhiên của “Đạo”, là nguyên lý vận hành của mọi hiện hữu, để xây dựng một xã hội “người thuận theo đất, đất thuận theo trời, trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên”. Hàn Phi Tử cho rằng, tính khách quan và uy lực của những lực lượng khách quan được gọi là “lý” là cái chi phối quyết định mọi sựvận động của tựnhiên và xã hội. Hàn Phi Tử cho rằng, bản tính con người là“ác” nên phải đề caosựcai trị xã hội bằng pháp luật, pháp luật chứa đựng công lý khi nó bảo vệ, bênh vực kẻ yếu.
Ở phương Tây, Platon (429-347 trước Công nguyên) người Hy Lạp, tại chuyên luận vềchếđộthành bang “Nềncộng hòa”, đãcho rằng công lý làmộthìnhthức đạo
đức phổ biến mà ai cũng phải tuân thủ.Nộidung cốt lõi của công lý là hoàn lại cái mà họ có quyền được hưởng, là mệnh lệnh để ngăn chặn việc chiếm đoạt thứ thuộc về người khác hoặc ngăn chặn việc chiếm đoạtthứthuộc về mình. Công lý có thiên chức là nuôi dưỡng,bồi đắpmộttrậttựnội tạitrong mỗi cá nhân mà ở đó nguyên tắc của lẽ phải và sựkhôn ngoan phải đứng trên mọi cảm xúc của con người. Công lý không có chức năng gây tổnhạicho bất cứ ai theo kiểu báo thù mà công lý phải mang
lại ích lợi cho tất cả các bên, giúp tâm trí của các bên đến gần và phù hợp với nhau hơn. Trong một thành bang lý tưởng, có bốn phẩm hạnh cơ bản – sự khôn ngoan, quảcảm, tiết độ và công lý, trong đó công lý là yếu tố nuôi dưỡng, giúp cho ba phẩm hạnh trước phát triển, giúp các cá nhân, tầng lớp trong xã hội tự tiết chế và làm đúng vai trò, bổn phận của mình, không can thiệp vào công việc của cá nhân, tầng lớp khác
[27],[117].
Aristote (384-322 trước Công nguyên) người Hy Lạp, trong tácphẩm “Đạođức học” và “Thuật hùng biện”, đã quan niệm công lý là cho mọi người những gì màhọ xứng đáng, trao cho mỗi ngườicái họ đáng được hưởng.Công lý có tính mục đích luận và có tính tôn vinh sâu sắc [86,tr.277]. Theo Aristote, công lý được chia thành “công lý cải tạo” là nơi mà Toà án sửa chữa lỗi lầm do một bên vi phạm đối với bên kia và“cônglý phânphối” làcáchthức xửsự công bằng với mỗi người, đúng theo những gì mà người đó xứng đáng. Công lý cải tạo không chỉ bao gồm việc báo thù, việc trừng phạt mà cần phải thu hồi những lợiích có đượcdo vi phạm. Còn công lýphân phối chính là mối quan tâm chủ yếu của các nhà lập pháp. Aristote cho rằng luật pháp và công lý là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất, thậm chí, trong một số xã hội, luật pháp đôi khi đi chệch hướng hoặc đối nghịch với công lý [117]. Cicero (106-43 trước Công nguyên), người La Mã, trong tác phẩm “Nghĩa vụ”
(De officiis), đã cho rằng công lý là phẩm hạnh giữ cho mỗi thành viên xã hội gắn kết chặt chẽ vì lợi ích chung của toàn xã hội. Công lý cần được bổ sung, kết hợp với lòng khoan dung, vì nếu không có lòng khoan dung, công lý sẽ là một phẩm hạnh lạnh lẽo và hạn chế. Theo Cicero, nhiệm vụ đầu tiên của công lý là nhằm tiết chế, giữcho mỗi thành viên của xã hội không làm hại người khác. Cicero không đồng ý với quan niệm kiểu “ăn miếng trả miếng”, “răng đền răng, mắt đền mắt”, “có đi, có lại”; công lý yêu cầu mỗi con người đối xửmộtcách công bằng với người khác, kểcảtrong trường hợp người khácđối xửkhông công bằngvớibản thân. Cicero cho rằng việc hàn gắn những quan hệ xã hội rạn nứt thông qua giáo dục và cưxửvới nhau sẽquan trọng và ý nghĩa hơn việc báo thù [117].
Thomas Aquinas (1225-1274) người Ý, cho rằng công lý là một phẩm hạnh giúp mỗi người được hưởng những gì mà họ xứng đáng. Quyền là cái có trước, công lý là điều xuất hiện sau. Khi các quyền được công nhận, công lý sẽ xuất hiện nếu các quyền bị vi phạm. Công lý chính là nghĩa vụ với người khác. Công lý có vị trí đạođức cao nhất theo thứ tự – công lý, sự ngoan cường và sự tiết chế. Công lý có chức năng định hướng trong mối quan hệ giữa người với người, và được coi là học thuyết
về sự phát triển mối quan hệ cộng tác giữa con người với nhau [117],[137]…
Đến thời kỳ hiệnđại với sựra đờicủa họcthuyết pháp luật tự nhiên, công lýđượcquan niệmgắnvới những quyền màtạohoá ban cho con người; là yêu cầu, đòi hỏimỗicá nhân hoặctổchứcđượchưởngnhững gì màhọxứng đáng. Không có công lý thìsẽkhông có nhữngđạoluật khách quan vàhệquảlà các cá nhânsẽlệthuộc vào kẻcai trị. C.Mác đã nhận xét về học thuyết pháp luật tựnhiên là “đã xem xét nhànước bằng đôi mắt người” [41,t.1,tr.153], “học thuyết về pháp lýtựnhiên đã đóng vai trò tiến bộ to lớn trong việc phát triển tư tưởng chính trị thời đó. Nó giải thoát học thuyết về nhà nước và pháp luật khỏi sự bảo hộ của thần học và phê phán một cách sâu sắc chế độ phong kiến. Tuyên bố chủ nghĩa phong kiến là phản tự nhiên, phi lý, trường phái pháp lý tự nhiên là nền tảng tư tưởng của các cuộc cách mạng tưsản” [96,tr.243].
Các đại biểu của truyền thống pháp luật tựnhiên như Hugo Grotius (1583- 1645), Lon Fuller (1902-1978) cho rằng tuy luật pháp và công lý có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng chúng lại không hoàn toàn đồng nhất. Luật pháp phải phục vụcông lý để giúp tạo dựng sự bình yên và bảo vệ các quyền cá nhân của con người trước sựvi phạm. Luật pháp không dựa trên các giá trị cơ bản của công lý sẽ trở lên tàn bạo, hà khắc. Do đó, ngoài việc thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị, luật pháp cần phải phản ánh được đầy đủ nhu cầu, lợi ích của toàn xã hội, phải “vang vọng tiếng dân” và phải chuyển tải đầy đủ những giá trị tiến bộ của lương tri, đạođức, các giá trị nhân văn, nhân đạo, dân chủ, công lý, công bằng, lẽ phải, bảo đảm vàbảo vệ các quyền con người [117],[141]. Thời kỳ nàyphải kể đếnhai lý thuyết nổi tiếng về công lý là lý thuyết theo chủ nghĩa vị lợi của J.Bentham, J.S.Mill và lý thuyết theo chủ nghĩa tự do của I.Kant, J.Rawls.
Theo thuyết vị lợi, J.Bentham (1748-1832) cho rằng, việc đúng nên làm là bất kỳ việc gì tối đa hóa sự hữu ích. Hữu ích là bất kỳ điều gì tạo ra hạnh phúc và sự hạnh phúc, và bất kỳ điều gì ngăn cản đau khổ hoặc bất hạnh. Khi quyết định xem cần ban hành đạo luật hay chính sách nào, chính quyền nên cân nhắc điều gì làm toàn thể cộngđồng hạnh phúc nhất, hoặc là phải trả lời câu hỏi: Nếu chúng ta cộng tất cả những lợi
ích từ chính sách này và trừđi tất cảnhững phí tổn, chính sách nào sẽ tạo ra hạnh phúc nhiều hơn hay ít đau khổ hơn, đó chính là công lý. Theo đó, Bentham tuyên bố mỗi lập luận đạođức phải hoàn toàn dựa trên ý tưởng đem lại hạnh phúc tối đa, đây là tiền đề duy nhất, khởi điểm duy nhất cho tất cả lập luận về đạo đức và về công lý
[86,tr.51-53],[134].
J.S.Mill (1806-1873) đã bổ sung những giá trị nhân văn vào học thuyết Bentham, khắc phục tính đơn giản và trực quan cố hữu trong việc so đo tính toán thiệt hơn của học thuyết. Mill cũng cho rằng lợi ích là mục tiêu cuối cùng của tất cả các vấn đề đạo đức và công lý, tuy nhiên lợi ích phải là lợi ích trong phạm vi lớn nhất, căn cứ trên lợi ích vĩnh cửu của con người là một thực thể tiến bộ. Mill khẳng định, lý thuyết vềsựsống là nền tảng của lý thuyết này, cụ thể là hạnh phúc và khôngbịđau khổ là mục đích duy nhất đáng được khao khát. Và tất cả những thứđáng được khao khát là do hạnh phúc vốn có trong bản thân chúng hoặc do chúng là phương tiện để thúc đẩy hạnh phúc và ngăn ngừa sự đau khổ [86,tr.75,80],[136].
I.Kant (1724-1804) là người bác bỏ thuyết vị lợi và cho rằng đạo đức không phải là sự tối đa hóa hạnh phúc hay bất kỳ mục tiêu nào khác mà là sự tôn trọng con người và phẩm giá con người như những mục đích tự thân. Theo Kant, nguyên tắc vềhạnh phúc của thuyết vị lợi chẳng đóng góp chút nào vào việc xây dựng đạo đức, vì việc làm cho một người hạnh phúc rất khác với việc làm cho người đó tốt đẹp,vàviệc làm người đó có học thức hoặc giàu có hoàn toàn khác với việc làm người đó cóđức hạnh. Kant cho rằng tất cả mọi người xứng đáng được tôn trọng, không phải vìchúng ta sở hữu chính mình mà vì chúng ta là những con người có lý trí; chúng ta lànhững thực thểtựchủ, có khả năng tự do hànhđộng vàlựa chọn. Kant kết nốivấn đềđạo đức với tựdo. Kant cho rằng, hành động có đạo đức là hành động vì nghĩa vụ, vì
lợi ích của quy tắcđạođức. Quy tắc đạo đức đòi hỏi phải tôn trọng, đối xử với con người nhưmụcđích tự thân. Đây là quy tắc vôđiềukiện,bấtkểước vọng củachúng ta như thế nào. Chỉ khi hành động theo quy tắc đạo đức thì mới có hành động tự do. Kant còn khẳngđịnh,nỗ lực đặt nền tảngđạo đức hay công lý trên một số mối quan tâm hoặc mong muốn cụ thể (chẳng hạn như hạnh phúc hay lợi ích) sẽ hoàn toàn thất bại. Bởi những gìhọđạt được không phải là nghĩa vụ, mà chỉ làsựcần thiết phải hành động vì một số lợi ích [86,tr.172-183],[133].
Tiếp tục phát triển tư tưởng của I.Kant, J.Rawls (1921-2002), trong tác phẩm “Một lý thuyết công lý” (A theory of justice), Rawls đặt ra một tình huống tưởng tượng để hỏixem chúng ta sẽ chọn những nguyên tắc gì trong trạng thái bìnhđẳng
ban đầu, đằng sau “tấm màn vô minh” – tấm màn tưởng tượng ngăn không cho chúng ta biết ai là ai. Sau tấm màn, chúng ta không biết tầng lớp, giới tính, chủng tộc, dân tộc, chính kiến, tôn giáo, lợi thế hay bất lợi của bất kỳ ai, ngay cả bản thân chúng ta. Vậy chúng ta sẽ lựa chọn những nguyên tắcnào? Theo Rawls, chúng ta sẽ không chọn chủ nghĩavị lợi vìchúng ta không biết vị trí của mình trong xã hội, nhưng chúng ta thực sự biết rằng chúng ta muốn theođuổimục đích của bản thân và muốn được
đối xửvới sựtôn trọng. Trườnghợpchúng ta là thành viêncủamộtdân tộc hay một nhóm người thuộc tôn giáo thiểu số, chúng ta sẽ không muốn bị áp bức, thậm chí nếu điều này mang đến niềm vui cho đasố.Và khi “tấm màn vô minh” kéo lên và cuộc sống thực tế bắt đầu, chúng ta sẽ không muốn thấy mình là nạn nhân của sự đàn áp tôn giáo hay phân biệt chủng tộc. Để tự vệ chống lại những nguy cơ đó, chúng ta sẽ loại bỏ chủnghĩa vị lợi và đồng ý nguyên tắc bình đẳng về quyền tự do cơ bản cho tất cảmọi công dân. Chúng ta sẽ không hy sinh các quyền và tự do cơ bản vì lợi ích xã hội và kinh tế. Để đề phòng chúng ta rơi vào cảnh nghèo đói, chúng ta sẽ chỉ cho phép bất bình đẳng kinh tế và xã hội nào làm gia tăng lợi ích cho các thành viên kém may mắn nhất trong xã hội [86,tr.223-226], [135].
Ngày nay, các tư tưởng, học thuyết về công lý nêu trên đã và đangđược tiếp tục nghiên cứu, phát triển và ứng dụng sâu rộng. Trong lĩnh vực tư pháp, khoa học pháp lýcó sựphân biệt giữa “cônglý thủ tục” và “cônglý nội dung”. Cácthủtụctố
tụng là những cơ chế, côngcụxãhộigiúp các cá nhân tiếpcậnđượccông lý. Nếu các cơchếtốtụng khôngđủmạnh và hiệuquảthì cóthểlàm vô hiệu hoá quá trình thực thi các quyền cơbảncủacá nhân, là công lýnộidung. Trong lĩnhvựctốtụng, lýthuyết tìm kiếmsựthật (The truth-finding theory) cũngđượcbổsung vàonộihàm công lý khi cho rằngsựthật khách quancủavụviệc cũng làmộttrong những thành tốcơbảncủacông lý [137]. Trong quá trình cải cách cơchếtốtụng, các nghiên cứu còn xây dựng những tiêu chí cơbảnđểđánh giá công lý qua nhữngyếutốnhư: Khảnăng tìm rasựthật và tính chính xác của quyếtđịnhcủaToà án; thời gian tiếp cận công lý phải đảm bảo, công lýbịtrì hoãn là công lýbịtừchối; chi phí tài chính cho quy trình tiếpcậncông lý phải có tínhhợplý, không mang tính chất ràocảnđốivới
tổchức và cánhân…[130].
Tóm lại, qua khảo cứu sơ bộ một số tư tưởng tiêu biểu xoay quanh hai góc độtiếp cận cơbảncho thấy, những quan niệm về công lý ở phương Đông và phương Tây, từ cổ đại cho đến hiện đại trên lập trường phi Mác-xít, có thể sắp xếp thành 04 nhóm chính như sau:
– Nhóm hướng về đạo đức, lương tri, sự công bằng; công lý là sựđốixử, báo đáp cósựtương xứng và hướng tới một xã hội có lối sống tốt đẹp (Khổng Tử, Platon, Aristote…);
– Nhóm hướng về tính hữu ích, phúc lợi cho con người; công lý là điều gì mang lại lợi ích cho con người và bằng cách nào tối đa hoá hạnh phúc, tìm kiếm hạnh phúc
lớn nhất cho nhiều người nhất là điều nên làm (J.Bentham, J.S.Mill…);
– Nhóm hướng về sự tôn trọng quyền con người và sựtựdo, công lý là phải tôn trọng quyền con người, quyền bình đẳng, quyền tự do thỏa thuận khi thiết lập các
thiết chế và thể chế xã hội (I.Kant, J.Rawls…);
– Nhóm hướng về hoạt động xét xử của Tòa án, công lý liên quan đến sự thật, bảo đảm các quyền cơ bản, sự đúng hạn, sựđộc lập tưpháp, công lý về nội dung,
công lý về thủ tục… làm cơ sở cho hoạt động xét xử của Tòa án được đúng đắn (các
học giả nghiên cứu hiện đại…).
Đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin, quy luật chung của sự phát triển xã hội là tuần tự từ hình thái kinh tế – xã hội thấp lên hình thái kinh tế xã hội cao hơn. Động lực thúc đẩy tiến trình phát triển đó là xã hội phải tạo ra một phương thức sản xuấtvật chất mà ở đócó năng suất lao động xã hội cao hơn hẳn năng suất lao động của xãhộitrước. Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lêninđã chỉra rằng, trong các nhà nước bóc lột không thể có công bằng theo đúng nghĩa, trái lại các nhà nước ấy càng làm bất công xã hội lên cao và dọn đường cho các cuộc cách mạng xã hội. Nhà nước tư sản tuyên bố công dân có quyền bình đẳng trước pháp luật, nhưng trên thực tế thì giai cấp tưsản nắm giữtư liệu sản xuất, chi phối sản xuất, chi phối phân phối sản phẩm xãhộithì cũng chi phối pháp luật và các quan hệ xã hội chủ yếu. Chỉ có giai cấp tưsảnlà bìnhđẳngvới nhau còn nhữngngườilao động khác thì không thể có bình đẳng với giai cấp tư sản. Do đó, tội phạm không chỉ thuần túy là nôlệcủa công lý, mà cần phải chú ý xóa bỏ nguồn gốc xã hội hay nguyên nhân giaicấpcủatộiphạm, hình phạt dù là cơchế cảitạohay răn đe thì cá nhân không thể bị trừng phạtbởixã hội mới chính là nguồngốc củatội phạm [131,tr.70-73]. Chỉ có chủ nghĩa cộng sản với tính cách là hình thái kinh tế – xã hội phát triển cao của nhân loại, nơi mà “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển
tự docủatấtcả mọi người” [44,t.4,tr.628]mớicó khả năng thực hiện công bằng đích thực. Trong giai đoạn CNXH chưa thể có công bằng như mong muốn, C.Mác nhấn mạnh: “Những thiếu sót không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa”, “quyền không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sựphát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định” [46,t.9,tr.35,36]. Chỉ
đến chủ nghĩa cộng sản, những thiếu sót đó mới được khắc phục hoàn toàn và “chỉkhi đó người ta mới có thể vượt hẳn ra khỏi giới hạn chật hẹp của pháp quyền tư sản và xã hội mới có thể ghi trên lá cờ của mình – làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” [46,t.19,tr.35,36].
Ở ViệtNam, khi bànvềcông lý,ChủtịchHồChí Minhđãpháchọamộtnền công lý chân chính làphải đốilậpvới nềncông lýgiảtạodựa trênsựbấtbìnhđẳng và chàđạpquyền con người do thực dân Pháp dựng nên.Người đãchỉrõ:“Ở Đông Dương có haithứcông lý,mộtthứchongườiPháp,mộtthứchongườibảnxứ. NgườiPháp thìđượcxửnhưởPháp.NgườiAn Nam thì không cóhộiđồngbồi thẩm, cũng không có luật sư người An Nam. Thường thường người taxửán và tuyênán theo giấy tờ, vắngmặtngười bịcáo. Nếu cóvụkiện cáo giữa người An Nam vàngười Pháp thì lúc nào người Pháp cũng có lýcảmặcdù tên này ăn cướp hay giết người”. “Công lý được tượng trưng bằngmộtngười đànbàdịuhiền,mộttay cầm cân,mộttaycầmkiếm. Vìđường từPhápđếnĐông Dương xa quá, xađếnnỗisangđược tới đóthì cán cânđãmấtthăng bằng,đĩacânđãchảy lỏng ra và biến thành những tẩu thuốc phiện hoặc những chai rượu ty, nênngười đànbàtộinghiệpchỉcònlạiđộccái kiếmđểchém giết. Bà chém giếtđếncảngườivô tội, và nhất làngười vôtội”[68,tr.163-174]. Ngay sau khi thành lập Nhà nước cách mạng, Người đã ban hành Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 quy định: “Các vị Thẩm phán sẽ chỉtrọng pháp luật và công lý” (Điều 47); khi các Phụ thẩm nhậm chức phải tuyên thệ:
“Tôi thề trước công lý và nhân dân rằng tôi sẽ suy xét cẩn thận những án đem ra xử, không hề ăn hối lộ, vị nể, vì sợ hãi hay vì tư lợi hay thù oán riêng mà bênh vực
hay làm hại một bị can nào. Tôi sẽ cứ công bằng mà xét định mọi việc” (Điều 25)…
Trênnềntảngchủnghĩa Mác-Lênin và tưtưởngHồChí Minh,Đảngvà Nhànướctađãxácđịnhnhiệmvụbảovệcông lý vàbảovệquyền conngườilàmộttrong những nhiệmvụquan trọng trong công cuộc xây dựng Nhànướcpháp quyền XHCN. Nghị quyếtsố49-NQ/TWvềChiến lược CCTPđếnnăm 2020đãxácđịnh:“Các cơquan tư pháp phải thậtsựlàchỗdựacủangười dân trong việcbảovệcông lý, quyền conngười”;“Xây dựngnềntư pháp vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh,bảovệcông lý” [2]. Văn kiệnĐạihộiĐạibiểuĐảnglầnthứ XI năm 2011 khẳng định:“Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược CCTPđếnnăm 2020, xây dựnghệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người” [5]. Văn kiệnĐại hội Đảng lần thứXII năm 2016 tiếp tục khẳng định: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, từng bước hiện đại; bảo vệ pháp luật, công lý, quyền con người, quyền công dân,bảovệchế độXHCN, lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân” [6]. Trên cơsởđó,Hiến pháp năm 2013đãquyđịnh:“TAND có nhiệm vụbảovệcông lý,bảovệquyền con người, quyền công dân,bảovệchếđộXHCN,bảovệlợiích của Nhànước,quyền và
lợiích hợp phápcủatổchức, cá nhân” [8]…
Từnhữngnộidung trên, tiếp thuhạtnhânhợplýtừnhững tư tưởng, khái niệm củacáchọcgiảnghiên cứu, chúng tôi khái niệm công lý theo gócđộluậthọcnhưsau: Công lý là những lẽ đúng đắn được thừa nhận chung trong xã hội, làm cơ sởcho việc phán xét, xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thểtham gia trong những mối quan hệ nhất định. Hay nói một cách ngắn gọn, công lýlà những lẽ chung đúng đắn.
2.2. Đặc điểm cơ bản của công lý
Thứ nhất, công lý thuộc về phạm trù ý thức xã hội, được quyết định bởi tồn tại xã hội và có mối liên hệ biện chứng với tồn tại xã hội.
Ý thức xãhộilà mặt tinh thần của xã hội. Tồn tại xã hội là mặtđờisống vật chất cùng toàn bộ những điều kiện sinh hoạt vật chất, quan hệ vật chất của xã hội. Công lý là“nhữnglẽ chung đúng đắn”, thuộcvề ý thức xã hội, được phảnánh qua những quan điểm, tư tưởng mang tính hệ thống hóa, phản ánh sâu sắc tồn tại xã hội, do tồntạixãhộiquyết địnhvà cómốiliên hệbiện chứngvớitồn tạixã hội [73,tr.568,569]. Công lý khôngphải tựnhiên mà có, càng không phải bởi từmột ýchí duy tâm nào đóđặtra, mà nó nảy sinh từ đời sống kinh tế xã hộicụ thể, từmối quan giữa người với người cụ thể và giữa chúng luôn tác động qua lại với nhau. Chẳng hạn trong lĩnh vực xét xử về tranh chấp mua bán hàng hóa, mối quan hệ mua bán cụthể được thể hiệnqua sự việc mua bán của các chủ thể tham gia, sự kiện lập hợp đồng,
sựkiện trao tiền, nhận hàng…, những vấn đề đó được Tòa án phản ánh vào sự thật khách quancủavụán làm cơsởquyếtđịnhquyền và trách nhiệm của các bên một cách công bằng khi giải quyết tranh chấp. Ngược lại, những nội dungchứa đựngcông lý được thểhiện trong những phán quyết của Tòa ánsẽtác độngtrở lạiđốivới các trường hợp cụthểcủa đời sống vật chất xã hội, định hướng cho cáchoạt độngmua bán, trao đổi hàng hóa tương tự được diễn ra công bằng, hiệu quả hơn.
Bên cạnh đó, mọi tồn tại đều gắn với không gian và thời gian như Ph.Ăngghenđã chỉ rõ: “Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và thời gian; tồn tại ngoài thời gian thì cũng hết sức vô lý như tồn tại ngoài không gian” [42,t.20.tr.78]. Do đó, công lý phản ánh tồn tại cũng chỉ có thể được xác định trong một không gian và thời gian cụ thể. Không có khái niệm công lý vĩnh cửu cũng như là công lý bất
biến. Chẳng hạn trong lĩnh vực xét xử, khi tất cả hoạt động điều tra trong thời hạn quy định không có đủ các chứng cứxác định sựthật một người có hành vi phạm tội thì tại thời điểm đó phải công nhận người đó không phạm tội, mặc dù có thể sau này
khi thu thập chứng cứđầy đủ hơn thì người đó vẫn sẽ bị kết tội…
Thứ hai, công lý luôn vận động phát triển và có tính ổn định tương đối.
Tồn tại xã hội vận động phát triển không ngừng nên công lý phản ánh tồn tại xã hội cũng vận động phát triển không ngừng. Có thể thấy trong tiến trình vận động phát triển của đời sống kinh tế – chính trị – xãhội, sựtôn trọng phẩm giá và quyền bình đẳng của con người (một trong “nhữnglẽchung đúng đắn”) ngày càngđượctôn trọng, góp phần hình thành nên các quyền và nghĩa vụ của con người, rồi được cụ thểhóa qua các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cùng với nghĩa vụ đối với cộng đồng mà thế giới đã tuyên bố trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế. Tương tựkhi nói về quy tắc “có đi có lại” (một trong “những lẽ chung đúng đắn”), quy tắc
này thời xa xưa thể hiện ở luật mạng đền mạng, thương tích đền thương tích… mang giá trị phê phán đối với người vi phạm, là cơ sở cho quyền báo trả của người bị hại hoặc gia đình người bị hại đối với người vi phạm. Tuy nhiên khi đặt trong mối quan
hệ với sựtôn trọng phẩm giá con người, các giá trị nhân đạo, văn minh… như hiện nay, quyền báo trả được giao cho nhà nước và Tòa án để xử lý thì quyền này trở thành
quyền công tố, truy tố, khởi kiện, truy cứu trách nhiệm pháp lý… để bảo đảm công
lý được thể hiện một cách tốt nhất, văn minh nhất…
Nhìn chung, các tri thức khách quan về mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên ngày càng được khám phá qua sự tiến bộ của khoa học; quyền con người ngày càngđược đảm bảo và mở rộng, từcá nhân đến tổ chức, dân tộc, quốc gia; các thỏa thuận trong đời sống xã hội ngày càng đa dạng, các giá trị
ngày càng được khám phá để mang lại lợi ích cho con người… Điều đó sẽ làm cho nội dungcủacông lý luôn vận động phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Bên cạnhđó,công lý còn có tínhổnđịnhtươngđối.Do công lý có chứađựng những giá trị truyền thống, những quy tắc cốt lõi, những quyền, lợi ích, giá
trị cơ bản thuộc về bản chất của con người… nên so với tồn tại xã hội, công lý cótínhổnđịnhrấtcao, đóng vai quan trọng trong việc duy trì, giữ vững trậttựổnđịnh xã hội.
Thứ ba, công lý là kết quả của sự giao thoa của các hình thái ý thức xã hội. Trong sự vận động và phát triển, các hình thái ý thức xã hội luôn tác động qua
lại với nhau. Là “những lẽ chung đúng đắn”, công lý có mối liên hệ với ý thức chính
trị qua lợi ích của các giai tầng trong xã hội; có mối liên hệ với ý thức pháp luật qua các phán xét về tính đúng sai, đánh giá tính hợp pháp và khônghợppháp; cómốiliên hệ với ý thức đạo đức qua các giá trị tôn vinh, quy tắc “có đi có lại” trong các quan hệ xã hội; có mối liên hệ với ý thức thẩm mỹ qua những biểu tượng về công lý; cómối liên hệ với ý thức tôn giáo qua các tín ngưỡng; có mối liên hệ với ý thức khoa
học qua các sự thật khách quan… Hay nói cách khác công lý chính là kết quả của sựđan xen, giao thoa của các hình thái ý thức xã hội với nhau.
Thứ tư, công lý có mối liên hệ đặc biệt với ý thức pháp luật.
Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xửsựcủa con người và tổ chức trong xã hội [112,tr.421]. Trong xã hội có giai cấp, ý thức pháp luật của giai cấp khác nhausẽ cósựkhác nhau. Giai cấp thống trị muốn các giai cấp khác phục tùng ý chí của mình thìgiai cấp thống trị phải viện dẫnđếnnhững lý lẽ chung đúng đắn làm bệ đỡ cho các quan điểm, tư tưởng của mình để các giai cấp khác có thể chấp nhận, phục tùng. Công lý không phải là ý chí, lý lẽ của số đông, mà phải là ý chí, lý lẽ chung đúng đắn, ở đó
phải có sự “gặp gỡ” của các ý chí, ý kiến khác nhau, phải trở thành những ý chí, lý lẽ chung đúng đắn được xã hội thừa nhận, đó mới chính là công lý. Nói một cách khác, công lý chính là sự giao thoa của các ý thức pháp luật của các giai tầng trong xã hội có giai cấp, là “cái chung đúng đắn” trong ý thức pháp luật. Công lý được giai cấp thốngtrịcông khaiđưara thông qua những cá nhân,tổchức có thẩm quyền vàđược các giai tầng khác trong xã hội chấp nhận, ủng hộ. Hẳn nhiên, công lý đối
lập với “tư lý”, đó là những lý lẽ của thiểu số, ích kỷ, che giấu, đi ngược với công lý không được giai cấp thống trị và các giai tầng khác thừa nhận. Như vậy, về khía cạnh ngữ nghĩa, “công lý” có từ “công”, ngoài liên quan đến nghĩa là cái “chung”, sẽ còn liên quan đến nghĩa là sự công nhận, sự công khai.
Thứ năm, công lý có mối liên hệ chặt chẽ với công bằng. Công bằng được hiểu theo hai góc độ:
Theo gócđộnộidung, công bằng là khái niệmchỉ về sựtương xứng giữa vai trò và vịthế củacác thành viên trong xã hội (cá nhân, giai cấp, nhóm xã hội), giữa cái mà họ tạo ra cho xã hội hoặc đáp ứng yêu cầu của xã hội với cái mà họ nhận được từxã hội (cái tạo ra hoặc cái đáp ứng và cái nhận được có thể là điều tốt lành hoặc bất lợi) như cống hiến và hưởng thụ, lao độngvà sựtrả công, mất mát và bù đắp, vi
phạm và trách nhiệm, điều kiện và cơ hội… Sự tương xứng này được định tính, định
lượng và giới hạn bởi các giá trị, nhóm xã hội, khả năng, hiện thực và nhữngmụcđích nhất định.
Theo góc độ hình thức, công bằng được thể hiện ở sựđối xửkhông thiên vịtrong việc xem xét sự tương xứng đối với mỗi chủ thể trong quan hệ đó. Nghĩa là mỗi chủ thể được nhận sựtương xứng giữa vai trò và vị thế, giữa cái tạo ra, cái đáp ứng và cái nhận lại một cách bình đẳng với nhau, trên cùng việc định tính, định lượng vàgiới hạn bởi những giá trị, nhóm xã hội, khả năng, hiện thực và những mục đích nhấtđịnh [59,tr.15].
Hoặc hiểu theo nghĩa chung nhất, công bằng là “theo đúng lẽ phải, không thiên vị” [127,tr.200]. Do đó, công bằng cũng được xem là một lẽ đúngđắn được mọi người thừa nhận, nó chứa đựng sự thật khách quan, quy tắc “có đi có lại”, các giá trị, tính
nhất quán… đểxácđịnh sựtương xứng giữa vai trò và vị thế, giữa cái tạo ra, cái đáp
ứng với cái nhận lại hayđể đối xửkhách quan, vô tư trong những quan hệ nhất định… Chính vì vậy, nhiều học giả nghiên cứu đã cho rằng, công bằng chính là công lý hoặc công lý chính là lý lẽ của sự công bằng. Như khái niệmvề “tiếp cận công lý”(access to justice) hiện nay, nhiều người cho rằng, đó là quyền được xét xử công bằng (right to fair trial) hoặckhảnăng tìm kiếm sựđềnbù (remedy) cho những bất công đang
gánh chịu [66]… Tuy nhiên theo chúng tôi, mặc dù khái niệm công bằng và công lý có sựđan xen, khó tách rời nhưng giữa chúng vẫn có sự khác biệt, công bằng là lẽđúng đắn hướng về kếtquả là sựtương xứng, không thiên vị khi xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm; còn công lý là lẽ đúng đắn thiên về căn nguyên để xác
lập, thực hiện các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm. Hay nói cách khác, công lý là căn nguyên của công bằng, còn công bằng là kết quả của công lý.
Thứ sáu, công lý, pháp luật và nhà nước là các hiện tượng không thể tách rời. Công lý và pháp luật là kết quả của quá trình khám phá, xây dựng và cải tạo
các mối quan hệ xã hội của con người, tuy nhiên công lý và pháp luật không phải làhai hiện tượng đồng nhất. Công lý xuất hiện khi có xã hội, khi con người đã biết phân biệt về cái đúng, cái sai, điều tốt, điều xấu để giúp cho xã hội duy trì trật tự, ổn định; còn pháp luật, đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin, thì xuất hiện khi xãhội phân chia thành các giai cấp, được giai cấp thống trịđặtra đểsắpđặt các giai tầng khác trong vòng trật tự, lúc này ngoài những ghi nhận đòi hỏi bởi đời sống kinh tếkhách quan, công lý cũng được giai cấp thống trị tiếp thu, bổ sung vào pháp luật đểquản lý xã hội một cách hiệu quả và phát triển. Như C.Mác đã chỉ rằng: “Nhà lập pháp phải coi mình như là khoa học tự nhiên. Ông ta không làm ra luật, ông ta không phát minh ra chúng mà chỉ nêu chúng lên; ông ta biểu hiện những quy luậtnội tại
của những mối quan hệ tinh thần thành những đạo luật thành văn có ý thức. Chúng tasẽ phảichê trách nhà làm luật là vô cùng tuỳ tiện, nếu như ông ta thay thế bản chấtcủa sự vậtbằng nhiều điều bịađặtcủa mình” [42,t.1,tr.95].
Công lý là “những lẽ chung đúng đắn” chứađựng những giá trị xã hội phổbiến phản ánh thực tại khách quan, làthướcđo chung cho hành vi của mọi thành viên trong xã hội, hướng đến lợi ích chung của xã hội; do đó, cũng như đời sống kinh tế khách quan, công lý không phải do pháp luật và nhà nước sinh ra mà, mà đúng hơn pháp luật và nhà nước phải chịusựchi phối của công lý. Mặt khác, công lý không thểtách rời pháp luật và sức mạnh nhà nước, bởi như Pascal đã khẳng định: “Công lýkhông dựa trên quyền lực thì bất lực, quyền lực không đi đôi với công lý thì tànbạo” [85,tr.18]. Và C.Mác cũng đã chỉ rõ: “Xã hội không lấy pháp luật làm cơ sở. Đó chính là ảo tưởng của những nhà luật học. Ngược lại pháp luật phải lấy xã hội là cơ sở, pháp luật phải là sự biểu hiện lợi ích và nhu cầu chung của xã hội do một phương thức sản xuất vật chất nhất định sản sinh ra mà không phải do ý muốn chủ quan của một cá nhân. Chừng nào bộ luật không còn thích ứng với quan hệ xã hội nữa thì nósẽ thành mớ giấy lộn” [45,t.6,tr.233].
Nhìn ở gócđộbảnchất, pháp luật và nhà nước luônthểhiện hai thuộc tính cơbản, tính xã hội và tính giai cấp [63,tr.47,49,301,302]. Tính xã hội phản ánh đời sống kinh tế chung, những lợi ích chung, những đặc điểm chung, những giá trị chung trong xã hội; còn tính giai cấp phản ánh tính ý chí của giai cấp thống trị, mang tính chuyên chính, định hướng. Bởi công lýlà “những lẽchung đúng đắn” nên công lý luôn thuộc về tính xã hội. Tuy nhiên cũng phải thấy, không phải những gì chung, thuộc về lợi ích chung cũng đều gắn với công lý, bởi không phải cái gì chung cũngđều đúng đắn,đều làtốt. Chẳng han như tính duy tình là đặc điểm chung của người Việt được phảnánh trong pháp luật, trong đó chỉ có tính nhân đạo là mang giá trị, là phản ánh công lý, còn tính “dễ dãi”, “thiếu nghiêm minh” thì hoàn toàn không. Do đó, phải khẳng định, công lý chính là “hạt nhân hợp lý” của thuộc tính xã hội, thuộc về “tầng sâu” của nhà nước và pháp luật. Bên cạnh đó, công lý cũng như thuộc tính xã hội thường là kết quả của “tập thể”, của “số đông” trong quá trình hoạt động của nhà nước vì nóluôn gắn với lợi ích chung, giá trị chung; nhưng cũng phải thấy rằng, những điều đúng đắn – công lý có khi chỉ có thể do một số người khẳng định khiến cộng đồng phải công nhận. Chẳng hạn như kết luận giám định ADN chỉ thuộc về những chuyên gia
về gen trong việc xác định sự thật giám định pháp y trong các vụ án… Mặt khác cũng thấy rằng, công lý không bao giờ thuộc về tính giai cấp, bởi nếu tính giai cấp mà chứađựng công lý – “lẽ chung đúngđắn”thì lịch sử sẽ không baogiờxóa được giai cấp,
điều đó là mâu thuẫn với quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, vì xóa bỏ giai cấp làmục tiêu của loài người nhất định sẽ đạt được để tiến đến chủ nghĩa cộng sản.
Đối với tính giai cấp, như Ăng-ghen đã nhận định, những hoạt động về mặt xãhội là cơ sở của sựthống trị giai cấp và sự thống trị giai cấp cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện những hoạt động về mặt xã hội của nó. Lịch sửđã thể hiện, sựphát triển các kiểu nhànước vàpháp luật qua các chếđộ,chẳng qualà sựthừa nhận vai trò ngày càng to lớn của tính xã hội so với tính giaicấptrongđời sống xãhội
[63,tr.52,303]. Theo góc độ này, giai cấp công nhân là giaicấptiến bộ nhất trong lịch sử, bởi khác với các giai cấp khác đã từng thống trị trong lịch sử luôn phát triển theo xu hướng đi ngược với tính xã hội do mang tích chất tư hữu, giai cấp công nhân mang tính chất công hữu, luôn lấy sự phát triển của mình là phục vụ xã hội, hướng tới các giá trị xã hội rộng lớn, cao cả và đỉnh cao là hướng tới việc xóa bỏ giai cấp. NhưChủ
tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Giai cấp công nhân chẳng những đấu tranh để tự giải phóng, mà còn để giải phóng cả loài người khỏi áp bức, bóc lột” [69,t.9,tr.288].Điềuđó lý giải vì sao giai cấp công nhân tất yếu sẽ lãnh đạo lịchsửtrong xu thế phát triển. Và theo tiến trình lịch sựtựnhiên, xã hội cộng sản là điểm đến cuối cùng của loài người, ở đó khi mà tính giai cấp không còn thì tính xã hội và cônglý được thể hiện qua những quy phạm công cộng sẽ là hình thức còn lại để quản lý mọi mặt trong đời sống xã hội.
Từ những nhận định trên có thể khẳng định, một giai cấp tiến bộ là một giai cấpđềcao tính xãhộivà công lý trongđờisống xã hội. Hay nói cách khác,đểquản lý xã hội cho thuyết phục, hiệu quả và bền vững, tính xã hội xoay quanh “hạt nhân hợp lý” của nó tức là công lý phải cần được xem là cái có trước, cái cần đề cao hoặc là cái nền tảng để tính giai cấp của pháp luật và nhà nước dựa vào đó bộc lộ, thể hiện.
Tuy nhiên cũng cần phải nói thêm, việc xác định công lý là “hạt nhân hợp lý” của thuộc tính xã hội của pháp luật và nhà nước không có nghĩa là công lý được chứa đựng hoàn toàn trong đó, bởi công lý vẫn còn có phạm vi điều chỉnh khác nhưtập
quán, lẽ sống,đạo đức cá nhân…nơi mà pháp luật và nhà nước không thể hoặc không cần tác động, điều chỉnh (xem Phụ lục).
2.3. Nội dung cơ bản của công lý
Công lý là những lẽ đúng đắn được thừa nhận chung trong xã hội, làm cơ sởđể phánxét, để xác lập, thực hiện các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm nhất định. Theo nghĩa tiếng Việt, “lẽ” là điều thường thấy ở đời, được coi là hợp với quy luật, với đạo lý, hoặc là lý do giải thích, là nguyên nhân của sựviệc; còn “đúng đắn” làphù hợp với thực tế, quy luật,lẽ phải, đạolý, không có gì sai [127,tr.341,537].“Những lẽ đúngđắn đượcthừa nhận chung trong xãhội”sẽ được thểhiện khái quát ở những nội dung sau đây:
Thứ nhất, công lý luôn chứa đựngsựthật khách quanvà sựtôn trọng sự thật khách quan. Sựthật thuộc về lĩnh vực ý thức và nhận thức, thuộcvề thế giớichủquan, đó là sự phản ánh về thế giới thực tại của con người. Còn khách quan, là “cáiđang tồn tại độc lập với loài người và với cảm giác của con người” [124,t.18,tr.374]. Sựthật khách quan là kết quả của quá trình nhận thức về những thực tại khách quan trong đời sống vật chất và tinh thần của con người.Sựthật khách quan phản ánh về các hoàn cảnh khách quan, các đặc điểm của các chủ thể tham gia quan hệ, về các khách thể mà chủ thể hướng tới, về hành vi khách quan gắn với ý muốn chủ quan của chủ
thể… Sựthật khách quan luôn là cơ sở đầu tiên quan trọng nhất để cho các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thực hiện việc phán xét, xác lập quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý được đúng đắn.
Thứ hai, công lý gắn với sự đề cao, tôn trọng phẩm giá vốn có và quyền bình đẳng của con người. Phẩm giá vốn có của con người là giá trị khách quan tạo nên các quyền sống, quyền tự do, quyền an toàn cá nhân… của con người và tạo nên quyền bình đẳng giữa người với người. Trong Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 có nêu: “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạohóa ban chohọnhững quyền không ai cóthểxâm phạmđược,trongđócóquyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Những tuyên bố này được tái khẳng định trong Bản Tuyên ngôn Dân quyền và Quyền con người năm 1789
của nước Pháp hay Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của Việt Nam… Ở góc độphổ quát, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người còn công bố: “Việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới”. Có thể nói, công lý luôn đòi hỏi mọi người phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền con người ở mức cao nhất, vì đó là vô giá, không thể đem ra đổi chác, mặc cả. Lịch sửđã chứng minh, ở đâu có sự chà đạp lên quyền con người thì ở đó có đấu tranh vì công lý.
Thứ ba, công lý có mối liên hệ với sự tôn trọng truyền thống văn hóa và tín ngưỡng. Truyền thống văn hóa là những cái gì hình thành từ lâu đời, mang tính bền vững và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Còn tín ngưỡng là niềm tin vào cõi thiêng liêng mà con người tin vào đó để giải thíchthếgiới và để mang lại cảm giác bình yên cho bản thân và cho mọi người. Yếu tố truyền thống văn hóa và tín ngưỡng ảnh hưởng đến việc đánh giá, lựa chọn các giá trị, cân nhắc trong mối quan hệ với các nội dung khác của công lý, từ đó làm cho việc đánh giá cái gì là công lývà cái gì là bất công trong mỗi cộng đồng có sự khác nhau. Chẳnghạn vềvấn đề công nhận hôn nhân đồng tính, tại Việt Nam dođềcao truyền thống văn hóa cộng đồng nên pháp luật không công nhận, trong khi đó tại các quốc gia có truyền thống đề cao
quyền tự do cá nhân như Úc, Hà Lan… thì lại công nhận. Hoặc ví dụ khác liên quanđến tínngưỡng,giảsửcó một vịbác sĩ gặp một trường hợp có 02 người bệnh sắp chết nhưng chỉ còn một liều thuốc cứu được01 người, vị bác sĩ này sẽ cứu ai khi mạng sống của 02 người là vô giá? Lúc này, nếu vị bác sĩ nhờ sự may rủi để lựa chọn và tin rằng do Trời quyết định để cứu 01 trong 02 người thì có lẽ sẽ chẳng có ai phán xét hay nghi ngờ gì về quyết định của vị bác sĩ này.
Thứ tư, công lý chứa đựng quytắc“cóđi cólại”trong cácmốiquan hệ của con người. Quytắc “có đi cólại” đòi hỏi bên kia phải đối xử với mình giống nhưmình đã đối xửvới bên kia; hoặc cái mình không muốnngười khác đối xửvới mình thì mình không được đối xử nhưvậy đối với người khác; hoặc muốn có quyền thì
phải có nghĩa vụ, hoặcđã hưởng thụthì phải có phải cống hiến, có trách nhiệm… Quy tắc này khiến các bên hướng tới sự tươngxứng giữa cái “có đi” và cái “có lại”, bởi nếu một bên vượt quá cái “có lại” thì lại trở thành cái “có đi” để bên kia sẽ thực hiện cái “có lại” tương ứng. Quy tắc“có đicó lại” là cơ sởxửsựcủa các bên tham gia trong các mối quan hệ, kể cả có sựtựnguyện hay không. Quy tắc này tồn tại xuyên suốt, lenlỏihầuhết ở mọiquan hệ trong xã hội, ngay cả ở lĩnh vực tình cảm là lĩnh vực ít bị chi phối bởi lợi ích vật chất của con người.
Thứ năm, công lý gắn với sự tôn trọng các cam kết, thỏa thuận do các bên tựnguyện tham gia trên cơ sở “có đi có lại” để xác lập quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Trong các quan hệ xã hội mà con người chủ động tham gia, khi các chủ thể tự nguyện thỏa thuận xây dựng các cách hành xử với nhau để đạt được một mục đích nào đó, nósẽ tạo nên các quyền và nghĩa vụ mang tính ràng buộc phải tuân thủ. Nó có tính ràng buộc bởi nó xuất phát từ tính tự nguyện trước đó, có tính chất “có đi có lại” và cómang lại lợi ích cho các bên. Những thỏa thuận này nếu hợp lý và thông dụng,được sửdụnglặpđi lặp lại trong một thời gian dài có thểtrởthànhtậpquán được pháp luật
ghi nhận hoặc được nâng lên thành pháp luật. Nội dung này của công lý chỉ xuất hiện khi các bên có sự tự nguyện tham gia thiết lập thỏa thuận.
Thứ sáu, công lý luôn hướngđếncác giá trị và liên quanđếnviệc đánh giácác giá trị. Giá trị là điều mang lại lợi ích tốt đẹp cho con người. Chẳng hạn: Giátrị
về vật chất như lợi ích về kinh tế, tiện lợi…; giá trị về tinh thần như nhân đạo, nhân văn, dân chủ..; giá trị mang tính tôn vinh, giá trị mang tính phê phán; giá trị trước
mắt, giá trị mang tính lâu dài… Giá trị là mục đích mà các bên hướng tới khi tham gia các quan hệ xã hội và làm cho việc xác lập các hànhxửcủa các bên có ý nghĩa. Việc hướng tới giátrịgia tăng nghĩa làlợiích càng nhiều càng tốt là mong muốn của các bên. Tuy nhiên không phải lúc nào việc gia tăng giá trị cũng đạt được, có lúc phải lựa chọn, phải hy sinh giá trị nàyđể đạt giá trịkhác (chẳng hạn chọnsựsống của bào thai hay tính mạng của người mẹ khi người mẹ đang gặp nguy hiểm). Vấn đề lựa chọn không phải lúc nào cũng đơn giản vì sẽ có nhiều tiêu chí được đưa ra. Tuy nhiên,
có thể thấy có một số cách đánh giá chung mà đa số thừa nhận, nếu cùng giá trị về lợi ích vật chất thì trường hợp nào mang lại nhiều lợi ích hơn thì sẽ ưu tiên chọn hơn hoặc ngược lại, trường hợp nào ít thiệt hại hơn sẽ ưu tiên lựa chọn hơn. Nếu so sánh giữa những giá trị phi vật chất với nhau thì sẽ có giá trị phi vật chất đo đếm được và giá trị phi vật chất vô giá, hoặc có giá trị có tính cấp thiết và có giá trị kém cấp thiết hơn. Nếu khác nhau giữa một bên là lợi ích vật chất và một bên là lợi ích phivậtchất thì có thể thấy, tuy những giá trị kinh tế đo đếm được không thể so sánh được với các
giá trị như quyền sống, danh dự, nhânphẩm… là vôgiá; nhưng đôi lúc giá trị vật chất sống còntrước mắtlại quan trọng hơn so với những giá trị văn hóa tinh thần… có thể để hưởng thụ sau. Việc đánh giá để lựa chọn các giá trị tất yếu sẽ phải kết nối với các nội dung khác của công lý, như sự thật khách quan để đánh giá kết quả, phạm
vi tác động của giá trị đó trên thực tế…; kết nối với quy tắc “có đi có lại” để xác định sự tương xứng giữa các giá trị với nhau; hoặc kết nối đến yếu tố truyền thống
văn hóa, tín ngưỡng để cho phù hợp với xã hội…
Thứ bảy, công lý có liên hệ chặt chẽ với yêu cầu về tính lô-gích hình thức. Lô- gích hình thức thể hiện ở 4 yêu cầu: Yêu cầu đồng nhất, yêu cầu không mâu thuẫn, yêu cầu không có cáithứba và yêu cầu về lý do đầy đủ.Các yêu cầu đồngnhất, không mâu thuẫn và không có cái thứ ba đòi hỏi mỗi một nhận địnhvề một sựvật, hiện tượng nào đó, khi được lặp lại trong cùng một quá trình suy luận, phải giữ nguyên nội dung mang tính nhất quán. Trong trường hợp sự vật, hiện tượng đang là chính nóthì trong cùng một khoảng thời gian, không gian vàmốiquanhệ nhất định,không được gắn cho sựvật, hiện tượng đang nghiên cứu hai thuộc tính phủ định nhau, tức
là hoặc là đúng hoặc là sai, không thể có cái thứ ba là cùng đúng và cùng sai. Yêu cầu về lý do đầy đủ đòi hỏi các nhận định phải có tính căn cứ xuất phát từ những luận đềhiển nhiên, phải có lý do tồn tại, nguyên nhân, mục đích nhất định. Yêu cầu về tính lô-gích hình thức làm cho sự thể hiện của công lý có tính nhất quán và thuyết phục.
Tóm lại, những nội dung trên là kết quả của khái quát hóa những quan điểm, tư tưởng phổ biến của con người về công lý trong suốt quá trình vận động, phát triển.Đó là những lẽ chung đúng đắn làm cơ sở cho việc phán xét, xác lập, thực hiện các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm đối với các chủ thể trong những mối quan hệ nhất định. Trong cácnộidung này, nội dung hướng đến các giá trị và bảođảmtính “có đi có
lại” được coi là nội dung cốt lõi của công lý. Bởi lẽ mục đích sống của con người suy cho cùng là truy cầu lợi ích và được nhận những gì xứng đángđược hưởng; ở đó lợiích đạtđượckhi có hành vi đúngđắnlàsựtán thưởng, có lợi, nhậnđược giátrịtôn vinh; ngược lại, khi có hành vi sai trái thì sẽ bị chê bai, bất lợi, phải bị phê phán.
Xét vai tròcủatừng nội dung này làm cơsởcho việc phán xét, xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm nêu trên, có thể thấy:
– Sự thật khách quan, sự tôn trọng phẩm giá con người và sự tôn trọng truyền thống, tín ngưỡng sẽ đóng vai trò làm cơ sở nền tảng;
– Sự hướng đến các giá trị sẽ đóng vai trò là cơ sở mục đích;
– Sự tôn trọng thỏa thuận và bảo đảm quy tắc “có đi có lại” sẽ đóng vai trò làcơ sở phương thức thực hiện;
– Sự bảo đảm tính lô-gích hình thức đóng vai trò là cơ sở hình thức thể hiện. Tuy mỗi nội dung có vai trò khác nhau nhưng chúng đều có quan hệ chặt chẽ,
năng động với nhau, tạo nên cơ sở lý lẽ vững chắc để xem xét, cân nhắc, quyết định xem ai có quyền, nghĩa vụ hay trách nhiệm gì, hoặc để phán xét ai đúng, ai sai trong những mối quan hệ nhất định. Việc nhận thức đúng đắn về nội dung của công lý là điều kiện để thực hiện công lý trên thực tế.
Vấn đề này sẽ được rõ hơn qua một số ví dụ sau đây:
– Ví dụ 1: Công lý trong việc duy trì hình phạt tử hìnhđốivới một số tội phạmđặc biệtnghiêm trọng. Việc duy trì hình phạttửhìnhđối một số tộiphạm đặc biệt
nghiêm trọng như giết người, phản quốc… là cần thiết dựa trên những cơ sở như sau:
Xét theo cơ sở phương thức thực hiện, quytắc “có đi có lại”xác định, nếu đã có hành vi xấu thì phải nhận kết quả xấu, nếu đã xâm phạm đến tính mạng vô giá của người khác hay những giá trị trật tự xã hội hết sức quan trọng thì chỉ có xem xét lấy đi tính mạng vô giá của bản thân người phạm tội thì mới tương xứng. Xét theo cơ sở mụcđích, việc áp dụng hình phạt tử hình sẽ mang lại giá trị răn đe, phê phán trong cộng
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\BẢO VỆ CÔNG LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử của TAND ở Việt Nam hiện nay Bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử của TAND ở Việt Nam hiện nay Bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử của TAND ở Việt Nam hiện nay Bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử của TAND ở Việt Nam hiện nay Bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử của TAND ở Việt Nam hiện nay Bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử của TAND ở Việt Nam hiện nay Bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử của TAND ở Việt Nam hiện nay Bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử của TAND ở Việt Nam hiện nay

