Áp dụng pháp luật giải quyết các tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiếtcủa đề tài
Tiền bạc, quyềnlựcvốnlànỗiđam mêcủaconngườivà cũng từđónảysinh rất nhiều mâu thuẫn trong đờisống.Đểổnđịnhxã hội,đảmbảo quyền hợp pháp của công dân, tổ chức trong các quan hệ xã hội, Nhà nước đãđặt ra các chế định pháp luật, làm công cụ điều chỉnh các quan hệ đó. Xã hội càng phát triển thì hệ thống pháp luật cũng càng được hoàn thiện, tôn trọng vàbảo vệ.Mỗimột dạng quanhệxãhộikhác nhauđượcđiềuchỉnh bằng các quy phạm pháp luật khác nhau. Các quan hệdânsựđượcđiềuchỉnh bằng pháp luật dân sự,các quanhệhình sựđượcđiềuchỉnh bằng quy phạm pháp
luật hình sự… Trong đó, các mâu thuẫn phát sinh trong các quan hệ dân sự, kinh
tế,hành chính, hìnhsự…đượcđiềuchỉnh bằng những quyđịnhtốtụng riêng biệt.Mỗinhóm khác nhau quyđịnhvềthủtụctốtụngđượcsửdụngđểgiải quyết những loại tranh chấp khác nhau, nên không thể áp dụng quy định về thủ tục tố tụng này đểgiải quyết các tranh chấp thuộc phạm vi điều chỉnh của các quyđịnhvềthủ tụctố tụng khác. Việc áp dụng sai pháp luật sẽlàm cho các tiêu chí khách quan bị đảo lộn, dẫn đến những hậu quả xấu về kinh tế – xã hội.
Sựhình thànhnềnkinh tế thịtrườngởnướcta trong những năm qua diễn ra với tốc độ nhanh chóngvà đãđưa nền kinh tế nước ta thành một điểm nóng của kinhtếthế giới. Kinh tế thị trường cũngđãđem lại hệ quả tất yếu làlàm gia tăng các tranh chấp kinh tế.Các tranh chấpđó,ngày càngtrởnên phong phú hơn về chủng loại; gay gắt, phức tạp hơn về tính chất và quy mô. Vì vậy, việc áp dụng các hình thức và phương pháp giải quyết phù hợp, cóhiệuquả đốivớimỗiloại tranh chấp đã trở thànhmột đòihỏikhách quan đểbảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinhtế,bảo đảm nguyên tắcpháp chế, thông qua đó góp phần tạo lập môi trường pháp lý lành mạnh đểthúc đẩy quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Ở nước ta trong những năm qua, pháp luậtvềgiải quyết tranh chấp kinh tế và những biện pháp đảm bảo thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế trong đời sống, chưa thực sự cóhiệu quả nên chưa tạo ra được sự tin tưởng của các doanh nhân. Do đó, trong quá trình giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn trong kinh doanh, đã xuất hiện nhiều cách thức giải quyết trái pháp luật, như: Sửdụng “đầugấu”, bắt cóc
thân nhân của chủ nợ… Trong các hình thức sai trái đó, việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự đểgiải quyết các tranh chấp phát sinh trong quanhệkinh tế,dân sựđãkhông còn là hiện tượng cá biệt.Đãxảyra những trường hợp cơ quan tố tụng hình sự tiến hành điều tra, truy tố, xét xử những chủ thểkinh doanh khi hành vicủahọ chỉ thuần túy là hành vi kinh tế, dân sự. Việcđó,không chỉ làm đảo lộn trật tựpháp luật mà còn gây ra nhữnghậu quảrấtđáng lo ngại cho đời sống kinh tế – xã hội củađất nước.Nỗilo củacác nhàđầu tư các thương nhân, các chủ thể kinh doanh về việc có thể bị điều tra, truy tố,xét xửđãlàm tăng thêm yếu tố rủi ro trong kinh doanh, hạn chế rất lớn sựsáng tạo, tính mạnh dạn của các chủ thể kinh doanh trong việc quyết địnhđầu tư,sảnxuất.Trướctình trạnglạmdụng pháp luật hìnhsựđốivớicác tranh chấp kinh tếởnướcta, ngày 31 tháng 3 năm 1998,ThủtướngChính phủ đãcó Chỉ thị số 16/1998/CT-TTg về giải quyết các kiến nghị của doanh nghiệp. Chỉthịnêu rõ:
Bộ Nội vụ cần quán triệt trong toàn ngành chấp hành nguyên tắc nghiệp vụ; tăngcườngcông tác phòng ngừa, lấy phòng ngừa là chính; khôngđượclạmdụng chức, quyềnđểgây phiền hàcho doanh nghiệp; phốihợpvới Bộ Tư pháp, Thanh tra nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao nghiên cứu hướngdẫn, phân biệt cụ thể phạm vi tranh chấp kinh tế với quan hệhình sự; phân định rõ các vi phạm về hành chính kinh tế với các vi phạm hình sự. Bộ Tư pháp chủ trì cùng các ngành liên quan nghiên cứu các biện pháp để thực hiện chủ trương chống “hình sự hóa” các quan hệ kinh tế dân sự [8].
2
Trên thực tiễn hiện nay, hiện tượng pháp lý tiêu cựcđóvẫntồntại nhưngđượccheđậy,ẩnnấp, biến dạng vàvẫnđượcsửdụngđểgiải quyết những tranh chấp kinhtế,dân sự, đặc biệt là các tranh chấp liên quan đến các khoản vay, nợ, vi phạm hợp đồng. Đi tìm lời giải cho hiện tượng tiêu cực trên trong điều kiện hiện nay vẫn còn là vấn đề cần phải nghiên cứu. Xuất phát từnghề nghiệp và công việccủamình, chúng tôiđãlựachọn đềtài “Áp dụng pháp luật giải quyết các tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay” đểthực hiện luận án Tiến sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu
Mụcđích nghiên cứucủaluận án làtừthực tiễncủahiệntượngáp dụng pháp luật hìnhsựđểgiải quyết các tranh chấp kinhtế ởnướcta thời gian quađểtìm ra nguyên nhân,điềukiện,bảnchất củahiệntượngpháp lý tiêu cựctrên,từđó kiến nghị các giải pháp khắc phục, góp phần nâng cao hiệu quả của pháp luật về giải quyết tranh chấp kinhtế ở nước ta.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đểđạt mục đích đềra, luận án phải giải quyết các nhiệm vụ sau:
-Vềlý luận, thông qua khái niệm tranh chấp kinhtế,các hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế được quy định trong các văn bản pháp luật, luận án làm rõ nguyên nhân, bản chất của hiện tượng áp dụng các quy phạm pháp luật hìnhsự đểgiải quyết các tranh chấp phát sinh trong quan hệ kinhtế.
-Vềthực tiễn, luận án nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quan hệ kinhtế ở nước ta.
Từ cơ sở lýluận và thực tiễn trên, luận án xác định phươnghướngvàkiến nghị các giải pháp khắc phục.
3.3. Đối tượng nghiên cứu
Đốitượngnghiên cứu của luận án là:
– Khái niệm tranh chấp kinhtế,các hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế phù hợp với quyđịnhpháp luật.
– Lý luận chung về áp dụng pháp luật hìnhsự đểgiải quyết các tranh chấp kinhtế.
– Các trườnghợpáp dụng pháp luật hình sựđểgiải quyết các tranh chấp kinhtế.
– Nguyên nhân, bản chất, hậu quả của việc áp dụng pháp luật hình sựđểgiải quyết các tranh chấp kinhtế.
– Phương hướng và giải pháp khắc phục tình trạng áp dụng pháp luật hìnhsự đểgiải quyết các tranh chấp kinhtế.

Phạm vi nghiên cứu của luận án là việc áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp kinhtế,trong đó tập trung nghiên cứu về những vấn đề có liên quanđếnhiệntượngsai trái là áp dụng pháp luật hìnhsựđểgiải quyết các tranh chấp kinh tế trên phạm vicả nước.
Cácvụviệcđượckhảo sát giớihạntrong khoảng thời giantừnăm 2000 (thời điểm Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực) đến nay.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận ánđượcnghiên cứudựatrên cơsởlý luận, phương pháp luận củachủnghĩa Mác – Lênin và tưtưởngHồ Chí Minhvềnhànướcvà pháp luật; đườnglối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng dân sự nói riêng.
Đểđạt đượcmụcđích nghiên cứu, trong quá trình thực hiện luận án nghiêncứusinhđãlựachọn cácvụviệcđiểnhìnhtừthực tiễnđểphân tích,đánh giá, luận giải những nội dung, nhận định trong luận án.
Đồng thời trong quá trình nghiên cứu, nghiên cứu sinh còn sửdụng các phương pháp phân tích, so sánh,đốichiếu thực tiễnđểthực hiện nhiệm vụnghiên cứu của luận án.
5. Những đóng góp của luận án
Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diệnvềhiệntượngáp dụng pháp luật hìnhsựđểgiải quyết các tranh chấp kinhtế.Cụ thể luận án có những đóng góp cho khoahọcpháp lý như sau:
– Làm rõ hơn những bất cập củapháp luật hiện hành vềgiải quyết tranh chấp kinhtế ở nước ta.
– Xác định một cách toàn diện hơn nhữngvấn đềlý luận và thực tiễn của hiện tượng áp dụng pháp luật hìnhsự đểgiải quyết các tranh chấp kinhtế.
7
– Thông qua các vídụ thực tiễn đểchứng minh và đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết các tranh chấp kinh tế, từ đó phát hiện những bất cập liên quan đến hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế hiện nay.
– Trên cơsởđó,luận án có đóng góp nhất địnhcho việc làm lành mạnhđờisống thực tiễn pháp lý,hạnchếnhững tiêu cực, sai phạm trong áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp kinhtế.
Luận án có thể được sử dụnglàm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy trong các trường đào tạo luật, các lớp bồidưỡngnghiệp vụpháp lý. Các kết quảnghiên cứu của luận án cũng có thể được vận dụng trong việc hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinhtế ở nước ta.
6.Kếtcấucủa luận án
Ngoài phần mởđầu,kết luận và danh mụctài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 3 chương, 7 tiết.
8
LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ
VÀ ÁP DỤNG PHÁPLUẬT ĐỂGIẢI QUYẾT
CÁC TRANH CHẤP KINH TẾ
1.1. QUANĐIỂM VỀTRANH CHẤP KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Tranh chấp là cáivốncó trong quá trìnhtồntạivà phát triểncủađời sống xã hội. Trong kinh tế, do mọi hoạt động của các chủ thể đều gắn liền với mục đích lợi nhuận, nên tính tất yếu của các tranh chấp kinh tế càng thể hiện rõ nét. Ở nước ta những năm qua, việc chuyển đổi từnềnkinhtế hành chính bao cấp sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần khác nhau, đã tạo ra bộ mặt kinhtế mới, năngđộng,phát triển,đồngthời cũng làm cho các mâu thuẫn, tranh chấp giữa cácchủthểkinh doanh ngày càng đa dạng, phức tạp hơn.Nếutrướcđổi mới, các tranh chấp kinhtế chỉnảysinh trong quá trình thực hiện các hợp đồngkinhtế,thì ngày nay tranh chấp kinhtế đãdiễn ra trong tất cảcác quá trình củahoạt độngkinh doanh,từđầu tư, sản xuấtđến tiêu thụ sản phẩm.
Trong đời sống xã hội con người luôn sáng tạo, lao động, vươn lên vàdo đó,quanhệcủaconngườicũng luôn phát triển và ngày càng phong phú. Từ đó,các va chạm, xung đột, tranh chấp của con người cũng ngày càng phức tạp giống như tự thân các quan hệ xã hội của con người. Trong cuộcsống đểthỏa mãn những nhu cầu ngày càng cao của mình, con người phải lao động và
phải bảo vệđượclợiíchtừquá trình lao động củamình. Cũng chínhtừđây mà các va chạm, xung đột xảy ra. Trong đó, các xung đột liên quan đến quyền và lợi ích kinh tế luôn nóng bỏng nhất. Nếu các xung đột đó khôngđược giải quyết sớmthì tranh chấp sẽxảyra. Thựctếcho thấylợiích kinhtế chính làmột trong những nguyên nhân cơbảnlàm nảysinh các tranh chấp trongđời sống xã hội. Kinh tế càng mở rộng càng phát triển thì mâu thuẫn càng phong
9
phúdẫntớicác tranh chấp cũng đa dạng hơn. Nhưvậytranh chấp là những mâu thuẫn, những bất đồng, những xung đột của con người trong quá trình laođộng; là cái tự nhiên vốn có của cuộc sống, nảy sinh, phát triển cùng sự phát triển của xã hội.
Việt Nam đang là điểmđếncủacác nhàđầutư, một thịtrường tiềm năng đang rất cần được khai thác. Sự hình thành nền kinhtế thịtrườngở nước ta diễn ra trongđiềukiện kinh tế thế giới diễn biến hết sức phức tạp, các trung
tâm kinhtế lớnnhư HoaKỳ,Châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản… đangcốgắngthểhiện vai trò củamình trongđờisống kinh tế – xãhộithếgiới; bên cạnhđó,là tiến trình toàn cầu hóa đang diễn ra hết sức gay gắt. Thực tiễn phát triểncủakinh tế thếgiới đang nhưmộtcơn bão cuốn theo sựthay đổi toàn diệnvềkinhtế – xãhộicủacácnướcnhỏ, trongđó có Việt Nam. Chínhsựthay đổi cả theo bề rộng và chiều sâu của các quan hệ kinh tế vớimộttốc độnhanh chóng như hiện nayởnướcta,đãlàm cho các tranh chấp kinhtế đa dạng hơnvềhình thức, sâu sắc, phức tạp hơn vềnội dung, tính chất và quy mô. Các tranh chấp kinhtếdiễn ra nhiều hơn, đa dạng hơnđãgóp phần làm nóng lên các hoạt động kinh doanh. Nó tạo ra nhiều tiền đề khác nhau để kích thích sự năng động, sáng tạo của các thương nhân, các cá nhân và pháp nhân trong các hoạt độngkinhtế.Mặt khác, nó cũngđòihỏihệthống quản lý,hệthống hành chính nhà nước phải được đổi mới không ngừng cả về tư duy lẫn phương thức quản lýđểđảm bảo sự phát triển của nền kinhtế.
Các tranh chấp đó,đồngthời cũngđặt rađòihỏitựthânđốivớicác chủthểkinh doanh phải năngđộng,sáng tạo lựachọn các hình thức khác nhau đểgiải quyết tranh chấp kinh tế,góp phần tạo lậpmôi trường pháp lý lành mạnh phụcvụquá trình phát triển kinh tế – xã hội.
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường kéo theo sự phát triển phức tạp, đa dạng củacác tranh chấp kinh tế,là nguyên nhân làm cho việc đi tìm một khái niệm chuẩn mực, thống nhất về tranh chấp kinh tế ngày
10
càng khó hơn,đặcbiệt là việc tìm kiếm khái niệm này trong pháp luật thựcđịnhở nước ta.
Hiện nay, tranh chấp đã được đề cập từ nhiều góc độ khác nhau, với những nộidung không hoàn toàn đồng nhất. Tranh chấp là “đấu tranh giằng co khi có ýkiến bất đồng,thường là trong vấnđềquyềnlợigiữa hai bên” [98]. Do đó, cũng có nhiều khái niệm khác nhauvềtranh chấp kinh tế,coiđólà “những mâu thuẫn, xung đột về quyền, nghĩa vụ, lợi ích kinh tế giữa các bên chủ thểkhi tham gia quan hệ sản xuất kinh doanh” [14, tr. 137]; là “sự bất đồng, mâu thuẫn, xung đột vềquyền và nghĩa vụ củacác chủ thểkinh tế liên quan đến lợi ích kinh tế”[77]; là “mâu thuẫn, xungđột vềquyền và nghĩavụkinh tếcủacác chủ thểkhi tham gia quanhệpháp luật kinh tế”[99, tr. 806]. Trong việc xácđịnhnộihàmcủakhái niệm tranh chấp kinhtế,hầuhết các nhànghiên cứu đều xuất phát từ pháp luật nộidung và đều nhìn nhận tranh chấp kinh tế là sự xung đột quyền và lợi ích kinh tế của các bên tham gia tranh chấp.
Đểlàm rõ tranh chấp kinh tế là gì, nhiều nhà nghiên cứu cũngđãsửdụng góc độ tiếp cận khác: Góc độ pháp luật tố tụngvà đãphân chia các tranh chấp kinh tế thành nhiều nhóm, như: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mụcđích lợi nhuận; tranhchấp vềquyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau vàđều có mụcđích lợi nhuận; tranh chấp giữa công ty vớicác thành viêncủacông ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty…
Kinh tế không bị bó hẹp trong một khoảng không gian địa lý nhất định mà luôn phát triển, mở rộng, do đó các tranh chấp kinh tế cũng luôn được tạo ralớnlên theo cảvềsố lượngvà tính phong phú, phức tạp vốncó củacác quan hệ kinh tế. Khi kinh tế phát triển thì quan hệ của các chủ thể kinh doanh tất yếusẽđượcmởrộng và quá trình liên kết,đầutư giữa các quốc gia, các
11
vùng kinh tế, các khuvựckinh tế cũng ngày càng phát triển. Cùngvới sựphát triển của các quan hệ kinhtếnày, các tranh chấp kinh tế trong đầu tư, sản xuất kinh doanh có yếu tố quốc tế cũng phát triển theo. Chính vì vậy, pháp luật về tố tụng kinhtếcũng phải thayđổiđểđápứng yêucầugiải quyết tranh chấp, góp phần tạo dựng một không gian an toàn cho hoạt động kinh doanh của xã hội. Vìvậy, khi xuất phát từcác quyđịnhvềtốtụng trọng tàiđểxácđịnh các dạng tranh chấp kinh tế ở nước ta, không thể không đề cập tới các tranh chấp kinh
tế thuộc thẩm quyền giải quyết của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam.
Trước đây, Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từcác quan hệkinh tế quốctế như cáchợpđồngmua bán ngoại thương, các hợp đầu tư, du lịch, vận tải và bảo hiểm quốc
tế,chuyển giao công nghệ và thanh toán quốctế v.v…,nếucó một bên hoặc các bên đương sự là cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài. Sau đó, thẩm quyền giải quyết tranh chấpcủaTrung tâm Trọng tài quốctế Việt Namđượcmở
rộng, được giải quyết các tranh chấp kinh tế phát sinh từ quan hệ kinhtế quốc
tế và quanhệkinh doanh trongnước.Tronggầnmườinămtồntạicủamình các quy định tố tụng trọng tài trên đã có vai trò không nhỏ giúp cho việc giải quyết các tranh chấp kinhtế được tốthơn. Tuy nhiên, tự bản thân của các hoạtđộng kinh tế đòi hỏi các quy định này phải luôn thay đổi để phù hợp với yêu cầu thực tiễn của các dạng tranh chấp khác nhau. Ngày 25/2/2003, Pháp lệnh Trọng tài thươngmại đãđược thông qua, trong đó xác định tranh chấp có yếu tố nước ngoài là tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại mà một bên hoặc các bên làngườinướcngoài, pháp nhânnướcngoài tham gia hoặc căn cứđểxác lập, thay đổi,chấmdứtquanhệcó tranh chấp phát sinh ởnước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến tranh chấp đó ở nước ngoài. Như vậy, nếu căncứvào các quy địnhpháp luật vềgiải quyết tranh chấp kinhtế thì các tranh chấp kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan tài phán kinh tế ởnướcta lạicó thêm một dạng tranh chấp nữa, là tranh chấp “có yếutốnước ngoài”. Theo đó, có các dạng tranh chấp kinh tế sau đây:
12
– Các tranhchấp hợp đồngcó mục đích kinh doanh kiếm lời;
– Các tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh trong nước và nước ngoài;
– Các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến lợi nhuận;
– Các tranh chấp trong nội bộ công ty liên quan đến tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Cho dù ở bất kỳ dạng nào (tranh chấp cổ phiếu, trái phiếu, tranh chấp
quyền lãnhđạo công ty, tranh chấp hợp đồng…)thì các tranh chấp kinhtếvẫn không vượt ra khỏi bản chất cố hữu của nó đó là quyền lợi vật chất, là lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh.
Từnhững cách hiểu phổ biếnđó,có thểhiểu: Tranh chấp kinhtế lànhững mâu thuẫn, bất đồng liên quan đến quyền và lợi ích kinh tế của các chủ thể có quan hệ kinh tế trong kinh doanh.
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ
1.2.1. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh tế
Kinhtế thịtrường là nơi mà các chủ thể tham gia kinh doanh có điều kiện phát huy một cách tối đa tínhchủ độngsáng tạo của mình trong sản xuất kinh doanh, trong tìm kiếm lợi nhuận và cách thức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại. Trong kinh tế thị trường, các tranh chấp kinhtếluôn gắn liền với lợi ích riêng biệt của mỗi chủ thể kinh doanh và luôn thuộc quyền tự quyết của họ. Nhà nước thừa nhận và đảm bảo quyền tựchủcho họtrong quá trình đầutư,sảnxuất, kinh doanh. Trong quá trình đó,nếutranh chấp kinhtế phát sinh thì các chủ thểkinh doanh có toàn quyền quyết định trong việclựachọn cách thức giải quyết tranh chấp bảo đảmsựthuận tiện nhất đốivớihọ.Cho dù các tranh chấp kinhtế đượcgiải quyết ởđâu, bằng hình thức nào, thì việc giải quyết đều phải đáp ứng những yêu cầu nhất định.
13
Một là, phải đảm bảo quyền tự địnhđoạt củacác chủ thể kinh doanh.Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng kinh tế. Trong
nền kinh tế thị trường, các cá nhân và pháp nhân có quyềntựdo kinh doanh trong khuônkhổpháp luật. Nhànướckhông can thiệp vào các hoạtđộngkinh doanh hợp phápcủahọ,không can thiệp vào các tranh chấp giữahọkhihọ không yêu cầu. Quyềntựđịnhđoạtcủacácchủthểkinh doanhthểhiệnởchỗ các bên tham gia tranh chấp được quyền lựa chọn các hình thức giải quyết tranh chấp mà họ thấy phùhợpnhất. Thậm chí họ có quyền tự quyếtđịnhviệc khởi kiện, không khởi kiện, rútđơnkiệnđốivớicác tranh chấp liên quanđến quyền vàlợiích hợp pháp của họ. Tất cả các quốc gia đều công nhận và bảo vệ quyền tự địnhđoạt này của các chủ thể kinh doanh trên lãnh thổ của mình.
Hai là, việc giải quyết tranh chấp phải nhanh chóng, thuậnlợikhông xâm phạm đến các hoạt động bình thườngcủa chủthể kinh doanh.
Thời gian và tính liên tụccủaquá trìnhsảnxuất kinh doanh có ý nghĩa rất lớnđếnsựtồntạivà phát triểncủadoanh nghiệp,củacácchủthểkinh tế.Chính vì vậy, việc nhanh chóng, kịp thời giải quyết các tranh chấp kinh tếkhông chỉ đơnthuầnđápứng yêu cầu vềpháp luật mà còntạođiều kiện thuận lợi cho các chủ thể tranh thủ thời cơ, không lãng phí thời gian để
tập trung sức lực, trí tuệ cho hoạt động kinh doanh.
Ba là, giải quyết tranh chấp kinh tế phải đảm bảo uy tín và bí mật kinh
doanh của các chủ thể. Thương hiệu, sáng chế, giải pháp hữu ích… là tài sản vô hình gắnliềnvớicácchủthểkinh doanh. Trong điềukiện kinhtế thị trường thì việc bảo vệ, giữ gìn uy tín và bí mật kinh doanhlà vấn đềsống còn đốivớidoanh nghiệp vớinhàsảnxuất, kinh doanh. Chính vì vậy, việc giải quyết tranh chấp không thể khôngđáp ứngyêu cầu này.
Bốn là, các thỏa thuận, phán quyết trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế phải có tính khảthi, nhằm bảo vệmột cách tốt nhất lợi ích của các bên. Trong kinh doanh thì yếu tố kinh tế là tối thượng. Vìmụcđích kinh
14
tế các chủ thể kinh doanh có thể làm bất cứ điều gì mà pháp luật cho phép. Dođó,các thỏa thuận đạt được trong hòa giải, thương lượng, các quyết định của trọng tài, tòa án khi giải quyết các tranh chấp kinh tế phải có tính khả thi, tức là có thể thi hành được trên thực tế.Từ đómà tạo dựng lòng tin cho các chủ thểkinh doanh, nâng cao văn hóaứngxửcủacác bên tham gia tranh chấp kích thích họ sáng tạo, tích cực sản xuất, kinh doanh.
Năm là, giải quyết tranh chấp kinhtế phảiđảmbảo tính kinhtế,chi phí thấp, không dây dưa, kéo dài. Đây là mục đích của tất cả các bên tham gia tranh chấp. Vì vậy, sự phiền hà, nhũng nhiễu của các chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp hoặc chi phí cao là những tiêu cực đi ngược lại mục đích của giải quyết tranh chấp kinhtế.
1.2.2. Hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế
Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể trongmỗitranh chấp mà các bên liên quan có thể lựa chọn các hình thức giải quyết tranh chấp khác nhau. Các hình thức giải quyết tranh chấp kinhtế chủyếu được áp dụngrộng rãi trên thế giới, phù hợp vớiđạo đứckinh doanh và pháp luật Việt Nam, bao gồm: thương lượng, hòa giải, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và bằng tòa án.
1.2.2.1. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng hình thức thương lượng Thương lượnglà hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế giành được
rất nhiều sự ưa chuộng của các chủ thể kinh doanh, vì nó đáp ứngđược quyền tựdo thỏa thuận,tựdo định đoạt củacác bên tranh chấp. Thươnglượnglàhình thức giải quyết tranh chấp khôngcầnđếnsựcan thiệp củanhànước cũng nhưcủa bất kỳai. Khi thương lượng, các bên tranh chấp cùng nhau đưa ra quanđiểm,đánh giá, chính kiến và thống nhất biện pháp, cách thức giải quyết tranh chấp. Giải quyết tranh chấp kinhtế bằng thươnglượngkhôngbị ràng buộcbởicácthủtụcpháp lý phiền phức, ít tốnkém hơn và nói chung không làm phươnghạiđếnquanhệhợp tác vốn có giữa các bên trong kinh doanh cũng nhưgiữđược các bí mật kinh doanh. Thương lượng đòi hỏi trước
15
hết các bên phải có thiện chí, trung thực, hợp tácvà phải có đầy đủ nhữngam hiểucầnthiết vềchuyên môn và pháp lý.Đốivớisựviệc phức tạp,mỗibên có thể chỉ định những chuyên gia, những tổ chức có trình độ chuyên môn, “cótay nghề”, thay mặt vàđạidiện cho mình đểtiến hành thương lượng. Thông thường việc giải quyết thành công thông qua thươnglượngcácvụviệc tranh chấp trong kinh doanh đều có sự kết hợp giữa các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật và các chuyên gia pháp lý. Thươnglượngthật sựđãtrởthành quá trình traođổiýkiến, bàytỏ ýchí giữa các bên đềtìm giải pháp tháo gỡnhững vướng mắc, bất đồng.Kết quảcủathương lượng là những cam kết, thỏa thuậnvềnhững giải pháp cụthểnhằm tháo gỡnhữngbếtắchoặc bất đồnggiữa các bên tham gia tranh chấp. Ở các nước có nền kinhtếthịtrường phát triển, đều có quyđịnhvềhình thức pháp lýcủaviệc ghi nhận kết quảthươnglượnglàbiên bản. Biên bản thương lượngphải đềcập các nội dung chủ yếu: Nhữngsựkiện pháp lý có liên quan, chính kiến của mỗi bên (sự bất đồng); các giải phápđược đềxuất, những thỏa thuận, cam kết đãđạt được.
Khi biênbảnthươnglượngđượclập một cách hợp lệ,những thỏa thuận trong biênbảnthươnglượngđượccoi là có giátrịpháp lý nhưhợpđồngvàđươngnhiên nó có ýnghĩa bắt buộcđốivớicác bên. Trong trường hợp kết quảthươnglượngkhôngđượcmột bêntựgiác thực hiện vì thiếu thiện chí, biên bản thươnglượngsẽ được bên kia sử dụng như một chứngcứquan trọng đểxuất trình trướccác cơ quan tài phán kinh tế,yêu cầu các cơquan này thừa nhận vàcưỡngchếthi hành những thỏa thuận nói trên. Ngày nay, thươnglượng đãtrở thành hình thức giải quyết tranh chấp phổ biến của các tập đoàn kinh doanh lớn trên thế giới, đặc biệt là các tập đoàn kinh doanh
hoạt độngtrong các lĩnh vực: ngân hàng, bảo hiểm, chứngkhoán… đểbảo vệmột cách có hiệu quả những bí mật thương mại giữa họ.
Tuy nhiên, trongđiềukiện củaViệt Nam, khi các doanh nghiệp nhànước còn chiếm một tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế, thì thương lượng cũng bộclộ một số yếu điểm nhất định.
16
Thứnhất, việc giải quyết tranh chấp khép kín này làđiềukiện lý tưởngphát sinh các hiện tượng tiêu cực giữa các doanh nghiệp nhà nước, như: giãnnợ,xóanợ,giảmnợcho nhau tráivớicác nguyên tắcquản lý tài chính của Nhà nước.
Thứhai, hoạt độngthươnglượnghoàn toàn mang tính tựphát, theo truyền thống mà chưa có sự điều chỉnh pháp lý thích hợp. Do đó, giá trị pháp lý của kết quả thương lượng không được xác định rõ ràng nên thường bị các bên lợi dụngđểkéo dài thời gian phải thực hiện nghĩa vụ. Nói cách khác, việc thực hiện kết quả thươnglượngphụthuộc hoàn toàn vào thiện chí của các bên nên trong nhiều trường hợp tính khả thi thấp.
1.2.2.2. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng hình thức hòa giải
Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứbađộclập, do hai bên cùng chấp nhận hay chỉ định, làm vai trò trung gian đểhỗ trợcho các bên nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột nhằm chấm dứt các tranh chấp, bất hòa.
Hòa giải là giải pháp mang tính chất tựnguyện, tùy thuộc vào sự lựa chọn của các bên. Đặc biệt là bên thứ ba với tính chất trung gian hòa giải phải có vị tríđộclập đối vớicác bên. Bên thứba làm trung gian hòa giải không phải là đại diện bất kỳ của bên nào và cũng không có quyền quyết định phán xét đối với các tranh chấp. Bên thứ ba làm trung gian hòa giải thường là phải là những cá nhân, tổ chức có trình độ chuyên môn cao và có kinh nghiệmvềnhững vụ việc có liên quan đến các tranh chấp phát sinh. Công việccủa họ làxem xét, phân tích, đánh giá vụviệc; đưara nhữngýkiến, nhậnđịnh,bình luận về chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ và nhữngvấn đềcó liên quan để các bên tham khảo (chẳnghạnnhư:tổ chức giámđịnh,đánh giá, tưvấnchuyên
môn, tư vấn pháp lý…); đề ra những giải pháp, những phương án thích hợp đểcác bên tham khảo lựa chọn và quyết định.
17
Vềthực chất, hình thức hòa giải thường thích hợp cho việc giải quyết các tranhchấp mà ở đó,ngoài yếu tố thiện chí của các bên, còn có các vấn đềđòihỏichuyên môn, màtựcác bên khó có thểxem xét đánh giá chính xác, khách quanđược.Ở nhiềunước,hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp rấtđượcyêu thích. Ngay cảởHoaKỳ,nơi mà người dânrấtyêu thích
kiện tụng thì 95% cácvụ kiện đều chấmdứt bởi hòa giải,đólà chưa kể tới vô vàn các vụ tranh chấp được thương nhân tự dàn xếp mà không khiếu kiệnđếntòa [53, tr. 640]. Và đây cũng là điều giải thích cho việc ra đời các trung tâm hòa giải, như: Trung tâm hòa giải Bắc Kinh để giải quyết các tranh chấp
thương mại và hànghảiquốctế… và các quy trình hòa giải mẫu, như: Quy trình hòa giải Folloberg – Taylor, quy trình hòa giải không bắt buộc của phòng thương mại quốctếtại London, quy trình hòa giải mẫu củaUNCITRAL
năm 1980…
Cho đến nay, trên thế giới có hai hình thức hòa giải, là hòa giải ngoài thủtục tố tụngvà hòa giải trongthủtục tố tụng.
Hòa giải ngoàithủtụctố tụng là hình thức hòa giải qua trung gian,được các bên tiến hành trước khi đưa vụ tranh chấp ra cơ quan tài phán. Khi thốngnhất được cáchình thức giải quyết tranh chấp, các bên phải tự nguyện thực hiện theo phươngán đãthỏa thuận.
Hòa giải trongthủtục tố tụnglà hòa giải được tiến hành tại tòa án hay trọng tài khi các cơ quan này giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của các bên. Người trung gian hòa giải trong trường hợp này là thẩm phán hoặc trọng tài viên.
Như vậy, hòa giải trongtố tụngđượccoi là một bước,một giaiđoạn trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng conđườngtòa án hay trọng tài, chỉ có thể được tiến hành khi một bên có đơn khởi kiện đến tòa án hoặc đơn yêu cầu trọng tài giải quyết và các đơn này đãđược thụlý.
Do bảnchất củahòa giải làsựtựquyết địnhcủacác bên tranh chấp, nên trong quá trình hòa giải, thẩm phán hoặc trọng tài viên khôngđượcép
18
buộc mà phải tôn trọng tính tự nguyện, tự do ý chí của các bên; khôngđược tiết lộ phươnghướng, đườnglối xét xử. Khi các đươngsự đạt được thỏathuận vớinhauvềviệc giải quyết tranh chấp thì thẩm phán hay trọng tài viên lập biênbảnhòa giải thành và ra quyết địnhcông nhậnsựthỏa thuậncủacácđươngsựvà quyết định này có hiệu lực,đượcthi hành như một bảnán của tòa án hay phán quyết của trọng tài. Đây chính là điểm khác cơ bản giữa hòa giải ngoài tố tụng với hòa giải trong tố tụng.
Cũng giống như thương lượng, hòa giải là một phương pháp giải quyết tranh chấp đòihỏitinh thần hợp tác, tôn trọng,tựnguyện củacác bên tham gia, góp phần làm tăng thêm sự hiểu biết, tôn trọng, hòa hợp mà không làm tăng thêmsựcăng thẳng,đối đầugiữa các bên tranh chấp.Vớicác nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Dân sự năm 2005 về tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận [65, Điều 4], thiện chí, trung thực [65, Điều 6], tôn trọng đạo đức, truyền thống [65, Điều 8] và nguyên tắc hòa giải [65, Điều 12] cùng với bản chất nhân văncủadân tộc Việt Nam, hòa giải là một trong những phương pháp giải quyết tranh chấp có vị trí xứng đáng, luônđượcyêu chuộng trong đời sốngpháp lý nước ta.
1.2.2.3. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng trọng tài
Đây là một cách thức giải quyết tranh chấp kinhtế phổ biến nhất ở tất cả các nước có nền kinhtế thịtrường.
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh bằng trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động củatrọng tài viên,vớitư cách là bên thứbađộclập, nhằm chấm dứt xung đột bằng việcđưara một phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thực hiện.
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinhtừnhu cầu của chính các thương gia, các doanh nghiệp. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, ý chí của các bên đương sự luôn được tôn trọng. Các bên có quyền lựa chọn trọng tài viên,lựachọn và xácđịnh thủtụctrọng tài nhằm giải quyết
19
một cách có hiệu quả nhất tranh chấp mà ít tốn phí về mặt thời gian cũng nhưvềtài chính. Việc giải quyết tranh chấp cóthểđượctiến hànhbởimột trọng tài viên duy nhất hoặcmộthội đồng trọng tàigồmnhiều trọng tài viên tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên.
Ngày nay trên thế giới, quy trình tố tụng trọng tài phát triển mạnh mẽvà đãđáp ứng được các yêu cầu cơ bản của các chủ thể kinh doanh trong giải quyết tranh chấp. Phần lớn các nước có nềnkinhtế thị trườngphát triển đều khôngđặt ra vấn đềhỗ trợ của nhà nước đốivới trọng tài, trừ việc cưỡngchếthi hành quyết định của trọng tài. Ở nhiều nước châu Á,hoạt độngcủa trọng tài đượcnhànướchỗ trợrất lớn,đặcbiệt vềtài chính, nhưởHàn Quốc, Malaixia, Thái Lan, Philippin.Đặcbiệt ởThái Lan, có Viện trọng tài nằm trongBộ Tư pháp,Bộ Tư pháp cấp trụ sở và trả lương hành chính cho tất cảnhân viên và chi phí văn phòng cho Viện trọng tài;chỉcó các trọng tài viên hoạtđộng độclậpkhông thuộcBộ Tư pháp; Viện trọng tài có quyền phán quyết như tòa án, quyết định của trọngtài được cưỡngchế thi hành.
Trọng tài là một tổ chức phi chính phủ có cơ chế giải quyết tranh chấp mềm dẻo, đó là sự kết hợp giữa hai yếu tố thỏa thuận và tài phán. Thỏa thuận củacác bên tham gia tranh chấp là tiềnđềcho các phán quyết củatrọng tài. Không thể có phán quyết trọng tài nằm ngoài các nội dung đãđược đươngsựthỏa thuận. Do đó, giải quyết tranh chấp kinhtế bằngtrọng tài đảm bảo quyền tựdo định đoạt củađương sựcao hơn so vớigiải quyết tranh chấp bằng tòaán. Cácđươngsựcó quyềnlựachọn trọng tài viên,lựachọnđịađiểmgiải quyết tranh chấp,lựachọn quy tắctố tụng,lựachọn luật áp dụng cho tranh chấp. Phán xét củatrọng tài có giátrịchung thẩm và khôngthểkháng cáo trước bất cứ cơ quan, tổ chức nào.Vềnguyên tắc, trọng tài không xét xử công khai, do đó ngoài nguyên đơn và bị đơn, trọng tài chỉ triệu tập các đương sựkhác khi cầnthiết. Quytắctố tụng trọng tài ởcác quốc gia rất khác nhau, nhưng nhìn chung, quytắclựa chọn trọng tài viên và thủtục của hầuhết các trung tâm trọng tài trên thế giới đều dựa theo khuôn mẫu của quytắctrọng tài
20
mẫu UNCITRAL. Trọng tài thương mại ở các nước trên thế giới chủ yếu tồn tạidưới hai dạng cơ bản.
Một là, trọng tài vụ việc (trọng tài Ad-hoc) là hình thức trọngtài được
lập ra đểgiải quyết những tranh chấp cụ thể khi có yêu cầu và tự giải thể khi giải quyết xong những tranh chấp đó.Đặc điểm cơ bản của trọngtài vụ việc làkhông có trụ sở, không có bộ máy giúp việc và không lệ thuộc vào bất cứ một quytắcxét xửnào.Vềnguyên tắc, các bênđươngsựkhi yêucầutrọng tài Ad-hoc xét xử có quyền lựa chọn thủ tục, các phương thức tiến hành tố tụng. Trọng tài vụ việc là hình thức tổ chức đơn giản, khá linh hoạt và mềm dẻo vềphương thức hoạt độngnên nói chung phù hợp vớinhững tranh chấp ít tình tiết phức tạp, có nhu cầu giải quyết nhanh chóng và nhất là các bên tranh chấp có kiến thức và hiểu biết về pháp luật, cũng như kinh nghiệm tranh tụng. Tuy vậy, trên thực tế số lượng cácvụtranhchấp được giảiquyết thông qua trọng tàivụviệc không nhiều.
Hai là, trọng tài thường trực (còngọilà trọng tài quy chế) là những trọng tài có hình thức tổ chức, có trụ sở ổn định, có danh sách trọng tài viên và hoạt độngtheo điềulệ riêng. Phầnlớncác tổ chức trọng tài lớn, có uy tín trênthếgiớiđềuđượcthành lập theo mô hình nàydướicác tên gọi như: Trung tâm trọng tài, Ủy ban trọng tài, Viện trọng tài, Hội đồng trọng tài quốc gia và quốctế.Trongđiềukiện kinhtế thịtrường ởnướcta hiện nay, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thường trực là một cách thức giải quyết tranh chấp đang dần được ưa chuộng hơn. Những năm gần đây, tỷ lệ các tranh chấp thương mại được giải quyết qua các trung tâm trọng tài ngày càng nhiều. Các doanh nghiệp Việt Nam đã hiểu rõ được ưu thế của việc xét xử bằng trọng tài như nhanh gọn và giữ được bí mật kinh doanh, không gây ảnh hưởng đến uy tín trên thị trường. Hơn nữa các quyđịnhpháp lý về trọng tài đang được hoàn thiện hơn, tạo hành langtốtcho các trọng tài viên hoạt động.Tuy nhiên, không phải bất kỳchủthểkinh doanh nào khi tham gia vào các tranh chấp kinh tế cũng cậy nhờ trong tài giải quyết tranh chấp, vì kinh tế thị trường đòi
21
hỏi cao tính hiệu quả trong các hoạt động liên quan đến nó. Trong khiđó,các quyết định,phán quyết củatrọng tài thường mang nặng yếu tố hòa giải khuyến nghị, tính cưỡng chế kém, hơn nữa hiện nay ở nước ta mới có 7 trung tâm trọng tài với 165 trọng tài viên, thì riêng Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam đã có 123 trọng tài viên, (thực tế các tranh chấp chủyếu được giải quyết
tại đây) các trung tâm khácrấtítđượcbiết đến.Ngoài ra,đội ngũ trọng tài viênởcác trung tâm chưa thựcsựlàđội ngũ mạnh, chưa có nănglựcgiải quyết tranh chấp nên khó thuyết phụcđượccác thương nhân. Bên cạnh đó, các quyđịnhhạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành (ví dụ, quy định về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạmthời trong xét xửtrọng tài, quy địnhvềcông
nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài…) cũng gây ra những rào cản nhất địnhcho việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.Bởivậy, trongđiều kiện thực tiễn nước ta, các hoạt động trọng tài đang đòi hỏi cao hơn sự hỗ trợ
từcác cơ quan chức năng khác như tòa án,đểcác quyết định,phán quyết trọng tài có hiệu lực thực thi cao,đáp ứngmong muốn của các chủ thể có yêu cầu giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
1.2.2.4. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng tòa án
Trong nền kinh tếthịtrường, các doanh nghiệp, các thương nhân thuộc mọi thành phần kinhtế,với những lợi ích kinhtế đadạng, luôn đòi hỏi có một cơ quan tài phán kinh tế mạnhđểgiải quyết các tranh chấp kinh tế trên cơ sởtôn trọng quyền bìnhđẳng,quyềntựđịnhđoạt hoạt độngcủahọ.Hình thức giải quyết tranh chấp kinhtế bằng trọng tài có nhữnghạnchếnhất địnhđối với yêu cầu của các nhà kinh doanh. Trong khi đó, họ mong muốnmộtphương thức giải quyết mới,đạt hiệuquảcao,đảmbảo chắc chắn việc khôi phục lại quyền lợi kinhtế của họ.Con đường bảo đảm quyền lợi đó, là tài phán kinhtếmang tính tư pháp vìchỉcó các quyết địnhxét xửcủatòa ánmớiđượcđảm bảo bằng sức mạnhcưỡngchế của nhà nước.
Giải quyết tranh chấp kinhtế bằngtòa án là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động củacơ quan tài phán nhànước,nhân danh quyền
22
lựcnhànước đểđưara phán quyết buộc các bên có nghĩavụthi hành,kểcảbằngsứcmạnhcưỡngchế. Do đó,cácđươngsựthường tìmđếnsựtrợgiúp của tòa án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền, lợi ích của mình khi họ thất bại trong việc sử dụng cơ chế thươnglượnghoặc hòa giải và cũng không muốn vụ tranh chấp giữahọ đượcgiải quyết bằng con đườngtrọng tài.Ở hầuhết cácnước,thủtụctố tụngđượcáp dụng cho các tranh chấp trong kinh doanhđượcdựatrên nền tảngthủtụctố tụng dân sựcùng vớimộtsố quy định đặcthù cho phù hợp với hoạtđộng kinh doanh,
chẳnghạnnhư:Vềhộiđồngxétxử,vềthời giancủacác trìnhtựtố tụng… Bởi vậy, ở các quốc gia này người ta không hình thành luật tố tụng riêng cho các tranh chấp trong kinh doanh mà chỉ có luật về tố tụng dân sự.
Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế – xã hội, về các điều kiện văn hóa, tập quán và truyền thống xây dựng pháp luật, tòa án các quốcgia được tổchức khác nhau. Tuy nhiên, người ta thường thấy có hai mô hình tổ chức tòa ánđểgiải quyết các tranh chấp trong kinh doanh: Một là, thành lập các tòa chuyên trách với tên gọi là tòa kinh tế hay tòa thươngmại độclập vềmặt tổchức với tòa án thườngđểgiải quyết các tranh chấp trong kinh doanh; hai là, trao thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong kinh doanh cho tòa dân sự. Không cósựphân biệt rạch ròi giữa tranh chấp dân sựvà tranh chấp kinh doanh vì theohọ tranh chấp trong kinh doanh vềbản chất là một dạng của tranh chấp dân sự.
Ở nước ta, thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh tế thuộc về Tòaán nhân dân.
Tòa án nhân dân cấp huyện xét xửsơ thẩm một số vụtranh chấp vềkinh tế, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau vàđềucó mụcđíchlợinhuận bao gồm: Mua bán hàng hóa; cung ứngdịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; ký gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn kỹthuật; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằngđườngsắt,đườngbộ,đường thủy nội địa [67, Điều 29, 33].
23
Tòa kinh tế thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xửsơ thẩm các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh tế,thương mại giữa cá nhântổ chức cóđăng ký kinh doanh vớinhau và đều có mục đích lợinhuận, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyềncủacấp huyện. Khicầnthiết, tòa kinhtế cấp tỉnh cóquyền lấy cácvụtranh chấp thuộc thẩm quyền của tòa cấp huyện lênđểgiải quyết. Tòa kinh tế cấp tỉnh xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định về kinh tế,thương mại chưa có hiệu lực pháp luật của tòa án cấp huyện mà có kháng cáo, kháng nghị [67, Điều 34].
“Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định về kinhtế,thương mại do tòa án cấp tỉnh xử sơ thẩm mà có kháng cáo, kháng nghị” [62, Điều 26].
Vềthẩm quyền giámđốcthẩm, tái thẩm cácvụán kinhtế,pháp luật quyđịnh:
Ủyban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xửgiám đốcthẩm, tái thẩm các bản án, quyết địnhvềkinh tế,thương mại có hiệu lựcpháp luật củatòa án cấp huyện bị kháng nghị; Tòa Kinh tếTòa án nhân dân tối cao xét xửgiámđốcthẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án cấp
tỉnh bịkháng nghị;Hộiđồng thẩm phán Tòa án nhân dântốicao xét xửgiámđốcthẩm, tái thẩmđối với các bản án, quyết định cóhiệu lựcpháp luật củatòa kinhtế Tòa án nhân dân cấp tỉnhbị kháng nghị [67, Điều 291].
Khácvớihình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, giải quyết tranh chấp kinhtế bằng tòa án mang tínhcưỡngchếcao hơn. Tuy nhiên, phương thức này cũng có những hạn chế nhất định, như: Chi phí cao, thủ tục phiền hà, chưađápứng yêucầubảo vệuy tín thương trường và bí mật kinh doanhcủacác bên tranh chấp.Điềunày cũng đúng vớihệthống Tòa án của một số nước nhưAnh, hoặc Mỹ, “nơi mà các thủ tục tranh tụng phiền toái, tốn
24
kém đã làm nảy sinh nhiều phương pháp giải quyết tranh chấp kinh doanh phi truyền thống; tòa án không còn là nơi được ưu tiên giải quyết xung đột lợi ích giữa thương nhân” [104, tr. 2-4].
1.3. KHÁI QUÁT CHUNG VỀÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH TẾ Ở NƢỚC TA
1.3.1. Áp dụng pháp luật
Pháp luật là những quy định có tính chất bắt buộc do cơ quan nhànước có thẩm quyền đặt ra đểhướngdẫn, điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức trong xã hội.
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật… các cơ quan nhànước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân vàmọicông dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật… mọi hànhđộngxâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể, công dân đều bị xử lý theo pháp luật [60, Điều 12].
Pháp luật là một phạm trù rất rộng, bao hàm toàn bộ các quy tắcxửsựdo Nhànước đặt ra đểquản lý tất cảmọi lĩnh vực củađời sống xã hội, như: Pháp luật về tài nguyên, pháp luật về môi trường, pháp luật hình sự, pháp luật
dânsự,pháp luật kinh tế…Trong mỗi lĩnhvựckhác nhau củađờisống xãhội, Nhà nước đặt ra các quy định khác nhau, đồng thời có những biện pháp bảo đảm phù hợp đểcác quy địnhđó được thực thi trongđời sống thựctiễn, nhằm bảo vệtrật tựxã hội, quyền vàlợiích hợp pháp củacông dân. Trong quá trình quản lý xã hội, Nhànướcluôn sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các quyđịnhpháp luật, đáp ứngyêucầucủađờisống xã hội. Nhờđó,pháp luật luôn có sức sống, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.
Một mặt, do chỉ là những quytắcxửsự tồntại trên giấy tờ, nên pháp luật sẽ trở nên vô nghĩa nếu không được các chủ thể thực hiện trong đời sống xã hội. Mặt khác, do pháp luật đượcthực hiệndướinhiều hình thức khác
25
nhau, trongđó áp dụng pháp luật là hình thức quan trọng, nên áp dụng pháp luật có vai trò đặcbiệt quan trọng trong quá trình điềuchỉnh các quanhệxãhội. Tuy nhiên, do hoạt động áp dụng pháp luật có nhiều điểm tươngđồngvới những hình thức khác của thực hiện pháp luật (tuân thủ, chấp hành và sử dụng pháp luật), nên để có thể nhận thức đúng đắn và đầy đủ về áp dụng pháp luật, cần nghiên cứu làm rõ nhữngđặc điểm của áp dụngpháp luật.
Hiện nay, trong khoahọcpháp lý đãcó nhiều công trình nghiên cứu về vấn đềáp dụng pháp luật, nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất vềcácnộidung cơbảncủathuật ngữnày. Theo đó,áp dụng pháp luậtđược xác định “là hoạt động thực hiện pháp luật mang tính tổ chức quyền lực nhànước,đượcthực hiệnbởicơ quan nhànướccó thẩm quyền, nhà chức trách hoặc tổ chức xãhộiđược trao quyền, nhằm cá biệt hóa quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụthể,đốivớicá nhân,tổ chứccụthể” [99, tr. 15]; “là một hình thức thực hiện pháp luật diễn ra trong hoạt động thực hiện quyền hành pháp và tư pháp của Nhà nước” [102, tr. 273].
Theo các công trình nghiên cứu đó thì áp dụng pháp luật có những đặcđiểm sau đây.
Thứ nhất, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước. Tính quyền lực nhànước, trước hết thểhiện trong việc áp dụng pháp luật chỉđượcthực hiệnbởichủthểcó thẩm quyền do pháp luật quyđịnh.Thông qua pháp luật, Nhà nước đã xác định những cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân được sửdụng quyền lực nhà nước để áp dụng pháp luật, giải quyết những công việc cụ thểphát sinh trongđờisống xã hội. Như vậy,vềmặt nguyên tắc, áp dụng pháp luật là hoạt động thực tiễn của các chủ thể có thẩm quyền trong quản lý nhànước.Nhànướcthông qua các cơ quan,ngườicó thẩm quyền áp dụng pháp luật đểđảm bảo quyềnlựcnhà nước khi có hành vi có phạm pháp luật, xâm phạm quyền,lợiích hợp pháp của nhànước, củatổ chức, của công dân hoặc cần phải thực hiện các quyền năng quản lý khác như thanh tra, kiểm tra,
26
hay giải quyết các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia các tranh chấp khi tự họ không thể thỏa thuận hòagiải được.
Thẩm quyền áp dụng pháp luật đượcquy địnhtrong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, như:Bộ luật Tố tụng hìnhsựquyđịnhthẩm quyền áp dụng pháp luật trong lĩnh vựchình sự; Bộ luật Tố tụng dân sự quy địnhvề thẩm quyền áp dụng pháp luật trong dân sự; Pháp lệnhXửlý vi phạm hành chính quy định về thẩm quyền áp dụng pháp luật trong việc xử lý các vi
phạm hành chính… Pháp luật còn quyđịnhvềcách thức thực thi pháp luật trong việc thực hiện quyền năng quản lý nhà nước. Các cơ quan, tổ chức, cánhânđượcgiao thẩm quyền thực thi pháp luật thuộc lĩnh vựcnào thìchỉcóquyền áp dụng pháp luật thuộc lĩnhvực đóvà phải tuân theo những quy định củapháp luậtvềcách thức áp dụng pháp luật. Điều này đãtrởthành căncứpháp lýđểviệc áp dụng pháp luật đượcđúng thẩm quyền; giúp cho các chủ thểkhông bịvượt quyền,lạmquyền khi áp dụng pháp luật. Ví dụ: Điềutra viên chỉ áp dụng pháp luật tố tụng hìnhsự đểgiải quyết các vụ án hìnhsự màkhông áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự; trọng tài
viên khôngthể xét xử vụán hìnhsự…
Bên cạnhđó,tính quyềnlựcnhànướccủahoạt động áp dụng pháp luật cũng được thể hiện trong việc bắt buộcthực hiện đối với các đối tượng bị áp dụng và được đảm bảo bằng sứcmạnhcủaNhà nước, trong đó sức mạnh cưỡngchế nhà nước mang tính đặc thù. Mặc dù hoạt động áp dụng pháp luậtđượctiến hành đơnphương từphía chủ thểcó thẩm quyền nhưng nội dung của hoạt độngnày luôn bắt buộc thi hànhđốivới nhữngđối tượngbị áp dụng pháp luật.Nhà nước sẽ sử dụngsức mạnh của mình (sức mạnh tư tưởng, kinh
tế,tổ chức, cưỡngchế…)đểbảo đảm thực hiện các mệnh lệnh của chủ thể cóthẩm quyền trong áp dụng pháp luật.
Đồng thời, tính quyềnlựcnhànước củahoạt độngáp dụng pháp luật cũngthểhiệnởviệc hoạt động này luôn gắnliềnvớiviệc thực hiện những nhiệm vụ chính trị của Nhà nước. Trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn nhất định,
27
các chủ thể có thẩm quyền luôn được giao những nhiệm vụ chính trị cụ thể vàđểcó thể hoàn thành những nhiệm vụ đó, các chủ thể này phải áp dụng pháp luật đểgiải quyết các công việc phát sinh thuộc thẩm quyền quản lý của mình. Như vậy, nhiệm vụ chínhtrị là độnglực thúc đẩy hoạt động áp dụng pháp luật của các chủ thể này. Mặt khác, việc áp dụng pháp luật cũng trở thành phương tiện hữu hiệu đểcác chủ thể đó hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình. Tuy nhiên, đối với áp dụng pháp luật đểgiải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sựthì nó lại có những đặc trưng riêngphụthuộc vào tínhđặc thùcủa đối tượng áp dụng và các quyđịnh pháp luật màchủthểáp dụng pháp luật lựachọn. Trongsảnxuất, kinh doanh, một nguyên tắccơbảnlà tôn trọng tuyệt đối quyềntựđịnh đoạt củacácchủthểkinh doanh. Chính vì vậy, khi xuất hiện yêu cầu áp dụng pháp luật đểgiải quyết tranh chấp thì tính quyềnlựcởđây chỉxuất hiện khi các bên tham gia tranh chấp cùng thống nhất đưa tranh chấp
đến tòaán. Các hình thức giải quyết tranh chấp khác như trọng tài, hòagiải… thì phầnlớnphụthuộc vào quyềntựquyết củacác bên tham gia tranh chấp mà khôngphụthuộc vào quyền lực nhà nước.
Thứhai, áp dụng pháp luật làhoạt độngđược tiếnhành theo trình tự, thủ tụcvà hình thức do pháp luật quy định.Quá trình áp dụng đểgiải quyết mỗi công việc cụ thể đều được pháp luật quy định về trình tự, thủ tục mà các chủthể có thẩm quyền cần tiến hành. Trình tự, thủ tục này là bắt buộcđối với tất cả các chủ thể trong quá trình giải quyết các công việc phát sinh. Nhờ đó, tránhđược sự tùytiện của các chủ thể, đồng thời cũng tạo ra những điều kiện
cần thiết về thờigian, về cơ chế phốihợp… đểnghiên cứuvụviệc, lựa chọn những quy phạm pháp luật cầnthiết nhằm giải quyết đúng đắn,toàn diện công việc phát sinh. Bên cạnhđó,hình thức áp dụng pháp luật cũngđược pháp luật quy định đối với từng trường hợp cụ thể, như: Ban hành văn bản áp
dụng pháp luật, chứng nhận văn bản… Những quy định đó cũng bắt buộc thi hànhđối với các chủthể có thẩm quyền. Do đó,chỉnhữnghoạt độngáp dụng pháp luậtđượcthểhiện đúng những hình thức mà pháp luật quy định mới
28
được Nhà nước thừa nhận là có giá trị pháp lý, mới được Nhà nướcbảo đảm thực hiện.
Thứba, áp dụng pháp luật làhoạt độngđiềuchỉnh mang tính cá biệt, cụ thể đối với nhữngquan hệ xã hội xác định. Khi áp dụng pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền căn cứ vào các quy phạm pháp luật hiện hànhđểgiải quyết các quyền và nghĩavụ cụthểcủacác bên tham gia từng quanhệxãhộixácđịnh.Điềuđó có nghĩa,chủthểcó thẩm quyềnđãcá biệt hoá các quy phạm địnhluật thành những mệnh lệnh pháp luậtcụthể,bắtbuộc thi hành với nhữngđối tượngcó liên quan. Nếu các quy phạm pháp luật điều chỉnh chung đốivớitừng nhóm quanhệxãhộithì các mệnh lệnhcủachủthểcó thẩm quyền trong áp dụng pháp luật chỉ điều chỉnhđối với nhữngquan hệ xã hội cụ thể, trực tiếp làm phát sinh, thayđổihay chấm dứt những quanhệpháp luật cụthể. Trong những quan hệpháp luật đó,quyền và nghĩa vụcủacác bên tham gia đã được cá biệt hóa từ những quy phạm pháp luật hiện hành.
Thứtư, áp dụng pháp luật là hoạt độngmang tính sáng tạo. Các chủ thểáp dụng pháp luật, trong phạm vi thẩm quyềncủamình, căncứvào các hành vi pháp lý,điềukiệncụthểcủachủthểbịáp dụng pháp luật, các quy phạm pháp luật hiện hànhđểđưara những mệnh lệnhcụthể, phù hợp với từng trường hợp, nhằm nâng cao hiệuquảthực thi pháp luật trong thực tiễn. Ví dụ: Khi điều tra vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân cóthể tiến hành bắt hoặc khôngbắt giữđối tượngnghi vấn phạm tội. Trong quátrình áp dụng pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền phải luôn chủ động, sáng tạo, không dập khuôn máy móc thìhoạt độngáp dụng pháp luật mới đáp ứng được đòi hỏi của Nhà nước, của xã hội, mới có hiệu quả cao trên thực tế. Tuy nhiên, việc sángtạo đó chỉđược giới hạn trong phạm vi, khuôn khổ pháp luật quy định. Sự vượt quá giới hạn đó,được xác địnhlà hành vi vượt quyền, lạm quyền, là hành vi vi phạm pháp luật của chủ thể áp dụng pháp luật.
Thứnăm, áp dụng pháp luật là hoạt độngthực tiễncủachủthểcóthẩm quyền. Hoạt động đó được tiến hành theo một cơ chế nhất định bao gồm
29
những khâu, những hành vi pháp lý vàđiều kiện pháp lý đảmbảocho pháp luậtđượcthi hành đúngđắn,có hiệu quả. Quá trình áp dụng pháp luật bao gồm nhiều hoạt động cụ thể, khác nhau. Dưới góc độ khoahọcpháp lý, có thểchia quá trình này ra thành một số giai đoạn sau đây:
– Phân tích làm sángtỏ những tình tiết của vụ việc cần áp dụng pháp luật. Trong giaiđoạnnày, có sựxuất hiện củamột sựkiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật với cánhân, tổ chức có liên quan. Các chủ thể có thẩm quyền phải thực hiện những hoạt độngmà pháp luật quy địnhđểnhanh chóng xácđịnh đượcnhữngsựkiện pháp lý đóđểthiết lập quan hệ pháp luật một cách nhanh chóng, tạođiều kiện cần thiết cho việc áp dụng pháp luật được kịp thời, đáp ứng yêu cầu cấp thiết củađờisống xã hội. Ví dụ: Khi cóđơncủamột công dântố giác tội phạm thì đã phát sinh quan hệ pháp luật giữa cơ quan điều tra với công dân đó.
-Lựachọn các quy phạm pháp luật cầnáp dụng và làng sángtỏ nội dung, ý nghĩacủaquy phạm pháp luật đó.Trong giaiđoạnnày,chủthểcóthẩm quyền phải cử người nghiên cứu để phân tích, đánh giá một cách khách quan, khoahọcvề sự việcthực tế liên quan đã xảy ra; lựa chọn các quy phạm pháp luật tươngứngđểgiải quyết vụ việc.
– Ban hành văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật đó. Trong giai đoạn này, chủ thể có thẩm quyền phải lựa chọn hình thức áp dụng pháp luật mà pháp luật đãquyđịnh đểgiải quyết vụ việc, như: Ra vănbảnáp dụng pháp luật đểđềra những mệnh lệnhcụthể; xác nhận, chứng thực vănbảndo đốitượngcó liên quan yêu cầu,đồngthờitổchức việc thực hiện các nội dung của văn bản pháp luật đó.
Tóm lại, áp dụng pháp luật là hoạt động thực tiễn của các cơ quan, tổ chức, các cánbộcông chức có thẩm quyền, căncứnhững quy phạm pháp luật hiện hành để giải quyết những vụ việc cụ thể thuộc thẩm quyền của mình, nhằmđạt được những yêu cầu mà pháp luật đặt ra trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.
30
1.3.2. Áp dụng pháp luật giải quyết các tranh chấp kinh tế
Theo quy định củapháp luật hiện hành, các tranh chấp kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết củatòa án và trọng tài kinhtế.Áp dụng pháp luật đểgiải quyết các tranh chấp kinhtế có một số đặc điểm đặc thù.
Một là, áp dụng pháp luật giải quyết các tranh chấp kinh tế chỉ xảy ra khi các chủ thể tranh chấp thống nhất thực hiện quyền tự định đoạt của mình.Đây cũng làmộtnguyên tắc cơ bản trong tố tụng kinh tế. Trong nền kinh tế thịtrường, Nhà nước tôn trọng và đảm bảo tối đa cho các chủ thể kinh tế quyền tựdo kinh doanh,tựdohợpđồng,tựdolựachọn cách thức giải quyết các tranh chấp, bất đồng trong quá trình kinh doanh. Quyềntựđịnh đoạt của cácchủthểtrongtốtụng kinhtếđượcthểhiện thông qua việc cácchủthểtranh chấp có quyềntựlựachọn các hình thức khác nhau (thỏa thuận, hòa giải, trọng tài, tòaán) đểgiải quyết tranh chấp, các bên có thể tự mình tham gia, có thể ủy quyền cho luật sư hoặcngườiđạidiện tham gia giải quyết tranh chấp.Sẽkhông cóhoạt động áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp kinh tế khi các chủ thể kinh doanh không đưa vụ việc ra giải quyết bằng trình tự tố tụng trọng tài hay tòa án.
Hai là, thẩm quyền áp dụng pháp luật giải quyết các tranh chấp kinh tế chỉthuộc về trọng tài và tòa án.
Thẩm quyềncủatrọng tài và tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp kinhtế được quyđịnhtrong pháp luật hiện hành. Khi các bên tranh chấpđãkhôngtựthỏa thuận hay hòa giảiđượccác tranh chấp phát sinh thì ngoài các chủ thể này, không có một cơ quan nào của Nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinhtế.
Ba là, việc giải quyết tranh chấp kinhtế đượctiến hành theo nguyên tắcưu tiên hòa giải. Do đó, trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế, việc hòa giải giữa các đươngsựlàmộtviệc buộc phảiđược tòaán hoặc trọng tài thực hiện. Đây là nguyên tắcđược xây dựngnhằm đảm bảo tối đacho quyền tựđịnhđoạt của đươngsự. Đảm bảo đểcác bên tham gia tranh chấp vẫngiữ
31
đượctìnhcảmhợp tác,hữunghị sau khi các bất đồnggiữahọ đượcgiải quyết, nguyên tắc này cho phép các bên tham gia tranh chấp có thể tiến hành hòa giải dưới sựhướngdẫnvà công nhận củatrọng tài hoặc tòa ánchỉkhi không hòagiải được thìtrọng tài, tòa án mới đưa vụ việc ra xét xử.
Bốn là, việc áp dụng pháp luật giải quyết các tranh chấp kinhtế vẫn được tiến hành khi đương sự là cá nhân đã chết, tổ chức đã bị giải thể, sát nhập.
Nếu đươngsự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ vềtài sảncủahọ đượcthừakế,thì ngườithừakếtham gia tố tụng. Nếu đươngsựlà cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng mà chấm dứt hoạt động, giải thể,tổ chứclại(hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyểnđổihình thứctổchức) thì cơ quan, tổ chức thừa kế các quyền, nghĩa vụ của pháp nhân cũ tham gia tố tụng [67, Điều 62].
Điều này làm cho việc áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp kinh tếhoàn toàn khác biệt đốivới việc áp dụng pháp luật đểgiải quyết các vụ ánhình sự, vì trong tố tụng hình sự, khi bị cáo chết thì Nhànước sẽ đình chỉhoạt độngtruy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đó.
1.3.3. Áp dụng pháp luật hình sự giải quyết các tranh chấp kinh tế- một hiện tƣợng tiêu cực trong áp dụng pháp luật ở nƣớc ta hiện nay
Thương trường làmộtthực thể hết sức sống động, trong đó các thương giavớimụcđích lợi nhuậnhọ luôn sẵn sàng tạo ra các “luật chơi” riêng cho mình. Có khá nhiều quytắcxửsựcủacác thương giađượcpháp luật thừa nhận, nhưng cũng có những thực tế cho thấy trong kinh doanhđôi lúc đểgiải quyết tranh chấp thì sự thiếu hoàn thiện của hệ thống pháp luật cũngđược tận dụng một cách tối đa.
Do hoạt độngsảnxuất kinh doanhvớimụcđích sinhlờichính đáng, nên luôn được Nhà nước tạo điều kiện phát triển và đảm bảo. Vì vậy, tranh chấp xảy ra giữa các chủ thể trong quá trình nàyđược Nhànướcgiải quyết theo các
32
hình thức, trình tự, thủ tục riêng được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự, các văn bản pháp luật về trọng tài. Áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp kinh
tế, theo quy định của pháp luật, là công việc của trọng tài và tòa kinh tế nhưng phải trên nguyêntắctựdo,tựđịnhđoạtcủađươngsự.Tuy nhiênởnướctatừnhững năm 1990 cho đến nay đã xuất hiện khá nhiều hình thức giải quyết tranh chấp kinhtếtrái luật,đặcbiệt là các tranh chấp liên quanđếnvay,nợ,thanh toán, như: bắt cóc conđể đòinợ bố, mẹ; bắt con nợ để ép buộc gia đình, người thân trả nợ; đe dọa để đòi nợ, khủng bố tinh thần con nợ để thu nợ, sử dụng các
hình thức đòi nợ gây mất uy tín cho connợ… do mộtsố công tyđòinợ thuê thực hiện. Bên cạnhđó,việc các cơ quan có chức năngtốtụng hìnhsự,do nhiều nguyên nhân khác nhau, đã áp dụng pháp luật hình sự đối với các tranh chấp dân sự, kinh tế, là một hiện tượng không còn là cá biệt và đã gây ra nhiều tác hại cho kinh tế, xã hội nước ta. Khi đã có sự can thiệp trái pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thì việc một cá nhân là chủ thể kinh doanhrất dễbị đưa vào vòng tố tụng hình sự, khihọmất khảnăng thanh toán các khoản nợđến hạn. Và khiđó,những ngườikinh doanh khác, dư luận xã hội bắt đầuđánh giá, xem xét và nhìn nhậnđâylàmộtquanhệkinhtếbị”hình sựhóa”. Nhưvậy, trên thực tế việc áp dụng pháp luật hìnhsự đểgiải quyết các tranh chấp
kinh tế chỉđược nhận biết,khi có hậu quả pháp lý xảy ra (bắt giam, truytố…)đối với một hay nhiều bên tham gia tranhchấp. Đểcó thể nhận biết đúngđắn, đầy đủ về hiện tượngáp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp kinh tế,cầnnghiêncứuthấuđáonhằm làm rõ những nộidungthểhiện bảnchất củahiện tượng này mà không chỉ là dừng lại ởmột sốvấn đềthuộc về phần nổi, phần bên ngoài dễ nhận biết của loại hoạt động này.
Đãcó nhiềuhộithảo khoahọcđượctổ chức, nhiều cuộc trao đổi, tranh luận được thực hiện qua báo chí về hiện tượng “hình sự hóa” các quan hệkinh tế nhưng cho đến nay, các nhà nghiên cứu trong khoa học pháp lý vẫn chưa thống nhất được quan điểm về khái niệm “hình sự hóa các quan hệ kinh tế”.
33
Hiện nay, trong khoahọcpháp lý đangtồntạimột số quanđiểmvềvấn đề”hình sựhóa các giao dịch dânsự,kinh tế”, màđiển hình là những quan điểm sau đây:
Thứnhất, “hình sự hóa các quan hệ kinh tế” là việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật dân sự, kinh tế mà không đủ các yếu tố cấu thành tội phạm bằng biện pháp hìnhsự”(xửlý oan, saiđốivớingườivô tội) [30]; là hiện tượngbiến các quanhệ,giao dịch dânsự,kinh tế vốnđượcđiềuchỉnh bằng pháp luật dân sự, kinh tế trở thành quan hệpháp luật hình sự [48]. Như vậy, quan điểmnày đượchình thànhtừgócđộ áp dụng pháp luật đểxem xét vấn đề”hình sự hóa”, ở đó các nhà nghiên cứu đã cho rằng đây là việc áp dụng sai pháp luật, là hiện tượngxửlý các hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán, hoàn trả tài sản phát sinhtừ các hợp đồngdân sự, kinhtế bằngcon đường hìnhsự.
Thứ hai, “hình sự hóa các quan hệ kinh tế” là quá trình đưa một quan hệxã hộitừchỗ chưa được điều chỉnh bằng luật hình sự trở thành đốitượng đượcđiều chỉnh bằng luật hình sự. Quan điểm này được hình thành từ góc độ tiếp cận là hoạtđộngxây dựng pháp luật. Nhữngngườitheo quanđiểmnày cho rằng, trong quá trình phát triển vàtồntạicủamình, Nhànướcluôn xây dựng, hoàn thiệnhệthống pháp luật và hìnhsựhóa làmộthoạtđộngtấtyếukhách quan phản ánh tháiđộcủacộngđồngvà nhànướcđốivớicác hành vi có tính chất nguy hiểm cho xã hội cần phải xử lý hình sự, từđómà xác định hành vi nào là
tộiphạm đểxác định chính sách hìnhsự đốivới hành vi đó, duy trì kỷ cương xãhội, đảm bảo quyền lợi nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp của mọi công dân đáp ứngyêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam, vấn đề hình sự hóa luôn được nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cũng như giới khoahọcpháp lý, đặc biệt là từ khi có Bộ luật Hình sự (năm 1985). Từ thời điểm này, Quốchộilàcơ quan duy nhất có thẩm quyền quy định trong Bộ luật Hình sự những hành vi bị coi là tội phạm và quy định hình phạt tương ứng. Sau khi ra đời, Bộ luật Hình sự năm 1985đãqua bốn lần sửa đổi, bổ sung nhưng việc ban hành Bộ
34
luật Hình sự năm 1999 mới là lần sửa đổi, bổ sung hoàn thiện nhất. Thực chấtđây là quá trình tiến hànhhoạt độnghình sự hóa rõ ràng nhất.
Ngoài hai quan điểmnói trên, cũng không ít nhà nghiêncứuđãcó ý kiến phản đối việc sử dụng thuật ngữ “hìnhsự hóa” đểphản ánh hiện tượng vi phạm pháp luật tố tụng dân sự vì đã tạo ra sự thiếu chính xác, không khoa học của khái niệm này.
Theo chúng tôi, nếu muốn phản ánh hiện tượng “hình sự hóa các giao dịch dânsự,kinh tế”vớinghĩa là hiệntượngxãhộitiêucựcphản ánh tình trạng áp dụng sai pháp luật củacác cơ quan, cá nhân tiến hành hoạt động tố
tụng hìnhsựmà không tạo ra những cách hiểu khác thì nênsửdụngcụmtừ”áp dụng pháp luật hìnhsự đểgiải quyết các tranh chấp kinh tế”.
Việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật hìnhsựgiải quyết các tranh chấp kinh tế đã gâyra sự đảolộn trật tự pháp luật trong xửlý các hành vi vi phạm nghĩa vụthực hiệnhợp đồngcủa các chủ thể kinh doanh. Vì vậy,vềlý luận cần nghiên cứu thấuđáo đểlàm rõ hơn những vấn đềthuộc vềbảnchất củaviệc áp dụng pháp luật hìnhsựđểgiải quyết các tranh chấp kinhtế.Đểcó thểđạt đượcđiềuđó,cầnxuất phát từnhững nội dung cơ bản: Vi phạm pháp luật trong quanhệkinh tế và tình trạng áp dụng pháp luật hìnhsự đểgiải quyết các tranh chấp kinhtế.
1.3.3.1. Vi phạm pháp luật kinh tế
Vi phạm pháp luật là một hiện tượng xãhộixuất hiện và tồn tại trong chếđộ xãhộicó giai cấp, có nhànước.Trong xã hội, hiệntượngvi phạm pháp luật diễn ra rất đa dạng.
Dựavào tính chất củacác quanhệxã hội đượcNhànướcbảo vệ,cóthểthấy các vi phạmđó bao gồmnhiều loại khác nhau: Vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm), vi phạm hành chính, vi phạm pháp luật dân sự (bao hàm cảvi phạm pháp luật kinhtế)và vi phạmkỷluật. Khi cácchủthểthực hiện hành vi vi phạm pháp luật thì họ phải chịu trách nhiệm pháp lý. Trách nhiệm
35
pháp lý là một loại quanhệpháp luật đặcbiệt giữa nhànướcvàchủthểvi phạm pháp luật, trong đó bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chếnhànướcđượcquyđịnh ởchếtàicủacác quy phạm pháp luật. Trách nhiệm pháp lý mà Nhànướcáp dụng có nhiều loại, tươngứngvớicác loại vi phạm pháp luật, bao gồm: trách nhiệm hình sự; trách nhiệm hành chính; trách nhiệm dân sự và trách nhiệm kỷ luật.
Nhưvậycó thểkhẳngđịnh rằng, vi phạm pháp luật kinhtế là những dạng cụ thể của vi phạm pháp luật, là những hành vi trái với những quy định củapháp luật kinh tế do chủthểcó nănglựctrách nhiệm pháp lý thực hiện một cáchcố ý hoặc vô ý; xâm phạmđếncác quanhệxã hội đượcluật pháp bảo vệ.Vi phạm pháp luật kinh tế là cơsởđểxácđịnh trách nhiệm pháp lý đối với nhữngchủthể có hành vi vi phạm.
Trong thựctế,vi phạm pháp luật kinhtếdiễn ra rất phong phú, đa dạng và phức tạp. Tuy nhiên, những vi phạm pháp luật kinh tế bịxửlý bằng biện pháp hình sự được nghiên cứu trong luận án phần lớn là những vi phạm phát sinh từquá trình thực hiện hợp đồngcủacác bên liên quan trong quátrìnhđầu tưsản xuất, kinh doanh.
Đểxác định dấu hiệu pháp lý của các vi phạm pháp luật, nghĩa vụ phát sinhtừquá trình thực hiện hợp đồng và làm rõ được sự khác biệt giữa chúng vớivi phạm pháp luật hình sự,đồng thời tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục tình trạng xửlý các vi phạm nghĩavụphát sinhtừquá trình thực hiện hợp đồngcủa cơ quan tiến hànhtố tụnghình sự thì cần phải làm rõ khái niệm, bản chất và những đặc trưng cơ bản của hợp đồng.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự, “hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bênvềviệc xác lập, thayđổivà chấmdứtcác quyền, nghĩavụ dân sự” [65, Điều 388]. Cũng theo quyđịnhcủapháp luật,hợp đồngđược xáclập trên nguyên tắc”tựdo giao kết các bên được tự do thỏa thuận về nội dung hợp đồngnhưng khôngđượctrái pháp luật hoặcđạođứcxã hội” [65,Điều389].
36
Hợp đồng đượcxác lập bằng văn bản, Fax, thưđiện tử,hoặc bằng cách thứcđược các bên thống nhất phối hợp về quyđịnhpháp luật và thônglệ quốctế.
Sau khi các bên đã giao kết hợp đồng dưới một hình thức nhất định, phùhợpvớipháp luật vàhợpđồngđóđáp ứng đầyđủcácđiềukiện mà pháp luật yêu cầu thì hợp đồng có hiệu lực bắt buộc đối với các bên, nghĩa là các bên tham gia hợp đồng phải thực hiện những hành vi nhằm đáp ứng những quyền dân sựtương ứng của bên kia. Việc thực hiện hợp đồng phải tuân thủ những nguyên tắc:
Thực hiện một cách trung thực theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảođảmtincậylẫnnhau; đúngđốitượng, chất lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác; không được xâm phạm đến lợi ích của Nhànước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Các bên trong quá trình thực hiệnhợpđồng có thể thỏa thuận sửa lại hợp đồngvà giải quyết hậu quả của việcsửa đổi, trừ trườnghợp pháp luật cóquy định khác. Trong những trường hợp hợp đồng được lập thành văn bản, cóchứng thực của công chứng Nhà nước, đăng ký hoặc cho phép thì việcsửa đổi hợp đồngcũng phải tuân theo những thể thức đó.
Như vậy, theo nghĩa thông thường, hợp đồng chính làmộtgiao dịch dân sự trong đó các bên tham gia tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ nhất định.Về bản chất,hợp đồng làmộtquan hệ xã hội được hình thành từ sựthỏa thuận của các bên nhằmđáp ứngnhu cầu các bên trong sản xuất,
kinh doanh…
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

