Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự

Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong xuthếphát triển vàhộinhập quốc tế vấn đềbảovệ quyền con người ngày càng được xem trọng. Vì vậy, trong hoạtđộng xét xửbảođảmquyềntốtụng của đương sự là một tất yếu khách quan. Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tốtụng dânsựlà cơ sở cho việc giải quyếtvụán chính xác, khách quan, mang lại niềm tin công lý cho người dân. Quan điểm cải cách tư pháp được Đảng ta ghi nhận trong Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của BộChính trị vềchiếnlượcxây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020đã chỉ rõ: “Hoàn thiệnchếđộ bảo hộcủa Nhà nước đối với các quyền, lợi ích hợppháp của công dân, chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, nhất là Tòa án trong việc bảo vệ các quyền đó; xử lý nghiêm minh mọi hành vi xâm phạm quyền và

lợi ích hợp pháp của công dân”. Có thể nhận thấy rằng quan điểm của Đảng ta về cải cách tư pháp đặt ra yêu cầu phải cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch, đảm bảo quyền tố tụng của đươngsự, đảm bảo hiệu quả của thủ tục tư pháp dân sự đáp ứng yêu cầu về bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Hiến pháp năm 2013 – Đạo luật cơ bản của quốc giađã cụ thểhóa vấnđề này tại khoản 3 Điều 102 và nêu rõ “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền côngdân, bảo vệ chế độ xã hội chủnghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Như vậy, vấnđề bảovệ công lý, bảo vệ quyền con người và quyền công dân đượcđặt lênhàng đầu trong rất nhiều nhiệm vụ của Tòa án mà Hiến pháp đã liệt kê cho thấy sự tiến bộ về mặt lập pháp, vì bảo đảm quyền con người và quyền công dân là cội nguồn cho sự bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự.

Bảo đảm quyền tố tụng củađương sự trong tố tụng dân sự có ý nghĩa rất quan trọng. Bảo đảmquyềntốtụng của đương sự chính làbảo đảmcho các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hay tranh chấp trong các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động có thể bảo vệ quyền,

lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án. Tuy nhiên, dưới góc độ lý luận chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diệnvề bảo đảmquyền tốtụng của đương sự trong tố tụng dân sự để làm cơ sở cho việc đánh giá luật định. Mặt khác, một số quy định về bảo đảm quyền tố tụng của đương sự được quy định trong

Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015 chưa đầy đủ hoặc thiếu cụ thể, nên việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn đã dẫn tới những vướng mắc, bất cập, chưa

2

đáp ứng yêu cầu về tính hiệu quả của việc bảo đảm các quyền tố tụng. Chẳng hạn nhưBLTTDS năm 2015 quy định các quyền tố tụng của đương sự nhưng chưa quyđịnh các nghĩa vụ đốiứng của đương sự đối lập hoặc quy định nhưng không có các biện pháp bảo đảm để cácđương sự đối lập thực hiện đúng các nghĩa vụ tố tụng của họ. Vì vậy, ảnh hưởng đếnhiệuquảthực hiện các quyềntốtụng củađương sựkhác. Mặt khác, Tòa án và các chủ thể tiến hành tố tụng thuộc Tòa án có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự, nhưng quy định của BLTTDS năm 2015 về trách nhiệm của Tòa án, nhiệm vụ, quyền hạn các chủ thể tiến hành tố tụng thuộc Tòa án chưa có sự gắn kết với việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự. Viện Kiểm sát (VKS) có chức năng kiểm sát các hoạtđộng tốtụng, qua đó bảođảmcho các quyền tố tụng của đương sự được thực thi nhưng một số quy định của BLTTDS năm 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên chưa đápứng yêu cầu về bảo đảm quyền tố tụng của đương sự. Bên cạnh đó, pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) cũng chưa quy định các chế tài phù hợp nhằm bảo đảm quyền tố tụng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Nghiên cứu thực tiễn tố tụng tại Tòa án cho thấy tình trạng Tòa án chưa thực sự tôn trọng, áp đặt ý chí chủ quan, thậm chí vi phạm các quyền tố tụng của đương sựvà chưa tạo điều kiện cho đương sự thực hiện quyền tố tụng của mình vẫn còn tồn tại dẫntới các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không được bảovệ. “Tỷlệ các bảnán bị hủy, sửa còn cao; vẫn còn cácvụán đểquá thời hạngiải quyết theo quy địnhcủa pháp luật do lỗi chủ quan của Tòa án; chưa khắc phục triệt để việc án tuyên không rõ ràng”[67]. “Việc xử lý đơn khởi kiện còn chậm, vi phạm về thời hạn xử lýđơntheo quyđịnh của Bộluật Tốtụng dân sự; một sốtrường hợptrảlạiđơnkhởi kiện nhưng không ghi rõ lý do của việc trả lại đơn và chưa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; một số Tòa án chưa chú trọng xác minh, thu thập chứng cứ [68]. Việc nghiên cứu thực tiễn tố tụng cũng cho thấy, hiện tượng một số Tòa án chưa thực sựtôn trọng, tạo điều kiện cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hỗtrợ cho đương sự thực hiện quyền tố tụng vẫn còn tồn tại, “môi trường hành nghề và cơ chếtốtụng tuyđãđượccải thiện nhiều sovớitrướcnhưng vẫncòn nhiềuđiều chưa thuận lợi cho luật sư phát huy vai trò trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng” [60].

Với những lý dođãphân tíchởtrên, việclựachọn nghiên cứu đềtài “Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự” nhằm làm rõ các vấn đề lýluận, thực trạng pháp luật về bảo đảm quyền tố tụng của đương sự, luận giải những

3

nguyên nhân dẫn đến tồn tại, hạn chế trong bảo đảm quyềntố tụng của đương sự, từđóđềxuất những yêu cầu, kiến nghị nhằmbảođảmtốthơn quyềntốtụng củađương sự trong tố tụng dân sự ở Việt Nam là vấn đề có tính cấp thiết, có ý nghĩa lýluận và thực tiễn.

2. Mục đích nghiên cứu

Luận án hướng tớimục đích nghiên cứu mộtcáchcó hệthống các vấn đề lýluận về bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS.Kết quảnghiên cứu lý luận về bảo đảm quyền tốtụng của đương sự sẽ được sử dụng làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng pháp luật và thựctiễn bảo đảm quyền tốtụng của đương sự trong TTDS ởViệt Nam. Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, luậnán đề xuất một số yêu cầu, kiến nghị nhằm bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dânsự được thực thi trên thực tế.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án

Đểđạt đượcmụcđích trên, việc nghiêncứuđềtài cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

– Nghiên cứu làm rõ khái niệm, đặcđiểm vềbảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố TTDS.

– Nghiên cứu làm rõnộidungbảođảmquyềntốtụng củađương sựtrong TTDS.

– Nghiên cứu và xác định các yếu tố chi phối việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS.

– Phân tích, đối sánh với lý luận để đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền tốtụng của đương sự trong TTDS.

– Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thực hiện phápluật vềbảo đảm quyền tốtụng của đương sự trong TTDS ở Việt Nam, xác định các vướng mắc, bất cập làm tiền đề cho việc đề xuất các kiến nghị.

– Xác định rõ các yêucầu đặt ra đối với việc bảo đảm quyền tố tụngcủa đương sự; đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật, thực hiện pháp luật để bảo đảm quyền

tố tụng của đương sự trong TTDS.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận án chủ yếutậptrung nghiên cứu các nội dung cơ bản, như sau:

– Những vấnđề lý luậnvề bảođảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS.

4

– Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luậtvề bảođảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS. Để nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về bảođảm quyền tốtụng của đương sự trong TTDS, Luận án có tham khảo pháp luật của

một số nước trên thế giới như Nga, Singapo, Canada, Pháp, Trung Quốc… nhưng tập trung nghiên cứu chủyếulà pháp luật tốTTDS Việt Nam hiện hànhvềbảođảm quyền tố tụng của đương sự.

– Các yêu cầu đặt ra đối với việcbảođảm quyền tốtụng của đương sự trong TTDS.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

– Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu là một số vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền tố tụngcủa đươngsự trong vụ án dân sự trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án theo thủ tục tố tụng thông thường mà không nghiên cứu vềbảo đảm quyền của đươngsự trong thi hành án dân sự.

– Dưới góc độ nghiên cứu thì có nhiều biện pháp khác nhauđể bảo đảm quyền tố tụng của đương sự như bảo đảm bằng biện pháp kinh tế (Đầu tư phát triển cơ sở hạ

tầng, công nghệ thông tin trong hoạt động tố tụng, miễn giảm án phí cho người khởi kiện), biện pháp về cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước (quy hoạch hệ thống Tòa án theo bản đồ địa lý phùhợp với khu vực dân cư, cơ chế giám sát của cơ quan lập pháp đối

với cơ quan tư pháp…), biện pháp về cơ chế phối hợp giữa Tòa án với các cơ quan nhànướckhác, biện phápvềnguồnlựccon người, biện pháp pháp lý. Tuy nhiên, trong khuônkhổcủaluận án này, nghiêncứusinh chỉtậptrung nghiên cứuvề các biện pháp bảo đảm quyền tốtụng của đương sự về mặt pháp lý(bảo đảmbằng quyđịnh của pháp luật) và việc thực hiện các quy định này trong thực tiễn tố tụng tại Tòaán. Trong các biện pháp bảo đảm quyền tố tụng của đương sự về mặt pháp lý, luận án cũng chỉ tập trung phân tích, luận giải về những vấn đề sau đây:

+ Việc ghi nhận quyền tố tụng của đương sự, xác lập nghĩa vụ đối ứng

của đương sự khác.

+ Bảo đảmquyềntốtụng của đương sựthông qua quyđịnh vềngười

đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự;

+ Bảođảmquyềntốtụngcủađương sựthông qua việc quyđịnhnhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án;

+ Bảođảmquyềntốtụngcủađương sựthông qua quyđịnh vềnhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm kiểm sát của Viện kiểm sát;

+ Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự thông qua các quy định về chế tài khi

Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự
Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự

5

các chủ thể vi phạm quyền tố tụng của đương sự.

– Luận án có phân tích về những thành côngcủapháp luật hiện hànhvề bảo đảm quyền tố tụng của đương sự nhưng chủ yếu tập trung nghiên cứu về những hạn chếcủapháp luật hiện hành là nguyên nhân dẫntớiquyềntốtụng củađương sựkhông được bảo đảm thực hiện một cách có hiệu quả trên thực tế.

– Luận án không đi sâu nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo

đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS từ khi BLTTDS năm 2004 có hiệu lực mà chủ yếu tập trung nghiên cứu thực tiễn thực hiện các quy định của BLTTDS năm 2015 đến nay.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa Mac-Lê Nin và tửtưởngHồChí Minhvềnhànướcvà pháp luật vàquan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp theo hướng bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Bên cạnhđó,việc nghiên cứu đềtài luận án cònsửdụng các phương pháp nghiêncứukhoahọcchuyên ngành khác như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, sử dụng kết quả thống kê của ngành Tòa án để minh họa, làm rõvấnđề nghiên cứu trong luận án. Cụ thể:

– Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh được sử dụng trong quá trình xây dựng khái niệm, đặc điểm bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự.

– Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, suy luận, sử dụng kếtquảthống kê, dữ liệu của ngành Tòa án chủ yếu được sử dụng trong quá trình làm rõ những hạn chế, bất cập của pháp luật và tồntại, vướng mắc trong thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa tố tụng của đương sự, của người đại diện và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp phápcủađương sự;những hạnchếcủapháp luật trong các quy định về nhiệm vụ, quyềnhạnvà trách nhiệmcủaTòa án, Viện Kiểm sát cũng như những ngườitiến hành tố tụng thuộc hai cơ quan này, đặc biệt là trong việc đánh giá về các quy định vềbảođảmtínhđộc lập, khách quan củahoạtđộng tốtụng là nguyên nhândẫnđến quyền tố tụng của đương sự chưa được bảo đảm thực thi trên thực tế.

-Đểbảođảmcơsởthực tiễn, tính cấp thiết của vấnđềkhoa họccầngiải quyết, đặc biệt để nâng cao tính thuyết phục của các giải pháp khoa học, phương pháp phân tích, tổng hợp,kếthợplý luận và thực tiễn bảo đảm tính thuyết phục được sử dụng trong các luận điểm để luận giải đưa ra cácđịnhhướng các yêu cầu và các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS.

6

6. Những đóng góp mới của luận án

Thứ nhất, luận án xây dựng được vấn đề lý luận cơ bản về bảođảm quyền tố

tụng của đương sự trong TTDS như bản chất, cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định về bảo đảm quyềntố tụng của đươngsự; xác định được nộidung của biện pháp pháp lý bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS và các yếu tố cơ bản chi phối thực hiện việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS.

Thứ hai, luận án đã phân tích, đánh giá một cách toàn diện những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về bảođảm quyền tố tụng củađương sự; xác định được nguyên nhân cơ bản dẫn đến quyềntố tụng của đương sự không được bảođảm thực hiện là tiềnđề cho việc đề xuất các giải phápbảo đảm thựchiện quyền tố tụng của đương sự.

Thứ ba, luậnán xây dựng được hệthống các yêu cầu, kiến nghị khoa học vềbảo đảm quyền tố tụngcủa đương sự trong TTDSđáp ứng đượcxu hướng hội nhập quốc tế vàđường lối, chủ trương của Đảng,Nhà nướcvềcảicách tư pháp bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử, bao gồm các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và kiến nghị tổ chức thực hiện pháp luật.

– Các kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật TTDS về bảođảmquyền của đương sự trong TTDS, gồm: bổ sung quyền tố tụng của đương sự chưa được ghi nhận; sửa đổi, bổ sung quy định về nghĩa vụ đối ứng của đương sự gắn với bảo đảm quyền tố tụng của đương sự khác; hoàn thiện quy địnhcủapháp luật về sự tham gia tố tụng dân sự của ngườiđại điện và người bảo vệquyền và lợiích hợp của đương sự; hoàn thiện quyđịnhvề trách nhiệm của Tòa án và nhiệm vụ, quyềnhạn củacácchủthể tiến hành tố tụng thuộc Tòa án gắn liền với bảo đảm quyền tố tụng của đương sự; hoàn thiện các quy định của pháp luật về cơ chế kiểm sát việc bảo đảm quyền tố tụng của đương, đồng thời xây dựng chế tài xử lý các hành vi vi phạm quyền tố tụng của đương sự.

– Các kiến nghị thực hiện pháp luật như: xây dựng các tiêu chí đánh giá

Tòa án, đào tạo các chức danh tư pháp thống nhất…

7. Kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, tổng quan về vấn đề nghiên cứu, kết luận, danhmụctài liệu tham khảo, Luận án trình bày với kết cầu gồm 3 chương:

Chương 1. Những vấnđềlý luậnvềbảo đảmquyềntốtụng củađương sự trong tố tụng dân sự

Chương 2. Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo

7

đảm quyền tố tụng củađương sự trong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện

Chương 3. Yêu cầuvà một sốkiến nghị về bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dânsự

8

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN

QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1. Khái quát về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án

2. Đánh giá sự liên quan của các công trình nghiên cứu đã công bố với đề tài “Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự”

2.1. Sự liên quan của các công trình nghiên cứu đã công bố với những vấnđề lý luận vềbảo đảmquyền tố tụngcủa đương sự

2.2. Sự liên quan các công trình đã công bố đến thực trạng pháp luật và thực tiễn bảo đảm quyền tố tụng của đương sự

2.3. Sự liên quan các công trình đã công bố với kiến nghị bảo đảm quyền tố tụng của đương sự

3. Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu

14

3.1. Một số vấn đề lý luận về bảo đảm quyền tố tụng của đương sự* Khái niệm bảo đảm quyền tố tụngcủa đương sự

Luận án xây dựng khái niệm bảo đảmquyền tốtụng củađươngtheo hướng bảođảmcác quyềntốtụng chung. Theođó,bảođảmquyềntốtụng củađương sựtrong TTDS là tổng thể các biện pháp được pháp luật quy địnhnhằm bảo đảmthực thi có hiệu quả các quyền tố tụng của đương sự trên thực tế.

* Đặc điểm bảo đảm quyền tố tụng của đương sự:Luận án phân tích, làm rõcác đặc điểm bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự như: Tòa án là chủ thể có trách nhiệm chính trong việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự; Bảo đảm quyền tố tụng dân sự của đương sự được áp dụng cho tất cả các bên đương sự; Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự là cơ sở cho việc bảo vệ quyền dân sự của chủthể được pháp luật bảo hộ; Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dânsựlà một trong những nội dung của bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp; Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự được thực hiện bằng nhiều biện pháp phối hợp.

* Cở sở khoa học bảo đảm quyền tố tụng của đương sự

Luận án phân tích, luận giải làm rõ cơ sở khoa học của việc bảo đảm quyền tốtụng của đương sự theo hướng tập trung vào những cơ sở quan trọng xuất phát từ yêu

cầu của thực tiễn xét xử và những cơ sở mang tính chất định hướng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước như: Xuất phát từyêu cầu xây dựng Nhà nướcpháp quyền Việt Nam XHCN; Xuất phát từ yêu cầu thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng trong cải cách tư pháp;Bảođảmsựphùhợpvớichuẩnmựcquốctế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.

* Nội dung bảo đảm bảo đảm quyền tố tụngcủa đương sự

Trong nội dung bảo đảm bảo đảm quyền tố tụng của đương sự, Luận án phân tích, làm rõ các biện pháp bảo đảm pháp lý để quyền tố tụng của đương sự được thực thi có hiệuquảtrên thựctế.Trong nội dung bảođảmquyềntốtụng củađương sựđược đi sâunghiên cứu bao gồm ghi nhận đầy đủ các quyềntố tụngcụ thểcủamỗiđương sự đồng thời xác lập nghĩa vụ đối ứng của các đương sự khác; thiết lập cơ chếđạidiện, bảo vệquyền vàlợiích hợpcủa đương sự; quyđịnhnhiệmvụvà trách nhiệm của Tòa án, Viện Kiểm sát và những người tiến hànhtốtụng; thiết lập cơ chế kiểm sát việc bảođảm quyền tốtụng của đương sự cũng như chế tài cần thiết xử lýcác hành vi vi phạm quyềntố tụng của đương sự.

* Các yếu tố chi phối quyền bảo đảm quyền tố tụngcủa đương sự

15

Luận án nghiên cứu làm rõ những yếu tố nào chi phối trực tiếpđến việc bảođảmquyềntốtụngcủađương sựnhưsựhiểu biết của cácđươngsựsẽquyếtđịnh việc họ vận dụng và thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình như thế nào, vấnđềthực hiện nghĩavụcủađươngsựnàysẽảnhhưởng đếnviệc thực hiện các quyềncủađương sựkhác;Sựhỗtrợcủacácchủthểtrợgiúp pháp lý là cơ sởđểđương sựchấp hành nghiêm chỉnh các quyền và nghĩavụtốtụng luật định;Phẩm chất, đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của các chủ thể tiến hànhtố tụng thểhiện thông qua việc họ trung thực, khách quan, vô tư và độc lập trong việc tôn trọng và bảo đảm thực hiện các quyền tố tụng của đươngsự đã được pháp luật quy định.

3.2. Thực trạng phápluật về bảo đảm quyền tố tụng của đương sự

Luận án sẽ không đi sâu phân tích các ưu điểm của pháp luật mà chỉ tập trung phân tích những bất cập, vướng mắcvềthực trạng pháp luật trong các quyđịnh vềquyền và nghĩavụtốtụng củađương sựhoặc các quyđịnhcó liên quan làm cho quyền tố tụng của đương sự chưa được bảo đảm thực hiện.

3.3. Thực tiễn phápluật về bảo đảm quyền tố tụng của đương sự

Để làm rõthực tiễn thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền tố tụng của đương sự,Luận án minh họa bằng các bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm,đượcthểhiện trong phần“nhậnđịnh củaTòa án hoặc phần quyếtđịnh”để chứng minh rằng: trong thực tiễn xét xử, quyền tố tụng của đương sự chưađươc bảo đảm thực hiện, đồng thời, chỉ ra nguyên nhân của những bất cập đó, làm cơsở cho việc đề xuất các kiến nghị, giải pháp cụ thể.

3.4. Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quảbảođảmquyền tốtụng của đương sự

Trên cơ sở nghiên cứu Chương 1 lý luận về bảo đảm quyền tố tụng của đương sựvà Chương 2 thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật đểxác định nguyên nhân dẫn tới tình trạng quyền tố tụng của đương sự chưa được bảo đảm thực hiện, Luận án sẽ làm rõ các yêu cầu cần đặt ra để nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền

tố tụng của đương sự, đề xuất các kiến nghị bảo đảm cho quyền tố tụng của đương sựđược thực thi trên thực tế, bao gồm các kiến nghị về hoàn thiện pháp luật, kiến nghịvề tổ chức thực hiện pháp luật.

4. Giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu

Luận án được tiến hành nghiên cứu trên giả thuyết là các quyđịnh về bảo đảm quyềntốtụng của đương sựtrong TTDS chưa được xây dựngdựa trên một cơ sở lý

16

luận vững chắc, có hệ thống nên còn có những hạn chế, bất cập và thực tiễn thực hiện các quyền tố tụng của đương sự trong TTDS ở Việt Nam còn có những tồn tại, hạn chế cầnđược khắc phục.Nhằm chứng minh giả thuyết khoa học trên, Luận án xác định các câu hỏi nghiên cứu cần phải thực hiện như sau:

1. Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dânsự là gì? Đặc điểm của bảo đảm quyền tố tụng của đương sự như thế nào?

2. Dựavào những cơ sởkhoahọcnào đểxây dựng pháp luật vềbảođảm quyền của đương sự trong tố tụng dân sự?

3. Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS gồm những nội dung cơbản nào?

4. Những yếu tố nào chi phối việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS?

5. Các quyền tố tụng của đương sự được thực hiện trong thực tiễn tố tụng tại các Tòa án như thế nào? Những vướng mắc, bất cập nào nảy sinh trong thực tiễn thực hiện các quyền tố tụng của đương sự tại các Tòa án? Nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập này là gì?

6. Những yêu cầu và kiến nghị nào có thể thiết lập để góp phần bảo đảm quyền tố tụng của đương sự?

5. Dự kiến kết quả nghiên cứu của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu toàn diệnvề bảo đảmquyền tố tụng

củađương sựtrongtốtụng dân sự. Đềtài nghiên cứu có những đóng góp mới như sau:

Thứ nhất, luận án góp phần làm rõ thêm vấn đề lý luận về bảođảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự gồm:

– Kháiniệm “bảo đảm quyền tố tụngcủa đươngsự trong TTDS”;

– Phân tích và chứng minh những đặc điểm cơbản về bảo đảm quyền tố tụng của đương sự;

– Phân tích, làm rõ các nộidung bảođảmquyềntốtụng của đương sựtrong TTDS;

– Làm rõ các yếu tố cơ bản chiphối vấn đề bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS.

Thứ hai, luận án hệ thống hóa biện pháp bảo đảm quyền tố tụng của đương sựtrong TTDS, bao gồm: Việc ghi nhậnđầy đủ các quyền tố tụng cụthể của mỗi đương sự, xác lập và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tương ứng của các đương sự khác; xác lập

17

nhiệm vụ, quyềnhạnvà trách nhiệmcụ thểcủaTòa án trongviệc bảo đảmthực thi quyềntốtụng của đương sự; thiết lập cơ chế hỗ trợ, kiểm sát việc thực hiện quyền tố tụng của đương sự cũng như chế tài cần thiết nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm quyền tố tụng.

Thứ ba, trên cơ sở phân tích những bất cập, hạn chế về thực trạng pháp luật vàthực tiễn thực hiện, Luận án làm rõ các yêu cầu cần đặt ra để nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tốtụng của đương sự,từ đóđề xuất một sốkiến nghị bảo đảm quyền tố

tụng của đương sự trong TTDS.

18

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀBẢO ĐẢM QUYỀN TỐTỤNG CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1. Khái niệm vàđặcđiểmcủabảođảmquyềntốtụng củađươngsựtrong tố tụng dân sự

1.1.1. Khái niệm bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sựQuyền con người luôn được cộng đồng quốctếvà các quốc gia coi trọng và

xem đó như là một thành tựu của nền văn minh trong thời đại ngày nay; là thước đo của sự tiến bộ xã hội, không phân biệt hệ tư tưởng, chế độ chính trị, bản sắc văn hóa, trìnhđộphát triển của các quốc gia [84, tr. 15]. “Quyền con ngườilà điềukiện mà bản chất con người đòi hỏi để tồn tại một cách thích đáng” [113]. Do đó, quyền con người luônđượcNhà nướcta coi trọng vàbảođảmthực hiện. Vớisựghi nhận các quyền con người trong Hiến pháp, trong các Bộ luật và các văn bản quy phạm pháp luật, Nhànướcđãtạohành lang pháp lý vững chắcđểmọingườicó thểthuận lợi trong việc tham gia thực hiện các quyền đó.

Quyền con người, mà biểu hiệncủa nó ở cấp độ quốc gia là các quyền công dân. Quyền công dân cũng là quyền con ngườiđược áp dụngtrongđiều kiện, hoàn cảnh của một quốc gia, với công dân của một quốc gia, chứ không phải là một dạng thức khác biệt về bản chất với quyền con người [42, tr. 18]. Như vậy, quyền công dân chỉlà quyền con ngườiđược phápluật các quốc gia ghi nhận và áp dụng cho công dâncủa nướcmình. Các quốc gia khác nhau quy địnhquyền công dân cũng không giống nhau. Quyền công dân ở mỗi quốc gia tùy thuộc vào các quan hệ pháp luật mà họtham giađểpháp luật ghi nhận các quyền pháp lý phù hợpvới điềukiện, hoàn cảnh củamỗiquốc gia vàvớichuẩnmựcquốctếvềquyền con người. Các quyền pháp lý của công dân được cụ thể hóa trong Hiến pháp, Bộ luật và các văn bản quy phạm pháp luật. Trong các quyền con người, các quyền về dân sự được xem là có tính chất nền tảng, cơ bản, thiết yếu nhất. Cũng như các quyền con người khác, các quyền về dân sự của các chủ thể được ghi nhận trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia và được bảo hộ chặt chẽ. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Đại Hội đồngLiên Hiệp Quốc ngày 16/12/1996đãbảođảmrằng: bất cứngười bàobịxâm phạm các quyền và tự do được công nhận trong công ước này thì đều được bảo hộ pháp lý một cách hiệu quả [76, tr.14]. Theo tiến sĩ Trần Phương Thảo, quyền tìmđếnTòa ánđểnhờTòa án bảovệcũng là một quyền conngườiđượcghi nhận tại Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày

19

19/12/1948 [76, tr.13]. Khi quyền và lợi ích dân sự của chủ thể được pháp luật quốc gia ghi nhận vàbảo hộ bị xâmphạm thì pháp luật trao cho chủ thể có quyền, lợi ích dân sự các quyền tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Các quyền tố

tụng này được thực hiện trong quá trình tố tụng dân sự trước Tòa án. Do vậy, cần phải xác định được thời điểm bắt đầu và kết thúc trìnhtự tố tụng để đương sự cóthể thực hiện các quyền tố tụng được pháp luật trao cho.

Nếu xét theo nghĩa rộng thì TTDS là trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự

tại Tòa án và trình tự, thủ tục thi hành án dân sự. Còn xét theo nghĩa hẹp thì TTDS chỉ bao hàm trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án. Kết quả nghiên cứu cho thấy xétvềbản chất thì“tốtụng” được hiểulà việc kiện cáo trước Tòa án [46, tr.687] hay “tốtụng”là phương thức pháp lý do pháp luật thiếtlậpnhằmbảođảm việc thi hành công lý đúng đắn [108]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Đẩu cho rằng “tố

tụng” là một thuật ngữ có nguồngốctừtiếng Latinh (procedure), được hiểulàmộtđường lối phải tuân theo để đi tới chổ thắng kiện [36]. Trong một công trình nghiên cứucủa mình tác giả Alexandre Ciaudo nhận định, “tố tụng cóthể được định nghĩa như là một chuỗi liên kết những hành động hoặc các thủ tục nhằm đưa ra một quyếtđịnh, cũng như các quy định và các nguyên tắc chỉ đạo cho chuỗi liên kết này” [111, tr. 22]. Tố tụng có thểhiểu là quá trình kiện tụng tạiTòa án vàđượcTòa án chấp nhận giải quyết. TTDS là trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét, giải quyết vụ án dân sự và thi hành án dân sự [83, tr.785]. Tuy nhiên, trìnhtự tố tụng trước Tòa án là việc thực hiện các hành vi của các chủ thể tố tụng, trong đó có đương sự thực hiện hành vi tố tụng trước Tòa án, từ khibắt đầu cóyêu cầu khởi kiện chođến khi Tòa án ra phán quyết cuối cùng của vụ án [19, tr.7, 8]. Các đương sự tham gia vào quá trình tố tụng được pháp luật trao cho các quyền tố tụng nhất địnhđể bảo vệquyền, lợi ích dân sự của mình.

Quyền tố tụng của đương sự là một khái niệm được các nhà khoa học nghiên cứu tiếp cậndướinhiều gócđộ khácnhau. Theo tác giả Robert G.Bone “có thể xem quyềntố tụng thực sự là một quyền”và định nghĩa “quyền tố tụng như là một quyền về bộ tiêu chuẩn tối thiểu của tố tụng để bảo đảm được tínhchính xác cao nhất” [103, tr.1015, 1016]. Tác giả Robert G.Bone cũng nhận xét: “Một điều khá phổ biến trong lĩnh vực tố tụng dânsựlà việc phê bình các nguyêntắctốtụng với lý do chúng tạo nên gánh nặng cho “quyền” tố tụng của một bên, hoặc bảo vệ cho sự cải cách vì mục tiêu thúcđẩycác quyềntốtụng. Vớicông trình nghiên cứu này tác Robert G.Bone cho rằng quyềntốtụng là một quyền và quyền tham gia phiên tòa, các quyền khác

20

như quyền được nhận thông báo hợp lệ, quyền tranh tụng…phát sinh dựa trên cơ sởquyềntốtụng, việc xây dựng các quyền khác nhằm mục đíchhỗtrợ, bảo đảmcho việc thực hiện quyền tố tụng của đương sự.

ỞViệt Nam quyềntốtụng củađương sựcũng đã đượccác nhà khoa

học quan tâm nghiên cứu. Theo tiến sĩ Nguyễn Công Bình thì “quyền tố tụng là cách xử sự mà pháp luật quy định cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự thực hiện. Tùy theo mục đích, tính chất tham gia quan hệ tố tụng của cácchủ thểmà pháp luật TTDS quy địnhcho cácchủthể các quyềntốtụng dânsựnhất định” [32, tr.35]. Tuy không đưa ra một định nghĩa cụ thể phân tách giữa quyền và nghĩa vụTTDS nhưng nhà nghiên cứunày đãchỉra rằng,“việcpháp luật quy địnhcụthểquyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự là rất cần thiết, bảo đảm cho đương sự bảo vệđược quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án, bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng và đúng đắn… Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện để các đương sựthực hiệnđượccác quyền và nghĩavụtốtụng củahọ”hay“cácquyền, nghĩavụtốTTDS củađương sựthểhiện trong các lĩnhvựcnhư sửdụng các biện pháp pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trước Tòa án; quyết định quyền, lợi íchcủamình trong TTDS; khiếu nại, tốcáo các hành vi trái pháp luậtcủacác cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình tố tụng” [32, tr. 113, 114]. Các quyền tố tụng cơ bản được pháp luật trao cho đương sự để bảovệ quyền, lợi ích dân sự của mình trong tố tụng bao gồm được quyết định về yêu cầu tố tụng trước Tòa án; được chứng minh, bảovệquyềnlợitrướcTòa án;đượctiếpcậnchứngcứ,tài liệu;đượctranh

tụng;đượcxétxửbởi mộtTòa ánđộclập, khách quan trong một thời hạnhợplý;được đề xuất với Tòaán áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp; được hòa giải với nhau về quyền, lợi ích tranh chấp; kháng cáo, khiếu nại, trong

đócó khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.v.v… Từ các quyền tố tụng cơbản này, Nhà lập pháp sẽ cụ thể hóa thành các quyền tố tụng cụ thể như quyền khởi kiện, giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu; cung cấp chứng cứ, chứng minhđể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệquyền, lợi íchhợppháp cho mình; đượcbiết, ghi chép và sao chụp các tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập; đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án trong trường hợp tự mình không thể thực hiện được; đề nghị Tòaán triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; tự thoả thuận với nhau về việc giải quyếtvụán; tham gia hoà giải, tham gia phiên toà; nhận thông báohợplệtừ

21

Tòa án.v.v… Các quyền tố tụng này của đươngsự sẽ được bảo đảm thực hiện thông qua nghĩa vụ đối ứng của đương sự khác cũng như nhiệm vụ của Tòa án, Viện Kiểm sát.

Khi nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Đỗ Thị Hà đã đưa ra khái niệm quyền tốtụng của đương sự, theo đó quyền tố tụng của đương sự “là quyền năng được pháp luật tố tụngdân sự quy định cho đương sự khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dânsự tại

Tòa ánđể bảo vệ quyền,lợi ích hợp pháp của mình hay lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước.Các quyền năng nàyđược đương sự sử dụngđể bảo vệ các quyền năng dânsự tại Tòa án và được Tòa án bảo đảm thực hiện” [19, tr. 11]. Theo hướng tiếp cận trên, quyền tố tụng dân sự của đương sự mang tính pháp lý “được ghi nhận trong luật”, thông qua việc ghi nhận các quyềntốtụng dânsựcủa đương sự, Nhànướccung cấpnhững quyền năng, những chuẩnmựcpháp lýđểcác chủthểtham gia quanhệpháp luật TTDS thực hiện.

Như vậy, quyền tố tụng của đương sự trong TTDS có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng có thể được hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng, cáchthức xử sự màpháp luật TTDS quy định cho các đương sự được thực hiện khi tham gia tố tụng tại Tòa án. Trong TTDS thì đương sự là chủ thể trung tâm trong hoạt động tố tụng, tất cảcác hoạt động tố tụng và các hành vi TTDS của các chủ thể đều xoay quanh đương sự[42, tr. 11]. Thông qua việc ghi nhận quyền tố tụng của đương sự trong TTDS, Nhànước tạo cơ sở pháp lý cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hay tranh chấp trong các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án. Như vậy, xét về thực chất thì quyền tố tụng của đương sự là quyền mà pháp luật trao cho đương sự để bảo vệ các quyền dân sự của mình trước Tòa án khi các quyền dân sự này bị tranh chấp hay vi phạm. Quyền tố tụng có thể được thực hiện trong các giaiđoạntốtụng, với những mụcđích cụthểkhác nhau nhưng suy cho cùng thì đều hướng tới việc bảo vệ quyền dân sự của chủ thể. Do vậy, nếu xét theo logic của vấn đề thì các quyền dân sự của chủ thể được Tòa án bảo vệ thông qua việc bảo đảm thực hiện trên thực tế các quyền tố tụng dân sự của đương sự đã được pháp luật trao cho. Việc ghi nhận các quyền tố tụng của đương sự sẽ đặt ra trách nhiệm cho cơ quan cóthẩm quyền trong việc thụ lý, giải quyết tranh chấp khi các chủ thể muốn khôi phục quyền và lợi ích bị xâm phạm.

Với việc sử dụng các quyền tố tụng được pháp luật quy định, đương sự cóthểchủđộngtrong việc yêucầuTòa án thụlý giải quyết tranh chấp nhằmbảovệcác

22

quyền về dân sự của mình. Trong luận án này, quyền tố tụng của đương sự được tiếp cận dưới góc độ là khả năng xử sự được pháp luật trao cho các chủ thể có quyền lợi bịxâm phạm hay tranh chấp trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án từ khi bắtđầucóyêu cầu khởi kiện cho đến khi Tòa án ra phán quyết cuối cùng của vụ ánđể bảo vệ các quyền dân sự của mình.

Xétvềbản chất quyền tốtụng của đương sựtrong TTDS chính là quyền con người, quyền công dân được pháp luật ghi nhận khi họ tham gia tố tụng tại Tòa để bảo vệ các quyền dân sự. Các quyền tố tụng của đương sự được Nhà nước thừa nhận, mang tính khách quan. Tùy theo hệ thống pháp luật của mỗi nước, để ghi nhận các quyền tố

tụng của đương sự cho phù hợp điều kiện hoàn cảnhcủa nước đó.

Việc ghi nhận quyền tố tụng của đương sự trong TTDS là một nỗ lực của các nhà lập pháp, nhưng không phải khi nào quyền được ghi nhận cũngđưa đương sự tới trạng thái được hưởng quyền. Giáo sư Saneh Chamarik Chủtịch Ủy ban quyền con người quốc gia Thái Lan cho rằng:“Mọi quyền và tựdođược ghi nhận trong Hiến pháp đều là vô nghĩa nếu người dân không có quyền lực thực thi chúng” [26, tr. 482]. Tiến sĩ Trần Phương Thảo cho rằng, một yếu tố rất quan trọng, thậm chí quan trọng hơn cả là pháp luật phải tạo ra được những thiết chế đặc biệt để thực hiện và bảo vệquyền con người đã được pháp luật công nhận trong trường hợp chúng bị phủ nhận hoặc bị xâm phạm [76, tr. 13].Để đạt được điều đó, nhànước phải thiết lập các biện phápbảo đảm để đương sự có thể thực hiện các quyền tố tụng dânsự đã được pháp luật ghi nhận.

Vềmặt thuật ngữ, theo TừđiểnTiếng Việtbảođảmlà“làmcho chắc chắn, thực hiện được, giữ gìn được hoặccó đầy đủ những gì cầnthiết; bảo đảm là cam đoan chịu trách nhiệm về việc gì đó” [16, tr.79]. Bảo đảm nghĩa là làm cho một vấnđề nào đó có thể thực thi trên thực tế [40, tr. 17]. Có ý kiến cho rằng, trong khoa học pháp lý thuậtngữ bảo đảmđượcthực sử dụng khá rộng rãi.Bảođảm thường đặt rađối với việc xác lập hay thực hiện các quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào các quan hệpháp luật cụthểnhư quanhệpháp luật dânsự,quanhệpháp luật kinh doanh,

thương mại…vàđượcquy địnhtrong nhiều văn bảnpháp luật như Bộluật dân sự, Luật thương mại. Theo các quyđịnh này thì bảođảmcó thể do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định. Bảo đảm có tác dụngtạora sự tin tưởng lẫn nhau, giữa các bên, đặt trách nhiệm cho các bên trong việc xác lập, thực hiện các quan hệ pháp luật [30, tr.19]. Ý kiến khác lại cho rằng, bảo đảm là trách nhiệm củamột chủ thể(cá nhân, tổ chức) phải làm cho quyền, lợiích hợp pháp của chủthểbên kia chắc chắn

23

thực hiện,đượcgiữgìn, nếuxảyra thiệt hạiphảibồithường [37, tr.27]. Như vậy, dướigóc độ thuật ngữ về mặt pháp lý, bảo đảm quyền tố tụng dân sự của đương sự là bằng những phương thức, biện pháp nàođóđểquyềntốtụng dânsự củađương sựđược chắc chắn thực hiện.

Vấn đề bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS được tiếp cận nghiên cứu dưới nhiều góc độ với những quan điểm khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy có tới 05 quan điểm khác nhau về vấn đề này:

Quanđiểmthứnhất, bảođảmquyềntốtụngcủađương sựđượcthực hiện thông qua việc quy định hợp lý, công khai, minh bạch thủ tục tố tụng. Quan điểm này được đề cập đến trong Bộ bách khoa toàn thư Xô Viết. Theođó, “cơquan lập pháp Liên Xô, nơi quy định quyền của các cá nhân và tổ chức, đặc biệt quan tâm tới việc tạo ra các điều kiện thuận lợi cho sự thừa nhận những quyền này bằng cách thiết lập một hệ thống bảo đảm thủ tục tố tụng. Hệ thống này là sự kết hợp của các nguyên tắc và thể chế dân chủ, các hình thức tố tụng, các quan hệ pháp luật với hệ thống còn lại của thủ tục tố tụng theo pháp luật Liên Xô. Bảo đảm thủ tục tố tụng được thiết kế đểbảo đảm sự thật và lẽ phải được công nhận trong mọi vụ án hình sự cũng như dân sự(ở khía cạnh này, còn có thể gọi là bảo đảm công lý). Ngoài ra, có rất nhiều phương

thức bảo hộ quyền và lợi ích pháp lý của công dân tham gia vào tố tụng – bị cáo, bị

đơn, người bịhại, nguyên đơn dân sự,…Theothủtục tốtụng Liên Xô, sự bảođảm quyềncủacác công dân nói trên đồng thời chính làsựbảođảmthực thi cônglý” [108]. Theo quan điểm này, để bảo quyền tố tụng của đương sự, điều cần thiết là phải xây dựnghệthốngthủtụctốtụng khoa học, hợplýtạođiềukiện thuận tiện cho đương sự thực hiện quyền tố tụng của họ. Đồng quan điểm này, tác giảV.S.Deshpande cũng nhấn mạnh, trước khi được thực thi, pháp luật chỉ là một tổ hợp các quy tắc thực hiện, nhưng khi các quy tắc đó cần phải áp dụng và thực thi trong thựctếthì chúng chỉcóthểđượcsửdụng thông qua cácthủtụctốtụng luậtđịnh [109, tr. 177, 209]. Thủ tục tố tụng có thể coi như đường ray pháp luật vạch sẵn, trên đường ray luậtđịnhấy, hệthống Tòa án vận hành chuyênchởcác yêu cầu bảo vệquyền con người của dân chúng [21, tr. 237]. Thủ tục tố tụng sẽ quyết định quy trình, hoạt động xét xử của Tòa án. Hoạt động xét xử của Tòa án chỉ bảo đảm công bằng, khách quan khi xây dựnghệthống cácthủtụctốtụng chặt chẽ,đầy đủvà khi đó quyền tố tụng của đương sự được tôn trọng. Sự tồn tại và áp dụng đúng đắn các thủ

tụctốtụng hữu hiệu cho phépchủ sở hữu hợppháp thực thi chính đáng quyền của mình trong phạm vi pháp luật cho phép, qua đó hành vi sai trái bị hạn chế, người thiệt

24

hại được bồi thường tương xứng, tránh tình trạng một người sẽ “đưa luật pháp về tay mình”[93] (tức là tự mình giải quyết bằng các phương thức cá nhân).

Quan điểm thứ hai, bảo đảm quyền tố tụng của đương sự bằng việc pháp luật ghi nhậnđầyđủcác quyềntốtụng củađươngsự. Quan điểmnàyđượcđềcậptới trong cuốn“cơ chếpháp lýbảođảmquyền con người, quyền công dân trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân” của tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Hà. Theo tác giả, các quyềntốtụng củađương sựkhiđã đượcpháp luậttốtụng ghi nhậntứclà Nhànước đã chính thức thừa nhận các chủ thể có những quyền tố tụng nhất định mà tất cảmọi người trongxã hội đều được tôntrọng [42, tr.46]. Như vậy, việc ghi nhận quyền tố tụng của đương sự là một trong những biện pháp để bảo đảm quyền tố tụng. Thông

qua việc ghi nhận quyềntốtụng, đương sựsẽcó cơsởpháp lýđểyêucầucác cá nhân, cơ quan hữu quan có trách nhiệmhỗtrợhoặc phải thực hiện các nghĩavụtố

tụng của họ, góp phần bảo đảm quyền tố tụng của đương sự.

Quan điểm thứ ba, bảo đảm quyền tố tụng của đương sự bằng việc pháp luật quyđịnh chếtài khi có hành vi vi phạm quyềntốtụng của đương sự. Đâylà quanđiểmđược đềcập đếntrong cuốn giáo trình Luật La Mã do hai giáo sư trườngĐại

học Tổng hợp Warszawa – Ba Lan biên soạn. Theo giáo sư Witold Wolodkiewicz & giáo sư Mario Zablocka, trong thờikỳLa Mãcổđại loại tổ tụng cổ xưa nhất là legis action(tốtụng theo nghi thức), nếumộtbên không thực hiện bấtkỳmộtnghi thức nào dù là nhỏ nhất, thì bên đó thua kiện [57, tr.230]. Legis action là loại tốtụng tạiđến thế kỷ II TCN. Vào thời Luật XII bảng, loại tố tụng này là phương tiện duy nhấtđể bảo vệ quyền dân sự khi có tranh chấp. Loạitốtụng này rất trọng nghi thức, vìvậy, chỉ cần một trong các bên không thực hiện một nghi thức dù là nhỏ nhất thì phải thua kiện. Cho tớibây giờ, chế tàivẫnlà một biện pháphữuhiệu để bảođảmcho quyền tố tụng của đương sự được thực thi trên thựctế.

Quanđiểmthứtư,bảođảmquyềntốtụng của đương sự thông qua việc quyđịnhnhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của chủthểtố tụng. Mặc dù không trực tiếp nghiên cứu về bảođảm quyền tốtụng của đương sự trong TTDS, nhưng khi phân tích về trìnhtự, thủtục giải quyết vụ việcdân sựtrong luận án“bảo đảm quyềnbảo vệcủa đương sựtrongtố tụng dân sự Việt Nam” Tiến sĩ Nguyễn Công Bình có nhậnđịnh:“Việcbảovệ quyền và lợiíchhợppháp củađương sựtrong TTDS được hay không phụ thuộc một phần lớn vào các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụcủa các cơ quan tiến hành TTDS, người tiến hành tố tụng dân sự và người tham gia tố

tụng dân sự” [30, tr.48]. Tiếp đó, tại trang 49 của Luận án trên, tác giải tiếp tục khẳng

25

định:“Đối với cácvấnđềliên quanđếnquyền hạn, nhiệmvụ và trách nhiệm tiến hành TTDS của những người tiến hành TTDS, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người đại diện của đương sự cần được pháp luật quyđịnh hết sứcđầyđủ và khoa họcđểthuận lợi trong việc thực hiện”. Đồng quan điểm này, cũng có ýkiến cho rằng, để quyềntốtụng của đương sựđượcthực hiện trên thực tếthì pháp luật TTDS cần phải có những quy định bảo đảm cho các quyền tố tụng dân sự được thực hiện. Trước tiên, pháp luật TTDS quy định cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hànhtốtụng có trách nhiệm tôn trọng,bảođảmcho các đương sựthực hiện các quyền và nghĩavụtố tụng, phải tạo điều kiện và không cản trở đương sự thực hiện các quyềntốtụng, phải thực hiện đúng các quyđịnhcủapháp luật TTDS đểgiải quyết vụán chính xác, đúng pháp luật, đảmbảocông bằng cho các bên đươngsự. Pháp luật tố tụng quy định các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện trách nhiệm phối hợpvới Tòa án, Viện kiểm sát, đương sự, người đại diệnhợpphápcủađươngsự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đầy đủ, kịp thời, đúng thời hạn [42, tr. 31]. Sự tham gia của các chủ thể tố tụng với những nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau, nhưng đều hướng đếnmụcđích giải quyết vụ án được chính xác, khách quan. Vì vậy, việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự không thể thiếu vài trò của các chủthể tố tụng.

Quan điểm thứ năm, bảođảm quyềntố tụng của đương sự thông qua các thiết chế giám sát (Quốc Hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…). Đây làquanđiểmmà tiến sĩ Trần Văn Trung đã đề cập đến trong bản nhận xét bảo vệ luận án cấp cơ sở của nghiên cứu sinh. Khi đề cập đến vấn đề giám sát quyền lực tư pháp, Madison có viết: “Trong việc tạo khuôn khổ cho một chính quyền do con người quản lý con người,điều khó khăn nhất là ở chỗ: chính quyền phải có khả năng kiểm soát những người quản lý; kế tiếp chính quyền phải có nghĩa vụ tự kiểm soát mình” [33, tr. 900-100]. Tòa án là cơ quan tiến hànhtốtụng thực hiện chức năng xét xử, quátrìnhđóđược thực hiện bởi những người tiến hành tố tụng nên sự lạm dụng quyền lực rất dễ xảy ra. Mặt khác, việc giải quyết vụ án không chỉ liên quan đến đời sống vật chất, tinh thần của các đương sự tham gia tố tụng mà nó còn là niềm tin công lý của người dân vào cơ quan tư pháp. Vì vậy, khi Tòa án ban hành một phán quyết không chính xác không những gây thiệt hại cho bên có quyền mà còn làm đảo lộn trật tự xãhội. Sự vắng bóng cơ chế giám sát hoạt động của Tòa án có thể dẫn tới tình trạng cơquan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng sử dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng làm ảnh hưởng quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Vì vậy,để bảo đảm

26

cho quyền tố tụng được thực thi hiệu quả thì việc đặt ra cơ chế giám sát các hoạt động tố tụng là rất cần thiết.

Cơ chế giám sát các hoạt động tố tụng được thực hiện thông qua nhiều

cách thức khác nhau. Giám sát của Quốc Hội, nghĩa là khi có căn cứ xác định quyếtđịnhcủaHộiđồng Thẩm phán TANDTC có vi phạm pháp luât nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đương sự đã không thể biết được khi raquyết định đócó thể xét lại thủ tục đặc biệt nếu có yêu cầu của Ủy ban thường vụQuốc hội, kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội.

Bên cạnhđó,việc giám sát còn thểhiện thông qua cơ chếgiải quyết

khiếu nại trong TTDS. Thông qua thủtụckhiếunạiđươngsựcó quyền yêu cầu cơquan tiến hànhtốtụng, người tiến hành tố tụng xem xét lại các quyết định,hành vi khi có căn cứ cho rằng các quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền tố tụng của đương sự. Quá trình giải quyết vụ án dân sự trải qua nhiều thủ tục tố tụng vớisự tham gia của nhiều chủthể tốtụng với các hoạtđộng tốtụng khác nhau. Do đó, những sai sót, vi phạm quyền tố tụng của đương sự là có thể xảy ra. Vì vậy, việc giám sát thông qua cơ chế giải quyết kịp thời các khiếunại của đương sự một mặt sẽngăn chăn những hành vi vi phạm của các chủ thể hữu quan trong quá trình tố tụng, bảo đảm quyền tố tụng của đương sự. Mặt khác, sẽ sửa chữa những thiếu sót, sai lầm do hành vi vi phạm của cơ quan, người tiến hành tố tụng gây ra, góp phần khôi phục các quyền tố tụng của đương sự bị xâm phạm.

Ngoài ra, cơ chế giám sát còn được thực hiện bởi các tổ chức chính trị – xã hội,

chính trị xã hội – nghề nghiệp và các phương tiện truyền thông đại chúng, báo chí. Trongđósựtham gia giám sát thực hiện pháp luật, kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xây dựng và thực thi pháp luật của Hội Luật gia và Đoàn luật sư là hiệu quả nhất. Bởi thành viên của Hội Luật gia và Đoàn luật sư là những người am hiểu, có kinh nghiệm trong các lĩnhvựcpháp luật nên kết quảgiám sát, đánh giácủahọsẽchính xác và có cơ sở.

Phương thức giám sát, đánh giá quyềnlựctư pháp thông qua phương tiện truyền thông, báo chí ngày càng được khẳng định vai trò quan trọng trong đời sống xãhội. Chính vì công khai là đặc tính cơ bản của hoạt động xét xử nên báo chí phương tiện truyền thông dễ dàng cung cấp các hoạt động tư pháp để người dânnắm bắt được phương tiện thông tinvà có cơ sở đểthực hiện thái độ và ý chí của họ đối với hoạtđộng tư pháp [54, tr. 122]. Công chúng có thể đánh giá sự minh bạch của cơ quan tiến

27

hành tố tụng thông qua thủtục xét xử tại Tòa hoặc khai thác các bản án được đăng công khai. Sự đánh giá của công chúng sẽ thể hiện qua việc đồng tình hay phản bácđối với cácphán quyết của Tòa án. Dưới một góc độ nào đó sẽ tácđộng mạnh mẽ đếnýthức và hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng,ngườitiến hành tố tụng. Như vậy, giám sát cũng làmộtbiện pháp quan trọng góp phầnbảođảmquyềntốtụng của đương sự được thực thi trên thực tế.

Như vậy, trong các công trình nghiêncứucó nhiều quan điểmkhác nhauvềbảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS. Tuy nhiên, các công trình trên đều xuất phát từ mục đích xây dựng các biện pháp bảo đảm quyền tố tụng của đương sựtrong TTDS, sự khác nhau là do các góc độ nghiên cứukhác nhau. Qua tham khảo các công trình nghiêncứutrên và xuất pháttừbảnchất củabiện phápbảođảm, nghiên cứu sinh nhận thấy, quyền tố tụng của đương sự được bảo đảm thực hiện bằng

tổng thể các biện pháp đã được đề cập ở trên. Tuy nhiên, bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS tập trung vào các nội dung sau đây:

Một là, phải ghi nhậnđầy đủ cácquyền tố tụng cơ bản của đương sự đồng thời xác lập nghĩa vụ đối ứng của các đương sự khác. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng bảo đảm quyềntố tụng của đương sự là dựa trên các quyền tố tụng củađương sự đã được ghi nhận trong luật để xây dựng các biện pháp bảo đảm cho các quyền đóđược thực hiện trên thực tế.

Hai là, bảo đảm quyền tố tụng của các đương sự thông qua các chủ thể tố tụng:

Thông qua sự tham gia tố tụng của người đại diện; người bảo vệ quyền vàlợiích hợp của đương sự; thông qua việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án, Viện kiểm sát trong việc bảo đảm thựchiện quyền tố tụng của đương sự; thông qua nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tiến hành tố tụng mà chủ yếu là Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án.

Ba là, thiết lập cơ chế kiểm sát việcbảo đảm quyền tố tụng của đương sự;

Bốn là, thiết lập chế tài cần thiết xử lý các hành vi vi phạm quyền tố tụngcủađương sự.

Bên cạnh việc ghi nhận, ban hành đầyđủ, minh bạch các biện pháp bảo đảm nói trên thì việc thực hiện nghiêm chỉnh các quyđịnhđó trên thực tế cũng là yếu tố quan trọng, quyết định bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự. Các biện pháp bảo đảm trên phải được thực hiện đồng thời thì việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự mớiđạt hiệu quả cao.

Như vậy, bảođảmquyềntốtụng củađươngsựlàbảođảmquyền luậtđịnh

28

được pháp luật ghi nhận cho chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm hay tranh chấp trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án từ khi bắt đầu có yêu cầu khởi kiện cho đến khi Tòa án ra phán quyết cuối cùng của vụ án. Vì vậy, các quy định pháp luật TTDS, các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các đương sự đối lập và các tổ chức, cá nhân hữu quanđều tácđộng trực tiếp đến việc bảo đảm thực hiện quyền tố tụng của đương sự, đặc biệt là từ phía Tòa án và chính các đương sự.Bởi quyềntốtụng của đương sựđượcbảođảmthực hiện hay khôngphụthuộc chủ yếu vào hành vi của Tòa án và các đương sự đối lập. Trong quá trình tố tụng, cónhững trường hợp pháp luật quy định quyền của đương sự là trách nhiệm của Tòa án hoặc quyền của đương sự này đồng thời là nghĩa vụ của đương sự đối lập. Do đó, chỉkhi Tòa án thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ quyền, quyền hạn của mìnhvà đương sựthực hiện đúng, triệt để nghĩa vụ tố tụng của họ thì quyền tố tụng của đương sự kia mới được bảo đảm thực hiện.

Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự chính là bảo đảm cho các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động khôi phục lại những giá trị vật chất, giá trị tinh thần đã bị các chủ thể khác xâm phạm, tạo sự cân bằng trong các mối quan hệ trong xã hội. Việc bảo đảmquyền tố tụngcủađương sự trongtố tụngdân sự cũng chính là bảo đảm quyền con người, quyền công dân nói chung. Vì vậy, bảo đảm quyền tố tụng của đương sự được áp dụng bình đẳng cho tất cả các đương sự tham gia tố tụng không có sự phân biệt, đối xử vì bất cứ lý do gì như về

dân tộc, giới tính hay biên giới quốc gia. Bảo đảm quyền tố tụngcủa đươngsựtrong TTDS là phương tiện để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, là cơ sởcho việc giải quyết vụ án chính xác, khách quan.

Với những phân tích trên, việcbảođảmquyềntốtụng củađương sựtrong TTDS dưới góc độ pháp lý có thể tiếp cận theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

Theo nghĩa rộng, bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDSđược hiểu là: tổng thể các biện pháp được pháp luật quy định nhằm bảo đảm thực thi có hiệu quả các quyền tố tụng của đương sự trên thực tế, bao gồm ghi nhận đầy đủ các quyền

tốtụngcơ bản của đương sự đồng thờixác lập nghĩa vụ đốiứng củacác đương sự khác; thiết lậpcơ chế đại diện, bảo vệ quyền và lợi íchhợpcủa đương sự; quyđịnh nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án, Viện Kiểm sát và những người tiến hànhtốtụng; thiết lậpcơchếkiểm sát việcbảođảm quyềntốtụng củađươngsựcũng như chế tài cần thiết xử lý các hành vi vi phạm quyền tố tụngcủa đương sự.

29

Theo nghĩa hẹp, bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS được hiểu là: tổng thể các biện pháp được pháp luật quy định nhằm bảo đảm thực thi có hiệu quả các quyền tố tụng của đương sự trên thực tế, bao gồm thiết lập cơ chế đại diện, bảovệ quyền và lợi ích hợp của đươngsự; quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án, Viện Kiểm sát và những người tiến hành tố tụng; thiết lập cơ chế kiểm sát việc bảo đảm quyền tốtụng của đươngsự cũng như chế tài cần thiết xử lý các hành vi vi phạm quyềntố tụng củađương sự.

Như vậy, bảo đảm quyền tố tụng của đương sự có thể được tiếp cận với nhiều cách khác nhau vàđượcthực hiện bằng nhiều biện pháp pháp lý khác nhau. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận án này, nội dung bảo đảm quyền tố tụng của đương sựđượctiếpcậntheo nghĩa rộng. Vì vậy, luận ánsẽtậptrung nghiêncứucác nội dung: ghi nhậnđầy đủ các quyềntố tụng cơ bản củamỗi đương sự đồngthời xác lập nghĩa vụ đối ứng của các đương sự khác; thiết lập cơ chế đại diện, bảo vệ quyền và

lợiích hợp của đương sự; quy định nhiệm vụ và trách nhiệm của Tòa án, Viện Kiểm sát và những người tiến hành tố tụng; thiết lập cơ chế kiểm sát việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự cũng như chế tài cần thiết xử lý các hành vi vi phạm quyền tố tụng của đương sự.

1.1.2. Đặc điểm bảo đảm quyền tố tụng dân sự của đương sự trong tố tụng dân sự

1.1.2.1. Tòa án là chủ thể có vai trò quan trong việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự

Trong quá trình giải quyết vụ ándân sự hầu hếtcác hoạtđộngtốtụng mang tính quyền lực nhà nước được thực hiện bởi Tòa án. Tòa án là chủ thể được nhà nước trao quyền giải quyết các tranh chấp, xung đột về lợi ích giữa các cá nhân, tổ chức với nhau. Các quyết định của Tòa án có giá trị bắt buộc đối với các chủ thể tham giatố tụng. Do đó, Tòa án là chủ thể có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự.

Mức độ ảnhhưởng của Tòa án đối với việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự phụ thuộc vào mô hình tố tụng của mỗi nước. Theo nhận xét của tác giả Jack I.H. Jacob, trong hệ thống thẩm xét mà đặc trưng được áp dụng tại Pháp và các nước châu Âu lục địa thì vai trò của Tòa án là trung tâm của quá trình tố tụng. Trái lại, trong hệthống tranh tụng áp dụng tại Anh Quốc, Hoa kỳ và một số nước khác thì vị trí trung tâm của tố tụng thuộc về chính các đương sự [98, tr.9]. Như vậy,đối với những nước theo mô hình tố tụng thẩm xét thì Tòa án vẫn đóng vai trò chi phối đối với các hoạt

30

động tốtụng, nên có thểtácđộng mạnhmẽđếnviệc bảo đảmquyềntốtụng của đương sự.Theo đánh giá của tác giả Tống Công Cường, mô hình tố tụng Việt Nam cơ bản áp dụng theo mô hình thẩm xét của những nước châu Âu lục địa. Tuy nhiên, vìmô hình tranh tụng triệt để như Anh, Hoa kỳ hay mô hình thẩm xét truyền thống của Phápđềucó nhữnghạnchếnhấtđịnh nên xuhướngcảicáchtạihầuhếtcácnước hiện nay là kết hợp những ưu điểm của hai mô hình trên [64, tr.47, 48]. Việc cải cách tư phápcủanướcta cũng theo xuhướngchung củathếgiới,cụthểnướctađãáp dụng những hạt nhân hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng như áp dụng nguyên tắc tranh tụng trong xét xử. Tuy nhiên, mô hình tố tụng nước ta vẫn chịu ảnh hưởng bởi mô hìnhtốtụng thẩm xét. Vì vậy, “vai trò và trách nhiệmcủađươngsựcòn phụnhiều vào Tòa án. Tòa án là chủ thể quyết định về thủ tục, quyết định về giá trị cũng như mức độ đầyđủ của chứng cứ”[64, tr.146]. Điều nàyđược thể hiện rất rõ trong quy định tại Điều khoản 1 Điều 96 BLTTDS Việt Nam: “Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã đượcgiao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở đểgiải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ. Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại Điều 97 của Bộluật nàyđể giải quyếtvụviệc dânsự”.Như vậy, với sự tácđộng mạnh mẽcủa cải cách tư pháp, áp dụng nguyêntắctranh tụng trong xét xử, nên vai trò và quyền tựquyết của đương sự trong TTDS được nâng cao hơn so với trước đây. Tuy nhiên, Tòaánvẫnquyết định vềthủtục, mứcđộ đầyđủcủachứng cứ. Do vậy, việc bảođảm quyền tố tụng của đương sự không thể thiếu vai trò của Tòa án.

Có ý kiến nhận định rằng, quyền con người không tự thân nó có thể vận hành trong thực tiễnnếukhôngcó sựtác động từ phía chủthểcông quyềnvớivai trò làngười điều khiển sự vận động các quy tắc hướng xã hội có trật tự. Bất kỳ một quyền con người, quyền công dân cụ thể nào nếu không được quy định thêm vàođócác yếu tố bảo trợ cần thiết về mặt thủ tục thực hiện cũng như các thiết chế bảo đảm thực hiện sẽ không thể nào có sức sống thực tế [61, tr. 184]. Quyền tố tụng dân sự của đương sựcũng không phải là ngoại lệ và Tòa án là cơ quan đại diện cho công quyền điều khiển sự vận hành bảo đảm thực hiện quyền tố tụng của đương sự khi họ tham gia tại Tòa án. Vì vậy, quyền tố tụng của đương sự được bảo đảm thực hiện hay không phụ thuộc vào hành vi tố tụng của Tòa án. Theo quy định của BLTTDS Việt Nam thì phần lớn

31

các quyền tố tụng của đương sự sẽ được bảo đảm thực hiện thông qua việc thực hiện các trách nhiệm tương ứng của Tòa án. Đối với các quyền tố tụng của đương sự nhưquyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ; đề nghị Tòa án yêu cầu đương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang giữ; đề nghị Tòa án ra quyếtđịnhyêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định,quyết định việc địnhgiá tài sản; đề nghị Tòa án quyết định áp dụng, thay đổi, hủybỏbiện pháp khẩncấptạmthờichỉđượcbảođảmthực hiệnđượckhi Tòa án thực hiện đúng nhiệm vụ, trách nhiệm của mình trong quá trình tố tụng.

Bên cạnhđó,có những quyềntốtụng củađương sựphải thông qua Tòa án hoặc do Tòa án tác động mới thựchiện được như quyềnđềxuất vớiTòa án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng. Do đó, quyềntốtụngcủađương sựchỉđượcbảođảmkhi Tòa án thực hiện nghiêm túc nhiệmvụ,quyềnhạncủamình. Mặtkhác, các quyềntốtụng cụthểcủađương sựmuốn thực hiện được thì phải được sự đồng ý, chấp thuận của Tòa án thể hiện thông qua các văn bản hoặc hành vi tố tụng của Tòa án. Dođó,Tòa án là chủ thể có vai trò quan trong việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự.

1.1.2.2. Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự được áp dụng cho tất cả các bên đương sự

“Đương sự là chủ thể có lợi ích cần được giải quyết trong vụ án dân sự” [64, tr.148]. Khi tham gia tại tố tụng tại Tòa án các bên đương sự bình đẳng về quyền vànghĩa vụ pháp lý. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án không được thiên lệch với bất cứ đương sự nàodù với bất cứ lý do gì. Điều này được ghi nhận trong Công ước quốctếvề quyền dân sự, chính trị năm 1966:“Mọingườiđều bìnhđẳng trước các Tòa án và cơ quan tài phán. Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sởphápluật để quyết địnhvề lời buộc tội người đó trong các vụ án hình sự, hoặc để xác

địnhquyền và nghĩa vụ của người đó trong các vụ kiện dân sự…”.[116]. Đây là cơsở pháp lý cao nhất về quyền bìnhđẳng được ghinhận trong văn kiện quốc tế và lànềntảng đểkhẳng địnhkhi tham giatốtụng các bên đương sựđềuđượcbảođảm thực hiện quyền tố. Vì vậy, đương sự dù là nguyên đơn, bị đơn hay người có quyền

lợi, nghĩa vụ liên quan đều được pháp luật bảo vệ như nhau. Bởi mục đích của TTDS là tôn trọng sựthật khách quan, bảođảmcho những giátrịcông bằng vàbảovệquyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng.

32

Mặt khác, xuất phát từ bản chất của quan hệ dân sự là bình đẳng – thỏa thuận nênđịa vị pháplý của các đương sự là ngang nhau. Khi các bên cho rằng các . quyền dânsựcủamìnhbịxâm phạm thì cóthểkhởi kiện ra Tòa án đểkhôi phục lại các quyền, lợi ích hợp pháp đó. Điều này chỉ có thể thực hiện được nếu các bênđương sựđều được bảo đảmđểthực hiện quyền tốtụng. ỞViệt Nam, việcbảođảmquyềntố

tụngcủađươngsựđượcáp dụng cho tấtcảcác bên đương sựthểhiện thông qua nguyên tắc bìnhđẳng trong tố tụng dân sự đượcghi nhận tại Điều 8 BLTTDS năm 2015, theo đó thì “trongtốtụng dânsự mọingười đềubìnhđẳng trướcpháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trìnhđộ văn hoá, nghề nghiệp,địa vị xã hội. Mọicơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án”. Theo tác giả Phan Hữu Thư, nguyêntắcnày khẳng địnhđịa vị của mọi người, mọi cơ quan, tổ chức lànhư nhau, không ai, không cơ quan,tổchức nào có quyềnđứng trên pháp luậtđểđược hưởng những ưu tiên, ưu đãi cũng như không ai bị phân biệt đối xử vì dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, địa vị xãhộicủa mình [72, tr.23]. Vì vậy, có ý kiến cho rằng, “việcthực hiện đúng nguyên tắc này sẽtạođiềukiện cho đương sự thực hiện được các quyền và nghĩa vụ tốtụng của mìnhđồng thờibảođảmcho Tòa án xétxử công bằng, nghiêm minh, chính xác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự” [31, tr.31]. Ở phương diện thực tiễn, khi Tòa án thiên vị cho một bên đương sự thì phán quyết của Tòaán sẽkhông chính xác, không phù hợp với luật pháp và thựctếkhách quan, khôngbảođảm quyền, lợi ích hợp pháp của các đươngsự.

Mục đích của việc xét xử là xác định được sự thật khách quan, làm sáng tỏ các mâu thuẫn, các vấn đề tranh chấp. Do đó, các bên đương sự được bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện dễ dàng và hiệu quả các quyền tố tụng luật định. Quyền tố

tụng của đương sự được bảo đảm càng cao thì niềm tin của người dân về lẽ phải,sựcông bằng trong hoạt động xét xử càng lớn. Chính vì vậy, vấn đề cơ bản nhất trong xét xử là bảo đảm quyền tố tụng cho các đương sự. Thực tiễn xã hội cho thấy các bên tranh chấp có thể vì quyền lợi của mình mà tác động về tinh thần hay vật chất để cóđược sự thiên vị từ phía cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, nguy cơ Tòa án bênh vực cho một trong các bên nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi liên quan là có thể xảy ra. Một khi quyền tố tụng của đương sự không được bảo đảm thực hiện như nhau thìnhững giá trị của hoạt động xét xử sẽ mất đi, niềm tin của công chúng vào cơ quan thực thi công lý sẽ bị sụp đổ. Vì vậy, quyền tố tụng của đương sự đã được luật pháp

33

ghi nhận chỉ thực sự có ý nghĩa và được bảo đảm thực hiện nếu như Tòa án thực sựđộclập, khách quan, không thiênvịhay phân biệt đốixửgiữa các bênđươngsự. Ngoài ra, ngay cả trường hợp Tòa án thật sự vô tư, khách quan thì vẫn phải quan tâm và cẩn trọng trong việc tạo điều kiện cho tất cả các đương sự đều có cơ hội tốt nhất đểcó thể thực hiện được các quyền tố tụng mà pháp luật trao cho. Nếu tất cả các đương sự đều có cơhội để thực hiện một cách tốt nhất các quyền tố tụng của mình sẽ giúp Tòa án có cái nhìn thấu đáo, toàn diện và sâu sắc hơn về vụ tranh chấp, từ đó cóthểđưa ra được phán quyết phù hợp với sự thật khách quan và đúng pháp luật.

1.1.2.3. Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự là cơ sở cho việc bảo vệ quyền dân sự của chủ thể được pháp luật bảo hộ

Theo quan điểm của C.Mác thì “thủ tục tố tục chỉ là hình thức tồn tại của luật” và “tố tụng là hình thức bảo vệ pháp luật” [9]. Vì vậy, pháp luật TTDS là phương thức bảo đảmcho luậtnộidung (Luật Dânsự,Luật Hôn nhân gia đình, Luật kinh doanh

thương mại, Luật lao động…), bảo đảm cho các quyền dân sự được thực hiện. Trongđời sống hàng ngày các chủ thể tham gia xác lập các giao dịch dân sự để phục vụ cho lợi ích của mình. Nếu có tranh chấp, vi phạm họ có thể lựa chọn Tòa án giải quyết với mục đích là thông qua cơ quan tài phánnhà nước đểkhôi phục lạicác quyền dân sự. Việc khôi phục các quyền dân sự đó có chính xác như bản chất của nó hay không phụ thuộc vào quyền tố tụngcủa đươngsự cóđược bảo đảm thực hiện hay không. Vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có trách nhiệm tạo mọiđiều kiện cần thiếtđể đương sựthực hiện quyền tố tụng của mình.

Đểlàm sángtỏcác tình tiết, nhằm khôi phục chính xác các quyền dânsự bịxâm phạm, quá trình giải quyết vụ án dân sự phải diễn ra theo một quy trình chặt chẽ

từđiểm khởi đầu đếnkếtthúc và hoạt động xét xử của Tòa án phải đượctiến hành theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Bởi phán quyết của Tòa án buộc các chủ thể xâm phạm quyền dân sự phải chấm dứt hành vi vi phạm phải dựa trên sự minh bạch, khách quan. Tòa án phải khẳng địnhtínhhợppháp của hành vi pháp lý trong các phán quyết. Điềunày phụ thuộc vào quyềntốtụngcủa đươngsựcó đượcvận hành hiệu quảhay không. Vì vậy, trong quá trình giải quyếtvụán đương sựđượctựdo thực hiện các quyền tố tụng trên cơ sở pháp luật tố tụng dân sự đã quy định và ngăn cấm bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào cản trở hay xâm phạm các quyền tố tụng đó.

Như vậy, nếu như pháp luật nội dung xácđịnhquyền, nghĩa vụ của cá nhân vàđưara chuẩn mực quy định ràng buộc các mối quan hệ trong đời sống thường ngày thì pháp luật về tố tụng, thông qua các thủ tục tố tụng bảo vệ và quy định giá trị của

34

luật nội dung hay nói cách khác chính luậttốtụng thổi sứcsống vào cho luật nội dung, mang lại sự khắc phục, tính hiệu quả, đưa các quy định của pháp luật nội dung vào thực tế cuộc sống. Chính vì vậy, bảo đảm quyền tố tụng dânsự của đương sự làcơ sở cho việc bảo vệ quyền dân sự của chủ thể được pháp luật bảo hộ.

1.1.2.4. Bảođảmquyềntốtụngcủađương sựtrongtốtụng dân sựđược thực hiện bằng nhiều biện pháp phối hợp

TTDS là sự tổng hợp các hoạt động của các chủ thể tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự [64, tr. 13], cáchoạt độngtố tụng này được thực hiện bởi nhiều giai đoạntốtụng với các trình tự, thủtụckhác nhau. Vì vậy, để quyềntốtụng của đương sự được bảo đảm thực hiện trên thực tế thì cần phối hợp thực hiện bằng nhiều biện pháp. Theo đó, pháp luật TTDS cần phải cụthể hóa các quyền và nghĩavụtố

tụng của đương sự trong từng trình tự tố tụng tương ứng làm căn cứ pháp lý để đương sự sử dụng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Pháp luật khôngchỉghi nhận đầy đủ, rõ ràng các quyền tố tụng cụ thể mà còn phải ghi nhận và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tố tụng tương ứng của mỗi đương sự trong mối liên hệ với các quyền tố tụng tương ứng của đương sự khác. Bởi quyền của đương sự này được bảo đảm thông qua việc thực hiện nghĩa vụ của đương sự đối lập. Có những quyền tố tụng cụ thể mà chỉkhi đươngsự đối lập thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của họ thìquyền tố tụngcủa đươngsựnày mới được bảo đảm thực hiện.

Quyền tố tụng của đương sự cònđược bảo đảm thôngqua hành vi tố tụng của Tòa án. Để hành vi tố tụng của Tòa án hướng tới việc bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự thì có những trường hợp pháp luật tố tụng cần quy định theo hướng quyền của đương sự được thực thi thông qua nhiệm vụ, trách nhiệmđối ứng củaTòa án. Do đó, bên cạnh quyđịnh quyền và nghĩavụtốtụng của đương sựthìpháp luật tốtụng dânsự cầncụthểhóa trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hànhtốtụng làm cơ sởpháp lý phát sinh trách nhiệmcủacơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cho việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự,đồng thời là căn cứ pháp lý để xác định hành vi vi phạm quyền tố tụng của đương sự

từcơ quan tiến hànhtốtụng, người tiến hànhtốtụng. Bởi trong các quyđịnhcủa pháp luật tố tụng, lĩnh vực mà các quyền con người có nguy cơ bị vi phạm hiều nhất thì việc quyđịnhquyềntốtụng điđôivới nghĩavụtốtụng củacông dân và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm cho công dân thực hiện các quyền tố tụng cóý nghĩa rất quan trọng [62, tr.22].

Việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự còn được thực hiện bởi cơ chế phối

35

hợp của các chủ thể hữu quan như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người đại diện của đương sự; các chủ thể lưu giữ chứng cứ, tài liệu, tổ chức định

giá, giám định, các tổ chức tín dụng.v.v… Chỉ khi các chủ thể này hỗ trợ, phối hợp vàtạo mọi điều kiện thuận lợi cho đương sự trong quá trình tố tụng thì các quyền tố tụng của họ mới thực hiện một cách hiệu quả và lợi ích hợp phápcủa họ mới được bảo vệ.

Bên cạnhđó,việc thiếtlậpcơ chếkiểm sát là một trong những biện pháp pháp lý không thể thiếu để bảođảm quyền tốtụng củađương sự.

Ngoài các giải pháp trên, pháp luật TTDS cần xây dựng các chế tài để xử lýcác hành vi vi phạm quyềntốtụng củađương sự nhằmbảo đảm cácquyềntốtụng củađương sựđược chắc chắnthực hiện trên thực tế.Bởi thựctếchứng minh rằng, pháp luật không chỉ đơn thuần là điều luật mà còn phải là áp dụng. Điều này có nghĩa rằng quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định sẽ không có giá trị gì nếu chúng không đượcthực thi trọn vẹn,đặc biệtlà trong trường hợp các quyền nàybịvi phạm trên thực tế. Nói cách khác, một tuyên bố về quyền có thể không đưa ra được sự đảm bảo bền vững khi chúng bị vi phạm, bị đình chỉ hay tước đoạt [93].

1.2. Cơ sở khoa học của việc xây dựng pháp luật về bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự

1.2.1. Việc xây dựng pháp luật về bảo đảm quyền tố tụng của đương sự xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Theo Tiến sĩ Nguyễn Công Bình: “Quyền, lợi ích là cơ sở để con người tồn tại trong xã hội nên khi tham gia vào các quan hệ xã hội mỗingườiđều quan tâm đến những quyền, lợi ích nhất định” [30, tr.41]. Tuy nhiên, nhiệm vụ của pháp luật là bảo hộ những quyền, lợi ích dân sự hợp pháp đã được ghi nhận, do vậy, cần thiết lập hệthống các quyền tố tụng mà chủ thể có quyền lợi có thể sử dụng để bảo vệ quyền lợi của mình. Khi các chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự bị vi phạm hay tranh chấp thì họ có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ. Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung phụ thuộc vào việc bảo đảm quyền tốtụng củađương sự. Bởibảođảmquyềntốtụng củađương sựđượcxem là một trong những phương thứcđểbảođảmquyền dânsự.Cóýkiến cho rằng, “nhàlập pháp quy định quyền lợi của tư nhân cũng chưa đủ, cần phải chohọ phương tiện đểbảovệ quyềnlợinày khibị đedọa, phương tiện ấy chính là quyền đi kiện đến Tòa án” [36, tr.35]. Ý kiến này đề cao phương thứccầu viện đếnTòa án với ưu thế đặc biệt là sử dụng quyền lực nhà nước để ra các phán quyết giải quyết vụ án dân sự dựa trên các quy định có sẵn trong hệ thống pháp luật nội dung, Tòa án sẽ nhận biết được

36

sự đúngsai trong các hành vi của các chủ thể, từ đó Tòa án sẽ ra các phán quyết công minh, bảo đảm sự công bằng cho các bên trong vụ án dân sự [76, tr.51]. Chính vì thế,đi đôivớiviệc ghi nhận quyền,lợiích tư của mỗichủthể, pháp luật phải ghi nhận quyền tố tụng của đương sự và bảo đảm cho các quyền tố tụng đó được thực thi trên thực tế để bảo đảm sự tôntrọng cần thiết đối với các quyền, lợi ích tư của các chủ thểmà pháp luật đã ghi nhận.

Việc nhànướcthừa nhận các quyền, lợi íchcủacácchủthểvà bảođảmsựbình đẳng, an toàn về mặt pháp lý trong các quan hệ pháp luật về dân sự, góp phần ổn định các quan hệ xã hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, trong đời sống xã hội, các quan hệ dân sự không phải lúc nào cũng tuân theo một trật tự nhất định, các tranh chấp, mâu thuẫn về quyền, lợi ích giữa các chủ thể có thể xảy ra. Khi phát sinh tranh chấp, đương sự có thể lựa chọn các phương thức khác nhau để bảo vệ quyền, lợiíchhợpphápcủamình. Thông thường, Tòa án là phương thức đương sựlựachọn trong trường hợp việc thương lượng, hòa giải không thành. Tòa án sử dụng quyền lực nhà nước, với các biện pháp mang tính cưỡng chế để đưa các lợi ích tư trở về qũy đạo vốncó của nó,bảovệ các quyền, lợi ích hợp phápcủacác đương sự.Đểđạt đượcđiềuđópháp luật phải ghi nhận các quyềntốtụng củađươngsựvàtạođiềukiện thuận lợi để họ có thể thực hiện được những quyền tố tụng đó.

Mặt khác, trong các phương thức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự của các chủ thể thì phương thức yêu cầu Tòa án bảo vệ là “công cụ hữu hiệu nhất trong toàn bộ các phương thức khác nhau mà xãhộivà Nhànướcdùng đểgiải quyết các tranh chấp và mâu thuẫn lợi ích”[11, tr.390]. Tuy nhiên, xuất phát từquan niệm “việc dân sự cốt ở đôibên”nên Tòa án chỉ can thiệp, bảo vệ quyền, lợi ích cho các chủ thể khi họ có yêu cầu. Do đó, pháp luật phải ghi nhận các quyền tố tụng để các chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp sử dụng khi các quyền, lợi ích của họ bị xâm phạm hay có nguy cơ bị xâm phạm.Đểxácđịnhđược sựthật khách quan củavụ án, cần phải làm rõ bản chất của các quan hệ pháp luật tranh chấp, nên quá trình giải quyết vụán phải trải qua một quy trình tố tụng chặt chẽ với nhiều hoạt động tố tụng khác nhau và có sự tham gia của nhiều chủ thể nhằm làm sáng tỏ sự thật của vụ án, nhưng trên thựctếvẫncó tình trạng quyềntốtụng củacácchủthểbịxâm phạm.Đểbảovệquyền, lợi ích hợp của các chủ thể thì, pháp luật chỉ ghi nhận các quyền tố tụng thôi chưađủmà phải bảo đảm cho các chủ thể có thể thực hiện được quyền tố tụng đó. Nhà nghiên cứuNguyễn HuyĐẩucho rằng,“một quyềnlợiđượcpháp luật công nhận nhiều khi không đủ bảo đảm cho người có quyền hưởng dụng: quyền lợi cóthể

37

bị phủ nhận, bị xâm phạm” [36, tr.3].

Pháp luật TTDS được xây dựng trên nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt của đương sự, nên trong quá trình tham gia tố tụng tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng, quan hệ pháp luật dân sự bị xâm phạm để các chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các quyền tố tụng đã được pháp luật ghi nhận để bảo vệ quyền, lợi của họ như quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyền, quyền thỏa thuận, quyền tham gia

hòa giải, quyền khiếunại…Vớiquan niệm“phápluật TTDS quyđịnhcác phương thức bảo vệ các quyền dân sự của các chủ thể tại Tòa án để góp phần cho các quyềnđóđược thực hiện trên thực tế” [45, tr.22], thì “bản thân” các quyền tố tụng đó phảiđược tôn trọng, bảo đảm thực hiện.

Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là hoạt động luôn được Nhànước ta quan tâm. “Quyền dân sự của con người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Nhà nước với tư cách là cơ quan có chức năng quản lý, điều hành mọi hoạt động củađời sống xã hội ngoài việc quy định các quyền dân sự của các chủ thể thì toàn bộ tổchức củabộmáy nhànướcphảiđượcthiếtkếnhằmbảođảmthực hiện những nội dung của quyền dân sự” [44, tr.216]. Tòa án là cơ quan được thiết lập để bảo vệ các quyền và lợi íchhợpphápcủacácchủthểvà Nhànướctrao cho các chủthểcó quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích dân sự của mình, đồng thời ghi nhận và cụ thể hóa các quyền tố tụng tiếp theo của đương sự cũng như những bảo đảm cần thiết để các chủ thể có thể thực hiện quyền tố tụng của họ. Như vậy, bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự xuất phát và gắn liền với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa đương sự.

1.2.2. Việc xây dựng các quy định về bảo đảm quyền tố tụng của đương sựđược dựatrên các các chuẩn mực quốctếvềquyền con người

Nhànướcquản lý xãhộibằng pháp luật và pháp luật là công cụ chủyếuđể Nhànước quảnlý và duy trì trật tự xãhội. Để bảo đảm trật tựxã hộiđược ổn định, bảo đảm cáctranh chấp, mâu thuẫndân sự đượcgiải quyết nhanh chóng, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức thì Nhà nước phải ban hành một hệthống pháp luậtđểđiều chỉnh cácmốiquanhệxã hộitrên cơ sởtôn trọng quyền của công dân [45, tr.22]. Tuy nhiên, trong xu thế phát triển chung của thế giớiđòi hỏi giữa các Quốc gia phải có sự hội nhập không chỉ về mặt kinh tế, chính trị – xã hội mà cả vềmặt pháp luật. Vớithời đại toàn cầu hóa các hành vi xâm phạm quyền dân sự không chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà có thể vượtqua biên giới lãnh thổ quốc gia khác, đòi hỏi giữa các nước phải có sự phối hợp để giữ gìn các

38

quyền dân sự. Vì vậy, Việt Nam đã tham gia rất nhiều các công ước quốc tế về quyền con người. Trong lĩnhvựctố tụng dân sự có các Công ước như Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ướcquốctếvềcác quyền dân sự và chính trị năm 1996.

Những tư tưởng về quyền con người trong tố tụng dânsự được thể hiện hiện trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 được quy định tại Điều 7, Điều 8,Điều 10 của Công ước [115]. Theo đó, Điều 7 quy định: “Mọi người đều bìnhđẳng trướcpháp luật và đượcpháp luật bảovệ bìnhđẳngkhông kỳthị. Mọi ngườiđều được bảovệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giụckỳthị trái với Tuyên Ngôn này”; Điều 8: “Ai cũng có quyền yêu cầu Tòa án quốc gia có thẩm quyền can thiệp chống lại những hànhđộng vi phạm những quyền cănbảnđược hiếnpháp và luật pháp thừa nhận” và Điều10: “Ai cũng có quyền, trên căn bản hoàn toàn bình đẳng,đượcmột Tòa án độc lập và vô tư xét xử một cách công khai và công bằng để phán xử về những quyềnlợivà nghiãvụcủamình, hay vềnhững tộitrạng hình sựmà mìnhbị cáo buộc”.

Trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1996 được quyđịnhtại Điều 14:“Mọingườiđều bình đẳng trướccác Tòa án và cơ quan tài phán. Mọi người đềucó quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tộingười đótrong các vụ án hình sự, hoặc để xác định quyền và nghĩa vụ của ngườiđó trong cácvụkiện dân sự. Báo chí và công chúng có thểkhông được phép tham dự toàn bộ hoặc một phần của phiên toà vì lý do đạo đức, trật tự công cộng hoặc an ninh quốc gia trong một xã hội dân chủ, hoặc vì lợi ích cuộc sống riêng tư của các bên tham gia tố tụng, hoặc trong chừng mực cần thiết, theo ý kiến của Tòa án, trong những hoàn cảnh đặc biệt mà việc xét xử công khai có thể làm phương hại đến lợi ích của công lý. Tuy nhiên mọi phán quyết trong vụ án hình sự hoặc vụ kiện dânsự phảiđượctuyên công khai, trừtrường hợpvì lợiíchcủangườichưa thành niên hayvụ việc liên quan đến những tranh chấp hôn nhân hoặc quyền giám hộ trẻ em” [116].

Các quy định về quyền con người đượcđề cậptrong các Côngướcnêu trên làcơ sở pháp lý quan trọng để Việt Nam nội luật hóa trong pháp luật TTDS. Theo đó, quyềntốtụng của đương sựđượcbảo đảmtrên cơ sở:Các nguyên tắc TTDS; các quyền tố tụng của đương sự; xây dựng các cơ sở pháp lý và tạođiều kiện để đương sự thực hiện các quyền tố tụng đó. Việc hoàn thiện pháp luật tố tụng trong mối quan hệvớipháp luật quốc tế phải “chútrọng đến những đặc điểmriêng biệt vềtâm lí, văn

39

hóa, truyền thống dân tộc, điều kiện kinh tế xã hội nhằm bảo đảm thích ứng và phùhợpcủa pháp luật tố tụng dân sự với đời sống” [73, tr.428].

Mặt khác, các quy định về quyền con người trong Công ước nhân quyền châuÂu (ký ngày 4/11/1950 và có hiệu lực ngày 3/9/1953) cũng là các tiêu chuẩn cơ bản về bảo đảm quyền con người để pháp luật Việt Nam soi chiếu khi nghiên cứu về bảo đảm quyền tố tụng của đương sự. Tại Điều 6 Công ước nhân quyền châu Âu đề cập đến quyền được xét xử bởi một Tòa án độc lập, khách quan, trong một thời hạn hợp lý. Đây làmộttrong những quyềntốtụng quan trọngcủađươngsựmà pháp luật TTDS cần phải ghi nhận để bảo đảm quyền tố tụng của đương sự.

1.2.3. Việc xây dựng các quyđịnhvề bảo đảm quyền tốtụng của đươngsựđược xuất phát từ yêu cầu bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp

Quyền con người trong TTDS là tổng hợp các quyền tố tụng của cácchủ thểtham gia trong hoạt động TTDS với tư cách là con người được Nhà nước thừa nhận vàbảođảmbằng pháp luậttốtụng và pháp luật quốc tế. Quyền con người trong TTDS được thể hiện cụ thể trong các quyền và nghĩa vụ tố tụng của những tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và những người khác [44, tr. 214]. Trong đó bao hàm các quyềntốtụng của đươngsự.Tùy theo mỗi trìnhtựtốtụng pháp luật quyđịnh đương sự có các quyền tố tụng khác nhau. Trình tự tố tụng sơ thẩm đương sự có các quyền như quyền khởi kiện, quyền phản tố, quyền hòa giải, quyền tham gia phiên tòa,

quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời…; Trình tự tố tụng phúc thẩm, giámđốc, tái thẩm thì đương sựcó các quyềntốtụng như quyền kháng cáo,

quyền đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm.v.v… Pháp luật không chỉ ghi nhận các quyền tố tụng của đương sự mà còn bảo đảm thực hiện. Vì vậy, bảo đảm quyền tố tụng củađương sựtrong TTDS là một trong những nộidung củabảođảmquyền con người trong hoạt động tư pháp.

Mặt khác, đương sự chịu sự phán quyết của Tòa án, phán quyết đó tác

động trực tiếp quyền lợi của đương sự, nênđươngsự và quyền tố tụng của đương sựlà vấn đề chính được quan tâm. Để bảo đảm quyền con người trong TTDS, trong đó

đương sự đóng vai trò trung tâm thì tất cả cácchủthể khác, trong đó Tòaán – vớitưcách là cơ quan tư pháp duy trì và bảovệ công lý có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảmcho các quyềntốtụng đóđượcthực hiện. Vì vậy, Nhànướccầnquyđịnhcác quyềntốtụng cụthểtạo hành lang pháp lý vững chắc làm cơ sởđểđươngsựthực hiện quyền khi có nhu cầu.

40

Quyền con người đã được ghi nhận về mặt pháp lý nhưng chỉ khiđược cụ thểhóa trong luật thì việc tuân thủ, thực hiện các quyền con người mới có giá trị bắt buộc đốivới cácchủthểkhác trong xã hội. Quyền conngười củađương sựtrong TTDSđược thực hiện thông qua việc ghi nhận và thực hiện các quyền, nghĩa vụ của các chủthể tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khác. Xét về nguồn gốc thì bảo đảm thực hiện quyền tố tụng của đương sự xuất phát từ nội dung của việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp.

1.2.4. Việc xây dựng các quy định về bảo đảm quyền tố tụng của đương sựđược dựatrên mối quan hệ giữa luật nội dung và luật tố tụng

Khi nhận xét về mối quan hệ giữa luật nội dung và luật tố tụng, TS Trần anh Tuấn đã dẫn quan điểm học thuật của các tố tụng gia Pháp: “Khi nghiên cứu về mối quanhệ giữaluật nội dung và luật tố tụng, giáo sư N.FRICERO cho rằng: “Mối liên hệ giữaquyền tố tụng và quyềnlợi(quyền chủ quan) là không thể phủ nhận: quyền lợi(quyền chủ quan) là đối tượng của tố quyền, và học lý phân loại các tố quyền căn cứ vào đối tượng này: tố quyềnđộng sảncó đối tượng là một quyền lợiđộng sản, tố quyềnbấtđộng sảncóđốitượng làmộtquyềnlợibấtđộng sản, tốquyền đối nhân dung cho một quyềnlợiđối nhân, và quyềnlợiđối vật được sinh ra từ một hành vi pháplý”. Như vậy, quyềnlợigắn liềnvớiquanhệpháp luật dân sự, hôn nhân giađình, thương mại, lao động chính là đốitượng của quyền khởi kiện và là cơ sở của quyền này” [74].

Theo nhận định của tác giải Đỗ Thị Hà thì vớigóc độ nghiên cứu này, trước khi tham gia vào một quanhệ pháp luật TTDS cụ thể thì đương sự chính là chủ thể của quan hệ luật dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động. Trong các quan hệdân sự theo nghĩa rộng này thì các chủ thể có các quyền dân sự nhấtđịnhvà chỉ khi các quyền dân sự của chểthểbị xâm phạm thì các chủ thể mới có quyền tựbảo vệhoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ [19, tr.14]. Quyền lợigắnliền với quanhệpháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động chính là đối tượng, là cơ sở của quyền tố tụng. Như vậy, các quyền tố tụng của đương sự bắt nguồn và xuất pháttừ việc bảo vệcác quyền dân sự.

Mặt khác, xuất phát từ Điều 11 Bộ Luật dân sự 2015 quy định: “Khi quyền dân sự của cánhân, pháp nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quyđịnhcủa Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền: 1. Công nhận, tôn trọng,bảo vệ và bảođảm quyền dân sự của mình; 2. Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; 3. Buộc xin lỗi, cải chính công khai; 4. Buộc thực hiện

41

nghĩa vụ; 5. Buộc bồi thường thiệt hại; 6. Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơquan, tổ chức, người có thẩm quyền; 7. Yêu cầu khác theo quy địnhcủaluật”.Như vậy, nếu các chủ thể của quan hệ pháp dân sự có quyền, lợi bị xâm phạm thì họ cóthểyêu cầu yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ và Tòa án là một trong những cơ quan đó. Một khi các quyền dân sự bị xâm phạm và các đương sự yêu cầu Tòa án bảovệthì quá trìnhđó phảiđượctiến hành theomộttrình tự, thủtụcluật định.Vì vậy, tùy thuộc vào quan hệ pháp luật bị tranh chấp và tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng để pháp luật TTDS ghi nhận các quyềntố tụngcụ thểcủa đương sự. Các quyền tốtụng đượcghi nhận trong luật theo hướng tạođiềukiện thuận lợicho đương sự tham gia tố tụng nhằm bảo vệ các quyền về dân sự.

Xét dưới góc độ lý luận, thì pháp luật TTDS có mối quan hệ mật thiết với pháp luật nội dung [43, tr.147]. Đồng quan điểmnày tác giải Mai Văn Thắng nhậnđịnh: Pháp luật nội dung sẽchỉlà những quyđịnhtrên giấynếuchỉcó những quyđịnhvề quyền và nghĩa vụ của chủ thể mà không có quy trình, cơ chế để thực thi các quyền, nghĩa vụ ấy. Ngược lại, sẽ chẳng có một hình thức, thủ tục pháp lý nào cóthểđược triển khai nếu không có những quy định về nội dungcủa vấn đề cần thực hiện (thực hiện cái gì, ai thực hiện…). Những quy định của pháp luật nội dung có thể sẽ rất lý tưởng nhưng không có quy trình, cơ chế pháp lý chặt chẽ của pháp luật thủ tục thì

sẽ dẫnđến việc ápdụng tùy tiện, lạm quyền, thiếu nhất quán…và đương nhiên,hệqủa tất yếu là sẽ dẫn đến nguy cơ làm mất đi giá trị, ý nghĩa đích thực của pháp luật trong bảo đảm, bảo vệ sự công bằng và lẽ phải [120]. Vì vậy, trong mối tương quan này, để bảo vệ các quyền dân sự thì pháp luật phải hướng đến bảo đảm các quyền tố

tụng, nói cách khác bảo đảm quyền tố tụng của đương sự chính là bảo đảm cho việc phục hồi các quyền dân sự trong trường hợp các quyền đó bị xâm phạm.

1.2.5. Việc xây dựng pháp luật về bảo đảm quyền tố tụng của đương sự xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn tố tụng dân sự tại Tòa án

Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã cải thiện đángkể đời sống vật chất của ngườidân. Tuy nhiên, mặt trái cơ chế này dẫn tới là những mâu thuẫn của người dân ngày một gia tăng và phức tạp. Khi phát sinh tranh chấp, các chủ thể thường lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hữu hiệu và mang tính cưỡng chế mạnh mẽnhất là Tòa án, với kỳvọng vềmột phán quyết công bằng, chính xác. Kết quả giải quyết tranh chấp sẽ tácđộngtrực tiếpđến quyền và lợiích hợp pháp của đương sự. Theo nhận định của TS. Nguyễn Thị Thu Hà thì:“Cần phải có cơ chế bảođảm cho các đương sự thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự” [42, tr.

42

43]. Điều đóchỉ đạt đượcnếu quyền tố tụng của đương sự tôn trọng, đượcbảo đảm thực hiện bởi chính các đương sự và các chủthểhữu quan khác. Chính vì vậy đi đôi với việc ghi nhận các quyền, lợi ích tư của mỗi chủ thể thì pháp luật phải ghi nhận các quyền tố tụng của các chủ thể.

Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết vụ án dân sự thì hầuhếtcác hoạt động tố tụng được thực hiện bởi Tòa án. Vì vậy, để bảo đảm quyền tốtụng của đương sựnày thì Tòa án phảiđượctrao cho các quyền hạncầnthiết đểbuộc đương sựkhác phải thực hiện nghĩavụ của họ. Mặtkhác, nếuhoạt động củaTòa án không chuẩn mực thì có nguy cơ xâm phạm quyền tố tụng của đương sự. Vì Tòa án được nhà nước trao quyền để giải quyết các vụ việc dân sự nên những chủ thể này rất dễ và hoàn toàn có khả năng lạm dụng quyền lực trong khi giải quyết các vụ việc dân sự [44, tr.217]. Bởihoạt độngbảođảmquyềntốtụng củađươngsự đượcthực hiện bởi những chủthể tiến hành tố tụng. Những con người được trao quyền nắm giữ quyền lực nhà nước không phải là thiên thần mà là những con ngườicủaxã hộimang trong mìnhcảnhững phẩm chất tốt đẹp và những hạn chế nhất định. Xét về bản chất thì con người, bên cạnh những đức tính sáng tạo, chăm chỉ, còn có cả tính lười nhác, tùy tiện, tham lam, thích quyền lực. Khi một ngườiđượcgiao quyền lực nhànướcnếukhông có những động cơ khắc phục sự đam mê quyền lực của bản thân, không kiểm soát được hạn chế của mình thì hoạt động công quyền của anh ta sẽ kém hiệuquả[35, tr. 196]. Theo thống kê của Ủy ban Tư pháp trong năm 2017, ngành Tòa án đã xử lý 18 công chức trong đó buộc thôi việc hai, hạ bậc lương một, cảnh cáo sáu, khiển trách tám, xửlý hình sự một [20]. Vì vậy, cần có những biện phápđủ mạnhđể ngăn chặn, hạn chế tối đa sự lạm quyền và hành vi vi phạm quyền tố tụng của đương sự có thể phát sinh từcác chủ thểtiến hành tố tụng. Thực tiễn xét xử, cho thấy có một số Tòa án chưa chú trọng làm tốt công tác hòa giải trong quá trình giải quyết một số vụ án, nên tỷ lệhòa giải thành thấp hơn nhiều so với bình quân chung của các Tòa án nhân dân. Đối với công tác xét xử phúc thẩm, có những vụ án thụ lý thụ lý từ trước 01/10/2016 màđến tháng 1/2018 vẫn chưa được giải quyết xong [68].

Ngoài ra, trên thực tế vẫn còn xảy ra tình trạng người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự xâm phạm quyềntốtụng củađương sựmà họbảo vệ. Dẫnđến quyềnđược nhờ người khác bảo vệkhông được thực thi hữu hiệu trên thực tế. “Trong gần 03 năm tính từ ngày 19/5/2015 đến ngày 28/02/2018, Liên đoàn luật sư Việt Nam nhậnđược522đơnthư có nội dung khiếu nại, tố cáo liên quan đến luật sư, người tập sự hành nghề luật sư. Phầnlớncác đơn thư có nội dung khiếu nại, tố cáo luật sư vi

43

phạm đạo đức, ứng xử nghềnghiệp”[60]. Bên cạnh đó, tình trạng cácđương sự đối

lập không thực hiện các nghĩa vụ đối ứngcủahọ đã ảnh hưởng rất lớnđến việc thực hiện các quyền tốcủađương sựkhác. Trong những trườnghợpnày, nếu pháp luật TTDS không quy định trách nhiệm cụ thể của các chủthể đóhoặc quy địnhnhưng thiếu vắng các biện pháphỗtrợ,bảođảmthực hiện quyềntốtụng thì công lýsẽkhông được thực thi.

Xuất pháttừyêucầuthực tiễn đó, đặtra vấn đềbảo đảmquyềntốtụng của đương sự không chỉ ghi nhận, bảo đảm cho đương sự thực hiện quyềntố tụngcủa họ mà còn phải thiết lập cơ chế kiểm sát để buộc các chủthểtiến hành tố tụng và các chủ thể tham gia tố tụng khác phải tuân thủ và hỗ trợ làm cho đương sự vận hành cóhiệu quả các quyền tố tụng đã được pháp luật ghi nhận.

1.3. Nội dung bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dânsự

Nội dung bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sựđược hiểu làhệ thống các biệnpháp “để chắcchắn đương sự cóđầy đủ cơ hội thực hiện được trên thực tế” quyền tố tụng mà pháp luật TTDS ghi nhận cho chủ thể có quyền lợi bịxâm phạm hay tranh chấp trong quá trình tham giatốtụng tại Tòa án. Mặcdù bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS được thực hiện bởi tổng thể nhiều biện pháp khác nhau, nhưng khuôn khổcủaluận án này, nghiên cứusinhchỉtậptrung nghiên cứu biện pháp bảo đảm pháp lý (bảo đảm bằng các quy định của pháp luật) và thực tiễn thực hiện các biện pháp này. Trong biện pháp bảo đảm pháp lý, luận án chỉ

tập trung nghiên cứu các biện pháp bảo đảm sau: Ghi nhận quyền tố tụng của đương sự,xáclậpnghĩavụđốiứngcủa đươngsựkhác;bảođảmthông qua quyđịnh vềngười đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; bảo đảm thông qua việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Tòa án; bảo đảm thông qua quy định về trách nhiệm kiểm sát của Viện kiểm sát; bảo đảm thông qua quy địnhchếtài khi các chủ thể vi phạm quyền tố tụng của đương sự.

1.3.1. Ghinhận đầy đủ cácquyền tố tụng cơ bản của mỗi đương sự đồng thời xác lập và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tương ứng của các đương sự khác

Theo nhận định của giáo sư Witold Wolodkiewicz & giáo sư Mario Zablocka

thuộc Trường Đại học Tổng hợp Warszawa – Ba Lan, để bênhvựcchongười bị hại

thì phải cho họ quyềntốtụng [57, tr.230].Đồng quanđiểmnày, giáo sư Savigny –một nhà luật học xuất chúng trong giới luật học Đức cũng đã kết luận, không phải cứcó một bộ luật là quyền, lợi của người dânsẽ được bảo đảm mà quantrọng là trong nội dung của bộ luật đó là gì [100, tr.354]. Kết hợp cả hai quan điểm này, nghiên cứu

44

sinh cho rằng, để bảo đảm quyền tố tụng của đương sự thì trước tiên pháp luật TTDS phải quy định đầy đủ, hợp lý, minh bạch các quyền tố tụng của đương sự khi họ tham gia tố tụng. Việc quy định quyền tố tụng của các đương sự sẽ công cụ, phương tiện quan trọng để đương sự đòi hỏi công lý, đồng thời, sẽ tạo ra hành lang pháp lý vững chắcbảođảmcho đương sự có khả năngbảovệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Ở Việt Nam, tùy thuộc vào từng giai đoạn lịch sử khác nhau thì quyến tố tụng của đương sự cũng được ghi nhận khác nhau. Dưới triều Lê, Bộ Quốc triều Hình luật bước đầu ghi nhậnmột số quyền tốtụng của đương sự, tạiĐiều 672 BộQuốc triều Hình luật quyđịnh:“Nếuxã quan xửđoán không hợplẽthì kêuđếnquan huyện; quan huyện xử đoán không hợp lẽ thì kêu đến quan lộ; quanlộ xử đoánkhông hợp lẽthì mới đến kinh tâu bầy” [86, tr.17].

Dưới thời kỳ Pháp thuộc, “thực dân Pháp phân chia nước ta thành 3 kỳ và áp dụng các bộ luật khác nhau đề giải quyết các cụ việc dân sự. Các Tòa án Pháp thì áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự của Pháp năm 1806; các Tòa án Việt Nam áp dụng BộDân sựtốtụng BắcKỳnăm 1917,BộHộsựvà Thương sựtốtụng TrungKỳnăm 1942, BộDân sựtốtụng NamKỳnăm 1910. Các vănbảnpháp luật này quyđịnh tương đối đầy đủ, cụ thể các quyền tố tụng của các đương sự như quyền khởi kiện, quyền tự mình tham giatốtụng hoặc nhờ người khác tham gia tố tụng, quyền được đưara các chứngcứ,lýlẽđểbảovệquyền vàlợiíchhợpphápcủamình, quyền kháng cáo” [44, tr.221]. Như vậy, thời kỳ này pháp luật đã ghi nhận một số quyền tố

tụng của đương sự. Tuy nhiên, các quy định này không được áp dụng rộng rãi cho các chủ thể bởi pháp luật thời kỳ này chủ yếu bảo vệ quyền lợi cho thực dân, phong kiến.

Giai đoạn từ năm 1945đến năm1990, Nhà nước ta cũng ban hành một số văn bản pháp luật ghi nhận quyền tố tụng của đương sự. Cụ thể, tại Điều 26Sắc lệnh số51/SL ngày 17/4/1946 quyđịnhcác đương sựcó quyền yêucầuTòa án thi hành phương sách cần thiết để chứng tỏ sự thật; Điều 67 Hiến pháp 1946 quy định đương sự có thể tự mình tham gia tố tụng hoặc nhờ luật sư hoặc người khác tham gia tố tụng.Đến ngày 20/12/1972 chính quyền ngụy Sài Gòn ở miền Nam ban hành Bộ luật Dân sự và Thương sự tố tụng, trong đó đã thừa nhận quyền tự bảo vệ của đương sự, quyền nhờ luật sư, tôn thuộc, ti thuộc, quyền xin thay đổi Thẩm phán, quyền đưa ra yêu cầu phảntố.Ở miền Bắc, nhiều văn bản pháp luật được ban hành như Thông tư 06/TT- TAND ngày 25/2/1974, Công vănsố69/NCPL hướng dẫntrìnhtựxét xử sơ thẩm, Thông tư số 691/QLTPK ngày 31/10/1983 Bộ Tư pháphướng dẫnvềcông tác bào

45

chữa. Các văn bản pháp luật này quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự, vị trívai trò của của luật sư, quyền trao đổi chứng cứ, tranh luận tại phiên tòa [44, tr.221]. Thờikỳnày, pháp luật tố tụng đã bước đầughi nhận các quyền tố tụng cơ bản của đương sự. Tuy nhiên, các quy định này mới chỉ dừng lại ở các văn bản dưới luật nên hiệu quả thực thi không cao.

Giai đoạn 1990 đến nay những quy địnhvề quyền của đương sự tiếp tục được ghi nhận và nâng lên ở mức độ cao hơn. Cụ thể, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụán dân sự quy định các quyền: quyền tự định (Điều 2), quyền bình đẳng về quyền và nghĩavụtốtụng (Điều4), quyềnđưara yêu cầuphản tố, quyền yêucầuđộclập, quyền bìnhđẳng trong việc cung cấp chứngcứchứng minh, quyền tham gia phiên tòa, quyền tham gia phiên hòa giải, quyền yêucầuthay đổiThẩm phán(Điều20). Những quy định này tiếp tục được ghi nhận và bổ sung trong BLTTDS năm 2004 và hiện nay là BLTTDS 2015 với quan điểm chỉ đạo của BLTTDS là “công cụ pháp lý để cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” [69, tr.3]. Về cơ bản quyềntốtụng của đương sựđượcghi nhậntạiđiều70 của BLTTDS 2015. Nghiên cứuBLTTDS cho thấy các quy định về quyền tố tụng củađương sự được ghinhận kháđầy đủ, chitiết,tạo điềukiện cho đương sự thực hiện quyền bảovệlợiích hợp pháp tại Tòa án.

Dưới thời kỳ La mã, mặc dù việc bảo vệ quyền dân sự được thực hiện bằng ba loại tốtụng khác nhau: loại cổxưa nhất làtốtụng theo nghi thức (lesgis actio), tố

tụng công thức (formula), tố tụng theo lý trí suy xét (cognition extra ordinem), nhưng cả ba loại tố tụng đều bước đầu ghi nhận các quyền tố tụng của các chủ thể như quyền khởi kiện, quyền kháng cáo, quyền chỉ định quan tòa đểxửkiện, quyềnđưara các

biện phápbảođảmvớinguyênđơnsẽra trình diện, quyềnbảolãnhtốtụng…[57, tr.208-288]. Với bất kỳ một quốc gia nào và ở vào bất kỳ thời điểm nào, kể cả chế độchính trị khác nhau, quyền tố tụng dân sự của đương sự cũng được ghi nhận và bảo vệ. Bởi nó là phương tiện để đạt được mục tiêu mà pháp luật nội dung đề ra.

Việt Nam không phải lànướcduy nhất ghi nhậncụ thểquyềntốtụng củađương sự tại một điều luật (Điều 70). Trong BLTTDS Nga, quyềntốtụng của đương sự được ghi nhận tại Điều 35. Ở Ucraina, quyền tố tụng của đương sự được ghi nhận tại Điều 27, Điều 31 BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Ở Trung Quốc, quyền tố tụng của đương sự được ghi nhận tại Điều 49 BLTTDS năm 1991 sửa đổi,

bổ sung 2012. Việc quy địnhđầyđủquyềntốtụng của đươngsự còn là căncứđể đương sự và các chủ thể tham gia tố tụng khác kiểm tra, đối chiếu các hành vi của các

46

cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hạn chế tối đa sự xâm phạm từ các chủthể này. “Trong mối quanhệ với nhà nước, công dânvừalà chủ của nhà nước, vừa là đối tượng bị quản lý của nhà nước cho nên quyền và lợi ích của họ có nguy cơbị xâm hại cao. Bởi vì các quyết định của cơ quan quản lý hành chính nhà nước, các phán quyết của cơ quan bảo vệ pháp luậtđềutrực tiếp tác độngđến quyềnvà lợi ích hợp pháp của côngdân”[55, tr. 124]. Theo đó, pháp luật TTDS phải ghi nhận các quyền tố tụng cơ bản và các quyền tố tụngcụ thểcăn cứ vào từng giai đoạn tố tụng đểđương sự có thể sử dụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Các quyền tố tụng cơ bản được pháp luật trao cho đương sự để bảo vệ quyền, lợi ích dân sự của mình trong tố tụng bao gồm được quyết định vềyêu cầutốtụng trước Tòa án; được chứng minh, bảo vệ quyền lợi trước Tòa án; được tiếp cận chứng cứ, tài liệu; được tranh tụng; được xét xử bởi một Tòa án độc lập, khách quan trong

một thời hạn hợp lý; được đề xuất với Tòa án áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệquyền,lợiíchhợppháp;đượchòa giải với nhauvềquyền, lợi ích tranh chấp; kháng cáo, khiếu nại, trong đó có khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái

thẩm.v.v… Các quyềntốtụng cụthểcầnđượcghi nhận như quyền khởi kiện, giữnguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu; cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp củamình; được tựbảovệ,nhờngườikhácbảovệquyền, lợi ích hợp pháp, đại diện cho mình trước Tòa án; được biết, ghi chép và sao chụp các tài liệu, chứng cứdo cácđươngsựkhác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập; quyền đưa ra lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng; yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, được Tòa án giải quyết yêu cầu theo đúng thời hạn luật định,đềnghị Tòa án xác minh, thu thập chứngcứcủavụán trong trường hợptựmình không thểthực hiện được; đềnghị Tòa án triệutậpngườilàm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; tựthoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hoà giải, tham gia phiên toà; nhận thông báo hợp lệ từ Tòa án; quyền đề nghị cá nhân, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết địnhcủaHội đồng TPTANDTC; đưa ra câu hỏihoặc đềxuấtvớiTòa án nhữngvấnđềcần hỏingườikhác; quyềnđềnghị tạm ngừng phiên tòa; quyền đề nghị hoãn phiên tòa; được cấp tríchlục bảnán, quyết định của Tòa án; khiếu nại các văn bản tốtụng và hành vitố tụngcủaTòa án.v.v… Các quyền tố tụng này của đương sự sẽ được bảo đảm thực hiện thông qua nghĩa vụ đốiứng của đương sựkhác cũng như nhiệmvụcủaTòa án, Viện Kiểm sát. Các quyđịnh của pháp luật tố tụng về bảo đảm quyền của đương sự khi tham gia tố tụng càng

47

hợplý, càng cụ thể, rõ ràng và càng khoa học thì tính khả thi càng cao. khiếu nại các văn bản tố tụng và hành vi tố tụng của Tòa án.

Trong bài viết “Rights and Duties” (quyền và nghĩa vụ) tác giả Arthur Corbin nhận định: “Quyền” tồn tại khi chủ sở hữu của nó được hỗ trợ bởi một xã hội chính quyền có tổ chức trong việc kiểm soát việc thực hiện của người kia. Người đầu tiên được gọi là có“quyền”đối với người thứ hai và người thứ hai có“nghĩa vụ” đối với người đầu tiên [94, tr. 2932]. Như vậy, có một số quyền tố tụng của đương sự này sẽlà nghĩa vụ đối ứng của đương sự khác. Vì vậy, để bảo đảm quyền tố tụng của đương sự, bên cạnh quy định đầy đủ các quyền tố tụng cơ bản của đương sự thì pháp luật tố

tụng phải xáclậpnghĩa vụtốtụng đốiứng của đương sựkhác.Bởivì quyềncủađương sự nàychỉcó thểđượcbảo đảmthực hiệnnếucác đươngsựkhác thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ tố tụng tương ứng của họ. Đối với các quyền tố tụng cụ thể như quyền nhận bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ; quyền đối chất; quyền tranh luận tại phiên tòacủa đương sự chỉđược thựchiện hiệu quả khi đương sự phíađối lập thực hiện đúng nghĩa vụ tố tụng của họ. Như vậy, quyền của đương sự nàychỉđược bảo đảm khi đương sựkhác thực hiện đầy đủ nghĩavụtố tụngcủahọ. Do đó, pháp luật TTDS không chỉxác lậpquyềncủađương sựnày mà còn xácđịnhcác nghĩa vụ tương ứng của đương sự khác trong mối liên hệ với việc thực hiện quyền tố

tụng củamỗiđương sự. Vì vậy, bên cạnh bảo đảm thực hiện quyền thì cần phải cócác biện pháp đểđương sựphải thực hiện nghĩa vụ. Thông thường quyền liên quan trực tiếp đến lợi ích của các đương sự nên họ sẽ tự nguyện thực hiện nhưng về góc độtâm lý và lợi ích thì đôi khi đương sự sẽ trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ của mình.

Thực tế chứng minh rằng không phải khi nàoquyền tố tụng của đương sự được pháp luật tốtụng ghi nhậnsẽđượcbảo đảmthực hiện trên thực tế. Vì cómộtsố quyềntốtụng củađươngsự này là nghĩavụ đốiứngcủađương sựkhác và chỉ khiđương sự khác thực hiện nghĩa vụ tố tụng của họ thì quyền tố tụng của đương sự khác mớiđược bảo đảm. Vì vậy, tùy theo từng giai đoạn tố tụng pháp luật sẽ ghi nhận chođương sự các quyền tố tụng cụ thể và xác lập nghĩa vụ tố tụng đối ứng của đương sự khác. Ở giai đoạn sơ thẩm, khi nguyên đơn khởi kiện thì nghĩa vụ đối ứng của đương sựkhác là phảigửivăn bản trình bàyýkiến của mìnhđốiyêucầukhởi kiện của nguyên đơn. Việc thực hiện nghĩa vụ đối ứng ở giai đoạn này giúp cho các đương sựhiểu rõ lập trường của nhau về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đây là cơ sở để các

bên đương sự c huẩn bị cho việc thực hiện các quyềntố tụngnhư quyền tự thỏa thuận; quyền hòa giải; quyền rút, thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện. Việc gửi ý kiến

48

phản hồi và các tài liệu chứng này không chỉ là nghĩa vụđối ứng củangười khởi kiện mà còn là nghĩa vụ của đương sự có yêu cầu phản tố và đương sự cóyêu cầu độclập.Ở giai đoạn phúc thẩm, nghĩa vụ của đương sự kháng cáo là gửi bản sao đơn kháng cáo và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự liên quan đến kháng cáo. Nghĩa vụđối ứng của các đương sự không kháng cáo phải gửi văn bản phản hồi ý kiến kháng cáo đối vớiđương sự kháng cáo. Thông qua việc phản hồi ý kiến kháng cáo, đương sựkháng cáo hiểu đượcquan điểm, ýkiến của các đương sựkhácđểchuẩnbị cho việc thực hiện các quyền tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm như quyền rút yêu cầu kháng

cáo, quyền tranh tụng….Ngoài ra,ở tấtcả các giaiđoạnxétxử,các bên đương sự phải thực hiện nghĩa vụ gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác. Việc cácđương sự gửi tài liệu, chứng cứ cho nhau nhằm bảo đảm quyền được biết về tài tiệu, chứng cứcủa nhau, bảo đảm cho các đương sự thực hiện hữu quyền tranh tụng trong TTDS. Khi tham gia tố tụng đương sự không chỉthực hiện đầy đủ quyền tốtụng của mình mà phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền của đương sự khác. “Nhà nước định ra cácđạo luật nhằm xác định các quyền công dân và quyền con người, quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm” [12, tr.19].

1.3.2. Thiết lập cơ chế hỗ trợ thực hiện quyền tố tụng của đương sự thông qua sự tham gia tố tụng của người đại điện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp của đương sự tại Tòa án

1.3.2.1. Thiết lập cơ chế hỗ trợ thực hiện quyền tố tụng của đương sự thông qua sự tham gia tố tụng của ngườiđại điện

“Bất cứquyền công dân nào cũng phải là quyền thực tế, nếu không, nó sẽ trởnên không tưởng, vô nghĩa và bảo đảm pháp lý cho quyền công dân cũng phải mang tính hiện thực, nếu không, quyền đó chỉ dừng lại ở mức tuyên ngôn” [41, tr. 91]. Do vậy, pháp luật TTDS bên cạnh việc ghi nhận các quyềntố tụng cở bảncủa đương sựphải có cơ chế để các đương sự không có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hoặc không có điều kiện trực tiếp tham giatố tụngcó thể thực hiện được các quyềntố tụngđược pháp luật trao cho.

Thực tiễn cho thấy trong các quanhệ pháp luật những ngườimấtnăng lực hành vi, hạn chế năng lực hành vi, người chưa thành niên hoặcngườicó khó khăn trong nhận thứcđiềukhiển hành viđềuphải có người đạidiện. Bên cạnhđó,có những trường hợp đương sự đau ốm, đi công tác hoặc vì một lý do chính đáng nào đó mà không thể tham gia tốtụng được cần có người đại diệnthay họ để thực hiện các quyền và nghĩavụtrướcTòa. Theo TS. Trần Anh Tuấn thì“Người đại diệncủa

49

đương sự là người tham gia tố tụng thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụtố tụng củahọ do được pháp luật quy định, được Tòa án chỉ địnhhoặc được ủy quyền tham gia tố tụng” [31, tr.18]. Theo một tác giả khácthì: “Người đại diện của đương sự là ngườinhân danh đương sự thực hiện các quyền, nghĩavụtố tụngcủa đương sựtrong tố tụng dân sự” [80, tr.108]. Như vậy, sự tham gia của người đại diện góp phần bảo đảm quyền tố tụngcủa đương sự được thực thi hữu hiệu trên thực tế. Do đó, mới có quan điểm cho rằng sự tham gia của người đại diện như một phương tiện thực thi các quyền [121].

Người đại diệncủa đương sự trong TTDS bao gồm, ngườiđại diệntheo pháp luật, ngườiđại diệntheo ủy quyền. Ở Việt Nam sau năm 1945, ngườiđại diện được ghi nhận chính thức trong trong các Pháp lệnh thủtụcgiải quyết cácvụán dân sự1989, Pháp lệnh thủtụcgiải quyết cácvụán kinhtế1994, Pháp lệnhthủtụcgiải quyết các tranh chấp laođộng 1996, sauđóđượctiếptụcghi nhận trong BLTTDS năm 2004 và hiện nay là BLTTDS năm 2015.Trướcđây trong Cổluật Việt Nam, hành vi ủy quyền cho người khác thay mình đi kiện không được pháp luật chấp nhận. Ví dụ, pháp luật nhà Nguyễn quy định: “Nếu ai tựtiện mượn người đi kiện thay thìngười mượn và người đi kiện thay phải chịu hình phạt như nhau, bị xử đánh 100 roi, xích sắt khóa lạibắt làm phu phục dịchmộttháng” [24, tr.168]. Như vậy, ỞViệt Nam, tùy vào từng giaiđoạnkhác nhau trong lịchsửcủađấtnước,quanđiểmlập pháp về sự tham gia của người đại diệntheo ủy quyền trong tốtụng có những thay đổi nhất định. Sự thay đổi này phù hợp với xuhướngphát triển của thế giới và góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự.

Không chỉ pháp luậttốtụng dân sự Việt Nam, mà hầu hếtpháp luật của các nước trênthếgiới đều ghi nhận sự tham giacủangười đại diện trong tố tụng dân sự.Ở Nga, sựtham gia của ngườiđại diện theo quỷquyềnđược quy địnhtại khoản 1 Điều 48 củaBộluậttốtụng dân sự, theođó:“Công dântựmình hoặc thông qua ngườiđại diện tham gia tố tụng. Việc tự mình tham gia tố tụng không cản trở sự tham giatốtụng của ngườiđạidiện”, sựtham gia củađạidiện theo pháp luậtđượcquy địnhtại Điều 52 BLTTDS Liên bang Nga [130]. Ở Pháp, sự tham giacủa ngườiđại diện theo ủy quyền được quy định tại Điều 414 của NLTTDS Pháp: “Một bên đương sự chỉcó thể nhờ một trong những người thể nhân hoặc pháp nhân, có đủ tư cách theo quy định của pháp luật, để đại diện cho mình tại Tòa án” [118]. Tương tự pháp luật tố tụng Trung Quốc cũng quy định về ngườiđạidiện trong TTDS, theođó:“Những đương sự, người đại diệntheoluật địnhcó thểủy nhiệm một đến hai ngườilàm đại

50

diệntốtụng”, sự tham gia của người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo chỉ địnhđược quy tại Điều 57 của Bộ luật [129]. Như vậy, đương sự có thể thông qua ngườiđại diện củamình để bảo đảm các quyền tố tụng của họ đượcthực hiện nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án.

Người đại diện tham giatốtụng để bảovệ quyền, lợi ích hợp cho ngườiđược đại diện như vai trò của một đương sự trong vụ án dân sự. Các quyết định của người đạidiện ảnhhưởng trực tiếpđếnquyềnlợicủangườihọđại diện. Theo TS.Trần Phương Thảo thì“Người đại diện có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho đương sự và trong việc làm rõ sự thật khách quan của vụ việc dân sự” [72, tr.213, 214]. Đồng quanđiểmnày TS. Nguyễn Thị Thu Hà cũng cho rằng:

“Ngườiđại diệncủađương sự là ngườithực hiện các quyền và nghĩavụ tố tụngcủađương sựnhằmbảovệ quyền, lợiích hợp pháp của đươngsự trướcTòaán” [42, tr.114]. Trong cuốn:“Kháiquátvề luậttốtụng dân sự”, cố GS. Nguyễn HuyĐẩu cũng đề cập tới sự tham giacủa ngườiđại diện trong TTDS, theo đó thì đại diện pháp lý hay thụ ủy theo khế ước đều có danh nghĩa hành sử tố quyền [36, tr.52]. Như vậy, sựtham gia của ngườiđạidiện có ý nghĩa rất lớntrong việc bảo đảmcác quyền tố

tụng của đương sựtrong TTDS. Tuy nhiên, xét dưới góc độ bảođảm quyền tốtụng của đương sự thì cần thấy rằng ngườiđại diện của đương sự là chủ thể tham gia với mục đích chính là thay mặt đương sự thực hiện các quyềntốtụng của đương sựvàthông qua đó cóthểbảovệ quyền, lợi ích của đương sự chứ không phải là chủ thể tham giatốtụng cùng với đương sự đểbảovệquyền, lợiích hay hỗtrợđương sựtrước Tòa án.

Do đó, pháp luật TTDS phải hỗ trợ, tạomọi điều kiện để người đại diện thực hiện các quyềntố tụngcủa đương sự mà họ đại diện. Nếu pháp luật quy định ngườiđại diệnđược phép tham gia tố tụng nhưng thiếu vắng các cơ chế bảo đảm để thực thi thì những quy định đó chỉ là “biểu ngữ im lặng trong luật” và xét đến cùng thì quyền, lợiích hợp pháp củađương sự không được bảovệ. Vì vậy, để bảo đảm sự tham gia của người đại diện trong quá trình giải quyếtvụ án dânsựtại Tòa án thì pháp luật TTDS cần có những quy định tạo điều kiện cho người đại diện của đương sự tham gia

tố tụng và có đầy đủ cácquyền, nghĩavụtố tụnggiúp đương sự bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp [42, tr.48]. Cụ thể, để tránh việc người đại diện của đương sự cóthể thực hiện không tốt việcđạidiện củamình, xâmhạiđếnquyền vàlợiích hợp pháp của đương sựmàhọ đại diện thì pháp luật phải quyđịnhđầy đủ phạmvi những người không được làm đại diện theo ủy quyền [31, tr.48]. Ngoài ra, đối vớitrường hợp đại

51

diện theo pháp luật là pháp nhân, pháp luật cũng phải quy định rõ những pháp nhân nàomới đượcquyền đại diện cho các đương sự tham gia tố tụng, cần hạn chế những pháp nhân công quyền tham gia đại diện trong tố tụng để tránh các chủ thể này có thể tácđộng đếnnhững người tiến hànhtố tụng, ảnhhưởngđến quá trình giải quyết khách quan vụ án. Nếu pháp luật không xử lý đượcvấnđề này thì quyền tố tụng của một bên đương sự được thực hiệnthông quangười đại diện vượtquá khuôn khổ của pháp luật sẽdẫntớihậuquả quyền tố tụng của đương sựkhác trong vụ án không được bảo đảm thực hiện trên thực tế. Chỉ khi pháp luật TTDS quy định một cách chặt chẽ, đầy đủ về sự tham gia của người đại diện thì sự tham gia của họ mới phát huy hết vai trò thaymặt đương sự thựchiện các quyền tố tụng luật định. Bên cạnh đó, pháp luật TTDS cần đơn giản hóa về thủ tục ủy quyền tạo điều kiện thuận lợi cho người đại diện tham gia tố tụng. Việc đơn giản hóa về thủ tục ủy quyềnđại diệnsẽ tạo thuận lợi cho sự tham gia của người đại diện theo ủy quyền để họ có thể thực hiện các quyền tố

tụngcủa đương sự mà họđại diện.

Ngoài ra, pháp luật TTDS cũng cần phải quy định rõ ràng, cụthểvà chi tiết vềphạm vi thẩm quyền của ngườiđại điện để bảo đảm cáchoạt động tố tụng được thực hiệnbởingườiđại diện khôngvượtquá phạm vi các quyềntốtụng của đương sự đượcpháp luật quy địnhvà theo ý chícủađương sựtrong văn bảnủyquyềnđồng thời phải quyđịnh về trách nhiệm của ngườiđại và chế tài mà họ phải gánh chịu do không thực hiện hết trách nhiệm của mình trong việc thực hiện các quyền tố tụng củađương sự,làmtổnhại đến quyền, lợiích hợp pháp của đương sự. Việc xácđịnhrõ phạm vi ủy quyền có ý nghĩa rất quan trọng, tránh tình trạng khi người đại diện theoủy quyền đưa ra các quyết định liên quanđến quyềntố tụng của đương sự nhưng mỗi Tòa án lại có một quan điểm khác nhau trong áp dụng, ảnh hưởng tới việc thực hiện quyềncó người đại diện của đương sự.

1.3.2.2. Thiết lập cơ chế hỗ trợ thực hiện quyền tố tụng của đương sự thông qua sự tham gia tố tụng của ngườibảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Khi tham giatốtụng không phải đương sựnào cũng hiểu biết pháp luậtđể thực hiện các quyền tố tụng. Vì các thủ tục tố tụng, các quy trình pháp lý tại tòa kháphức tạp. Do vậy, cần sự hỗ trợ pháp lý của những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápđể giúp đương sựthực hiện quá trình này. Ngườibảovệ quyền và lợiích hợp phápcủa đương sự là ngườiđược đương sự nhờvà được Tòaán chấp nhận để tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự [52, K1.Điều 63].

Sựtham giacủangườibảovệquyền vàlợiích hợp phápcủađương sựbảo

52

đảm cho vụ án được diễn ra theo đúng trìnhtự,thủ tụcluật định, bảo đảm cho quyền

tố tụng của đương sự được “luật ghi nhận trở thànhđộc lập đối với bất kỳquyền uy nào, kể cả các cơ quan, viên chức nhà nước cao nhất” [49, tr. 50]. Vì vậy,sự tham gia của ngườibảovệquyền vàlợiíchhợppháp củađương sựđượcghi nhậnrấtsớm trong lịch sửcủa nhân loại. “Trong Nhà nước Hy Lạpcổ lúc mà tổ chức Tòa án đãhình thành, nguyên cáo hoặcbịcáođượcnhờngườithân của mình bào chữa trước Tòa án” [30, tr.55]. Ở Việt Nam, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nghề luật sư được hoạt động qua Sắc lệnh số 46/SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng do hoàn cảnh thực tế lúc đó, vì nhiều nguyên nhân, trong đó quan trọng nhất làcần tập trung mọi nỗ lực vào công cuộc kháng chiến chống Pháp trở lại nên hầu như ở vùng giải phóng các hoạt động luật sư đều ngưng hoạt động. Tuy nhiên, vào cuối năm 1949, để bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, chính quyền cách mạng đã thiết

lập chế độ bào chữa viên tạm thời thay thế vai trò của luật sư. Cụ thể, ngày 18/6/1949 Sắclệnh số 69/SL ra đời và ngày 22/12/1949 được thay thế bởi Sắc lệnh số 144/SL (sửa đổi Điều1 Sắc lệnh số 69/SL) mở rộng quyền bào chữa cho các bị cáo trước các tòa án, quyền bào chữa của công dân không chỉđược thực hiện ở cácvụ án hình sự màcòn ở vụán dân sự, kinh tế[122]. Trước đó, dướichếđộ quân chủphong kiến phương Đông, Việt Nam cũng như nhiềunướctrong khu vực(Trung Quốc, Nhật

Bản, Hàn Quốc…) đềukhông có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Bởi, theo quan niệm lúc đó những người hiểu biết luật lệ, có khả năng chỉ vẽ cho dân chúng cách thức thưakiện đều bị liệt vào hạng người “xui nguyên giụcbị”, bị“phânbiệt đốixử”, giống như “bọn người xướng ca vô loại” và đều bị coi là kẻ xấu, bị cấm đi thi [122].

Ở các nước khác nhau,chủthểđược quyền thực hiện việc bảovệ quyền,lợiíchhợppháp của đương sự cũng không giống nhau. Ở một số nước như Mỹ, Anh thìluật sư là chủ thể duy nhấtđược quyềnthực hiện việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sựtại Tòa án, những nướcnày không sử dụng thuật ngữ“người bảovệquyềnlợi”như ởViệt Nam, màsửdụng thuậtngữ“bào chữa”. “Đối vớikhoa học pháp lý rất nhiều, trong đó các quốc gia có nền lập pháp tiên tiến và lâu đời như Anh, Mỹ, Pháp…khái niệm bào chữa được hiểu là việc luật sư dùng hiểu biết pháp luật, lý

lẽ của mình để bảo vệ thân chủ, dù đó là vụ án hình sự hay vụ án dân sự” [23, tr.48]. ỞViệt Nam, pháp luật tốtụng dân sựquy địnhrất nhiều chủ thểkhác nhau cóthểtham giabảovệ quyền lợi cho đương sự như: Luật sư, trợ giúp viên pháp lý, đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động của người lao động trong vụ án lao động, công

53

dân Việt Nam thỏa mãn cácđiềukiện luật định. ỞNhật Bản, quyđịnh vềchủthểđượcquyền thực hiện việcbảovệquyền, lợi íchhợppháp cho đương sựkhá khắt khe, mặc dù pháp luật không quy định các bên đương sự phải mời luật sư, nhưng họkhông cho phép được nhờ bất kỳ ai không phải là luật sư bào chữa cho họ, trừ những vụ việc tại tòa giản lược, về cơ bản, một bào chữa viên phải là một luật sư [23, tr.49].

Sự tham giacủangười bảo vệquyền và lợiích hợp pháp của đương sựcóýnghĩa rất quan trọng đối với việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS. Ngườibảovệquyền và lợi íchhợppháp của đươngsựvừacó vai trò tưvấngiúp đương sựhiểu và thực hiệntốtcác quyềntốtụngcủamìnhđồng thờihỗtrợchođương sự thực hiện những quyền tố tụng khác như quyền thu thập chứng cứ, chứng

minh; quyền tranh trụng… Vì vậy, tác giả Hoàng Thu Yến mới nhận định, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự vừa giúp đỡ các đương sự nhận thức về mặt pháp lý các quyền lợi nghĩa vụ của họ, vừa trực tiếp tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợicủa đương sự [23, tr.46]. Theo nhận định của Luật sư liên lạc Marisa Secco, luật sư là một phần không thể thiếu trong việc theo đuổi công lý. Họ là người bảo vệ, giải thích và áp dụng luật thông qua đó công lý đạt được [123]. TS. Nguyễn Công Bình trong luận án “bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam” cũng nhận định: “Thông qua sự hỗ trợ pháp lý của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà đương sự có thể nhận thức được đúng hơn các quyền và nghĩa vụcủa họ theo quy định của pháp luật” [72, tr.122].

Khác với người đại diện do đương sự ủy quyền, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa đương sựtham gia tố tụng bằng chính các quyền và nghĩa vụtốtụng củamìnhchứkhông bằng quyền và nghĩavụtốtụng của đương sự[72, tr.195]. Vì vậy, để người bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của đương sự có thể phát huy hết vai trò của họ trong việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự thì pháp luật TTDS phải ghi nhận đầy đủ các quyền vànghĩa vụ tố tụng để họ có thểsử dụng trong quá trình tham giabảovệ quyền lợi ích hợp pháp cho đương sự. Pháp luật TTDS phải trao cho người bảovệ quyền, lợiích hợp của đương sự các quyền tố tụng cơbảngiúp họ cóthểhỗtrợtốtnhất việc bảo vệ quyền tố tụng của đương sự như quyềntựmình yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng nếu đương sự không yêu

cầu; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng …Mặt khác, pháp luật TTDS phải có những quyđịnh bảo đảm để người bảo vệ quyền lợiích hợp pháp chođương sự cóthể thực hiện tốt vai trò bảovệcủa mình. Đặc biệt, là những quyđịnh bảo đảmđểngườibảovệ quyềnlợiích hợp pháp thuậnlợitrong việc thu

54

thập chứng cứ nhằm bảo đảm thực hiện quyền tranh tụng, quyềnđịnhđoạt của đương sựmà họ bảo vệ. Ngoài ra, pháp luật TTDS phải tạođiềukiện thuận lợi cho người bảovệquyền, lợi ích hợp pháp tham gia trợ giúp đương sự thực hiện quyền tố tụng như đơn giản hóa và loại bỏ các thủ tục không hợp lý gây khó khăn chongười bảo vệtham giatốtụng. Bên cạnhđó,đểtránh tình trạng người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mà họ bảo vệ thì pháp luật

tốtụng phảidựliệuđầyđủphạm vi những người không đượclàmngườibảo vệquyềnlợiích hợp pháp của đương sự trong cùng một vụ án.

1.3.3. Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm thực hiện quyền tố tụng của đương sự

“Bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân là nhiệm vụ đặc trưng, cao nhất, tập trung nhất của cơ quan xét xử thực hiện quyền tư pháp. Tòa án phải là nơi mọi người, mọi công dân tìmđếnlẽ phải, tìm đến sựthật; Tòa án nhân dân phải làngười có nhiệm vụ bảo vệ công lý khi quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm phạm” [85, tr.500]. Ý kiến này cho thấy, vai trò quan trọng của Tòa án trong việcbảođảmcông lý,bảođảmquyền con người, quyền công dân trong quátrình xét xử, đâycũng là cội nguồn cho việc bảo đảmquyềntốtụng củađương sựtrong TTDS, đúng như câu nói“hoạt độngxétxử là biểu tượng công lý trong tiềm thức của người dân”.

Để Tòaán bảo đảm quyền tố tụng của đương sự thì trước hết phải xây dựng cơ sở pháp lý cho việc thúc đẩy và bảo đảm quyền tố tụng của đương sự, bằng cách quy định trách nhiệm Tòa án, cũng như quyền và nghĩa vụ các bên đương sự, làm căn cứ cho việc thực thi. Trong quá trình giải quyết vụ án tùy từng giai đoạn tố tụng, Tòaán chủ động hoặc theo yêu cầu của đương sự áp dụng hoặc tạo điều kiện cần thiết đểđương sựthực hiện quyềntốtụng theo quyđịnh của pháp luật. Chẳng hạnnhư khiđương sự khởi kiện thì Tòa án có trách nhiệm hướng dẫn cho đương sự làm đơn khởi kiện theo mẫu,thụlý yêu cầucủađương sự,khi tham giatốtụng Tòa án phải giải thích, phổ biến quyền và nghĩa vụ của họ trong mỗi giai đoạn tố tụng, triệu tập hợp lệ

đương sự.v.v… Mứcđộthực hiện trách nhiệm của Tòa ánsẽquyếtđịnhquyền tốtụng củađươngsựcóđược bảođảmthực hiện hay không. Vì vậy, Tòa án phải tôn

trọng quyền tố tụng của các đương sự và có trách nhiệm tạo điều kiện cho các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự, phải thực hiện đúng quy trình, thủ tục pháp luật quy định, có trách nhiệm áp dụng đúng đắn, chính xác các quy phạm pháp luật [42, tr.49, 50]. Tòa án là chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình giải quyết vụ án,

55

nên không chỉ riêng pháp luật TTDS Việt Nam mà pháp luật của các nước đều quyđịnhtrách nhiệm của Tòa án trong TTDS. Điều 12 BLTTDS Nga quy định: “Tòa ánđiềukhiển quá trìnhtốtụng một cáchđộclập, khách quan, vô tư, giải thích cho những người tham giatốtụng vềquyền và nghĩavụcủahọ, báotrướcvềhậuquảpháp lý do thực hiện hoặc không thực hiện hành vi tốtụng, giúpđỡnhững người tham giatốtụng trong việc thực hiện quyền củamình, tạomọiđiềukiệnđểviệc nghiên cứu chứng cư được toàn diện và đầy đủ, xác định sự thật của vụ án và áp dụngđúng đắn những quy định của pháp luật khi giải quyết vụ án” [129]. Điều 2 BLTTDS Nhật Bản quy định: “Tòa án phải nỗ lực tiến hành các thủ tục tố tụng nhanh chóng vàcông bằng”[131]. Theo quy định tại các Điều 7, 8, 12 BLTTDS Trung Hoa, Tòa án phải bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụtốtụng, đốixửvới các đương sựbình đẳng [30, tr.60]. Như vậy,ởmỗimứcđộkhác nhau, pháp luật tố tụng của các nước đều quy định trách nhiệm của Tòa án nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án được chính xác, khách quan, cũng là góp phần bảo đảm quyền tố tụng của đương sự.

Thực tế chứng minh rằng, nếu pháp luật chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền màthiếu vắng các biện pháp hỗ trợ, bảo đảm thực hiện quyền thì công lý sẽ khôngđược thực thi.Ở một mức độ cao hơn, nhiệmvụcủa Tòa án phải làm cho nhân dân thấy rằng công lý được thi hành, đúng như câu ngạn ngữ rất phổ biến trong giới luật học thế giới “tư pháp không những phải thi hành công lý mà còn phải làm cho dân chúng thấy rằng công lý được thi hành”.

Việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án phùhợp, cụ thểsẽ bảo đảm quyền tố tụng của đương sự được thực hiện. Vì vậy, ngoài các quyđịnh cụ thể, trách nhiệm của Tòaán đượccần được quy định ngay trong các nguyên tắc cơbản mang tính định hướng của TTDS như đương sự có quyền yêu cầu Tòa ánbảovệquyền và lợi íchhợpvà để quyền yêu cầu này của đương sự được thực thì pháp luật TTDS cần có quy định theo hướng Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa cóđiều luật để áp dụng. Để đương sự có thểthực hiệnđược quyền cung cấpchứngcứvà chứng minh, pháp luật TTDS cần quyđịnh Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ. Tuy nhiên, sự hỗ trợ của Tòa án cho đương sự trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ phải giới hạn trong một thời hạn hợp lý. Tương tự như thế đối với các quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố

tụng; quyềnbảovệ quyền,lợiích hợp phápcủađương sự; quyền hòa giải trong tốtụng… sẽ đượcbảo đảmthực hiện thông qua các quyđịnh của pháp luật ràng buộc

56

trách nhiệmcủaTòa án trong việcbảođảmcho đương sựthực hiện các quyền đó. Một yêucầukhông thểthiếu khiđềcậpđến trách nhiệmcủaTòa ánđểbảođảm quyền tố tụng của đương sự đó là sự độc lập, khách quan trong xét xử.

Tòa án thực hiện quyền lực, chức năng, nhiệm vụcủa mình thông qua hoạtđộng xét xử. Hoạt động xét xử đó được tiến hànhbởicác chủ thể tiến hành tố tụng làChánh án, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội thẩm nhân dân và Thẩm tra viên. Vì vậy, pháp luật tố tụng quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng phù hợp với chức năngcủahọ cóý nghĩa quyết định trựctiếp đếnchất lượng và hiệu quả của việc thực thi quyền tố tụng của đương sự.Đặcbiệt là nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án, đây là những chủ thể chi phối các hoạt động tốtụng và tác động trực tiếptớiviệc thực thi quyền tố tụng củađương sự. Trong đó, Thẩm phán đóng vai trò đặc biệt quan trọng, bởi “xét cho cùng thì các chức năng xét xử của Tòa án cũng được thực hiện bởicá nhân các Thẩm phán, cho dù là họ ngồi một mình hay trong hội đồng” [70, tr. 124]. Vì vậy, việc quy định hợplý, cụ thể nhiệm vụ, quyềnhạncủangười tiến hành tố tụng để các chủ thểnày phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình nhằm hạn chếđượccác hành vi lạm quyền, đồng thờibảođảmcho đương sựthực hiện các quyền tố tụng của họ. Theo đó, pháp luật tố tụng dân sự phải quy định nhiệm vụ,quyềnhạncủa Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án phải gắn liềnvớiviệc thực hiện quyền tố tụng của đương sự. Chẳng hạn, ngoài những nhiệm vụ, quyền hạnđã được quy định, pháp luật TTDS cần phải quy định thêm về trách nhiệm của Thẩm phán, Hộithẩm và Thư ký Tòa án.Đối vớiThẩm phán phải có trách nhiệm hướng dẫnthực hiện quyền tranh tụng, đônđốc,giám sát đươngsựthực hiện quyền cung cấp, chuyển giao tài liệu, chứng cứ. Đối với Hội thẩm cần có quy định cụ thể về thời gian nghiên cứuhồ sơ vụ án để bảo đảm Hộithẩm đưa ra một phán quyết bảo đảm quyền, lợi ích của các đương sự. Đối với Thư ký phải có trách nhiệm hướng dẫn chođương sự thực hiện các quyền tố tụng, đặc biệt là quyền sao chụp, chuyển bản sao tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\BẢO ĐẢM QUYỀN TỐ TỤNG CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *