BÁO CÁO Về việc tình hình rà soát các dự án chậm triển khai dự án chậm đưa đất vào sử dụng trên địa bàn thành phố

BÁO CÁO

Về việc tình hình rà soát các dự án chậm triển khai, dự án chậm đưa đất vào sử dụng trên địa bàn thành phố

Kính gửi:

– Hội đồng nhân dân thành phố;

– Đoàn giám sát Hội đồng nhân dân thành phố.

Thực hiện Nghị quyết số 70/NQ-HĐND ngày 15/12/2022 của Hội đồng nhân dân thành phố về việc thành lập Đoàn giám sát chuyên đề của Hội đồng nhân dân thành phố về “Tình hình thực hiện các dự án chậm triển khai, dự án chậm bàn giao, dự án chậm đưa đất vào sử dụng trên địa bàn thành phố”; Công văn số 37/HĐND-ĐGS ngày 07/3/2023 của Đoàn Giám sát về báo cáo giám sát chuyên đề dự án chậm triển khai, chậm bàn giao; Công văn số 261/HĐND-ĐGS ngày 12/10/2023 của Đoàn Giám sát HĐND thành phố về báo cáo bổ sung nội dung giám sát chuyên đề về “Tình hình thực hiện các dự án chậm triển khai, dự án chậm đưa đất vào sử dụng trên địa bàn thành phố” và Công văn số 309/HĐND-ĐGS ngày 17/11/2023 của Đoàn Giám sát HĐND thành phố đôn đốc bổ sung báo cáo giám sát chuyên đề HĐND thành phố.

Trên cơ sở báo cáo rà soát, bổ sung của Sở Tài nguyên và Môi trường tại Báo cáo số 740/BC-STNMT ngày 21/11/2023 và theo báo cáo đề xuất của Sở Kế hoạch và Đầu tư tại Công văn số 3633/SKHĐT-DN ngày 21/11/2023, UBND thành phố kính báo cáo kết quả cụ thể như sau:

A. TÌNH HÌNH CHUNG

I. Liên quan đến tình hình các dự án chậm tiến độ vốn ngân sách nhà nước

Về xử lý đối với các dự án có thời gian bố trí vốn quá thời gian quy định theo Luật Đầu tư công, UBND thành phố đã báo cáo HĐND thành phố tại Công văn số 6232/UBND-SKHĐT ngày 15/11/2022 (226 dự án có thời gian bố trí vốn quá thời gian quy định). HĐND thành phố đã có Báo cáo giám sát chuyên đề, thành lập Đoàn Giám sát của Thường trực HĐND thành phố (Quyết định số 14/QĐ-HĐND ngày 31/3/2023) và ban hành Kế hoạch giám sát số 06/KH-HĐND ngày 31/3/2023 về tiến độ triển khai thực hiện, xử lý đối với các dự án có thời gian bố trí vốn quá thời gian quy định theo Luật Đầu tư công.

Trên cơ sở chỉ đạo của HĐNĐ thành phố, UBND thành phố tiếp tục rà soát, báo cáo Đoàn giám sát của HĐND thành phố về tình hình triển khai thực hiện, khó khăn, vướng mắc và các nhiệm vụ, giải pháp, hướng xử lý đối với các dự án có thời gian bố trí vốn quá thời gian quy định theo Luật Đầu tư công tại Công văn số 3476/UBND-SKHĐT ngày 07/7/2023 (225 dự án).

Trên cơ sở đó các báo cáo của UBND thành phố nêu trên, HĐND thành phố đã có Thông báo số 24/TB-HĐND ngày 31/8/2023 về kết luận của Thường trực HĐND thành phố về kết quả giám sát tiến độ triển khai thực hiện, xử lý đối với các dự án có thời gian bố trí vốn quá thời gian quy định theo Luật Đầu tư công.

BÁO CÁO Về việc tình hình rà soát các dự án chậm triển khai dự án chậm đưa đất vào sử dụng trên địa bàn thành phố
BÁO CÁO Về việc tình hình rà soát các dự án chậm triển khai dự án chậm đưa đất vào sử dụng trên địa bàn thành phố

Đầu năm 2023, UBND thành phố đã có Công văn số 899/UBND-ĐTĐT ngày 03/3/2023 chỉ đạo các chủ đầu tư, quản lý dự án, các sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc để xử lý tối thiểu 50% các dự án có thời gian bố trí vốn quá thời gian quy định. Tiếp theo là các Công văn số 4490/UBND-ĐTĐT ngày 22/8/2023; Công văn số 5000/UBND-SXD ngày 14/9/2023 chỉ đạo xử lý đối với các dự án tồn đọng lâu năm, kéo dài.

Thực hiện chỉ đạo của UBND thành phố, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã có Công văn số 2533/SKHĐT-TH&HTQT ngày 25/8/2023 báo cáo tiến độ xử lý đối với các dự án có thời gian bố trí vốn quá thời gian quy định theo Luật Đầu tư công. Hiện Sở Xây dựng đang tổng hợp báo cáo xử lý đối với các dự án tồn đọng lâu năm, kéo dài theo Công văn số 6303/UBND-SXD ngày 15/11/2023 của UBND thành phố.

II. Liên quan đến các khu đất không đưa đất vào sử dụng, chậm tiến độ sử dụng đất trên địa bàn

1. Quy định chung

Nhằm đảm bảo việc sử dụng đất hiệu quả, chống lãng phí tài nguyên đất, góp phần phát triển kinh tế xã hội, Luật Đất đai qua các thời kỳ đã có quy định ràng buộc trách nhiệm của người sử dụng đất, chủ đầu tư trong việc đầu tư xây dựng, triển khai dự án, đưa đất vào sử dụng, cụ thể:

Quy định tại khoản 12, Điều 38 Luật Đất đai năm 2003, cụ thể:“12. Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn hai mươi bốn tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép.”

Luật Đất đai năm 2003 đã quy định sẽ thu hồi đất đối với các trường hợp không đưa đất vào sử dụng, chậm tiến độ sử dụng đất. Tuy nhiên, việc thi hành quy định này trên thực tế gặp nhiều khó khăn, thực tế thành phố Đà Nẵng chưa ghi nhận trường hợp nào thu hồi đất theo quy định tại khoản 12 Điều 38 Luật Đất đai năm 2003.

Để tạo điều kiện cho người sử dụng đất có thêm thời gian đưa đất vào sử dụng, Luật Đất đai năm 2013 đã có quy định khác về việc xử lý các trường hợp không đưa đất vào sử dụng, chậm tiến độ sử dụng đất tại điểm i, khoản 1 Điều 64 Luật đất đai 2013: “i) Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng”.

Theo đó, đối với các trường hợp không đưa đất vào sử dụng quá 12 tháng, chậm tiến độ sử dụng đất quá 24 tháng so với dự án đầu tư thì thuộc trường hợp gia hạn sử dụng đất 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này. Từ năm 2016 đến nay, UBND thành phố đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường rà soát, kiểm tra, xử lý đối với các dự án, khu đất, công trình chậm tiến độ sử dụng đất, không đưa đất vào sử dụng theo đúng quy định; các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm cơ bản chấp hành quyết định gia hạn sử dụng đất và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước.

2. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo

Căn cứ quy định của Luật Đất đai năm 2013, trong thời gian qua công tác kiểm tra, giám sát các dựán đầu tư được thực hiện thường xuyên, công tác quản lý đất đai đã có nhiều chuyển biến, hiệu quả sử dụng đất được nâng cao, trở thành nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế xã hội. Thực tiễn triển khai đang đặt ra những vấn đề cần được giải quyết nhằm hoàn thiện và đảm bảo tính khả thi trong công tác kiểm tra, xử lý, giám sát các dựán chậm triển khai, chậm tiến độ trên địa bàn thành phố.

Từ năm 2016, UBND thành phố, Sở Tài nguyên và Môi trường đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, rà soát, kiểm tra và xử lý nghiêm đối với các dự án, công trình đã được giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án nhưng không sử dụng đất hoặc chậm tiến độ đưa đất vào sử dụng theo quy định của pháp luật đất đai, cụ thể:

– Quyết định số 299/QĐ-STNMT ngày 08/6/2015 của Sở Tài nguyên và Môi trường về việc kiểm tra dự án chậm, không triển khai trên địa bàn thành phố. Kiểm tra 16 dự án trên địa bàn thành phố.

– Quyết định số 435/QĐ-STNMT ngày 17/8/2015 của Sở Tài nguyên và Môi trường về việc kiểm tra dự án không đưa đất vào sử dụng, chậm triển khai trên địa bàn thành phố.

– Công văn số 4060/UBND-QLĐTh ngày 31/5/2018 của Chủ tịch UBND thành phố về việc yêu cầu giao UBND các quận, huyện kiểm tra, hướng dẫn và xử lý liên quan đến việc gia hạn tiến độ sử dụng đất đối với đất cơ sở sản xuất kinh doanh (thương mại dịch vụ) của hộ gia đình, cá nhân không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm tiến độ sử dụng đất.

– Công văn số 2005/STNMT-TTr ngày 29/6/2018 của Sở Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn UBND các quận, huyện quy trình xử lý liên quan đến việc gia hạn tiến độ sử dụng đất.

– Công văn số 2055/STNMT-TTr ngày 28/6/2019 của Sở Tài nguyên và môi trường về việc yêu cầu UBND các quận, huyện thực hiện nghiêm ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch UBND thành phố về việc kiểm tra tiến độ sử dụng đất. Đề nghị Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố cung cấp thông tin dữ liệu quản lý đất đai, thông tin thửa đất cơ sở sản xuất kinh doanh, thương mại dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân để UBND quận, huyện thực hiện việc kiểm tra tiến độ sử dụng đất.

– Thông báo số 01/TB-VP ngày 14/01/2021 của Văn phòng UBND thành phố thông báo kết luận cuộc họp giao ban Chủ tịch và các Phó Chủ tịch UBND thành phố. Theo đó đề nghị các Sở, ngành có liên quan khi tiếp nhận hồ sơ quy hoạch, đất đai của các tổ chức, cá nhân thì phải khẩn trương kiểm tra, xử lý hoặc trả lời cụ thể kết quả cho nhà đầu tư được biết, thực hiện. Không để xảy ra tình trạng thời gian gia hạn tiến độ sử dụng đất đã hết nhưng vẫn chưa hoàn thiện các thủ tục pháp lý để triển khai dự án, đưa đất vào sử dụng.

– Công văn số 945/UBND-ĐTĐT ngày 20/02/2021 của UBND thành phố triển khai ý kiến của Thường trực Thành ủy đề xuất, thu hồi các dự án chậm triển khai, chậm đưa vào hoạt động hoặc lợi dụng chính sách để chuyển nhượng, sử dụng sai mục đích.

– Công văn số 1969/UBND-ĐTĐT ngày 06/4/2021 của UBND thành phố chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước về giá đất. Đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các cơ quan liên quan xử lý nghiêm đối với hành vi chậm đưa đất vào sử dụng so với tiến độ ghi trong giấy chứng nhận đầu tư, không đưa đất vào sử dụng.

– Thông báo số 466/TB-VP ngày 06/9/2021 của Văn phòng UBND thành phố về kết luận cuộc họp giao ban Chủ tịch và các Phó Chủ tịch UBND thành phố ngày 26/8/2021 về việc giao Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức rà soát, kiểm tra và xử lý nghiêm đối với các dự án, công trình đã được giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án nhưng không sử dụng đất hoặc chậm tiến độ đưa đất vào sử dụng theo quy định của pháp luật đất đai.

– Thông báo số 185/TB-VP ngày 30/3/2022 của Văn phòng UBND thành phố về kết luận của Chủ tịch UBND thành phố Lê Trung Chinh tại cuộc họp ngày 15/3/2022 nghe báo cáo tiến độ sử dụng đất đối với các dự án, công trình.

– Công văn số 3746/UBND-ĐTĐT ngày 07/7/2022 của Chủ tịch UBND thành phố liên quan đến các dự án chậm triển khai, chậm đưa đất vào sử dụng.

– Công văn số 4815/UBND-ĐTĐT ngày 05/9/2022 của UBND thành phố liên quan đến các đơn vị sử dụng đất có vi phạm pháp luật.

– Công văn số 172/UBND-ĐTĐT ngày 11/01/2023 của UBND thành phố liên quan đến kiểm tra việc đưa đất vào sử dụng, tiến độ sử dụng đất đối với các dự án, khu đất trên địa bàn thành phố.

3. Công tác rà soát, tổng hợp các dự án chậm triển khai, chậm đưa đất vào sử dụng từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/12/2022

a) Công tác báo cáo: Từ năm 2016 đến nay, UBND thành phố đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND các quận, huyện tăng cường kiểm tra, rà soát, xử lý các dự án, khu đất chậm tiến độ sử dụng đất, báo cáo kết quả triển khai thực hiện, cụ thể như sau:

– Báo cáo số 595/BC-STNMT ngày 30/6/2015 của Sở Tài nguyên và Môi trường về kết quả kiểm tra các dự án ven biển chậm và không triển khai trên địa bàn thành phố.

– Báo cáo số 848/BC-STMT ngày 08/9/2015 của Sở Tài nguyên và Môi trường liên quan đến việc thu hồi đất của các dự án chậm triển khai trên địa bàn thành phố.

– Báo cáo số 1051/BC-STNMT ngày 06/11/2015 kết quả rà soát các dự án ven biển chậm triển khai.

– Báo cáo số 921/BC-STNMT ngày 21/12/2017 của Sở Tài nguyên và Môi trường báo cáo kết quả kiểm tra dự án chậm, không triển khai trên địa bàn thành phố.

– Báo cáo số 775/BC-STNMT ngày 06/11/2017 của Sở Tài nguyên và Môi trường báo cáo kết quả kiểm tra dự án chậm, không triển khai trên địa bàn thành phố.

– Báo cáo số 189/BC-STNMT ngày 30/3/2018 của Sở Tài nguyên và Môi trường về việc rà soát các lô đất với mục đích là sản xuất kinh doanh đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức trên địa bàn thành phố.

– Báo cáo số 603/BC-STNMT ngày 02/8/2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường liên quan đến kết quả kiểm tra, gia hạn tiến độ sử dụng đất và đề xuất xử lý các dự án chậm triển khai.

– Báo cáo số 176/BC-STNMT ngày 14/3/2022 của Sở Tài nguyên và Môi trường Kết quả kiểm tra, xử lý các dự án, khu đất trên địa bàn thành phố.

– Báo cáo số 845/BC-STNMT ngày 13/10/2022 của Sở Tài nguyên và Môi trường Kết quả kiểm tra việc đưa đất vào sử dụng, tiến độ sử dụng đất đối với các dự án, khu đất trên địa bàn thành phố.

– Báo cáo số 1026/BC-STNMT ngày 07/12/2022 của Sở Tài nguyên và Môi trường liên quan đến việc rà soát, kiểm tra danh sách các dự án, khu đất chậm triển khai, không đưa đất vào sử dụng.

b) Kết quả rà soát, kiểm tra các dự án, khu đất trên địa bàn thành phố

(1). Đối với các tổ chức: Tính đến ngày 01/5/2023, Sở Tài nguyên và Môi trường đã rà soát, tổng hợp lập danh sách 803 khu đất, dự án của các tổ chức sử dụng đất thuộc đối tượng kiểm tra tiến độ sử dụng đất, gồm:

– 94 trường hợp đã gia hạn sử dụng đất 24 tháng theo quy định tại điểm 1 Khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013 với tổng diện tích gia hạn (Phụ lục 1): 1.815.927m2.

– 40 trường hợp qua kiểm tra đã đưa đất vào sử dụng, chưa thuộc đối tượng gia hạn sử dụng đất với diện tích (Phụ lục 2): 6.971.551m2.

– 669 trường hợp tiếp tục kiểm tra, về tiến độ sử dụng đất, với tổng diện tích cần kiểm tra là hơn: 34.295.851 m2 (Phụ lục 3) gồm:

+ Quận Hải Châu: 179 trường hợp với tổng diện tích 940.420m2.

+ Quận Liên Chiểu: 54 trường hợp với tổng diện tích 4.079.271m2.

+ Quận Sơn Trà: 132 trường hợp với tổng diện tích 10.442.137m2.

+ Quận Ngũ Hành Sơn: 84 trường hợp với tổng diện tích 13.431.972m2.

+ Quận Cẩm Lệ: 86 trường hợp với tổng diện tích 517.342m2.

+ Quận Thanh Khê: 66 trường hợp với tổng diện tích 130.254m2.

+ Huyện Hòa Vang: 68 trường hợp với tổng diện tích 4.754.452m2.

(2) Đối với cá nhân: UBND các quận, huyện đã rà soát, kiểm tra và ban hành quyết định gia hạn đối với 61 dự án, khu đất (Phụ lục 4).

Số lượng khu đất của cá nhân cần tiếp tục kiểm tra, xử lý: Theo số liệu báo cáo của UBND các quận, huyện cung cấp, qua tổng hợp đối chiếu có 172 khu đất (Phụ lục 5) thuộc trường hợp kiểm tra tiến độ sử dụng đấtvới tổng diện tích là: 347.250m2, cụ thể như sau:

– Quận Sơn Trà: 58 trường hợp.

– Quân Hải Châu: 12 trường hợp.

– Quận Liên Chiểu: 15 trường hợp.

– Quận Ngũ Hành Sơn: 20 trường hợp.

– Quận Thanh Khê: 03 trường hợp.

– Quận Cẩm Lệ: 31 trường hợp.

– Huyện Hòa Vang: 33 trường hợp.

4. Kết quả xử lý các dự án chậm triển khai (bao gồm dự án chậm đưa đất vào sử dụng) trên địa bàn thành phố giai đoạn từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/12/2022

a) Đối với các tổ chức sử dụng đất

Từ năm 2016 đến nay Sở Tài nguyên và Môi trường đã tập trung kiểm tra tiến độ sử dụng đất, tiến độ thực hiện dự án đối với các dự án, khu đất có quy mô lớn, có vị trí tác động đến phát triển kinh tế – xã hội của thành phố, mỹ quan đô thị (như trung tâm thành phố, dự án ven biển…); dự án có nhu cầu chuyển nhượng cho nhà đầu tư khác. Kết quả cụ thể như sau:

Sở Tài nguyên và Môi trường đã lập Biên bản xác định hành vi vi phạm và tham mưu UBND thành phố ban hành Quyết định gia hạn tiến độ sử dụng đất đối với 94 dự án, khu đất đã gia hạn tiến độ sử dụng đất, cụ thể:

(1) Phân theo địa bàn:

– Quận Hải Châu: 15 trường hợp.

-Quận Sơn Trà: 16 trường hợp.

-Quận Ngũ Hành Sơn: 21 trường hợp.

-Quận Thanh Khê: 06 trường hợp.

-Quận Liên Chiểu: 24 trường hợp.

-Quận Cẩm Lệ: 06 trường hợp.

– Huyện Hòa Vang: 06 trường hợp.

(2) Phân theo năm gia hạn:

– Năm 2017: 12 trường hợp (Hải Châu 04; Sơn Trà 01; Ngũ Hành Sơn 02; Thanh Khê 01; Liên Chiểu 04).

– Năm 2018: 17 trường hợp (Hải Châu 03; Sơn Trà 05; Ngũ Hành Sơn 07; Liên Chiểu 01; Cẩm Lệ 01).

– Năm 2019: 20 trường hợp (Hải Châu 03; Sơn Trà 01; Ngũ Hành Sơn 07; Thanh Khê 01; Liên Chiểu 03; Cẩm Lệ 02; Hòa Vang 03).

– Năm 2020: 16 trường hợp (Sơn Trà 07; Ngũ Hành Sơn 02; Liên Chiểu 06; Cẩm Lệ 01).

– Năm 2021: 13 trường hợp (Hải Châu 01; Ngũ Hành Sơn 03; Thanh Khê 01; Liên Chiểu 06; Cẩm Lệ 02).

– Năm 2022: 16 trường hợp (Hải Châu 04; Sơn Trà 02; Thanh Khê 03; Liên Chiểu 04; Hòa Vang 03).

(3) Theo hành vi vi phạm: Trong số 94 khu đất, dự án được gia hạn sử dụng đất 24 tháng theo quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai năm 2013 có 10/94 trường hợp chậm tiến độ sử dụng đất 24 tháng so với tiến độ trong Giấy chứng nhận đầu tư, còn lại là các trường hợp chưa đưa đất vào sử dụng.

(4) Tính đến ngày 01/5/2023, có 68/94 dự án đã hết thời gian gia hạn sử dụng đất 24 tháng theo quyết định của UBND thành phố, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức kiểm tra và báo cáo UBND thành phố, kết quả cụ thể như sau:

– 21 trường hợp đã đưa đất vào sử dụng với tổng diện tích đất là: 978.794m2 (Phụ lục 6).

– 40 trường hợp thuộc trường hợp bất khả kháng do dịch bệnh và các trường hợp bất khả kháng khác, hiện nay Chủ đầu tư vẫn đang liên hệ với các cơ quan chức năng để hoàn thiện thủ tục triển khai dự án với tổng diện tích: 358.179,5m2 (Phụ lục 7).

– 07 dự án, khu đất thuộc trường hợp bất khả kháng khác hoặc thuộc các trường hợp khác (Phụ lục 8) với tổng diện tích: 69.048 m2.

– 26 trường hợp chưa hết thời gian gia hạn sử dụng đất 24 tháng (Phụ lục 9) với tổng diện tích là: 498.485m2.

b) Đối với cá nhân sử dụng đất

UBND các quận, huyện đã xác định 61 trường hợp khu đất, dự án có hành vi vi phạm pháp luật thuộc trường hợp phải gia hạn tiến độ sử dụng đất 24 tháng, với tổng diện tích gia hạn là: 134.407m2.

– Quận Sơn Trà: 34 trường hợp, diện tích gia hạn: 50.445,5m2.

– Quân Hải Châu: 08 trường hợp, diện tích gia hạn: 24.900,5m2.

– Quận Liên Chiểu: 06 trường hợp, diện tích gia hạn: 28.865,2m2.

– Quận Ngũ Hành Sơn: 08 trường hợp, diện tích gia hạn: 15.365,1m2.

– Huyện Hòa Vang: 03 trường hợp, diện tích gia hạn: 8.443,3m2.

– Quận Cẩm Lệ: 02 trường hợp, diện tích gia hạn: 6.388,3m2.

c) Về tình hình thực hiện nghĩa vụ tài chính:

– Đối với các tổ chức: Đã có 86/94 trường hợp gia hạn sử dụng đất chủ đầu tư đã nộp tiền gia hạn với số tiền: 388.743.900.000 đồng/447.952.820.000 đồng. Hiện nay còn 07 trường hợp chưa nộp tiền gia hạn sử dụng đất với số tiền: 59.211.900.000 đồng và 01 trường hợp Cục thuế thành phố chuyển trả lại hồ sơ cho Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố để xác định mục đích sử dụng đất làm cơ sở xác định nghĩa vụ tài chính phải nộp.

– Đối với các cá nhân: Đã nộp ngân sách với số tiền gia hạn sử dụng đất là 109.229.367.874 đồng.

– Tổng số tiền gia hạn sử dụng đất các tổ chức, cá nhân đã nộp tính đến ngày 01/5/2023 là: 497.973.200.000 đồng.

d) Nguyên nhân và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc chậm đưa đất vào sử dụng

(1). Nguyên nhân việc chủ đầu tư, người sử dụng đất không đưa đất vào sử dụng, chậm tiến độ sử dụng đất: Qua kết quả kiểm tra có nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó tập trung chủ yếu vào các nguyên nhân chính sau:

– Chủ đầu tư, người sử dụng đất không nắm được quy định về việc phải đưa đất vào sử dụng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 64.

– Chủ đầu tư, người sử dụng đất đề xuất thay đổi quy hoạch, thay đổi mục đích sử dụng đất không đúng quy định, không được chấp thuận; thay đổi mục tiêu, quy mô, chỉ kiến trúc công trình nhiều lần; chủ đầu tư không đủ năng lực tài chính để triển khai thực hiện dự án;

– Ngoài ra, cũng có một phần nguyên nhân khách quan do ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 (trong năm 2020-20210); nền kinh tế gặp nhiều khó khăn nên ảnh hưởng đến nguồn tài chính của doanh nghiệp để đầu tư triển khai dự án.

Từ những nguyên nhân nêu trên thì trách nhiệm trong việc không đưa đất vào sử dụng chủ yếu đến từ chủ đầu tư, người sử dụng đất.

(2). Đối với các dự án đã hết thời gian gia hạn sử dụng đất nhưng chưa đưa đất vào sử dụng: Tính đến ngày 01/5/2023, có 68/94 dự án đã hết thời gian gia hạn sử dụng đất 24 tháng theo quyết định của UBND thành phố. Theo đó qua kiểm tra, có 47 trường hợp chưa đưa đất vào sử dụng, hoàn chỉnh dự án đầu tư, nguyên nhân chậm tiến độ, chưa đưa đất vào sử dụng như sau:

e) Vướng mắc do việc thực hiện Kết luận số 2852, gồm các dự án, khu đất sau:

– Dự án tổ hợp chung cư cao tầng, cao ốc văn phòng, mặt bằng thương mại của Công ty TNHH đầu tư và phát triển Hàn Quốc (Vướng mắc do việc điều chỉnh thời hạn thuê đất từ 50 năm lên 70 năm, xác định lại nghĩa vụ tài chính).

-Thửa đất TMDV số 61, tờ bản đồ số 98 đường Lê Đức Thọ, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà của Công ty Cổ phần Quốc tế Đông Á (vướng mắc trong việc nộp 10% giảm tiền sử dụng đất không đúng quy định).

– Thửa đất TMDV số 61, tờ bản đồ số 99 đường Lê Đức Thọ, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà của Công ty Cổ phần Quốc tế Phương Anh (vướng mắc trong việc nộp 10% giảm tiền sử dụng đất không đúng quy định).

* Vướng mắc về quy hoạch gồm các dự án, khu đất sau:

– Dự án khu chung cư C1, C2 phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn của Công ty Cổ phần đầu tư và Xây dựng 579.

– Dự án Khu chung cư cao tầng, Văn phòng thương mại và Nhà ở Tuyên Sơn, phường Hòa Cường Nam của Công ty TNHH Phát triển nhà Tuyên Sơn.

– Khu tổ hợp Trung tâm thương mại, cao ốc văn phòng và chung cư cao cấp Redstar tại phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà của Công ty Cổ phần Sao Đỏ Đà Nẵng.

– Dự án Viện nghiên cứu và đào tạo y sinh dược, trung tâm thực hành chuẩn đoán và xét nghiệm, khu nhà nghỉ chuyên gia tại phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn của Công ty TNHH MTV Thịnh Khang An.

– Dự án Khu du lịch Sao Việt Non Nước tại phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn của Công ty TNHH Sao Việt Non Nước.

– Khu đất thương mại dịch vụ tại Quốc lộ 1A, xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang của Công ty TNHH Hữu Phát.

– Dự án Khu phức hợp trung tâm thương mại – căn hộ điểm nhấn Đà Nẵng (DaNang Landmark) tại lô B1-1-3, khu B1-1, khu dân cư, khách sạn, căn hộ và TMDV 2/9, phường Bình Thuận, quận Hải Châu của Công ty Comos Housing.

– Lô B1-1-7, Khu B1-1, Khu dân cư, khách sạn, căn hộ và thương mại dịch vụ đường 2/9 của Công ty TNHH Đầu tư Hướng Tuấn Đạt.

– Dự án Khu phức hợp khách sạn, căn hộ lưu trú, trường học và văn phòng tại Lô A2.2 Khu dân cư số 01 Nguyễn Tri Phương, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu của Công ty Cổ phần Thương mại – Dịch vụ Hai Hạnh.

– Dự án Nhà máy SX nguyên liệu tái sinh và xử lý chất thải công nghiệp tại phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu của Công ty TNHH dịch vụ Môi trường Ánh Dương (chọn địa điểm khác thực hiện do không phù hợp quy hoạch).

– Dự án xây dựng chung cư tại thửa đất số 7, tờ bản đồ số 139, tại phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn của Công ty Cổ phần AP NHS Đà Nẵng.

* Vướng mắc do việc xác định chỉ tiêu kiến trúc, mật độ xây dựng và phương án kiến trúc cho chủ đầu tư, gồm:

– 02 khu đất thương mại dịch vụ tại phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn của Công ty Cổ phần Lightland Danang.

– Khu đất thương mại dịch vụ tại phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn củaCông ty Cổ phần Đầu tư New City SeaDanang.

* Vướng mắc do việc giải quyết tranh chấp Hợp đồng kinh tế chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân 02 cấp, gồm:

– 02 Khu đất xây dựng biệt thự, khách sạn và căn hộ cao cấp (khu số 1 và khu số 2) tại phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn của Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển đô thị và KCN sông Đà.

* Tạm dừng hiệu lực Quyết định gia hạn sử dụng đất

– Dự án Tổ hợp khách sạn, thương mại dịch vụ chung cư cao cấp THAT tại phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà của Công ty TNHH Xây dựng thương mại – dịch vụ 55 (tạm dừng hiệu lực Quyết định gia hạn sử dụng đất).

* Hủy quyết định gia hạn sử dụng đất

– Dự án Khu phức hợp Trung tâm thương mại khách sạn 5 sao và căn hộ cao cấp Đà Nẵng Center tại phường Hải Châu 1, quận Hải Châu của Công ty Cổ phần Địa ốc Vũ Châu Long.

* Liên quan đến phục vụ công tác thanh tra của Thanh tra thành phố

– Dự án Khu chung cư cho người thu nhập thấp tại KDC An Trung 2 tại phường An Hải Tây, quận Sơn Trà của Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng 579 và Công ty cổ phần Đức Mạnh (Khu C đã triển khai xây dựng và đưa vào sử dụng. Khu A, B đã làm móng nhưng có liên quan đến thanh tra toàn diện dự án của thanh tra thành phố).

* Chủ đầu tư không thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước khi được gia hạn sử dụng đất

– 05 khu đất thương mại dịch vụ tại đường Phạm Văn Đồng, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà của Công ty Cổ phần Khang Hưng (Sở Tài nguyên và Môi trường đã có Công văn số 2367/STNMT-TTr ngày 15/6/2021 trả lời kiến nghị của các hộ dân về việc gia hạn sử dụng đất của Công ty Cổ phần Khang Hưng).

* Dự án chấm dứt đầu tư, chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nhà đầu tư mới

– Dự án Xây dựng khu phức hợp cao cấp thương mại, văn phòng khách sạn, chung cư cao cấp Golden Square tại phường Hải Châu 1, quận Hải Châu của Công ty cổ phần Địa ốc Đông Á (Sở Kế hoạch và Đầu tư đã có Thông báo số 124/TB-SKHĐT ngày 17/3/2023v/v chấm dứt hoạt động Dự án Khu phức hợp cao cấp thương mại, văn phòng, khách sạn và chung cư cao cấp (Golden Square) của Công ty Cổ phần Địa ốc Đông Á).

– Dự án Xây dựng Văn phòng căn hộ cao cấp tại phường Hải Châu 1, quận Hải Châu của Công ty Cổ phần Địa ốc Viễn Đông Việt Nam (Đã chấm dứt dự án đầu tư, chủ đầu tư cũ đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định số 01/2017/NĐ-CP cho nhà đầu tư mới là Công ty TNHH MTV Đầu tư Kinh Bắc – Đà Nẵng).

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024\BÁO CÁO Về việc tình hình rà soát các dự án chậm triển khai, dự án chậm đưa đất vào sử dụng trên địa bàn thành phố

BÁO CÁO Về việc tình hình rà soát các dự án chậm triển khai dự án chậm đưa đất vào sử dụng trên địa bàn thành phố BÁO CÁO Về việc tình hình rà soát các dự án chậm triển khai dự án chậm đưa đất vào sử dụng trên địa bàn thành phố

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *